mục tiêu phát triển an toàn – bền vững, trong hoạt động kinh doanh của mình Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam – Chi nhánh Hải Dương cũng luôn quan tâm đến việc nâng
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
-
ĐẶNG VĂN THAO
CHẤT LƯỢNG TÍN DỤNG TẠI NGÂN HÀNG NÔNG NGHIỆP VÀ
PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN VIỆT NAM
CHI NHÁNH HẢI DƯƠNG
LUẬN VĂN THẠC SĨ TÀI CHÍNH NGÂN HÀNG
Hà Nội – 2017
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
-
ĐẶNG VĂN THAO
CHẤT LƯỢNG TÍN DỤNG TẠI NGÂN HÀNG NÔNG NGHIỆP VÀ
PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN VIỆT NAM
CHI NHÁNH HẢI DƯƠNG
Chuyên ngành: Tài chính ngân hàng
Mã số: 60340201
LUẬN VĂN THẠC SĨ TÀI CHÍNH NGÂN HÀNG
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS.TS TRỊNH THỊ HOA MAI
Hà Nội - 2017
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan bản luận văn sơ bộ là công trình nghiên cứu khoa học độc lập của tôi Các nội dung nêu trong luận văn là trung thực và có nguồn gốc rõ ràng
TÁC GIẢ LUẬN VĂN
Đặng Văn Thao
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Trong suốt quá trình học tập và hoàn thành luận văn này , tôi đã nhận được sự hướng dẫn, giúp đỡ quý báu của các thầy cô, các tổ chức, cá nhân, các anh chị và sự động viên, khuyến khích của gia đình, bạn bè đồng nghiệp Với lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc tôi xin được bày tỏ lời cảm ơn chân thành tới :
- Đảng ủy, Ban giám hiệu, các thầy cô giáo trường Đại Học Kinh tế - Đại học quốc gia Hà Nội đã tận tình giảng dạy, truyền đạt những kiến thức chuyên môn quý báu và hết lòng giúp đỡ tôi trong thời gian học tại trường
- Cô giáo PGS.TS Trịnh Thị Hoa Mai, người đã hết lòng giúp đỡ, dạy bảo, động viên và tạo mọi điều kiện thuận lợi cho tôi trong suốt thời gian thực hiện đề tài luận văn này
Cuối cùng xin chân thành cảm ơn anh chi ̣em , các bạn bè đồng nghiệp đã luôn ở bên tôi động viên, khích lệ, chia sẻ những khó khăn, giúp đỡ tôi học tập, làm việc và hoàn thành luận văn này
Trang 5MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT i
DANH MỤC BẢNG BIỂU ii
DANH MỤC SƠ ĐỒ, BIỂU ĐỒ iv
LỜI MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ CHẤT LƯỢNG TÍN DỤNG CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 4
1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứ u 4
1.1.1 Một số công trình nghiên cứu về chất lượng tín dụng của ngân hàng thương mại 4
1.1.2 Kết luận 6
1.2 Cơ sở lý luận về chất lượng tín dụng của Ngân hàng thương mại 7
1.2.1 Khái quát về tín dụng ngân hàng 7
1.2.2 Chất lượng tín dụng tại các Ngân hàng thương mại 14
1.3 Những bài học kinh nghiệm về nâng cao chất lượng tín dụng 33
1.3.1 Kinh nghiệm về nâng cao chất lượng tín dụng ở một số ngân hàng thương mại Việt Nam 33
1.3.2 Bài học cho các NHTM Việt Nam 39
CHƯƠNG 2: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU VÀ THIẾT KẾ LUẬN VĂN 41 2.1 Phương pháp nghiên cứu 41
2.1.1 Phương pha ́ p luận chung 41
2.1.2 Phương pháp thu thập thông tin 41
2.1.3 Phương pha ́ p tiếp cận hệ thống 42
2.1.4 Phương pháp phân tích và xử lý số liệu 42
Trang 62.2 Quy trình viết luận văn 44
2.2.1 Viết đề cương 44
2.2.2 Thu thập dữ liệu và xử lý dữ liệu thu thập được 44
2.2.3 Hoàn thiện luận văn 45
CHƯƠNG 3: THỰC TRẠNG CHẤT LƯỢNG TÍN DỤNG TẠI NGÂN HÀNG NÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN VIỆT NAM – CHI NHÁNH HẢI DƯƠNG 46
3.1 Khái quát về Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam Chi nhánh Hải Dương 46
3.1.1 Sự ra đời và phát triển của Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam Chi nhánh Hải Dương 46
3.1.2 Khái quát kết quả hoạt động kinh doanh của Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam – Chi nhánh Hải Dương 50
3.2 Thực trạng chất lượng tín dụng tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam Chi nhánh Hải Dương 52
3.2.1 Hệ thống văn bản về chất lượng tín dụng tại Agribank Hải Dương 52
3.2.2 Chất lượng tín dụng của Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam chi nhánh Hải Dương theo các chỉ tiêu 57
3.3 Đánh giá chung về chất lượng tín dụng tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam Chi nhánh Hải Dương 72
3.3.1 Kết quả đạt được 72
3.3.2 Hạn chế và nguyên nhân của hạn chế 73
CHƯƠNG 4: ĐỊNH HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG TÍN DỤNG TẠI NGÂN HÀNG NÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN VIỆT NAM – CHI NHÁNH HẢI DƯƠNG 80
4.1 Định hướng nâng cao chất lượng tín dụng của Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam Chi nhánh Hải Dương 80
Trang 74.1.1 Định hướng nâng cao chất lượng tín dụng của Ngân hàng Nông
nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam 80
4.1.2 Định hướng nâng cao chất lượng tín dụng của Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam – Chi nhánh Hải Dương 82
4.2 Giải pháp nâng cao chất lượng tín dụng tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam Chi nhánh Hải Dương 83
4.2.1 Tăng cường hoạt động Marketing 83
4.2.2 Đa dạng hoá các hình thức tín dụng 85
4.2.3 Thực thi chiến lược khách hàng lâu dài 89
4.2.4 Nâng cao chất lượng thẩm định 89
4.2.5 Đào tạo, cải tiến thường xuyên trình độ nhân viên 90
4.2.6 Tăng cường công tác giám sát khách hàng 91
4.2.7 Làm tốt công tác thu hồi nợ quá hạn và xử lý nợ xấu 92
4.3 Kiến nghị với Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển Nông thôn Việt Nam94 KẾT LUẬN 96
TÀI LIỆU THAM KHẢO 98
Trang 8DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
1 Agribank Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn
11 No&PTNT Nông nghiệp và phát triển nông thôn
Trang 9DANH MỤC BẢNG BIỂU
1 Bảng 3.1 Kết quả hoạt động kinh doanh tại Agribank Hải
2 Bảng 3.2 Biến động doanh số cho vay tại Agribank Hải
3 Bảng 3.3 Biến động doanh số cho vay theo thời gian tại
Agribank Hải Dương giai đoạn 2014-2016 60
4 Bảng 3.4 Biến động doanh số cho vay theo thành phần kinh tế
tại Agribank Hải Dương giai đoạn 2014-2016 61
5 Bảng 3.5 Biến động doanh số cho vay theo ngành tại
Agribank Hải Dương giai đoạn 2014-2016 62
6 Bảng 3.6 Cơ cấu dư nợ theo thời gian tại Agribank Hải
7 Bảng 3.7 Cơ cấu dư nợ theo thành phần kinh tế tại Agribank
8 Bảng 3.8 Cơ cấu dư nợ theo ngành kinh tế tại Agribank Hải
9 Bảng 3.9 Doanh số thu nợ tại Agribank Hải Dương giai
10 Bảng 3.10 Nợ quá hạn tại Agribank Hải Dương giai đoạn
Trang 1011 Bảng 3.11 Nợ quá hạn theo thành phần kinh tế tại Agribank
12 Bảng 3.12 Vòng quay vốn tín dụng tại Agribank Hải Dương
13 Bảng 3.13 Lợi nhuận trước thuế từ hoạt động tín dụng tại
Agribank Hải Dương giai đoạn 2014-2016 71
Trang 11DANH MỤC SƠ ĐỒ, BIỂU ĐỒ
SƠ ĐỒ
1 Sơ đồ 3.1 Bộ máy quản lý của Ngân hàng Nông nghiệp và
Phát triển Chi nhánh tỉnh Hải Dương 49
2 Sơ đồ 3.2 Quy trình tín dụng cho vay dự án trong quyền
phán quyết của Agribank Hải Dương 52
BIỂU ĐỒ
1 Biểu đồ 3.1 Chênh lệch thu chi của Agribank Hải Dương
2 Biểu đồ 3.2 Cơ cấu dư nợ theo thời gian tại Agribank Hải
3 Biểu đồ 3.3 Cơ cấu dư nợ theo thành phần kinh tế tại
Agribank Hải Dương giai đoạn 2014-2016 65
