1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Quản lý phối hợp đào tạo thực hành nghề giữa trường trung cấp xây dựng với cơ sở sản xuất ở thành phố uông bí, quảng ninh

130 189 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 130
Dung lượng 1,48 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Để đào tạo được đội ngũ lao động có chất lượng phù hợp với yêu cầu của sản xuất trong điều kiện khoa học kỹ thuật thay đổi nhanh chóng hiện nay thì việc phối hợp đào tạo thực hành nghề g

Trang 1

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM

-

VŨ XUÂN QUYÊN

QUẢN LÝ PHỐI HỢP ĐÀO TẠO THỰC HÀNH NGHỀ

GIỮA TRƯỜNG TRUNG CẤP XÂY DỰNG VỚI CƠ SỞ SẢN XUẤT Ở THÀNH PHỐ UÔNG BÍ, TỈNH QUẢNG NINH

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC

THÁI NGUYÊN, NĂM 2015

Trang 2

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM

-

VŨ XUÂN QUYÊN

QUẢN LÝ PHỐI HỢP ĐÀO TẠO THỰC HÀNH NGHỀ

GIỮA TRƯỜNG TRUNG CẤP XÂY DỰNG VỚI CƠ SỞ SẢN XUẤT Ở THÀNH PHỐ UÔNG BÍ, TỈNH QUẢNG NINH

Chuyên ngành: Quản lý giáo dục

Mã số: 60.14.01.14

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC

Người hướng dẫn khoa học: GS TSKH NGUYỄN VĂN HỘ

THÁI NGUYÊN, NĂM 2015

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các kết quả nghiên cứu là trung thực và chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác

Tác giả luận văn

Vũ Xuân Quyên

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Với tình cảm chân thành, tác giả xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới:

- Hội đồng khoa học, Hội đồng đào tạo cao học chuyên ngành Quản lý giáo dục thuộc Trường Đa ̣i học sư pha ̣m Thái Nguyên - Đa ̣i học Thái Nguyên

- Các thầy giáo, cô giáo trực tiếp giảng dạy, tham gia quản lý trong suốt quá trình học tập và làm luận văn tốt nghiệp

- Thầy Giáo sư Tiến sĩ khoa học Nguyễn Văn Hộ đã dành rất nhiều thời gian và tâm huyết giúp đỡ hướng dẫn và chỉ dẫn tận tình cho tác giả trong quá trình thực hiện và hoàn thành luận văn

- Lãnh đạo Trường Trung cấp xây dựng đã tạo điều kiện cho tác giả nghiên cứu khoa học và cho những ý kiến quí báu trong quá trình thực hiện đề tài

- Cán bộ, Lãnh đạo Sở LĐTB&XH tỉnh Quảng Ninh, các doanh nghiệp trên địa bàn Thành phố Uông Bí và gia đình cùng bạn bè, các đồng nghiệp đã giúp đỡ, động viên tạo mọi điều kiện tốt nhất cho tác giả trong suốt quá trình học tập và làm luận văn tốt nghiệp

Trong quá trình thực hiện luận văn mặc dù tác giả đã có nhiều cố gắng, tuy nhiên luận văn không tránh khỏi những thiếu sót, kính mong được sự chỉ dẫn, góp ý của các thầy giáo, cô giáo, các bạn đồng nghiệp để kết quả nghiên cứu được hoàn hảo hơn

Xin trân trọng cảm ơn!

Ngày 5 tháng 11 năm 2015

Tác giả

Vũ Xuân Quyên

Trang 5

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN i

LỜI CẢM ƠN ii

MỤC LỤC iii

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN iv

DANH MỤC CÁC BẢNG v

DANH MỤC CÁC SƠ ĐỒ VÀ BIỂU ĐỒ vi

MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài nghiên cứu 1

2 Mục đích nghiên cứu 2

3 Khách thể và đối tượng nghiên cứu 2

4 Giả thuyết khoa học 2

5 Nhiệm vụ nghiên cứu 2

6 Phương pháp nghiên cứu 3

7 Phạm vi nghiên cứu 4

8 Cấu trúc luận văn 4

Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA QUẢN LÝ PHỐI HỢP ĐÀO TẠO THỰC HÀNH NGHỀ GIỮA CƠ SỞ ĐÀO TẠO NGHỀ VỚI CƠ SỞ SẢN XUẤT 5

1.1 Tổng quan lịch sử nghiên cứu vấn đề 5

1.1.1 Ở nước ngoài 5

1.1.2 Ở Việt Nam 7

1.1.3 Một số mô hình về phối hợp giữa cơ sở đào tạo nghề và cơ sở sản xuất 10

1.1.4 Một số bài học kinh nghiệm trên thế giới về quản lý phối hợp đào tạo thực hành nghề giữa cơ sở đào tạo nghề và cơ sở sản xuất 12

1.2 Một số khái niệm 13

1.2.1 Khái niệm quản lý 13

1.2.2 Đào tạo nghề, cơ sở đào tạo nghề 15

1.2.3 Công nhân kỹ thuật 17

1.2.4 Đào tạo công nhân kỹ thuật 18

Trang 6

1.2.5 Cơ sở sản xuất 19

1.2.6 Đào tạo thực hành nghề 19

1.2.7 Biện pháp Phối hợp đào tạo thực hành nghề giữa cơ sở đào tạo và cơ sở sản xuất 21

1.3 Đặc trưng đào tạo Công nhân kỹ thuật và việc làm trong cơ chế thị trường 22

1.3.1 Xác định nhu cầu về nhân lực - xuất phát điểm của Đào tạo CNKT trong cơ chế thị trường 24

1.3.2 Các phương pháp xác định nhu cầu về CNKT 24

1.3.3 Đào tạo CNKT phải tuân thủ các quy luật của thị trường 25

1.4 Sự phối hợp giữa cơ sở đào tạo và cơ sở sản xuất 27

1.4.1 Sự phối hợp giữa cơ sở đào tạo và cơ sở sản xuất và nguyên lý giáo dục “Học đi đôi với hành” 27

1.4.2 Nội dung của sự phối hợp giữa cơ sở đào tạo và cơ sở sản xuất 29

1.5 Các loại hình tổ chức phối hợp đào tạo giữa cơ sở đào tạo và cơ sở sản xuất 35

1.5.1 Tổ chức cơ sở đào tạo nằm trong cơ sở sản xuất 35

1.5.2 Tổ chức đơn vị sản xuất nằm trong cơ sở đào tạo 37

1.5.3 Cơ sở đào tạo nghề và các cơ sở sản xuất là những đơn vị độc lập 39

1.6 Quản lý phối hợp đào tạo thực hành nghề giữa Trường trung cấp xây dựng và cơ sở sản xuất trong giai đoạn hiện nay 40

1.7 Các yêu tố ảnh hưởng tới quản lý phối hợp đào tạo 44

TIỂU KẾT CHƯƠNG 1 47

Chương 2 THỰC TRẠNG ĐÀO TẠO NGHỀ VÀ QUẢN LÝ PHỐI HỢP ĐÀO TẠO THỰC HÀNH NGHỀ GIỮA TRƯỜNG TRUNG CẤP XÂY DỰNG VỚI CƠ SỞ SẢN XUẤT Ở THÀNH PHỐ UÔNG BÍ 49

2.1 Khái quát một số nét về vị trí địa lý, dân cư và tình hình kinh tế - xã hội của Thành phố Uông Bí 49

2.1.1 Đặc điểm địa lý, dân cư và nguồn lao động 49

2.1.2 Đặc điểm kinh tế 50

Trang 7

2.2 Khái quát chung về Trường Trung cấp xây dựng 51

2.3 Thực trạng đào tạo nghề ở Trường Trung cấp xây dựng 54

2.3.1 Quy mô đào tạo 54

2.3.2 Cơ cấu ngành nghề đào tạo 55

2.3.3 Chất lượng đào tạo 56

2.3.4 Đội ngũ giáo viên dạy nghề 60

2.3.5 Chương trình đào tạo nghề 62

2.3.6 Cơ sở vật chất phục vụ đào tạo nghề 65

2.3.7 Một số tồn tại, hạn chế và nguyên nhân trong công tác đào tạo nghề 66

2.4 Thực trạng quản lý phối hơ ̣p đào tạo thực hành nghề giữa trường Trung cấp xây dựng với cơ sở sản xuất 67

2.4.1 Phân tích kết quả điều tra ý kiến của CBQLGD, Giáo viên Nhà trường và cán bộ quản lý các cơ sở sản xuất về quản lý phối hơ ̣p đào tạo nghề 67

2.4.2 Về quản lý sự phối hơ ̣p đào tạo thực hành nghề giữa cơ sở đào tạo và cơ sở sản xuất 69

2.4.3 Về quản lý quy mô phố i hơ ̣p đào tạo nghề 70

2.4.4 Về huy động các chuyên gia của cơ sở sản xuất tham gia xây dựng chương đào tạo 74

2.4.5 Về những tồn tại, hạn chế trong quản lý phố i hơ ̣p 76

TIỂU KẾT CHƯƠNG 2 78

Chương 3 CÁC BIỆN PHÁP QUẢN LÝ PHỐI HỢP ĐÀO TẠO THỰC HÀNH NGHỀ GIỮA TRƯỜNG TRUNG CẤP XÂY DỰNG VỚI CƠ SỞ SẢN XUẤT Ở THÀNH PHỐ UÔNG BÍ 79

3.1 Một số nguyên tắc đề xuất các biện pháp phối hợp 79

3.1.1 Nguyên tắc hợp tác và tự nguyện 79

3.1.2 Nguyên tắc bình đẳng - hai bên cùng có lợi 79

3.1.3 Nguyên tắc theo qui luật giá trị 79

3.1.4 Nguyên tắc đào tạo gắn với sử dụng 80

3.1.5 Nguyên tắc bảo đảm việc thực hiện nhiệm vụ của mỗi bên 80

Trang 8

3.2 Đề xuất các biện pháp quản lý phối hợp đào tạo thực hành nghề giữa Trường Trung cấp xây dựng với Cơ sở sản xuất ở Thành phố Uông Bí,

