1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Nghệ thuật truyện ngắn nguyễn công hoan trước cách mạng tháng 8 năm 1945

105 654 4

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 105
Dung lượng 776,41 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nhà văn Tô Hoài khi đánh giá về sự nghiệp văn chương, về vị trí của Nguyễn Công Hoan trong tiến trình lịch sử văn học dân tộc đã viết: "Nếu ta nhẩm từ cái hồi mà lời văn bổng trầm khóc

Trang 1

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ VÀ VĂN HÓA VIỆT NAM

Người hướng dẫn khoa học: PGS TS Phan Trọng Thưởng

Thái Nguyên, năm 2015

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của tôi dưới sự hướng dẫn của PGS.TS Phan Trọng Thưởng Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn này là trung thực và chưa từng công bố trong bất kỳ công trình nào khác

Tôi xin chân thành cảm ơn!

Tác giả luận văn

Vũ Thị Minh Trang

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Bằng sự kính trọng và lòng biết ơn sâu sắc, tác giả luận văn xin chân thành cảm ơn PGS.TS Phan Trọng Thưởng - người đã tận tình hướng dẫn, động viên và giúp đỡ tác giả trong suốt quá trình thực hiện luận văn

Tác giả cũng xin gửi lời cảm ơn chân thành đến các thầy, cô giáo khoa Ngữ văn, khoa Sau đại học, cán bộ phòng Quản lý khoa học trường Đại học Sư phạm – Đại học Thái Nguyên đã tạo điều kiện thuận lợi cho tác giả trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu tại trường

Tác giả xin chân thành cảm ơn Thư viện trường Đại học Sư phạm - Đại học Thái Nguyên, Trung tâm học liệu và Thư viện Quốc gia Hà Nội đã giúp đỡ tác giả trong suốt thời gian thực hiện luận văn

Tác giả xin chân thành cảm ơn những nhận xét, đánh giá, góp ý quý báu của Hội đồng khoa học đánh giá luận văn

Cuối cùng tác giả xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới gia đình, bạn bè đã động viên, quan tâm, chia sẻ và tạo điều kiện giúp tác giả hoàn thành tốt luận văn này

Thái Nguyên, tháng 7 năm 2015

Tác giả

Vũ Thị Minh Trang

Trang 4

MỤC LỤC

Trang

Trang bìa phụ

Lời cam đoan i

Lời cảm ơn ii

Mục lục iii

Mở đầu 1

Chương 1: NGUYỄN CÔNG HOAN TRONG TIẾN TRÌNH VĂN HỌC VIỆT NAM HIỆN ĐẠI 13

1.1 Tiểu sử và quá trình sáng tác 13

1.2 Đóng góp của Nguyễn Công Hoan trên phương diện thể loại 20

1.3 Đóng góp của Nguyễn Công Hoan trên phương diện nội dung 25

Chương 2: NGUYỄN CÔNG HOAN - BẬC THẦY VỀ NGHỆ THUẬT VIẾT TRUYỆN NGẮN 32

2.1 Cốt truyện 32

2.1.1 Khái niệm "cốt truyện" 32

2.1.2 Các đặc điểm cốt truyện truyện ngắn Nguyễn Công Hoan 32

2.2 Nghệ thuật xây dựng nhân vật 44

2.2.1 Khái niệm "nhân vật" 44

2.2.2 Số lượng và thành phần 46

2.2.3 Nghệ thuật miêu tả ngoại hình nhân vật 47

2.2.4 Nghệ thuật miêu tả hành động nhân vật 53

2.3 Nghệ thuật trần thuật 60

2.3.1 Điểm nhìn trần thuật 60

2.3.2 Giọng điệu trần thuật 62

2.3.3 Ngôn ngữ trần thuật và nhịp điệu trần thuât 67

Chương 3: PHONG CÁCH NGHỆ THUẬT NGUYỄN CÔNG HOAN 71

3.1 Giới thuyết về phong cách 71

3.2 Nét độc đáo về phong cách Nguyễn Công Hoan 72

3.2.1 Tư tưởng nghệ thuật - quan niệm về hiện thực và con người 72

Trang 5

3.2.2 Ngôn ngữ 74

3.2.3 Lối kể chuyện, dẫn truyện 79

3.2.4 Sử dụng đậm đặc các thủ pháp nghệ thuật 83

3.3 Những yếu tố tạo nên phong cách Nguyễn Công Hoan 88

3.3.1 Tài năng của bản thân 88

3.3.2 Môi trường gia đình, xã hội 90

3.3.3 Thế giới quan của nhà văn 91

3.3.4 Ý thức kế thừa truyền thống 92

KẾT LUẬN 95

TÀI LIỆU THAM KHẢO 97

Trang 6

MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài

1.1 Nguyễn Công Hoan là nhà văn thuộc lớp kỳ cựu Ông sáng tác ngay từ

buổi binh minh của nền văn xuôi "Quốc ngữ" - khi mà văn xuôi "Quốc ngữ" còn đang

chập chững những bước đi đầu tiên Ông cũng là cây bút tiêu biểu và xuất sắc của trào lưu văn học hiện thực phê phán Việt Nam trước Cách mạng Tháng 8 năm 1945 đồng thời là một trong những người đặt nền móng cho nền văn xuôi Việt Nam hiện đại Sáng tác của ông đã góp phần quan trọng vào sự phát triển mạnh mẽ của văn xuôi dân tộc trong thời kì đang trên đường hiện đại hóa hết sức khẩn trương Nhà văn Tô Hoài khi đánh giá về sự nghiệp văn chương, về vị trí của Nguyễn Công Hoan trong tiến trình

lịch sử văn học dân tộc đã viết: "Nếu ta nhẩm từ cái hồi mà lời văn bổng trầm khóc

đứng khóc ngồi đến thời kì văn chương sạch sẽ kiểu Tự Lực thì lực lưỡng như một tay

đô vật không có địch thủ, từ Kiếp hồng nhan đến nay, truyện ngắn, truyện dài Nguyễn Công Hoan sừng sững tạo thành một cái thế Tam Đảo, Ba Vì hùng vĩ, vượt qua hai thời kì tiến vào Cách mạng tháng 8 " (Người bạn đọc ấy) Các sáng tác của Nguyễn

Công Hoan không chỉ chiếm được cảm tình, sự quan tâm, yêu mến của bạn đọc lúc bấy giờ mà còn cho đến tận ngày nay nó vẫn còn nguyên sự lôi cuốn đó

Nguyễn Công Hoan là nhà văn có một nguồn cảm hứng dồi dào, một sự nghiệp sáng tác hết sức đồ sộ Cả cuộc đời viết văn gần 60 năm, ông đã để lại cho nền văn học Việt Nam hơn 200 truyện ngắn, gần 30 truyện dài và nhiều bài nghiên cứu phê bình văn học nghệ thuật, cùng với những tập hồi ức, tự sự mang dấu ấn lịch sử của thời đại mà ông sống Mặc dù sáng tác nhiều thể loại khác nhau nhưng thể loại thành công hơn cả, ghi dấu tên tuổi của ông trong nền văn học dân tộc lại là thể loại truyện ngắn Nói đến Nguyễn Công Hoan người ta thường nhớ đến một bậc thầy về thể loại truyện ngắn

1.2 Truyện ngắn Nguyễn Công Hoan mở ra trước mắt người đọc một thế giới nghệ thuật mới lạ Với cách thể hiện tài tình của mình, ông đã vẽ lên một bức tranh hiện thực nhiều màu, nhiều vẻ của cái xã hội thực dân nửa phong kiến lố lăng, kệch cỡm, đầy bất công, ngang trái Ngòi bút của Nguyễn Công Hoan hướng tới mọi loại

Trang 7

người thuộc mọi tầng lớp khác nhau trong xã hội: từ bọn địa chủ, quan lại, bọn tư sản, nhà giàu đến những người thuộc tầng lớp nhà nho lỗi thời và những người dân lao động nghèo khổ

Nguyễn Công Hoan được coi là "cây bút bậc thầy", "một tài năng lớn" về nghệ thuật viết truyện ngắn Nhà nghiên cứu Xô Viết N.Niculin đã từng nói: "chính

trong loại truyện ngắn trào phúng đó, thiên tài xuất sắc của nhà văn mới được nảy

nở hết sức mạnh mẽ" Đọc truyện ngắn của Nguyễn Công Hoan ta thấy nhà văn đã

xây dựng và khẳng định được một phong cách riêng của mình Truyện ngắn của ông không giống với truyện ngắn của Thạch Lam chứa đầy chất thơ ngay trong chính cuộc sống hàng ngày, nhẹ và thấm; cũng không giống với truyện ngắn Nam Cao quá đỗi chân thực mà ta tưởng như đó chỉ là cuộc đời thực không hề hư cấu nhưng lại mang ý vị triết lí sâu xa Truyện ngắn Nguyễn Công Hoan thuộc loại hồn nhiên, mặn

mà, có cái hóm hỉnh thông minh của một trí thức tiểu tư sản Tiếng cười trào phúng trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan không thuộc loại nhẹ nhàng, thâm trầm mà thường giòn giã, sảng khoái ném thẳng vào mặt kẻ thù Cho đến nay, nghệ thuật truyện ngắn của Nguyễn Công Hoan vẫn luôn được các nhà nghiên cứu, phê bình, các độc giả thế hệ sau quan tâm tìm hiểu

Trong sáng tác văn học, nghệ thuật là một yếu tố vô cùng quan trọng Chính nghệ thuật cùng với nội dung đã làm lên tác phẩm văn học của nhà văn Nghệ thuật là toàn bộ những yếu tố về mặt hình thức của tác phẩm như là cốt truyện, kết cấu, nhân vật, lời văn, các biện pháp nghệ thuật Nghệ thuật chính là cái để nhà văn thể hiện, truyền tải nội dung tác phẩm Nghệ thuật quyết định việc nội dung tác phẩm ấy - cái hiện thực mà nhà văn muốn thể hiện có gây được ấn tượng mạnh, sâu sắc trong lòng người đọc hay không và tác phẩm đó có sống mãi với thời gian được hay không Đọc truyện của Nguyễn Công Hoan ta thấy nhà văn rất chú ý đến vấn đề: làm thế nào để xây dựng được một nghệ thuật độc đáo nhằm có thể truyền tải được những nội dung

mà mình muốn thể hiện một cách có hiệu quả nhất Có thể nói, chính nghệ thuật đã làm nên thành công về thể loại truyện ngắn của Nguyễn Công Hoan

1.3 Trong khoa học giáo dục Việt Nam, Nguyễn Công Hoan là một trong số những tác giả tiêu biểu được đưa vào chương trình giảng dạy ở nhà trường, đặc biệt là

Trang 8

trong chương trình của bậc cao đẳng và đại học Thực hiện đề tài này, chúng tôi mong muốn có thể đóng góp một cách đọc - hiểu mới tác phẩm của nhà văn Nguyễn Công Hoan nói riêng cũng như tác phẩm của các nhà văn khác nói chung Điều này góp phần bổ sung và làm mới cách thức tiếp cận văn học cũng như công tác giảng dạy của chúng tôi trong nhà trường Đó là khi tiếp cận một tác phẩm của một nhà văn,

ta không chỉ tiếp cận từ phương diện nội dung mà còn cần thiết phải tiếp cận từ phương diện nghệ thuật của tác phẩm Với hướng tiếp cận tác phẩm văn chương từ phương diện nghệ thuật sẽ giúp cho chúng ta hiểu sâu sắc hơn về tác phẩm, từ đó nhận ra phong cách, cá tính sáng tạo của nhà văn

Đó là những lí do khiến chúng tôi quyết định chọn đề tài "Nghệ thuật truyện

ngắn Nguyễn Công Hoan trước Cách mạng Tháng 8 năm 1945", nhằm tìm ra nét đặc

trưng trong phương diện nghệ thuật, thể hiện sức sáng tạo và sự khác biệt của Nguyễn Công Hoan so với các nhà văn khác

2 Lịch sử vấn đề

Ngay từ khi những truyện ngắn đầu tiên mới ra đời, nó đã gây được sự chú ý

của dư luận Đặc biệt là sau khi tập truyện Kép Tư Bền được xuất bản năm 1935 thì

truyện ngắn của ông càng được giới nghiên cứu quan tâm, chú ý Từ đó đến nay đã có rất nhiều công trình nghiên cứu, tìm hiểu, đánh giá về nội dung - nghệ thuật của truyện ngắn Nguyễn Công Hoan, trong đó những công trình nghiên cứu về nghệ thuật chiếm số lượng chủ yếu Sau đây là một số nhận định, đánh giá mà chúng tôi thống

kê được có liên quan đến nghệ thuật truyện ngắn Nguyễn Công Hoan trước Cách mạng Các tài liệu, nhận định này được chia làm 2 giai đoạn:

Năm 1935, Trần Hạc Đình khi phê bình Kép Tư Bền in trên báo Bắc Hà tháng

8 đã viết: "Cái biệt tài viết tiểu thuyết của Nguyễn Công Hoan chỉ có ở trong truyện

Trang 9

ngắn Nguyễn Công Hoan là nhà văn ưa tả, ưa vẽ cái xấu xa, hèn mạt, đê tiện của một hạng người xưa nay vẫn đeo cái mặt lạ giả dối Ông không hề có tỉ mỉ, lôi thôi như phần nhiều các nhà văn tả chân Vậy mà từ một lời nói, từ một cử chỉ của những nhân vật trong truyện đều như chép nguyên sự thực Ông làm sống một cách sinh động những nhân vật" [15, tr.40].

