Ông cũng là một trong những gương mặt tiêu biểu của lớp nhà văn thời hậu chiến ở Việt Nam.Với một vốn văn hóa dày dặn là Tiến sĩ văn hóa phương Đông, tham gia thỉnh giảng ở nhiều trường
Trang 1ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM -*** -
VŨ MẠNH CƯỜNG
NGHỆ THUẬT TIỂU THUYẾT CỦA
HỒ ANH THÁI QUA
Trang 22
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đề tài luận văn khoa học: Nghệ thuật tiểu thuyết của
Hồ Anh Thái qua “ Đức Phật , nàng Savitri và tôi” với các số liệu, kết quả
nghiên cứu trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất cứ công trình nào khác, hoàn toàn là công trình nghiên cứu của tôi
Tác giả luận văn
Vũ Mạnh Cường
Trang 33
LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành luận văn này tôi xin chân thành cảm ơn :
- Ban Giám hiệu, Ban Chủ nhiệm Khoa Ngữ văn, Khoa Sau đại học
trường Đại học Sư Phạm - Đại học Thái Nguyên
- Các thầy, cô giáo ở Viện Văn học, trường Đại học Sư phạm I Hà Nội,
trường Đại học Khoa học xã hội và nhân văn Hà Nội, trường Đại học Sư Phạm Thái Nguyên đã trực tiếp giảng dạy tôi trong suốt khoá học
Đặc biệt tôi xin được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến PGS TS Trịnh Bá Đĩnh, người đã động viên, giúp đỡ tôi rất nhiều trong suốt quá trình viết luận văn Cuối cùng tôi xin chân thành cảm ơn gia đình, bạn bè, đồng nghiệp đã động viên, khích lệ, tạo điều kiện và giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu
Tác giả luận văn
Vũ Mạnh Cường
Trang 44
MỤC LỤC
Lời cam đoan ………
Lời cảm ơn ………
Mục lục………
Trang i ii iii A PHẦN MỞ ĐẦU 1 Lý do lựa chọn đề tài……… 1
2 Lịch sử vấn đề……… 2
3 Phạm vi, đối tượng và mục đích nghiên cứu ……… 10
4.Đóng góp của luận văn……… 10
5 Phương pháp nghiên cứu và cấu trúc luận văn……… 11
B PHẦN NỘI DUNG Chương 1: Quan điểm về tiểu thuyết và quá trình sáng tác của Hồ Anh Thái 12 1.1 Sự thay đổi trong quan điểm tiểu thuyết sau 1986……… 12
1.2 Quá trình sáng tác và quan điểm tiểu thuyết của Hồ Anh Thái…… 21
Chương 2: Nhân vật và tư tưởng trong tiểu thuyết “Đức Phật, nàng Savitri và tôi” 28 2.1 Mấy vấn đề lí luận về nhân vật văn học……… 28
2.2 Chất liệu lịch sử và huyền thoại trong xây dựng nhân vật………… 32
2.3 Đối thoại văn hóa……… 41
Chương 3: Kết cấu và ngôn ngữ của tiểu thuyết 58 3.1 Kết cấu của tiểu thuyết Hồ Anh Thái……… 58
3.2 Kết cấu liên văn bản, một đặc sắc nghệ thuật của Hồ Anh Thái…… 65
3.3 Đặc sắc ngôn ngữ trong “Đức Phật, nàng Savitri và tôi”………… 82
Trang 55
Trang 6A MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
Văn học Việt Nam sau năm 1986 có nhiều đổi mới mạnh mẽ và sâu sắc trên cả hai phương diện nội dung cũng như hình thức biểu đạt Những mạch nguồn truyền thống đã được thay thế bằng những cảm hứng mới Những trang viết về con người cá nhân, về cuộc sống đời thường với tất cả sự phức tạp và bộn bề đã xuất hiện và thay thế những quy phạm và cảm hứng sử thi truyền thống trước đó Trên văn đàn lần lượt xuất hiện những tác giả mới mà những đóng góp của họ có thể nói đã làm thay đổi nhiều hệ thống tiêu chí thẩm mỹ
cũ, từ đó một loạt các giá trị mới đã được hình thành và xác lập Có thể kể ra đây nhiều tên tuổi như: Nguyễn Huy Thiệp, Phạm Thị Hoài, Bảo Ninh, Nguyễn Thị Thu Huệ, Nguyễn Bình Phương, Phan Thị Vàng Anh,vv… trong
đó, tiểu thuyết đóng góp lớn vào sự cách tân văn học, có các quan niệm và lối viết mới
Hồ Anh Thái là một nhà văn xuất hiện gần như đồng thời trong giai đoạn đó Ông cũng là một trong những gương mặt tiêu biểu của lớp nhà văn thời hậu chiến ở Việt Nam.Với một vốn văn hóa dày dặn (là Tiến sĩ văn hóa phương Đông, tham gia thỉnh giảng ở nhiều trường đại học nổi tiếng ở Mỹ như: Đại học tổng hợp Washington, Đại học St Mary…) và với ý thức cách tân nghệ thuật ráo riết, Hồ Anh Thái say mê chiếm lĩnh, miêu tả hiện thực cuộc sống một cách sâu sắc, nhiều tầng bậc và độc đáo thông qua các tác phẩm của mình
Tính chuyên nghiệp và sự nghiêm túc bền bỉ trong sáng tạo nghệ thuật
đã đưa lại cho ông hơn hai mươi đầu sách, trong đó có một số tác phẩm đã được dịch ra nhiều thứ tiếng trên thế giới Tác phẩm của Hồ Anh Thái thể hiện cái nhìn đa chiều, sự khám phá mới mẻ về con người trong cuộc sống đương đại, thể hiện sự tìm tòi, sáng tạo không mệt mỏi về phương diện nghệ thuật văn xuôi
Trang 7Việc lựa chọn đề tài: “ Nghệ thuật tiểu thuyết của Hồ Anh Thái qua
Đức Phật, nàng Savitri và tôi” của chúng tôi xuất phát từ hai lí do chính:
Thứ nhất, xét về mặt thể loại tiểu thuyết luôn được xem là thể loại ưu việt nhất trong cách khám phá hiện thực đời sống ở nhiều mặt và nhiều tầng bậc Với tư cách là sản phẩm của loại tư duy nghệ thuật tổng hợp, tiểu thuyết
là nơi mà nhà văn có thể thể nghiệm và biểu đạt đến tột cùng mọi nghĩ suy, sáng tạo của mình đến với bạn đọc Trong văn học đương đại, tiểu thuyết có vai trò quan trọng bậc nhất
Thứ hai, Đức Phật, nàng Savitri và tôi là một trong những tiểu thuyết
tiêu biểu của Hồ Anh Thái, thể hiện những cố gắng cách tân nghệ thuật cao nhất của cây bút này
2 Lịch sử vấn đề
Hồ Anh Thái là một trong những nhà văn được dư luận quan tâm, trong
đó có giới phê bình văn học Những đổi mới về nghệ thuật cũng như sự sâu sắc về nội dung đã được đề cập đến ở nhiều bài viết, lời giới thiệu về tác phẩm của ông Nhiều ý kiến đặc biệt chú ý đến những nét độc đáo trong tác phẩm của Hồ Anh Thái như: Tính chất ngụ ngôn, triết lý nhân sinh, chất hài hước, chất Kafka, chủ nghĩa hiện thực huyền ảo, cái kì ảo, vấn đề giọng điệu, tính đa thanh, các loại điểm nhìn trần thuật… Ngoài ra, sáng tác của Hồ Anh Thái cũng đã trở thành đề tài nghiên cứu của các khóa luận tốt nghiệp đại học, các luận văn thạc sĩ… Dưới đây chúng tôi sẽ lần lượt điểm qua các ý kiến đáng chú ý nhất về sáng tác của Hồ Anh Thái Trước hết, các nhà nghiên cứu tập trung khẳng định tiểu thuyết Hồ Anh Thái đã vượt qua các cấm kị nghệ thuật với những thể nghiệm mới mẻ về hình thức nghệ thuật và ngôn ngữ
2.1 Khái lƣợc tình hình nghiên cứu tiểu thuyết Hồ Anh Thái
Trong một bài viết, một tác giả nước ngoài, Wayne Karlin nhận định:
“Hồ Anh Thái và những người đương thời Việt Nam đang tiên phong cho nền văn học của các nước đang phát triển, nền văn học không còn bị định nghĩa
Trang 8bằng những thông số của cuộc đấu tranh giữa hai bên tư bản và cộng sản Đó
là nền văn học của toàn Châu Á” [58] Với những tiểu thuyết đầu tay Người
và xe chạy dưới ánh trăng, Người đàn bà trên đảo, Trong sương hồng hiện
ra, Hồ Anh Thái đã nhận được rất nhiều ý kiến đánh giá cao về những đổi
mới nghệ thuật Trần Thanh Giao khi nhận xét về Người và xe chạy dưới ánh
trăng trong bài viết Không theo kiểu cũ đã đề cao những đổi mới về lối viết
cũng như tư tưởng chủ đề của tác phẩm: “…cuốn sách mang được tính nhân bản, nhân ái… phê phán cái trì trệ xấu xa để cuộc sống được mau đổi mới Tiểu thuyết còn nhiều chỗ có thể bàn cãi thêm, nhưng tư tưởng thì rõ ràng và
lối viết thì không theo kiểu cũ” [32] Trần Bảo Hưng, trong bài Một cá tính
sáng tạo độc đáo đã ghi nhận những sáng tạo và nỗ lực tìm tòi của Hồ Anh
Thái Ông viết: “Có thể nói Người và xe chạy dưới ánh trăng là một hiện thực
đa chiều, và để phản ánh được cái hiện thực phức tạp ấy Hồ Anh Thái sử dụng nhiều thủ pháp linh hoạt, cả phục hiện và đồng hiện, rồi một cốt truyện đầy co giãn với những mạch ngang, lối rẽ…” [32] Hai cuốn tiểu thuyết
Người đàn bà trên đảo, Trong sương hồng hiện ra cũng nhận được sự quan
tâm với nhiều ý kiến đánh giá cao những vấn đề đặt ra trong tác phẩm Với
Người đàn bà trên đảo, Wayne Karlin trong lời giới thiệu cho bản in cuốn
tiểu thuyết này của nhà xuất bản Washinhton khẳng định: “Tiểu thuyết Người
đàn bà trên đảo đã mở ra cánh cửa vào một nền văn hoá đang phải đấu tranh
để định nghĩa với quá khứ và tương lai của mình… Hồ Anh Thái đã trở thành một trong những nhà văn Việt Nam đầu tiên thu hút được sự chú ý vào đề tài cho đến lúc nó vẫn còn cấm kỵ: Cái giá khủng khiếp của những người phụ nữ
cựu binh của cuộc kháng chiến chống Mỹ phải trả” [33] Tiểu thuyết Trong
sương hồng hiện ra được xem là một hiện tượng lạ trên văn đàn ngay khi vừa
ra đời Trong bài viết Một góc nhỏ văn chương Hồ Anh Thái, Diệu Hường đã viết: “Với tiểu thuyết Trong sương hồng hiện ra, Hồ Anh Thái đã làm được
một sự khác trên mặt bằng văn học đương thời Trước hết là một cốt truyện
kỳ lạ, đầy chất huyễn tưởng, một thứ của hiếm trong văn xuôi bấy giờ(…)
Trang 9Đưa nhân vật của mình trở lại với hai mươi năm trước, Hồ Anh Thái đã làm một cuộc mổ xẻ quá khứ và góp lời giải cho những băn khoăn trước tương lai
của những con người thời Đổi mới” [9] Wayne Karlin, trong Lời giới thiệu
tuyển tập tác phẩm của Hồ Anh Thái (Nxb Curbstone Press - Mỹ, 1998) đã