Quảng Ninh 81

3.2.1 Quản lý hệ thống thông tin đào tạo - việc làm 81

3.2.2 Huy động đội ngũ giáo viên và hợp tác nghiên cứu khoa học từ CSSX 83

3.2.3 Biện pháp Xây dựng và phát triển chương trình đào tạo 86

3.2.4 Biện pháp huy động cơ sở vật chất của CSSX phục vụ đào tạo nghề 87

3.2.5 Biện pháp Tổ chức thực tập sản xuất tại CSSX 88

3.2.6 Biện pháp Hoàn thiện cơ chế thực hiện hệ thống chính sách về phố i hợp đào tạo giữa CSDN và CSSX 90

3.3 Mối quan hệ giữa các biện pháp 93

3.4 Khảo sát về mức độ cần thiết và mức độ khả thi của các biện pháp

3.4.1 Khảo sát vế mức độ cần thiết của các biện pháp 93

3.4.2 Khảo sát mức độ khả thi của các biện pháp 95

TIỂU KẾT CHƯƠNG 3 97

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 98

1 Kết luận 98

2 Kiến nghị 99

TÀI LIỆU THAM KHẢO 101 PHỤ LỤC

Trang 9

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN

Công nhân Kỹ thuật Doanh nghiệp sản xuất Đại học

Đào tạo nghề Giáo viên Giáo viên dạy nghề Học sinh, sinh viên Học sinh

Tổ chức lao động Quốc tế (Internationnal Labour Organization) Lao động kỹ thuật

Lý thuyết Thực hành Trung cấp xây dựng Tổng cục dạy nghề Trung cấp Kỹ thuật Trung cấp nghề Trung học chuyên nghiệp nay là (Trung cấp chuyên nghiệp)

Uỷ ban nhân dân

Trang 10

kiến cán bộ quản lý, giáo viên của Nhà trường (Chất lượng đào tạo được đánh giá qua mức độ đáp ứng yêu cầu nhiệm

vụ của người được đào tạo) 59 Bảng 2.5: Số lượng giáo viên dạy nghề 60 Bảng 2.6: Cơ cấu trình độ đội ngũ GVDN của Trường trung cấp xây dựng 61 Bảng 2.7: Kết quả biên soạn và chỉnh lý giáo trình của Nhà trường từ

2010 - 2014 62 Bảng 2.8: Kết quả điều tra mức độ phù hợp của chương trình đào tạo so

với yêu cầu của sản xuất qua ý kiến của CNKT 63 Bảng 2.9: Kết quả điều tra mức độ phù hợp của chương trình đào tạo

qua thăm dò ý kiến người sử dụng lao động 63 Bảng 2.10: Kết quả điều tra mức độ phù hợp của chương trình đào tạo

qua thăm dò ý kiến các cán bộ quản lý đào tạo và giáo viên của Nhà trường 64 Bảng 2.11: Kết quả điều tra ý kiến của cán bộ quản lý, giáo viên Nhà

trường về sự phối hơ ̣p giữa Nhà trường với cơ sở sản xuất 68 Bảng 2.12: Kết quả điều tra ý kiến của cán bộ quản lý các cơ sở sản xuất

về sự phối hơ ̣p giữa Nhà trường và các cơ sở sản xuất 68 Bảng 3.1: Cấu trúc nội dung giảng dạy trong đào tạo nghề và khả năng

giảng dạy của đội ngũ lao động kỹ thuật ở CSSX 84 Bảng 3.2: Thống kê kết quả khảo sát về mức độ cần thiết của biện pháp

quản lý đào tạo nghề giữa CSDN và CSSX 94 Bảng 3.3: Thống kê kết quả khảo sát về mức độ khả thi của biện pháp quản

lý phối hợp đào tạo thực hành nghề giữa CSDN và CSSX 95

Trang 11

DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ VÀ SƠ ĐỒ

Biểu đồ:

Biểu đồ 3.1 Biểu đồ Thống kê kết quả khảo sát về mức độ cần thiết của

biện pháp quản lý đào tạo nghề giữa CSDN và CSSX 94

Biểu đồ 3.2 Thống kê kết quả khảo sát về mức độ khả thi của biện pháp quản lý phối hơ ̣p đào tạo nghề giữa CSDN và CSSX 96

Sơ đồ: Sơ đồ 1.1 Mô hình đào tạo song hành 10

Sơ đồ 1.2 Mô hình đào tạo luân phiên 11

Sơ đồ 1.3 Mô hình đào tạo tuần tự 12

Sơ đồ 1.4 Sơ đồ về khái niệm quản lý 14

Sơ đồ 1.5 Tổ chức cơ sở đào tạo nằm trong cơ sở sản xuất 37

Sơ đồ 1.6 Tổ chức đơn vị sản xuất nằm trong cơ sở dạy nghề 38

Sơ đồ 1.7 Tổ chức phối hợp cơ sở đào tạo và các cơ sở sản xuất độc lập 39

Sơ đồ 2.1 Cơ cấu tổ chức Trường trung cấp xây dựng 52

Trang 12

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài nghiên cứu

Trong tiến trình đổi mới, hội nhập quốc tế hiện nay, để thực hiện thành công sự nghiệp CNH, HĐH đất nước nói chung và thành phố Uông Bí nói riêng, một trong những vấn đề then chốt đặt ra là đào tạo nguồn nhân lực kỹ thuật đáp ứng yêu cầu của thực tiễn sản xuất Chủ trương chính sách của Đảng

và Nhà nước về đào tạo nguồn nhân lực luôn quan tâm đặc biệt tới việc đổi mới mục tiêu, nội dung, phương pháp đào tạo nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển kinh

tế - xã hội Trong những năm qua, đào tạo nghề ở Trường Trung cấp xây dựng Thành phố Uông Bí đã nỗ lực từng bước nâng cao chất lượng, chuyển đổi cơ cấu ngành nghề, phát triển quy mô đáp ứng nhu cầu nguồn nhân lực kỹ thuật ngành xây dựng vùng Đông Bắc nói riêng và cả nước nói chung Tuy nhiên, trước yêu cầu đổi mới hiện nay, đào tạo nghề bộc lộ những hạn chế nhất định:

Cơ cấu ngành nghề chưa hợp lý, chất lượng đào tạo chưa đáp ứng yêu cầu của sản xuất trong bối cảnh hội nhập, tình trạng bất cập giữa đào tạo và sử dụng gây thất nghiệp gia tăng, gây lãng phí cho xã hội Chất lượng kỹ năng tay nghề của học sinh chưa cao do chưa có điều kiện thực tập với thiết bị tiên tiến, chương trình đào tạo của nhà trường, trình độ giáo viên chưa cập ngật kịp với công nghệ sản xuất

Để đào tạo được đội ngũ lao động có chất lượng phù hợp với yêu cầu của sản xuất trong điều kiện khoa học kỹ thuật thay đổi nhanh chóng hiện nay thì việc phối hợp đào tạo thực hành nghề giữa Nhà trường với các cơ sở sản xuất đang được nhiều nhà nghiên cứu giáo dục trong và ngoài nước quan tâm

Tuy nhiên, chưa có công trình nào tập trung nghiên cứu về vấn đề:

“Quản lý phối hợp đào tạo thực hành nghề giữa Trường Trung cấp xây dựng

với Cơ sở sản xuất ở Thành Phố Uông Bí, Quảng Ninh” Chính vì những lý do

nêu trên, tác giả đã mạnh dạn lựa chọn đề tài: “Quản lý phối hợp đào tạo thực hành nghề giữa Trường Trung cấp Xây dựng với Cơ sở sản xuất ở Thành Phố Uông Bí, Quảng Ninh” làm đề tài nghiên cứu

Trang 13

2 Mục đích nghiên cứu

Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và thực tế quản lý đào tạo nghề , tiến hành

đề xuất các biện pháp quản lý phối hợp giữa Trường Trung cấp xây dựng với

Cơ sở sản xuất trong đào tạo thực hành nghề để nâng cao chất lượng đào tạo

3 Khách thể và đối tượng nghiên cứu

3.1 Khách thể nghiên cứu

Quá trình đào tạo công nhân ký thuật (CNKT) ở Trường Trung cấp xây dựng Thành phố Uông Bí tỉnh Quảng ninh

3.2 Đối tượng nghiên cứu

Các biện pháp quản lý phối hợp giữa Trường Trung cấp xây dựng với Cơ

sở sản xuất trong đào tạo thực hành nghề cho người học ở Thành phố Uông Bí, Quảng Ninh

4 Giả thuyết khoa học

Nếu đề xuất và thực hiện đồng bộ các biện pháp quản lý tác động tới các thành tố cấu trúc của quá trình liên kết đào tạo nghề giữa Trường Trung cấp xây dựng với Cơ sở sản xuất trên địa bàn Thành phố Uông Bí, Quảng Ninh thì chất lượng đào tạo nghề cho công nhân kỹ thuật ở Trường Trung cấp xây dựng Uông Bí, Quảng Ninh sẽ được nâng cao, đáp ứng nhu cầu nguồn nhân lực phục

vụ cho sự phát triển kinh tế xã hội của địa phương và đất nước

5 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Nghiên cứu cơ sở lý luận của quản lý đào tạo thực hành nghề trong điều kiện CNH - HĐH của đất nước

- Khảo sát thực trạng về đào tạo và quản lý phối hợp đào tạo thực hành nghề giữa Trường Trung cấp Xây dựng với các CSSX ở Thành phố Uông Bí, Quảng Ninh

- Đề xuất các biện pháp quản lý phối hợp đào tạo thực hành nghề giữa Trường Trung cấp xây dựng với các cơ sở sản xuất ở Thành phố Uông Bí, Quảng Ninh