Cũng trong năm này trước những ý kiến khen chê trái ngược nhau thì phái Nghệ thuật vị nhân sinh, tiêu biểu là Hải Triều đã đánh giá rất cao nội dung hiện thực

và giá trị nghệ thuật trong truyện ngắn của Nguyễn Công Hoan Hải Triều đã tỏ ra rất

nhạy cảm trong việc cảm thụ nghệ thuật gây cười của nhà văn: "với những câu văn

rất thành thực, chắc chắn, hý hởn, ngộ nghĩnh, nhiều khi cục cằn, thô bỉ nữa" và "Cái chủ trương nghệ thuật vị nhân sinh của tôi ngày nay đã được biểu hiện rõ bằng những bức tranh rất linh hoạt dưới ngòi bút tài tình của nhà văn Nguyễn Công Hoan" [58, tr.277]

Phái Nghệ thuật vị nghệ thuật mà đại diện là Hoài Thanh cũng khen truyện ngắn Nguyễn Công Hoan Đặc biệt là khi nói về nghệ thuật kể chuyện của Nguyễn

Công Hoan ông viết: "Tài nghệ của nhà văn là ở cách kể chuyện Nguyễn Công

Hoan đã khéo lấy những điều quan sát có ý vị lắp vào những cốt truyện không có

gì Đó là cái đặc sắc của ông" và "Tài quan sát của Nguyễn Công Hoan trước sau không thay đổi mấy nhưng nghệ thuật của ông thay đổi rất nhiều" [57, tr.265-

268] Cùng với Hoài Thanh thì Thiếu Sơn trong "Phê bình Kép Tư Bền của

Nguyễn Công Hoan" cũng đã đánh giá cao nghệ thuật viết truyện của Nguyễn

Công Hoan: "Cái đặc sắc của Nguyễn Công Hoan là ở chỗ ông biết quan sát

những gì xung quanh mình, biết kiếm ra truyện tức cười, biết vẽ người bằng những nét ngộ nghĩnh, thần tình Biết vấn đáp bằng những giọng hoạt kê lí thú và biết kết cấu bằng những tấn bi hài kịch" [54, tr.275]

Năm 1936, Lê Tràng Kiều lại đưa ra ý kiến trái ngược khi đánh giá về truyện ngắn Nguyễn Công Hoan Ông chê nội dung truyện Nguyễn Công Hoan cũng chẳng

ra gì: "Nguyễn công Hoan, theo chúng tôi chỉ là một anh Kép hát được vài câu bông

nhơn có duyên thế thôi"

Năm 1939, Trương Chính trong "Dưới mắt tôi" bên cạch việc cho rằng:

"Nguyễn Công Hoan chỉ là một anh pha trò, tàn nhẫn, tinh quái, thô lỗ" thì đã đánh

Trang 10

giá rất cao một số ưu điểm của Nguyễn Công Hoan như: "tài quan sát tinh vi", "cách

đáng về Nguyễn Công Hoan ở cả hai thể loại: "Người ta nhận thấy Nguyễn Công

Hoan sở trường về truyện ngắn hơn truyện dài Trong các truyện dài có nhiều chỗ lúng túng rồi ông kết thúc giản dị quá, không xứng với một truyện to tát ông dựng Trái lại ở truyện ngắn ông tỏ ra là một người kể chuyện có duyên Phần nhiều truyện ngắn của ông linh động lại có nhiều cái bất ngờ, làm cho người đọc khoái trá vô cùng Những truyện ngắn của ông tiêu biểu cho một thứ văn rất vui, thứ văn

mà có lẽ từ ngày nước Việt Nam có tiểu thuyết viết theo lối mới, người ta chỉ thấy

ở ngòi bút của ông thôi" [53, tr.979]

Qua nhận xét đó có thể thấy, Vũ Ngọc Phan là một trong số ít những nhà nghiên cứu trước Cách mạng nhìn nhận một cách thấu đáo về nhân vật cũng như ngòi bút xây dựng truyện của Nguyễn Công Hoan

Như vậy, ngay từ giai đoạn trước Cách mạng, truyện ngắn của Nguyễn Công Hoan đã được giới nghiên cứu, phê bình quan tâm và đã có nhiều ý kiến trái chiều nhau về giá trị của truyện ngắn Nguyễn Công Hoan nhưng chúng ta thấy khen vẫn nhiều hơn chê Những người ở cả hai phái Nghệ thuật vị nhân sinh và Nghệ thuật vị nghệ thuật và ngay cả những nhà phê bình không nằm trong hai trường phái này như Hạc Đình, Thúc Thuận cũng đều thừa nhận nghệ thuật viết truyện tài tình của Nguyễn Công Hoan

2.2 Giai đoạn sau Cách mạng Tháng 8

Sau Cách mạng Tháng 8, công tác nghiên cứu, phê bình có một bước phát triển mới Sự nghiệp văn học của Nguyễn Công Hoan đã được đánh giá cao hơn, xác đáng hơn Các công trình nghiên cứu, các giáo trình đại học, các bài báo, tạp chí và gần đây là những luận văn thạc sĩ, tiến sĩ đã đi sâu nghiên cứu, tìm hiểu về nhiều khía

Trang 11

cạnh, nhiều mặt trong truyện ngắn của ông như là về tiếng cười, thế giới nhân vật, tính kịch, ngôn ngữ, lời văn

Năm 1957, khi đánh giá về nghệ thuật trào phúng của Nguyễn Công Hoan,

Trương Chính đã có nhận xét chưa đúng về truyện ngắn của ông: "kể cũng buồn cười,

Nguyễn Công Hoan là một nhà mô phạm lâu năm như thế, nhưng trong văn chương ông không nghiêm túc tí nào cả Âu đó cũng là hai mặt của một con người và trong nhiều truyện của ông tiếng cười làm dịu mất nỗi chua xót, đánh tan mất lòng căm phẫn" Tuy nhiên đa số các nhà nghiên cứu đều có những đánh giá xác thực, đúng

đắn về truyện ngắn của Nguyễn Công Hoan

Năm 1968, tác giả Nguyễn Đức Đàn đã đưa ra nhận định về các khía cạnh như

là độ dài của truyện, lời văn, cốt truyện, kết cục của truyện ngắn Nguyễn Công Hoan:

"Về nghệ thuật viết truyện ngắn phải nói rằng Nguyễn Công Hoan là người có nhiều khả năng và kinh nghiệm Truyện của ông thường rất ngắn Lời văn khúc chiết, giản

dị Cốt truyện được dẫn dắt một cách có nghệ thuật để hấp dẫn người đọc Thường kết cục bao giờ cũng đột ngột Mỗi truyện thường như một màn kịch ngắn có giới thiệu, thắt nút và mở nút Cố nhiên không phải tất cả mọi truyện đều đạt cả Nhưng thường thì những truyện không đạt chủ yếu là do nội dung tư tưởng" [7, tr.71-88]

Và ông cũng đưa ra nhận xét về thế giới nhân vật trong truyện ngắn của

Nguyễn Công Hoan: "Với một số lượng khá lớn như vậy truyện ngắn Nguyễn Công

Hoan hợp thành một bức tranh rộng lớn khá đầy đủ về xã hội cũ Hầu hết trong xã hội thực dân phong kiến đều có mặt: nông dân, công nhân, tiểu tư sản, trí thức làm các nghề tự do như thầy thuốc, làm báo, nhà văn, nhà giáo, các nghệ sĩ, rồi tư sản, nhà buôn, nhà thầu khoán, địa chủ, quan lại, cường hào, nghị viên, công chức, học sinh, cô đào, nhà thổ, đứa ở, phu xe, kẻ cắp, anh hát xẩm, chị bán hàng rong, binh lính, bồi bếp từ các giai cấp bị áp bức, bóc lột, các giai cấp thống trị và các tầng lớp trung gian cho đến những người ở dưới đáy của một xã hội hết sức phức tạp" [7]

Năm 1973, Nguyễn Trác khi nói về thế giới nhân vật của Nguyễn Công Hoan

đã đưa ra nhận định đó là "thế giới những kẻ khốn khổ, đáng thương", còn về cách viết thì "văn ông giản dị, tự nhiên và đậm đà màu sắc dân tộc Ông biết sử dụng ngôn

ngữ hợp với tâm lí các nhân vật thuộc nhiều hạng khác nhau trong xã hội"

Trang 12

Năm 1974, Vũ Ngọc Khánh trong "Thơ văn trào phúng Việt Nam" đã nhận xét

về thủ pháp nghệ thuật gây cười của Nguyễn Công Hoan: "Thủ pháp quen thuộc và

độc đáo của Nguyễn Công Hoan là hay làm cho bộ mặt đối tượng trở lên méo mó hơn, lố bịch hơn để bản chất ti tiện của nó được nổi rõ hơn Tuy vậy nụ cười phũ phàng này nhiều lúc cũng rơi vào đối tượng không đáng châm biếm hoặc sa vào chủ nghĩa tự nhiên ngoài ý muốn của tác giả" [39, tr.375]

Năm 1976, Phong Lê trong cuốn "Văn và Người" đã nhận định tiếng cười của Nguyễn Công Hoan là "Một thứ vũ khí Ông đứng trên tất cả mà cười Cười với mọi

cung bậc: hả hê, khoái trá, chua chát, chế giễu, khinh bỉ, đau xót, căm giận Có cái cười ra nước mắt của một tấm lòng ưu ái nhân hậu Nhưng lại cũng có cái cười để

mà cười của một người vô tình hay vô tâm, thậm chí có khi lạc điệu Cho nên cần thấy được cái nét đặc sắc trong cái cười của Nguyễn Công Hoan, nhưng cũng phải thấy không phải cái cười nào của ông cũng đúng chỗ và có ý nghĩa" [42, tr.87]

Năm 1977, tập thể tác giả cuốn "Lược thảo Lịch sử văn học Việt Nam 1930 -

1945" đã nhận xét: "Ông sở trường về cách mô tả tư cách hèn hạ, đê tiện hết chỗ nói của bọn quan lại sâu mọt, bọn nha lại hãnh tiến giàu có sang trọng và khinh người" [3, tr.101]

Năm 1978, Nguyễn Đăng Mạnh trong "Con đường đi vào thế giới nghệ thuật

của nhà văn" đã nhận xét về nghệ thuật kể chuyện của Nguyễn Công Hoan: "Đọc truyện ngắn Nguyễn Công Hoan thấy tài hoa của ông chủ yếu dồn vào cốt truyện và cách kể chuyện ( ) Ông có một cái duyên kể chuyện hết sức hấp dẫn ( ) Phương thức kể chuyện biến hóa, tài vẽ hình, vẽ cảnh sinh động, khả năng dựng đối thoại có kịch tính, giọng kể chuyện tự nhiên hoạt bát, lối ví von so sánh độc đáo, cách chơi chữ táo bạo, dí dỏm ( ) Nhưng về đại thể bí quyết chủ yếu vẫn là nghệ thuật dẫn dắt tình tiết sao cho mâu thuẫn trào phúng, tình thế hài hước bật ra ở cuối tác phẩm một cách đột ngột bất ngờ" [50, tr.107]

Năm 1979, Lê Thị Đức Hạnh - người đã dành nhiều tâm huyết nghiên cứu

về Nguyễn Công Hoan trong "Tìm hiểu truyện ngắn Nguyễn Công Hoan" đã viết:

"Đề tài và các vấn đề xã hội mà Nguyễn Công Hoan nêu ra trong truyện trào phúng của ông rất đa dạng, tạo thành những bức tranh giàu sức sống và sáng tạo,

Trang 13

đem lại cho độc giả những cảm xúc lí thú, bất ngờ" [24, tr.136] và "Nguyễn Công Hoan đã có một nếp cảm nghĩ riêng, xây dựng được hàng mấy trăm truyện ngắn, với biết bao nhiêu kiểu cười làm cho độc giả thì khoan khoái, hả hê mà đối tượng

bị đả kích thì cay cú, ê chề Nhà văn có nhiều cách để tạo nên những cốt truyện mang chất trào phúng" [25, tr.140]

Và trong công trình "Nghệ thuật viết truyện ngắn đặc sắc và độc đáo của

Nguyễn Công Hoan" Lê Thị Đức Hạnh cũng nhận xét: "Nguyễn công Hoan tiếp nhận phần lớn những hình ảnh hay, tốt, gạn lọc lấy những phần tinh túy, nhuần nhuyễn vào ngòi bút, tạo thành một phần máu thịt trong câu văn của ông ( ) Ngôn ngữ Nguyễn Công Hoan là ngôn ngữ của quần chúng được chọn lọc và nâng cao, đậm hương vị ca dao, tục ngữ, có khi tác giả đưa ca dao, tục ngữ vào truyện một cách rất

tự nhiên thoải mái Những chữ dùng của ông thường giản dị, giàu hình ảnh - cụ thể,

so sánh, ví von làm cho người đọc dễ có liên tưởng thú vị" [24, tr.394]

Năm 1983, Phan Cự Đệ khi nhận xét về cấu trúc tác phẩm của Nguyễn Công

Hoan đã viết: "Nguyễn Công Hoan là người có phong cách truyện ngắn độc đáo ( ),

biết tổ chức cấu trúc chặt chẽ và thay đổi hình thức cấu trúc linh hoạt" Truyện

Nguyễn Công Hoan "bộc lộ những mâu thuẫn giữa bản chất và hiện tượng, giữa nội

dung và hình thức để làm bật lên tiếng cười đả kích ", "có nhiều nét gần gũi với truyện cười dân gian Chú ý xây dựng cốt truyện hơn là xây dựng nhân vật" và

thường "dấu cái sự kiện trung tâm mang chủ đề, chỉ ở mấy câu cuối cùng, thậm chí

có khi ở năm sáu chữ cuối cùng tác giả mới đột ngột trở lại với nó"

Năm 1988, Nguyễn Hoành Khung trong "Từ điển văn học" đã nhận xét: "Về

mặt nghệ thuật, Nguyễn Công Hoan tỏ ra khá già dặn, độc đáo trong thể loại truyện ngắn trào phúng Ông giỏi phát hiện ra những tình huống mâu thuẫn đáng cười và có cách kể chuyện thật tự nhiên, có duyên, hấp dẫn với một ngôn ngữ sinh động, rất gần với khẩu ngữ hàng ngày không chút gì sách vở" [40, tr.1114] Và trong Văn học Việt