Trang 12LỜI MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Cùng với sự đổi mới chung của đất nước, ngành Ngân hàng đã có những bước tiến đáng kể trong tổ chức và hoạt động, ngày càng thể hiện rõ vai trò to lớn và quan trọng trong quá trình chuyển đổi nền kinh tế nước ta từ một nền kinh tế tập trung, quan liêu, bao cấp sang nền kinh tế thị trường có sự quản lý và điều tiết của Nhà nước cũng như trong sự nghiệp công nghiệp hoá
và hiện đại hoá đất nước
Trong các hoạt động của Ngân hàng thương mại, tín dụng là hoạt động chủ yếu và quan trọng nhất, chiếm tỷ trọng cao nhất trong tổng tài sản của các Ngân hàng Tín dụng là hoạt động tạo ra thu nhập chủ yếu và cũng là hoạt động tiềm ẩn nhiều rủi ro Rủi ro tín dụng là một trong những loại rủi ro lâu đời và quan trọng nhất mà Ngân hàng thương mại cũng như các tổ chức tài chính trung gian khác phải đối mặt Hậu quả của rủi ro trong hoạt động tín dụng luôn có tác động và ảnh hưởng nghiêm trọng đến hệ thống Ngân hàng nói riêng và cả nền kinh tế xã hội nói chung Do đó, bất cứ lúc nào rủi ro tín dụng cũng luôn mang tính thời sự và việc nâng cao chất lượng tín dụng, hạn chế đến mức thấp nhất rủi ro tín dụng là vấn đề sống còn được quan tâm hàng đầu của các Ngân hàng thương mại
Với truyền thống hơn 28 năm xây dựng và trưởng thành, trong những năm qua Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam – Chi nhánh Hải Dương đã không ngừng phấn đấu vươn lên, khẳng định được vị thế
là Ngân hàng thương mại dẫn đầu trên địa bàn tỉnh Bằng việc tham gia đầu tư vốn cho tất cả các ngành kinh tế trên địa bàn tỉnh, Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam – Chi nhánh Hải Dương đã góp phần quan trọng vào việc thúc đẩy sự phát triển của nền kinh tế tỉnh nhà Để thực hiện
Trang 13mục tiêu phát triển an toàn – bền vững, trong hoạt động kinh doanh của mình Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam – Chi nhánh Hải Dương cũng luôn quan tâm đến việc nâng cao chất lượng, hạn chế rủi ro tín dụng Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được thì hoạt động tín dụng của Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam – Chi nhánh Hải Dương vẫn còn bộc lộ nhiều hạn chế cần sớm được khắc phục, điều chỉnh đề phòng ngừa và giảm thiểu rủi ro
Từ nhận thức được yêu cầu của thực tiễn, tôi chọn đề tài nghiên cứu:
“Chất lượng tín dụng tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam – Chi nhánh Hải Dương” làm đề tài luận văn thạc sĩ Tài
2.2 Nhiệm vụ
- Hệ thống hóa những vấn đền lý luận chung về chất lượng tín dụng của Ngân hàng thương mại
- Đánh giá chất lượng hoạt động tín dụng tại Ngân hàng Nông nghiệp
và Phát triển Nông thôn Việt Nam – Chi nhánh Hải Dương
- Đề xuất các giải pháp để nâng cao chất lượng tín dụng, đảm bảo an toàn trong hoạt động kinh doanh của Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam – Chi nhánh Hải Dương
3 Câu hỏi nghiên cứu
Thứ nhất, thực trạng chất lượng tín dụng tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam – Chi nhánh Hải Dương như thế nào?
Trang 14Thứ hai, Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam – Chi nhánh Hải Dương cần có những giải pháp gì để nâng cao chất lượng tín dụng?
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Chất lượng hoạt động tín dụng tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam – Chi nhánh Hải Dương
5 Kết cấu luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo kết cấu luận văn có 4 chương chính như sau:
Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn
về chất lượng tín dụng của Ngân hàng thương mại
Chương 2: Phương pháp nghiên cứu và thiết kế luận văn
Chương 3: Thực trạng chất lượng tín dụng tại Ngân hàng Nông nghiệp
và Phát triển Nông thôn Việt Nam – Chi nhánh Hải Dương
Chương 4: Định hướng và giải pháp nâng cao chất lượng tín dụng tại Ngân
hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam – Chi nhánh Hải Dương
Trang 15CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ CHẤT LƯỢNG TÍN DỤNG CỦA NGÂN
HÀNG THƯƠNG MẠI
1.1 Tổng quan tình hình nghiên cư ́ u
1.1.1 Một số công trình nghiên cứu về chất lượng tín dụng của ngân hàng thương mại
Hà Thị Hương Giang, 2014 Nâng cao chất lượng tín dụng tại Ngân
hàng thương mại cổ phần Công thương Việt Nam – Chi nhánh Phú Thọ Luận văn thạc sĩ
Luận văn đã phân tích làm rõ về lý luận cơ bản về chất lượng tín dụng Đánh giá chất lượng tín dụng thông qua các chỉ tiêu cơ bản, các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng tín dụng của Ngân hàng thương mại để phòng ngừa và hạn chế rủi ro, chỉ ra những ưu điểm, khó khăn và hạn chế cần phải khắc phục trong hoạt động tín dụng của Ngân hàng thương mại và cổ phần Công thương Việt Nam – Chi nhánh Phú Thọ
Lê Quốc Khánh, 2012 Giải pháp nâng cao chất lượng tín dụng tại
Ngân hàng thương mại cổ phần Đầu tư và Phát triển Việt Nam – Chi nhánh Cầu Giấy Luận văn thạc sĩ
Luận văn đã trình bày được cơ sở lý luận về chất lượng tín dụng của ngân hàng thương mại Phân tích đánh giá thực trạng chất lượng tín dụng tại Ngân hàng thương mại cổ phần Đầu tư và Phát triển Việt Nam – Chi nhánh Cầu Giấy để thấy những hạn chế, tồn tại trong hoạt động tín dụng và tìm ra nguyên nhân tại BIDV Chi nhánh Cầu Giấy Đưa ra các giải pháp nhằm nâng cao chất lượng tín dụng tại BIDV Chi nhánh Cầu Giấy phù hợp với thực trạng hoạt động tín dụng và điều kiện phát triển kinh tế trên địa bàn
Trang 16Đinh Vũ Minh, 2009 Nâng cao chất lượng dịch vụ tín dụng của Ngân
hàng thương mại cổ phần Các doanh nghiệp ngoài quốc doanh Việt Nam (VPBank) Luận văn thạc sĩ kinh tế
Luận văn đã nghiên cứu các lý thuyết về chất lượng dịch vụ và sự thỏa mãn của khách hàng nói chung, từ đó xây dựng mô hình thang đo chất lượng dịch vụ tín dụng và sự thỏa mãn của khách hàng được áp dụng tại VPBank nói riêng và cho các Ngân hàng thương mại nói chung tại Việt Nam Trên cơ
sở đó, gợi ý hướng nghiên cứu để đánh giá chất lượng các dịch vụ khác của ngân hàng như dịch vụ huy động vốn, thanh toán quốc tế, thanh toán thẻ… Luận văn cũng đã phân tích được thực trạng hoạt động kinh doanh của VPBank năm 2007 và 6 tháng đầu năm 2008, bao gồm những kết quả đạt được và những khó khan còn tồn tại Trên cơ sở đó đưa ra một số kiến nghị, giải pháp nhằm nâng cao chất lượng dịch vụ tín dụng của VPBank trong tương lai
Nguyễn Thị Thanh Hải, 2008 Giải pháp nâng cao chất lượng hoạt động
tín dụng tại Ngân hàng Thương mại cổ phần Kỹ thương Việt Nam trong bối cảnh hội nhập Luận văn thạc sĩ kinh tế
Luận văn đã giới thiệu lý luận chung về hoạt động tín dụng và chất lượng hoạt động tín dụng ngân hàng, thực trạng chất lượng hoạt động tín dụng tại Techcombank, giải pháp nâng cao chất lượng hoạt động tín dụng tại Techcombank
Lê Bá Minh Long, 2011 Giải pháp nâng cao chất lượng tín dụng đối
với doanh nghiệp nhỏ và vừa tại Ngân hàng Thương Mại Cổ Phần Phương Đông Luận văn thạc sĩ kinh tế
Trên cơ sở nghiên cứu, thu thập thông tin và số liệu có liên quan phản ánh thực trạng hoạt động tín dụng đối với Doanh nghiệp nhỏ và vừa tại Ngân hàng Thương Mại Cổ Phần Phương Đông, trong quá trình thực hiện luận văn,