Trang 14

6 Phương pháp nghiên cứu

6.1 Phương pháp nghiên cứu lý luận

- Nghiên cứu phân tích, tổng hợp, hệ thống hóa, khái quát hóa các văn bản, tài liệu thể hiện quan điểm, đường lối chủ trương chính sách của Đảng, pháp luật của nhà nước, quan điểm của Chủ nghĩa Mác Lê nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, các công trình khoa học về quản lý phối hợp đào tạo thực hành nghề giữa CSDN với CSSX trong và ngoài nước để hình thành cơ sở lý luận của đề tài

- Phương pháp nghiên cứu tài liệu và sản phẩm hoạt động: Thông qua các tài liệu lưu trữ, báo cáo tổng kết công tác đào tạo nghề các năm của Nhà trường, báo cáo công tác đào tạo của Sở LĐTB&XH Quảng Ninh đi sâu tìm hiểu quá trình tổ chức hợp tác giữa trường dạy nghề và DN nhằm tổng kết kinh nghiệm để rút ra các nhận định khoa học

6.2 Các phương pháp nghiên cứu thực tiễn

- Phương pháp khảo sát điều tra bằng phiếu hỏi: 01 câu hỏi dành cho học sinh học nghề đã tốt nghiệp ở Trường Trung cấp xây dựng (phụ lục 1), 01

bộ câu hỏi dành cho cán bộ quản lý tại các cơ sở sản xuất trên địa bàn Thành phố Uông Bí (phụ lục 2), 01 bộ câu hỏi dành cho cán bộ, giáo viên của nhà trường (phụ lục 3), để tìm hiểu thực trạng đào tạo nghề và thực trạng về phối hợp đào tạo thực hành nghề giữa Trường TCXD với CSSX, các yếu tố có liên quan, thu thập thông tin về tính khả thi của các biện pháp được đề xuất nhằm góp phần nâng cao chất lượng đào tạo nghề của Trường Trung cấp xây dựng

- Phương pháp phỏng vấn, đàm thoại: Phỏng vấn một số cán bộ quản lý, giáo viên có kinh nghiệm của nhà trường nhằm làm sáng tỏ nội dung nghiên cứu Tiến hành trò chuyện, trao đổi trực tiếp với một số khách thể có uy tín và kinh nghiệm trong công tác quản lý đào tạo nghề nhằm thu thập thêm thông tin

6.3 Phương pháp thống kê toán học

- Sử dụng thống kê toán học để: Xử lý và phân tích các số liệu, kết quả điều tra, đồng thời để xác định mức độ tin cậy của việc điều tra và kết quả nghiên cứu

Trang 15

7 Phạm vi nghiên cứu

Luận văn tập trung nghiên cứu và đề xuất các biện pháp quản lý phối hợp đào tạo công nhân kỹ thuật giữa Trường Trung cấp xây dựng với Cơ sở sản xuất ở Thành phố Uông Bí Công tác điều tra, khảo sát được tiến hành ở Trường Trung cấp Xây dựng và một số doanh nghiệp sản xuất ở Thành phố Uông Bí, Quảng Ninh

8 Cấu trúc luận văn

Ngoài các phần: Mở đầu, Kết luận - Khuyến nghị, Tài liệu tham khảo và phụ lục, Nội dung nghiên cứu gồm:

Chương 1 Nghiên cứu cơ sở lý luận của quản lý phối hợp đào tạo thực

hành nghề giữa Trường trung cấp xây dựng với cơ sở sản xuất

Chương 2 Đánh giá thực trạng về đào tạo nghề, quản lý phối hợp đào

tạo thực hành nghề giữa cơ sở đào tạo nghề với Cơ sở sản xuất trên địa bàn Thành phố Uông Bí

Chương 3 Các biện pháp quản lý phối hợp đào tạo thực hành nghề giữa

Trường Trung cấp Xây dựng với Cơ sở sản xuất trên địa bàn Thành phố Uông Bí

Trang 16

Chương 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA QUẢN LÝ PHỐI HỢP ĐÀO TẠO THỰC HÀNH NGHỀ GIỮA CƠ SỞ ĐÀO TẠO NGHỀ VỚI CƠ SỞ SẢN XUẤT 1.1 Tổng quan lịch sử nghiên cứu vấn đề

1.1.1 Ở nước ngoài

- Cộng hòa liên bang Đức

Ở Cộng hòa Liên bang Đức, hệ thống đào tạo nghề là sự kết hợp giữa việc học trong một môi trường có sự gần gũi với thực tế sản xuất của công ty

và một cơ sở có năng lực chuyên môn về sư phạm và nghiệp vụ dạy nghề của các trường nghề, theo đó các công ty tập trung vào việc cung cấp các kiến thức

và kỹ năng thực tế, đặc biệt là kiến thức và kỹ năng phù hợp với công nghệ sản xuất của Công ty, còn các nhà trường cung cấp khối kiến thức lý thuyết về cơ bản nhiều hơn Do phát triển trên hai nền tảng kết hợp như vậy, nên hệ thống đào tạo nghề này còn gọi là hệ thống đào tạo nghề kép [theo 26]

Mô hình đào tạo nghề kép còn gắn liền với cơ chế quản lý hệ thống đào tạo nghề ở Đức Chẳng hạn: Chính quyền Bang chịu trách nhiệm quản lý trường nghề và chính phủ Liên bang chịu trách nhiệm quản lý đào tạo nghề tại công ty

Việc dạy nghề tại công ty đều do các công ty trực tiếp tổ chức, song việc kiểm soát lại do công đoàn cùng với sự tham gia của các quan sát viên và hội đồng công nhân tại công ty thực hiện

Hệ thống đào tạo nghề kép được điều chỉnh bởi nhu cầu cung cấp vị trí đào tạo của các công ty Các công ty là người quyết định số lượng công nhân được đào tạo và đào tạo theo chuyên ngành nào Công ty được quyền tự do lựa chọn các ứng cử viên được tham gia đào tạo

- Na Uy

Na Uy là quốc gia sở hữu nhiều mô hình dạy nghề tiên tiến trên thế giới, giầu kinh nghiệm trong việc quản lý hệ thống dạy nghề [theo 26]

Trang 17

Mô hình chung của đào tạo nghề ở Na Uy là “2+ 2”, nghĩa là 2 năm học đại cương và 2 năm học nghề tại nhà máy hoặc DN, Ngoài ra, dựa trên mô hình chung này, các tổ chức đào tạo nghề Na Uy đã thiết lập và xây dựng thêm nhiều mô hình biến thể linh hoạt và uyển chuyển như “mô hình 1+ 3”, (1 năm học tại trường và 3 năm học nghề), “mô hình 0 + 4” (cả 4 năm đều học nghề),… Các cơ sở dạy nghề ở Na Uy có được sự liên kết chặt chẽ đối với các đối tượng liên quan Đặc biệt là có sự hợp tác ba bên chặt chẽ của tổ chức giới chủ, Công đoàn và đại diện cơ quan giáo dục từ cấp quốc gia, đến cấp tỉnh và địa phương

Ở Na Uy, những người lựa chọn con đường học nghề sẽ ký hợp đồng với một công ty mà công ty này phải được cơ quan có thẩm quyền công nhận là

DN đào tạo Trong khoảng thời gian 2 năm thực hành về một ngành nghề cụ thể, DN cần phải đảm bảo nguyên tắc: Năm 1 các công nhân lành nghề sẽ hướng dẫn về kỹ thuật, năm 2 giảm bớt hướng dẫn, tăng việc tự học Học viên

sẽ được hưởng lương học việc trong cả 2 năm học Sau khi kết thúc học việc, học viên sẽ được trao chứng chỉ và bắt đầu có thể tìm kiếm việc làm

- Trung Quốc

Ở Trung Quốc hiện nay là kinh nghiệm “Ba trong một” [theo 26]: Đào tạo, sản xuất, dịch vụ Theo đó, các trường dạy nghề phải gắn bó chặt chẽ với các các sở sản xuất và dịch vụ góp phần quan trọng vào việc nâng cao chất lượng đào tạo nghề Hiện tại, việc dạy nghề ở Trung Quốc do các Bộ Giáo dục

và lao động quản lý, nhưng các doanh nghiệp được khuyến khích “đào tạo nghề” cho chính công nhân của mình Những năm qua, những khóa đào tạo ngắn hạn đã cho ra lò cấp tốc hàng trăm triệu công nhân đáp ứng nhu cầu nhân lực cho các công ty, doanh nghiệp

- Thái Lan

Ở Thái Lan Chính phủ đã nghiên cứu và xây dựng “Hệ thống hợp tác đào tạo nghề” để giải quyết tình trạng bất cập giữa đào tạo nghề và sử dụng lao động và hướng tới phát triển nhân lực ký thuật trong tương lai [theo 26]

Trang 18

Trong xu thế toàn cầu và hội nhập hiện nay, việc tổng kết kinh nghiệm quản lý đào tạo ghề của các nước trên thế giới nhằm vận dụng vào thực tiễn đào tạo nghề ở Việt Nam là thực sự cần thiết và cấp bách nhằm đào tạo nguồn nhân lực có chất lượng cao đáp ứng sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước

1.1.2 Ở Việt Nam

Nghị quyết Đại hội Đảng cộng sản Việt Nam lần thứ XI đã nêu: “Đẩy mạnh

đào tạo nghề theo nhu cầu phát triển của xã hội, có cơ chế và chính sách thiết lập

mối liên kết chặt chẽ giữa các doanh nghiệp với cơ sở đào tạo” [7, 217]

Luật dạy nghề nước ta quy định trong chương V, Điều 55 qui định Quyền của doanh nghiệp trong hoạt động dạy nghề [23], trong đó:

Doanh nghiệp được tổ chức dạy nghề cho người lao động để làm việc cho doanh nghiệp, được liên doanh, liên kết với cơ sở dạy nghề để tổ chức dạy nghề cho người lao động, được cơ quan quản lý nhà nước về dạy nghề, cơ sở dạy nghề mời tham gia Hội đồng thẩm định chương trình, giáo trình dạy nghề; giảng dạy, hướng dẫn thực tập tay nghề và đánh giá kết quả học tập của người học nghề; tham gia xây dựng tiêu chuẩn kỹ năng nghề, đánh giá kỹ năng nghề quốc gia đối với những nghề liên quan đến hoạt động SXKD của doanh nghiệp…

Nghĩa vụ của DN trong hoạt động dạy nghề là cung cấp thông tin về ngành nghề, nhu cầu đào tạo và sử dụng lao động của DN cho cơ quan quản lý nhà nước về dạy nghề Tiếp nhận người học nghề đến tham quan, thực tập kỹ năng nghề tại DN thông qua hợp đồng với cơ sở dạy nghề

Điều lệ các trường dạy nghề quy định tai chương 2, Điều 6 quy định một trong những nhiệm vụ của nhà trường là phối hợp với các doanh nghiệp,

cơ sở sản xuất, tổ chức, cá nhân, gia đình người học nghề trong hoạt động dạy nghề [3]

Để đào tạo được đội ngũ lao động có chất lượng phù hợp với yêu cầu của sản xuất trong điều kiện khoa học kỹ thuật thay đổi nhanh chóng hiện nay thì việc phố i hơ ̣p đào tạo giữa nhà trường với các cơ sở sản xuất đang được các nhà nghiên cứu giáo dục trong và ngoài nước quan tâm

Trang 19

Cho đến nay, đã có những công trình nghiên cứu, các báo cáo khoa học

đề cập trực tiếp đến vấn đề kết hợp đào tạo thực hành tại cơ sở đào tạo nghề và CSSX Điển hình là:

Đề tài nghiên cứu: “Cơ sở lý luận và thực tiễn hình thức tổ chức đào tạo nghề kết hợp tại trường và cơ sở sản xuất” Trong đề tài này, tác giả đã phân tích một số hình thức kết hợp.[37] Trên cơ sở nghiên cứu ở các nước Mỹ La Tinh và đào tạo nghề song tuyến ở CHLB Đức, tác giả đã đề xuất thực hiện một

số mô hình kết hợp ở Việt Nam Tuy nhiên, công trình chưa có điều kiện để đề cập đến các vấn đề như: Cơ sở khoa học của kết hợp đào tạo nghề, phương thức kết hợp đào tạo nghề, các điều kiện, nguyên tắc, phương pháp thực hiện, quy trình kết hợp, các giải pháp để thực hiện kết hợp đào tạo nghề

Năm 2004, Trường Trung cấp kỹ thuật xây dựng Hà nội có đề tài nghiên cứu khoa học cấp thành phố “Các giải pháp gắn đào tạo với sử dụng lao động của hệ thống dạy nghề Hà nội trong lĩnh vực xây dựng” [34] Trong đề tài tác giả đã phân tích mô hình đào tạo kép ở CHLB Đức, mô hình đào tạo “luân phiên” (Alternation) ở Pháp và đưa ra một số giải pháp trong việc kết hợp đào tạo giữa CSDN với các đơn vị sản xuất Tuy nhiên, đề tài chưa có điều kiện để phân tích các vấn đề như: Các cơ sở khoa học của kết hợp đào tạo nghề, chưa nêu được mô hình kết hợp đào tạo nghề như ở các nước Châu Á như: Trung Quốc, Thái Lan… mà tập trung vào đào tạo mô hình luân phiên của Viện đào tạo luân phiên về xây dựng và các công trình công cộng (LABTP) ở cộng hoà Pháp Giải pháp đề ra chủ yếu tập trung vào: “Quan hệ giữa nhà trường và đơn

vị sản xuất” chưa đi sâu vào vấn đề kết hợp đào tạo

Trong luận án tiến sỹ của tác giả Trần Khắc Hoàn đã giải quyết vấn đề

“Tăng cường mối quan hệ giữa Nhà trường và các đơn vị sản xuất” [18] Là một trong những giải pháp nâng cao chất lượng đào tạo Song do hướng nghiên cứu của đề tài nên tác giả chưa phân tích các cơ sở khoa học, chỉ đề cập đến cách thức tiến hành tăng cường quan hệ của Nhà trường với các đơn vị sản xuất một cách đơn phương, chưa đề cập phương thức kết hợp đào tạo tổng quát ở Việt nam, chưa đưa ra các giải pháp đồng bộ để thực hiện kết hợp đào tạo nghề

Trang 20

tại cơ sở đào tạo nghề và DNSX (do nhiệm vụ đề tài là tập trung giải quyết các giải pháp nâng cao chất lượng đào tạo CNKT xây dựng thủ đô Hà nội nên không đi sâu vào giải quyết lý luận và thực tiễn phối hợp đào tạo nghề)

Đề tài nghiên cứu: “Nghiên cứu khả năng và điều kiện nhằm vận dụng những yếu tố của hệ thống dạy nghề song tuyến của Cộng hòa liên bang Đức vào các trường dạy nghề trực thuộc Xí nghiệp của Việt Nam” Trong đề tài này, tác giả phân tích mô hình dạy nghề kép (Dual System) ở Cộng hòa liên bang Đức và vận dụng một số yếu tố phù hợp vào các trường dạy nghề trực thuộc Xí nghiệp của Việt Nam Tuy nhiên vấn đề đưa ra chỉ tập trung trong phạm vị các trường trực thuộc Xí nghiệp

Năm 2005 Hoàng Ngọc Trí với luận án Tiến sĩ “Nghiên cứu các giải pháp nhằm nâng cao chất lượng đào tạo công nhân kỹ thuật ở thủ đô Hà nội” [31] Có đề cập đến mối quan hệ giữa trường nghề và đơn vị sản xuất

Năm 2006, Nguyễn Văn Tuấn với Luận văn Thạc sĩ “Một số biện pháp tăng cường quản lý đào tạo nghề ở Trường Đại học công nghiệp Hà nội” [36]

Có phân tích mối quan hệ giữa quản lý và chất lượng đào tạo nghề

Tuy nhiên, do hướng nghiên cứu của những đề tài nêu trên chưa đề cập tới các cơ sở khoa học của kết hợp đào tạo nghề mà tập trung giải quyết các mối quan hệ giữa nhà trường và doanh nghiệp Trong đó, vấn đề phối hợp đào tạo nghề và các giải pháp để phối hợp đào tạo nghề trong giai đoạn hiện nay chưa nghiên cứu sâu

Một số bài báo khoa học đăng trên các tạp chí của các nhà nghiên cứu giáo dục điển hình như Nguyễn Minh Đường, Nguyễn Viết Sự, Vũ Văn Tảo, Nguyễn Tiến Đạt, Trần Khánh Đức, Hà Thế Truyền, Phan Văn Kha

và các nhà quản lý giáo dục khác đã đề cập đến các khía cạnh khác nhau của vấn đề quản lý phối hợp đào tạo thực hành nghề giữa các cơ sở đào tạo nghề và cơ sở sản xuất

Trên đây là tổng quan vài nét cơ bản về tình hình nghiên cứu của các công trình nghiên cứu khoa học điển hình, các bài báo khoa học liên quan đến phối hợp đào tạo thực hành nghề giữa nhà trường và DNSX

Trang 21

1.1.3 Một số mô hình về phối hợp giữa cơ sở đào tạo nghề và cơ sở sản xuất

1.1.3.1 Mô hình đào tạo song hành (dual system) cộng hòa liên bang Đức

Đào tạo song hành là mô hình liên kết giữa cơ sở đào tạo và cơ sở sản xuất trong đó quá trình đào tạo nghề được tổ chức song song vừa ở cơ sở đào tạo vừa ở cơ sở sản xuất Trong mỗi tuần lễ, học sinh được học một số ngày ở

cơ sở đào tạo và một số ngày ở cơ sở sản xuất Thông thường là học lý thuyết ở

cơ sở đào tạo và học thực hành ở cơ sở sản xuất Tỷ lệ học ở cơ sơ đào tạo và

cơ sở sản xuất phụ thuộc vào kế hoạch, tiến độ và tổ chức quá trình đào tạo Trong thời gian đầu của khoá đào tạo, học sinh được học ở cơ sở đào tạo nhiều hơn, nhưng càng về cuối khoá số ngày học ở cơ sở sản xuất càng được tăng lên bởi tỷ lệ giờ học thực hành được tăng thêm

Mô hình này được biểu thị như ở sơ đồ 1.1 như sau:

Tại cơ sở

đào tạo

Lý thuyết

Lý thuyết

Thực hành

Thực hành

Tốt nghiệp

Sơ đồ 1.1 Mô hình đào tạo song hành

Mô hình này là sự kết hợp toàn diện và tận dụng được ưu thế của mỗi bên: Cơ sở đào tạo có ưu thế về giảng dạy lý thuyết và cơ sở sản xuất có ưu thế trong việc dạy thực hành

Trong quá trình được học tập theo mô hình song hành, học sinh sớm được sống và lao động cùng với những công nhân lành nghề nên nhanh chóng lĩnh hội được kinh nghiệm của họ trong môi trường sản xuất thật cũng như tiếp cận được với những tình huống sản xuất thực tế và cách giải quyết các vấn đề nảy sinh trong các tình huống sản xuất hàng ngày là một điều lý tưởng của môi trường đào tạo

Với những ưu việt đó, mô hình đào tạo song hành ngày nay đang được

Trang 22

1.1.3.2 Mô hình đào tạo luân phiên ở Cộng hòa Pháp

Đào tạo luân phiên cũng được tiến hành ở hai địa điểm là cơ sở đào tạo

và cơ sở sản xuất Sau một thời gian học ở cơ sở đào tạo thì học sinh được tới học tại xí nghiệp Mô hình này chỉ khác mô hình đào tạo song hành ở chỗ việc thay đổi địa điểm học tập không tiến hành hàng tuần mà thực hiện sau một giai đoạn học tập nào đó