Nam 1930 - 1945: "Nguyễn Công Hoan xứng đáng được coi là "cây bút bậc thầy",

"với một tài năng lớn" chủ yếu thể hiện ở thể loại truyện ngắn" [41, tr.370], "Có thể nói, sự nhạy bén đặc biệt trước những mâu thuẫn trào phúng trong đời sống là một đặc điểm quan trọng nhất trong tư duy nghệ thuật Nguyễn Công Hoan" [41, tr.371]

Trang 14

Đồng thời Nguyễn Hoành Khung cũng giải thích rằng tính trào phúng ở Nguyễn

Công Hoan là thuộc về "năng khiếu thiên bẩm", là sự kế thừa truyền thống trào phúng

của văn học dân tộc

Cũng trong thời gian này, nhóm tác giả Trần Đình Hượu - Lê Chí Dũng

trong "Văn học Việt Nam giao thời 1900 - 1930" cũng đưa ra nhận định: "Nguyễn

Công Hoan, mỗi truyện ngắn chỉ khai thác một tình huống, một mâu thuẫn Ông biết cách đẩy mâu thuẫn lên thật cao rồi kết thúc đột ngột Câu văn của ông gọn, sáng sủa Đọc ông độc giả phân biệt rõ đâu là ngôn ngữ của tác giả, đâu là ngôn ngữ nhân vật và mỗi ngôn ngữ nhân vật đều có ngôn ngữ riêng của mình Với Nguyễn Công Hoan có thể nói, truyện ngắn hiện đại và ngôn ngữ nghệ thuật hiện đại đã hình thành" [4, tr.263]

Các nhà nghiên cứu như Nguyễn Văn Đấu, Nguyễn Minh Châu trong các công trình nghiên cứu của mình cũng đã đề cập đến vấn đề tính kịch trong truyện ngắn của Nguyễn Công Hoan nhưng mới chỉ đề cập một cách chung chung, chứ chưa

đi vào phân tích cụ thể những biểu hiện của tính kịch trong truyện ngắn của Nguyễn Công Hoan Cụ thể là:

Tác giả Nguyễn Văn Đấu trong bài viết "Chất kịch trong truyện ngắn Nguyễn

Công Hoan" có viết: "Kịch hóa trở thành cảm hứng, thành phương thức xây dựng tác phẩm, chi phối trực tiếp đến các cấu trúc cùng các thành tố cơ bản của các sáng tác Nguyễn Công Hoan, mỗi truyện ngắn của ông là một tình huống, một xung đột giàu tính kịch nhất"

Tác giả Nguyễn Minh Châu trong "Trang giấy trước đèn" cũng đã nhận xét:

"Truyện ngắn của Nguyễn Công Hoan hiện ra trước mắt chúng ta với những lớp lang

và đối thoại như trong một màn kịch"

Năm 2001, Trần Đình Sử và Nguyễn Thanh Tú trong cuốn "Thi pháp truyện

ngắn trào phúng Nguyễn Công Hoan" đã xem xét tính kịch ở nhiều khía cạnh: về

không gian - thời gian: "Nhà văn tổ chức xây dựng không gian và thời gian theo yêu

cầu của thể loại kịch Không gian trong truyện của ông thường hẹp, chật chội mang tính sâu khấu Thời gian bị dồn nén, căng thẳng phù hợp với kịch Thời gian, không gian nhằm tạo khung cho sự phát triển của cốt truyện, vì vậy chúng mang tính chất sân

Trang 15

khấu", về trần thuật "Trần thuật được kịch hóa tức trần thuật phải theo những quy tắc nhất định của nghệ thuật kịch", nhân vật cũng được xây dựng theo nguyên tắc kịch

Trên đây là những công trình nghiên cứu từ trước tới nay về nghệ thuật truyện ngắn Nguyễn Công Hoan trước Cách mạng Tuy nhiên những công trình này chỉ dừng lại ở việc nghiên cứu một khía cạnh, một yếu tố của nghệ thuật truyện ngắn Nguyễn Công Hoan chứ chưa có công trình nào nghiên cứu một cách toàn diện, sâu sắc và có hệ thống về toàn bộ nghệ thuật của truyện ngắn Nguyễn Công Hoan trước Cách mạng Qua những công trình trên chúng ta thấy, truyện ngắn của Nguyễn Công Hoan đã thu hút được đông đảo các nhà nghiên cứu, phê bình mọi thế hệ Từ kết quả nghiên cứu của những người đi trước, chúng tôi có được sự gợi mở, nhận xét, đánh giá tin cậy để triển khai nghiên cứu đề tài của mình

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu: Nghệ thuật truyện ngắn Nguyễn Công Hoan

- Phạm vi nghiên cứu: Truyện ngắn của Nguyễn Công Hoan trước Cách mạng tháng 8 năm 1945 (có so sánh với một số nhà văn hiện thực khác)

4 Mục đích nghiên cứu, nhiệm vụ nghiên cứu

- Mục đích nghiên cứu: Luận văn đi sâu nghiên cứu các phương diện nghệ thuật và phong cách truyện ngắn để thấy rõ cá tính sáng tạo của nhà văn, từ đó góp phần khẳng định vị trí của một đại biểu cho cả một khuynh hướng, một thể loại, một

phong cách Đồng thời qua đó, hiểu rõ hơn về "một cây bút bậc thầy", "một tài năng

lớn" ở thể loại truyện ngắn

- Nhiệm vụ nghiên cứu: tìm hiểu nghệ thuật truyện ngắn của Nguyễn Công Hoan trước Cách mạng một cách có hệ thống dưới góc độ thi pháp Từ đó tìm ra cái riêng của nhà văn trong sự đóng góp vào mảng văn học hiện thực và tiến trình phát triển của văn học dân tộc

5 Phương pháp nghiên cứu

Trong luận văn này, chúng tôi sử dụng những phương pháp nghiên cứu cơ bản sau:

5.1 Phương pháp khảo sát, thống kê, phân loại

Để thực hiện đề tài này chúng tôi tiến hành khảo sát toàn bộ các tác phẩm truyện ngắn của Nguyễn Công Hoan trước Cách mạng, tìm hiểu những khía cạnh,

Trang 16

những nét đặc sắc về nghệ thuật trong truyện ngắn của nhà văn Do đó chúng tôi vận dụng phương pháp khảo sát, thống kê, phân loại trong luận văn

5.2 Phương pháp hệ thống

Nghệ thuật truyện ngắn Nguyễn Công Hoan là một hệ thống cấu trúc bao gồm nhiều yếu tố có quan hệ chặt chẽ với nhau tạo thành Vì vậy, các vấn đề cụ thể, các yếu

tố, các khía cạnh được triển khai trong luận văn được đặt trong mối quan hệ hệ thống

5.3 Phương pháp đối chiếu, so sánh

Để chỉ ra những nét đặc sắc và những đóng góp của Nguyễn Công Hoan trên phương diện nghệ thuật truyện ngắn thì chúng tôi không chỉ tiến hành đối chiếu, so sánh trong nội bộ các sáng tác của Nguyễn Công Hoan mà còn mở rộng ra đối chiếu,

so sánh với các sáng tác của các nhà văn hiện đại khác nhằm làm nổi bật rõ đối tượng nghiên cứu

5.4 Phương pháp phân tích, tổng hợp

Từ việc khảo sát, phân tích tác phẩm ở các khía cạnh, vấn đề mà đề tài khoa học đặt ra, người viết chú ý đến những đặc sắc trong nghệ thuật để có thể làm hiện diện ra một phong cách riêng, độc đáo Và từ việc phân tích đó, chúng tôi có cơ sở để

đi đến những kết luận có tính chất tổng hợp, khoa học

6 Đóng góp của luận văn

Trên cơ sở khảo sát những truyện ngắn tiêu biểu của Nguyễn Công Hoan, luận văn tiến hành khảo sát nghệ thuật truyện ngắn Nguyễn Công Hoan, phân tích những nét độc đáo và khẳng định vai trò, giá trị của nó trong việc truyền tải nội dung Qua

đó góp phần khẳng định vị trí, tầm quan trọng của Nguyễn Công Hoan trong thể loại truyện ngắn hiện đại nói riêng và trong tiến trình lịch sử văn học Việt Nam hiện đại nói chung Nghiên cứu toàn bộ nghệ thuật truyện ngắn Nguyễn Công Hoan, luận văn

sẽ cung cấp một cái nhìn toàn diện, đầy đủ và có hệ thống về tất cả những mặt, những khía cạnh, những yếu tố thuộc về phương diện nghệ thuật của truyện ngắn Nguyễn Công Hoan trước Cách mạng Tháng 8 năm 1945

Trang 17

7 Cấu trúc luận văn

Ngoài phần Mở đầu, phần Kết luận và Thư mục tham khảo thì Luận văn gồm

có ba chương:

Chương 1: Nguyễn Công Hoan trong tiến trình văn học Việt Nam hiện đại Chương 2: Nguyễn Công Hoan - bậc thầy về nghệ thuật viết truyện ngắn Chương 3: Phong cách nghệ thuật Nguyễn Công Hoan

Trang 18

Chương 1 NGUYỄN CÔNG HOAN TRONG TIẾN TRÌNH VĂN HỌC VIỆT NAM HIỆN ĐẠI

1.1 Tiểu sử và quá trình sáng tác

Nguyễn Công Hoan sinh ngày 6 tháng 3 năm 1903 tại làng Xuân Cầu, huyện Văn Giang, tỉnh Bắc Ninh (nay thuộc tỉnh Hưng Yên), trong một gia đình quan lại phong kiến xuất thân khoa bảng bắt đầu sa sút Cha là Nguyễn Đạo Khang từng đỗ tú tài và làm Huấn đạo Vì nhà nghèo lại đông anh em nên ngay từ năm lên bốn Nguyễn Công Hoan

đã được cha gửi đến ăn học ở nhà bác là ông Phó bảng Nguyễn Đạo Quán (đỗ Phó bảng, được bổ làm tri huyện sau thăng lên tri phủ) Ông Nguyễn Đạo Quán là một người luôn nhận chăm sóc việc học hành của con cháu trong nhà và cũng là một người rất thích sưu tầm những phương ngôn, tục ngữ, ca dao, ngụ ngôn và soạn sách dạy chữ Nho với đề tài Việt Nam Đến ở nhà bác, Nguyễn Công Hoan thường xuyên được tiếp xúc với bà nội

Bà nội ông hay dạy truyền khẩu thơ phú, truyện cổ dân gian cho các cháu trong đó có Nguyễn Công Hoan cho nên những niêm luật của thơ ca, thanh điệu của ngôn ngữ và sự say mê văn học đã thấm dần vào ông ngay từ thời thơ ấu

Năm lên 6 tuổi, Nguyễn Công Hoan được bác cho học chữ Nho sau đó chuyển sang học chữ Pháp Chín tuổi, ông bắt đầu lên Hà Nội học ở trường Bưởi, trong khoảng thời gian học ở đây mặc dù không đăng báo nhưng ông đã bắt đầu viết văn (khoảng từ năm 1920) Đến năm 1922, ông thi đỗ vào trường Nam Sư phạm Những năm học ở đây Nguyễn Công Hoan được học văn học một cách tương đối có hệ

thống, nhất là văn học Pháp, còn về văn học cổ Việt Nam thì ông được học "toàn là

một loạt thơ trào phúng, nhạo đời" [31, tr.50] và ông cũng thừa nhận là "Được nhập tâm những thơ văn hay, tôi chịu ảnh hưởng của các bậc tiền nhân không nhỏ" [tr.50]

Năm ông 20 tuổi (tức là năm 1923) ông cho ra mắt tập truyện ngắn đầu tiên

với nhan đề "Kiếp hồng nhan" nhằm phê phán những cô gái ham giàu sang, sống bám vào ngoại kiều Tập truyện ngắn này chỉ mang tính chất "thử bút" của Nguyễn Công Hoan, ngay chính bản thân ông cũng đã từng nói trong "Đời viết văn của tôi" rằng tập truyện ngắn này "không có nghĩa lý gì, không có mục đích nào" [tr.81] và " toàn thể

Trang 19

cuốn sách không nổi lên một hướng nào về chính trị hoặc nghệ thuật" [tr.83] Tuy

nhiên, dù chưa thật rõ nét nhưng chúng ta cũng thấy ở tập truyện ngắn đầu tay này phần nào cái tinh thần, tư tưởng cơ bản của nhà văn

Năm 1926, Nguyễn Công Hoan tốt nghiệp trường Cao đẳng Sư phạm và bắt đầu đi dạy học - một nghề bị bạc đãi trong xã hội lúc bấy giờ Mặc dù là nghề bị xã hội bạc đãi nhưng trong số tất cả các nghề có thể làm thì Nguyễn Công Hoan lại yêu nghề dạy học, đơn giản vì theo ông đó là cách kiếm ăn ít nô lệ nhất Ít nhất thì làm thầy giáo cũng có thể làm chủ bản thân, có quyền quyết định mọi việc diễn ra trong lớp học mà không cần phải nghe theo mệnh lệnh hay luồn cúi bất kì ai Khi dạy học, xen lẫn vào các bài giảng của mình, ông lại trau dồi vào tâm trí những lớp học trò lòng yêu nước và giúp cho học trò hiểu sự thật của hoàn cảnh lịch sử đất nước ta lúc bấy giờ nhằm gợi sự căm giận đối với kẻ thù xâm lược và bán nước trong học trò

Năm 1928, ông gia nhập Việt Nam Quốc Dân Đảng cùng với Nguyễn Thái Học Và cũng bắt đầu từ đây, ông vừa dạy học vừa viết văn Khi tham gia tổ chức này