Trang 17người viết sử dụng tổng hợp các phương pháp thống kê, phân tích, tổng hợp
và so sánh để làm rõ nội dung nghiên cứu mà đề tài đặt ra: Nghiên cứu những vấn đề lý luận cơ bản về Doanh nghiệp nhỏ và vừa, tín dụng ngân hàng và chất lượng tín dụng đối với các Doanh nghiệp nhỏ và vừa của Ngân hàng thương mại, xác định sự cần thiết của việc nâng cao chất lượng tín dụng đối với Doanh nghiệp nhỏ và vừa của Ngân hàng thương mại Nghiên cứu thực trạng chất lượng tín dụng đối với DNNVV của OCB từ năm 2008 đến năm
2010, qua đó rút ra những mặt đạt được cũng như những tồn tại cần giải quyết Thiết lập các giải pháp nâng cao chất lượng tín dụng đối với Doanh nghiệp nhỏ và vừa tại OCB
Nguyễn Thị Thu Đông, 2012 Nâng cao chất lượng tín dụng tại Ngân
hàng thương mại cổ phần Ngoại thương Việt Nam trong quá trình hội nhập Luận án tiến sĩ kinh tế
Luận án đã giới thiệu một số mô hình định lượng đánh giá chất lượng tín dụng của khách hàng pháp nhân tại ngân hàng thương mại như: mô hình chỉ số tín dụng đại diện là Alman; mô hình phân nhóm và phân lớp; mô hình logistic Luận án đã chỉ ra việc sử dụng mô hình định lượng là lượng hóa các quan hệ dự báo sự thay dổi chất lượng tín dụng đối với tất cả khách hàng theo từng yếu tố Sử dụng mô hình định lượng là dựa trên việc mô hình hóa các mối quan hệ giữa các biến phản ánh chất lượng tín dụng và các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng tín dụng, đo lường và đánh giá mức độ ảnh hưởng, mức
độ khác biệt của các yếu tố đó đến chất lượng tín dụng
1.1.2 Kết luận
Chất lượng tín dụng tại các ngân hàng trong những năm gần đây đã trở thành đối tượng nghiên cứu khá phổ biến trong các đề tài nghiên cứu khoa học Các nghiên cứu trên với phạm vi, đối tượng và hướng nghiên cứu khác nhau Hầu hết các công trình nghiên cứu đã hệ thống được toàn bộ các vấn đề
Trang 18lý luận cơ bản về: sự cần thiết, đặc điểm và vai trò của tín dụng và chất lượng tín dụng, các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng tín dụng của ngân hang thương mại, kinh nghiệm nâng cao chất lượng tín dụng của các nước trên thế giới và rút ra bài học kinh nghiệm cho các ngân hàng tại Việt Nam; các đề tài
đã cho thấy được một cách rõ nét về thực trạng chất lượng tín dụng trong phạm vi cả nước cũng như một số ngân hàng cụ thể có chi nhánh ở các tỉnh thành Trên cơ sở đó đưa ra các định hướng và giải pháp nhằm nâng cao chất lượng tín dụng
Những công trình khoa học trên là tư liệu quý báu cả về lý luận và thực tiễn cho việc nghiên cứu đề tài chất lượng tín dụng tại các ngân hang thương mại Tuy nhiên, Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam – Chi nhánh Hải Dương thì chưa có công trình nghiên cứu nào nghiên cứu sâu
về vấn đề nâng cao chất lượng tín dụng Vì vậy đề tài: “Chất lượng tín dụng tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam – Chi nhánh Hải Dương” sẽ tiếp tục là vấn đề cấp thiết
1.2 Cơ sở lý luận về chất lượng tín dụng của Ngân hàng thương mại
1.2.1 Khái quát về tín dụng ngân hàng
1.2.1.1 Khái niệm về tín dụng
Tín dụng là một phạm trù kinh tế, ra đời, tồn tại và phát triển cùng với
sự ra đời, tồn tại và phát triển của nền kinh tế hàng hoá.Tín dụng ra đời là một tất yếu, khách quan của nền kinh tế xã hội
Mặc dù hoạt động tín dụng ra đời rất lâu nhưng cho đến nay người ta vẫn chưa thống nhất khi định nghĩa về tín dụng
Theo Các Mác thì: “ Tín dụng dưới hình thái biểu hiện của nó là sự tín nhiệm ít nhiều có căn cứ đã khiến cho người này giao cho người khác một số
tư bản nào đó dưới hình thái hàng hoá hoặc được đánh giá thành một số tiền
Trang 19nhất định Số tiền này bao giờ cũng phải được trả lại trong một thời gian đã được ấn định”(C.Mác (1962), Tư bản, Nhà xuất bản Sự Thật)
Theo từ điển Bách khoa toàn thư Việt Nam thì: “Tín dụng là một phạm trù kinh tế thể hiện mối quan hệ giữa người đi vay và người cho vay Trong quan hệ này người cho vay có nhiệm vụ chuyển giao quyền sử dụng tiền hoặc hàng hoá cho vay cho người đi vay trong một thời gian nhất định.Đến kỳ hạn trả nợ người đi vay có trách nhiệm hoàn trả toàn bộ số tiền hoặc hàng hoá đã vay, có kèm hoặc không kèm một khoản lãi”
Theo quan niệm của các nhà nghiên cứu kinh tế, tín dụng được coi là quan hệ lẫn nhau giữa người cho vay và người đi vay với điều kiện có hoàn trả cả gốc lẫn lãi sau một thời gian nhất định Hay nói một cách khác, tín dụng
là một phạm trù kinh tế phản ánh mối quan hệ kinh tế mà trong đó mỗi cá nhân hay tổ chức nhường quyền sử dụng (chuyển nhượng) một khối lượng giá trị hoặc hiện vật cho một cá nhân hay tổ chức khác với những ràng buộc nhất định về: số tiền hoàn trả (gốc và lãi), thời gian hoàn trả, lãi suất, cách thức vay mượn và thu hồi…
Còn “Tín dụng ngân hàng là việc ngân hàng chấp thuận để khách hàng
sử dụng một lượng tài sản (bằng tiền, tài sản thực hay uy tín) trên cơ sở lòng tin khách hàng có khả năng hoàn trả gốc và lãi khi đến hạn”(GS.TS.Nguyễn Văn Tiến - Quản trị ngân hàng thương mại- NXB Thống Kê,2013).Khác với
tín dụng thương mại, tín dụng ngân hàng không cung cấp tín dụng dưới hình thức hàng hoá
Theo Luật các tổ chức tín dụng 2010“Cấp tín dụng là việc thỏa thuận
để tổ chức, cá nhân sử dụng một khoản tiền hoặc cam kết cho phép sử dụng một khoản tiền theo nguyên tắc có hoàn trả bằng nghiệp vụ cho vay, chiết khấu, cho thuê tài chính, bao thanh toán, bảo lãnh ngân hàng và các nghiệp
vụ cấp tín dụng khác.”(Luật Các Tổ Chức Tín Dụng – Điều 4, Mục 14)
Trang 20Như vậy, tín dụng ngân hàng mang bản chất chung của quan hệ tín dụng, đó là quan hệ tin cậy lẫn nhau trong việc vay và cho vay giữa các ngân hàng, các TCTD với các pháp nhân và cá nhân, được thực hiện theo nguyên tắc hoàn trả và có lãi
1.2.1.2 Phân loại tín dụng
Trong nền kinh tế hiện đại, tín dụng ngân hàng có phạm vi hoạt động rộng và đa dạng, việc phân loại chỉ có tính chất tương đối Trên cơ sở các căn
cứ phân loại khác nhau ta có các hình thức tín dụng khác nhau
Dựa vào mục đích cho vay thì gồm các loại: cho vay bất động sản, cho vay
công và thương mại, cho vay nông nghiệp, cho vay các chế định tài chính, cho vay cá nhân và cho thuê
- Cho vay bất động sản: là việc cho vay liên quan đến việc mua sắm và xây dựng bất động sản nhà ở, đất đai, bất động sản trong lĩnh vực công nghiệp, thương mại và dịch vụ
- Cho vay công nghiệp và thương mại: là loại hình cho vay ngắn hạn để
bổ sung vốn lưu động cho các doanh nghiệp trong lĩnh vực công nghiệp, thương mại và dịch vụ
- Cho vay nông nghiệp: là loại hình cho vay để trang trải các chi phí sản xuất như phân bón, thuốc trừ sâu, giống cây trồng, thức ăn gia súc, lao động, nhiên liệu…
- Cho vay cá nhân: là loại cho vay để đáp ứng nhu cầu tiêu dùng như mua sắm những vật dụng đắt tiền và trang trải các phí thông thường của đời sống thông qua việc cấp tín dụng hoặc phát hành thẻ tín dụng cho cá nhân…
- Cho vay các định chế tài chính: bao gồm cấp tín dụng cho các ngân hàng, các công ty tài chính, công ty cho thuê tài chính, công ty bảo hiểm, quỹ tín dụng và các định chế tài chính khác…