Thông thường, học sinh được học giai đoạn đầu ở cơ sở đào tạo nghề để học lý thuyết và thực hành cơ bản Sau mỗi giai đoạn thực tập cơ bản, học sinh tới xí nghiệp để học thực hành sản xuất tại ví trí lao động thực tế của người công nhân và cuối khoá đào tạo học sinh được thực tập tốt nghiệp tại xí nghiệp, thông thường là xí nghiệp sau này họ sẽ được vào làm việc thực sự

Mô hình này được thể hiện như sơ đồ 1.2 như sau:

Tại cơ

sở đào

tạo

Lý thuyết +

TH cơ bản

Lý thuyết +

TH cơ bản

Lý thuyết + TH

Thực hành sản xuất

Thực hành sản xuất

Tốt nghiệp

Sơ đồ 1.2 Mô hình đào tạo luân phiên

Với mô hình này thực hành nghề được chia thành hai loại: Thực hành cơ bản và thực hành sản xuất, mỗi loại thực hành được chia thành nhiều giai đoạn Các giai đoạn thực hành cơ bản và thực hành sản xuất được thực hiện xen kẽ, luân phiên tại cơ sở đào tạo và tại xí nghiệp Thực hành cơ bản chỉ nhằm mục đích rèn luyện cho học sinh các thao tác cơ bản để khi vào thực hành tại ví trí sản xuất thực tế ở xí nghiệp khỏi bỡ ngỡ và ít làm ảnh hưởng đến sản xuất

1.1.3.3 Mô hình đào tạo tuần tự

Với mô hình này quá trình đào tạo được thực hiện vừa ở cơ sở đào tạo vừa ở cơ sở sản xuất và cũng được chia thành hai loại: Thực hành cơ bản và thực hành sản xuất như ở mô hình đào tạo luân phiên, tuy nhiên điều khác biệt

Trang 23

là toàn bộ quá trình đào tạo chỉ chia thành hai giai đoạn: Giai đoạn đầu học lý thuyết và thực hành cơ bản tất cả các công việc của nghề tại cơ sở đào tạo, tiếp đến giai đoạn thứ hai là giai đoạn thực hành sản xuất theo từng công việc và thực hành tốt nghiệp được thực hiện tại cơ sở sản xuất trong một thời gian dài,

có khi là cả kỳ học

Mô hình này có ưu điểm là đơn giản hơn mô hình khác trong việc tổ chức quá trình đào tạo kết hợp và tận dụng được ưu thế của mỗi bên trong việc kết hợp Tuy nhiên có nhược điểm là học lý thuyết và thực hành cũng như thực hành cơ bản và thực hành sản xuất được tiến hành ở những thời gian cách xa nhau,

do vậy việc tiếp nối giữa lý thuyết và thực hành cũng như giữa thực hành cơ bản

và thực hành sản xuất bị gián đoạn trong một thời gian dài nên học sinh dễ bị quên những điều đã học và giáo viên phải nhắc lại làm cho thời gian học tập bị kéo dài hơn đào tạo theo mô hình song hành hay mô hình đào tạo luân phiên

Mô hình này được biểu thị ở sơ đồ 1.3 như sau:

Sơ đồ 1.3 Mô hình đào tạo tuần tự 1.1.4 Một số bài học kinh nghiệm trên thế giới về quản lý phối hợp đào tạo thực hành nghề giữa cơ sở đào tạo nghề và cơ sở sản xuất

Kinh nghiệm ở Mỹ, Nhật Bản và các nước Châu Âu: Thành lập trường nghề ngay trong các công ty để đào tạo nhân lực cho chính công ty đó và có thể đào tạo cho công ty khác theo hợp đồng

Mô hình này có ưu điểm là: Chất lượng đào tạo cao, người học có năng lực thực hành tốt và có việc làm ngay sau khi tốt nghiệp; dùng phương thức thị trường để thu hút sinh viên, mời các học giả nổi tiếng đến giảng dạy, việc giảng dạy và nghiên cứu khoa học trực tiếp hướng về sản xuất, về quản lý kinh

Trang 24

doanh, có thể làm gia tăng thu nhập tài chính và nhân đó không ngừng cải thiện điều kiện xây dựng trường, nâng cao địa vị của trường, mối quan hệ giữa nhà trường với CSSX phải mật thiết, trường học và xí nghiệp tương hỗ, tương lợi, bình đẳng về lợi ích trên phương tiện dịch vụ kỹ thuật, do vậy mà tăng cường hợp tác giữa các bên.[35, 118]

Ở Trung Quốc hiện nay là kinh nghiệm "Ba trong một": Đào tạo, sản xuất, dịch vụ Theo đó, các trường dạy nghề phải gắn bó chặt chẽ với các cơ sở sản xuất và dịch vụ góp phần quan trọng vào việc nâng cao chất lượng đào tạo nghề.[35, 120]

Ở Thái Lan Chính phủ đã nghiên cứu và xây dựng "Hệ thống hợp tác đào tạo nghề" (Cosperative training system) để giải quyết tình trạng bất cập giữa đào tạo nghề và sử dụng lao động và hướng tới phát triển nhân lực kỹ thuật trong tương lai [27]

Ở Na uy có sự hợp tác ba bên chặt chẽ của Tổ chức giới chủ, Công đoàn

và Đại diện cơ quan giáo dục từ cấp quốc gia, đến cấp tỉnh và địa phương Các đối tác liên quan đặc biệt ủng hộ với độ tin cậy cao về chất lượng đào tạo của

mô hình dạy nghề này Về nội dung chương trình dạy nghề sẽ do Các tổ chức 3 bên cấp quốc gia có nhiệm vụ xây dựng giáo trình dạy nghề và tổ chức đào tạo nghề Các tổ chức ba bên cấp khu vực - Ban đào tạo - chịu trách nhiệm xác định quy mô đào tạo nghề, kinh phí của chính phủ cấp cho đào tạo nghề, cung cấp dịch

vụ đào tạo nghề, giám sát và tổ chức các cuộc thi cấp chứng chỉ.[36, 43]

Trong xu thế toàn cầu và hội nhập hiện nay, việc tổng kết kinh nghiệm quản lý đào tạo nghề của các nước trên thế giới nhằm vận dụng vào thực tiễn đào tạo nghề ở Việt Nam là thực sự cần thiết và cấp bách nhằm đào tạo nguồn nhân lực đủ sức đương đầu với cạnh tranh và hợp tác

1.2 Một số khái niệm

1.2.1 Khái niệm quản lý

Quản lý là một hoạt động đặc biệt, là yếu tố không thể thiếu được trong đời sống xã hội Một nhạc sĩ độc tấu thì tự điều khiển lấy mình, nhưng một dàn nhạc thì cần phải có một nhạc trưởng" [12, 29-30] Khái niệm quản lý đã được tiếp cận ở nhiều góc độ khác nhau:

Trang 25

Các tác giả Harol Koontz Cynil Odonnell và Heinz Weihich khẳng định:

"Quản lý là hoạt động thiết yếu đảm bảo sự nỗ lực của các cá nhân nhằm đạt được mục tiêu của tổ chức" [17, 31] Theo F.W.Taylor: "Quản lý là biết được chính xác điều bạn muốn người khác làm và sau đó hiểu được rằng họ đã hoàn thành công việc một cách tốt nhất và rẻ nhất" [12, 89] Theo Thomas.J.Robbins

- Wayned Morrison: "Quản lý là một nghề nhưng cũng là một nghệ thuật, một khoa học" [28, 19]

Ở Việt Nam cũng có nhiều định nghĩa khác nhau về quản lý:

Theo từ điển Tiếng Việt: "Quản lý là tổ chức và điều hành các hoạt động theo những yêu cầu nhất định" [32, 789]

Tác giả Mai Hữu Khuê cho rằng: "Quản lý là tác động có mục đích tới tập thể những người lao động nhằm đạt được những kết quả nhất định và mục đích đã định trước" [21, 19-20] Theo tác giả Đỗ Hoàng Toàn: "Quản lý là sự tác động có tổ chức, có định hướng của chủ thể lên đối tượng quản lý nhằm sử dụng có hiệu quả nhất các tiềm năng, các cơ hội của hệ thống để đạt được mục tiêu đặt ra trong điều kiện chuyển biến của môi trường" [29, 43]

Có thể nhận thấy những khái niệm nêu trên tuy nhấn mạnh mặt này hay mặt khác, dù tiếp cận ở góc độ nào, lĩnh vực nào đi chăng nữa, ở cấp vĩ mô hay

vi mô đều có điểm chung thống nhất là coi quản lý là hoạt động có tổ chức, có chủ thể quản lý, đối tượng quản lý, khách thể quản lý và mục tiêu quản lý, giữa chúng có mối quan hệ với nhau thông qua những tác động quản lý Do vậy, chúng tôi có thể biểu thị sơ đồ khái niệm quản lý như sau:

Sơ đồ 1.4 Sơ đồ về khái niệm quản lý

Chủ thể quản lý

Đối tượng

quản lý Khách thể

quản lý

Trang 26

Qua sơ đồ khái niệm quản lý, tiếp cận theo quan điểm hệ thống thì "quản lý" là một quá trình bao gồm các thành tố cấu trúc như: chủ thể quản lý, đối trượng quản lý, khách thể quản lý, mục tiêu quản lý… Nếu tiếp cận theo quan điểm hoạt động thì "quản lý" là hoạt động có ý thức của chủ thể quản lý

Từ việc phân tích các khái niệm và quan điểm tiếp cận khác nhau về quản lý, chúng tôi hiểu: Quản lý là hoạt động có ý thức của chủ thể quản lý nhằm điều khiển tác động lên đối tượng, khách thể quản lý để đạt được mục tiêu của quản lý

