1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Quản lý ngân sách tại ủy ban nhân dân phường trần hưng đạo thành phố hạ long, tỉnh quảng ninh

146 203 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 146
Dung lượng 1,82 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tuỳ theo tình hình từng địa phương mà biểu hiện của nó cũng khác nhau như quyết định phân chia nguồn thu, nhiệm vụ chi cho các cấp ngân sách, công tác tổ chức phân chia quyền hạn nhiệm v

Trang 1

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ VÀ QUẢN TRỊ KINH DOANH

VŨ MẠC HÀ

QUẢN LÝ NGÂN SÁCH TẠI ỦY BAN NHÂN DÂN PHƯỜNG TRẦN HƯNG ĐẠO, THÀNH PHỐ HẠ LONG, TỈNH QUẢNG NINH

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ Chuyên ngành: QUẢN LÝ KINH TẾ

THÁI NGUYÊN - 2015

Trang 2

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ VÀ QUẢN TRỊ KINH DOANH

VŨ MẠC HÀ

QUẢN LÝ NGÂN SÁCH TẠI ỦY BAN NHÂN DÂN PHƯỜNG TRẦN HƯNG ĐẠO, THÀNH PHỐ HẠ LONG, TỈNH QUẢNG NINH

Chuyên ngành: QUẢN LÝ KINH TẾ

Mã số: 60.34.04.10

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

Người hướng dẫn khoa học: GS.,TS VŨ VĂN HÓA

THÁI NGUYÊN - 2015

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Luận văn thạc sĩ kinh tế “Quản lý ngân sách tại UBND Phường Trần Hưng Đa ̣o - Thành phố Hạ Long - Tỉnh Quảng Ninh” được nghiên cứu thông qua

việc đánh giá hoạt động quản lý ngân sách của UBND phường Trần Hưng Đạo, thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh giai đoạn từ năm 2012 đến năm 2014 Các nguồn thông tin, số liệu được đưa vào luận văn đã được chỉ rõ nguồn gốc, các số liệu đã được xử lý phù hợp với mục tiêu của việc nghiên cứu Tôi xin cam đoan rằng: Số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn là hoàn toàn trung thực và chưa được sử dụng cho bất kỳ một học vị nào khác

Thái Nguyên, tháng 6 năm 2015

Tác giả luận văn

Vũ Mạc Hà

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Luận văn được hoàn thành sau quá trình học tập tại Trường Đại học Kinh tế

& Quản trị Kinh doanh và quá trình làm việc tại UBND phường Trần Hưng Đạo, thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh

Tôi xin chân thành cám ơn Quý Thầy cô giáo Trường Đại học Kinh tế & Quản trị Kinh doanh đã tận tâm giảng dạy, truyền đạt những kiến thức quý báu cho tôi trong suốt thời gian tôi theo học ở trường Đồng thời tôi xin cảm ơn các lãnh đạo của phường, cán bộ chi cục thuế thành phố Hạ Long đã giúp đỡ, hỗ trợ tôi trong thời gian nghiên cứu và hoàn thành luận văn

Đặc biệt tôi xin chân thành cảm ơn GS.TS Vũ Văn Hóa - người đã tận tình

chỉ bảo, hướng dẫn cho tôi hoàn thành luận văn này

Tôi xin chân thành cảm ơn!

Thái Nguyên, tháng 6 năm 2015

Tác giả luận văn

Vũ Mạc Hà

Trang 5

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN i

LỜI CẢM ƠN ii

MỤC LỤC iii

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT vii

DANH MỤC CÁC BẢNG viii

DANH MỤC SƠ ĐỒ, ĐỒ THỊ, BIỂU ĐỒ x

MỞ ĐẦU 1

1 Tính cấp thiết của đề tài 1

2 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài 2

3 Phạm vi nghiên cứu 3

4 Ý nghĩa khoa học của đề tài nghiên cứu 3

5 Những đóng góp mới của đề tài 4

6 Bố cục của luận văn 4

Chương 1: TỔNG QUAN VỀ NGÂN SÁCH XÃ - PHƯỜNG VÀ HIỆU QUẢ QUẢN LÝ NGÂN SÁCH XÃ - PHƯỜNG Ở VIỆT NAM HIỆN NAY 5

1.1 Khái niệm, đặc điểm, vai trò của ngân sách xã - phường và chế độ quản lý NSXP tại Việt Nam 5

1.1.1 Khái niệm ngân sách Phường 5

1.1.2 Vị trí của ngân sách Phường trong hệ thống ngân sách nhà nước 6

1.1.3 Những nội dung cơ bản về thu, chi NSXP ở Việt Nam hiện nay 8

1.1.4 Các nhân tố ảnh hưởng đến thu, chi ngân sách Phường 20

1.1.5 Đặc điểm của ngân sách Phường 21

1.1.6 Vai trò của ngân sách Phường 22

1.1.7 Một số văn bản pháp quy về Quản lý ngân sách NN cấp xã/phường 28

1.2 Hiệu quả và tiêu chí xác định hiệu quả quản lý thu, chi ngân sách xã/phường 29

1.2.1 Quản lý NSNN 29

1.2.2 Tiêu chí xác định hiệu quản quản lý NSNN 31

1.2.3 Các yếu tố tác động đến quản lý NSXP ở Việt Nam hiện nay 36

1.3 Ý nghĩa của nâng cao hiệu quả quản lý ngân sách xã phường 37

1.3.1 Góp phần thực hiện có hiệu quả Chính sách Tài chính của Nhà nước tại địa phương 37

Trang 6

1.3.2 Đảm bảo duy trì các hoạt động của bộ máy chính quyền cơ sở 38

1.3.3 Góp phần thực hiện có hiệu quả các chính sách Kinh tế - Tài chính tại địa phương 39

1.4 Cơ sở thực tiễn về nâng cao hiệu quả quản lý NSNN cấp phường (xã) 40

1.4.1 Singapore 40

1.4.2 Trung Quốc 41

1.4.3 Kinh nghiệp từ Hàn Quốc 42

1.4.4 Kinh nghiệm quả lý NSNN cấp phường (xã) ở một số tỉnh khu vực đồng bằng Bắc bộ 43

1.4.5 Bài học kinh nghiệm đối với các Phường ở thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh 43

Chương 2: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 45

2.1 Câu hỏi nghiên cứu 45

2.2 Phương pháp nghiên cứu 45

2.2.1 Thu thập thông tin thứ cấp 45

2.2.2 Thu thập thông tin sơ cấp 45

2.2.3 Phương pháp chọn mẫu 46

2.2.4 Phương pháp phân tích đánh giá 46

2.3 Hệ thống các chỉ tiêu nghiên cứu 48

2.3.1 Các khoản thu ngân sách xã được hưởng 100% 48

2.3.2 Các khoản thu ngân sách xã được hưởng theo tỷ lệ điều tiết 48

2.3.3 Chi thường xuyên 48

2.3.4 Chi đầu tư phát triển 49

2.3.5 Các chỉ tiêu phản ánh tăng trưởng thu, chi NSNN và hiệu quả quản lý NSNN 49

Chương 3: THỰC TRẠNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ NSNN CỦA PHƯỜNG TRẦN HƯNG ĐẠO, THÀNH PHỐ HẠ LONG, TỈNH QUẢNG NINH 51

3.1 Đặc điểm điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội phường Trần Hưng Đạo, thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh 51

3.1.1 Đặc điểm tự nhiên 51

3.1.2 Đặc điểm kinh tế xã hội 53

Trang 7

3.1.3 Đánh giá nhận xét mối quan hệ giữa đặc điểm điều kiện tự nhiên, KT

- XH với hoạt động quản lý thu chi nhân sách trên địa bàn phường Trần

Hưng Đạo, thành phố Hạ Long 61

3.2 Thực trạng công tác quản lý ngân sách ở phường Trần Hưng Đạo giai đoạn từ năm 2012 đến năm 2014 62

3.2.1 Tình hình thu, chi, lập dự toán, quyết toán ngân sách 62

3.2.2 Đánh giá thực trạng thu ngân sách phường Trần Hưng Đạo giai đoạn từ năm 2012 đến năm 2014 66

3.2.3 Về chi ngân sách 78

3.3 Đánh giá chất lượng công tác quản lý NSNN thông qua nhận thức của các nhà quản lý và đối tượng nộp tại phường Trần Hưng Đạo, Hạ Long, Quảng Ninh 89

3.3.1 Thông tin chung về người phỏng vấn và các đơn vị phỏng vấn 89

3.3.2 Phân tích kết quả điều tra các đối tượng quản lý công tác thu ngân sách trên địa bàn phường Trần Hưng Đạo 91

3.3.3 Các ý kiến về những tồn tại và vướng mắc trong công tác quản lý thu trong cân đối ngân sách trên địa bàn phường Trần Hưng Đạo 94

3.3.4 Sự khác biệt giữa đối tượng quản lý thu ngân sách và đối tượng nộp ngân sách trong đánh giá chất lượng công tác quản lý thu ngân sách 95

3.3.5 Phân tích các vấn đề có ảnh hưởng tới chất lượng công tác quản lý NS 97

3.4 Một số nhận xét đánh giá về hoạt động thu chi NSNN ở UBND phường Trần Hưng Đạo 102

3.4.1 Nhận xét những mặt đạt được 102

3.4.2 Những hạn chế gặp phải 104

3.4.3 Nguyên nhân chủ yếu trong quản lý ngân sách Phường 106

Chương 4: GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG, NÂNG CAO HIỆU QUẢ QUẢN LÝ NGÂN SÁCH NN Ở PHƯỜNG TRẦN HƯNG ĐẠO, THÀNH PHỐ HẠ LONG, TỈNH QUẢNG NINH 108

4.1 Định hướng quản lý NS phường Trần Hưng Đạo trong thời gian từ năm 2015 đến năm 2020 108

4.2 Giải pháp tăng cường quản lý NS tại phường Trần Hưng Đạo, thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh từ nay tới năm 2020 108

4.2.1 Tiếp tục đổi mới quản lý thu 109

4.2.2 Tiếp tục đổi mới quản lý chi ngân sách Phường trên địa bàn 111

Trang 8

4.2.3 Hoàn thiện khung khổ pháp lý về quản lý, điều hành ngân sách nói

chung, ngân sách địa phương nói riêng 113

4.2.4 Nâng cao năng lực quản lý, điều hành ngân sách 113

4.2.5 Tăng cường kiểm tra, giám sát hoạt động ngân sách 114

4.2.6 Hoàn thiện phân cấp quản lý NSNN để đảm bảo cân đối giữa các cấp NS 115

4.2.7 Tăng cường quản lý tài chính khu phố 115

4.2.8 Đổi mới quản lý ngân sách phường qua Kho bạc nhà nước 118

4.3 Kiến nghị 121

4.3.1 Về cơ chế phân cấp 121

4.3.2 Về tổ chức bộ máy và chính sách chế độ 122

4.3.3 Về chế độ kế toán ngân sách phường 122

KẾT LUẬN 123

TÀI LIỆU THAM KHẢO 126

PHỤ LỤC 127

Trang 9

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

CNH-HĐH : Công nghiệp hóa - hiện đại hóa

HĐND : Hội đồng nhân dân

HQQL : Hiệu quả quản lý

KBNN : Kho bạc nhà nước

Trang 10

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 1.1 Tổng hợp các văn bản pháp quy có liên quan tới quản lý NSN cấp

xã phường 28 Bảng 3.1: Tình hình tăng trưởng và cơ cấu kinh tế của phường Trần Hưng

Đạo, thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh (giai đoạn từ năm 2012 đến năm 2014) 54 Bảng 3.2: Cơ cấu các khoản thu ngân sách phường Trần Hưng Đạo giai đoạn

từ năm 2012 đến năm 2014 67 Bảng 3.3: Cơ cấu các khoản thu ngân sách xã của phường Trần Hưng Đạo

theo nguồn thu hưởng 100%, thu chuyển nguồn và bổ sung từ ngân sách cấp tỉnh giai đoạn từ năm 2012 đến năm 2014 69 Bảng 3.4: Cơ cấu các khoản thu ngân sách xã của phường Trần Hưng Đạo

theo nguồn thu phân theo tỷ lệ phần trăm giai đoạn từ năm 2012 đến năm 2014 72 Bảng 3.5: Đánh giá tỷ lệ hoàn thành thu ngân sách xã của phường Trần Hưng

Đạo, thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh giai đoạn từ năm 2012 đến năm 2014 theo các khoản thu phân chia tỷ lệ % 75 Bảng 3.6: Đánh giá tỷ lệ hoàn thành thu ngân sách xã của phường Trần Hưng

Đạo, thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh giai đoạn từ năm 2012 đến năm 2014 theo các khoản thu hưởng 100%, bổ sung từ ngân sách cấp trên và thu chuyển nguồn 77 Bảng 3.7: Kết quả quyết toán ngân sách xã của phường Trần Hưng Đạo, TP

Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh (giai đoạn từ năm 2012 đến năm 2014) 79 Bảng 3.8: Kết quả quyết toán Chi thường xuyên tại phường Trần Hưng Đạo,

thành phố Hạ Long, giai đoạn ( 2012 - 2014) 82 Bảng 3.9: Đánh giá kết quả thực hiện chi và dự toán ngân sách Phường Trần Hưng