viết: “Ở cuốn Trong sương hồng hiện ra cũng như các tiểu thuyết và truyện
ngắn khác, trong đó chất hài hước, chất lạ cộng với chất Kafka dường như gây bất ngờ cho phương Tây khi họ tìm hiểu văn học Việt Nam” [33]
Tiểu thuyết Cõi người rung chuông tận thế được xem là mốc đánh dấu
một bước tiến mới trong nghệ thuật viết tiểu thuyết của Hồ Anh Thái Tác phẩm đã gây nhiều tranh cãi và các luồng dư luận khác nhau Nguyễn Đăng
Điệp trong bài Hồ Anh Thái người mê chơi cấu trúc nhận xét: “Là cây bút
nhạy bén và tỉnh táo, Hồ Anh Thái đã tạo được cái nhìn riêng về thế giới Độ sắc trong những trang viết của Hồ Anh Thái lộ ra ở chỗ anh dám nhìn thẳng vào những mảnh vỡ, những bi kịch nhân sinh, mổ xẻ nó bằng cái nhìn trung thực táo bạo (…) Đây là cái nhìn “suồng sã” của tư duy nghệ thuật hiện đại”
[10, tr.357] Cũng cách nhìn ấy, Nguyễn Anh Vũ, trong bài Hơn cả sự thật, nhận xét: “Cõi người rung chuông tận thế được viết với một giọng điệu một
văn phong rất hiện đại, rất “Tây” gọn, chính xác, lạnh lùng, thậm chí có vẻ như dữ dằn, tàn nhẫn Thế nhưng ẩn chứa trong đó là một tư tưởng, một thông điệp mang đậm bản sắc của tâm linh phương Đông ác giả ác báo, gieo gió gặt
bão” [36] Có phần cụ thể hơn, Phan Văn Tú, trong bài Cõi người rung
chuông tận thế nhìn từ vài con số thống kê cho rằng: “Cõi người rung chuông tận thế là một tiểu thuyết minh chứng hùng hồn cho luận điểm của một nhà
văn Nga Lêônid Lêônôv: “Tác phẩm nghệ thuật đích thực, nhất là tác phẩm
ngôn từ, bao giờ cũng là một phát minh về hình thức và một khám phá về nội dung” [36, tr.320] Vân Long, trong Cái ảo trên nền thực cũng đánh giá rất
cao tác phẩm này “Cõi người rung chuông tận thế vừa thể hiện được tầm tư
tưởng của tác giả vừa hấp dẫn bởi những chi tiết trong đời sống được tái hiện
Trang 10qua cách nhìn hóm và sắc của nhà văn, trong 241 trang văn bố cục gọn, chặt” [36, tr.288]
Tiểu thuyết Mười lẻ một đêm là một thử nghiệm mới trong cách viết
của Hồ Anh Thái Đây cũng là một tiểu thuyết được đánh giá rất cao bởi chất hài hước, nghịch dị Nguyễn Thị Minh Thái đánh giá cao lối viết mới lạ của tiểu thuyết: “Góc nhìn ở vị thế hắt sáng, từ phía sau, từ bản thể, giọng tiểu thuyết giễu nhại, thâm sâu” [30] Hoài Nam, trong bài “Chất hài hước, nghịch
dị trong Mười lẻ một đêm” cũng đã nhận định: “Có thể thấy, giọng văn ở đây
là giọng phát ngôn tưng tửng, nó được xuyên thấm bởi tính bỡn cợt, giễu nhại(…) Không đặt mục tiêu thuyết phục độc giả, nhà văn bày ra một cuộc chơi, bước vào cuộc chơi ấy, độc giả có thể vừa thưởng thức, vừa chứng
nghiệm, vậy thôi” [30] Từ Nữ, trong bài Tiếng cười trên từng trang cũng đã
có những đánh giá rất cao sức hấp dẫn của Mười lẻ một đêm: “Một cuốn tiểu
thuyết hơn 300 trang với cách viết hài hước đầy chi tiết Carnaval, khiến nó trở thành cuốn sách được yêu thích nhất trong tháng 3/2006 Không ai lạ lẫm gì lối viết “Thị Màu” của nhà văn Hồ Anh Thái, nhưng người đọc vẫn vấp từ bất ngờ này sang bất ngờ khác Một cuốn tiểu thuyết chứa nhiều thông tin xã hội làm bạn đọc ngộp thở” [30]
2.2 Những cách nhìn về tiểu thuyết Đức Phật, nàng Savitri và tôi
Tiểu thuyết Đức Phật, nàng Savitri và tôi là một thành công mới của
Hồ Anh Thái Ngay từ khi mới ra đời, tác phẩm đã nhận được sự quan tâm của đông đảo bạn đọc với đủ thành phần xã hội, trong đó có cả giới tăng ni Phật tử Dư luận xung quanh cuốn tiểu thuyết này là rất nhiều Tuy không thống nhất, có khen có chê, nhưng một sự thật không thể phủ nhận, đây là một trong những tác phẩm của văn học Việt Nam đương đại được nói đến nhiều nhất trong thời gian qua Có rất nhiều bài nghiên cứu và phê bình về tác phẩm
này Đáng chú ý là những công trình như: Hồ Anh Thái có sợ giải thiêng của Phạm Xuân Thạch; Cảm theo cách của Đức Phật, nàng Savitri và tôi của Nguyễn Tham Thiện Kế; Phật sử và hư cấu văn chương của Hoài Nam; Xin
Trang 11đừng ảo tưởng và định kiến… Trong những năm gần đây đã xuất hiện một số
luận văn thạc sĩ bàn về tiểu thuyết Hồ Anh Thái, ví như Những đặc sắc nghệ
thuật trong Đức Phật, nàng Savitri và tôi của Nguyễn Thị Huệ; Cõi người trong thế giới nghệ thuật tiểu thuyết Hồ Anh Thái của Trần Thị Hải Vân; Những dấu hiệu của chủ nghĩa hậu hiện đại trong tiểu thuyết Hồ Anh Thái
của Lê Bảo Trung; Ảnh hưởng của văn hoá Ấn Độ trong tư duy nghệ thuật Hồ
Anh Thái của Nguyễn Thị Thuý Hoà; Những cách tân trong văn xuôi Hồ Anh Thái của Hoàng Thị Thuý Hằng; Nghệ thuật kết cấu của tiểu thuyết Hồ Anh Thái của Nguyễn Thanh Thuỷ; … Với những mục đích nghiên cứu riêng, các
công trình đó mới đề cập đến một số phương diện chung nhất trong thế giới nghệ thuật của tiểu thuyết Hồ Anh Thái
Tiểu thuyết Đức Phật, nàng Savitri và tôi là một tác phẩm thành công
của Hồ Anh Thái viết về đề tài Ấn Độ Đây là cuốn thiểu thuyết, theo như
nhận xét trong bài “Cảm theo cách của Đức Phật, nàng Savitri và tôi” của
Nguyễn Tham Thiện Kế: “Không tạo sự khác thường hay căng thẳng gây
hứng thú tâm lý vốn có ở các tác phẩm trước đó của Hồ Anh Thái, Đức Phật,
nàng Savitri và tôi với cách kể chuyện thoải mái, đầy cảm giác tạo nên sự
giao tiếp nhu thuận tự nhiên với người đọc Đức Phật, nàng Savitri và tôi,
không thể là cuốn sách khó đọc Nhưng đọc nó theo tinh thần và vị thế nào lại
là chuyện khác Nó là cuốn sách không dễ gì để viết Sự phối trộn nguồn sử liệu và truyền thuyết và hiện tại trên nền cảm hứng dài hơi của tiểu thuyết là
một cách thức không dễ gì vượt qua của các tiểu thuyết gia Hồ Anh Thái
hoàn toàn tự chủ và thoải mái nhuần nhuyễn ở trạng thái dung hoà giữa hư và thực” [20] Khi cuốn tiểu thuyết ra mắt bạn đọc, Hồ Anh Thái phải đối mặt với rất nhiều ý kiến dư luận trái chiều Nhiều bạn đọc ủng hộ, yêu thích và đánh giá rất cao những thành công trong tác phẩm của ông Hoàng Công Danh trong bài viết “Tái hiện phật sử, đồng hiện nghệ thuật, tương hợp đạo và đời” đã có những nhìn nhận rất sâu sắc và đánh giá cao những thành công của cuốn tiểu thuyết trên mọi phương diện Ông viết: “Có rất nhiều điều đáng nói
Trang 12về cuốn sách, ở đây tôi chỉ xin góp một vài lời tâm sự với khán giả và bạn đọc Những ai đã đọc qua cuốn sách thì hãy cùng ngẫm lại đôi chút, những ai chưa đọc thì hãy tìm đọc để thấy cái hay cái đẹp khi đạo pháp đi vào đời sống
Đó không chỉ là Đức Phật, nàng Savitri và tôi mà là tất cả mọi người”[11] Nguyễn Tham Thiện Kế khẳng định: “Tôi tin và khẳng định, Đức Phật, nàng
Savitri và tôi sẽ là cuốn tiểu thuyết quan trọng nhất của Hồ Anh Thái, đồng
thời nó sẽ giữ ngôi vị lâu dài là tiểu thuyết duy nhất trong văn học Việt lấy cuộc đời giáo chủ Phật giáo làm nguồn cảm hứng(…) Nó là cuốn sách không
dễ gì để viết Sự phối trộn nguồn sử liệu và truyền thuyết và hiện tại trên nền cảm hứng dài hơi của tiểu thuyết là một thách thức không dễ gì vượt qua của
các tiểu thuyết gia” [20] Bên cạnh những ý kiến ủng hộ thì Đức Phật, nàng
Savitri và tôi cũng gặp không ít những ý kiến phản bác và cho rằng nó chưa
phải là một cuốn tiểu thuyết hay Trong bài viết “Hồ Anh Thái có „sợ‟ giải thiêng” nhà nghiên cứu Phạm Xuân Thạch đã phủ định những gì mà dư luận cho rằng đó là thành công của tiểu thuyết Ông cho rằng Hồ Anh Thái chưa
đủ sâu sắc và tầm hiểu biết để có thể đưa người đọc khám phá được những bí
ẩn sâu xa của nền văn hoá Ấn Độ: “Ông không đủ sự sâu sắc để chạm đến tính phức tạp bên trong của nền văn hoá Ấn Độ và tư tưởng Phật giáo Ông lại không đủ quyết liệt để đi đến tận cùng cái ý tưởng sáng tạo của mình(…) Đức Phật trở thành một cái gì lơ lửng giữa một nhân vật tâm lý và một nhân vật tư tưởng, vừa thiếu phần tâm lý người, cảm xúc người, lại vừa giản đơn về tư tưởng Và tất nhiên, Đức Phật của ông lại càng không thể trở thành một nhân vật có tính biểu hiện, kiểu như nhân vật trong tiểu thuyết từ Kafka trở về sau”
[43] Trong khi đó, Phạm Xuân Thạch lại cho rằng, Đức Phật, nàng Savitri và
tôi chỉ đơn giản là “loại truyện anh hùng chiến sĩ thi đua rất phổ biến thời
chiến tranh, những cuốn sách được viết ra kiểu người thực việc thực, đơn giản, phục vụ trực tiếp, kịp thời, loại sách mà dạng thức tiêu cực nhất của nó
đã bị Nguyễn Minh Châu đọc lời “ai điếu” trong những năm đầu thời Đổi mới” [43] Và theo ông, Hồ Anh Thái đã giải thiêng hình tượng Đức Phật tuy
Trang 13không chịu công nhận: “Ông Thái không công nhận mình “giải thiêng” cuộc đời Phật (…) Hình như ông Thái sợ cái từ “giải thiêng” nọ Điều này thể hiện một nhược điểm cốt tử trong cuốn sách của ông Thái” [43] Phản biện lại thái
độ thiếu khách quan và những chỉ trích nặng nề của Phạm Xuân Thạch, tác
giả bài viết “Xin đừng ảo tưởng và định kiến” đã viết “đặt tác phẩm Đức