Trang 21- Cho thuê bao gồm hai loại cho thuê: cho thuê vận hành và cho thuê tài chính, tài sản cho thuê bao gồm bất động sản và động sản trong đó chủ yếu là máy móc thiết bị
Dựa theo thời hạn cho vay gồm các loại sau: cho vay ngắn hạn, cho vay trung
hạn và cho vay dài hạn
- Cho vay ngắn hạn: là loại cho vay có thời hạn đến 12 tháng và được
sử dụng để bù đắp sự thiếu hụt vốn lưu động và dự trữ hàng tồn kho của doanh nghiệp và các nhu cầu chi tiêu ngắn hạn của cá nhân
- Cho vay trung hạn: là loại cho vay có thời hạn trên 12 tháng đến 5 năm và được sử dụng để đầu tư cho tài sản cố định, cải tiến hoặc đổi mới thiết
bị, mở rộng sản xuất kinh doanh Trong nông nghiệp chủ yếu cho vay trung hạn để đầu tư vào đối tượng sau: máy cày, máy bơm nước, xây dựng các vườn cây công nghiệp như cà phê, điều….Cho vay trung hạn còn là nguồn hình thành vốn lưu động thường xuyên của các doanh nghiệp, đặc biệt là các doanh nghiệp mới thành lập
- Cho vay dài hạn là loại cho vay có thời hạn trên 5 năm và có thời hạn đối đa lên đến 20 – 30 năm, một số trường hợp cá biệt có thể lên tới 40 năm và được sử dụng để đáp ứng nhu cầu dài hạn như xây dựng nhà ở, các thiết bị, phương tiện vận tải có quy mô lớn, chu kỳ sống dài, xây dựng các xí nghiệp mới
Dựa vào mức độ tín nhiệm với khách hàng: cho vay không có đảm bảo và cho
vay có đảm bảo
- Cho vay không có đảm bảo: là loại cho vay không có tài sản cầm cố thế chấp, cho vay dựa vào mức độ tín nhiệm của các đối tượng Hình thức cho vay này thường được sử dụng cho các tổ chức có uy tín cao
- Cho vay có đảm bảo: là hình thức cho vay dùng tài sản, các giấy từ có giá để cầm cố thế chấp cho khoản vay, hoặc chính các tài sản được hình thành
từ khoản vay trên Hiện nay hình thức cho vay này là phổ biến.Các tài sản
Trang 22đảm bảo được coi là nguồn trả nợ thứ hai khi nguồn trả nợ thứ nhất không thực hiện được
Dựa theo phương thức hoàn trả:
- Cho vay có thời hạn: là loại cho vay có thoả thuận thời hạn trả nợ cụ thể theo hợp đồng, cho vay có thời hạn bao gồm: Cho vay chỉ có một kỳ trả
nợ, cho vay có nhiều kỳ trả nợ ( cho vay trả góp) và cho vay hoàn trả nhiều lần nhưng không có thời hạn trả cụ thể
- Cho vay không có thời hạn trả cụ thể: đối với loại cho vay này thì ngân hàng có thể yêu cầu hoặc người đi vay có thể tự nguyện trả nợ bất kỳ lúc nào nhưng phải báo trước một thời gian hợp lý, thời gian này có thể thoả thuận trong hợp đồng Hình thức cho vay này còn ít vì tính an toàn của khoản vay là không cao
Dựa theo xuất xứ tín dụng: cho vay trực tiếp và cho vay gián tiếp
- Cho vay trực tiếp: nghĩa là ngân hàng cấp vốn trực tiếp cho người có nhu cầu đồng thời người đi vay trực tiếp hoàn trả nợ vay cho ngân hàng
- Cho vay gián tiếp: là khoản cho vay được thực hiện thông qua việc mua lại các khế ước hoặc chứng từ nợ đã phát sinh và còn trong thời hạn thanh toán
1.2.1.3 Vai trò của tín dụng ngân hàng
Tín dụng ngân hàng đóng vai trò quan trọng đối với nền kinh tế.Hoạt động tín dụng có chất lượng sẽ góp phần thúc đẩy sản xuất kinh doanh phát triển, tạo ra sự ổn định trong lưu thông tiền tệ Cùng với sự phát triển của nền kinh tế, vai trò của tín dụng ngân hàng cũng ngày một tăng lên, thể hiện:
Thứ nhất, tín dụng ngân hàng là công cụ tài trợ có hiệu quả cho nền kinh tế Trong nền kinh tế các doanh nghiệp hoạt động SXKD dựa trên nguồn vốn tự có và vốn tài trợ từ bên ngoài như: ngân hàng, doanh nghiệp khác Trong đó vốn tín dụng ngân hàng vẫn là nguồn tài trợ có hiệu quả hơn cả, bởi
Trang 23vì nó thoả mãn nhu cầu về số lượng và thời hạn, đồng thời chi phí sử dụng vốn tín dụng ngân hàng thường thấp hơn chi phí sử dụng các nguồn vốn khác
Thứ hai, tín dụng ngân hàng là công cụ để giải quyết mâu thuẫn giữa người thừa vốn và người thiếu vốn Vì ngân hàng luôn thu hút tập trung mọi nguồn vốn tạm thời nhàn rỗi của tổ chức kinh tế, dân cư để đầu tư cho quá trình mở rộng sản xuất, tăng trưởng kinh tế, tạo điều kiện cho nền kinh tế phát triển bền vững Trong quá trình hoạt động đó, ngân hàng thu được lợi tức từ hoạt động cho vay để duy trì phát triển hoạt động của chính bản thân mình Tuy vậy, trong cơ chế thị trường hiện nay, huy động và cho vay bao nhiêu, có đáp ứng được hay không đáp ứng được yêu cầu của nền kinh tế, thu hồi vốn có đúng hạn hay không là vấn đề được đặt lên hàng đầu trong hoạt động tín dụng của ngân hàng Do đó, mỗi ngân hàng cần phải có nghệ thuật trong kinh doanh, phải tìm mọi biện pháp hữu hiệu nhằm thu hút tối đa nguồn vốn với chi phí thấp nhất để cho vay Có thể nói, tín dụng ngân hàng góp phần quan trọng vào quá trình vận động liên tục của nguồn vốn, đẩy nhanh tốc độ chu chuyển tiền tệ trong xã hội
Thứ ba, tín dụng ngân hàng góp phần làm chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp- nông nghiệp- dịch vụ và thúc đẩy nền kinh tế tăng trưởng Trong mọi lĩnh vực sản xuất kinh doanh và dịch vụ để tái sản xuất,
mở rộng hoạt động, mọi chu kỳ đều phải bắt đầu bằng tiền và kết thúc bằng tiền Do đó, để tăng nhanh vòng quay vốn, mỗi chủ thể kinh doanh phải tìm kiếm và thực hiện nhiều biện pháp như cải tiến kỹ thuật, tìm kiếm thị trường mới Tất cả những công việc trên đòi hỏi phải có nhiều vốn mà tín dụng ngân hàng là nguồn cung ứng vốn cho các nhu cầu đó một cách đầy đủ và kịp thời nhất Mặt khác, vốn ngân hàng cung ứng cho các nhà kinh doanh bằng việc cho vay với đều kiện phải hoàn trả cả gốc và lãi theo thời hạn quy định Vì vậy, các nhà quản trị doanh nghiệp phải tìm nhiều biện pháp để sử dụng vốn
Trang 24có hiệu quả, tăng nhanh vòng quay của vốn, trả nợ gốc và lãi đúng hạn Chính quá trình này đã góp phần tạo cho nền kinh tế hàng hoá ngày càng phát triển
Thứ tư, tín dụng ngân hàng góp phần thúc đẩy quá trình mở rộng mối quan hệ giao lưu kinh tế quốc tế.Trong điều kiện hiện nay, việc phát triển kinh tế của một nước phải luôn gắn liền với sự phát triển của nền kinh tế thế giới.Trong đó, đầu tư vốn ra nước ngoài và kinh doanh xuất nhập khẩu hàng hoá là hai lĩnh vực hợp tác thông dụng và phổ biến giữa các nước.Vốn là nhân
tố quyết định đầu tiên cho việc thực hiện quá trình này.Nhưng trên thực tế không phải một tổ chức kinh tế nào, một nhà kinh doanh nào cũng đủ vốn để hoạt động Ngân hàng với tư cách là một tổ chức kinh doanh tiền tệ, thông qua hoạt động tín dụng sẽ là “nhà tài trợ” đắc lực về vốn cho các nhà đầu tư kinh doanh xuất nhập khẩu hàng hoá
Thứ năm, tín dụng ngân hàng là công cụ để Nhà nước điều tiết khối lượng tiền tệ lưu thông trong nền kinh tế, kiểm soát tiền vào kênh lưu thông qua kênh tín dụng.Bởi vì, ngân hàng là một chủ thể quan trọng tham gia vào quá trình tạo tiền thông qua hoạt động tín dụng và thanh toán.Khi ngân hàng
mở rộng hoặc thắt chặt tín dụng sẽ tác động đến lượng tiền trong lưu thông
Do đó, khi Nhà nước muốn tăng khối lượng tiền trong lưu thông thì NHNN
có thể tăng hạn mức tín dụng của các NHTM đối với nền kinh tế và ngược lại
Thứ sáu, tín dụng ngân hàng góp phần thoả mãn nhu cầu tiết kiệm và mở rộng đầu tư của nền kinh tế.Qua việc cung ứng vốn sẽ góp phần mở rộng đầu tư bằng việc cấp vốn cho các doanh nghiệp đồng thời thúc đẩy các doanh nghiệp tăng cường chế độ hạch toán kinh tế, tiết kiệm trong hoạt động kinh doanh