Nguyễn Công Hoan có điều kiện đọc các báo như: "Việt Nam hồn", "LE PARIA" (do Nguyễn Ái Quốc chủ trương) bên Pháp gửi về, những sách "Một bầu tâm sự" (của Trần Huy Liệu), "Tờ cớ mất quyền tự do" (của Trần Hữu Độ) từ Sài Gòn gửi ra và

những lịch sử về Giăng - đi, Tôn Văn, Phan Bội Châu, Lênin thậm chí có điều kiện tiếp xúc với cả những sách chính trị bị cấm nữa Qua đó ý chí chống đối và lòng căm thù đối với chế độ thực dân vốn đã có từ thuở nhỏ của ông ngày càng được bồi đắp hơn Bên cạnh đó, với việc làm nghề dạy học - một nghề mà theo quan niệm của mọi người là nghề hiền lành, không làm hại ai thì Nguyễn Công Hoan được mọi người tin tưởng, yêu quý; họ sẵn sàng thổ lộ, giãi bày với ông mọi uẩn khúc, nỗi niềm sâu kín trong lòng từ đó ông được biết, được hiểu rất nhiều cảnh ngộ, nhiều cuộc đời khác nhau trong xã hội Cộng với khả năng quan sát, lượm nhặt những hiện tượng trực tiếp xảy ra trước mắt trong thời kì này đã trở thành một vốn sống dồi dào, đó là kho tư liệu quý giá quyết định cả sự nghiệp sáng tác của ông

Đến năm 1930, Nguyễn Công Hoan có nhiều truyện đăng ở mục "Việt Nam

nhị thập thế kỷ xã hội ba đào ký" của tờ báo "An Nam tạp chí" do Tản Đà làm chủ

báo Những truyện của ông được độc giả chú ý, thích thú theo dõi, thậm chí có cả một

Trang 20

người viết bài khen ngợi nữa Chính điều đó đã kích thích khả năng, hứng thú sáng tác của ông Ngay sau đó, các báo như Nhật Tân, Nông công thương, Phong hóa cũng mời ông viết Ông đồng ý và gửi cho họ những tác phẩm cả truyện ngắn lẫn

truyện dài Năm 1934, "Tiểu thuyết thứ bảy" xuất bản, Vũ Đình Long đã mời ông viết bài cho báo Truyện đầu tiên mà ông gửi cho "Tiểu thuyết thứ bảy" là "Tôi chủ báo,

anh chủ báo, nó chủ báo" Điều mà Nguyễn Công Hoan không ngờ là cuối tháng ông

đã được nhận một khoản tiền nhuận bút kha khá Nó đã kích thích ông rất nhiều trong

sáng tác, bản thân ông cũng đã thừa nhận rằng: "cũng do ham tiền nhuận bút, cũng do

thấy mình viết sung sức" và "cũng do sự thúc giục khéo léo của Vũ Đình Long mà tôi viết được nhiều" [31, tr.177]

Năm 1935, tập truyện ngắn "Kép Tư Bền" (gồm 15 truyện) ra đời, tập hợp một

số truyện Nguyễn Công Hoan đã viết và đăng rải rác trên các báo trong mấy năm gần đấy Tập truyện có nội dung tiến bộ với nghệ thuật đặc sắc, tiêu biểu cho một xu hướng văn học mới Tập truyện ra đời lập tức đã gây được tiếng vang lớn, được nhiều báo chí khen ngợi Đặc biệt là nó đã gây lên cuộc bút chiến sôi nổi giữa hai trường

phái văn học lúc bấy giờ là phái "Nghệ thuật vị nhân sinh" do Hải Triều đứng đầu và phái "Nghệ thuật vị nghệ thuật" mà đại diện tiêu biểu là Hoài Thanh, Thiếu Sơn Riêng đối với chính bản thân Nguyễn Công Hoan, ông nói "việc cuốn Kép Tư Bền

được hoan nghênh làm tôi tin rằng tôi có thể viết nổi tiểu thuyết và tôi có thể theo đuổi được nghề viết văn" [31, tr.188]

Tháng 9/1936, ông đổi về dạy học ở trường Nam Định Tại đây ông có dịp tiếp xúc với công nhân của các nhà máy tơ, máy sợi Họ thường cung cấp cho ông những

đề tài để viết, cũng kể từ đây ông luôn luôn bị người của Sở mật thám theo dõi Và cũng trong năm này, ở Nam Định cũng như ở những nơi khác, nhiều chính trị phạm

bị nhà cầm quyền bắt trước đó đã được thả (do ở Pháp, Mặt trận bình dân lên nắm quyền), Nguyễn Công Hoan có cơ hội tiếp xúc với họ, cũng từ đây Đảng cộng sản Đông Dương đã có ảnh hưởng trực tiếp tới ông

Đến tháng 9/1939, Chiến tranh thế giới thứ II bùng nổ, Mặt trận bình dân không còn nắm quyền ở Pháp Ở Đông Dương cũng như ở Việt Nam, mọi hoạt động không còn được tự do như thời kì 1936 - 1939 nữa, chế độ kiểm duyệt sách báo được

Trang 21

tái lập Bọn thực dân do thấy ông viết một số tác phẩm có tinh thần phản chiến nên đã đến khám nhà ông và đưa ông ra tòa Nam án để kết tội nhưng vì ông có giấy khai sinh là người Hà Nội nên bản án của chúng không có hiệu lực Đây là thời kì mà gia đình cũng như cá nhân ông đã gặp rất nhiều khó khăn: trong nhà hết người này đến người kia bị thực dân bắt, các tác phẩm của ông bị kiểm duyệt rất gắt gao, phần lớn các tác phẩm không được xuất bản

Để tránh tình trạng bị "lừa" như đối với "Bước đường cùng", bọn chính quyền

không chấp nhận cho truyện của ông được kiểm duyệt theo từng hồi như trước mà phải đưa cả quyển rồi chúng mới quyết định cho in hay không Nhiều truyện của ông

đã bị cấm, kể cả những truyện đã đăng được mấy hồi trên báo (Cái thủ lợn) Tới khi phát xít Nhật vào Đông Dương thì chế độ kiểm duyệt càng khắt khe hơn Một loạt

truyện viết về những vấn đề liên quan đến chiến tranh mà ông lấy tên chung là "Hồi

còi báo động" đều bị kiểm duyệt xóa hết, truyện "Eu êu mê đo" cũng cùng chung số

phận Số truyện của ông in từ năm 1940 rất thưa thớt, có truyện được đăng nhưng lại

bị kiểm duyệt xóa mất từng đoạn mà chúng cho là không được phép Biết mình bị treo giò nên Nguyễn Công Hoan cảm thấy vô cùng chán ngán nhưng sau đó ông liền quay ra viết truyện của thiếu nhi, không dám lấy tên thật, ông ký tên là Ngọc Oanh Thấy lọt qua được kiểm duyệt, không bị làm sao ông nhận ra rằng không đề cập đến chiến tranh là được Từ đó, ông mạnh dạn kí tên mình và dần dần ông lấn tới viết truyện cho người lớn Không thể trực tiếp vạch mặt bọn quan lại thì ông lên án chúng bằng cách nêu gương những quan lại nổi tiếng tốt, thương dân thời trước để bạn đọc

so sánh sự khác nhau giữa xưa và nay: "Thanh đạm", "Danh tiết", "Nghịch cảnh"

Đúng theo suy đoán của ông, những tác phẩm này đều không gặp bất kì khó khăn gì

khi kiểm duyệt

Đầu năm 1945, Nguyễn Công Hoan bị Nhật bắt vì tội chính trị tại thị xã Thái Bình - nơi ông đang dạy học và được đưa về giam ở nhà giam Dầu Sen - Hà Nội (nay

là cơ quan của Ủy ban Khoa học nhà nước, số 39 đường Trần Hưng Đạo - Hà Nội) Ông bị giam cầm cho tới tận khi Cách mạng Tháng 8 nổ ra Trong thời gian ở tù ông được tiếp xúc với đủ mọi hạng người trong xã hội từ những người làm cách mạng cho

Trang 22

đến những kẻ đầu trộm đuôi cướp, thụt két lừa đảo, những bọn gác ngục và bọn giặc lùn Điều này đã cung cấp rất nhiều tư liệu thực tế cho quá trình sáng tác của ông

Tháng 8/1945, Cách mạng Tháng 8 thành công đã đem đến một cuộc sống hoàn toàn mới cho dân tộc, một niềm vui, một niềm tin mạnh mẽ cho nhân dân Gia đình ông cũng hòa vào niềm vui đó, những người trong gia đình ông bấy lâu bị chia lìa vì tù đầy và hoạt động bí mật nay đã dần dần trở về Ông được bầu làm Giám đốc

sở tuyên truyền Bắc bộ Trong quá trình công tác ông đã dần tìm được những tư liệu chính xác liên quan đến việc trồng đay và thu thóc của hai kẻ thù xâm lược là Thực dân Pháp và Phát xít Nhật - nguồn gốc gây ra nạn đói năm 1945 mà ông tận mắt

chứng kiến Dựa vào những tư liệu đó ông viết "Tranh tối tranh sáng"

Những năm đầu của cuộc kháng chiến chống Thực dân Pháp, Nguyễn Công Hoan đã tình nguyện gia nhập quân đội Ông liên tục hoạt động ở nhiều cương vị,

nhiều lĩnh vực khác nhau như là làm báo "Vệ Quốc Quân" rồi giám đốc trường Văn hóa quân dân, chủ nhiệm tờ "Quân dân học báo" Được tiếp xúc với những người chiến sĩ cách mạng, ông có thêm những mẫu nhân vật mới để viết "Đồng chí Tơ" (1946), "Xổng cũi" (1947), "Nông dân với địa chủ" (1955)

Đến năm 1954, hòa bình lặp lại trên miền bắc, ông trở về Hà Nội công tác trong Hội Văn nghệ Việt Nam và được bầu làm chủ tịch Hội Nhà văn Việt Nam khóa I (1957) Điều này tạo cho Nguyễn Công Hoan có nhiều thời gian cũng như

có nhiều điều kiện thuận lợi hơn cho việc sáng tác Thời kì này, ông tiếp tục viết nhiều bài cho các báo, đặc biệt là tập trung viết nhiều tiểu thuyết từ những gì mà ông tích lũy được về xã hội cũ trong suốt quá trình hoạt động trước đó Tiêu biểu

là "Tranh tối tranh sáng" (1956), "Hỗn canh hỗn cư" (1961), "Bà Năm đi tản cư",

"Đống rác cũ" (1963)

Kháng chiến chống Mỹ bùng nổ, mặc dù đã ở cái tuổi (có thể gọi là) xế chiều (65 tuổi) nhưng Nguyễn Công Hoan vẫn không hề chịu thua những nhà văn thuộc lớp sau, sức sáng tác của ông vẫn vô cùng dồi dào Từ những thực tế mới

của cuộc kháng chiến chống Mỹ ông viết những bộ tiểu thuyết "Anh con trai

người bạn đọc ấy", "nếu không có anh" (Xuất bản dưới tên "Một kiếp người" -

năm 1989) , "Trong ấy ngoài này"

Trang 23

Năm 1960, nhờ nghe những người thân kể lại mà Nguyễn Công Hoan đã viết

được hai bài bút kí hay, được đánh giá cao: "Những này tháng 8 ở Côn Đảo" và

"Người cặp rằng hầm xay lúa ở ngục Côn Lôn năm 1930"

Không chỉ sáng tác mà Nguyễn Công Hoan còn có rất nhiều công trình nghiên cứu nhằm cung cấp cho người đọc những nhận định, những tư liệu quý để khắc họa một chân dung văn học (ví dụ như Tú Mỡ, Tản Đà) hay xác định một văn bản, một tiểu sử Ông còn viết những bài nhằm đính chính lại xuất xứ hay viết chú thích cho các bài thơ cổ Điều này đã thể hiện rất rõ khả năng và hiểu biết của ông về thơ cổ

thật sâu sắc: "Con Người Tú Xương", "Về cuốn thơ văn Nguyễn Khuyến"

Tác phẩm tiêu biểu nhất của Nguyễn Công Hoan thời kì này là hồi kí "Đời viết

văn của tôi" (1971) dày 403 trang Đây là tác phẩm Nguyễn Công Hoan nhìn lại đời

viết văn của mình từ khi mới bắt đầu, vì tinh nghịch mà viết truyện đến khi trở thành một cây bút có tên tuổi Đồng thời qua đó, ông phác lại quá trình hình thành, phát triển của ngành Báo chí và Xuất bản Việt Nam trước Cách mạng Tháng 8

Ngoài những tác phẩm văn học, ông còn làm công việc của một nhà nghiên

cứu, cụ thể là ông tham gia vào công trình soạn thảo "Từ điển Tiếng Việt" do Ủy ban

Khoa học xã hội Việt Nam chủ trì Bài cuối cùng của ông xuất hiện trên báo Văn

nghệ là "Chữ nhà" - một trong những bài viết về Chữ và Nghĩa, một thể tài mà ông là

bộ sự nghiệp sáng tác của ông chúng tôi thấy rằng: không phải truyện của ông ngay

từ đầu đã được giới quan sát thừa nhận, ngay từ những tập truyện ngắn đầu tiên của

ông như "Kép Tư Bền" đã nhận được rất nhiều những ý kiến khen - chê khác nhau từ

những nhà phê bình thuộc nhiều trường phái khác nhau Và cũng không phải truyện

Trang 24

còn bị độc giả hiểu nhầm Khi cuốn "Thanh Đạm" ra đời năm 1942, ông đã bị dư luận cho là "tán dương quan trường" [31, tr.219], lúc đó ông đã rất "hậm hực, buồn bã hết

sức, đâm ra chán nản với nghề" [tr.220] và mãi đến tận hơn mười năm sau ông mới

tự mình thanh minh được) và bão táp của cường quyền (truyện của ông luôn bị kiểm duyệt gắt gao, mấy lần bị chính quyền Thực dân gọi ra tòa và cũng đã phải ngồi tù trong một thời gian khá dài) Mặc dù liên tiếp gặp bão táp nhưng ông không hề nản chí, vẫn luôn giữ trong mình một niềm tin để tiếp tục tạo ra những tác phẩm xuất sắc