Toàn bộ hoạt động quản lý đều được thực hiện thông qua các chức năng của nó, như chức năng lập kế hoạch, chức năng tổ chức, chức năng chỉ đạo và chức năng kiểm tra, đánh giá Nếu không xác định được chức năng quản lý thì chủ thể quản lý không thể điều hành được hệ thống quản lý

Khi xã hội loài người xuất hiện, một loạt các quan hệ giữa con người với con người, giữa con người với thiên nhiên, giữa con người với xã hội và cả quan hệ giữa con người với chính bản thân mình xuất hiện theo Trải qua tiến trình lịch sử phát triển từ xã hội lạc hậu đến xã hội văn minh, trình độ sản xuất,

tổ chức điều hành xã hội cũng phát triển theo, đó là tất yếu lịch sử Ngược lại khi trình độ tổ chức điều hành xã hội phát triển sẽ thúc đẩy sự phát triển của trình độ sản xuất, của nền văn minh xã hội Như vậy, quản lý trở thành nhân tố của sự phát triển xã hội Quản lý trở thành một hoạt động phổ biến, diễn ra trong mọi lĩnh vực, ở mọi cấp độ và liên quan đến con người Quản lý có tác dụng thúc đẩy hoặc kìm hãm sự phát triển của xã hội tùy theo trình độ quản lý cao hay thấp

1.2.2 Đào tạo nghề, cơ sở đào tạo nghề

Đào tạo nghề đề cập đến việc dạy các kỹ năng thực hành, nghề nghiệp và kiến thức liên quan đến một số lĩnh vực cụ thể, để người học lĩnh hội và nắm vững kiến thức, kỹ năng nghề nghiệp một cách có hệ thống nhằm chuẩn bị cho người đó thích nghi với cuộc sống và khả năng đảm nhận được một công việc

Trang 27

nhất định Có nhiều dạng đào tạo nghề: Đào tạo cơ bản và đào tạo chuyên sâu, đào tạo chuyên môn và đào tạo nghề, đào tạo lại, đào tạo từ xa và tự đào tạo…

Có rất nhiều định nghĩa về đào tạo nghề, sau đây xin được nêu một số định nghĩa đó:

William Mc Gehee (1979): Đào tạo nghề là những quy trình mà những công ty sử dụng để tạo thuận lợi cho việc học tập sao cho kết quả hành vi đóng góp vào mục đích và các mục tiêu của công ty

Max Forter (1979): cũng đưa ra khái niệm đào tạo nghề phải đáp ứng việc hoàn thành 4 điều kiện: Gợi ra những giải pháp ở người học, Phát triển tri thức, kỹ năng và thái độ, Tạo ra sự thay đổi trong hành vi, Đạt được những mục tiêu chuyên biệt

Tack Soo Chung (1982): Đào tạo nghề là hoạt động đào tạo phát triển năng lực lao động (tri thức, kỹ năng và thái độ nghề nghiệp) cần thiết để đảm nhận công việc được áp dụng đối với người lao động và những đối tượng sắp trở thành người lao động

ILO định nghĩa: Đào tạo nghề là nhằm cung cấp cho người học những kỹ năng cần thiết để thực hiện tất cả các nhiệm vụ liên quan tới công việc, nghề nghiệp được giao

Đào tạo nghề bao gồm hai quá trình có liên quan hữu cơ với nhau Đó là: Dạy nghề: Là quá trình giảng viên truyền bá những kiến thức về lý thuyết và thực hành để các học viên có được một trình độ kỹ năng, kỹ xảo, sự khéo léo thành thục nhất định về nghề nghiệp

Học nghề: Là quá trình tiếp thu những kiến thức về lý thuyết và thực hành của người lao động để đạt được một trình độ nghề nghiệp nhất định Đào tạo nghề cho người lao động là giáo dục kỹ thuật sản xuất cho người lao động

để họ nắm vững nghề nghiệp chuyên môn

Cơ sở dạy nghề: Là cơ sở giáo dục thực hiện hoạt động dạy và học nhằm trang bị kiến thức, kỹ năng và thái độ nghề nghiệp cần thiết cho người học nghề

để có thể tìm được việc làm hoặc tự tạo việc làm sau khi hoàn thành khoá học

Trang 28

Cơ sở dạy nghề theo Luật dạy nghề quy định bao gồm các trường cao đẳng nghề, trường trung cấp nghề, trung tâm dạy nghề, các lớp dạy nghề [ 2, 20]

1.2.3 Công nhân kỹ thuật

Công nhân kỹ thuật là người lao động trong lĩnh vực kỹ thuật, trực tiếp vận hành các thiết bị, công cụ lao động để làm ra các sản phẩm cho xã hội hoặc thực hiện các dịch vụ kỹ thuật trong các lĩnh vực kinh tế quốc dân, ví dụ như người thợ hàn, thợ sửa chữa xe máy, người lái xe, lái máy xúc, Máy ủi…

Dù ở trình độ nào, ngành nghề nào thì để trở thành CNKT, người lao động đều cần phải qua các khoá đào tạo dài hạn hoặc ngắn hạn để có những năng lực cần thiết cho việc hành nghề

Tuỳ thuộc vào mức độ phức tạp của từng vị trí lao động mà thị trường lao động đòi hỏi công nhân kỹ thuật có nhiều trình độ khác nhau

Ở nhiều nước trên thế giới, CNKT được chia thành 3 trình độ: CNKT bán lành nghề (semi- skilled worker), CNKT lành nghề (skilled worker) và CNKT lành nghề trình độ cao (highly - skilled worker)

Những tiến bộ về kỹ thuật và công nghệ đã đề ra những yêu cầu mới đối với người công nhân Trong nền sản xuất hiện đại đòi hỏi người công nhân phải

có tư duy sáng tạo, biết giải quyết vấn đề trong quá trình vận hành các phương tiện sản xuất hiện đại cũng như kiểm tra chất lượng sản phẩm với chất lượng cao hơn, biết sử dụng phần mềm của các phương tiện tự động, vi xử lý…

Ở nước ta trước đây CNKT chỉ được đào tạo ở mức độ lành nghề (bậc 3/7), ngày nay để chuẩn bị cho quá trình CNH - HĐH đất nước, Luật dạy nghề

2006 đã quy định dạy nghề có 3 cấp trình độ: Sơ cấp nghề, Trung cấp nghề và Cao đẳng nghề Do vậy, CNKT cũng sẽ có 3 trình độ: Sơ cấp nghề, Trung cấp nghề, Cao đẳng nghề [24]

Tuỳ theo mức độ phức tạp của từng nghề để xác định các cấp trình độ đào tạo của nghề đó, có nghề phải đào tạo ở cả 3 trình độ nhưng có nghề chỉ cần đào tạo một đến hai cấp Ví dụ: Với những nghề đơn giản như nghề mộc,

nề, chỉ đòi hỏi người CNKT trình độ Sơ cấp nghề hoặc Trung cấp nghề, nhưng

Trang 29

với những nghề phức tạp như nghề thợ tiện điều khiển máy công nghệ cao, thợ sửa chữa thiết bị điện tử thì cần đến CNKT trình độ Cao đẳng nghề

1.2.4 Đào tạo công nhân kỹ thuật

Đào tạo CNKT là một quá trình sư phạm có mục đích, có nội dung và phương pháp, nhằm trang bị cho người học những kiến thức, kỹ năng và thái độ cần thiết của người CNKT để họ có cơ hội tìm việc làm và có năng lực hành nghề ở vị trí lao động theo yêu cầu sản xuất Kết thúc khoá đào tạo, người học được cấp bằng hoặc chứng chỉ để có thể hành nghề

Năng lực hành nghề (Competency) của họ bao gồm 3 yếu tố: Kiến thức (Knowledge), kỹ năng (Skill) và thái độ (Atitude) mà mỗi nghề đòi hỏi người CNKT phải có để có thể hành nghề

Kiến thức là những hiểu biết về các khái niệm, định nghĩa, nguyên lý, quy tắc, phương pháp, sự kiện về công cụ lao động, đối tượng lao động, quy trình công nghệ, sản phẩm lao động và những hiểu biết khác cần thiết cho việc hành nghề Những kiến thức này có được qua quá trình học nghề và trong kinh nghiệm lao động sản xuất của bản thân

Kỹ năng là sự thể hiện khả năng thực hiện thành thạo các công việc của nghề theo yêu cầu sản xuất của thị trường lao động

Thái độ nghề nghiệp là những phẩm chất đạo đức trong lao động như tính trung thực, tinh thần trách nhiệm, tính kỷ luật, tính tập thể, tác phong công nghiệp và các phẩm chất cần thiết khác để người CNKT có thể lao động với chất lượng vµ hiệu quả

Với sự phát triển phong phú và đa dạng của đào tạo nghề cũng như nhu cầu rất đa dạng của người học và của thị trường lao động, ngày nay đang tồn tại

3 loại hình đào tạo CNKT là đào tạo chính quy (fomal training), đào tạo không chính quy (non - formal training) và đào tạo phi chính quy (informal training) Theo Tổ chức Lao động quốc tế ILO các loại hình đào tạo này được nhìn nhận như sau:

Đào tạo chính quy là loại hình đào tạo được thực hiện với chương trình đào tạo được quy định khi người học tốt nghiệp một khoá đào tạo theo một

Trang 30

chương trình nào đó có thể tiếp tục theo học chương trình đào tạo có trình độ cao hơn của hệ thống giáo dục quốc dân

Đào tạo không chính quy là loại hình đào tạo được thực hiện với các chương trình đào tạo thiết kế theo nhu cầu của người học hoặc người sử dụng lao động mà khi học xong chương trình này người học có thể không được thừa nhận để tiếp tục học trình độ cao hơn của hệ thống giáo dục quốc dân