Như vậy, tín dụng ngân hàng có vai trò hết sức quan trọng đối với sự phát triển kinh tế xã hội của đất nước, nó giải quyết mâu thuẫn nội tại của nền kinh tế, thúc đẩy nền kinh tế tăng trưởng bền vững Tuy nhiên, để tín dụng ngân hàng phát huy được hết vai trò của nó thì các nhà quản lý ngân hàng, các cơ quan chức năng
Trang 25phải tạo ra một hành lang pháp lý cũng như các quy định chặt chẽ, tạo điều kiện thuận lợi cho cả người vay và người đi vay trong nền kinh tế
1.2.2 Chất lượng tín dụng tại các Ngân hàng thương mại
1.2.2.1 Khái niệm về chất lượng tín dụng
Hoạt động tín dụng là một hoạt động sinh lời chủ yếu của Ngân hàng trong nền kinh tế thị trường, nhưng cũng là nơi chứa đựng nhiều rủi ro nhất Chính vì thế vấn đề chất lượng tín dụng là vấn đề quan trọng, sống còn đối với tất cả các Ngân hàng
“ Chất lượng tín dụng được hiểu một cách khái quát nhất đó là sự đáp ứng nhu cầu của khách hàng (người gửi tiền và người vay tiền) phù hợp với
sự phát triển kinh tế xã hội và đảm bảo sự tồn tại, phát triển của tổ chức tín dụng cung cấp sản phẩm tín dụng đó.” (Trần Đình Định - Quản trị rủi ro trong hoạt động ngân hàng theo chuẩn mực, thông lệ quốc tế và quy định của Việt Nam
NXB Tư pháp - 2008)
Chất lượng tín dụng là một phạm trù phản ánh mức độ rủi ro trong bảng tổng hợp cho vay của một tổ chức tín dụng
Trong thực tế, xuất phát từ bản chất của tín dụng là mối quan hệ giữa người vay và người cho vay, liên quan đến nhiều chủ thể kinh tế và có vai trò cực kỳ to lớn trong nền kinh tế nên chất lượng tín dụng được đề cập dưới nhiều góc độ khác nhau:
- Đối với nền kinh tế: Tín dụng có chất lượng nghĩa là phải huy động
được tối đa lượng tiền tệ tạm thời nhàn rỗi và thực hiện cho vay đầu tư phát triển nền kinh tế theo định hướng của Nhà nước một cách có hiệu quả nhất Tức là việc đầu tư tín dụng sẽ góp phần nâng cao năng suất lao động, tạo ra các sản phẩm dịch vụ có chất lượng cao, giá thành hạ Đồng thời, thông qua
đó sẽ góp phần thực hiện các nhiệm vụ kinh tế vĩ mô của Nhà nước như: hợp
lý hoá cơ cấu nền kinh tế, giải quyết công ăn việc làm cho người lao động, cải
Trang 26thiện cuộc sống người dân, củng cố quan hệ kinh tế đối ngoại quốc gia, đặc biệt là góp phần vào công cuộc công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước
- Đối với khách hàng vay vốn: Khách hàng là đối tượng sử dụng các
dịch vụ của ngân hàng, đặc biệt là dịch vụ tín dụng vì nó là một nguồn tài trợ quan trọng đối với mỗi doanh nghiệp Mục tiêu của họ là tối đa hoá giá trị tài sản của mình hay nói cụ thể hơn là tối đa hoá giá trị sử dụng của khoản vốn vay Chính vì thế với khách hàng để đánh giá chất lượng tín dụng của ngân hàng cái họ quan tâm đầu tiên là lãi suất, kỳ hạn, quy mô, phương thức giải ngân và phương thức thu nợ của khoản tín dụng mà ngân hàng cung cấp có thoả mãn nhu cầu của họ hay không, làm sao để các thủ tục được giải quyết một cách nhanh gọn, tiết kiệm thời gian và chi phí hợp lý Nếu tất cả các yếu
tố này đều đáp ứng được nhu cầu của khách hàng thì khoản tín dụng đó được coi là có chất lượng tốt và ngược lại
Do đó theo quan điểm của khách hàng thì chất lượng tín dụng là: Sự thoả mãn nhu cầu của họ về khoản tín dụng trên các phương diện, lãi suất, quy mô, thời hạn, phương thức giải ngân, phương thức thu nợ, thái độ phục
vụ, thời gian phục vụ
- Đối với ngân hàng:Cũng như bất cứ một doanh nghiệp nào trong nền
kinh tế Ngân hàng cũng phải hoạt động kinh doanh làm sao để đem lại càng nhiều thu nhập cho chủ sở hữu thì càng tốt Nhưng điều rất khác của Ngân hàng đối với các doanh nghiệp khác là Ngân hàng thương mại là đơn vị kinh
tế kinh doanh trên lĩnh vực tiền tệ với 3 nghiệp vụ cơ bản: Nhận gửi, cho vay, cung ứng các dịch vụ thanh toán Vì thế theo quan điểm của Ngân hàng thì chất lượng tín dụng với các yếu tố cấu thành cơ bản đó là mức độ an toàn của tín dụng và khả năng sinh lời do hoạt động tín dụng mang lại
Mối quan hệ giữa rủi ro và lợi nhuận hay mối quan hệ giữa an toàn và khả năng sinh lời là mối quan hệ biện chứng Mối quan tâm hàng đầu của tất
Trang 27cả các nhà đầu tư là phải cân nhắc giữa mức độ an toàn và khả năng sinh lời
Về nguyên tắc đánh đổi giữa rủi ro và lợi nhuận thì mức độ rủi ro của lĩnh vực đầu tư càng cao thì sẽ có khả năng sinh lợi càng cao và ngược lại
Hơn nữa hoạt động của ngân hàng là hoạt động chứa nhiều rủi ro bởi lẽ
số tiền ngân hàng cho vay có tới hơn 50% là nguồn vốn ngoài vốn chủ sở hữu Vì thế nếu như Ngân hàng không cân nhắc thận trọng thì sẽ lâm vào tình trạng “ Mất khả năng thanh toán “
Đối với Ngân hàng, một khoản tín dụng có khả năng sinh lời cao khi khoản tín dụng đó đến hạn thanh toán thì sẽ hoàn trả đầy đủ vốn gốc và lãi
Do đó theo quan điểm của Ngân hàng chất lượng tín dụng được hiểu là: Chất lượng tín dụng là một thuật ngữ phản ánh mức độ an toàn và khả năng sinh lời của hoạt động tín dụng Ngân hàng
Như vậy, chất lượng tín dụng là mức độ thoả mãn nhu cầu và hiệu quả của nền kinh tế, của người đi vay và người cho vay trong quan hệ tín dụng
1.2.2.2 Sự cần thiết của việc nâng cao chất lượng tín dụng tại Ngân hàng thương mại
Ngân hàng là ngành dịch vụ đã có lịch sử tồn tại và phát triển hàng trăm năm Nó là ngành mang lại cho giới Ngân hàng siêu lợi nhuận song đồng thời nó cũng là ngành chịu nhiều rủi ro Một trong những rủi ro đáng sợ đối với Ngân hàng là rủi ro tín dụng và nó cũng là một trong những nguyên nhân chính gây ra tình trạng mất khả năng thanh toán của Ngân hàng, bằng chứng
là đã xảy ra những cuộc khủng hoảng tài chính trên thế giới Có thể nói bất
kỳ một quốc gia nào trên thế giới cũng có thể lâm và tình trạng đó, vì thế vấn
đề nâng cao chất lượng tín dụng không chỉ đối là cần thiết đối với Ngân hàng, với khách hàng mà còn đối với toàn xã hội nữa
Về phía Ngân hàng: Ngân hàng thương mại giống như các nhà kinh doanh, bỏ vốn của mình ra và mong muốn thu được lợi nhuận và thu hồi vốn
Trang 28Như vậy đảm bảo chất lượng cho các khoản vay và cho vay bản thân nó đối với Ngân hàng đã là một nhu cầu cấp thiết Đặc biệt đối với các Ngân hàng thương mại ở Việt nam hiện nay không còn là cái bóng của Ngân hàng Trung Ương mà đã và đang dần trở thành một chủ thể kinh doanh độc lập, tự kiếm lợi nhuận lời ăn lỗ chịu, chịu trách nhiệm với khách hàng, với Ngân hàng Trung Ương Do vậy mà Ngân hàng không thể không cần đến sự an toàn với các khoản vay
Nền kinh tế nước ta hiện nay đang trong thời kỳ quá độ để chuyển sang một nền kinh tế thị trường Bản thân mỗi doanh nghiệp, tổ chức kinh tế chưa thoát khỏi tư tưởng bao cấp, tư duy về nền kinh tế thị trường còn nhiều hạn chế, do đó việc làm ăn của các doanh nghiệp có nguy cơ dẫn đến rủi ro là rất lớn Vì thế để nâng cao chất lượng tín dụng Ngân hàng không chỉ là người cung cấp vốn cho các doanh nghiệp mà Ngân hàng còn phải là người hiểu rõ hơn ai hết về lĩnh vực kinh doanh của doanh nghiệp, có như thế thì Ngân hàng mới mở rộng được các dịch vụ của mình như dịch vụ tư vấn giúp doanh nghiệp tránh khỏi được những rủi ro không đáng có