Phật, nàng Savitri và tôi trong diện mạo văn chương Việt Nam đương đại, thử
hỏi có ai đã viết về văn hoá Ấn Độ và một vĩ nhân của nền văn hoá ấy (Đức Phật) bằng một lối viết vừa dung dị, vừa sinh động và giàu chất trữ tình như vậy? Dung dị mà không làm mất đi sự thiêng liêng, giàu chất trữ tình mà không hề bỏ qua tính chất của một cuốn biên niên sử (…) Giải thiêng hay không giải thiêng đó là cách tiếp cận của từng độc giả Một tác phẩm hay sẽ sống nhiều đời công chúng, nhiều đời nhà văn và tất nhiên nó sẽ sống nhiều đời phê bình Ta đang đứng trên cái điểm hữu hạn không thời gian, ta biết sao được mà vội vàng” [29] Ở một góc nhìn khác, nhà phê bình Nguyễn Thị Minh Thái đặt vấn đề, “cớ sao lại nâng đỡ tác phẩm của Hồ Anh Thái đến thế trong tình cảnh xuất bản thê thảm hiện nay” [29] Nhà báo Yên Ba trong lần
ra mắt tiểu thuyết của Hồ Anh Thái với bạn đọc cả nước đã đặt ra câu hỏi cho nhà văn “Phải chăng có lúc nhà nghiên cứu Hồ Anh Thái đã át nhà văn Hồ
Anh Thái” Trả lời câu hỏi này, tác giả đã khẳng định: “Tôi viết với cảm hứng
tiểu thuyết, bút pháp tiểu thuyết, tư liệu đã được chuyển hoá thành hình tượng” Cũng trong lần ra mắt này đã có rất nhiều câu hỏi được đặt ra cho nhà văn, bày tỏ những trăn trở của bạn đọc xung quanh cuốn tiểu thuyết về một đề tài mới lạ và một phong cách viết khá táo bạo của ông Không chút ngần ngại,
Hồ Anh Thái đã trả lời một cách thẳng thắn không né tránh, giúp bạn đọc thấu hiểu và thông suốt những thắc mắc về Đức Phật và hành trạng của ngài trên đất Ấn Độ cách đây hai lăm thế kỷ Ông cũng nói rõ quan niệm của mình khi bắt đầu cầm bút viết cuốn tiểu thuyết này Theo ông, “Văn hoá Ấn như một đại dương mênh mông, và ai can đảm nhảy xuống phải chấp nhận thách thức, với nhà văn, dường như càng bơi trên đại dương ấy, càng thấy xa bờ” [37]
Trang 14Nhận xét về Hồ Anh Thái và tác phẩm của ông, nhà văn Tô Hoài cho rằng “trong số ít cây bút đọc được hiện nay thì Hồ Anh Thái là một nhân tố điển hình Một người viết văn như Hồ Anh Thái được coi là hiếm có ở thời này khi tác phẩm phát hành đều không dưới 5000 cuốn” [2] Có thể nói, Hồ Anh Thái cùng với một số cây bút thành công và được coi là những hiện tượng văn học như Nguyễn Huy Thiệp, Phạm Thị Hoài, Nguyễn Thị Thu Huệ, Thuận… đã góp phần tạo ra một diện mạo mới cho văn học mang đậm dấu ấn của chủ nghĩa hậu hiện đại, có nhiều khác biệt so với văn xuôi 1945 -
1975 “Thông điệp của Hồ Anh Thái mang đến không hiện ra lộ liễu mà toát lên từ tình thế, qua các biểu tượng thấm đầy chất ảo Với một vốn văn hoá dày dặn, anh đã lao động cật lực trên từng con chữ và luôn tìm cách bứt phá trên
cơ sở kiến tạo những kiến trúc mới mẻ, táo bạo” [17]
Tất cả những nhận định trên đây về nghệ thuật viết văn của Hồ Anh Thái đã phần nào giúp chúng tôi hình dung được về quá trình vận động tư tưởng nghệ thuật của nhà văn trong mạch nguồn và quỹ đạo đổi mới của văn xuôi Việt Nam những năm gần đây Mặc dù có sự khác biệt giữa đặc điểm thể loại nhưng chúng tôi vẫn thấy cả tiểu thuyết lẫn truyện ngắn đều
có sự thống nhất trong tư tưởng nghệ thuật và trong cảm hứng sáng tạo của tác giả Hồ Anh Thái
Những nhận xét cơ bản của các nhà nghiên cứu, các nhà văn, các nhà phê bình văn học trong và ngoài nước về các sáng tác của Hồ Anh Thái đều là những phát kiến mới mẻ về đóng góp của tác giả ở cả hai phương diện nội dung và hình thức
Tuy nhiên, Đức Phật, nàng Savitri và tôi là một tác phẩm mới ra đời
cách nay không lâu, chưa có nhiều công trình nghiên cứu thật sự chuyên sâu
về tác phẩm này, và với tư cách là một tác phẩm tiêu biểu cho nghệ thuật tiểu thuyết của Hồ Anh Thái thì lại càng hiếm hoi hơn
Trang 15Với luận văn này chúng tôi mong muốn góp thêm một cái nhìn của mình vào việc nghiên cứu nghệ thuật tiểu thuyết của tác giả Hồ Anh Thái, cả trên bình diện nội dung lẫn hình thức, qua đó hi vọng sẽ kiến giải được tổng quát, tầng bậc hơn về tác giả này
3 Phạm vi, đối tƣợng nghiên cứu:
Hồ Anh Thái sáng tác ở cả hai lĩnh vực truyện ngắn và tiểu thuyết và dù
ở thể loại nào thì sự trải nghiệm cùng những hiểu biết thấu đáo về con người
và cuộc đời kết hợp với một phong cách nghệ thuật đa dạng, linh hoạt trong tìm tòi, khám phá và thể nghiệm đã đưa lại cho ông những thành công nhất định
Trong khuôn khổ yêu cầu của một đề tài luận văn thạc sĩ, không thể nghiên cứu trên bình diện rộng tất cả các sáng tác ở các thể loại của ông nên chúng tôi chỉ giới hạn phạm vi tập trung nghiên cứu và khảo sát ở lĩnh vực
tiểu thuyết và qua một tiểu thuyết tiêu biểu là Đức Phật, nàng Savitri và tôi
Về văn bản, tôi chọn bản in của nhà xuất bản Đà Nẵng và công ty Văn hóa Phương Nam, 2007 Đây là tác phẩm đạt giá trị cao về nội dung và hình thức
biểu đạt của tiểu thuyết Hồ Anh Thái, được dư luận trong và ngoài nước đánh giá tốt Qua tác phẩm, ta có thể có thêm được cái nhìn mới về nghệ thuật tiểu thuyết của tác giả
4 Đóng góp của luận văn
“ Nghệ thuật tiểu thuyết của Hồ Anh Thái qua “Đức Phật, nàng Savitri
và tôi”” đi sâu tìm hiểu một tác phẩm tiểu thuyết để thấy được những đóng
góp của tác giả Hồ Anh Thái cho nghệ thuật tiểu thuyết đương đại Chọn nghiên cứu đề tài này, chúng tôi đặt ra mục đích và cũng cố gắng có sự đối sánh với các tác phẩm khác của Hồ Anh Thái và với các tác giả đương đại với mong muốn có thể nhận diện và chỉ ra những biểu hiện, những nét cơ bản nhất của nghệ thuật tiểu thuyết của Hồ Anh Thái Đồng thời phần nào nêu lên
Trang 16những đóng góp mới trong tư duy nghệ thuật của tác giả với lĩnh vực tiểu thuyết trong văn xuôi đương đại Việt Nam
Chúng tôi không có tham vọng giải quyết thấu đáo tất cả mọi vấn đề về nghệ thuật tiểu thuyết của các tác giả Việt Nam đương đại mà chỉ mong muốn góp một tiếng nói khiêm nhường trong việc nghiên cứu về một tác giả có nhiều đóng góp, cách tân nghệ thuật tiểu thuyết mà thôi
5 Phương pháp nghiên cứu và cấu trúc luận văn
- Về phương pháp nghiên cứu: Chúng tôi cố gắng vận dụng một cách hợp lý một số lý thuyết mới vào việc nghiên cứu đề tài này như: Thi pháp học, Tự sự học… Trên cơ sở đối tượng nghiên cứu là một tác phẩm văn xuôi (tiểu thuyết) nên chúng tôi sử dụng kết hợp các thao tác nghiên cứu của tư duy khoa học như: Phương pháp hệ thống, phương pháp so sánh – đối chiếu, Phương pháp thống kê – phân loại, Phương pháp phân tích – tổng hợp…như những công cụ căn bản để nắm bắt tất cả những biểu hiện đa dạng, phong phú trong sáng tạo nghệ thuật cảu tác giả Hồ Anh Thái
- Về cấu trúc luận văn:
Ngoài phần Mở đầu và phần Kết luận, phần nội dung của luận văn gồm
Trang 17B PHẦN NỘI DUNG
CHƯƠNG 1:
QUAN NIỆM VỀ TIỂU THUYẾT
VÀ QUÁ TRÌNH SÁNG TÁC CỦA HỒ ANH THÁI 1.1 Sự thay đổi trong quan niệm tiểu thuyết sau 1986
1.1.1 Về quan niệm và đặc trưng của tiểu thuyết
1.1.1.1 Ý kiến của các nhà lý luận, các nhà nghiên cứu và các tiểu thuyết gia trên thế giới
Tiểu thuyết là thể loại chủ công và quan trọng bậc nhất trong văn xuôi nghệ thuật, vì thế nó là thể loại thu hút được sự quan tâm đặc biệt của các nhà văn và bạn đọc Nói khác đi tiểu thuyết là loại hình nghệ thuật có năng lực đặc biệt trong việc khám phá chiều sâu và bề rộng của cuộc sống, một nghệ thuật có sức mạnh lưu giữ bóng hình cuộc sống mà các thể loại khác khó có thể có được Mặt khác, trong tiểu thuyết chứa đựng những câu chuyện thế tục hàng ngày được mọi người thích nghe, dễ đọc, nó là chuyện viết về con người, về cuộc đời, mang dấu ấn rõ rệt nhất bản sắc của cá nhân người viết và hiện thực rõ nét của cuộc sống đương thời Đó là tiếng gọi của tư duy nghệ thuật tổng hợp, của một trí năng sâu sắc, là nơi nhà văn thể hiện những khát vọng cao đẹp về cuộc sống và con người
Vì thể loại tiểu thuyết là một thể loại tự sự cỡ lớn, tổng hợp nhiều thể loại văn học, sử dụng nhiều thủ pháp văn học Bởi thế, đến nay, có hàng trăm định nghĩa về tiểu thuyết Thế nào là tiểu thuyết? Tiểu thuyết được hình thành
ra sao? Đâu là những đặc trưng chủ yếu của nó? Trả lời những câu hỏi đó là
vô vàn quan niệm, vô số công trình nghiên cứu
Các nhà Mỹ học nổi tiếng đều khẳng định tiểu thuyết là thể loại quy
mô, có khả năng phản ánh hiện thực lớn lao He-ghel - nhà Mỹ học cổ điển Đức đã cho rằng:
Trang 18"Tiểu thuyết là sử thi kiểu mới của tầng lớp thị dân, nhằm miêu tả toàn
bộ dạng hình con người và vẽ lên bức tranh đầy đủ về hiện thực" Còn
Biêlinxki - nhà Mỹ học dân chủ Nga quan niệm tiểu thuyết "như là sử thi của đời tư do chỗ nó miêu tả những tình cảm, dục vọng và những biến cố thuộc
đời sống riêng tư và đời sống nội tâm của con người” Nếu ý kiến của
He-ghel coi tiểu thuyết là sản phẩm của tầng lớp thị dân thì Biêlinxki chú ý đến một đặc trưng quan trọng của tiểu thuyết: Sử thi đời tư ở đây, “sử thi” là quy