Cả cuộc đời 57 năm cầm bút của ông đã gắn liền với số phận của dân tộc, gắn

bó với cách mạng Và cũng có thể khẳng định rằng ở thế hệ ông, ít có nhà văn nào lại phải trải qua những cảnh đời như ông đã từng thử thách và gánh chịu Trước Cách mạng Tháng 8, ông và gia đình luôn luôn phải sống trong sự theo dõi của bọn mật thám, rồi những vụ khám xét và bắt bớ, kết tội của chính quyền Thực dân đã khiến cho gia đình ông tan tác Ông thường xuyên phải tận mắt chứng kiến cảnh người thân của mình bị tra tấn, tù đầy Niềm đau xót của ông lên đến tận cùng khi nhận được tin người con trai cả đã hi sinh (trong kháng chiến chống Thực dân Pháp) khi anh mới ở

độ tuổi 20 Đó là người con mà ông yêu quý nhất, người con giống ông từ dáng hình đến tính cách con người, người con thông minh và đầy tài năng Không chỉ chứng kiến một người con ngã xuống mà cứ sáu tháng một lần trong những năm đầu của cuộc kháng chiến chống Thực dân Pháp, những người ruột thịt trong gia đình ông theo nhau hi sinh Kháng chiến chín năm gia đình ông đã hiến dâng cho Tổ quốc sáu người Nỗi đau đã không ngừng đến với ông và rồi không còn gì đau đớn hơn khi có tin rằng người con trai duy nhất còn lại của ông được lệnh đi chiến trường miền Nam chống Mỹ đã bị địch bắt và có thể đã bị thủ tiêu

Cuộc đời viết văn của Nguyễn Công Hoan mở ra sừng sững trước mắt người đọc nhưng không vì thế mà xa lạ, ngược lại nó rất gần gũi, thân thương với chúng ta Những trang viết, những dòng chữ, những nhân vật, những nỗi lòng sau mỗi lần đọc

ta không thể quên; chúng như đang tâm sự, như nói hộ nỗi lòng của cả một thế hệ người trong một giai đoạn khổ đau và hào hùng của dân tộc, như chia sẻ buồn vui, khích lệ họ vượt qua mọi trở ngại để vươn lên Cuộc đời nhà văn luôn sống mãi trong những trang viết Cuộc đời ấy đã chứng minh cho chúng ta thấy rằng: cái đáng tồn tại

Trang 25

sẽ được tồn tại, cái qua đi sẽ buộc phải qua đi và những gì còn đọng lại trong trái tim mọi người - cái đó sẽ không bao giờ mất

Cho đến ngày nay, các tác phẩm của Nguyễn Công Hoan đã được dịch ra rất nhiều thứ tiếng trên thế giới như: Liên Xô, Bungari, Hungari, Anbani, Trung Quốc, Tiệp Khắc, Cộng hòa dân chủ Đức, Cuba, Ấn Độ, Pháp, Nhật Bản, Tây Ban Nha trong đó có nhiều nước đã có những công trình nghiên cứu về ông và tác phẩm của

ông Đặc biệt tên của ông có trong từ điển "Bách khoa toàn thư Liên Xô" mục

"Danh nhân thế giới"

1.2 Đóng góp của Nguyễn Công Hoan trên phương diện thể loại

Thể loại văn học trong tiếng Pháp gọi là genre litte'raire còn tiếng Nga gọi là literaturnyi zhanr Theo Từ điển thuật ngữ Văn học : "Thể loại văn học

trong bản chất phản ánh những khuynh hướng phát triển vững bền, vĩnh hằng của văn học và các thể loại văn học tồn tại để gìn giữ, đổi mới thường xuyên các khuynh hướng ấy Do đó mà thể loại văn học luôn luôn vừa mới, vừa cũ, vừa biến đổi, vừa ổn định" [tr.300]

Các tác giả "Lí luận văn học" lại dựa vào các yếu tố ổn định mà chia tác phẩm

văn học ra thành các loại và các thể (thể loại, thể tài) khác nhau Loại rộng hơn thể, thể nằm trong loại Các nhà nghiên cứu cho rằng không một tác phẩm văn học nào là không nằm trong một loại nhất định nào đó và có một hình thức thể nào đó Họ cũng cho rằng tác phẩm văn học có ba loại là tự sự, trữ tình và kịch Mỗi loại trên lại bao gồm các thể khác nhau Chẳng hạn như : trong kịch có bi kịch, hài kịch, chính kịch , trong loại tự sự có truyện ngắn, truyện vừa, truyện dài, ngụ ngôn

"Thể loại là dạng thức tồn tại chỉnh thể của tác phẩm Cùng một loại nhưng các thể khác nhau rất sâu sắc Ngoài đặc trưng của loại, các thể còn phân biệt nhau bởi hình thức lời văn (thơ và văn xuôi), dung lượng (truyện dài, truyện ngắn ), loại nội dung cảm hứng (bi kịch, hài kịch, thơ trào phúng, thơ ca ngợi )" [tr.301]

Theo D.Li-kha-chốp thể loại văn học "là một phạm trù lịch sử Nó chỉ xuất

hiện vào một giai đoạn phát triển nhất định của văn học và sau đó biến đổi và được thay thế."

Trang 26

Trong giai đoạn từ 1900 - 1945, nền văn học Việt Nam đã đạt được nhiều thành tựu trên nhiều lĩnh vực như thể loại, nhân vật, đội ngũ sáng tác cũng như về nội dung phản ánh, rất nhiều cây bút tài hoa, có phong cách riêng, độc đáo đã xuất hiện như Nam Cao, Vũ Trọng Phụng, Nguyễn Tuân, Nguyên Hồng trong đó chúng

ta không thể không nhắc đến sự đóng góp của nhà văn Nguyễn Công Hoan về mặt thể loại Trong suốt mấy mươi năm cầm bút, ông đã sáng tác với nhiều thể loại khác nhau, từ truyện dài, tiểu thuyết, truyện ngắn đến các tác phẩm viết theo thể khác để rồi khi ra đi ông đã để lại cho nền văn học Việt Nam hiện đại một sự nghiệp văn học

đồ sộ với hơn 200 truyện ngắn, gần 30 truyện dài và nhiều bài nghiên cứu, phê bình văn học nghệ thuật cùng với những tập hồi kí, tự sự

Mặc dù sáng tác với nhiều thể loại khác nhau nhưng Nguyễn Công Hoan lại được các nhà nghiên cứu và độc giả nhận định và đánh giá là người có đóng góp lớn nhất và thành công nhất ở thể truyện ngắn Vì vậy mà khi đánh giá về vị trí của Nguyễn Công Hoan trong tiến trình lịch sử văn học dân tộc cũng như đánh giá về phong cách của ông chúng ta không thể bỏ qua truyện ngắn, thậm chí còn phải lấy truyện ngắn làm tiêu chí hàng đầu để nhận diện

Đóng góp đầu tiên của Nguyễn Công Hoan cho kho tàng truyện ngắn của dân tộc là về số lượng: hơn 200 truyện ngắn là một con số đồ sộ, hiếm có một nhà văn nào lại có sức sáng tác dẻo dai và lâu bền đến vậy

Nguyễn Công Hoan là người đặt nền móng cho văn học Hiện thực phê phán Việt Nam đầu thế kỉ XX, là người đặt cầu nối cho truyện ngắn cũ và truyện ngắn mới Thế giới truyện ngắn của Nguyễn Công Hoan rất phong phú, đa dạng, đặc biệt là đã phản ánh rất rõ hiện thực cuộc sống và con người Việt Nam những năm trước Cách mạng Đó là những cảnh xấu xa, bỉ ổi; những chuyện bất công, ngang trái và những con người ghê tởm, đáng khinh bỉ Truyện ngắn của ông khi mới đọc thì người đọc phải phá lên cười vì sự bất ngờ, thú vị nhưng ngay sau đó lại thấy chua chát, cay đắng Chính vì vậy mà ngay từ khi tác phẩm đầu tiên của ông ra mắt công chúng là

tập truyện "Kép Tư Bền" (1927) đã gây ra một cuộc chấn động trên văn đàn, dẫn đến một cuộc bút chiến gay gắt giữa hai trường phái văn học lớn lúc bấy giờ là Nghệ

thuật vị nghệ thuật và Nghệ thuật vị nhân sinh

Trang 27

Truyện ngắn của Nguyễn Công Hoan có những nét rất gần với truyện cười dân gian Ông đã tiếp thu, kế thừa được truyền thống lạc quan của nhân dân ta và thể hiện

nó trong các tác phẩm của mình thật đặc sắc: đó là dùng tiếng cười như một thứ vũ khí để tống tiễn những cái xấu xa, lạc hậu ra khỏi cuộc sống Ông đứng lên trên tất cả

để mà cười, ông cười ở mọi cung bậc: hả hê, khoái trá, chua chát, chế giễu, khinh bỉ, đau xót, căm giận Có cái cười ra nước mắt của một tấm lòng ưu ái, nhân hậu, cảm thông Nhưng cũng có cái cười chỉ để mà cười của một người vui tính hay vô tâm thậm chí là lạc điệu Đóng góp của ông trong truyện ngắn chính là ở cái cười phê phán, là xây dựng những nhân vật phản diện Nguyễn Công Hoan phê phán xã hội nhưng ông khác với Vũ Trọng Phụng ở chỗ là ông không phủ định sạch trơn, trong những tác phẩm của ông vẫn còn le lói một chút ánh sáng toát ra từ lòng tốt của

những con người lương thiện (cô giáo Minh, thầy giáo Nhượng )

Nếu như truyện ngắn của Thạch Lam tác động chủ yếu đến tình cảm của người đọc, truyện ngắn của Nam Cao đi sâu vào đời sống nội tâm của các nhân vật thì truyện ngắn của Nguyễn Công Hoan lại nâng cao khả năng nhận thức và khám phá những hiện thực vốn phức tạp của xã hội Chế độ Thực dân phong kiến đầy dẫy những mưu mô, toan tính; những giả dối, lố lăng và những kẻ tàn ác, thâm độc nhất là những tên quan lại, những kẻ giàu có lại luôn tỏ ra mình là người nghiêm chỉnh, mở miệng ra là nói đạo đức, nhân nghĩa Chính vì vậy mà hầu hết các truyện ngắn của Nguyễn Công Hoan đều nhằm bộc lộ những mâu thuẫn đó

Nguyễn Công Hoan không ngần ngại "công phá" vào thành trì của những

khuôn khổ giáo lí và tiếp nhận của văn học giai đoạn trước Đối với sự hình thành của Chủ nghĩa hiện thực trong văn học Việt Nam, các nhà nghiên cứu đều thống nhất với nhau về ý kiến cho rằng ông là người có vị trí, vai trò quan trọng trong việc hình thành Chủ nghĩa hiện thực Nguyễn Công Hoan đã dám một mình dùng ngòi bút của mình để viết về những chuyện xảy ra trong đời sống hàng ngày, về những số phận bất hạnh, cùng cực bị những thế lực tàn ác trong xã hội chèn ép, áp bức, bóc lột; bằng cái nhìn giễu cợt, đả kích chua cay; với một tấm lòng căm giận bọn cường quyền, áp bức đến tận xương tủy và sự cảm thông sâu sắc với những số phận bất hạnh Truyện ngắn Nguyễn Công Hoan hiện lên như một tấn trò đời phong phú, đa dạng

Trang 28

Trong thời kì các thể loại văn xuôi Việt Nam đang còn chập chững những bước đi đầu tiên với việc sử dụng chữ viết của dân tộc là chữ Quốc ngữ thì các tác phẩm truyện ngắn của Nguyễn Công Hoan có đóng góp quan trọng trong cách sử dụng từ ngữ và nghệ thuật viết truyện ngắn

Khi tổng kết về quá trình sáng tác truyện ngắn của Nguyễn Công Hoan, các

nhà nghiên cứu thường bỏ qua tập truyện "Kiếp hồng nhan" (in năm 1923) vì đây là tập truyện đầu tay mang tính thử bút của nhà văn Tuy nhiên, mặc dù tập "Kiếp hồng

nhan" không để lại tiếng vang đáng kể về sau nhưng trong tình hình văn học những

năm 20 - 30 đó, khi mà các thể loại văn xuôi như truyện ngắn cũng như tiểu thuyết hầu như chưa có gì mấy thì tập truyện này cũng gây được một sự chú ý và đóng góp nhất định Chính Nguyễn Công Hoan sau này khi nhắc đến đứa con đầu lòng ấy cũng

đã rất tự hào vì nó là "Cuốn sách đầu tiên gồm toàn truyện sáng tác chứ không phải

vừa soạn vừa dịch như những sách ra trước" [31, tr.81]

Đầu thế kỉ XX do quá trình giao lưu văn hóa và việc mở các trường học tiếng Pháp, dạy văn học Pháp của Thực dân Pháp mà trên văn đàn văn học Việt Nam giai đoạn này chủ yếu xuất hiện những tác phẩm dịch từ các tác phẩm nước ngoài hay những tác phẩm viết theo thể phóng tác (tức là dựa vào nhân vật, cốt truyện, tình tiết, cách viết của các tác phẩm văn học nước ngoài để sáng tác) Còn những tác phẩm sáng tác thực sự chưa có nhiều Việc những truyện ngắn của Nguyễn Công Hoan ra đời sớm hơn nữa lại vô cùng đặc sắc đã trở thành một định hướng lớn, chỉ đường cho các nhà văn khác cùng thời

Hầu như các nhà văn đầu thế kỉ đều sáng tác theo khuynh hướng lãng mạn, bay bổng, mơ mộng với những câu chuyện tình lãng mạn Thông qua các tác phẩm của mình, Nguyễn Công Hoan đã định hướng cho họ về cái nhìn cuộc sống, về xu hướng tiếp cận đời sống sao cho phù hợp với hiện thực cuộc sống, sao cho phản ánh được những vấn đề nóng bỏng, những ung nhọt của xã hội