Đạo, thành phố Hạ Long (giai đoạn từ năm 2012 đến năm 2014) 86 Bảng 3.10: Quyết toán thu chi ngân sách giai đoạn từ năm 2012 đến năm 2014

của phường Trần Hưng Đạo, thành phố Hạ Long 88 Bảng 3.11: Thông tin chung về điều tra đối tượng quản lý ngân sách trên địa

bàn phường Trần Hưng Đạo 90 Bảng 3.12: Đánh giá về công tác lập và giao dự toán 91

Trang 11

Bảng 3.13: Đánh giá về chức năng giám sát của HĐND Phường 92

Bảng 3.14: Tổng hợp ý kiến đánh giá về tỷ lệ phân chia các nguồn thu trong cân đối ngân sách 93

Bảng 3.15: Bảng tổng hợp các tồn tại, vướng mắc chủ yếu trong công tác thu ngân sách trên địa bàn 94

Bảng 3.16: Kết quả phân tích sự khác biệt về giá trị trung bình đối với các vấn đề liên quan đến chất lượng công tác quản lý thu ngân sách 95

Bảng 3.17: Kiểm định độ tin cậy của các biến số phân tích 98

Bảng 3.18: Kết quả phân tích nhân tố 99

Bảng 3.19: Kết quả mô hình hồi quy tương quan theo bước 101

Bảng 3.20: Giá trị các hệ số hồi quy theo từng phương án phân tích 102

Trang 12

DANH MỤC CÁC SƠ ĐỒ

Sơ đồ 3.1 Mô hình thực hiện thu ngân sách thu ngân sách tại Phường Trần

Hưng Đạo 62

Sơ đồ 3.2 Mô hình thực hiện chi ngân sách phường Trần Hưng Đạo 64

Sơ đồ 3.3 Mô hình mô tả mối quan hệ công tác trong quản lý ngân sách NN ở

phường Trần Hưng Đạo 65

Sơ đồ 4.1 Quy trình giao dịch mới 119

Trang 13

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Quá trình chuyển sang nền Kinh tế thị trường (KTTT) định hướng XHCN ở Nước ta đòi hỏi Nhà nước phải sử dụng một cách có hiệu quả các công cụ, chính sách tài chính, tiền tệ, đặc biệt là chính sách thu, chi ngân sách Nhà nước (NSNN) Điều này góp phần khắc phục khuyết tật của cơ chế thị trường thông qua việc sử dụng bàn tay hữu hình, chủ yếu là chính sách tài chính nhằm điều tiết nền kinh tế có hiệu quả Mặt khác thông qua sử dụng các công cụ này mới có thể quản lý thống nhất nền tài chính Quốc gia, động viên toàn bộ nguồn lực để phát triển KT-XH, đáp ứng yêu cầu của cuộc đổi mới đất nước

Ngân sách nhà nước, một bộ phận quan trọng trong nền tài chính Quốc gia, một công cụ hữu hiện mà các quốc gia vẫn sử dụng trong quá trình vận động và tồn tại của mình Chính vì vậy, nhiệm vụ quản lý ngân sách nhà nước là nhiệm vụ hàng đầu của mỗi Quốc gia và nước ta cũng không loại trừ Quốc hội đã thông qua về luật NSNN và điều hành ngân sách nhà nước trong đó có đề ra mục tiêu hàng đầu đó là:

“Quản lý thống nhất nền tài chính Quốc gia, xây dựng NSNN lành mạnh, củng cố kỷ luật tài chính, sử dụng tiết kiệm, có hiệu quả tiền của nhà nước (NN); tăng tích luỹ để thực hiện CNH - HĐH đất nước theo hướng XHCN, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh

tế, xã hội, nâng cao đời sống nhân dân; đảm bảo quốc phòng, an ninh, đối ngoại”

Luật NSNN sau một thời gian đi vào thực tiễn đã thể hiện vai trò của mình trong việc quản lý xã hội nói chung tuy vậy nó vẫn còn bộc lộ một số nhược điểm, hạn chế nhất định Tuỳ theo tình hình từng địa phương mà biểu hiện của nó cũng khác nhau như quyết định phân chia nguồn thu, nhiệm vụ chi cho các cấp ngân sách, công tác tổ chức phân chia quyền hạn nhiệm vụ trong bộ máy quản lý Nhà nước chưa thật sự rõ ràng

Để thực hiện được những chức năng, nhiệm vụ đó, chính quyền cấp Phường phải có nguồn ngân sách được hình thành từ nguồn cân đối ngân sách cấp Phường

để đảm bảo nhu cầu chi tiêu theo những nguyên tắc ổn định, bền vững Với nguồn ngân sách ổn định, hoạt động thu, chi tốt sẽ góp phần thực hiện những mục tiêu phát triển KT-XH do Đảng và Nhà nước đề ra

Ngân sách Phường (NSP) là một bộ phận cấu thành của NSNN, thông qua thu ngân sách, chính quyền cấp Phường vừa thực hiện chức năng kiểm tra, kiểm soát các hoạt động sản xuất-kinh doanh, dịch vụ, chống các hành vi hoạt động kinh

tế phi pháp, trốn lậu thuế và các nghĩa vụ đóng góp khác, vừa thực hiện việc điều tiết các hoạt động kinh tế trên địa bàn Phường theo những mục tiêu chung Thu

Trang 14

Ngân sách Phường còn là nguồn chủ yếu để đáp ứng các nhu cầu thiết yếu ở địa phương, bao gồm chi thường xuyên và chi đầu tư phát triển

Phường Trần Hưng Đạo là phường trung tâm của thành phố Hạ Long, có diện tích tự nhiên 0,62km2, địa hình phức tạp, 50% là đồi núi, có 2.916 hộ với dân số trên 10.282 nhân khẩu, được phân thành 5 khu phố với 44 tổ dân phố, dân tộc kinh chiếm 99,57%, đến hết năm 2013 cả 5/5 khu phố tiế p tục đa ̣t khu phố văn hoá cấp thành phố

Thời gian qua, công tác quản lý ngân sách tỉnh Quảng Ninh nói chung và ở Phường Trần Hưng Đạo đã có sự chuyển biến tích cực, thu ngân sách cơ bản đáp ứng nhu cầu chi góp phần kích thích tăng trưởng kinh tế Tuy nhiên, công tác quản

lý ngân sách của Phường vẫn còn những tồn tại rất cơ bản cần phải khắc phục và hoàn thiện Đó là mối quan hệ giữa các cấp ngân sách; việc lập, chấp hành dự toán ngân sách chưa gắn kết với kế hoạch phát triển kinh tế xã hội; nguồn lực ngân sách được sử dụng kém hiệu quả và hiệu lực; đơn vị sử dụng ngân sách được đánh giá thông qua việc chấp hành những quy định mang nặng tính thủ tục hành chính, không quan tâm đến những hàng hóa, dịch vụ cung cấp cho xã hội, không khuyến khích tiết kiệm, chống lãng phí Quản lý ngân sách phải vừa đảm bảo tính tập trung của chính sách tài chính Quốc gia, vừa phát huy tính năng động sáng tạo, tính tự chủ, tính minh bạch và trách nhiệm đang được đặt ra rất cấp bách cả về thực tiễn và

lý luận vì thế tôi chọn đề tài về “Quản lý ngân sách tại UBND Phường Trần Hưng Đa ̣o, Thành phố Ha ̣ Long, Tỉnh Quảng Ninh” làm luận văn tốt nghiệp với

mong muốn góp một phần nhỏ vào giải quyết những tồn tại hiện nay và từng bước nâng cao hiệu quả quản lý ngân sách của Phường Trần Hưng Đạo góp phần phục vụ cho công cuộc phát triển kinh tế xã hội của địa phương

2 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài

- Đánh giá chất lượng công tác quản lý ngân sách nhà nước của phường Trần Hưng Đạo, Thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh trong giai đoạn từ năm 2012 đến năm 2014

Trang 15

- Xác định các yếu tố ảnh hưởng tới chất lượng công tác quản lý thu, chi NSP ở phường Trần Hưng Đạo giai đoạn từ năm 2012 đến năm 2014

- Đề xuất giải pháp để tăng cường quả n lý ngân sách cho Phường Trần Hưng Đạo trong thời gian tới

2.3 Đối tượng nghiên cứu

Các vấn đề liên quan đến công tác quản lý ngân sách Phường trên địa bàn Phường Trần Hưng Đạo, thành phố Hạ Long hiện nay

3 Phạm vi nghiên cứu

3.1 Về nội dung

Với mục tiêu nghiên cứu đã kể trên, đề tài tập trung phân tích các nội dung

về công tác quản lý ngân sách nhà nước cấp phường như: ngân sách nhà nước và sự cần thiết phải quản lý ngân sách Nhà nước cấp phường trong điều kiện hiện nay, thực trạng công tác quản lý ngân sách phường trên địa bàn Phường Trần Hưng Đạo trong thời gian qua Luận văn phân tích ưu nhược điểm, các tồn tại và nguyên nhân

cơ bản của những hạn chế trong quản lý ngân sách ở Phường Trần Hưng Đạo, thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh giai đoạn từ năm 2012 đến năm 2014, trong đó có

so sánh với cơ sở lý luận, với mục tiêu phát triển kinh tế xã hội của Nghị quyết Đại hội Đảng bộ Phường (nhiê ̣m kỳ năm 2010 - năm 2015), rút ra một số kết luận ban đầu và đề xuất một số biện pháp chủ yếu cần thiết nhằm hoàn thiện công tác quản lý ngân sách phù hợp với điều kiện kinh tế địa phương

3.2 Về không gian

Báo cáo nghiên cứu công tác quản lý ngân sách trên địa bàn phường Trần Hưng Đạo, thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh

3.3 Về thời gian

Số liệu nghiên cứu tập trung trong giai đoạn từ năm 2012 đến năm 2014

4 Ý nghĩa khoa học của đề tài nghiên cứu

Luận văn vận dụng lý luận về quản lý ngân sách Nhà nước để phân tích, đánh giá thực trạng công tác quản lý thu, chi ngân sách Nhà nước của phường Trần Hưng Đạo, một trong các Phường trung tâm của Thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh Từ đó đề ra quan điểm, giải pháp nhằm hoàn thiện quản lý thu, chi NSNN của UBND Phường trong thời gian tới

Với kết quả nghiên cứu đó, luận văn có thể làm tài liệu tham khảo cho việc lãnh đạo, điều hành thu, chi ngân sách Nhà nước góp phần thúc đẩy phát triển kinh

tế - xã hội trên địa bàn một Phường ở các thành phố có điều kiện giống như thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh

Trang 16

5 Những đóng góp mới của đề tài

Với sự nỗ lực của bản thân, kết hợp với những kinh nghiệm, những kiến thức

đã được học tập, nghiên cứu từ các tài liệu của các tác giả khác nhau, nhờ sự hướng dẫn của các quý Thầy, Cô và đặc biệt là sự giúp đỡ của Người hướng dẫn khoa học,

đề tài đưa ra một số đóng góp mới như sau:

- Góp phần làm sáng tỏ hơn về mặt lý luận về hiệu quả quản lý NSNN cấp phường (xã) và đặc biệt đối với phường Trần Hưng Đạo, thành phố Hạ Long tỉnh Quảng Ninh

- Phân tích thực trạng quản lý thu chi ngân sách NN của phường Trần Hưng Đạo trong giai đoạn từ năm 2012 đến năm 2014 Luận văn sử dụng phương pháp thống kê mô tả, thống kê so sánh, tổng hợp, phân tích số liệu thu chi ngân sách, phân tích nhân tố khám phá (EFA) để đo lường hiệu quả quản lý NSNN cấp phường cũng như xác định các yếu tố ảnh hưởng tới hiệu quả công tác quản lý NSNN cấp phường ở phường Trần Hưng Đạo

- Từ phân tích thực trạng quản lý NSNN cấp phường của phường Trần Hưng Đạo trong giai đoạn từ năm 2012 đến năm 2014, luận văn đã chỉ ra được các mặt tồn tại trong công tác quản lý NSNN ở phường Trần Hưng Đạo trong những năm qua và từ đó đề xuất những giải pháp cơ bản nhằm hoàn thiện quản lý NSNN cấp phường ở thành phố Hạ Long nói chung và phường Trần Hưng Đạo nói riêng

- Kiến nghị với các cấp các ngành bổ sung sửa đổi chính sách chế độ, chế tài, nhằm quản lý tốt hơn đối với ngân sách Nhà nước cấp Phường

- Đề tài được dung làm tài liệu nghiên cứu định hướng phát triển KT-XH cho địa phương; dùng làm tài liệu nghiên cứu cho các ngành, các nhà quản lý, tài liệu học tập của sinh viên ngành quản lý kinh tế

6 Bố cục của luận văn

Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận văn bao gồm 4 chương:

Chương 1 Tổng quan về ngân sách xã - phường và hiệu quả quản lý ngân sách xã - phường ở Việt Nam hiện nay

Chương 2 Phương pháp nghiên cứu

Chương 3 Thực trạng công tác quản lý ngân sách nhà nước của phường Trần Hưng Đạo, thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh

Chương 4 Giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý ngân sách nhà nước ở Phường Trần Hưng Đạo, thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh

Trang 17

Chương 1 TỔNG QUAN VỀ NGÂN SÁCH XÃ - PHƯỜNG VÀ HIỆU QUẢ

QUẢN LÝ NGÂN SÁCH XÃ - PHƯỜNG

Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

1.1 Khái niệm, đặc điểm, vai trò của ngân sách xã - phường và chế độ quản lý NSXP tại Việt Nam

1.1.1 Khái niệm ngân sách Phường

Hơn hai mươi năm qua, chính quyền cấp phường đã khẳng định vai trò quan trọng của mình, nhất là trong điều kiện thực hiện nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần; các Phường đã sử dụng tốt các công cụ tài chính, trong đó, NSP đóng một vai trò quan trọng, tích cực giúp Phường hoàn thành tốt nhiệm vụ kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội Qua quá trình triển khai và thực hiện các văn bản hướng dẫn của Trung ương và địa phương, nội dung thu, chi của NSP ngày càng được bổ sung, hoàn thiện phù hợp với tình hình thực tế Có thể đưa ra một định nghĩa chung về ngân sách cấp

phường như sau:

NSP là một bộ phận của NSNN do UBND Phường xây dựng, quản lý và HĐND Phường quyết định, giám sát thực hiện Đó là một quỹ tiền tệ tập trung lớn nhất của chính quyền cấp Phường để đảm bảo cho các hoạt động quản lý Nhà nước

và góp phần thực hiện mục tiêu phát triển KT-XH tại địa bàn; hoạt động của quỹ này thể hiện trên hai phương diện: nguồn thu vào quỹ và phân phối sử dụng các khoản vốn quỹ đó

Từ định nghĩa trên, cho thấy:

Về mặt bản chất, NSP là hệ thống những mối quan hệ kinh tế phát sinh trong

quá trình tạo lập, phân phối và sử dụng quỹ tiền tệ của chính quyền cấp phường nhằm phục vụ cho việc thực hiện các chức năng của Nhà nước ở cấp cơ sở trong khuôn khổ đã được phân công, phân cấp quản lý, như: xây dựng và thực hiện các kế hoạch thuộc phạm vi Phường như sự nghiệp kinh tế; sự nghiệp văn hoá thông tin, thể dục thể thao, y tế; quản lý dân số, hộ tịch, hộ khẩu, sinh tử, lập sổ địa chính cho từng hộ dân, quản lý lao động và tổ chức thực hiện sự phân bố lao động; quản lý và thi hành chính sách tài chính, thuế, thu nợ cho Nhà nước, xây dựng và quản lý thu chi NSP theo luật NSNN; thực hiện công tác quản lý đô thị, giữ gìn an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, thực hiện chế độ và kế hoạch nghĩa vụ quân sự theo pháp luật; chăm lo cải thiện đời sống vật chất và tinh thần cho nhân dân trong Phường; phát hiện và thu giữ, xử lý các hành vi vi phạm pháp luật theo phạm vi quyền hạn được phân công

Trang 18

Về mặt định lượng, NSP là tổng số thu, tổng số chi trong dự toán đã được cơ

quan Nhà nước có thẩm quyền quyết định, phục vụ cho phần lớn các lĩnh vực hoạt động KT-XH trên địa bàn Phường, được hình thành trên cơ sở phân chia nguồn thu, đảm nhận nhiệm vụ chi và tổ chức thực hiện trong thời gian một năm NSP cung cấp các phương tiện vật chất cho sự tồn tại và hoạt động của bộ máy Nhà nước ở cơ

sở và đó chính là một công cụ đặc biệt quan trọng để chính quyền cấp Phường thực hiện quản lý toàn diện các hoạt động KT-XH tại địa phương

Về nguồn gốc của NSP: Ngày nay, Nhà nước ngày càng có vai trò quan trọng

trong việc huy động và phân phối thu nhập quốc dân qua NSNN, chính sự tồn tại và phát triển của Nhà nước đã tạo ra những điều kiện cần và đủ cho NSNN nói chung, trong đó có NSP ra đời và tồn tại Chừng nào Nhà nước còn tồn tại thì chừng đó ngân sách các cấp còn tồn tại; nhất là khi mọi Quốc gia đều có sự phân công, phân cấp quản lý KT-XH cho mỗi cấp quản lý hành chính nên hệ thống NSNN bao giờ cũng bao gồm các cấp khác nhau, vì vậy, NSP ra đời là tất yếu khách quan trong quá trình quản lý Nhà nước

Về cấp độ phân cấp ngân sách: NSP là cấp ngân sách trong hệ thống NSNN

thống nhất do HĐND cấp Tỉnh, Thành phố quy định cụ thể nội dung thu, chi; UBND Phường xây dựng dự toán và thống nhất tổ chức, quản lý thực hiện dưới sự giám sát của HĐND Phường

1.1.2 Vị trí của ngân sách Phường trong hệ thống ngân sách nhà nước

Như nội dung định nghĩa trên, NSP là một bộ phận của NSNN, mà NSNN đã xuất hiện và tồn tại từ lâu, với tư cách là một công cụ tài chính quan trọng của Nhà nước Nó ra đời, tồn tại và phát triển trên cơ sở hai tiền đề là Nhà nước và nền kinh tế hàng hoá - tiền tệ; nó phản ánh mối quan hệ giữa Nhà nước với các chủ thể kinh tế,

xã hội trong phân phối tổng sản phẩm xã hội, thông qua việc tạo lập, sử dụng quỹ tiền

tệ tập trung của Nhà nước, chuyển dịch một bộ phận thu nhập bằng tiền của các chủ thể đó, thành thu nhập của nhà nước và Nhà nước chuyển dịch thu nhập đó đến các chủ thể được hưởng thụ nhằm thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước

Hệ thống NSNN ở đây được hiểu là tổng thể các cấp ngân sách có mối quan

hệ hữu cơ với nhau trong quá trình thực hiện nhiệm vụ thu, chi của mỗi cấp ngân sách Ở nước ta, tổ chức hệ thống NSNN gắn bó chặt chẽ với việc tổ chức bộ máy Nhà nước và vị trí, vai trò của bộ máy trong quá trình phát triển KT-XH Theo Hiến pháp nước ta, mỗi cấp chính quyền có một cấp ngân sách riêng cung cấp phương tiện vật chất cho cấp chính quyền thực hiện chức năng, nhiệm vụ của mình trên vùng lãnh thổ Phù hợp với mô hình tổ chức hệ thống chính quyền Nhà nước, hiện nay hệ thống

Trang 19

NSNN ở nước ta bao gồm: NSTW và ngân sách các cấp chính quyền địa phương, bao gồm: Ngân sách cấp Tỉnh và Thành phố trực thuộc TW; Ngân sách cấp Huyện, Quận, Thị xã, Thành phố thuộc Tỉnh và ngân sách cấp Phường, Xã, Thị trấn Trong đó, NSTW phản ánh nhiệm vụ thu chi theo ngành và giữ vai trò chủ đạo trong hệ thống NSNN Ngân sách Tỉnh, Thành phố phản ánh nhiệm vụ thu chi theo lãnh thổ đảm bảo thực hiện tổ chức quản lý toàn diện KT-XH của chính quyền cấp Thành phố và Tỉnh trực thuộc Trung ương Ngân sách Quận là một bộ phận của NSĐP do UBND Quận xây dựng quản lý và HĐND Quận quyết định, giám sát thực hiện Và NSP là cấp ngân sách cơ sở có tầm quan trọng đặc biệt và có tính đặc thù riêng

Tầm quan trọng đặc biệt của NSP được thể hiện: Mặc dù là cấp ngân sách

cuối cùng, nhưng NSP có vị trí quan trọng trong hệ thống ngân sách NSNN, nếu NSP thực hiện thu đúng, thu đầy đủ, tận thu các nguồn thu thì sẽ giảm sự hỗ trợ từ ngân sách cấp trên, cụ thể là ngân sách cấp Quận, Thành phố, khi đó ngân sách cấp trên sẽ có thêm kinh phí đầu tư vào các lĩnh vực khác, có tầm quan trọng hơn như xây dựng kết cấu hạ tầng xã hội, tập trung phát triển các ngành kinh tế mũi nhọn, như công nghiệp, dịch vụ,… NSP giúp tận thu tốt nhất các nguồn thu từ phí, lệ phí; thu thuế môn bài, vì địa bàn Phường thường không lớn, thuận tiện cho công tác quản lý thuế, cán bộ của Phường thường nắm rõ từng tập thể, cá nhân hộ kinh doanh trên địa bàn Phường nên sẽ thuận tiện hơn cho công tác thu ngân sách

Tính đặc thù riêng được thể hiện: NSP vừa là một cấp ngân sách do Luật

NSNN quy định, vừa là một đơn vị dự toán NSNN Là đơn vị dự toán NSNN nghĩa

là các đơn vị được quyền chi nguồn của NSNN, nhưng lại là một đơn vị dự toán NSNN đặc thù vì dưới nó không có đơn vị dự toán trực thuộc, nó vừa phải tạo nguồn kinh phí thông qua các khoản thu ngân sách cấp Phường được phân định, vừa duyệt cấp, chi trực tiếp, tổng hợp các khoản chi trực tiếp vào chi ngân sách cấp Phường Nguồn thu của NSP được khai thác trực tiếp trên địa bàn và nhiệm vụ chi cũng được bố trí để phục vụ cho cộng đồng dân cư trong Phường mà không qua khâu trung gian nào Trong hệ thống NSNN, NSP là các cấp ngân sách cơ sở đảm bảo điều kiện tài chính để chính quyền Phường chủ động khai thác các thế mạnh về đất đai, phát triển KT-XH, giữ gìn an ninh trật tự trên địa bàn Cụ thể hơn, NSP vừa quản lý ngân sách thông qua các nghiệp vụ thuế, tài vụ, quỹ NSP lại vừa quản lý tiền mặt, vật tư, tài sản và các hoạt động KT-XH khác thuộc địa bàn Phường; ở Phường có những khoản phải chuẩn chi và thực hiện kiểm soát theo đúng quy định của pháp luật, cũng có những khoản phải thuận chi theo yêu cầu nhiệm vụ công việc của Phường Vì vậy, NSP vừa phải quản lý các nguồn thu theo luật định, vừa quản

Trang 20

lý các khoản thu, chi từ các hoạt động KT-XH khác trên địa bàn Phường, nó không

gò bó trong hạn mức kinh phí giống như một đơn vị dự toán thông thường Để đảm bảo thực hiện tốt vai trò của mình, NSP cần có tiềm lực, khả năng bảo đảm cho những nhu cầu của chính quyền và nhân dân trên địa bàn Phường Nếu chính quyền cấp trên nhìn nhận một cách đúng đắn về tầm quan trọng cũng như tính đặc thù này của NSP thì sẽ phát huy tốt vai trò của nó trong khai thác các nguồn thu trên địa bàn

để phục vụ cho phát triển KT-XH

1.1.3 Những nội dung cơ bản về thu, chi NSXP ở Việt Nam hiện nay

Theo thông tư Số: 60/2003/TT-BTC, của Bộ Tài chính hướng dẫn quản lý

ngân sách xã và các hoạt động tài chính khác của xã, phường, thị trấn như sau: 1.1.3.1 Nguồn thu, nhiệm vụ chi và quy trình quản lý ngân sách xã

a) Nguồn thu của ngân sách xã: Nguồn thu của ngân sách xã do Hội đồng

nhân dân cấp tỉnh quyết định phân cấp trong phạm vi nguồn thu ngân sách địa phương được hưởng

- Các khoản thu ngân sách xã hưởng một trăm phần trăm (100%): Là các

khoản thu dành cho xã sử dụng toàn bộ để chủ động về nguồn tài chính bảo đảm các nhiệm vụ chi thường xuyên, đầu tư Căn cứ quy mô nguồn thu, chế độ phân cấp quản lý kinh tế - xã hội và nguyên tắc đảm bảo tối đa nguồn tại chỗ cân đối cho các nhiệm vụ chi thường xuyên, khi phân cấp nguồn thu, Hội đồng nhân dân cấp tỉnh xem xét dành cho ngân sách xã hưởng 100% các khoản thu dưới đây:

+ Các khoản phí, lệ phí thu vào ngân sách xã theo quy định

+ Thu từ các hoạt động sự nghiệp của xã, phần nộp vào ngân sách nhà nước theo chế độ quy định;

+ Thu đấu thầu, thu khoán theo mùa vụ từ quỹ đất công ích và hoa lợi công sản khác theo quy định của pháp luật do xã quản lý;

+ Các khoản huy động đóng góp của tổ chức, cá nhân gồm: các khoản huy động đóng góp theo pháp luật quy định, các khoản đóng góp theo nguyên tắc tự nguyện để đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng do Hội đồng nhân dân xã quyết định đưa vào ngân sách xã quản lý và các khoản đóng góp tự nguyện khác;

+ Viện trợ không hoàn lại của các tổ chức và cá nhân ở ngoài nước trực tiếp cho ngân sách xã theo chế độ quy định;

+ Thu kết dư ngân sách xã năm trước;