mô thể loại còn “đời tư” được hiểu là cách thức của tiểu thuyết tiếp cận hiện thực
Khả năng phản ánh cuộc sống trong tính rộng lớn của tiểu thuyết đã được Bách khoa toàn thư Compton's - Mỹ khẳng định: "Tiểu thuyết chính là mảnh đất lưu giữ bóng hình cuộc đời" Theo đó thể loại này có những biểu hiện và đặc điểm “truyền thống” sau đây:
Nhà tiểu thuyết luôn đặt câu chuyện của mình trên nền tảng đời sống hiện thực, tức là đã được trực tiếp trải nghiệm hoặc thông qua các sự kiện quan sát được hoặc sự hiểu biết về cuộc đời của người khác Tiểu thuyết gia tuyển chọn và sắp xếp chất liệu lấy từ đời sống thực những biến cố có ý nghĩa nhất, đồng thời có thể miêu tả những nghịch lý không có thực trong đời sống Nghĩa là ở tiểu thuyết, dữ kiện có thể bị bóp méo, nhằm gia tăng, đề cao cốt truyện, hấp dẫn người đọc Tuy vậy phải nhớ rằng, tất cả đều phải mang tính chân lý Và tất nhiên, chân lý mà tiểu thuyết đạt đến chủ yếu là chân lý về đời sống là thái độ hướng đến Chân – Thiện – Mỹ của nhà văn Nói một cách khác, một tiểu thuyết hay phải chứa đựng những dữ kiện của đời sống thực, nhưng mang giá trị phổ quát nhất định: Nó phải thu hút được sự chú ý, nuôi dưỡng được mối hồ nghi của độc giả trong một diễn tiến được trôi dạt thoả sức vào huyền ảo của trí tưởng tượng
Quan niệm về tiểu thuyết đáng chú ý nhất là của nhà lí luận văn học người Nga M Bakhtin, trong cuốn sách “Lý luận và thi pháp tiểu thuyết" ông
đã nhận định như sau:
Trang 19“ Việc nghiên cứu tiểu thuyết với tư cách một thể loại vấp phải những khó khăn đặc biệt Đó là do tính đặc thù của bản thân khách thể này: Tiểu thuyết là thể loại văn chương duy nhất đang biến chuyển và còn chưa định hình Những lực cấu thành thể loại còn đang hoạt động trước mắt chúng ta: Thể loại tiểu thuyết ra đời và trưởng thành dưới ánh sáng thanh thiên bạch nhật của lịch sử Nòng cốt thể loại của tiểu thuyết chưa hề rắn lại và chúng ta chưa thể dự đoán được hết những khả năng uyển chuyển của nó ” [52]
Từ đó M Bakhtin cho rằng việc xây dựng lý thuyết tiểu thuyết là việc cực kỳ khó khăn Bởi vì, thực ra lý thuyết ấy có một khách thể hoàn toàn khác với lý thuyết các thể loại kia Tiểu thuyết không đơn thuần chỉ là một thể loại trong nhiều thể loại Đó là thể loại duy nhất nảy sinh và được nuôi dưỡng bởi thời đại mới của lịch sử thế giới và vì thế mà thân thuộc sâu sắc với thời đại
ấy, trong khi đó thì các thể loại lớn khác chỉ được thời đại mới kế thừa ở dạng
đã hoàn tất và chúng chỉ thích nghi – khá hơn hoặc kém hơn với những điều kiện sinh tồn mới So với chúng thì tiểu thuyết là một sinh linh thuộc giống nòi khác Nó khó sống chung với các thể loại kia Nó đấu tranh dành lấy vị trí thống trị trong văn chương, và nơi nào nó ưu thắng, ở đấy những thể loại khác, thể loại cũ sẽ bị phân hoá Tiểu thuyết luôn giễu nhại các thể loại khác (đích thị với tư cách thể loại), lột trần tính ước lệ về hình thức và ngôn ngữ của chúng, nó lấn át thể loại này, thu hút thể loại kia vào trong cấu trúc của mình, biện giải lại và sắp xếp lại trọng tâm cho chúng
Vượt lên trên mọi khó khăn trong việc xác định và nghiên cứu đó M Bakhtin đã cố gắng thử tiếp cận tiểu thuyết đích thị như một thể loại luôn luôn biến chuyển, thể loại đi đầu trong tiến trình phát triển của toàn bộ văn học
thời đại mới
Trên cơ sở đó tác giả đã tìm ra ba đặc điểm cơ bản, ba đặc trưng tiêu biểu nhất làm cho tiểu thuyết khác biệt về nguyên tắc với tất cả các thể loại khác:
Trang 20- Tính đa chiều có ý nghĩa phong cách học tiểu thuyết, gắn liền với ý thức đa ngữ được thể hiện trong tiểu thuyết
- Sự thay đổi cơ bản các toạ độ thời gian của hình tượng văn học trong tiểu thuyết
- Khu vực mới, nơi xây dựng hình tượng văn chương tiểu thuyết chính
là khu vực tiếp xúc tối đa với cái hiện tại (đương đại) ở thì không hoàn thành của nó
M Bakhtin cho rằng cả ba đặc điểm trên của tiểu thuyết đều liên quan hữu cơ và mật thiết với nhau
Milan Kundera - Tiểu thuyết gia người Cộng hoà Czech, tác giả của
Nghệ thuật tiểu thuyết và cuốn tiểu thuyết Sự bất tử có những quan điểm mới
về tiểu thuyết hiện đại:
“ Tiểu thuyết được coi như là một tuyệt đỉnh siêu ngôn ngữ, một thiết bị
có khả năng sáp nhập tối đa tất cả mọi diễn từ khác, kể cả triết học”
Ông cho rằng, tiểu thuyết không phải là một thể loại, mà là một nghệ thuật có thể tạo ra hiệu quả chân lý, một hiệu quả chân lý không thể đạt được bằng con đường khác Tiểu thuyết hiện đại xáo trộn danh giới giữa hư cấu và
tự truyện Trong tiểu thuyết hiện đại, bố cục truyền thống, trình tự đơn tuyến, được thay thế bằng tính tự trị tương đối của các chương đoạn và một cấu trúc phức hợp: Ở đây quan hệ nhân quả là tiếng đồng vọng và các chủ đề được đan chéo lặp đi, lặp lại qua các chương mục
1.1.1.2 Ý kiến của các nhà lý luận, các nhà nghiên cứu và các tiểu thuyết gia trong nước
Việc kế thừa và lĩnh hội những tinh hoa tri thức của thế giới về nghiên cứu trong văn học nói chung và văn xuôi mà cụ thể là tiểu thuyết nói riêng đã
có ảnh hưởng sâu sắc đến quan điểm của giới nhà văn và nhà nghiên cứu văn học ở Việt Nam
Trang 21
Nhà văn Nguyễn Đình Thi trong bài Tiểu thuyết là gì (Công việc của
người viết tiểu thuyết – Nhà xuất bản văn học Hà Nội 1969) thể hiện nhiều trăn trở về thể loại này:
“Tiểu thuyết là gì? Thật khó trả lời quá! Tôi nhớ trong kháng chiến, có lần Nam Cao vừa cười vừa nói: Tiểu thuyết là truyện bịa y như thật! Câu nói nghe khôi hài mà cũng đã đúng! Nhưng đó là một cách nói vui mà thôi Câu nói ấy mới nêu lên một đặc điểm của tiểu thuyết, chứ vẫn không định nghĩa được nó là gì Bởi vì tiểu thuyết tức là truyện (ta cũng thường gọi tiểu thuyết
là truyện dài) Nếu định nghĩa tiểu thuyết là truyện (bịa như thật ) thì khác nào nói: Truyện là truyện nghĩa là không cắt nghĩa gì cả Vậy truyện (hay tiểu thuyết) là gì? Ai cũng biết truyện là gì, nhưng định nghĩa nó thì rất khó” Ông khẳng định: “Tiểu thuyết, đó là một trong những sáng tạo kỳ diệu của con người, đó là một đồ dùng, một vũ khí của con người để tìm hiểu, chinh phục dần thế giới và để tìm hiểu nhau và sống với nhau”
Giáo sư Phan Cự Đệ trong Tiểu thuyết Việt Nam hiện đại cũng đưa ra
quan niệm của mình:“Tiểu thuyết là gì? thật khó mà trả lời ngay trong một định nghĩa ngắn gọn chính xác so với các thể loại khác như sử thi cổ đại, bi kịch thì tiểu thuyết là một thể loại hãy còn rất trẻ và đang phát triển”
Tiếp thu tư tưởng của M.Bakhtin, tác giả viết: “Tự bản chất nó vốn không có tính quy phạm Đó chính là hiện thân của sự uyển chuyển Đó là một thể loại luôn luôn đi tìm, luôn luôn nghiên cứu bản thân và luôn luôn xét lại tất cả những hình thức đã thành hình của mình Một thể loại như vậy chỉ
có thể là một thể loại được xây dựng trong khu vực tiếp xúc trực tiếp với hiện thực đang tiến triển”
Và trong quá trình nghiên cứu về thể loại tiểu thuyết tác giả đã đưa ra những đặc trưng thẩm mỹ của nó như sau:
- Tiểu thuyết là một thể loại văn học gần gũi nhất với cuộc sống (đây là đặc trưng thẩm mỹ chủ yếu của thể loại này)
Trang 22- Cuộc sống trong tiểu thuyết bao giờ cũng là một cuộc sống toàn diện, phong phú và nhiều mặt
- Trong tiểu thuyết, các tính cách nhân vật có một sự phát triển “ tự thân” như là trong cuộc sống đời thật
- Tiểu thuyết gắn liền chặt chẽ với cuộc sống của quần chúng nên nó là một trong những thể loại dân chủ nhất của văn học
- Trong tiểu thuyết các màu sắc thẩm mỹ pha trộn, đan chéo nhau và chuyển hoá lẫn nhau
- Tiểu thuyết có một dung lượng lớn bảo đảm cho nhà văn một khoảng không gian mênh mông hơn nhiều thể loại khác
Tiểu thuyết trình bày đời sống cá nhân và đời sống xã hội như những tố chất có tính độc lập tương đối, không làm cạn kiệt được nhau, không ngốn nuốt được nhau, đây là đặc điểm quyết định nội dung thể loại của tiểu thuyết
Theo Từ điển thuật ngữ văn học (Nhà xuất bản Giáo dục - tái bản năm
2004) tiểu thuyết được định nghĩa như sau:
“Tiểu thuyết là hình thức tự sự cỡ lớn, nó đặc biệt phổ biển trong thời
kỳ cận đại và hiện đại có khả năng phản ánh hiện thực đời sống ở mọi giới hạn không gian và thời gian Với những giới hạn rộng rãi trong hình thức trần thuật nên tiểu thuyết có thể phản ánh số phận của nhiều cuộc đời, những bức tranh phong tục, đạo đức xã hội, miêu tả các điều kiện sinh hoạt giai cấp, tái hiện nhiều tính cách đa dạng” Theo chúng tôi, cách hiểu trên đây của các tác giả khá toàn diện, nêu lên được những nét đặc trưng cơ bản nhất của thể loại