Như vậy, có thể thấy mục tiêu nâng cao chất lượng cho vay là điều kiện tối ưu cần thiết cho mỗi Ngân hàng, nó vừa là yếu tố không những đảm bảo cho Ngân hàng duy trì hoạt động mà còn giúp Ngân hàng phát triển Nếu đi ngược lại mục tiêu trên, Ngân hàng sẽ đi đến chỗ tự huỷ diệt chính mình
Về phía nhà đầu tư: Khách hàng của Ngân hàng có hai loại: Người gửi tiền và người vay tiền Người gửi tiền thì họ quan tâm đến khả năng thanh toán của Ngân hàng mà khả năng thanh toán của Ngân hàng lại có mối quan
hệ mật thiết với chất lượng của các khoản tín dụng vì vậy đối với họ nâng cao chất lượng tín dụng là vấn đề cần thiết vì nó ảnh hưởng trực tiếp đến những khoản tiền gửi của họ vào Ngân hàng Người vay tiền là người trực tiếp sử dụng giá trị sử dụng của các khoản vốn vay Ngân hàng, mà đối với họ chất
Trang 29lượng tín dụng chính là sự thoả mãn của họ về khoản tín dụng đó Cuối cùng phải làm sao cho khoản tín dụng đó đem lại lợi nhuận cho họ để họ có thể trang trải chi phí và có lãi Bởi thế bản thân người vay tiền coi vấn đề chất lượng tín dụng là vấn đề cần thiết và ngày càng phải được nâng cao
Nếu xét trên quan điểm toàn xã hội thì vấn đề chất lượng tín dụng cũng
là vấn đề cần thiết Bởi một đồng vốn của Ngân hàng cho vay nó là đầu mối trong tất cả các mối quan hệ kinh tế, nếu người sử dụng vốn đó hiệu quả thì cũng đồng nghĩa với việc nó có hiệu quả đối với Ngân hàng và xã hội bởi nó
sẽ góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế, đóng góp phát triển các công trình phúc lợi xã hội Hơn nữa sự sụp đổ của hệ thống Ngân hàng sẽ ảnh hưởng rất lớn đến nền kinh tế nó có thể làm cho nền kinh tế lâm vào tình trạng suy thoái trầm trọng và sẽ ảnh hưởng rất lớn đến toàn bộ xã hội Do đó vấn đề nâng cao chất lượng tín dụng cũng được cả xã hội quan tâm
Chính vì vậy trong hoạt động của mình, các NHTM luôn lấy chất lượng tín dụng làm tiêu thức quan tâm hàng đầu sau đó mới đến các tiêu chí khác
Sự cần thiết phải nâng cao chất lượng tín dụng thể hiện qua một số điểm sau:
Thứ nhất, nâng cao chất lượng tín dụng tạo điều kiện cho các ngân
hàng đảm bảo an toàn vốn, tài sản của mình cũng như của khách hàng gửi tiền Có như vậy thì ngân hàng mới bảo toàn và phát triển được nguồn vốn, đồng thời có đảm bảo được an toàn thì ngân hàng mới thu hút được khách hàng gửi tiền, từ đó mới có đủ vốn để phát triển tín dụng
Thứ hai, nâng cao chất lượng tín dụng thì mới nâng cao được hiệu quả
hoạt động kinh doanh ngân hàng Nếu không nâng cao chất lượng tín dụng sẽ dẫn đến phát sinh các khoản nợ quá hạn hoặc các khoản nợ không thu hồi được và ngân hàng phải lấy từ nguồn dự phòng rủi ro để bù đắp cho các khoản tín dụng này Chất lượng tín dụng càng thấp thì ngân hàng càng phải
Trang 30trích và sử dụng nhiều dự phòng rủi ro do đó mà lợi nhuận giảm, dẫn đến hiệu quả kinh doanh sẽ giảm
Thứ ba, nâng cao chất lượng tín dụng là để đáp ứng đầy đủ nhu cầu
vốn cho nền kinh tế và thực hiện đầy đủ chức năng, vai trò của ngân hàng thương mại Nếu việc nâng cao chất lượng tín dụng không được coi trọng, xuất hiện rủi ro thì sẽ dẫn đến việc luân chuyển vốn trong nền kinh tế trì trệ,
từ đó ảnh hưởng đến sự tăng trưởng và phát triển của nền kinh tế
1.2.2.3 Các chỉ tiêu phản ánh chất lượng tín dụng của Ngân hàng thương mại
Các nhà kinh tế, các nhà phân tích ngân hàng, các cơ quan quản lý, các nhà quản lý ngân hàng khi đánh giá chất lượng tín dụng ngân hàng đã sử dụng rất nhiều các chỉ tiêu khác nhau Nhìn chung, khi đánh giá chất lượng tín dụng người ta thường dùng các chỉ tiêu định tính và định lượng
Chỉ tiêu định tính
Là những chỉ tiêu mang tính tương đối, rất khó xác định thường được dùng để đánh giá chất lượng tín dụng một cách khái quát Các chỉ tiêu định tính thường bao gồm:
Thứ nhất, đó là việc đảm bảo thực hiện đúng các nguyên tắc cho vay
nhằm hạn chế đến mức tối đa rủi ro cho ngân hàng và thực hiện tốt các chính sách của Nhà nước trong từng thời kỳ
Thứ hai, đó là uy tín của ngân hàng đối với khách hàng, sự hài lòng của
khách hàng đối với các sản phẩm tín dụng mà ngân hàng cung cấp về quy mô, lãi suất, phí, thời gian phục vụ, thái độ phục vụ của nhân viên ngân hàng, tư vấn về
cơ hội kinh doanh cho khách hàng, hỗ trợ khách hàng tháo gỡ khó khăn…
Thứ ba, là trình độ chuyên môn nghiệp vụ của cán bộ ngân hàng, khả
năng ứng dụng công nghệ, kỹ thuật hiện đại trong quá trình cung cấp tín dụng nhằm rút ngắn thời gian phục vụ nhưng vẫn đảm bảo thu thập, lưu trữ đầy đủ thông tin để giúp ngân hàng có thể khai thác, phát hiện và ngăn ngừa rủi ro
Trang 31Thứ tư, là việc phối hợp tốt với các cơ quan chức năng như: công
chứng, trung tâm giao dịch đảm bảo, các tổ chức, đoàn thể để làm tốt công tác cho vay
Các chỉ tiêu định tính rất khó xác định và chủ yếu dựa vào kinh nghiệm của cán bộ tín dụng và người quản lý cũng như các mối quan hệ của họ với khách hàng vì vậy để đánh giá chất lượng tín dụng cần phải sử dụng đến các chỉ tiêu định lượng
Chỉ tiêu định lượng
Chất lượng tín dụng có vai trò quan trọng trong việc đánh giá hiệu quả hoạt động của một ngân hàng Một hệ thống chỉ tiêu tốt và hoàn chỉnh sẽ giúp ngân hàng đánh giá được chất lượng tín dụng cũng như đánh giá được tình hình hoạt động tín dụng chung của ngân hàng Các ngân hàng khác nhau sẽ có các cách đánh giá khác nhau nhưng về cơ bản phải đảm bảo một số tiêu chí sau:
a Doanh số cho vay
Doanh số cho vay là số tiền ngân hàng đã thực sự giải ngân cho khách hàng trong một khoảng thời gian nhất định.Nó phản ánh khối lượng các khoản tín dụng mà ngân hàng đã giải ngân cho doanh nghiệp, tổ chức kinh tế để đầu
tư mở rộng sản xuất kinh doanh.Nghiên cứu doanh số cho vay nhiều thời kì sẽ cho thấy xu thế hoạt động tín dụng
b Doanh số thu nợ tín dụng
Doanh số thu nợ tín dụng phản ánh khối lượng nợ tín dụng mà ngân hàng đã thu hồi được từ khách hàng vay vốn trong một thời kì nhất định
c Tổng dư nợ
Tổng dư nợ là tất cả số dư nợ cho vay bao gồm cả ngắn hạn, trung hạn
và dài hạn Đây là chỉ tiêu phản ánh khối lượng tín dụng mà ngân hàng cấp cho nền kinh tế tại một thời điểm nhất định.Tổng dư nợ thấp chứng tỏ hoạt động tín dụng của ngân hàng kém, khả năng mở rộng khách hàng không cao,
Trang 32cũng như mở rộng thị trường không cao Song chỉ tiêu này cao thì chưa hẳn chất lượng khoản vay tốt vì nó còn phụ thuộc vào khả năng thu hồi vốn của ngân hàng
d Tốc độ tăng trưởng dư nợ cho vay
Khi xem xét chỉ tiêu này chúng ta không nên xem xét chúng theo một thời kỳ riêng lẻ mà phải xem xét chúng trong cả quá trình trên cơ sở phân tích các yếu tố bên ngoài để chỉ tiêu này phản ánh một cách hiệu quả nhất Để đánh giá tình hình dư nợ cho vay tại các ngân hàng thương mại người ta sử dụng chỉ tiêu tốc độ tăng trưởng dư nợ cho vay
Tốc độ tăng trưởng dư nợ cho vay = [Dư nợ cho vay năm (t) - Dư nợ cho vay năm (t-1)]/ Dư nợ cho vay năm (t-1)
Chỉ tiêu này phản ánh khả năng cung ứng tín dụng cũng như quá trình
mở rộng thị trường, tìm đối tác khách mới, thông qua đó giúp các nhà quản lý của ngân hàng thương mại đánh giá được chất lượng tín dụng mà mình đang cung cấp cho khách hàng
e Hiệu suất sử dụng vốn vay