+ Các khoản thu khác của ngân sách xã theo quy định của pháp luật

- Các khoản thu phân chia theo tỷ lệ phần trăm giữa ngân sách xã với ngân

sách cấp trên:

Trang 21

+ Theo quy định của Luật Ngân sách nhà nước gồm:

Thuế chuyển quyền sử dụng đất;

Thuế nhà, đất;

Thuế môn bài thu từ cá nhân, hộ kinh doanh;

Thuế sử dụng đất nông nghiệp thu từ hộ gia đình;

Lệ phí trước bạ nhà, đất

Các khoản thu trên, tỷ lệ ngân sách xã, thị trấn được hưởng tối thiểu 70% Căn

cứ vào nguồn thu và nhiệm vụ chi của xã, thị trấn, Hội đồng nhân dân cấp tỉnh có thể quyết định tỷ lệ ngân sách xã, thị trấn được hưởng cao hơn, đến tối đa là 100% +Ngoài các khoản thu phân chia theo quy định tại điểm a khoản 1.2 nêu trên, ngân sách xã còn được Hội đồng nhân dân cấp tỉnh bổ sung thêm các nguồn thu phân chia sau khi các khoản thuế, lệ phí phân chia theo Luật Ngân sách nhà nước đã dành 100% cho xã, thị trấn và các khoản thu ngân sách xã được hưởng 100% nhưng vẫn chưa cân đối được nhiệm vụ chi

- Thu bổ sung từ ngân sách cấp trên cho ngân sách xã:

Thu bổ sung từ ngân sách cấp trên cho ngân sách xã gồm:

+ Thu bổ sung để cân đối ngân sách là mức chênh lệch giữa dự toán chi được giao và dự toán thu từ các nguồn thu được phân cấp (các khoản thu 100% và các khoản thu phân chia theo tỷ lệ phần trăm) Số bổ sung cân đối này được xác định từ năm đầu của thời kỳ ổn định ngân sách và được giao ổn định từ 3 đến 5 năm

+ Thu bổ sung có mục tiêu là các khoản bổ sung theo từng năm để hỗ trợ xã thực hiện một số nhiệm vụ cụ thể

- Ngoài các khoản thu nêu tại các khoản 1.1, 1.2 và 1.3, chính quyền xã không được đặt ra các khoản thu trái với quy định của pháp luật

b) Nhiệm vụ chi của ngân sách xã:

Chi ngân sách xã gồm: chi đầu tư phát triển và chi thường xuyên Hội đồng nhân dân cấp tỉnh quyết định phân cấp nhiệm vụ chi cho ngân sách xã Căn cứ chế

độ phân cấp quản lý kinh tế - xã hội của Nhà nước, các chính sách chế độ về hoạt động của các cơ quan Nhà nước, Đảng Cộng sản Việt Nam, các tổ chức chính trị -

xã hội và nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội của xã, khi phân cấp nhiệm vụ chi cho ngân sách xã, Hội đồng nhân dân cấp tỉnh xem xét giao cho ngân sách xã thực hiện các nhiệm vụ chi dưới đây:

- Chi đầu tư phát triển gồm:

+ Chi đầu tư xây dựng các công trình kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội không có khả năng thu hồi vốn theo phân cấp của cấp tỉnh

Trang 22

+ Chi đầu tư xây dựng các công trình kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội của xã từ nguồn huy động đóng góp của các tổ chức, cá nhân cho từng dự án nhất định theo quy định của pháp luật, do Hội đồng nhân dân xã quyết định đưa vào ngân sách xã quản lý

+ Các khoản chi đầu tư phát triển khác theo quy định của pháp luật

- Các khoản chi thường xuyên:

+ Chi cho hoạt động của các cơ quan nhà nước ở xã:

Tiền lương, tiền công cho cán bộ, công chức cấp xã;

Sinh hoạt phí đại biểu Hội đồng nhân dân;

Các khoản phụ cấp khác theo quy định của Nhà nước;

Công tác phí;

Chi về hoạt động, văn phòng, như: chi phí điện, nước, văn phòng phẩm, phí bưu điện, điện thoại, hội nghị, chi tiếp tân, khánh tiết;

Chi mua sắm, sửa chữa thường xuyên trụ sở, phương tiện làm việc;

Chi khác theo chế độ quy định

+ Kinh phí hoạt động của cơ quan Đảng cộng sản Việt Nam ở xã

+ Kinh phí hoạt động của các tổ chức chính trị - xã hội ở xã (Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh, Hội Cựu chiến binh Việt Nam, Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam, Hội Nông dân Việt Nam) sau khi trừ các khoản thu theo điều lệ và các khoản thu khác (nếu có)

+ Đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế cho cán bộ xã và các đối tượng khác theo chế độ quy định

+ Chi cho công tác dân quân tự vệ, trật tự an toàn xã hội:

Chi huấn luyện dân quân tự vệ, các khoản phụ cấp huy động dân quân tự vệ và các khoản chi khác về dân quân tự vệ thuộc nhiệm vụ chi của ngân sách xã theo quy định của Pháp lệnh về dân quân tự vệ;

Chi thực hiện việc đăng ký nghĩa vụ quân sự, công tác nghĩa vụ quân sự khác thuộc nhiệm vụ chi của ngân sách xã theo quy định của pháp luật;

Chi tuyên truyền, vận động và tổ chức phong trào bảo vệ an ninh, trật tự an toàn xã hội trên địa bàn xã;

Các khoản chi khác theo chế độ quy định

+ Chi cho công tác xã hội và hoạt động văn hoá, thông tin, thể dục thể thao do

xã quản lý:

Trợ cấp hàng tháng cho cán bộ xã nghỉ việc theo chế độ quy định (không kể trợ cấp hàng tháng cho cán bộ xã nghỉ việc và trợ cấp thôi việc 1 lần cho cán bộ xã

Trang 23

nghỉ việc từ ngày 01/01/1998 trở về sau do tổ chức bảo hiểm xã hội chi); chi thăm hỏi các gia đình chính sách; cứu tế xã hội và công tác xã hội khác;

Chi hoạt động văn hoá, thông tin, thể dục, thể thao, truyền thanh do xã quản lý + Chi sự nghiệp giáo dục: Hỗ trợ các lớp bổ túc văn hoá, trợ cấp nhà trẻ, lớp mẫu giáo, kể cả trợ cấp cho giáo viên mẫu giáo và cô nuôi dạy trẻ do xã, thị trấn quản lý (đối với phường do ngân sách cấp trên chi)

+ Chi sự nghiệp y tế: Hỗ trợ chi thường xuyên và mua sắm các khoản trang thiết bị phục vụ cho khám chữa bệnh của trạm y tế xã

+ Chi sửa chữa, cải tạo các công trình phúc lợi, các công trình kết cấu hạ tầng

do xã quản lý như: trường học, trạm y tế, nhà trẻ, lớp mẫu giáo, nhà văn hoá, thư viện, đài tưởng niệm, cơ sở thể dục thể thao, cầu, đường giao thông, công trình cấp

và thoát nước công cộng, ; riêng đối với thị trấn còn có nhiệm vụ chi sửa chữa cải tạo vỉa hè, đường phố nội thị, đèn chiếu sáng, công viên, cây xanh (đối với phường do ngân sách cấp trên chi)

Hỗ trợ khuyến khích phát triển các sự nghiệp kinh tế như: khuyến nông, khuyến ngư, khuyến lâm theo chế độ quy định

+ Các khoản chi thường xuyên khác ở xã theo quy định của pháp luật

- Căn cứ vào định mức, chế độ, tiêu chuẩn của Nhà nước; Hội đồng nhân dân cấp tỉnh quy định cụ thể mức chi thường xuyên cho từng công việc phù hợp với tình hình đặc điểm và khả năng ngân sách địa phương

c) Quy trình quản lý ngân sách xã:

- Hàng năm, trên cơ sở hướng dẫn của Uỷ ban nhân dân cấp trên, Uỷ ban nhân dân xã lập dự toán ngân sách năm sau (các biểu mẫu theo phụ lục số 1 đến phụ lục

số 5 kèm theo Thông tư này) trình Hội đồng nhân dân xã quyết định

- Căn cứ lập dự toán ngân sách xã:

Các nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội đảm, bảo an ninh quốc phòng, trật tự

an toàn xã hội của xã;

Chính sách, chế độ thu ngân sách nhà nước, cơ chế phân cấp nguồn thu, nhiệm vụ chi ngân sách xã và tỷ lệ phân chia nguồn thu do Hội đồng nhân dân cấp tỉnh quy định; Chế độ, tiêu chuẩn, định mức chi ngân sách do Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Bộ Tài chính và Hội đồng nhân dân cấp tỉnh quy định;

Số kiểm tra về dự toán ngân sách xã do Uỷ ban nhân dân huyện thông báo; Tình hình thực hiện dự toán ngân sách xã năm hiện hành và các năm trước

- Trình tự lập dự toán ngân sách xã:

Trang 24

+ Ban Tài chính xã phối hợp với cơ quan thuế hoặc đội thu thuế xã (nếu có) tính toán các khoản thu ngân sách nhà nước trên địa bàn (trong phạm vi phân cấp cho xã quản lý)

+ Các ban, tổ chức thuộc Uỷ ban nhân dân xã căn cứ vào chức năng nhiệm vụ được giao và chế độ, định mức, tiêu chuẩn chi lập dự toán chi của đơn vị tổ chức mình + Ban Tài chính xã lập dự toán thu, chi và cân đối ngân sách xã trình Uỷ ban nhân dân xã báo cáo Chủ tịch và Phó Chủ tịch Hội đồng nhân dân xã để xem xét gửi

Uỷ ban nhân dân huyện và Phòng tài chính huyện Thời gian báo cáo dự toán ngân sách xã do Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh quy định

+ Đối với năm đầu thời kỳ ổn định ngân sách, Phòng Tài chính huyện làm việc với Uỷ ban nhân dân xã về cân đối thu, chi ngân sách xã thời kỳ ổn định mới theo khả năng bố trí cân đối chung của ngân sách địa phương Đối với các năm tiếp theo của thời kỳ ổn định, Phòng Tài chính huyện chỉ tổ chức làm việc với Uỷ ban nhân dân xã về dự toán ngân sách khi Uỷ ban nhân dân xã có yêu cầu

- Quyết định dự toán ngân sách xã: Sau khi nhận được quyết định giao nhiệm

vụ thu, chi ngân sách của Uỷ ban nhân dân huyện, Uỷ ban nhân dân xã hoàn chỉnh

dự toán ngân sách xã và phương án phân bổ ngân sách xã trình Hội đồng nhân dân

xã quyết định Sau khi dự toán ngân sách xã được Hội đồng nhân dân xã quyết định,

Uỷ ban nhân dân xã báo cáo Uỷ ban nhân dân huyện, Phòng tài chính huyện, đồng thời thông báo công khai dự toán ngân sách xã cho nhân dân biết theo chế độ công khai tài chính về ngân sách nhà nước

- Điều chỉnh dự toán ngân sách xã hàng năm (nếu có) trong các trường hợp có yêu cầu của Uỷ ban nhân dân cấp trên để đảm bảo phù hợp với định hướng chung hoặc có biến động lớn về nguồn thu và nhiệm vụ chi

Uỷ ban nhân dân xã tiến hành lập dự toán điều chỉnh trình Hội đồng nhân dân

xã quyết định và báo cáo Uỷ ban nhân dân huyện

c) Chấp hành dự toán ngân sách xã:

- Căn cứ dự toán ngân sách xã và phương án phân bổ ngân sách xã cả năm đã được Hội đồng nhân dân xã quyết định, Uỷ ban nhân dân xã phân bổ chi tiết dự toán chi ngân sách xã theo Mục lục ngân sách nhà nước (mẫu biểu theo phụ lục số 6 kèm theo Thông tư này) gửi Kho bạc Nhà nước nơi giao dịch để làm căn cứ thanh toán

và kiểm soát chi

- Căn cứ vào dự toán cả năm và khả năng thu, nhu cầu chi của từng quý, Uỷ ban nhân dân xã lập dự toán thu, chi quý (có chia ra tháng) gửi Kho bạc Nhà nước nơi giao dịch Đối với những xã có các nguồn thu chủ yếu theo mùa vụ, Uỷ ban

Trang 25

nhân dân xã đề nghị cơ quan tài chính cấp trên thực hiện tiến độ cấp số bổ sung cân đối trong dự toán đã được giao (nếu có) cho phù hợp để điều hành chi theo tiến độ công việc

- Chủ tịch Uỷ ban nhân dân xã (hoặc người được uỷ quyền) là chủ tài khoản thu, chi ngân sách xã

- Xã có quỹ tiền mặt tại xã để thanh toán các khoản chi có giá trị nhỏ Định mức tồn quỹ tiền mặt tại xã do Kho bạc Nhà nước huyện quy định cho từng loại xã Riêng những xã ở xa Kho bạc Nhà nước, điều kiện đi lại khó khăn, chưa thể thực hiện việc nộp trực tiếp các khoản thu của ngân sách xã vào Kho bạc Nhà nước, định mức tồn quỹ tiền mặt được quy định ở mức phù hợp