Từ thực tiễn văn học ta thấy: Tiểu thuyết thường được mùa sau những chấn động lớn của xã hội, sự bức bối của ngòi bút đòi giải toả và sự xuất hiện những yếu tố mới lạ trong văn hoá, tình cảm Vấn đề cốt yếu và căn bản của tiểu thuyết không phải chỉ là chất liệu mới lạ, mà còn là cách nhìn, cách xem xét hiện thực Nhà tiểu thuyết cần có tầm nhìn, tư thế nhân loại mới có thể có tác phẩm hay Chúng ta hiểu rằng tiểu thuyết bao giờ cũng là một câu chuyện
Trang 23lớn bao gồm trong nó nhiều câu chuyện nhỏ là bức tranh hoành tráng, thiếu
nó, dân tộc thiếu sử thi, do vậy hiện thực đời sống đương đại luôn là đối tượng của tiểu thuyết nhà văn không thể trốn khỏi nó được và phải phản ánh thật sinh động về diện mạo và hơi thở của chính nó
Trên đây là những quan niệm và những suy ngẫm tìm tòi về thể loại tiểu thuyết của các nhà lý luận, nhà nghiên cứu, các tiểu thuyết gia nổi tiếng mà thông qua nghiên cứu và xem xét chúng tôi thấy họ đã đưa ra những cái nhìn đa diện – nhiều chiều về một thể loại tương đối khó trong việc nghiên cứu – thể loại tiểu thuyết Thông qua những quan niệm đó hi vọng chúng tôi sẽ có được những cách tiếp cận, những kiến giải sâu hơn về bản chất của thể loại này
1.1.2 Tiểu thuyết sau 1986 – một giai đoạn mới, một diện mạo mới
Sau 1975, nhất là từ Đổi mới (1986), tiểu thuyết Việt Nam đã có nhiều bước chuyển đáng kể Một đội ngũ nhà văn đông đảo thuộc nhiều thế hệ đã nối tiếp vượt qua những rào cản trói buộc, hướng tới tìm tòi, thể nghiệm mới
mẻ, làm phong phú, đa dạng thể loại tiểu thuyết Cũng từ sau Đổi mới (1986),
số lượng tiểu thuyết được xuất bản khá lớn Mỗi tác phẩm tiếp cận hiện thực ở những góc độ khác nhau, phân tích, kiến giải nó dưới nhãn quan riêng của người nghệ sĩ, tạo ra đời sống tiểu thuyết sôi động, phong phú Với xu hướng dân chủ hoá, nhìn thẳng vào sự thật, các nhà tiểu thuyết đã chạm vào mọi ngóc ngách, tầng vỉa của đời sống xã hội với tất cả sự ngổn ngang, bề bộn của cuộc đời
Về phương diện nghệ thuật, tiểu thuyết đương đại có sự cách tân mạnh
mẽ Nhiều cây bút tiểu thuyết, đặc biệt là những cây bút trẻ với bản lĩnh, tài năng, chấp nhận sự mạo hiểm luôn sáng tạo, thể nghiệm, cách tân trên nhiều phương diện, từ cốt truyện, giọng điệu, ngôn ngữ, bút pháp… khai thác tối đa hiệu quả biểu đạt của các yếu tố này Thoát khỏi mô hình kết cấu tiểu thuyết truyền thống, các cây bút tiểu thuyết đương đại lựa chọn kiểu cấu trúc lỏng lẻo, lắp ghép, với cốt truyện giàu tâm trạng, nhiều kết thúc để ngỏ Tiểu
Trang 24thuyết đương đại dung nạp mọi sắc thái ngôn ngữ, kể cả ngôn ngữ đời thường trần trụi, góc cạnh Nhiều tác phẩm, ngôn ngữ nhân vật được cá tính hoá cao
độ, giọng điệu tiểu thuyết đa thanh với nhiều sắc thái khác nhau, có hài hước, trữ tình, có cật vấn, hoài nghi, triết lí Cũng không phải ngẫu nhiên mà Nguyễn Huy Thiệp gọi đây là “thời của tiểu thuyết”
Cho đến nay, quá trình đổi mới văn học đã đi được một chặng đường dài hơn 20 năm và vẫn đang tiếp diễn Văn xuôi nói chung và tiểu thuyết nói riêng đã có nhiều chuyển biến tích cực với nhiều thành tựu Thành tựu nổi bật làm thay đổi diện mạo tiểu thuyết đương đại chính là sự đổi mới tư duy văn học Văn học Việt Nam 1945 - 1975, do sự quy định của điều kiện lịch sử - xã hội là nền văn học phát triển theo khuynh hướng sử thi, đối tượng nhận thức
và phản ánh của văn học tương đối hạn hẹp Từ đầu thập kỉ 80, nhiều nhà văn mẫn cảm đã nhận thấy sư lệch pha giữa đời sống và văn học và họ bắt đầu thấy cần cảm nhận hiện thực theo cách mới Văn học chuyển sang kiểu tư duy mới: suy ngẫm về hiện thực, suy ngẫm về cái đương đại đang diễn ra; từ mục tiêu hướng về cuộc chiến đấu cho quyền sống dân tộc, văn học tham gia vào cuộc chiến đấu cho quyền sống của từng cá nhân Không có lãnh địa nào là
“vùng cấm” đối với nhà văn thời Đổi mới Tiểu thuyết thời kì này không ngần ngại miêu tả tính dục, tình yêu, nhục thể - là lĩnh vực rất riêng của mỗi cá nhân, khai thác các yếu tố tích cực của con người tự nhiên là khía cạnh nhân bản của văn học Thế giới tâm linh, vô thức, tiềm thức, vùng mờ của ý thức cũng là phạm vi chiếm lĩnh của tiểu thuyết
Ở thời đại nào, đối tượng trung tâm của sự nhận thức, phản ánh văn học cũng là con người Giai đoạn văn học trước, trung tâm của sự phản ánh là con người công dân, con người cộng đồng Trong thời kì Đổi mới, con người được nhận thức đầy đủ, toàn diện và sâu sắc hơn Các cây bút viết tiểu thuyết
đã không ngần ngại đi vào số phận, những “mảnh vỡ”, những bi kịch nhân sinh, bi kịch giữa khát vọng và hiện thực, thanh lọc và tha hóa, nhân bản và phi nhân bản Số phận cá nhân được nhìn nhận trong mối quan hệ mật thiết
Trang 25với cộng đồng Đằng sau mỗi số phận, mỗi cá thể là những vấn đề mang ý nghĩa nhân sinh của thời đại, có sự giao nhịp phức điệu giữa con người cá thể
và con người nhân loại Chính những tiểu thuyết của Nguyễn Minh Châu, Bảo Ninh, Ma Văn Kháng, Lê Lựu… rồi các nhà văn trẻ thế hệ sau: Nguyễn Bình Phương, Hồ Anh Thái, Nguyễn Việt Hà… đã mang lại cho tiểu thuyết một gương mặt mới
Cốt truyện đóng vai trò quan trọng trong tổ chức, cấu trúc tiểu thuyết
Từ sau 1975, do sự đổi mới tư duy văn học, đề tài thế sự, đời tư phát triển mạnh mẽ đã xuất hiện những cốt truyện về cái bình thường, nhỏ nhặt của cuộc sống hằng ngày Sự xuất hiện của các dòng ý thức, những hồi ức, giấc mơ…
là những yếu tố làm nên cốt truyện tâm trạng Kĩ thuật đồng hiện, kĩ thuật độc thoại nội tâm, dòng ý thức, sử dụng các yếu tố kì ảo khiến cốt truyện trở nên lỏng lẻo, mơ hồ, co dãn, biến hóa, khó tóm tắt và có thể nói đến một hiện tượng: sự tan rã của cốt truyện trong các tự sự truyền thống Về đoạn kết của tiểu thuyết, có mô hình kết thúc có hậu, các vấn đề được giải quyết trọn vẹn,
có tác phẩm với kết thúc lỏng lẻo, không hoàn tất Sự đổi mới về nghệ thuật
tổ chức, cấu trúc tiểu thuyết cho thấy một cách nhìn, cách tiếp cận mới về cuộc sống và con người
Tiểu thuyết đương đại có sự phối hợp, đa thanh trong giọng điệu, khó
có thể có sự phân chia rạch ròi giọng tác giả, giọng nhân vật Giọng kể cũng không mang tính chất răn dạy mà chỉ đơn giản là kể lại, thuật lại, có khi
“không nghiêm túc”, “nửa đùa nửa thật” Giọng suy tư, triết lí là một nét độc đáo trong tiểu thuyết Việt Nam đương đại Trong một tác phẩm có nhiều cuộc đối thoại, tranh biện, những lời nói đầy triết lí về con người, cuộc đời, nhân sinh thế sự Mỗi nhà văn góp vào dòng chảy văn học một tiếng nói mới, một giọng điệu mới, một tư tưởng mới, góp phần làm phong phú, đa dạng, sinh động cho cả nền văn học giai đoạn này Hơn 30 năm tồn tại, vận động và phát triển, tiểu thuyết Việt Nam đương đại đã có nhiều biến chuyển Tiểu thuyết phong phú về đề tài, có nhiều tìm tòi về thủ pháp nghệ thuật, đa dạng về
Trang 26phong cách và khuynh hướng thẩm mĩ Song những hạn chế của tiểu thuyết giai đoạn này cũng là điều dễ thấy Đây cũng là động lực thúc đẩy sự sáng tạo của các cây bút tiểu thuyết đương đại
Quá trình sáng tạo văn học trọn vẹn gồm ba thành tố: nhà văn, tác phẩm và công chúng Độc giả cũng là bộ phận hợp thành của quá trình văn học và có ảnh hưởng không nhỏ tới tiến trình đổi mới văn học Các tiểu thuyết gia đương đại không ngừng miệt mài cách tân, đổi mới tiểu thuyết song vẫn chưa tìm được sự đồng cảm của số đông người người đọc Việc tiếp nhận tiểu thuyết đương đại đòi hỏi phải thay đổi “khẩu vị” thẩm mĩ vốn có, thay đổi hoạt động tiếp nhận truyền thống - tiếp nhận trên cơ sở trải nghiệm văn chương, so sánh chi tiết văn chương với chi tiết đời sống, đánh giá tác phẩm theo tiêu chí đúng - sai để từ đó tích cực và sáng tạo hơn trong hoạt động tiếp nhận
Tiểu thuyết Việt Nam đương đại vẫn đang đứng trước những thách thức của đời sống, của bạn đọc và cả người sáng tạo Để đạt được hiệu quả thẩm
mĩ, khẳng định vị thế “xương sống” trong nền văn học đòi hỏi cao hơn nữa ý
thức cách tân và năng lực sáng tạo của đội ngũ tiểu thuyết gia đương đại
1.2 Quá trình sáng tác và quan điểm tiểu thuyết của Hồ Anh Thái 1.2.1 Quá trình sáng tác của Hồ Anh Thái
Sinh năm 1960 ở Quỳnh Lưu - Nghệ An, nhà văn Hồ Anh Thái hiện là tiến sĩ văn hoá phương Đông, đã thỉnh giảng tại các đại học Washington và St.Mary (Mỹ), làm việc tại Bộ Ngoại giao, Hà Nội, đồng thời là tổng thư ký Hội nhà văn Hà Nội Sở trường về tiểu thuyết và truyện ngắn, ở mỗi thể loại nhà văn Hồ Anh Thái đều đạt được những thành tựu riêng Ông đã có rất nhiều đóng góp cho thi pháp tiểu thuyết Việt Nam hiện đại với nhiều tác phẩm đặc sắc
Hồ Anh Thái góp mặt với làng văn từ rất sớm Với giọng điệu độc đáo
Trang 27của mình, nhà văn đã sớm khẳng định tên tuổi của mình trên văn đàn Nhà văn Hồ Anh Thái có một vốn hiểu biết sâu rộng nhiều nền văn hoá Bởi vậy trong các sáng tác của ông chúng ta gặp nhiều chủ đề, nhiều cách tiếp cận Một thời gian thấy nhà văn chỉ viết về thanh niên sinh viên, một thời gian viết