Không chỉ định hướng cho các nhà văn cùng thời hướng tiếp cận đời sống, truyện ngắn Nguyễn Công Hoan còn giúp cho họ cách thức làm thế nào để truyền tải hiện thực cuộc sống một cách sắc nét, sinh động, hấp dẫn đó chính là nghệ thuật

Trang 29

viết truyện ngắn Nguyễn Công Hoan đã được đánh giá là bậc thầy viết truyện ngắn của văn học Việt Nam hiện đại

Truyện ngắn của Nguyễn Công Hoan hấp dẫn, sinh động là do nhà văn trong quá trình sáng tác của mình đã luôn luôn thay đổi các thủ pháp nghệ thuật, thay đổi màu sắc và các cung bậc tình cảm Có truyện tác giả viết nhằm gợi lên sự căm hờn

trong lòng bạn đọc (Sáng - chị phu mỏ), lại có truyện được viết nhằm tạo ra sự kinh tởm (Gói đồ nữ trang), có truyện lại được viết để làm thức dậy lòng thương người (Anh xẩm), cũng có những truyện chỉ đơn giản viết ra để cười khoái trá (Samandjil,

Anh hùng tương ngộ)

Nguyễn Công Hoan là người biết tổ chức cấu trúc chặt chẽ và thay đổi cấu trúc

rất linh hoạt Có những truyện là tấn bi hài kịch ba màn (Ai khôn, Đàn bà là giống

yếu, Một tấm gương sáng), có khi lại có sự trộn lẫn giữa bi - hài kịch (Thằng ăn cắp) , có truyện nhân vật không phải là người mà lại là một vật vô tri vô giác (Chiếc quan tài), có truyện tác giả lại tự nhận mình là nhân vật chính (Tôi tự tử)

Nhà văn cũng là một người có sở trường trong nghệ thuật khắc họa nhân vật, đặc biệt là nhân vật phản diện Với ngòi bút tài tình của mình ông đã làm cho các nhân vật hiện lên một cách sinh động, đặc biệt là qua hành động và lời nói dần dần bản chất của chúng được bộc lộ chân thực, bất ngờ

Truyện ngắn của Nguyễn Công Hoan rất tập trung, cô đọng, cảm hứng đi liền một mạch từ đầu đến cuối Nhà văn đã thực hiện rất điêu luyện hai đặc trưng cơ bản của thể loại truyện ngắn là ngắn (về hình thức) và thanh giản (về tinh thần) Mỗi truyện chỉ mô tả một cảnh, một việc, một nỗi lòng thậm chí nhiều khi còn không có chuyện gì Ông có lối viết văn lí luận rất Việt Nam, vừa giản dị lại vừa dí dỏm Nguyễn Công Hoan quan niệm viết truyện ngắn cũng giống như việc đánh cá bằng

lờ ở chỗ nước chảy Người đánh cá cắm đăng, chăng lưới rồi gõ cạnh cạnh để lừa cá

chui tọt vào hom Ví dụ như ở truyện ngắn "Đào kép mới" ta thấy có rất nhiều chi

tiết thú vị

Nhiều truyện ngắn của Nguyễn Công Hoan đã trở thành những tác phẩm văn

học "cổ điển" trong chương trình các cấp học ở trường phổ thông và đại học Nguyễn

Trang 30

Công Hoan đã gây ra một ảnh hưởng sâu đậm đối với nhiều nhà văn thế hệ sau như

Tô Hoài, Bùi Hiển, Nguyễn Khải, Chu An

1.3 Đóng góp của Nguyễn Công Hoan trên phương diện nội dung

Nội dung là một trong hai phương diện cơ bản thống nhất không thể tách rời của

các tác phẩm văn học Theo "Từ điển thuật ngữ văn học": "Nội dung tác phẩm là hiện thực

cuộc sống được phản ánh trong sự cảm nhận, suy ngẫm và đánh giá của nhà văn Đó là

hệ thống gồm nhiều yếu tố khách quan và chủ quan xuyên thấm vào nhau"

Thông qua các tác phẩm của mình, Nguyễn Công Hoan đã làm xuất hiện trước mắt người đọc một bức tranh xã hội nhiều màu sắc Ông đề cập đến mọi phương diện của đời sống: từ những cảnh thối tha, nhơ nhuốc, những thủ đoạn, mưu mô trong giới những người có thế lực, có địa vị đến những cảnh khốn khổ, cùng đường, không có tiền, bị áp bức, bóc lột của những kẻ thấp cổ bé họng trong xã hội; từ sự lố lăng, kệch

cỡm của những cô gái "tân thời" đến số phận bất hạnh nhưng vẫn toát lên sự trong

sạch trong tâm hồn của những người công nhân; từ những hủ tục vốn đè nặng lên tâm trí của những người ở chốn thôn quê đến những cảnh chạy chọt đủ mọi cách để leo

lên địa vị "người ngồi trên"

Trong cái xã hội thực dân nửa phong kiến - một xã hội bất công ngang trái, một xã hội mà đồng tiền có sức mạnh ngự trị rất lớn, nó có thể đổi trắng thay đen, làm người ta chết đi sống lại rất dễ dàng; một xã hội tràn ngập sự hiện diện của những tiệm hút, nhà chứa, sòng bạc thì những người dân lao động bị bóc lột đến tận xương tủy, thậm chí còn bị đẩy đến mức bần cùng hóa, cuối cùng dẫn đến tha hóa là những hiện tượng không khó tìm Những người dân nghèo trong cái xã hội đó phải chịu đựng rất nhiều nỗi đau khổ khác nhau, họ không chỉ khổ vì nghèo đói mà còn khổ vì

bị xúc phạm về nhân phẩm và bị trà đạp đến phũ phàng, không chỉ chịu nỗi đau về thể xác mà họ còn phải chịu những nỗi đau về mặt tinh thần, họ bị cái dư luận thành kiến bất công của cái xã hội đó gán cho đủ mọi thứ tội xấu xa mà tất cả điều đó suy

cho cùng cũng chỉ vì do nghèo đói mà ra (Thằng ăn cắp, Bữa no đòn, Thế cho nó

chừa, Hai thằng khốn nạn, Thằng ăn cướp )

"Kép Tư Bền" là truyện ngắn tiêu biểu, gây được ấn tượng mạnh ngay từ khi

mới ra mắt công chúng của Nguyễn Công Hoan Nhân vật chính là Tư Bền - một kép

Trang 31

hát có tài năng "Các ngài thích xem hát bội, hẳn chẳng ai là không biết tên kép Tư

Bền Ấy, anh ta chỉ nổi tiếng về cái tài bông lơn, lắm lúc ra sân khấu, chẳng cần nói một câu khôi hài nào, nhưng chỉ nhìn một cái điệu bộ cỏn con của anh ta, các khán quan cũng đủ phải ôm bụng mà cười, vỗ tay đồm độp." [tr.159], bà con Hà Thành hễ

đọc chương trình thấy có tên kép Tư Bền đóng " là cũng nô nức đi xem", cho nên

"những tối có hát có anh giúp, thì các ký viện đều trưng lên là buổi hát đặc biệt." Nhà

thì nghèo, bố thì ốm nặng, kép Tư Bền đành phải kí "giao kèo" với ông chủ rạp hát

"Kịch trường" Trong khi ở nhà cha anh bệnh rất nặng, có thể nguy hiểm đến tính

mạng bất cứ lúc nào, lòng dạ đau đớn, thấp thỏm không yên nhưng anh vẫn phải ra sức pha trò bông lơn trên sân khấu để làm cho đám khán giả có tiền ở dưới khán đài

kia được cười hả hê, sung sướng " Ban nãy, lúc anh ở nhà ra đi, đã thấy nguy lắm

rồi Thôi! Nhưng mà mặc kệ Anh phải quên đi, mà bông, mà đùa, mà pha trò trên sân khấu, cho chúng tôi cười, hét lên mà cười, cười đến nỗi phải lăn cả ra đất"

Số phận, hoàn cảnh của kép Tư Bền có lẽ cũng chính là số phận, hoàn cảnh của những người làm kép hát nói chung, vì phải kiếm tiền mà họ không được tự do trong cả việc khóc cười - một việc tưởng như rất đỗi tự nhiên của con người, trong lúc muốn khóc họ lại phải cười, trong lúc muốn cười họ lại phải khóc, chỉ vì sự cười khóc của họ đã được người ta mua bằng tiền mất rồi

"Ngựa người người ngựa" cũng là tác phẩm mang dư vị chua chát thấm thía,

đi vào tình huống oái oăm, dở khóc dở cười mà toát lên nỗi cay cực khốn khổ trong

xã hội đồng tiền như "Kép Tư Bền" Trong đêm giao thừa, một anh phu xe "đói"

khách đã không may đụng độ với một cô gái làng chơi cũng đang ế khách, phải đi tìm

khách Anh phu xe vừa mới ốm một trận "thập tử nhất sinh", "cố vay được cái vốn để

đi mua xe, kiếm bữa gạo để ăn tết" nhưng mời mỏi miệng mà chẳng có ai đi, mãi mới

có một người đi nhưng thật không may cho anh lại gặp phải "người đồng cảnh ngộ"

Cô gái giang hồ đó vì không tìm được khách nên đã quỵt tiền xe của anh, bỏ mặc anh lại trong đêm giao thừa sau khi bắt anh chạy liên tục suốt mấy tiếng đồng hồ, thậm

chí lại còn "vay không" của anh hai hào nữa Kết thúc truyện là sự bàng hoàng của

anh phu xe khi biết mình bị lừa, bao nhiêu hi vọng, bao nhiêu dự định của anh đều tan theo mây khói, lòng anh chết lặng đi, anh lủi thủi dắt xe đi giữa lúc tiếng pháo chào

Trang 32

đón năm mới nổ ran Đằng sau tiếng cười là niềm thương cảm chân thành của tác giả đối với số phận của những người nghèo

Bản thân Nguyễn Công Hoan là một nhà văn thuộc trào lưu Văn học hiện thực phê phán nên ông hiểu rất rõ một điều rằng trong cái xã hội Thực dân nửa nửa phong kiến thì dù ở nông thôn hay ở thành thị cũng đều tồn tại những ung nhọt đang ngày càng tấy lên nghiêm trọng, không thể che giấu được Hiểu sâu sắc điều đó, nhà văn đã không bỏ qua một cơ hội nào để vạch trần những ung nhọt xấu xa đó

Trong xã hội đồng tiền vô nhân đạo thì mọi giá trị đạo đức, mọi mối quan hệ tốt đẹp giữa người với người (không chỉ bên ngoài xã hội mà cả mối quan hệ, tình cảm giữa những người trong cùng gia đình như giữa con với cha, con với mẹ, anh chị

em trong nhà ) dường như đã bị mất đi, bị "tha hóa, biến chất" Cái thế thái nhân

tình trong xã hội giàu sang đó đã bị Nguyễn Công Hoan đả kích thẳng tay trong hàng

loạt truyện (Mất cái ví, Bà chủ mất trộm, Thế là mợ nó đi Tây, Báo hiếu: trả nghĩa

cha, Báo hiếu: trả nghĩa mẹ, Thằng điên )

"Mất cái ví" là truyện nói lên sự bạc bẽo của một ông Tham đối với ông cụ

cậu ruột của mình Chỉ vì sợ tốn kém, không muốn ông cậu ra nhà mình chơi mà

ông Tham đã "chơi trò mất cắp" với ông cậu và vật mất cắp là một chiếc ví trong đựng bốn mươi đồng bạc Mặc dù nói "mợ khẽ để ông ngủ" nhưng họ lại "làm điếc

cả tai"; mặc dù nói không dám nghi ngờ cho ông cụ nhưng lại đưa ra những lời lẽ

và dẫn chứng khiến mọi người đều nghĩ đến ông cụ Cuối cùng mục đích của ông Tham đã đạt được, ông cậu đã giận dữ bỏ đi và thề không bao giờ trở lại Kết thúc

tác phẩm là hành động "quẳng cái ví đánh bẹt xuống mặt phản" của ông Tham, ông

Tham quẳng cái ví xuống mặt phản như là ông đã quẳng xuống đất cái tình người, tình thân của mình vậy Nó là biểu hiện của sự bạc bẽo của con người trong cái xã hội mà đồng tiền chi phối

Hành động bất hiếu bất nghĩa, đạo đức giả tới mức kinh tởm của những "ông

chủ", "bà chủ" được thể hiện rõ nhất trong hai truyện ngắn "Báo hiếu: trả nghĩa cha"

và "Báo hiếu: trả nghĩa mẹ" Cả hai tác phẩm Nguyễn Công Hoan đều cho ta thấy sự

đối lập đến gay gắt trong hành động của vợ chồng ông bà chủ của hiệu xe Con Cọp

"Báo hiếu: trả nghĩa cha" là sự đối lập giữa hành động tổ chức một bữa tiệc linh

Trang 33

đình, mời mọc cho thực đông khách trong ngày giỗ bố của ông chủ với hành động vừa trợn mắt, vừa gắt, vừa mắng đối với một bà cụ rách rới, bẩn thỉu Bà cụ đó không

ai khác chính là mẹ ruột của ông chủ đây, bà đã phải đội mưa, đội gió trong thời tiết rét buốt để đến thăm con, thắp hương cho chồng Nào ngờ đến nơi, không những không được chào đón mà bà còn bị mắng, bị gắt, không được ăn cơm và bị đuổi về

ngay trong đêm tối Thậm chí, đứa con "có hiếu" đó còn tàn nhẫn đến mức cấm người làm không ai được kéo bà ấy, cho bà ấy đi bộ với mục đích "để bận sau mà chừa"