Đối với các khoản thu thuộc nhiệm vụ thu của cơ quan thuế, cơ quan thuế thu, sau đó lập giấy nộp tiền và nộp tiền vào Kho bạc Nhà nước Trường hợp cơ quan thuế uỷ quyền cho Ban Tài chính xã thu, thì cũng thực hiện theo quy trình trên và được hưởng phí uỷ nhiệm thu theo chế độ quy định

Đối với các khoản thu thuộc nhiệm vụ thu của Ban Tài chính xã, Ban Tài chính xã thu, sau đó lập giấy nộp tiền và nộp tiền vào Kho bạc Nhà nước hoặc nộp vào quỹ của ngân sách xã để chi theo chế độ quy định nếu là các xã miền núi, vùng sâu, vùng xa chưa có điều kiện giao dịch thường xuyên với Kho bạc Nhà nước + Nghiêm cấm thu không có biên lai, thu để ngoài sổ sách; khi thu phải giao biên lai cho đối tượng nộp Cơ quan Thuế, Phòng Tài chính huyện có nhiệm vụ cung cấp biên lai đầy đủ, kịp thời cho Ban Tài chính xã để thực hiện thu nộp ngân sách nhà nước Định kỳ, Ban Tài chính xã báo cáo việc sử dụng và quyết toán biên lai đã được cấp với cơ quan cung cấp biên lai

+ Trường hợp cơ quan có thẩm quyền quyết định phải hoàn trả khoản thu ngân sách xã, Kho bạc Nhà nước xác nhận rõ số tiền đã thu vào ngân sách xã của các đối tượng nộp trực tiếp hoặc chuyển khoản vào Kho bạc Nhà nước; đối với đối tượng nộp qua cơ quan thu thì cơ quan thu xác nhận để Ban Tài chính xã làm căn cứ hoàn trả

Trang 26

+ Việc luân chuyển chứng từ thu được thực hiện như sau:

Đối với các khoản thu ngân sách xã được hưởng 100%, Kho bạc Nhà nước chuyển một liên chứng từ thu cho Ban Tài chính xã

Đối với các khoản thu phân chia với ngân sách cấp trên, Kho bạc Nhà nước lập Bảng kê các khoản thu ngân sách có phân chia cho xã (theo mẫu phụ lục số 14 kèm theo Thông tư này), gửi Ban Tài chính xã

+ Đối với số thu bổ sung từ ngân sách huyện cho ngân sách xã, Phòng Tài chính huyện căn cứ vào dự toán số bổ sung đã giao cho từng xã, dự toán thu chi hàng quý của các xã và khả năng cân đối của ngân sách huyện, thông báo số bổ sung hàng quý (chia ra tháng) cho xã chủ động điều hành ngân sách Phòng tài chính huyện cấp số bổ sung cho xã (bằng Lệnh chi tiền) theo định kỳ hàng tháng

- Tổ chức thực hiện nhiệm vụ chi ngân sách:

+ Trách nhiệm của các cơ quan và cá nhân trong việc quản lý chi ngân sách xã:

Chấp hành đúng quy định của pháp luật về kế toán, thống kê và quyết toán sử dụng kinh phí với Ban Tài chính xã và công khai kết quả thu, chi tài chính của tổ chức, đơn vị

(2) Ban Tài chính xã:

Thẩm tra nhu cầu sử dụng kinh phí của các tổ chức đơn vị

Bố trí nguồn theo dự toán năm và dự toán quý để đáp ứng nhu cầu chi, trường hợp nhu cầu chi lớn hơn thu trong quý cần có biện pháp đề nghị cấp trên tăng tiến

độ cấp bổ sung hoặc tạm thời sắp xếp lại nhu cầu chi phù hợp với nguồn thu, theo nguyên tắc đảm bảo chi lương, có tính chất lương đầy đủ, kịp thời

Kiểm tra, giám sát việc thực hiện chi ngân sách, sử dụng tài sản của các tổ chức đơn vị sử dụng ngân sách, phát hiện và báo cáo đề xuất kịp thời Chủ tịch Uỷ ban nhân dân xã về những vi phạm chế độ, tiêu chuẩn, định mức để có biện pháp đảm bảo thực hiện mục tiêu và tiến độ quy định

(3) Chủ tịch Uỷ ban nhân dân xã hoặc người được uỷ quyền quyết định chi:

Việc quyết định chi phải theo đúng chế độ, tiêu chuẩn và mức chi trong phạm

vi dự toán được phê duyệt và người ra quyết định chi phải chịu trách nhiệm về quyết

Trang 27

định của mình, nếu chi sai phải bồi hoàn cho công quỹ và tuỳ theo tính chất, mức độ

vi phạm còn bị xử lý kỷ luật, xử phạt hành chính hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự + Nguyên tắc chi ngân sách:

Việc thực hiện chi phải bảo đảm các điều kiện:

Đã được ghi trong dự toán được giao, trừ trường hợp dự toán và phân bổ dự toán chưa được cấp có thẩm quyền quyết định và chi từ nguồn tăng thu, nguồn dự phòng ngân sách;

Đúng chế độ, tiêu chuẩn, định mức quy định;

Được Chủ tịch Uỷ ban nhân dân xã hoặc người được uỷ quyền quyết định chi + Căn cứ vào dự toán chi cả năm, dự toán quý có chia tháng và tiến độ công việc, Ban Tài chính xã làm thủ tục chi trình Chủ tịch xã hoặc người được uỷ quyền quyết định gửi Kho bạc Nhà nước nơi giao dịch và kèm theo các tài liệu cần thiết theo quy định của pháp luật Việc thanh toán các khoản chi của ngân sách xã bằng Lệnh chi ngân sách xã Trên Lệnh chi ngân sách xã phải ghi cụ thể, đầy đủ chương, loại, khoản, mục, tiểu mục theo quy định của Mục lục ngân sách nhà nước, kèm theo Bảng kê chứng từ chi (theo mẫu phụ lục số 15 kèm theo Thông tư này); đối với các khoản chi lớn phải kèm theo tài liệu chứng minh Trường hợp thanh toán một lần có nhiều chương, thì lập thêm Bảng kê chi, chi tiết theo Mục lục ngân sách nhà nước (theo mẫu phụ lục số 16 kèm theo Thông tư này), trên Bảng kê ghi rõ số hiệu, ngày tháng của Lệnh chi ngân sách xã, đồng thời trên Lệnh chi ngân sách xã phải ghi rõ số hiệu của Bảng kê, tổng số tiền

Trường hợp thanh toán bằng tiền mặt, sử dụng Lệnh chi ngân sách xã bằng tiền mặt Kho bạc Nhà nước kiểm tra, nếu đủ điều kiện thì thực hiện thanh toán cho khách hàng hoặc người được sử dụng

Trong những trường hợp thật cần thiết, như tạm ứng công tác phí, ứng tiền trước cho khách hàng, cho nhà thầu theo hợp đồng, chuẩn bị hội nghị, tiếp khách, mua sắm nhỏ, được tạm ứng để chi Trong trường hợp này, trên Lệnh chi ngân sách xã chỉ ghi tổng số tiền cần tạm ứng Khi thanh toán tạm ứng phải có đủ chứng

từ hợp lệ, Ban Tài chính xã phải lập Bảng kê chứng từ chi (theo mẫu phụ lục số 15 kèm theo Thông tư này) và Giấy đề nghị thanh toán tạm ứng (theo mẫu phụ lục số

17 kèm theo Thông tư này) gửi Kho bạc Nhà nước nơi giao dịch làm thủ tục chuyển tạm ứng sang thực chi ngân sách

Các khoản thanh toán ngân sách xã qua Kho bạc Nhà nước cho các đối tượng

có tài khoản giao dịch ở Kho bạc Nhà nước hoặc ở ngân hàng phải được thực hiện bằng hình thức chuyển khoản (trừ trường hợp khoản chi nhỏ có thể thanh toán bằng

Trang 28

tiền mặt) Khi thanh toán bằng chuyển khoản, sử dụng Lệnh chi ngân sách xã bằng chuyển khoản

Đối với các khoản chi từ các nguồn thu được giữ lại tại xã, Ban Tài chính xã phối hợp với Kho bạc Nhà nước định kỳ làm thủ tục hạch toán thu, hạch toán chi vào ngân sách xã; khi làm thủ tục hạch toán thu, hạch toán chi phải kèm theo Bảng

kê chứng từ thu và Bảng kê chứng từ chi theo đúng chế độ quy định

+ Chi thường xuyên:

(1) Ưu tiên chi trả tiền lương, các khoản phụ cấp cho cán bộ công chức xã, nghiêm cấm việc nợ lương và các khoản phụ cấp

(2) Các khoản chi thường xuyên khác phải căn cứ vào dự toán năm, khối lượng thực hiện công việc, khả năng của ngân sách xã tại thời điểm chi để thực hiện chi cho phù hợp

đ) Chi đầu tư phát triển:

(1) Việc quản lý vốn đầu tư xây dựng cơ bản của ngân sách xã phải thực hiện đầy đủ theo quy định của Nhà nước về quản lý đầu tư và xây dựng cơ bản và phân cấp của tỉnh; việc cấp phát thanh toán, quyết toán vốn đầu tư xây dựng cơ bản của ngân sách xã thực hiện theo quy định của Bộ Tài chính

(2) Đối với dự án đầu tư bằng nguồn đóng góp theo nguyên tắc tự nguyện, ngoài các quy định chung cần phải bảo đảm:

Mở sổ sách theo dõi và phản ánh kịp thời mọi khoản đóng góp bằng tiền, ngày công lao động, hiện vật của nhân dân

Quá trình thi công, nghiệm thu và thanh toán phải có sự giám sát của Ban giám sát dự án do nhân dân cử

Kết quả đầu tư và quyết toán dự án phải được thông báo công khai cho nhân dân biết

(3) Thực hiện nhiệm vụ xây dựng cơ bản phải đảm bảo đúng dự toán, nguồn tài chính theo chế độ quy định, nghiêm cấm việc nợ xây dựng cơ bản, chiếm dụng vốn dưới mọi hình thức

- Kiểm tra, giám sát hoạt động ngân sách xã:

+ Hội đồng nhân dân xã giám sát việc thực hiện thu, chi ngân sách xã

+ Các cơ quan tài chính cấp trên thường xuyên kiểm tra, hướng dẫn công tác quản lý ngân sách xã

d) Kế toán và quyết toán ngân sách xã:

- Ban Tài chính xã có trách nhiệm thực hiện công tác hạch toán kế toán và quyết toán ngân sách xã theo Mục lục ngân sách nhà nước và chế độ kế toán ngân

Trang 29

sách xã hiện hành; thực hiện chế độ báo cáo kế toán và quyết toán theo quy định Kho bạc Nhà nước nơi giao dịch thực hiện công tác kế toán thu, chi quỹ ngân sách

xã theo quy định; định kỳ hàng tháng, quý báo cáo tình hình thực hiện thu, chi ngân sách xã, tồn quỹ ngân sách xã gửi Uỷ ban nhân dân xã; và báo cáo đột xuất khác theo yêu cầu của Uỷ ban nhân dân xã

- Thời gian chỉnh lý quyết toán ngân sách xã hết ngày 31 tháng 01 năm sau

- Để thực hiện công tác khoá sổ và quyết toán hàng năm, Ban Tài chính xã thực hiện các việc sau đây:

+ Ngay trong tháng 12 phải rà soát tất cả các khoản thu, chi theo dự toán, có biện pháp thu đầy đủ các khoản phải thu vào ngân sách và giải quyết kịp thời các nhu cầu chi theo dự toán Trường hợp có khả năng hụt thu phải chủ động có phương

án sắp xếp lại các khoản chi để đảm bảo cân đối ngân sách xã

+ Phối hợp với Kho bạc Nhà nước huyện nơi giao dịch đối chiếu tất cả các khoản thu, chi ngân sách xã trong năm, bảo đảm hạch toán đầy đủ, chính xác các khoản thu, chi theo Mục lục ngân sách nhà nước, kiểm tra lại số thu được phân chia giữa các cấp ngân sách theo tỉ lệ quy định

+ Đối với các khoản tạm thu, tạm giữ, tạm vay (nếu có) phải xem xét xử lý hoặc hoàn trả, trường hợp chưa xử lý được, thì phải làm thủ tục chuyển sang năm sau

+ Các khoản thu, chi phát sinh vào thời điểm cuối năm được thực hiện theo nguyên tắc sau:

Các khoản thu phải nộp chậm nhất trước cuối giờ làm việc ngày 31/12, nếu nộp sau thời hạn trên phải hạch toán vào thu ngân sách năm sau

Nhiệm vụ chi được bố trí trong dự toán ngân sách năm, chỉ được chi trong niên

độ ngân sách năm đó, các khoản chi có trong dự toán đến hết 31/12 chưa thực hiện được không được chuyển sang năm sau chi tiếp, trừ trường hợp cần thiết phải chi nhưng chưa chi được, phải được Uỷ ban nhân dân quyết định cho chi tiếp, khi đó hạch toán và quyết toán như sau: nếu thực hiện trong thời gian chỉnh lý quyết toán thì dùng tồn quỹ năm trước để chi và quyết toán vào ngân sách năm trước; nếu được quyết định thực hiện trong năm sau, thì làm thủ tục chuyển nguồn sang năm sau để chi tiếp và thực hiện quyết toán vào chi ngân sách năm sau