về Ấn Độ, về Mỹ, sau đó lại thấy ông viết về trí thức công chức và ở mảng
đề tài nào độc giả cũng được thưởng thức những sáng tác độc đáo mới lạ, những cách tiếp cận tinh tế Nhiều cuốn đã được dịch in ở Pháp, Mỹ, Nga, Nhật, Thái Lan, Ấn Độ Các tác phẩm chính đã được xuất bản của ông như:
- Chàng trai ở bến đợi xe ( tập truyện -1985)
- Phía sau vòm trời ( tiểu thuyết -1986)
- Vẫn chưa tới mùa đông ( tiểu thuyết -1986)
- Người và xe chạy dưới ánh trăng ( tiểu thuyết -1987)
- Người đàn bà trên đảo ( tiểu thuyết -1988)
- Những cuộc kiếm tìm (1988)
- Mai phục trong đêm hè (1989)
- Trong sương hồng hiện ra ( tiểu thuyết -1990)
- Mảnh vỡ của người đàn ông ( tập truyện -1993)
- Người đứng một chân ( tập truyện - 1995)
- Lũ con hoang ( tập truyện -1995)
- Tiếng thở dài qua rừng kim tước ( tập truyện -1998)
- Họ đã trở thành nhân vật của tôi ( tiểu thuyết -2000)
- Tự sự 265 ngày ( tập truyện - 2001)
- Cõi người rung chuông tận thế ( tiểu thuyết - 2002)
- Bốn lối vào nhà cười ( tập truyện -(2005)
- Mười lẻ một đêm ( tiểu thuyết - 2006)
- Đức Phật, nàng Sivitri và tôi ( tiểu thuyết - 2007)
- Namaskar! Xin chào Ấn Độ ( tự truyện - 2008)
- Hướng nào Hà Nội cũng sông ( tiểu luận - 2009)
- SBC là săn bắt chuột ( tiểu thuyết - 2011)
- Dấu về gió xóa ( tiểu thuyết - 2012)
Trang 28- Người bên này trời bên ấy ( tập truyện -2013)
- Salam! Chào xứ Ba Tư ( tập truyện -2013)
Hầu như năm nào, nhà văn Hồ Anh Thái cũng cho ra mắt một tác phẩm mới Chỉ tính đầu sách đã xuất bản ta thấy sự cần mẫn trong sáng tác của nhà văn như ông từng phát biểu: “Việc công sở bận rộn, nhưng mỗi ngày tôi phải đều đặn viết ít nhất hai giờ Người viết chuyên nghiệp phải thế, ngồi vào bàn
và anh phải có đủ kỹ năng để huy động cảm hứng Chờ cảm hứng tự dẫn thân tới là một thái độ lao động nghiệp dư và có chút thần bí hoá nghề văn.” Có thể nói hiếm có nhà văn nào lại có thể đảm nhận nhiều công việc, nhiều vị trí mà
có thể đều đặn sáng tác như Hồ Anh Thái Thành công trên nhiều lĩnh vực chính là kết quả sự nỗ lực không ngừng của nhà văn Và khi được hỏi về cảm giác thành công trước con mắt người khác nhà văn đã không ngần ngại bộc bạch: “Tôi đã học được cách sống bình thản trước mọi sự ở đời Cách sống ấy quan tâm đến cách nhìn của mình với thế giới bên ngoài, chứ không bận tâm lắm xem bên ngoài nhìn mình ra sao” Nhờ sự cần mẫn, tâm huyết với nghề văn, tác giả Hồ Anh Thái đã đạt được nhiều giải thưởng về truyện ngắn và tiểu thuyết của Hội Nhà văn Việt Nam, Tổng LĐLĐ Việt Nam, Báo Văn Nghệ, Liên Hiệp các hội văn học nghệ thuật Việt Nam
Hồ Anh Thái sáng tác trên nhiều lĩnh vực: truyện ngắn, tiểu thuyết, chân dung văn học, du kí, tiểu luận và biên khảo Ông trình làng đầu tiên
truyện ngắn Bụi phấn và thành công đầu tay bằng tập truyện Chàng trai ở bến
đợi xe nhưng thể loại đưa Hồ Anh Thái trở thành nhà văn tên tuổi trong làng
văn xuôi Việt Nam đương đại lại là tiểu thuyết Tiểu thuyết chiếm vị trí ưu thế trong sự nghiệp sáng tác Hồ Anh Thái cả về số lượng lẫn chất lượng
Trong cao trào đổi mới tiểu thuyết nói riêng và văn học nói chung, Hồ Anh Thái là cây bút gây ấn tượng mạnh Với mỗi tiểu thuyết, Hồ Anh Thái gửi gắm thông điệp thẩm mĩ sâu sắc về nhân sinh, cuộc đời, với những bước tiến về quan niệm nghệ thuật, tư duy nghệ thuật, cách tiếp cận và xử lí đề tài
Trang 29Tiểu thuyết của Hồ Anh Thái đã theo sát những bước chuyển của đời sống xã hội, chạm tới cả những chấn động bề sâu của cuộc sống: từ chiến tranh biên giới, bi kịch của con người thời hậu chiến, lật lại để chiêm nghiệm những vấn
đề của quá khứ và cả những vấn đề mới nảy sinh đặt ra cho con người trong cuộc sống đương đại Hồ Anh Thái đã đi sâu và khai thác triệt để những mảng khuất lấp của hiện thực đời sống, của bản thể
Viết về cuộc sống thời hậu chiến, ba cuốn tiểu thuyết Người đàn bà
trên đảo, Trong sương hồng hiện ra, Người và xe chạy dưới ánh trăng là
những tiếng nói mới đầy ưu tư và trăn trở của Hồ Anh Thái Người và xe chạy
dưới ánh trăng là sự cảm nhận tinh tế cuộc sống của người lao động trong
thời kì Đổi mới Ở đó có sự hiện hữu của các giá trị đối nghịch: tốt - xấu, thiện - ác, vị kỉ - thứ tha, rồng phượng - rắn rết, thiên thần - ác quỷ… và để tồn tại con người buộc phải đối mặt với những mặt trái của cuộc sống Khai
thác đề tài chiến tranh, với tiểu thuyết Người đàn bà trên đảo, Hồ Anh Thái
có sự nhìn nhận khách quan về sức tàn phá ghê gớm của nó đến số phận cá nhân Sức tàn phá ấy chính là những mất mát, hi sinh của những người đàn bà
đội Năm trong và sau chiến tranh Với Trong sương hồng hiện ra, Hồ Anh
Thái lại đứng từ góc nhìn hiện tại để mổ xẻ, kiến giải, nhận thức lại quá khứ, thẩm định giá trị hiện tại, bày tỏ khao khát của thế hệ hậu chiến được nhìn xuyên qua màn sương huyền thoại để xem xét nguồn cội
Ba cuốn tiểu thuyết là ba cách tiếp cận hiện thực, tất cả làm nổi bật đời sống Việt Nam thời kì hậu chiến: có đổ nát, có bi thương, có mất mát nhưng trên hết là sự khẳng định giá trị đích thực của con người, khẳng định sức sống mãnh liệt của con người
Từ tiểu thuyết Cõi người rung chuông tận thế trở về sau, ngòi bút Hồ
Anh Thái có nhiều đổi mới cả trên bình diện nội dung và hình thức Lật lại
những vấn đề muôn thuở của cuộc sống con người, Cõi người rung chuông
tận thế là cuộc đấu tranh thiện - ác với chân lí: chỉ có tình yêu thương, sự bao
dung mới hoá giải nổi vòng luẩn quẩn của sự hận thù
Trang 30Đến Mười lẻ một đêm, Hồ Anh Thái chiếu cái nhìn nghịch dị, châm
biếm sâu sắc vào muôn mặt trái của đời sống đương đại trên mọi lĩnh vực
Mở rộng không gian chiếm lĩnh, Hồ Anh Thái đã vươn tới tiếp cận những không gian văn hoá mới - đất nước, văn hoá và con người Ấn Độ bằng
tiểu thuyết Đức Phật, nàng Savitri và tôi Với cuốn tiểu thuyết này, Hồ Anh
Thái đã tái dựng lại cuộc đời Đức Phật bằng tư duy tiểu thuyết, đưa ông trở thành một trong những cây bút có nhiều tác phẩm hay về đất nước và con người Ấn Độ trong văn học đương đại
Với sáu cuốn tiểu thuyết, mỗi tác phẩm là một hương vị riêng Đi qua từng tác phẩm, Hồ Anh Thái dường như đã làm được những cuộc “lột xác” mạnh mẽ hơn, ghi dấu từng bước tiến trên nấc thang nghệ thuật Tiểu thuyết
Hồ Anh Thái đã chạm tới những vấn đề nhạy cảm của xã hội, thể hiện ý thức luôn tìm tòi và tự làm mới mình của nhà văn Trên phương diện nghệ thuật,
Hồ Anh Thái không ngừng cách tân, biểu hiện rõ ở sự linh hoạt trong phương thức thể hiện và sự đa dạng trong từng giai đoạn Sự cách tân thể loại trên phương diện nghệ thuật của Hồ Anh Thái biểu hiện ở nhiều bình diện, từ dung lượng, kết cấu, cốt truyện, nghệ thuật xây dựng nhân vật, tạo dựng không gian, thời gian nghệ thuật và rõ nhất là ở sự biến đổi của giọng điệu nghệ thuật, xác lập những kết cấu nghệ thuật mới mẻ qua từng tiểu thuyết
Trên mặt bằng sáng tác tiểu thuyết đương đại, Hồ Anh Thái là nhà văn
để lại nhiều dấu ấn Với mỗi cuốn tiểu thuyết, Hồ Anh Thái đã khẳng định những bước tiến của mình trên con đường sáng tạo và cây bút ấy còn đầy hứa hẹn cho văn học Việt Nam đương đại
1.2.2 Hồ Anh Thái - từ quan niệm về tiểu thuyết đến thực tiễn sáng tác
Trong toàn bộ sự nghiệp sáng tác của Hồ Anh Thái, nhà văn ghi dấu ấn
cá nhân của mình nhiều nhất ở thể loại tiểu thuyết Thành công ấy bắt nguồn trước hết từ những quan niệm đúng đắn về tiểu thuyết của ông Quan niệm tiểu thuyết của Hồ Anh Thái vừa được thể hiện trực tiếp qua các ý kiến bàn luận về tiểu thuyết, vừa được thể hiện qua sáng tác của nhà văn
Trang 31Cảm quan hiện thực của từng nhà văn là nhân tố cốt lõi chi phối toàn
bộ thế giới nghệ thuật của tác phẩm do nhà văn sáng tạo ra Với Hồ Anh Thái, quan niệm về hiện thực như là đối tượng phản ánh, khám phá, nhận thức của văn học được mở rộng, khơi sâu và mang tính toàn diện Ông cho rằng: “Hiện thực là những gì ta nhìn thấy, ta nghe là chưa đủ, hiện thực là cái ta cảm nữa Những gì tồn tại ở thế giới bên ngoài đều có thể tìm thấy ở thế giới bên trong mỗi người, trong tâm và trí của họ Cả một đời sống tâm linh cũng là hiện thực, không ai dám nói là đã đào sâu, hiểu thấu cái thế giới tâm linh ấy” [36, tr.252] Với cảm quan hiện thực như vậy, Hồ Anh Thái sáng tác tiểu thuyết không hề bị lệ thuộc đề tài hay cách nhìn đã được định trước, mở ra khả năng phong phú, vô tận trong sự khám phá và thể hiện hiện thực đời sống; dung lượng phản ánh hiện thực cũng được nới rộng, xác lập quan niệm mới về mối quan hệ giữa văn học và hiện thực Thế giới nghệ thuật tiểu thuyết của Hồ Anh Thái không chỉ phản ánh thực tại ngoài đời mà còn là thế giới do nhà văn
hư cấu, có thể bao gồm cái có thực với cái không thể có, cái kì ảo được tạo ra bằng trí tưởng tượng có thể tồn tại bên cạnh những hình ảnh của hiện thực