Hệ số này phản ánh kết quả sử dụng nguồn vốn để đầu tư của ngân hàng thương mại, hệ số này luôn nhỏ hơn 1.Nếu hệ số này thấp là một dấu hiệu không tốt, nó phản ánh rằng ngân hàng thương mại đang trong tình trạng
ứ đọng vốn, làm tăng chí phí vốn và làm giảm hiệu quả sử dụng vốn của ngân hàng Ngược lại, nếu chỉ tiêu này quá cao có thể do doanh số cho vay của ngân hàng tăng quá nhanh, điều này gây rủi ro lớn đối với ngân hàng Hiệu suất sử dụng vốn được tính như sau:
Hiệu suất sử dụng vốn vay H = (Tổng dư nợ cho vay / Tổng nguồn vốn huy động) * 100%
Đây chỉ là chỉ tiêu phản ánh quy mô, khả năng tận dụng nguồn vốn trong cho vay của các ngân hàng thương mại, nó cho ta biết trong một đồng
Trang 33vốn huy dộng được thì bao nhiêu đồng được sử dụng trong cho vay.Hiệu suất
sử dụng càng cao thì hoạt động kinh doanh càng có hiệu quả và ngược lại
g Vòng quay vốn tín dụng
Chỉ tiêu này dùng để đánh giá khả năng tổ chức quản lý vốn tín dụng và chất lượng cho vay trong việc đáp ứng nhu cầu vốn của khách hàng
Vòng quay vốn tín dụng = Tổng doanh số thu nợ /Mức dư nợ bình quân
Hệ số này phản ánh tốc độ luân chuyển vốn của ngân hàng Vòng quay vốn tín dụng càng cao chứng tỏ nguồn vốn ngân hàng phát ra đã luân chuyển nhanh, tham gia vào nhiều chu kì sản xuất và lưu thông hàng hóa của doanh nghiệp Với một số vốn nhất định nhưng do vòng quay vốn tín dụng tăng nên ngân hàng có khả năng đáp ứng được nhiều hơn nhu cầu vốn cho các doanh nghiệp và tăng đầu tư vào các lĩnh vực khác Chỉ tiêu này đối với khách hàng,
hệ số càng tăng phản ánh tình hình sản xuất kinh doanh của khách hàng càng tốt, có tình hình tài chính vững chắc.Đây là cơ sở để khách hàng thực hiện tốt những cam kết trên hợp đồng tín dụng cũng như thông qua đó nhận biết được khách hàng tốt hay không Đối với ngân hàng, chỉ tiêu này thể hiện khả năng thu hồi vốn của ngân hàng là cao hay thấp, khả năng quản lý tín dụng tốt hay kém Nếu vòng quay chậm chứng tỏ chất lượng tín dụng không tốt , khả năng thu hồi vốn kém
h Thu nhập từ hoạt động cho vay
Thu nhập từ hoạt động tín dụng = Lãi từ hoạt động tín dụng /Tổng thu nhập Chỉ tiêu này càng cao chứng tỏ hoạt động tín dụng của ngân hàng thương mại càng tốt, không những thu được vốn gốc và lãi mà thông qua đó thể hiện uy tín, năng lực cạnh tranh của ngân hàng thương mại càng được khẳng định và nâng cao Vì nguồn thu từ hoạt động tín dụng là nguồn thu chủ yếu để ngân hàng thương mại tồn tại và phát triển
i Mức sinh lời từ hoạt động cho vay
Trang 34Mức sinh lời từ hoạt động cho vay = (Tổng thu lãi cho vay – Chi phí hoạt động cho vay) / Tổng dư nợ bình quân
Chỉ tiêu này càng cao phản ánh ngân hàng đã có những cách thức hợp
lý để có hiệu quả cao từ hoạt động cho vay, mà thu nhập của ngân hàng hiện nay chủ yếu từ hoạt động cho vay Vì vậy nâng cao chất lượng cho vay tạo điều kiện giúp ngân hàng phát triển
để đánh giá chính xác hơn chất lượng hoạt động tín dụng của một ngân hàng thì người ta chia tỷ lệ nợ quá hạn thành hai loại: tỷ lệ nợ quá hạn có khả năng thu hồi và tỷ lệ nợ quá hạn không có khả năng thu hồi Ngân hàng có tỷ lệ nợ quá hạn cao nhưng trong đó bao nhiêu phần trăm là nợ có khả năng thu hồi và bao nhiêu phần trăm là nợ không có khả năng thu hồi, khi đó ta mới có thể đánh giá chính xác được chất lượng tín dụng của ngân hàng
Có nhiều cách để phân loại nợ quá hạn:
* Nếu chia theo khả năng thu hồi thì gồm:
- Nợ quá hạn thông thường: Đảm bảo đòi đủ 100%
- Nợ quá hạn khó đòi : Khả năng thu hồi không đủ và phải kéo dài
- Nợ quá hạn mất trắng
* Nếu chia theo nguyên nhân:
Trang 35- Nợ quá hạn do mất khả kháng như do thiên tai, do thay đổi cơ chế chính sách, do khủng hoảng Nguyên nhân không thuộc lỗi của bên cho vay
và người đi vay
- Nợ quá hạn do lỗi của người đi vay: yếu kém về trình độ quản lý, khả năng cạnh tranh hoặc cố tình không trả nợ…
- Nợ quá hạn do lỗi của người cho vay: thường bao giờ cũng gắn với lỗi của người cho vay do có sự thông đồng, đồng tình
* Nếu chia theo thời gian:
- Nợ quá hạn dưới 180 ngày
- Nợ quá hạn từ 180 ngày trở lên đến 360 ngày
- Nợ quá hạn trên 360 ngày
* Nếu chia theo biện pháp bảo đảm tiền vay
- Nợ quá hạn có bảo lãnh của người hay bên thứ 3
- Nợ quá hạn còn vật tư, hàng hóa tồn kho chờ bán và có tài sản hình thành từ vốn vay
- Nợ quá hạn có tín chấp
- Nợ quá hạn có xác nhận của cấp chủ quản
- Nợ quá hạn có người thừa kế hợp pháp theo luật phải trả thay
* Nếu chia theo khả năng thu hồi vốn:
- Nợ quá hạn bình thường: Là nợ quá hạn do định kỳ cho vay sai thực
tế, là nợ quá hạn có thời gian dưới 6 tháng kể từ ngày đến hạn trả nợ
- Nợ khê đọng: Là nợ quá hạn có thời gian quá hạn từ 6 tháng đến 12 tháng kể từ ngày đến hạn trả nợ mà vẫn chưa thu hồi được vốn vì đã tiềm ẩn những rủi ro
- Nợ khó đòi: Là nợ quá hạn trên 12 tháng kể từ ngày đến hạn trả nợ mà vẫn chưa thu hồi được vốn vì đã nảy sinh những rủi ro không khắc phục được
Trang 36- Nợ mất khả năng thu hồi vốn: Là nợ quá hạn không có khả năng thu hồi vốn sau khi đã phân tích các khả năng thu hồi vốn
Như vậy nợ quá hạn nói chung mới chỉ thể hiện được một phần về chất lượng tín dụng mà không nói rõ đến khả năng mất vốn của ngân hàng, chỉ có loại nợ quá hạn mất khả năng thu hồi vốn mới chỉ rõ phạm vi mất vốn của ngân hàng Loại nợ quá hạn bình thường tức là loại nợ quá hạn dưới 6 tháng
là có thể chấp nhận được trong điều kiện tình hình kinh doanh nước ta hiện nay Đó là những yếu tố khách quan do thị trường gây ra Khi nền kinh tế thị trường dần dần được hình thành rõ nét và ổn định mới có thể khống chế và giảm được các nợ quá hạn này Các loại nợ quá hạn từ 6 đến 12 tháng và trên
12 tháng là những loại nợ tiềm ẩn những rủi ro với ngân hàng Loại nợ quá hạn sau cùng mới là loại nợ mất khả năng thu hồi vốn của ngân hàng
l Nợ xấu và tỷ lệ nợ xấu trên tổng dư nợ
Các khoản nợ từ nhóm 3 đến nhóm 5 được xem là các khoản nợ xấu
Nợ xấu về bản chất là khái niệm dùng để chỉ các khoản nợ cho vay khách hàng đang đối diện với rủi ro cao trong việc thu hồi nợ gốc và lãi vay do khách hàng gặp khó khăn
Tỷ lệ nợ xấu = Nợ xấu/Tổng dư nợ
Tỷ lệ nợ xấu cho biết chất lượng và rủi ro của danh mục cho vay của ngân hàng, bao nhiêu đồng đang bị phân loại vào nợ xấu trên 100 đồng cho vay.Tỷ lệ này cao so với trung bình ngành và có xu hướng tăng lên có thể là dấu hiệu cho thấy ngân hàng đang gặp khó khăn trong việc quản lý chất lượng các khoản cho vay Ngược lại, tỷ lệ này thấp so với các năm trước cho thấy chất lượng các khoản tín dụng được cải thiện Hoặc cũng có thể ngân hàng có chính sách xóa các khoản nợ xấu hay thay đổi các phân loại nợ
Thông tư 02-2013-TT-NHNN, ban hành ngày 21/01/2013 của Ngân hàng Nhà Nước Việt Nam, Quy định về phân loại tài sản có, mức trích,
Trang 37phương pháp trích lập dự phòng rủi ro và việc sử dụng dự phòng để xử lý rủi
ro trong hoạt động của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài, có hiệu lực từ ngày 1/6/2014 về cơ bản thì các nguyên tắc phân loại được áp dụng không thay đổi, toàn bộ số dư nợ và giá trị cam kết ngoại bảng của một khách hàng tại một TCTD phải được phân loại vào cùng một nhóm nợ có mức