- Quyết toán ngân sách xã hàng năm:

+ Ban Tài chính xã lập báo cáo quyết toán thu, chi ngân sách xã hàng năm (các biểu mẫu theo phụ lục số 7 đến phụ lục số 13 kèm theo Thông tư này) trình Uỷ ban nhân dân xã xem xét để trình Hội đồng nhân dân xã phê chuẩn, đồng thời gửi Phòng Tài chính huyện để tổng hợp Thời gian gửi báo cáo quyết toán năm cho Phòng Tài chính huyện do Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh quy định

Trang 30

+ Quyết toán chi ngân sách xã không được lớn hơn quyết toán thu ngân sách xã Kết dư ngân sách xã là số chênh lệch lớn hơn giữa số thực thu và số thực chi ngân sách

xã Toàn bộ kết dư năm trước (nếu có) được chuyển vào thu ngân sách năm sau

+ Sau khi Hội đồng nhân dân xã phê chuẩn, báo cáo quyết toán được lập thành 05 bản để gửi cho Hội đồng nhân dân xã, Uỷ ban nhân dân xã, Phòng tài chính huyện, Kho bạc Nhà nước nơi xã giao dịch (để làm thủ tục ghi thu kết dư ngân sách), lưu Ban tài chính xã và thông báo công khai nơi công cộng cho nhân dân trong xã biết

+ Phòng Tài chính huyện có trách nhiệm thẩm định báo cáo quyết toán thu, chi ngân sách xã, trường hợp có sai sót phải báo cáo Uỷ ban nhân dân huyện yêu cầu Hội đồng nhân dân xã điều chỉnh

1.1.3.2 Phạm vi và tổ chức quản lý các hoạt động tài chính khác của xã

a) Các quỹ công chuyên dùng của xã:

Các quỹ công chuyên dùng của xã quy định tại Thông tư này là các quỹ tài chính được lập theo quy định của Nhà nước (quỹ quốc phòng an ninh, quỹ đền ơn đáp nghĩa, ) và các khoản đóng góp trên nguyên tắc tự nguyện của nhân dân do thôn, bản huy động đã được Hội đồng nhân dân xã quyết định nhưng không đưa vào ngân sách xã theo chế độ quy định Nội dung, mức và phương thức quản lý thu chi quỹ thực hiện theo quy định của Nhà nước đối với từng quỹ và quy định của Hội đồng nhân dân xã

Ban Tài chính xã có nhiệm vụ giúp Uỷ ban nhân dân xã quản lý các quỹ trên (thực hiện thu, chi; tổ chức hạch toán, quyết toán riêng từng quỹ; thực hiện chế độ báo cáo theo quy định, ) Kinh phí của các quỹ chưa sử dụng hết trong năm được chuyển sang năm sau

Uỷ ban nhân dân xã phải báo cáo kết quả hoạt động hàng năm của từng quỹ cho Hội đồng nhân dân xã, Uỷ ban nhân dân huyện, Phòng Tài chính huyện và công khai cho nhân dân biết

b) Hoạt động tài chính các sự nghiệp của xã:

Hoạt động tài chính các sự nghiệp của xã bao gồm: các hoạt động của các trạm

y tế, trường mầm non, các hoạt động văn hoá thông tin, thể dục thể thao, các hoạt động quản lý đò, chợ, đầm hồ ao, đất đai, tài nguyên, bến bãi, do Uỷ ban nhân dân

xã trực tiếp đứng ra tổ chức và quản lý theo chế độ quy định

Mọi hoạt động tài chính các sự nghiệp của xã được tổ chức quản lý thống nhất theo nguyên tắc:

- Uỷ ban nhân dân xã giao cho các ban, ngành, tổ chức của xã trực tiếp thực hiện từng loại sự nghiệp Các ban, ngành, tổ chức trên phải lập kế hoạch tài chính hàng năm,

Trang 31

trình Uỷ ban nhân dân xã duyệt, trong kế hoạch tài chính phải tính toán đầy đủ các khoản thu, các khoản chi; số phải nộp ngân sách xã hoặc số hỗ trợ từ ngân sách xã theo chế độ quy định (nếu có) Uỷ ban nhân dân xã có nhiệm vụ tổng hợp báo cáo kế hoạch tài chính và kết quả tài chính hàng năm của từng hoạt động sự nghiệp trình Hội đồng nhân dân xã Hội đồng nhân dân xã giám sát các hoạt động sự nghiệp này

- Ban Tài chính xã giúp Uỷ ban nhân dân xã quản lý tài chính các hoạt động sự nghiệp của xã (hướng dẫn các đơn vị được giao thực hiện các hoạt động sự nghiệp trong việc tổ chức hạch toán và quyết toán thu, chi; thực hiện chế độ báo cáo tài chính phù hợp với từng hoạt động, kiểm tra thường xuyên và đột xuất tình hình tài chính của các hoạt động này, )

c) Các hoạt động tài chính của thôn bản:

Các khoản đóng góp trên nguyên tắc tự nguyện của nhân dân để sử dụng vào các mục đích cụ thể phục vụ cho lợi ích chung của cộng đồng thôn bản do thôn bản trực tiếp huy động và không đưa vào ngân sách xã Việc huy động chỉ được thực hiện sau khi có sự thống nhất, tự nguyện của nhân dân về chủ trương, mức huy động

và phải báo cáo Uỷ ban nhân dân xã Thôn bản phải cử người mở sổ sách ghi chép đầy đủ, cụ thể các khoản thu, chi và công khai với nhân dân kết quả huy động, kết quả sử dụng các nguồn tài chính trên Thôn bản chỉ thu chi theo từng công việc Trường hợp tiền huy động chưa sử dụng tới, thôn bản có thể nhờ xã gửi vào tài khoản tiền gửi của xã tại Kho bạc Nhà nước Ban Tài chính xã có nhiệm vụ giúp Uỷ ban nhân dân xã hướng dẫn, kiểm tra (khi cần thiết) về tài chính đối với hoạt động tài chính thôn bản

d) Các hoạt động tài chính khác của xã:

- Hoạt động tài chính của các tổ chức Đảng, đoàn thể được quản lý theo điều lệ của từng tổ chức, không đưa vào ngân sách xã và không thuộc các hoạt động tài chính khác của Uỷ ban nhân dân xã Các tổ chức Đảng, đoàn thể ở xã phải cử người

mở sổ sách theo dõi cụ thể từng khoản thu, chi; tự tổ chức thu, chi và thực hiện chế

độ báo cáo, công khai tài chính theo qui định của từng tổ chức

- Các khoản thu hộ, chi hộ: gồm các khoản thu, chi thuộc nhiệm vụ của các tổ chức, cơ quan khác nhờ xã thu, chi hộ (học phí, các khoản đóng góp cho các quỹ bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, ) Ban Tài chính xã giúp Uỷ ban nhân dân xã thực hiện các khoản thu hộ, chi hộ theo chế độ quy định hiện hành, không được sử dụng các khoản thu hộ, chi hộ sai mục đích và phải mở sổ sách để theo dõi riêng, cụ thể từng khoản thu hộ, chi hộ này

Trang 32

1.1.4 Các nhân tố ảnh hưởng đến thu, chi ngân sách Phường

NSP được hình thành từ rất nhiều nguồn thu phí, lệ phí, thu thuế, thu bổ sung

từ ngân sách cấp trên; từ nguồn thu đó, chính quyền Phường sẽ tổ chức thực hiện nhiệm vụ chi phục vụ cho mọi hoạt động chính trị, kinh tế, xã hội của Phường Chính vì vậy, công tác thu, chi ngân sách Phường chịu ảnh hưởng trực tiếp của các nhân tố sau:

Một là: Tình hình phát triển KT-XH trên địa bàn Phường

Trong những năm gần đây, với chủ trương, đường lối lãnh đạo đúng đắn của Đảng, những chính sách phù hợp với tình hình thực tiễn của đất nước, với xu thế thời đại, nền kinh tế nước ta đã đạt được nhiều thành tựu to lớn, với chủ trương mở rộng, phát triển nền kinh tế nhiều thành phần, trong đó có thành phần kinh tế cá thể, tiểu chủ; mọi người, mọi nhà đều có thể làm kinh tế, chủ động phát triển kinh tế gia đình, nên nhìn chung, các hoạt động kinh tế ở trên địa bàn các Phường đã có nhiều thay đổi; mọi điều kiện tự nhiên, xã hội ở trên địa bàn Phường được tận dụng để làm kinh tế, góp phần nâng cao thu nhập cho người dân Những thay đổi theo hướng trên đã tác động không nhỏ đến nội dung, cơ cấu thu, chi cũng như cơ chế quản lý NSP Những thay đổi đó đã làm cho cơ cấu nguồn thu đa dạng và phong phú hơn trước, đồng thời đặt ra nhiệm vụ chi của NSP cũng rộng hơn, phức tạp hơn

Đối với những Phường có nhiều nghề sản xuất tiểu thủ công nghiệp, kinh doanh thương mại, dịch vụ; những Phường ở vị trí có nhiều danh lam thắng cảnh, di tích lịch sử, gần các trường đại học, cao đẳng thì Phường đó sẽ có nguồn thu từ thuế môn bài, thuế GTGT, thuế thu nhập doanh nghiệp, các khoản thu từ phí, thuế thu từ tiền thuê nhà trọ và các khoản thu khác trên địa bàn lớn hơn các Phường khác Vì vậy, sự phát triển KT-XH trên địa bàn Phường không chỉ góp phần tạo thêm công ăn việc làm, tăng thu nhập cho nhân dân địa phương mà còn tăng nguồn thu cho NSP

Hai là: Ttỷ lệ phân cấp nguồn thu, nhiệm vụ chi cho NSP: Theo Luật

NSNN năm 1996, thì các nguồn thu, nhiệm vụ chi của NSP được quy định cụ thể trong luật NSNN, nhưng Luật NSNN sửa đổi năm 2002 (có hiệu lực năm 2004) chỉ quy định chung về những nội dung mà NSP được thu, còn tỷ lệ điều tiết lại do HĐND Tỉnh, Thành phố quy định phù hợp với điều kiện cụ thể của địa phương

Ví dụ: Bộ Tài chính quy định chung là NSP được hưởng theo tỷ lệ điều tiết một số nguồn thu, HĐND thành phố đã cụ thể hoá, phân cấp ngân sách cấp phường được hưởng 32% nguồn thu từ thuế môn bài, hưởng 100% lệ phí trước bạ nhà đất v.v

Sự phân cấp của địa phương có thể làm tăng hoặc giảm nguồn thu của NSP, phát huy hoặc kìm hãm vai trò, hiệu quả của NSP đối với sự phát triển KT-XH của

Trang 33

Phường Nếu nguồn thu của Phường, nhất là nguồn thu Phường được hưởng 100% tăng lên khi đó, Phường được sẽ sở hữu một nguồn vốn lớn, chủ động hơn trong công tác tổ chức quản lý và tiến hành phân phối hợp lý

Ba là: Tổ chức bộ máy quản lý thu, chi NSP: Bộ máy quản lý tài chính cấp

phường gồm Đảng uỷ phường lãnh đạo chung, HĐND và UBND phường chỉ đạo,

tổ chức thực hiện và Ban Tài chính phường là cơ quan tham mưu cho phường về công tác quản lý, sử dụng NSP Nếu Ban Tài chính phường thực sự có năng lực, được sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng uỷ, sự chỉ đạo bằng chủ trương, chính sách của HĐND và UBND phường, sự phối kết hợp nhịp nhàng với tổ chức Đoàn Thanh niên, Hội Phụ nữ, Hội Cựu chiến binh, Uỷ ban MTTQ v.v , tăng cường tuyên truyền giáo dục, động viên, khuyến khích nhân dân thực hiện nghĩa vụ nộp thuế, tích cực phát triển sản xuất kinh doanh, thi đua làm giàu chính đáng thì sẽ giảm được thất thu thuế, hạn chế đối tượng chây ỳ, nợ đọng thuế, từ đó, tăng nguồn thu cho NSP Khi đó, HĐND và UBND Phường phải chỉ đạo Ban Tài chính Phường tìm các biện pháp để khai thác nguồn thu, biết tận thu, thu đi đôi với bồi dưỡng nguồn thu sẽ làm cho nguồn thu NSP ổn định và phát triển theo hướng ngày càng tăng Thực tế, nhiều Phường biết sử dụng tốt yếu tố này, coi đây như là một giải pháp quan trọng để tăng thu NSP, như đào tạo và sử dụng cán bộ tài chính Phường nhiệt tình công tác, có năng lực chuyên môn; thành lập những đội tuyên truyền giải thích cho bà con “thấu tình đạt lý” nên đã không những chống được thất thu cho NSP, mà còn làm tăng số thu cho NSP