Đào tạo phi chính quy là loại hình đào tạo nhằm hình thành một số năng lực cho người lao động, không theo một chương trình được quy định

Với đặc điểm của đào tạo CNKT, thực hành là chủ yếu, quá trình đào tạo

có thể được thực hiện tại trường, tại Cơ sở sản xuất hoặc liên kết giữa trường

và Cơ sở sản xuất

Tuỳ thuộc vào trình độ đào tạo, CNKT có thể được đào tạo tại các Cơ sở đào tạo ngắn hạn như: Trung tâm dạy nghề, Trung tâm Kỹ thuật tổng hợp - Hướng nghiệp, Trung tâm Giáo dục thường xuyên… ở các Cơ sở đào tạo dài hạn như: Trường trung cấp nghề, Trường CĐ nghề, Trường TCCN, Trường Cao đẳng, Trường Đại học hoặc tại các Cơ sở sản xuất

Tuỳ thuộc vào trình độ đào tạo, trình độ tuyển sinh cũng như thời gian đào tạo CNKT có khác nhau Theo Luật dạy nghề 2006, Dạy nghề được thực hiện dưới 1 năm đối với đào tạo nghề trình độ Sơ cấp, từ 1 đến 3 năm đối với trình độ Trung cấp và Cao đẳng

1.2.5 Cơ sở sản xuất

Là tổ chức kinh tế có tên riêng, có tài sản có trụ sở giao dịch được đăng

ký hoạt động theo quy định của pháp luật nhằm thực hiện hoạt động sản xuất các sản phẩm phục vụ đời sống xã hội

1.2.6 Đào tạo thực hành nghề

Thuật ngũ “Đào tạo ” được coi như một động từ chỉ hoạt động dạy dỗ, rèn luyện, biến đối tượng được đào tạo trở thành người có nhiều hiểu biết, có nghề nghiệp, có tri thức, chuyên môn nghiệp vụ Về bản chất, đào tạo là dạy

Trang 31

các kỹ năng thực hành nghề nghiệp hay kiến thức liên quan đến một lĩnh vực

cụ thể, giúp người học lĩnh hội và nắm vững những tri thức, kỹ năng, nghề nghiệp một cách có hệ thống Chuẩn bị cho người học thích nghi với cuộc soongsvaf khả năng đảm nhận được một công việc nhất định Tóm lại, “Đào tạo là một quá trình hoạt động có mục đích, có tổ chức nhằm hình thành và phát triển có hệ thống các tri thức, kỹ năng, kỹ sảo, thái độ… để hoàn thiện nhân cách cho mỗi cá nhân, tạo tiền đề cho họ có thể vào đời hành nghề một cách có nang xuất và hiệu quả” Nội hàm của khái niệm đào tạo là: Nội dung đào tạo; Đối tượng đào tạo; Phương pháp đào tạo; Cách thức tổ chức đào tạo;Thời gian đào tạo; Mục tiêu đào tạo

Theo tác giả: Đào tạo là hoạt động dạy dỗ, rèn luyện có tổ chức của chủ thể đào tạo đối với đối tượng đào tạo nhằm phát triển kỹ năng, hoàn thiện nhân cách, gia tăng nội lực con người , đáp ứng mục đích, yêu cầu đã định

Thuật ngữ “Đào tạo thực hành nghề” thường được hiểu là “đào tạo nhân lực kỹ thuật trực tiếp trong sản xuất, dịch vụ có năng lực (Chú trọng năng lực thực hành) và các phẩm chất tương xứng với trình độ đào tạo, nói cách khác

“Đào tạo thực hành nghề là quá trình tác động có mục đích, có tổ chức đến người học nghề để hình thành phát triển một cách có hệ thống những kiển thức,

kỹ năng và thái độ nghề nghiệp cần thiết nhằm đáp ứng nhu cầu xã hội Định nghgiax trên đã đề cấp đến đối tượng (người học nghề), mục tiêu (đáp ứng nhu cầu xã hội, nội dung(kiến thức, kỹ năng, thái độ nghề nghiệp) của ĐTN Do đó, cũng tương tự như đào tạo, ĐTN cũng bao gồm các thành tố như: Chủ thể đào tạo, đối tượng được đào tạo, nội dung, phương pháp đào tạo, mục tiêu, hiệu quả đào tạo

Theo tác giả, đào tạo thực hành nghề là quá trình tác động của chủ thể đào tạo tới đối tượng được đào tạo thông qua quy trình: Đầu vào - quá trình dạy học - kết quả đầu ra nhằm thực hiện mục tiêu - đáp ứng nhu cầu xã hội

Trang 32

1.2.7 Biện pháp Phối hợp đào tạo thực hành nghề giữa cơ sở đào tạo và cơ

sở sản xuất

Phối hợp đào tạo là sự hợp tác, phối hợp giữa cơ sở đào tạo và các cơ sở sản xuất để cùng nhau thực hiện những công việc nào đó của quá trình đào tạo nhằm góp phần phát triển sự nghiệp đào tạo nhân lực cho đất nước đồng thời mang lại lợi ích cho mỗi bên Do vậy, quan hệ giữa cơ sở đào tạo và cơ sở sản xuất là quan hệ cung - cầu, quan hệ giữa đào tạo và sử dụng nhân lực Bởi vậy

sự phối hợp giữa các cơ sở đào tạo và các cơ sở sản xuất là không thể thiếu đối với sự tồn tại và phát triển của mỗi bên trong cơ chế thị trường

Hiện tại có nhiều quan niệm khác nhau về biện pháp phối hợp Trên phương diện tổ chức, biện pháp phối hợp được hiểu “là phối hợp với nhau từ nhiều thành phần hoặc tổ chức riêng rẽ”; “là sự phối hợp, kết hợp với nhau, chỉnh sửa cho phù hợp các khái niệm, các hành động và các thành phần cấu thành” Xét trên phương diện mục tiêu, hiệu quả, liên kết: “là phối hợp cùng một mục đích và trong cùng một lúc nhiều tác dụng khác nhau tăng cường lẫn nhau”; “là bố trí cùng nhau làm theo một kế hoạch chung để đạt một mục đích chung”, tuy nhiên, dù xét trên phương diện nào, cách tiếp cận nào, phối hợp cũng hướng tới điểm chung; là sự phối hợp, kết hợp được hợp thành bởi các yếu tố: Đối tượng (chủ thể) tham gia hoạt động phối hợp, hình thức phối hợp, nội dung phối hợp, mục đích phối hợp

Biện pháp phối hợp là một hình thức liên kết cho phép cơ sở đào tạo, các

tổ chức kết hợp với nhau cùng thực hiện các chương trình đào tạo, trong đào tạo thực hành nghề, phối hợp đào tạo là một hình thức gửi học sinh đến thực tập tại các nhà máy, công trình, tại doanh nghiệp có điều kiện về trag thiết bi ,

là một hình thức đào tạo theo địa chỉ sử dụng, theo yêu cầu đầu ra

Nội hàm của khái niệm biện pháp phối hợp đào tao thực hành nghề được xác định qua: Chủ thể phối hợp đào tạo là CSĐT và CSSX, Mục đích phối hợp đào tạo là tối đa hóa lợi ích các bên tham gia, đảm bảo mục tiêu phát triển nhân

Trang 33

lực, đáp ứng yêu cầu xã hội Nội dung, hình thức phối hợp đào tạo theo thỏa thuận đã được thống nhất Hai bên cùng xây dựng kế hoạch, tổ chức thực hiện trên cơ sở nguyên tắc hai bên cùng cộng đồng trách nhiệm và cùng có lợi nhằm đảm bảo mục tiêu đã định

Trong thực tế, phối hợp đào tạo giữa nhà trường và các cơ sở sản xuất có nhiều mức độ khác nhau tuỳ thuộc vào yêu cầu và khả năng của mỗi bên Các mức độ có thể kể đến là:

- Phối hợp toàn diện là sự tham gia của các cơ sở sản xuất với cơ sở đào

tạo trong mọi lĩnh vực, mọi khâu của quá trình đào tạo Với mức độ liên kết này, các cơ sở sản xuất tham gia đầu tư trang thiết bị cho cơ sở đào tạo hoặc tổ chức các phân xưởng đào tạo để cơ sở đào tạo và cơ sở sản xuất cùng sử dụng,

cử kỹ sư và công nhân cùng tham gia giảng dạy, tham gia với cơ sở đào tạo từ khâu hướng nghiệp chọn nghề phù hợp để học, xây dựng mục tiêu, nội dung chương trình đào tạo, tham gia đào tạo và đánh giá kết quả học tập của học sinh, tham gia giới thiệu việc làm cho học sinh

- Phối hợp có giới hạn là sự phối hợp chỉ được thực hiện trong một số

lĩnh vực hoặc trong một số khâu của quá trình đào tạo Mức độ phối hợp này phù hợp với những trường hợp cả hai bên đối tác chưa có nhu cầu hoặc chưa có điều kiện để hợp tác toàn diện Ví dụ cơ sở sản xuất hàng năm nhận học sinh của cơ sở đào tạo vào thực tập sản xuất, thực tập tốt nghiệp…

- Phối hợp rời rạc là sự liên kết chỉ thực hiện trong một số lĩnh vực và sự

hợp tác này cũng có thể không thực hiện được thường xuyên mà chỉ thực hiện khi có điều kiện

Như vậy, sự phối hợp giữa Nhà trường và các cơ sở sản xuất rất đa dạng, tuỳ thuộc vào nhu cầu và điều kiện của mỗi bên, không thể áp đặt một cách đồng loạt mặc dầu sự hợp tác sẽ mang lại lợi ích cho cả đôi bên

1.3 Đặc trưng đào tạo Công nhân kỹ thuật và việc làm trong cơ chế thị trường

Trong cơ chế thị trường, học sinh - sinh viên tốt nghiệp các cơ sở đào tạo đều phải tự tìm lấy việc làm Trong khi đó, với chủ trương phân cấp quản lý trong đào tạo, các cơ sở đào tạo được giao nhiều quyền chủ động hơn, trong đó