độ rủi ro cao nhất Ngoài ra, Thông tư 02 còn mở rộng các quy định đối với các hoạt động khác như cho vay hợp vốn, ủy thác cấp tín dụng mà bên nhận
ủy thác chưa giải ngân, các khoảnnợ đã bán nhưng chưa thu được tiền, các khoản nợ được mua…theo phạm vi điều chỉnh đã thay đổi
m Tỷ lệ trích lập dự phòng rủi ro tín dụng
Trích lập dự phòng được hiểu là việc ghi nhận vào chi phí các chênh lệch nhỏ hơn của giá trị tài sản của doanh nghiệp tại thời điểm lập Báo cáo tài chính và giá trị của các tài sản này tại thời điểm mua; hoặc ghi nhận một khoản dự phòng tương ứng với các khoản nợ phải trả, vì nó là các nghĩa vụ về nợ phải trả hiện tại
và chắc chắn sẽ làm giảm sút các lợi ích kinh tế để thanh toán các khoản nợ đó
Dự phòng là một khoản nợ phải trả không chắc chắn về giá trị hoặc thời gian Bản chất của các khoản trích lập dự phòng là được xây dựng trên cơ sở ước tính, nhưng không làm mất đi độ tin cậy của các số liệu trên Báo cáo tài chính nếu doanh nghiệp đưa ra được các căn cứ tin cậy cho việc ước tính các khoản dự phòng được trích lập Đây cũng là yêu cầu bắt buộc với doanh nghiệp khi trình bày các khoản trích lập dự phòng trên Báo cáo tài chính
Trong trường hợp thiếu các cơ sở tin cậy để ước tính nghĩa vụ nợ cho việc trích lập dự phòng, doanh nghiệp sẽ ghi nhận khoản nợ ước tính này như một khoản “Nợ tiềm tàng” trên Báo cáo tài chính
Tỷ lệ trích lập DPRR tín dụng = DPRR tín dụng trích lập/Dư nợ bình quân Tùy theo mức độ rủi ro mà TCTD phải trích lập DPRR từ 0 đến 100% giá trị của từng khoản cho vay (sau khi trừ đi giá trị tài sản đảm bảo đã đươc
Trang 38định giá lại) Như vậy,nếu một ngân hàng có danh mục cho vay càng rủi ro thì
tỷ lệ trích lập dự phòng sẽ càng cao Thông thường, tỷ lệ này dao động trong khoảng từ 0 đến 5%
1.2.2.4 Các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng tín dụng tại các NHTM
Các nhân tố thuộc môi trường hoạt động
a Môi trường kinh tế
Về phương diện tổng thể, nền kinh tế ổn định sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động tín dụng, nền kinh tế ổn định làm cho quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp tiến hành bình thường không bị ảnh hưởng của các nhân tố lạm phát, khủng hoảng làm cho khả năng tín dụng và khả năng nợ vay không biến động lớn, trong trường hợp này chất lượng tín dụng phụ thuộc chủ yếu vào khả năng quản lý chất lượng tín dụng của bản thân các ngân hàng thương mại
Vốn nước ngoài cũng ảnh hưởng tới chất lượng tín dụng: do tình trạng thiếu vốn để phát triển kinh tế, các nước kém phát triển phải tìm mọi cách huy động vốn nước ngoài để đầu tư, việc đầu tư sẽ làm tăng tổng cầu trong nền kinh tế trong khi tổng cung chưa kịp tăng, làm cho mất cân đối tổng cung và tổng cầu trong nền kinh tế gây ra hiện tượng lạm phát Mặt khác, do hệ thống ngân hàng chưa phát triển tình trạng “đô la hoá”, không thể kiểm soát được luồng tiền từ nước ngoài chảy vào trong nước, nó cũng trở thành phương tiện thanh toán làm cho khối lượng tiền trong nước tăng, gây sức ép lạm phát Như vậy vốn nước ngoài không có sự tính toán kỹ càng và không có sự quản lý chặt chẽ sẽ gây nguy cơ lạm phát, tác động xấu tới hoạt động tín dụng
Hoạt động tín dụng là hoạt động vay để cho vay, do đó chất lượng tín dụng còn phụ thuộc vào công tác huy động vốn và cho vay.Nói cách khác đó
là sự phụ thuộc vào khách hàng Tín dụng là cầu nối giữa hoạt động sản xuất kinh doanh của ngân hàng với hoạt động lĩnh vực cần sản xuất và kinh doanh, dịch vụ, do đó mỗi biểu hiện tốt hay xấu trong hoạt động sản xuất kinh doanh
Trang 39của khách hàng nó sẽ ảnh hưởng tương ứng tới hoạt động tín dụng, thông qua
cơ chế tác động của những mối quan hệ tín dụng: với khách hàng sản xuất kinh doanh có lãi, có xu thế phát triển, có khả năng chiếm lĩnh thị trường và
có quan hệ tín dụng tốt (vay và trả lãi sòng phẳng) thì cầu nối giữa vay và cho vay là thông suốt, tạo điều kiện tăng vòng quay vốn tín dụng và mở rộng quy
mô đầu tư Ngược lại bằng cơ chế chính sách tín dụng phù hợp, phương pháp phân tích kinh tế doanh nghiệp được xây dựng phù hợp đặc điểm tín dụng ngân hàng, các NHTM sẽ tìm được những khách hàng tốt để cho vay và vay, tạo sự tương thích hợp lý nguồn vốn huy động được đối với việc áp dụng nhu cầu vốn của khách hàng
Mức độ phù hợp giữa lãi suất ngân hàng với mức lợi nhuận của doanh nghiệp và dịch vụ trong nền kinh tế quốc dân cũng ảnh hưởng tới chất lượng tín dụng, Lợi tức là một phần của lợi nhuận mà các nhà tư bản công nghiệp trả cho nhà tư bản kinh doanh tiền tệ mà giới hạn tối đa của lợi tức là bản thân lợi
nhuận, Như vậy, lợi tức của ngân hàng thu được từ hoạt động tín dụng bị giới
hạn bởi lợi nhuận của doanh nghiệp sản xuất kinh doanh sử dụng vốn vay của ngân hàng Vì vậy, mức lãi suất cao hơn mức lợi nhuận của các doanh nghiệp vay vốn ngân hàng sẽ không có khả năng trả nợ được, ảnh hưởng tới quá trình tái sản xuất giản đơn và tái sản xuất mở rộng của doanh nghiệp nói riêng và tình hình phát triển của toàn bộ nền kinh tế nói chung, hoạt động tín dụng không còn là đòn bẩy để sẩn xuất kinh doanh phát triển và theo đó chất lượng tín dụng cũng bị ảnh hưởng
b Môi trường pháp lý
Nhân tố pháp lý bao gồm tính đồng bộ của pháp luật, tính đầy đủ, thống nhất của các văn bản dưới luật, đồng thời ngắn liền với quá trình chấp hành pháp luật và trình độ dân trí
Trang 40Với vai trò đảm bảo cho việc chuyển nền kinh tế thị trường từ tự phát, kém tổ chức sang một nền kinh tế văn minh, pháp luật có nhiệm vụ tạo môi trường pháp lý cho mọi hoạt động sản xuất kinh doanh tiến hành thuận tiện và đạt chất lượng kinh tế cao, là cơ sở để giải quyết các vấn đề khiếu nại khi có tranh chấp xảy ra
Các nhân tố thuộc về phía khách hàng
Khách hàng là người trực tiếp sử dụng vốn vay ngân hàng để phục vụ cho hoạt động sản xuất kinh doanh hoặc nhu cầu đời sống của mình do vậy
mà chất lượng tín dụng ngân hàng sẽ chịu ảnh hưởng lớn từ phía khách hàng Một khách hàng có tư cách đạo đức tốt, có tình hình tài chính vững vàng, có thu nhập ổn định sẽ sẵn sàng hoàn trả đầy đủ những khoản vốn vay của ngân hàng khi đến hạn, qua đó đảm bảo an toàn và nâng cao chất lượng tín dụng Các khách hàng lớn của ngân hàng thông thường là các doanh nghiệp Những nhân tố thuộc về phía khách hàng tác động đến chất lượng tín dụng bao gồm:
- Vốn và khả năng tài chính của khách hàng
Vốn và khả năng tài chính của khách hàng là cơ sở nền tảng cho hoạt động sản xuất kinh doanh và khả năng trả nợ của doanh nghiệp.Một doanh nghiệp có nguồn vốn lớn, có sự tự chủ, ít phụ thuộc vào vốn vay ngân hàng sẽ
có khả năng trả nợ ngân hàng cao hơn doanh nghiệp hoạt động chủ yếu dựa vào vốn vay ngân hàng
- Trình độ khả năng của đội ngũ lãnh đạo và cán bộ của các doanh nghiệp là khách hàng vay vốn
Đây là yếu tố quyết định sự thành công của doanh nghiệp Trong cơ chế thị trường để doanh nghiệp đứng vững được đòi hỏi phải giải quyết tốt 3 vấn đề: sản xuất cái gì, sản xuất như thế nào và sản xuất cho ai Trong điều kiện trình độ sản xuất phát triển nhu cầu tiêu dùng thường xuyên thay đổi, môi trường cạnh tranh gay gắt với những nguồn lực hạn chế thì quyết định trong