1.1.5 Đặc điểm của ngân sách Phường

NSP là một bộ phận thuộc NSĐP nằm trong hệ thống NSNN, nên NSP cũng

có đặc điểm chung là một loại quỹ tiền tệ của cơ quan chính quyền Nhà nước cấp cơ

sở Hoạt động của quỹ này thể hiện trên hai phương diện: huy động nguồn thu vào quỹ (gọi tắt là thu NSP) và phân phối, sử dụng các khoản vốn quỹ đó (gọi tắt là chi NSP) Về cơ bản, nguồn thu sẽ quyết định về số lượng và chất lượng; quy mô và cơ cấu chi NSP Thực vậy, nguồn gốc của mọi vấn đề chính là sở hữu, khi đã xác định được chủ thể sở hữu của nguồn ngân sách Phường là toàn thể nhân dân trên địa bàn, trong đó, chính quyền Phường, được đại diện cho người dân tham gia quản lý thì khi đó chính quyền Phường sẽ có trách nhiệm trong việc tổ chức quản lý, sử dụng sao cho có hiệu quả nhất lực lượng vật chất này, để ngày càng củng cố hơn nữa niềm tin của người dân vào chủ trương, đường lối của Đảng và Nhà nước

Bên cạnh đặc điểm trên, NSP không những là một cấp ngân sách thuộc hệ thống NSNN mà còn là đơn vị dự toán đặc biệt, nên NSP có những đặc điểm cơ bản khác ngân sách cấp trên như sau:

Trang 34

Thứ nhất: Là hoạt động thu, chi của NSP luôn gắn với chức năng, nhiệm vụ

của chính quyền Phường đã được HĐND Tỉnh, Thành phố phân cấp phù hợp với thực tiễn phát triển KT-XH ở Phường; đồng thời, hoạt động này còn chịu sự kiểm tra giám sát của cơ quan quyền lực Nhà nước cấp Phường

Thứ hai: Là hình thức thu, chi của NSP phản ánh là quan hệ về lợi ích giữa

lợi ích chung của cộng đồng cấp cơ sở mà chính quyền Phường là người đại diện với lợi ích của các chủ thể KT-XH khác (có thể là tập thể hoặc cá nhân) Các quan

hệ lợi ích này phát sinh trong cả quá trình thu và chi NSP Trong quá trình thu NSP đều có lợi ích giữa các bên, bên thu muốn thu được nhiều để tăng NSP và ngược lại bên bị thu muốn nộp ít hơn để tăng lợi nhuận cho mình; chính quyền cấp Phường muốn nguồn thu bổ sung từ ngân sách cấp Quận, Thành phố là nhiều nhất để thực hiện các nhiệm vụ chi được giao Đó còn là mẫu thuẫn giữa thực tế nguồn thu và nhu cầu chi ở Phường Các mâu thuẫn này đòi hỏi chính quyền các cấp phải hiểu rõ

để từ đó đưa ra các giải pháp hữu hiệu nhằm giải quyết thấu đáo, góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng NSP

Thứ ba: Là các quan hệ thu, chi NSP rất đa dạng và biểu hiện dưới nhiều

hình thức khác nhau Nhưng số thu hoặc số chi theo từng hình thức chỉ có thể thực thi khi đã được ghi vào dự toán và được các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền phê duyệt Phần lớn các khoản thu của NSP được thực hiện theo phương thức phân phối lại và không hoàn trả một cách trực tiếp, như chi xây dựng kết cấu hạ tầng xã hội, các công trình phục vụ hoạt động văn hoá, xã hội, thể dục thể thao của phường; chi thông qua các quỹ phúc lợi xã hội để tổ chức quản lý, nâng cao hơn nữa đến đời sống của người dân trên địa bàn Phường nói chung, tới các đối tượng chính sách nói riêng

1.1.6 Vai trò của ngân sách Phường

Cùng với sự chuyển đổi cơ chế quản lý kinh tế từ tập trung quan liêu bao cấp sang cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước, vai trò của NSP đã có những thay đổi căn bản Nếu như trước đây, NSP được coi là công cụ tài chính quan trọng

để Nhà nước thực hiện các chức năng kinh tế thì ngày nay, trải qua các giai đoạn phát triển, NPS đã trở thành công cụ, phương tiện vật chất bằng tiền có tác dụng rất quan trọng trong sự nghiệp xây dựng và phát triển Phường, góp phần quản lý và điều tiết cơ cấu kinh tế trên địa bàn Phường, thực hiện tốt nhiệm vụ quản lý đô thị, xây dựng Phường thành đô thị văn minh, hiện đại

Luật NSNN sửa đổi (năm 2002) đã quy định rõ về nguồn thu và nhiệm vụ chi theo hướng tăng nguồn thu cho NSĐP, trong đó có NSP, đã khẳng định vai trò

Trang 35

quan trọng của NSP, góp phần giữ vững ổn định chính trị - xã hội, phát triển kinh tế trên địa bàn

1.1.6.1 Ngân sách Phường giúp đảm bảo hoạt động của bộ máy quản lý nhà nước cấp Phường

Bộ máy quản lý nhà nước ở cấp phường có chức năng rất quan trọng về quản lý đô thị, quản lý KT-XH trên địa bàn, để có nguồn kinh phí trang trải cho các nhiệm vụ trên rất cần một nguồn ngân sách đảm bảo Trong điều kiện hình thành chính quyền cấp Phường và ngân sách cấp Phường thì chi phí cho hoạt động của bộ máy quản lý Nhà nước do NSP đảm bảo; nó có vai trò cung cấp các phương tiện vật chất cho sự tồn tại và hoạt động của bộ máy nhà nước cơ sở Nhờ có nguồn ngân sách này mà các khoản chi trả lương, sinh hoạt phí, phụ cấp của cán bộ, công chức, viên chức, các khoản chi tiêu cho quản lý hành chính hay mua sắm các trang thiết bị cho văn phòng mới có thể thực hiện được

Thông qua nhiệm vụ chi thường xuyên của NSP mà các hoạt động của hệ thống chính trị ở Phường bao gồm cấp uỷ đảng, cơ quan Chính quyền và các đoàn thể chính trị - xã hội được duy trì và phát triển một cách liên tục và ổn định Nhờ đó

mà nâng cao được hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước ở cơ sở Khi có nguồn NSP đầy đủ, phong phú, Phường bố trí các khoản chi tiêu hợp lý để đảm bảo tăng cường hiệu lực và hiệu quả các hoạt động của chính quyền Phường về quản lý pháp luật giữ vững trật tự, trị an, bảo vệ tài sản công cộng, bảo vệ lợi ích hợp pháp của công dân, quản lý đô thị, quản lý mọi hoạt động kinh tế, văn hoá, thực hiện các chính sách của Phường làm cho phúc lợi công cộng của người dân được tăng lên, đảm bảo công bằng xã hội

Vì vậy có thể nói, không có các khoản chi NSP thì bộ máy Nhà nước cấp cơ

sở không thể tồn tại và phát triển với tư cách là bộ máy quản lý mọi hoạt động KT -

XH trên địa bàn Phường

1.1.6.2 Ngân sách Phường là công cụ quan trọng để chính quyền Phường thực hiện quản lý toàn diện các hoạt động kinh tế - xã hội tại địa phương

Với mục đích của nền sản xuất XHCN là đảm bảo cho mọi thành viên trong

xã hội có đời sống vật chất và văn hoá ngày càng phong phú, đảm bảo cho họ phát triển và vận dụng một cách tự do những năng khiếu, thể lực và trí lực phục vụ đất nước, trong những năm qua, chính quyền Phường đã được giao thực hiện nhiều nhiệm vụ quan trọng về quản lý kinh tế, văn hoá, xã hội, quản lý đô thị, hạ tầng kỹ thuật đô thị; đất đai, môi trường và về quy hoạch, đầu tư xây dựng trên địa bàn Phường Đặc biệt trong tình hình hiện nay, chính quyền Phường luôn phải quan tâm

Trang 36

đến việc phát triển kinh tế, nâng cao thu nhập và mức sống của dân cư trên địa bàn Phường thông qua các phương án, giải pháp cụ thể, thực hiện tốt nhiệm vụ quản lý Nhà nước về đô thị; tiếp nhận và sử dụng có hiệu quả các chương trình hỗ trợ của Quốc gia, của Thành phố và của Quận nhằm đẩy nhanh tiến độ phát triển của Phường, góp phần đẩy nhanh tốc độ tăng trưởng chung của nền kinh tế đất nước Mặt khác, trong bối cảnh hiện nay, chính quyền Phường còn là nơi thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở nhằm phát huy dân chủ ở cơ sở, để nhân dân có thể tham gia mọi hoạt động của Phường Mọi Phường bình yên chính là điều kiện cho đất nước yên bình để phát triển

Với chức năng, nhiệm vụ của chính quyền cấp Phường ngày càng được mở rộng và yêu cầu chất lượng ngày càng cao, thì NSP chính là một yếu tố quan trọng

để phục vụ cho chính quyền phường hoàn thành nhiệm vụ của mình

Thực tiễn phát triển KT-XH trên địa bàn phường cho thấy với một thực lực kinh tế đủ mạnh sẽ cho phép Phường hoàn thành tốt các kế hoạch, mục tiêu của mình Ngược lại, với một nguồn kinh phí ít ỏi, thụ động, trông chờ vào ngân sách cấp trên sẽ làm một cản trở đối với chính quyền Phường trong việc đạt mục tiêu mong muốn Về mặt lý luận ta thấy rằng chỉ khi nào Phường được chủ động nguồn ngân sách thì sẽ thực hiện tốt nhiệm vụ tổ chức quản lý và phân phối có hiệu quả nguồn ngân sách này Vì vậy, “Xây dựng, thực hiện tốt kế hoạch ngân sách xã,

Phường” [12, tr.13] là một trong nội dung kinh tế quan trọng, quyết định tiềm lực

kinh tế và sức mạnh của chính quyền Phường Chính quyền Phường tập trung vào nhiệm vụ trọng tâm là phát triển kinh tế, nhờ sự tập trung này mà “có cơ sở tạo ra

nguồn thu cho ngân sách xã, Phường” [12, tr.13], đến lượt mình, “có ngân sách xã, phường sẽ là điều kiện cơ bản cho việc phát triển kinh tế - xã hội ” [12, tr.29]

Vai trò này được biểu hiện qua hoạt động thu, chi NSP:

Thông qua hoạt động thu NSP mà các nguồn thu được tập trung nhằm tạo lập

quỹ tiền tệ để sử dụng vào các mục đích mà Phường được phân cấp quản lý

KT-XH, đồng thời giúp chính quyền Phường thực hiện việc kiểm tra, kiểm soát điều chỉnh các hoạt động sản xuất kinh doanh và các hoạt động khác theo đúng quy định của pháp luật Từ đó, có những điều tiết, kích thích hoạt động sản xuất kinh doanh phát triển đúng mục tiêu và theo một hướng tích cực

Thu NSP còn góp phần vào việc thực hiện đúng các chính sách xã hội, như: đảm bảo công bằng giữa những người có nghĩa vụ đóng góp cho NSP hoặc miễn giảm cho các loại hình sản xuất - kinh doanh mới, chưa ai làm, cần vốn lớn, nhất là những ngành nghề thu hút nhiều lao động của địa phương, đặc biệt là lao động trẻ,

Trang 37

giải quyết công ăn việc làm, giảm tỷ lệ thất nghiệp, góp phần phát triển kinh tế chung của Phường, ổn định an ninh trật tự… Ngoài ra, việc áp dụng đúng các hình thức và mức thu phạt đối với các tổ chức, cá nhân vi phạm trật tự, an toàn xã hội đã được coi như là một công cụ pháp lý buộc họ phải nghiêm chỉnh thực hiện tốt nghĩa

vụ của mình trước cộng đồng xã hội Như vậy, thu ngân sách có vị trí, vai trò quan trọng góp phần thực hiện mục tiêu KT-XH tại địa bàn do chính quyền Nhà nước cấp

cơ sở quản lý Đồng thời, xét trên phương diện quan hệ giữa hai mặt hoạt động (thu

và chi) của NSP thì thu NSP là nguồn chủ yếu để đáp ứng các nhu cầu chi ngày càng tăng ở Phường, nó mang tính quyết định đến chi NSP bởi vì trên cơ sở có nguồn thu mới có nguồn để bố trí cho nhiệm vụ chi NSP là một công cụ để điều chỉnh, điều tiết, kích thích mọi hoạt động của Phường đi đúng định hướng, đúng chính sách chế độ và tăng cường mục tiêu phát triển KT-XH, thực hiện công bằng

xã hội trên địa bàn Phường, với các hình thức và mức thu thích hợp, chế độ miễn giảm công bằng thu NSP đã tác động trực tiếp đến quá trình sản xuất kinh doanh của các tổ chức, cá nhân trên địa bàn Phường