Hồ Anh Thái khẳng định: “Tôi quan niệm tiểu thuyết như giấc mơ dài, gấp sách lại nguời ta vừa mừng rơn như thoát khỏi một cơn ác mộng, lại vừa tiếc nuối vì phải chia tay với những điều mà đời thực không có” [36, tr.245]
Hồ Anh Thái là nhà văn có ý thức sâu sắc về nghề viết, về bản chất của lao động nghệ thuật Theo ông: “Tôi quan niệm người viết văn phải là người vật vã lao động trên từng chữ, mà là chữ sáng tạo (…) Tôi là người luôn thay đổi Tôi cũng không dừng ở lối viết này lâu đâu, khi chuyển sang đề tài khác tôi sẽ chọn một lối viết khác cho hợp đề tài mới Không dừng lâu ở một chỗ, cho nên người ta vừa kịp buông ra lời nhận xét thì tôi đã đi qua chính tôi rồi” [34, tr.226] Với Hồ Anh Thái, văn chương nghệ thuật là địa hạt tinh thần, nó đào thải tất cả cái gì nhợt nhạt, thiếu bản sắc Tạo ra những sản phẩm mới mẻ
là đòi hỏi tự bên trong của hoạt động sáng tạo nghệ thuật chân chính Mỗi sản phẩm nghệ thuật là sự hiện diện của nhà văn giữa cuộc đời Vì thế cũng
Trang 32không phải ngẫu nhiên Hồ Anh Thái gọi tên một tác phẩm của mình là Hãy
nói bằng lời của mình Đây có thể xem như một tuyên ngôn nghệ thuật của
ông Nói bằng lời của mình, lao động nghệ thuật bằng tài năng, tâm huyết, bằng bản lĩnh, bằng khả năng sáng tạo, Hồ Anh Thái đã cho ra đời hàng loạt tiểu thuyết mà mỗi tác phẩm một dáng vẻ, một phát minh, ghi nhận sự trưởng thành nghệ thuật của ông trên từng chặng đường sáng tác
Những ý kiến có tính chất tuyên ngôn về sáng tác tiểu thuyết và lao động nghệ thuật là sự đúc rút, khái quát những gì Hồ Anh Thái đã làm được trong giai đoạn sáng tác vừa qua Thực tiễn sáng tác cho thấy Hồ Anh Thái là cây bút đa phong cách, không ngừng tìm tòi, khám phá và sáng tạo
M Proust từng khẳng định: “Phong cách không phải là vấn đề kĩ thuật
mà là vấn đề cách nhìn” [45, tr.51] Theo quan niệm này hoàn toàn có cơ sở
để khẳng định phong cách tiểu thuyết Hồ Anh Thái được xây dựng xuất phát
từ cái nhìn nghệ thuật độc đáo Là nhà văn thuộc thế hệ “không bị vướng mắc bởi cái nhìn sử thi” (chữ dùng của Hoàng Ngọc Hiến), Hồ Anh Thái đã vượt qua cái nhìn nguyên phiến, một chiều, để chiếm lĩnh cuộc sống đa chiều Cái nhìn nghệ thuật đa chiều, đầy góc cạnh của Hồ Anh Thái hướng đến chiếm lĩnh là thế giới đa dạng, phức tạp với nhiều loại người trong những miền không gian và trong những bình diện thời gian khác nhau
Cái nhìn nghệ thuật đa chiều trong tiểu thuyết Hồ Anh Thái được khởi phát từ sự đa dạng trong tư tưởng sáng tạo của ông Trên hành trình sáng tác tiểu thuyết của mình, với mỗi tác phẩm, Hồ Anh Thái luôn bộc lộ một quan điểm, đề xuất một tư tưởng nghệ thuật riêng, cho thấy sự đa dạng và chiều hướng vận động tư tưởng nghệ thuật của ông Sự đa dạng này vẫn có được sự thống nhất trên nền tảng ổn định
Sự thống nhất giữa cái nhìn, tư tưởng nghệ thuật và hình thức biểu hiện tương ứng trong tiểu thuyết Hồ Anh Thái tạo ra thế giới nghệ thuật phong phú, sinh động, mang đậm dấu ấn, cá tính sáng tạo của nhà văn
Trang 33Chương 2:
NHÂN VẬT VÀ TƯ TƯỞNG
TRONG TIỂU THUYẾT ĐỨC PHẬT, NÀNG SAVITRI VÀ TÔI
2.1 Mấy vấn đề lí luận về nhân vật văn học
2.1.1 Nhân vật văn học và chức năng của nó trong tác phẩm
Trong nhiều trường hợp, khái niệm nhân vật được sử dụng một cách ẩn
dụ nhằm chỉ một hiện tượng nổi bật nào đó trong tác phẩm Chẳng hạn, người
ta thường nói đến “nhân dân” như là một nhân vật trung tâm trong Chiến
tranh và hòa bình của L Tônxtôi, “ca cao” là nhân vật chính trong Ðất dữ của
G Amađô, “chiếc quan tài” là nhân vật trong tác phẩm Chiếc quan tài của
Nguyễn Công Hoan Tô Hoài nhận xét về “chiếc quan tài”: "Trong truyện
ngắn Chiếc quan tài của Nguyễn Công Hoan, nhân vật không phải là người
mà là một chiếc quan tài Nhưng chiếc quan tài ấy chẳng phải là vô tri mà là một sự thê thảm, một bản án tố cáo chế độ thảm khốc thời Pháp thuộc Như
Trang 34vậy, chiếc quan tài cũng là một thứ nhân vật" Tuy vậy, nhìn chung, nhân vật
vẫn là hình tượng của con người trong tác phẩm văn học
Nhân vật văn học là một hiện tượng nghệ thuật có tính ước lệ, có những dấu hiệu để nhận biết: tên gọi, những dấu hiệu về tiểu sử, nghề nghiệp, những đặc điểm riêng Những dấu hiệu đó thường được giới thiệu ngay từ đầu và thông thường, sự phát triển về sau của nhân vật gắn bó mật thiết với những giới thiệu ban đầu đó Việc giới thiệu Thúy Vân, Thúy Kiều khác nhau dường như cũng báo trước về số phận của mỗi người sau này:
“Vân xem trang trọng khác vời
Khuôn trăng đầy đặn nét ngài nở nang
Hoa cười ngọc thốt đoan trang
Mây thua nước toc, tuyết nhường màu da
Kiều càng sắc sảo mặn mà
So bề tài sắc lại là phần hơn
Làn thu thủy, nét xuân sơn
Hoa ghen thua thắm, liễu hờn kém xanh”
Hay việc giới thiệu Hoạn Thư:
“Ở ăn thì nết cũng hay,
Nói điều ràng buộc thì tay cũng già”
gắn liền với những suy nghĩ, nói năng, hành động trong quá trình phát triển về sau của nhân vật
Nhân vật văn học không giống với các nhân vật thuộc các loại hình nghệ thuật khác Ở đây, nhân vật văn học được thể hiện bằng chất liệu riêng
là ngôn từ Vì vậy, nhân vật văn học đòi hỏi người đọc phải vận dụng trí tưởng tượng, liên tưởng để dựng lại một con người hoàn chỉnh trong tất cả các mối quan hệ của nó
Trang 352.1.1.2 Chức năng của nhân vật văn học
Nhân vật văn học có chức năng khái quát những tính cách, hiện thực cuộc sống và thể hiện quan niệm của nhà văn về cuộc đời Khi xây dựng nhân vật, nhà văn có mục đích gán liền nó với những vấn đề mà nhà văn muốn đề cập đến trong tác phẩm Vì vậy, tìm hiểu nhân vật trong tác phẩm, bên cạnh việc xác định những nét tính cách của nó, cần nhận ra những vấn đề của hiện thực và quan niệm của nhà văn mà nhân vật muốn thể hiện Chẳng hạn, khi nhắc đến một nhân vật, nhất là các nhân vật chính, người ta thường nghĩ đến các vấn đề gắn liền với nhân vật đó Gắn liền với Kiều là thân phận của người phụ nữ có tài sắc trong xã hội cũ Gắn liền với Kim Trọng là vấn đề tình yêu
và ước mơ vươn tới hạnh phúc Gắn liền với Từ Hải là vấn đề đấu tranh để thực hiện khát vọng tự do, công lí Trong Chí Phèo của Nam Cao, nhân vật Chí Phèo thể hiện quá trình lưu manh hóa của một bộ phận nông dân trong xã hội thực dân nửa phong kiên Ðằng sau nhiều nhân vật trong truyện cổ tích là vấn đề đấu tranh giữa thiện và ác, tốt và xấu, giàu và nghèo, những ước mơ tốt đẹp của con người
Do nhân vật có chức năng khái quát những tính cách, hiện thực cuộc sống và thể hiện quan niệm của nhà văn về cuộc đời cho nên trong quá trình
mô tả nhân vật, nhà văn có quyền lựa chọn những chi tiết, yếu tố mà họ cho là cần thiết bộc lộ được quan niệm của mình về con người và cuộc sống Chính
vì vậy, không nên đồng nhất nhân vật văn học với con người trong cuộc đời Khi phân tích, nghiên cứu nhân vật, việc đối chiếu, so sánh có thể cần thiết để hiểu rõ thêm về nhân vật, nhất là những nhân vật có nguyên mẫu ngoài cuộc
đời (anh hùng Núp trong Ðất nước đứng lên; Chị Sứ trong Hòn Ðất ) nhưng
cũng cần luôn luôn nhớ rằng nhân vật văn học là một sáng tạo nghệ thuật độc đáo gắn liền với ý đồ tư tưởng của nhà văn trong việc nêu lên những vấn đề của hiện thực cuộc sống Betông Brecht cho rằng: “Các nhân vật của tác phẩm nghệ thuật không phải giản đơn là những bản dập của những con người
Trang 36sống mà là những hình tượng được khắc họa phù hợp với ý đồ tư tưởng của tác giả”
2.1.2 Các bình diện mô tả nhân vật
Mô tả ngoại hình nhân vật: Ngoại hình là dáng vẻ bên ngoài của nhân
vật bao gồm y phục, cử chỉ, tác phong, diện mạo Ðây là yếu tố quan trọng
góp phần cá tính hóa nhân vật
Nếu như văn học cổ thường xây dựng ngoại hình nhân vật với những chi tiết ước lệ, tượng trưng thì văn học hiện đại thường đòi hỏi những chi tiết chân thực và cụ thể sinh động M Gorki khuyên các nhà văn phải xây dựng nhân vật của mình đúng như những con người sống và phải tìm thấy, nêu lên, nhấn mạnh những nét riêng độc đáo, tiêu biểu trong dáng điệu, nét mặt, nụ cười, khóe mắt của nhân vật
Ngoại hình nhân vật cần góp phần biểu hiện nội tâm Ðây cũng chính là
sự thống nhất giữa cái bên ngoài và cái bên trong của nhân vật Vì vậy, khi tính cách, đời sống bên trong của nhân vật thay đổi, nhiều nét bên ngoài của nhân vật cũng thay đổi theo
Khi xây dựng ngoại hình nhân vật, nhà văn cần thể hiện những nét riêng biệt, cụ thể của nhân vật nhưng qua đó, người đọc có thể nắm bắt được những đặc điểm chung của những người cùng nghề nghiệp, tầng lớp, thời đại Những nhân vật thành công trong văn học từ xưa đến nay cho thấy nhà văn bao giờ cũng chọn lựa công phu những nét tiêu biểu nhất để khắc họa nhân vật