Tiếp nối "Báo hiếu: trả nghĩa cha" là truyện "Báo hiếu: trả nghĩa mẹ", ở truyện trước người đọc cũng đã thấy rõ cái hành động "có hiếu" của ông chủ hãng xe Con Cọp đối với mẹ đến mức nào rồi nhưng sang đến truyện "Báo hiếu: trả nghĩa

mẹ" này thì tác giả lại cho độc giả thấy rõ hơn sự "tận hiếu" của người con khi mẹ

qua đời Không ai rõ bà cụ vì sao mà chết, chỉ biết tờ cáo phó viết là "chẳng may thụ

bệnh" Đám ma được tổ chức hết sức linh đình, uy vệ, tiếng khóc than kêu gào thảm

thiết, người con trai thì "đi trước linh cữu thì giật lùi từng bước Lúc nào cũng bưng

miệng mà khóc, còng lưng xuống mà khóc, đến nỗi phải chống gậy.", người con dâu

kêu khóc đến khản cả cổ, đến lúc hạ huyệt vì không muốn "mất" mẹ mà nhảy đánh

tụp xuống, ôm chặt lấy quan tài mà hờ mà khóc, đến nỗi ngất cả đi Giá mà độc giả

không đọc "Báo hiếu: trả nghĩa cha" thì có lẽ khi đọc truyện này sẽ phải "khóc" mà

tấm tắc khen vợ chồng ông chủ hãng xe Con Cọp có hiếu thực nhưng tiếc rằng không thể như vậy Người đọc sẽ phải khóc nhưng là khóc cho cái bạc bẽo, giả dối của tình người, sức mạnh của đồng tiền đã làm tha hóa đi tất cả, thậm chí cả tình mẫu tử cũng không ngoại trừ

Khi phê phán tình trạng đồi bại của xã hội về mặt đạo đức, ngòi bút Nguyễn Công Hoan tỏ ra rất sắc sảo khi miêu tả sự lố lăng, kệch cỡm, nhõng nhẽo, đua đòi ăn

diện và yêu đương tự do của đám con gái "mới lớn" con nhà giàu Ông lên án một cách dứt khoát cái làn sóng "Âu hóa", "vui vẻ trẻ trung" đang lan tràn khắp nơi đó

Bản thân âu hóa không phải là xấu nhưng nếu âu hóa đến mức quá trớn và đặt trong tình cảnh lầm than của nhân dân ta lúc bấy giờ thì nó lại là xấu Xuất phát từ lập trường đạo đức, từ quan điểm xã hội, Nguyễn Công Hoan không thể khoan nhượng

Trang 34

với lối sống sa hoa, đú đởn, tự do quá trớn đó (Cô Kếu gái tân thời, Chồng cô Kếu

gái tân thời, Nỗi lòng ai tỏ, Oẳn tà roằn, Người vợ lẽ bạn tôi)

"Cô Kếu, gái tân thời" châm biếm thói đua đòi ăn diện đang là cơn sốt trong

đám thanh niên nhà giàu ở thành thị lúc bấy giờ Cô Kếu - một cô gái mới lớn, có nhan sắc, nhà giàu, cô luôn oán cha trách mẹ vì đã đặt cho cô cái tên xấu và quê mùa quá; cô phải nhờ người đặt hộ cho cái tên khác mĩ miều hơn, tân thời hơn là Bạch

Nhạn Cô luôn tỏ ra ganh tị với những cô bạn của mình và bực với mẹ "sao lại có bà

cụ nghiệt như mẹ cô bao giờ" Bà không cho cô ăn mặc theo lối tân thời mà "cứ bắt

na bắt nết, bắt tập những nết ăn, ý ở, bắt học những câu nói, việc làm" cũ Đến nỗi,

cô phải giấu mẹ "sắm một mẻ toàn những thứ tân thời" nhưng không dám để ở nhà

mà gửi ở nhà bạn, mỗi buổi chiều cô đến chơi nhà bạn để bận những đồ đó trong khoảng nửa giờ cho đỡ thèm rồi đi về Thậm chí, những hôm chẳng may trời đổ mưa,

cô không đi được thì "cô nóng ruột gan Mà cứ đến cái giờ ấy, quái lạ, cô nằm bẹp

dí, chẳng thiết làm cái phải gió gì cả"

"Oẳn tà roằn" là truyện kể về một người con gái chưa có chồng nhưng đã có

chửa, cô thề chung thủy với hết người này đến người khác, cô còn lấy cái chết ra để chứng tỏ sự chung thủy của mình Tất cả đều tin lòng chung thủy của cô nhưng thật

bất ngờ đến ngày sinh con thì tất cả những chàng trai đó phải "ngậm ngùi" thở dài mà

thất vọng vì đứa bé đó chẳng có một đặc điểm gì giống mình cả, nói một cách rộng

hơn nữa thì nó "không phải con Rồng cháu Tiên" Thằng bé có "nước da lại đen như

cái cột nhà cháy! Nó là giống Oẳn tà roằn không biết chống gậy" Thông qua câu

chuyện của mình nhà văn muốn vạch trần cái lối sống buông thả của một bộ phận thanh niên trong xã hội Thực dân nửa phong kiến ấy

Bên cạnh đó, Nguyễn Công Hoan còn đặc biệt đi sâu vạch trần cái hiện thực nhem nhuốc, tối tăm ở chốn quan trường Quan lại dưới ngòi bút của ông đều là những kẻ bất nhân, vô đạo, tàn ác và nhem nhuốc Chúng không chỉ hống hách bóp nặn của dân đen mà còn thẳng tay bóp nặn của cả đám thuộc hạ của chúng một cách

trắng trợn (Cái nạn ô tô, Đàn bà là giống yếu, Cụ Chánh Bá mất giày ), là những kẻ dâm ô, bỉ ổi "Vẫn còn trịnh thượng", "Chiếc đèn pin", "Nạn râu" là bộ ba truyện ngắn kể về những chuyện bê bối của một ông quan huyện "dê già", dám làm những

Trang 35

điều xằng bậy, bị bắt quả tang nhiều lần mà vẫn chứng nào tật ấy; ăn tiền một cách

trắng trợn dưới nhiều hình thức, thủ đoạn bẩn thỉu khác nhau (Thịt người chết, Thằng

ăn cướp, Cái nạn ô tô, Ngượng mồm, Gánh khoai lang, Chính sách thân dân )

"Thịt người chết" kể về thói "ăn bẩn" ghê tởm của một ông huyện tư pháp

Không chỉ là một tên quan vô trách nhiệm, người nhà của người xấu số lên báo quan

từ sáng chủ nhật nhưng đến tận 9 giờ sáng ngày thứ hai mới thấy "còi ô tô đằng xa

bỗng thét vang" và để có thể kiếm chác bỏ vào túi riêng của mình, ông huyện tư pháp

đã cố tình dây dưa, dọa dẫm người nhà nạn nhân, không cho chôn ngay (mặc dù cái xác chết đó đã trương thối lên rồi) Hắn lại còn thản nhiên mặc cả số tiền đút lót ngay

ở hiện trường nữa Chi tiết kết thúc truyện thật mỉa mai, đầy hàm ý :

"Và một giờ sau, lũ ruồi, lũ nhặng, lũ cá, lũ quạ, tiếc ngẩn ngơ

Chúng có biết đâu rằng quan Huyện tư pháp đã tranh mất món mồi ngon của chúng." [tr.446]

Như vậy trước cái món mồi béo bở là món "Thịt người chết" thì quan Huyện

cũng chỉ giống như thứ ruồi, nhặng kia mà thôi, không hơn không kém

Trong "Thằng ăn cướp", nhà văn đã vạch trần bản chất ăn cướp của đám quan

lại, thủ đoạn ăn cướp của chúng còn ghê gớm, trắng trợn hơn cả kẻ ăn cướp Những

kẻ ăn cướp của dân, của con buôn, của nhà giàu là những kẻ ăn cướp bất hợp pháp nên luôn sợ bị quan bắt Còn quan lại ăn cướp là ăn cướp hợp pháp, công khai, không cần phải sợ ai cả Kẻ ăn cướp bất hợp pháp ăn cướp của dân nhưng lại bị ăn cướp bởi thằng ăn cướp hợp pháp Cuối cùng, kẻ ăn cướp bất hợp pháp kia đã phải bỏ nghề vì

theo họ "nghề ăn cướp nguy hiểm mà không có lợi, nhất là vào thời điểm này" khi

xuất hiện những thằng ăn cướp hợp pháp

Nói tóm lại về phương diện nội dung, Nguyễn Công Hoan có sự đóng góp lớn cho trào lưu Văn học hiện thực phê phán trên cả hai phương diện Thứ nhất là qua các tác phẩm của mình Nguyễn Công Hoan đã phê phán, đả kích mạnh mẽ, gay gắt bọn nhà giàu, đặc biệt là bọn quan lại, cường hào, lính lệ - những kẻ có quyền thế trong xã hội đồng thời qua đó bộc lộ sự xót xa, thương cảm cho những người nghèo, những người thấp cổ bé họng, những nạn nhân của xã hội đó Thứ hai là nhà văn đã phê

Trang 36

nhân và vấn đề phụ nữ Với hai nội dung chính này, nhà văn đã khắc họa lên hiện thực cuộc sống, xã hội Việt Nam thời kì trước Cách mạng Tháng 8

Tiểu kết:

Nguyễn Công Hoan là bậc thầy truyện ngắn trong văn học Việt Nam hiện đại

Dư luận đều thống nhất đánh giá cao công lao của ông trong việc xây dựng một nền truyện ngắn Việt Nam hiện đại Đồng thời là người cắm ngọn cờ đầu cho Văn học

Hiện thực phê phán Việt Nam Có mặt ngay từ buổi bình minh của nền văn học "quốc

ngữ", bằng sức sáng tạo dồi dào, dẻo dai, bằng một tài năng xuất sắc, độc đáo, thấm

đượm bản sắc dân tộc, Nguyễn Công Hoan đã góp phần quan trọng vào quá trình hiện đại hóa văn học Việt Nam thế kỉ XX

Có rất nhiều tác giả đang nổi danh như cồn bỗng nhiên bị lãng quên là một điều không hiếm trong lịch sử văn học Việt Nam Nhưng Nguyễn Công Hoan lại khác: ông là nhà văn chưa từng bị lãng quên mà ngược lại là người thường xuyên được nhắc đến trong làng văn Việt Nam hiện đại

Trang 37

Chương 2NGUYỄN CÔNG HOAN - BẬC THẦY VỀ NGHỆ THUẬT VIẾT TRUYỆN NGẮN

Nguyễn Công Hoan là nhà văn được các nhà nghiên cứu đánh giá là người có sức sáng tác dồi dào, phong phú Trong sự nghiệp sáng tác của mình, ông sáng tác song song cả ở hai thể loại: truyện ngắn và truyện dài nhưng thể loại làm lên tên tuổi,

vị trí của ông lại chính là thể loại truyện ngắn Và khi nhắc đến truyện ngắn Nguyễn Công Hoan, chúng ta không thể không nhắc đến nghệ thuật viết truyện ngắn của ông

2.1 Cốt truyện

2.1.1 Khái niệm "cốt truyện"

"Cốt truyện" trong tiếng Anh là plot, tiếng Nga là siujet, tiếng Pháp là sujet

Theo "Từ điển thuật ngữ Văn học": cốt truyện là "hệ thống sự kiện cụ thể, được tổ

chức theo yêu cầu tư tưởng và nghệ thuật nhất định, tạo thành bộ phận cơ bản, quan trọng nhất trong hình thức động của tác phẩm văn học thuộc các loại tự sự

và kịch" [tr.99]

Đồng thời các tác giả Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khác Phi cũng đã

khẳng định: "Có thể tìm thấy qua một cốt truyện hai phương diện gắn bó hữu cơ:

một mặt, cốt truyện là một phương diện bộc lộ nhân vật, nhờ cốt truyện, nhà văn thể hiện sự tác động qua lại giữa các tính cách nhân vật; mặt khác, cốt truyện còn

là phương tiện để nhà văn tái hiện các xung đột xã hội Cốt truyện là một hiện tượng phức tạp" [tr.100]

Bên cạnh khái niệm cốt truyện được hiểu theo tinh thần truyền thống ấy thì các

tác giả của cuốn "Từ điển thuật ngữ văn học" còn đưa ra một cách hiểu khác, cốt truyện còn được hiểu "như là toàn bộ các biến cố, sự kiện được nhà văn kể ra, là cái

mà người đọc có thể đem kể lại (histoire)" [tr.101].