Thông qua hoạt động chi NSP đặc biệt là chi đầu tư phát triển ở Phường

trong việc sửa chữa, bảo dưỡng; phối hợp cùng quận xây dựng trụ sở làm việc, khu vui chơi, bê tông hoá đường ngõ, xóm, xây mới hoặc sửa chữa đường thoát nước, thực hiện phương châm “Nhà nước và nhân dân cùng làm” theo nguyên tắc dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, từ khâu lập dự toán, quyết định đầu tư đến khi công trình bàn giao đưa vào sử dụng, nhằm khai thác mọi nguồn lực, đa dạng hoá hình thức đóng góp của nhân dân, thực hiện có hiệu quả chương trình phát triển kết cấu hạ tầng ở địa phương Việc bố trí chi từ NSP cho phát triển văn hoá - thể dục thể thao, y tế đã góp phần nâng cao dân trí, nâng cao sức khoẻ cho nhân dân Những phát sinh thường ngày liên quan đến sức khoẻ của người người dân địa phương về

cơ bản được giải quyết thông qua mạng lưới y tế Phường

Chi NSP còn có vai trò góp phần phát triển hệ thống truyền thanh, các di tích lịch sử văn hoá nhằm mở mang văn hoá, nâng cao nhận thức cho người dân, góp phần loại trừ các phong tục lạc hậu và từng bước xây dựng phường văn minh - hiện đại theo đúng chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước Bằng việc trợ cấp cho những gia đình khó khăn, chăm lo các gia đình đối tượng chính sách, những công việc tình làng nghĩa xóm, NSP đã tạo điều kiện cho chính quyền thực hiện các công việc xã hội có ý nghĩa sâu sắc và lớn lao để tạo dựng và củng cố thêm lòng tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước và chính quyền cơ sở

Từ những nội dung trên cho thấy NSP có vai trò tích cực tới sự phát triển kinh tế, văn hoá, xã hội cũng như công tác quản lý đô thị ở Phường

Trang 38

1.1.6.3 Nguyên tắc cơ bản trong thu, chi ngân sách Phường

Với chủ trương phân cấp mạnh về cơ sở, trong những năm qua, các Tỉnh, Thành phố đã thực hiện phân cấp mạnh nhiệm vụ phát triển KT-XH, quản lý đô thị cho cấp Phường, vì vậy, NSP có ngày càng khẳng định vai trò quan trọng của mình đối với mọi hoạt động của Phường Với một nguồn ngân sách đầy đủ, dồi dào sẽ giúp chính quyền Phường giải quyết tốt nhiều vấn đề phát sinh từ cơ sở, về chuyển dịch cơ cấu kinh tế, các vấn đề xã hội như đảm bảo an ninh trật tự, thực hiện phòng chống các tệ nạn xã hội, vấn đề chăm sóc sức khoẻ ban đầu cho người dân, tạo nhiều khu vui chơi giải trí lành mạnh, bổ ích Để phát huy tốt vai trò của mình về quản lý nhà nước, góp phần thực hiện mục tiêu phát triển KT-XH trên địa bàn Phường, chính quyền Phường cần thực hiện nghiêm túc ba nguyên tắc sau để thực hiện tốt mọi nhiệm vụ thu, chi ngân sách:

Một là: Cần phải tổ chức thực hiện NSP theo nguyên tắc dân chủ, công khai, hiệu quả và tiết kiệm

NSP là một loại quỹ tiền tệ từ nguồn thu trên địa bàn, từ các khoản đóng góp theo quy định và đóng góp tự nguyện của người dân trong Phường và các tổ chức;

từ nguồn bổ sung cân đối ngân sách cấp trên, đây là nguồn quỹ tiền thuộc sở hữu của tập thể nhưng được giao cho chính quyền Phường tổ chức quản lý và phân phối bảo đảm theo đúng quy định của luật NSNN, thực hiện được mục tiêu đề ra, đảm bảo công bằng xã hội Vì vậy, hàng năm, HĐND Phường cần xây dựng dự toán và được cấp có thẩm quyền quyết định, các chương trình, dự án do Nhà nước, tổ chức

cá nhân đầu tư trực tiếp cho Phường, các khoản tiền uỷ quyền cho Phường thực hiện; có tổ chức thanh tra, kiểm tra và phải thông báo kết quả thu, chi ngân sách cho nhân dân biết

Dự án huy động sử dụng các khoản đóng góp của nhân dân cho NSP để xây dựng kết cấu hạ tầng xã hội trước khi trình HĐND Phường hoặc cơ quan có thẩm quyền quyết định phải lấy ý kiến nhân dân, sau khi thực hiện phải thông báo kết quả cho nhân dân biết Vấn đề thu NSP được quy định chặt chẽ về thủ tục, những khoản đóng góp thường xuyên hay bất thường của nhân dân trong phường phải được công

bố công khai về mục đích thu, chi nguồn ngân sách này

Hai là: Mọi khoản thu, chi ở Phường phải được phản ánh vào NSP để HĐND Phường thảo luận, quyết định và kiểm tra thực hiện; phải thực hiện quản lý qua Kho bạc Nhà nước Phường không được tuỳ tiện đặt ra các chế độ thu, chi riêng hoặc giữ nguồn thu để lập quỹ riêng ngoài ngân sách trái quy định của Nhà nước

Trong khi nói về quan hệ phân phối và quan hệ sản xuất, C Mác đã khẳng định: "Theo ý nghĩa là việc điều tiết thời gian lao động và phân phối lao động xã hội

Trang 39

giữa những nhóm sản xuất khác nhau và kết thúc việc ghi chép tất cả những khoản

đó vào sổ kế toán sẽ trở thành quan trọng hơn bao giờ hết" [11, tr.593]

Luật NSNN quy định:

Các tổ chức, cá nhân có nhiệm vụ thu, nộp ngân sách Nhà nước, sử dụng vốn, kinh phí ngân sách Nhà nước và quản lý các khoản thu, chi tài chính phải tổ chức hạch toán kế toán, lập báo cáo kế toán và quyết toán các khoản thu, chi của ngân sách Nhà nước và các khoản thu, chi tài chính theo quy định của pháp luật về

kế toán, thống kê theo chế độ kế toán và Mục lục Ngân sách nhà nước [5, tr.49]

Theo quy định, chính quyền Phường sẽ tổng hợp kết quả thu của Phường

từ phí, lệ phí, các nguồn đóng góp của nhân dân và các tổ chức để báo cáo HĐND Phường cùng cấp và cấp trên, tiến hành phân bổ các khoản mục chi theo qui định Đồng thời, mọi khoản thanh quyết toán với cấp trên cũng phải tuân theo quy định của Luật NSNN và công khai qua các cuộc họp để HĐND Phường kiểm tra và quản lý

Mục tiêu trong công tác thu, chi ngân sách của mỗi Phường là ngày càng nâng cao hiệu quả sử dụng NSP, nghĩa là cần tăng nguồn thu ngân sách, tuy nhiên, không phải chúng ta thực hiện mục đích này bằng mọi cách mà cần tuân theo đúng quy định của Luật NSNN, phù hợp với thực tế của địa phương, phải kết hợp hài hoà giữa lợi ích kinh tế và lợi ích xã hội…

Ba là: Cân đối NSP phải đảm bảo chi không vượt quá tổng nguồn thu, kể cả nguồn thu bổ sung từ ngân sách cấp trên (nếu có); nghiêm cấm việc đi vay hoặc chiếm dụng vốn dưới mọi hình thức để cân đối NSP

Nội dung của NSP bao gồm các nguồn thu và nhiệm vụ chi, trong đó, các khoản thu này thường được xây dựng dựa trên phân cấp quản lý KT-XH của Phường để bảo đảm thực hiện nhiệm vụ chi thường xuyên theo quy định Tuy nhiên, nhìn chung, số Phường tự cân đối được nhiệm vụ này còn rất ít, nên ngân sách cấp trên vẫn cần bổ sung với mục đích để cân đối NSP giữa nhiệm vụ chi thường xuyên và thu của Phường hoặc bổ sung có mục tiêu để thực hiện những chương trình, kế hoạch của Quận, của Thành phố Nhưng chính quyền Phường cần thực hiện nhiệm vụ chi sao cho không vượt quá tổng thu ngân sách của Phường Trong suốt quá trình thực hiện thu, chi ngân sách phải đảm bảo được sự cân đối, cố gắng chi ít hơn tổng thu, tránh thâm hụt ngân sách để có nguồn kinh phí bố trí chi cho các hoạt động văn hoá, xã hội, phúc lợi của Phường Và tính hợp lý giữa các nguồn lực phát triển, giữa các đơn vị thụ hưởng NSNN

Trang 40

1.1.7 Một số văn bản pháp quy về Quản lý ngân sách NN cấp xã/phường

Bảng 1.1 Tổng hợp các văn bản pháp quy có liên quan tới quản lý NSN

Quốc hội Để quản lý thống nhất nền tài chính quốc gia,

nâng cao tính chủ động và trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức, cá nhân trong việc quản

lý và sử dụng ngân sách nhà nước, củng

cố kỷ luật tài chính, sử dụng tiết kiệm, có hiệu quả ngân sách và tài sản của Nhà nước, tăng tích lũy nhằm thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế -

xã hội, nâng cao đời sống nhân dân, bảo đảm quốc phòng, an ninh, đối ngoại,

Luật này quy định về lập, chấp hành, kiểm tra, thanh tra, kiểm toán, quyết toán ngân sách nhà nước và về nhiệm vụ, quyền hạn của cơ quan nhà nước các cấp trong lĩnh vực ngân sách nhà nước

quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Luật Ngân sách nhà nước;

và quản lý các hoạt động tài chính khác của các xã, phường, thị trấn; giải quyết, xử lý kịp thời những vướng mắc, sai phạm phát sinh trong quá trình thực hiện của các xã

- Giao cho UBND các cấp có kế hoạch cụ thể từng bước củng cố Ban Tài chính của các xã

để Ban Tài chính xã thực hiện tốt chức năng giúp Uỷ ban nhân dân xã quản lý ngân sách xã

và các hoạt động tài chính khác của xã theo chế độ quy định Chức danh và số lượng cán

bộ của các Ban Tài chính xã căn cứ vào khối lượng công việc, quy mô thu, chi và định biên được Chính phủ quy định

Ngày đăng: 26/06/2017, 17:05

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Đảng Cộng sản Việt Nam (1991), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII, Nxb Sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Sự thật
Năm: 1991
2. Đảng Cộng sản Việt Nam (1996), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 1996
3. Đảng Cộng sản Việt Nam (2001), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2001
4. Đảng Cộng sản Việt Nam (2002), Văn kiện Hội nghị lần thứ năm BCH TW (khóa IX), ngày 18/3/2002 về đổi mới và nâng cao chất lượng hệ thống chính trị ở cơ sở xã, phường, thị trấn, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Hội nghị lần thứ năm BCH TW (khóa IX), ngày 18/3/2002 về đổi mới và nâng cao chất lượng hệ thống chính trị ở cơ sở xã, phường, thị trấn
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Năm: 2002
5. Đảng Cộng sản Việt Nam (2005), Báo cáo tổng kết một số vấn đề lý luận và thực tiễn qua 20 năm đổi mới (1986-2006), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo tổng kết một số vấn đề lý luận và thực tiễn qua 20 năm đổi mới (1986-2006)
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2005
6. Đảng Cộng sản Việt Nam (2006), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2006
10. Học viện Hành chính Quốc gia, (2005), Quản lý tài chính ngân sách xã, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản lý tài chính ngân sách xã
Tác giả: Học viện Hành chính Quốc gia
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2005
11. Phạm Đức Hồng, (2002), "Tạo thế chủ động tối đa cho chính quyền cơ sở", Tài chính, (3) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tạo thế chủ động tối đa cho chính quyền cơ sở
Tác giả: Phạm Đức Hồng
Năm: 2002
12. V.I.Lênin (1978), Toàn tập, Tập 45, Nxb Tiến bộ, Mátxcơva Sách, tạp chí
Tiêu đề: Toàn tập
Tác giả: V.I.Lênin
Nhà XB: Nxb Tiến bộ
Năm: 1978
13. C.Mác - Ph. Ăngghen (1994), Toàn tập, Tập 25, Phần II, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Toàn tập
Tác giả: C.Mác - Ph. Ăngghen
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 1994
14. Hồ Chí Minh (2002), Toàn tập, Tập 10, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Toàn tập
Tác giả: Hồ Chí Minh
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2002
15. Quốc hội nước Cộng hòa XHXN Việt Nam, (1997), Luật Ngân sách Nhà nước, Nxb Tài chính, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật Ngân sách Nhà nước
Tác giả: Quốc hội nước Cộng hòa XHXN Việt Nam
Nhà XB: Nxb Tài chính
Năm: 1997
16. Quốc hội nước Cộng hòa XHXN Việt Nam, (2002), Luật Ngân sách Nhà nước, Nxb Tài chính, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật Ngân sách Nhà nước
Tác giả: Quốc hội nước Cộng hòa XHXN Việt Nam
Nhà XB: Nxb Tài chính
Năm: 2002
7. GS.,TS Vũ Văn Hóa & TS. Lê Xuân Nghi ̃a " Mô ̣t số vấn đề cơ bản về tài chính - Tiền tê ̣ Việt Nam gia đoa ̣n 2006 - 2010&#34 Khác
17. Ủy ban Nhân dân phường Trần Hưng Đạo, (2011-2013), Báo cáo tình hình thực hiện dự toán ngân sách từ năm 2011 đến năm 2013 và dự toán ngân sách từ năm 2010 đến năm 2015 Khác
2. Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội của địa phương Có KhôngCâu hỏi 8: Từ nhận định của mình về thực trạng giao dự toán thu NSNN đối với ngân sách ở cấp Phường hiện nay, quý vị vui lòng đánh dấu X đúng với sự lựa chọn của quý vị Khác
1. Về sự phù hợp với tình hình thực tế tại địa phương Có Không Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w