Mô tả nội tâm nhân vật: Khái niệm nội tâm nhằm chỉ toàn bộ những biểu hiện thuộc cuộc sống bên trong của nhân vật Ðó là những tâm trạng, những suy nghĩ, những phản ứng tâm lí của nhân vật trước những cảnh ngộ, những tình huống mà nó gặp phải trong cuộc đời
Trong quá trình phát triển của lịch sử văn học, việc thể hiện nhân vật qua nội tâm ngày càng có vai trò quan trọng Trong văn học Việt Nam, so với các giai đoạn trước, Truyện Kiều của Nguyễn Du đã đạt được những thành
Trang 37tựu rực rỡ Tác phẩm chứng tỏ Nguyễn Du có khả năng nắm bắt một cách tài tình những ý nghĩ, tình cảm sâu kín của nhân vật và diễn tả nó một cách sinh động
Sự biểu hiện hợp lí và sâu sắc nội tâm góp phần rất lớn tạo nên sức sống của nhân vật Nói như L Tônxtôi: "Mục đích chính của nghệ thuật là nói lên sự thật về tâm hồn con người, nói lên những điều bí ẩn không thể diễn
tả bằng ngôn ngữ thông thường được" Ðể làm được điều đó, nhà văn phải
hiểu sâu sắc cuộc sống và con người, nắm bắt được những biểu hiện và diễn biến dù nhỏ nhặt nhất đời sống bên trong của nhân vật
2.2 Chất liệu lịch sử và huyền thoại trong xây dựng nhân vật
Thế giới nhân vật trong Đức Phật, nàng Savitri và tôi hầu hết được xây
dựng từ những nhân vật trong Phật tích, huyền tích của tôn giáo, văn học Ấn
Độ Có những nhân vật đã trở thành huyền thoại của cả một tôn giáo như Đức Phật Bằng cách mượn cốt truyện trong tôn giáo, với cách tiếp cận riêng của mình, Hồ Anh Thái đã tạo dựng những nhân vật trong truyền thuyết với một cách thể hiện mới mẻ và độc đáo Ông đã sử dụng phương thức huyền thoại hoá để tạo nên những nhân vật mang đậm dấu ấn của riêng mình Người đọc, nhờ đó có điều kiện hiểu sâu hơn về nhân vật, cũng như con người và đất nước Ấn Độ đầy màu sắc bí ẩn và huyền hoặc Thế nhưng, ẩn sau lớp sương huyền thoại mờ ảo ấy, ta vẫn bắt gặp bóng dáng của những con người trần tục, đời thường với đầy đủ những cung bậc tình cảm, cảm xúc; những nhu cầu tâm, sinh lý rất đỗi “ thật ” của con người trần thế
2.2.1 Nhân vật Đức Phật
Đức Phật là một nhân vật có thật trong lịch sử tôn giáo Ngài là một Buddha - Đấng Giác Ngộ, một nhân vật tồn tại như một huyền thoại trong Phật giáo và trong đời sống tâm linh của hàng triệu người trên thế giới Xung quanh cuộc đời Đức Phật là nhưng câu chuyện huyền ảo, thần thánh hoá Đức Phật từ bao đời nay vẫn tồn tại trong lòng tôn kính của biết bao con người,
Trang 38quang màu nhiệm Vốn là người có “cơ duyên” với văn hoá Ấn Độ, thấm nhuần những tư tưởng cao siêu của đạo Phật, Hồ Anh Thái thấu hiểu Ấn Độ, thấu hiểu những ý nghĩa sâu xa trong triết thuyết nhà Phật Bằng những sáng tạo nghệ thuật của mình, ông luôn cố gắng thể hiện một cách nhìn mới trước những vấn đề truyền thống Tái hiện lại cuộc đời Đức Phật trong huyền thoại dưới một cách nhìn hiện thực là điểm đặc biệt trong những sáng tác về Đức
Phật của Hồ Anh Thái Không phải chỉ ở tiểu thuyết Đức Phật, nàng savitri
và tôi Hồ Anh Thái mới viết về cuộc đời Đức Phật Trước đó trong những
sáng tác của mình ông cũng đã viết về đề tài này như Cuộc đời Đức Phật;
Kiếp người đi qua Nhưng để đạt được thành công thật sự thì phải đến khi ông
hoàn thành tiểu thuyết Đức Phật, nàng Savitri và tôi Cuốn tiểu thuyết ra đời
thật sự đã mang lại một làn gió mới cho văn chương đương đại Việt Nam và tạo nên tiếng vang lớn trên diễn đàn văn học
Đức Phật, nàng Savitri và tôi, là một trải nghiệm mới mẻ của Hồ Anh
Thái Nhân vật Đức Phật được xây dựng từ những chất liệu trong huyền thoại tôn giáo, nhưng Hồ Anh Thái đã có một cách cảm nhận và thể hiện riêng Mạch chuyện của tác phẩm được khai triển theo cuộc đời Đức Phật, từ lúc mới sinh ra đến lúc đốn ngộ chân lý Cũng như mọi chúng sinh, Đức Phật được sinh ra bởi một người phụ nữ Có khác chăng là ở dung nhan, tướng mạo khác thường:“Hoàng tử mới chào đời thì hoàn toàn tỉnh táo Trắng hồng
bụ bẫm Xứ Ấn da trắng như vậy thì cũng coi như toả hào quang” [35, tr.32]
Đó là hoàng tử Siddhattha của vương quốc Kapilavatthu (một nước nhỏ vùng đông bắc Ấn Độ cổ đại) Ngài ưu tư, phiền muộn vì phải nhìn thấy kiếp nhân sinh chìm trong vòng quay bất tận của sinh - lão - bệnh - tử: “Mọi chúng sinh dều kiếm tìm hạnh phúc Nhưng hầu hết đều mù quáng vì thiếu hiểu biết, vì những tham vọng của mình, đến mức họ không tìm thấy gì ngoại trừ nỗi khổ
Sợ hãi, thất vọng, đói rách, tuổi già và cái chết - đó là tất cả những gì họ nhận được trong cuộc kiếm tìm tuyệt vọng này Mà đời người chỉ trong chốc lát Hoàng tử không còn thiết tha gì những lạc thú nhỏ nhoi và chóng tàn của cuộc
Trang 39đời trần thế Chàng muốn đi tìm một con đường đến với hạnh phúc lâu bền, đến với sự bình yên lâu bền” [35, tr.87] Với ước mong mọi người được bình đẳng và sớm được giải thoát khỏi bể khổ của cuộc đời, hoàng tử đã từ bỏ mọi vinh hoa phú quý, từ bỏ cuộc sống hoàng tộc ra đi tìm chân lý và đạt đến giác ngộ dưới gốc bồ đề: “Kể từ nay không còn hoàng tử Siddhattha nữa, ta với bạn đều bình đẳng, bởi chúng ta đều là con người Nhưng làm người khổ lắm
ta muốn tầm sư học đạo, tìm con đường chấm dứt mọi đau khổ cho chúng sinh”[35, tr.90] Và cuối cùng hoàng tử đã tìm ra được chân lý và sự khai minh, chàng đã thực sự trở thành Buddha - Người Giác Ngộ: “Khi chàng nhìn thấy tất cả những điều này, bóng tối bị xua tan trong trí não chàng Cả cơ thể chàng dường như đều toả sáng, vầng ánh sáng trí tuệ Chàng không còn là một con người bình thường nữa Chàng đã được khai minh Giờ đây chàng là Buddha – Người Giác Ngộ Đấng Giác Ngộ thôi toạ thiền Người bình thản đứng dậy, cười rạng rỡ Đã sang buổi sáng Mặt trời mọc ở đằng Đông” [35, tr.179] Trong tiểu thuyết, Hồ Anh Thái xây dựng hình tượng Đức Phật như một con người trần thế, gần gũi, có sinh - lão - bệnh - tử như bao con người khác Xung quanh hình ảnh Đức Phật dường như không có chút gì bí ẩn và huyền ảo Đây là một nét mới trong tiểu thuyết của Hồ Anh Thái Ông đã xây dựng một huyền thoại theo cách nhìn của riêng mình Đó là vén bức màn khói sưong thần bí, để hiện lên một con người vĩ đại trong sự gần gũi, giản dị Ở con người vĩ đại ấy, dường như không có phép lạ và hào quang như cách nghĩ xưa nay Đức Phật hiện lên như một nhà hiền triết đã tìm ra con đường giải thoát cho chúng sinh Nhưng không vì thế mà Đức Phật của ông mất đi sự linh thiêng huyền bí Với tài năng của mình nhà văn đã tạo cho nhân vật một ánh sáng huyền bí kì lạ ở một góc độ khác Sự huyền ảo trong Đức Phật của
Hồ Anh Thái được tạo nên bởi sức mạnh lòng thương yêu, bác ái chiến thắng mọi cái xấu, cái ác; sự cảm hoá cái ác bằng chân lý yêu thương con người Chỉ có yêu thương và bằng yêu thương con người mới cởi bỏ được thù hận để
tự giải thoát cho mình: “Một khi không còn hận thù, trái tim con người chỉ
Trang 40còn tràn đầy lòng yêu thương Và chính lòng từ bi này sẽ đem đến bình yên và hạnh phúc” [35, tr.178] Sức mạnh của Đức Phật thể hiện trong các triết thuyết của Ngài Giáo đoàn của ngài ngày càng đông, Phật đi đến đâu cũng thu nạp được rất nhiều thành viên, số lượng thành viên tăng lên nhanh và mạnh Người đã làm tan cơn giận dữ của một kẻ lỗ mãng, bị cơn giận làm mù quáng chửi bới Phật ngay giữa đường Phật nói “Cơn tức giận của ngươi cũng vậy Ngươi tức giận với ta mà ta không hề bị tác động, thì cơn tức giận ấy sẽ
ở lại với ngươi Thế rồi ngươi là kẻ duy nhất cảm thấy tức tối, chứ không phải
ta Ngươi đã tự làm tổn thương mình rồi đó” [35, tr.292] Đức Phật đã chứng
tỏ được sức mạnh cải hoá cái ác, thu phục nhân tâm của con người Bằng giáo hóa, Người đã giác ngộ được một cách sâu sắc con đường đến với an lạc Với sức mạnh của tình yêu thương và lòng bác ái Đức Phật đã làm cảm động đến ngay cả những con vật Người chỉ dùng ánh mắt ấm áp chứa chan tình thương
mà đã làm dịu đi cơn điên cuồng của con voi dữ: “Con voi bừng bừng lao đến Nhưng bỗng nhiên nó dừng lại Chỉ cách Phật chừng chục bước Khoảng cách vẫn đủ cho Phật và Ananda nhảy tránh Nhưng người không tránh mà voi cũng không tiến đến nữa Voi bất chợt phục hồi tri giác Người trong cơn say cũng có lúc bất chợt phục hồi tri giác Hình như nó nhận ra người đứng trước nó là vô hại
- Lại đây nào, đừng sợ
Phật còn nhẹ nhàng bảo nó Đừng sợ Như đã bảo chàng vệ binh leo lên đỉnh núi hôm trước
Con voi dừng lại một hồi Nó nhìn hai con người đứng trước mặt Nó thả vòi xuống như chào Rồi nó quay mình đi trở lại chuồng” [35, tr.382] Người nói “Chỉ có tình thương mới diệt trừ mọi hờn oán Lấy oán trả oán thì còn oán Đấy là một bài học lớn” Người cảm hoá những người đang còn chìm trong u mê, tăm tối thiếu hiểu biết, những người còn đang quẩn quanh với những sinh - lão - bệnh - tử của cuộc sống và tự đày mình trong bể khổ Như người đàn bà mong làm cho đứa con nhỏ đã chết sống lại: “Ta có thể