2.1.2 Các đặc điểm cốt truyện truyện ngắn Nguyễn Công Hoan

Đọc truyện ngắn của Nguyễn Công Hoan, chúng tôi nhận thấy phần lớn các truyện ngắn của ông khá ngắn gọn, có chủ đề rõ ràng, không rờm rà, rắc rối mà cả truyện chỉ có một tuyến tình tiết đơn giản, dễ theo dõi, nhận biết Kết cấu truyện ngắn

Trang 38

của Nguyễn Công Hoan cũng rất gần với kết cấu truyện kể dân gian, trong đó cốt truyện đóng vai trò quan trọng hàng đầu Nguyễn Công Hoan thường tạo cho mình một cốt truyện giàu kịch tính; ông cũng cố gắng tìm tòi, sáng tạo ra những cốt truyện phong phú, đa dạng, có khả năng diễn đạt sự việc một cách linh hoạt và đặc biệt là cốt truyện trong các truyện ngắn của nhà văn thường được xây dựng dựa trên những mâu thuẫn trào phúng

2.1.2.1 Cốt truyện giàu tính kịch

Theo quan niệm truyền thống, một truyện được coi là có kịch tính cao khi truyện đó phải có những phần lắt léo, những sự kiện mang tính kịch, kết thúc phải thật bất ngờ, tạo cho người đọc sự ngạc nhiên

Các tác phẩm của các nhà văn thời kì trước Nguyễn công Hoan - thời kì những

năm đầu thế kỉ XX như là: "Câu chuyện nhà sư" của Nguyễn Bá Học, "Tái sinh sinh",

"Sùng bái giai nhân" của Phan Bội Châu đã bắt đầu có tính kịch Tuy nhiên đa số các

tác phẩm ở thời kì này có cốt truyện sơ sài, không mấy hấp dẫn, nặng về lí thuyết,

chẳng hạn như: "Chiến sĩ Cao Thắng" của Phan Bội Châu, "Một cánh hoa chìm" của Nguyễn Văn Cơ, "Bác nghiện" của Vũ Miễn Nam Ở những tác phẩm này, tính cách

của nhân vật chưa được chú tâm xây dựng, dường như nhân vật được xây dựng lên chỉ

để minh họa, làm rõ hơn cho các mệnh đề tư tưởng Chính vì vậy mà truyện trở lên kém hấp dẫn, nhân vật chỉ là những hình bóng mờ nhạt hoặc cứng nhắc

Đến giai đoạn 1920 - 1930, cùng với giai đoạn đầu sáng tác của Nguyễn Công Hoan, các tác phẩm của một số nhà văn trong đó có Nguyễn Công Hoan được bắt đầu bằng những tình huống có tính cao trào, có tính kịch, tạo ra mâu thuẫn từ đó xoáy sâu vào phản ánh một hiện tượng, một sự việc, một mâu thuẫn, một loại người trong xã

hội Chẳng hạn như tác phẩm "Sống chết mặc bay" của Phạm Duy Tốn, mở đầu đã là

một cảnh đối lập mang nhiều tính kịch: đó là cảnh hàng ngàn người đang náo loạn

trước nguy cơ bị vỡ đê với cảnh quan phụ mẫu vẫn "uy nghi, chễm chệ ngồi ", ngài vẫn mải "ù thông tôm, chi chi nẩy, điều mày ", chứ không hề chú ý đến mọi sự xung

quanh Tính kịch cứ theo đó mà được đẩy lên mãi để rồi đến khi kết thúc truyện, người đọc đã vô cùng phẫn nộ trước sự vô lương tâm, vô trách nhiệm, mất hết lương

tri của tên quan "phụ mẫu" đối với tính mạng của những người dân nghèo

Trang 39

Khi tiến hành khảo sát, chúng tôi nhận thấy một điều: trong các sáng tác của các nhà văn cùng thời như Ngô Tất Tố, Vũ Trọng Phụng, Tam Lang cốt truyện có phần ít dụng công về tính kịch hơn và có phần nhẹ nhàng hơn Còn ở truyện ngắn của Nguyễn Công Hoan lại khác Với mục đích châm biếm, phê phán những lố bịch, giả dối của tầng lớp quan lại, tay sai, địa chủ - những kẻ có quyền, có tiền, có thế trong xã hội Thực dân nửa phong kiến, ông đã luôn trăn trở, suy nghĩ để tìm ra, tạo ra những cốt truyện giàu kịch tính, kết thúc bất ngờ, tạo sự bất ngờ cho người đọc Từ đó tiếng cười được bật ra một cách tự nhiên nhưng đằng sau tiếng cười ấy là cả một sự đau đớn, chua chát, một sự ám ảnh khôn nguôi Ở mỗi một truyện, nhà văn lại xây dựng những cốt truyện khác nhau, tạo cho người đọc những ấn tượng nghệ thuật mới mẻ

Ở truyện "Răng con chó của nhà tư sản" tình huống kịch tính của tác phẩm

được đặt ở cuối tác phẩm, khi mà người ăn mày chỉ vì đói quá, giành ăn với con chó

giống Bleu d'Auvergne của nhà tư sản mà "chẳng may" làm gãy của nó mất hai cái răng Tên nhà giàu đã tức điên lên, hắn "thương con chó" quá, rồi hắn "nghiến răng

nhảy tót lên xe ô tô " phóng nhanh hết sức với niềm quyết tâm " ông chỉ kẹp cho mày chết tươi, rồi ông đền mạng Bất quá ba chục bạc là cùng!" Không cần phải

nhiều lời bình luận, đánh giá bởi ngay chính bản thân hành động và lời nói của nhân vật đã thể hiện rõ, sinh động và khách quan bản chất là một con ác thú, phi nhân tính của hắn Kết thúc tác phẩm là dấu ba chấm, tác giả không nói rõ kết quả của hành động phóng xe điên cuồng ấy là gì, không nói đến cái chết của người ăn mày nhưng người đọc hoàn toàn đoán biết được điều đó Từ đó, mục đích phê phán đã đạt đến đích, bản chất nhân vật được bộc lộ tối đa đồng thời kết thúc truyện cũng thể hiện tấm lòng nhân đạo sâu sắc của Nguyễn Công Hoan

Truyện ngắn "Oẳn tà roằn" tình huống kịch tính của tác phẩm cũng nằm ở

cuối truyện Ngày chủ nhật, sau khi Nguyệt sinh có tới bốn người đến nhận làm cha đứa bé nhưng họ nhìn mặt đứa bé xong thì đều nhẹ nhàng đặt đứa bé xuống rồi lui ra

ngoài đi về, người thì "rúc rích nhìn nhau cười", người thì "thở dài một cái rõ dài,

nét mặt thất vọng" Vậy nguyên nhân vì đâu mà họ lại có thái độ như vậy? Đó chính

là do thằng bé mà họ tưởng là "con" của họ lại có "nước da đen như cột nhà cháy!", vậy là nó "không phải là con Rồng cháu Tiên Nó là g ống Oằn tà rroằn không biết

Trang 40

chống gậy" Không cần kể nể, bình luận mà chỉ cần qua tình huống kịch tính đó

người đọc cũng vỡ òa bao điều về phẩm chất, sự chung thủy đến mức phải lấy cái

chết ra để thề của Nguyệt Trước đó, mặc dù người đọc đã ngờ ngợ về cái tính "chung

thủy" của Nguyệt nhưng họ vẫn có chút "hi vọng" rằng trong số những người đàn ông

mà cô thề ấy sẽ có một người là cha đứa trẻ Tác giả đã rất tài tình khi để cho độc giả

của mình "hi vọng", chờ đợi trong suốt quá trình diễn biến câu chuyện để rồi lại

"thẳng tay" dập tắt nó khi miêu tả về ngoại hình của đứa bé Cái ngoại hình đó làm

cho người đọc hoàn toàn choáng váng, có lẽ ngay chính bản thân Nguyệt cũng không thể ngờ rằng mình lại sinh ra một đứa con như vậ y Bởi nếu không cô đã chẳng dám

ra sức thề sống thề chết với những người đàn ông "An Nam" kia

Ngoài ra một loạt những truyện ngắn khác của Nguyễn Công Hoan như: Hai

thằng khốn nạn, Sống chết mặc bay, Bà chủ mất trộm, Sáu mạng người cốt truyện

cũng mang đậm tính kịch

2.1.2.2 Hình thức cốt truyện phong phú, đa dạng, linh hoạt

Hình thức cốt truyện là cách thức trình bày câu chuyện sao cho hay, hấp dẫn, sinh động, gây được ấn tượng mạnh đối với người đọc và thể hiện đến mức tối đa ý nghĩa mà tác giả muốn gửi gắm ở trong câu chuyện đó Điều này rất ít người viết truyện để ý đến Chúng tôi nhận thấy các tác giả khác của dòng Văn học Hiện thực phê phán như: Ngô Tất Tố, Vũ Trọng Phụng, Nam Cao thường chỉ đóng vai người

kể chuyện Nghĩa là đóng vai trò như là một người ngoài nhưng biết rất rõ về câu chuyện nên kể lại cho người khác nghe Nguyễn Công Hoan không như vậy, ông nhận thấy trong văn học không chỉ có một hình thức cốt truyện ấy mà còn rất nhiều hình thức cốt truyện khác

Dựa trên tinh thần của kiểu cốt truyện giàu kịch tính của mình, Nguyễn Công Hoan đã thật sự nghiêm túc trong việc suy nghĩ, tìm tòi để sáng tạo ra nhiều hình thức cốt truyện, nhiều cách dựng truyện linh hoạt khác nhau và cuối cùng là tiến hành thử nghiệm trong các tác phẩm của mình Chính sự mạnh dạn, táo bạo đó đã đem đến cho các truyện ngắn của ông một hiệu quả nghệ thuật cao, mới lạ, tạo được sự hấp dẫn, tò

mò, lí thú ở người đọc

Ngày đăng: 26/06/2017, 15:57

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Lại Nguyên Ân (1999), 150 thuật ngữ văn học, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: 150 thuật ngữ văn học
Tác giả: Lại Nguyên Ân
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 1999
2. Nguyễn Đình Chú (1998), Khái quát về văn học Việt Nam từ đầu thế kỷ XX đến cách mạng tháng 8 - 1945, Nxb Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khái quát về văn học Việt Nam từ đầu thế kỷ XX đến cách mạng tháng 8 - 1945
Tác giả: Nguyễn Đình Chú
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1998
3. Trương Chính (1977), Lược thảo lịch sử văn học Việt Nam tập III, Nxb Xây dựng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lược thảo lịch sử văn học Việt Nam tập III
Tác giả: Trương Chính
Nhà XB: Nxb Xây dựng
Năm: 1977
4. Lê Chí Dũng, Trần Đình Hượu (1988), Văn học Việt Nam giai đoạn giao thời 1900 - 1930, Nxb ĐH & TH chuyên nghiệp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn học Việt Nam giai đoạn giao thời 1900 - 1930
Tác giả: Lê Chí Dũng, Trần Đình Hượu
Nhà XB: Nxb ĐH & TH chuyên nghiệp
Năm: 1988
5. Trần Ngọc Dung (1992), Ba phong cách truyện ngắn trong văn học Việt Nam thời kỳ đầu những năm 1930 - 1945 Nguyễn Công Hoan, Thạch Lam, Nam Cao, Luận văn thạc sĩ trường ĐHSP Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ba phong cách truyện ngắn trong văn học Việt Nam thời kỳ đầu những năm 1930 - 1945 Nguyễn Công Hoan, Thạch Lam, Nam Cao
Tác giả: Trần Ngọc Dung
Năm: 1992
6. Lò Thị Duyên (1998), Đặc điểm ngôn ngữ nghệ thuật truyện ngắn trào phúng Nguyễn Công Hoan trước cách mạng tháng 8, Luận văn thạc sĩ trường ĐHSP Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đặc điểm ngôn ngữ nghệ thuật truyện ngắn trào phúng Nguyễn Công Hoan trước cách mạng tháng 8
Tác giả: Lò Thị Duyên
Năm: 1998
7. Nguyễn Đức Đàn (1968), Mấy vấn đề văn học hiện thực phê phán Việt Nam, Nxb Khoa học xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mấy vấn đề văn học hiện thực phê phán Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Đức Đàn
Nhà XB: Nxb Khoa học xã hội
Năm: 1968
8. Nguyễn Đức Đàn (1964), Đặc điểm văn học hiện thực phê phán Việt Nam, Nxb Văn học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đặc điểm văn học hiện thực phê phán Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Đức Đàn
Nhà XB: Nxb Văn học
Năm: 1964
9. Nguyễn Đức Đàn, "Trào lưu chủ nghĩa hiện thực trong văn học Việt Nam 1930 - 1945", Tạp chí văn học (số 5) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trào lưu chủ nghĩa hiện thực trong văn học Việt Nam 1930 - 1945
10. Nguyễn Văn Đấu (1999), "Chất kịch trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan", Tạp chí văn học (số 5) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chất kịch trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan
Tác giả: Nguyễn Văn Đấu
Năm: 1999
12. Phan Cự Đệ (1983), Lời giới thiệu "Tuyển tập Nguyễn Công Hoan" tập I, Nxb Văn học Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tuyển tập Nguyễn Công Hoan
Tác giả: Phan Cự Đệ
Nhà XB: Nxb Văn học Hà Nội
Năm: 1983
13. Phan Cự Đệ (1983), Nguyễn Công Hoan trong Nhà văn Việt Nam 1945 - 1975 tập II, Nxb ĐH và TH chuyên nghiệp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguyễn Công Hoan trong Nhà văn Việt Nam 1945 - 1975 tập II
Tác giả: Phan Cự Đệ
Nhà XB: Nxb ĐH và TH chuyên nghiệp
Năm: 1983
14. Phan Cự Đệ (2010), Văn học Việt Nam 1900 - 1945, Nxb Giáo dục Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn học Việt Nam 1900 - 1945
Tác giả: Phan Cự Đệ
Nhà XB: Nxb Giáo dục Việt Nam
Năm: 2010
15. Trần Hạc Đình (1936), Phê bình Kép Tư Bền Hà Nội báo (số 2) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phê bình Kép Tư Bền Hà Nội báo
Tác giả: Trần Hạc Đình
Năm: 1936
16. Hà Minh Đức (1971), Nhà văn và tác phẩm, Nxb Văn học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhà văn và tác phẩm
Tác giả: Hà Minh Đức
Nhà XB: Nxb Văn học
Năm: 1971
17. Hà Minh Đức (1998), Văn học Việt Nam hiện đại, Nxb Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn học Việt Nam hiện đại
Tác giả: Hà Minh Đức
Nhà XB: Nxb Hà Nội
Năm: 1998
18. Nguyễn Minh Châu (1994), Nhà văn Nguyễn Công Hoan, in lại trong Trang giấy trước đèn, Nxb Khoa học xã hội Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: in lại trong Trang giấy trước đèn
Tác giả: Nguyễn Minh Châu
Nhà XB: Nxb Khoa học xã hội Hà Nội
Năm: 1994
19. Trương Chính (1985), Đọc "Tuyển tập Nguyễn Công Hoan" , Tuần báo văn nghệ (số 48) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tuyển tập Nguyễn Công Hoan
Tác giả: Trương Chính
Năm: 1985
20. Trúc Hà (2003), Một ngọn bút mới, in lại trong Nguyễn Công Hoan về tác gia tác phẩm, Nxb Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: in lại trong Nguyễn Công Hoan về tác gia tác phẩm
Tác giả: Trúc Hà
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2003
21. Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi (2000), Từ điển thuật ngữ văn học, Nxb Đại học Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển thuật ngữ văn học
Tác giả: Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia
Năm: 2000

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w