Trang 34

có quyền tuyển sinh và tổ chức các khoá đào tạo theo nhu cầu của xã hội, của thị trường lao động Do vậy, các cơ sở đào tạo cần có trách nhiệm xã hội cao hơn, đặc biệt là với các học sinh - sinh viên tốt nghiệp ở cơ sở mình

Đào tạo và việc làm của học sinh tốt nghiệp đã trở thành uy tín của cơ sở đào tạo đồng thời cũng là vấn đề sống còn của mỗi cơ sở Tuy nhiên đây cũng đang là điểm yếu của hệ thống đào tạo nói chung và đào tạo nghề nói riêng ở nước ta Để khắc phục được tình trạng này, việc đầu tiên là hệ thống đào tạo cũng như các cơ sở đào tạo nghề cần xác định được nhu cầu về nhân lực nói chung và CNKT nói riêng của các cơ sở sản xuất và của thị trường lao động

Đặc trưng đào tạo CNKT khác với các bậc đào tạo Đại hoc, Cao đẳng, Trung cấp chuyên nghiệp đó là đào tạo kỹ năng tay nghề là chính, lấy quan điểm tiếp cận năng lực thực hiện Đào tạo CNKT là hoạt động dạy và học nhằm trang bị kiến thức, kỹ năng, thái độ nghề nghiệp cần thiết cho người học nghề

để có thể tìm được việc làm hoặc tự tạo việc làm sau khi hoàn thành khóa học Đào tạo CNKT có nhiều dạng: Đào tạo cơ bản, đào tạo chuyên sâu, đào tạo chuyên môn và đào tạo nghề, đào tạo lại,… Đào tạo nghề được thực hiện theo nguyên lý học đi đôi với hành, giáo dục kết hợp với lao động sản xuất, lý luận gắn liền với thực tiễn

Trong đào tạo CNKT cần gắn với cơ sở sản xuất vì: Trong đào tạo nghề phần thực hành (kỹ năng) là chính thời gian thực hành cơ bản chiếm từ 60 đến 80% tổng thời gian của chương trình đào tạo, phần kiến thức chiếm khoảng 30% Phối hợp đào tạo thực hành nghề giữa nhà trường và cơ sở sản xuất nhằm tạo cho học sinh được thực hành nghề trong môi trường sản xuất Vì vậy học sinh không chỉ có điều kiện để hình thành nhanh chóng các kỹ năng nghề nghiệp, được tiếp cận với môi trường sản xuất với nhịp độ khẩn trương, không gừng nâng cao năng xuất lao động và chất lượng sản phẩm Học sinh được rèn luyện tác phong công nghiệp trong điều kiện sản xuất Tiếp cận với thiết bị hiện đại Mối quan hệ giữa cơ sở đào tạo và cơ sở xuất cùng nhau tác động để nâng cao chất lượng và hiệu quả đào tạo nghề theo yêu cầu của sản xuất

Trang 35

1.3.1 Xác định nhu cầu về nhân lực - xuất phát điểm của Đào tạo CNKT trong cơ chế thị trường

Để học sinh - sinh viên tốt nghiệp có nhiều cơ hội tìm được việc làm, điều quan trọng là hệ thống đào tạo cần xác định được nhu cầu về lao động kỹ thuật nói chung và CNKT nói riêng của thị trường lao động

Để đào tạo gắn được với yêu cầu của sản xuất, của thị trường lao động điều quan trọng là phải xác định nhu cầu về nhân lực hàng năm cũng như trong

kế hoạch 5 năm Xác định nhu cầu về nhân lực là một nhiệm vụ nhiệm vụ rất quan trọng để kế hoạch hoá đào tạo

Theo Tổ chức Lao động quốc tế (ILO) xác định nhu cầu về nhân lực nhằm mục đích biết được các nhu cầu ngắn hạn và trung hạn của các cơ sở sản xuất, của thị trường về lao động kỹ thuật để có thể chuyển thành nhu cầu đào tạo

Xác định nhu cầu đào tạo là một trong những điều kiện để xây dựng các chương trình, kế hoạch đào tạo CNKT các nghề và trình độ khác nhau một cách

có cơ sở khoa học và thực tiễn nhằm đáp ứng tối đa LĐKT cho nhu cầu của cơ

sở sản xuất, nhằm đạt được sự phối hợp đào tạo có hiệu quả giữa Nhà trường

và các cơ sở sản xuất

Với cơ sở Dạy nghề, xác định nhu cầu CNKT của các cơ sở sản xuất là

một trong những tiền đề quan trọng để xây dựng kế hoạch đào tạo và triển khai các chương trình đào tạo một cách có cơ sở khoa học và thực tiễn, nhằm đáp ứng tối đa nhu cầu của khách hàng, của thị trường lao động về chất và góp phần giải quyết hài hòa mâu thuẫn giữa nhu cầu của khách hàng và khả năng của mình bằng cách xác định các ưu tiên trong việc mở các khoá đào tạo theo các trình độ và ngành nghề khác nhau

1.3.2 Các phương pháp xác định nhu cầu về CNKT

1.3.2.1 Phương pháp điều tra, phỏng vấn các cơ sở sản xuất đối tác

Trong phạm vi hoạt động của mình, mỗi cơ sở dạy nghề đều có những cơ

sở sản xuất là đối tác, những cơ sở sản xuất này sử dụng học sinh sinh viên tốt nghiệp của cơ sở dạy nghề hàng năm Do vậy, tổ chức điều tra phỏng vấn họ để

Trang 36

có được nhu cầu đào tạo CNKT trước mắt cũng như kế hoạch phát triển nhân lực của họ trong một tương lai gần là điều cần thiết cho việc tổ chức các khoá đào tạo phù hợp cũng như chuẩn bị cho việc kế hoạch hóa đào tạo tương lai của Nhà trường

Điều tra về nhu cầu CNKT của cơ sở sản xuất có thể thực hiện trực tiếp ở từng cơ sở sản xuất là đối tác của cơ sở dạy nghề và cũng có thể tiến hành hội nghị khách hàng hàng năm

1.3.2.2 Phương pháp điều tra theo dấu vết học sinh - sinh viên tốt nghiệp ở các

cơ sở sản xuất

Một biện pháp khá hữu hiệu để xác định nhu cầu về CNKT, đặc biệt về mặt chất lượng và là phương pháp điều tra theo dấu vết học sinh, sinh viên tốt nghiệp đã tìm được việc làm và đang lao động ở các cơ sở sản xuất Những học sinh sau khi tốt nghiệp trong quá trình lao động nghề nghiệp sẽ hiểu rõ hơn ai hết chất lượng của chương trình họ đã được đào tạo đáp ứng được yêu cầu của sản xuất tới mức độ nào, những nội dung nào phù hợp, nội dung nào là không cần thiết và nội dung nào cần mà họ chưa được học

Trên cơ sở đó hoàn thiện hơn về cơ cấu ngành nghề và trình độ nhằm mục đích điều chỉnh các chương trình đào tạo cũng như số lượng tuyển sinh của ngành nghề và trình độ trong tương lai cho phù hợp với nhu cầu về nhân lực của cơ sở sản xuất là đối tác của mình để có thể tổ chức các khoá đào tạo cho phù hợp Ngược lại, các nhà sản xuất cũng hoạch định kế hoạch phát triển nhân lực đáp ứng các mục tiêu của sản xuất qua giai đoạn phát triển

1.3.3 Đào tạo CNKT phải tuân thủ các quy luật của thị trường

Để đào tạo gắn được với việc làm của học sinh sinh viên tốt nghiệp, cơ

sở đào tạo cần quan tâm đến một số vấn đề sau đây:

1.3.3.1 Quy luật cung cầu

Trong cơ chế thị trường với nền kinh tế nhiều thành phần, xác định nhu cầu đào tạo là bước khởi đầu quan trọng để phát triển đào tạo bởi lẽ nhiệm vụ

cơ bản của hệ thống đào tạo là cung cấp nhân lực cho nhu cầu phát triển sản xuất, cho nhu cầu của thị trường lao động Thị trường lao động tuy có những

Trang 37

nét rất đặc thù, tuy nhiên nó cũng phải tuân theo những quy luật tất yếu của thị trường, trước hết là quy luật cung - cầu

Đào tạo giữ một vai trò quan trọng trong việc cung cấp CNKT cho thị trường lao động Theo quy luật cung cầu, nếu đào tạo CNKT cho một số ngành nghề và trình độ nào đó đáp ứng được nhu cầu của thị trường lao động về chất cũng như về lượng thì một mặt sẽ tạo điều kiện để sản xuất phát triển mặt khác cũng kích thích thị trường lao động phát triển Nhưng nếu đào tạo không đủ CNKT cho một số ngành nghề nào đó, cung không đủ cho cầu thì sản xuất sẽ không phát triển được và một số doanh nghiệp phải nhập khẩu lao động kỹ thuật Ngược lại nếu đào tạo quá nhiều, cung vượt quá cầu thì một số CNKT được đào tạo ra sẽ không tìm được việc làm và sẽ phải thất nghiệp

Do vậy, đào tạo CNKT phải gắn với nhu cầu của thị trường lao động luôn biến động

1.3.3.2 Quy luật giá trị

Với quy luật giá trị, lao động kỹ thuật cũng như các cơ sở đào tạo nhân lực có chất lượng khác nhau phải được đối sử khác nhau, không thể cào bằng trong chính sách đào tạo cũng như chính sách sử dụng lao động kỹ thuật Có như vậy mới kích thích được sự phấn đấu vươn lên của người học cũng như của các cơ sở đào tạo để đạt chất lượng cao

Để đào tạo có chất lượng cao, sản phẩm đào tạo có giá trị được xã hội chấp nhận, cơ sở đào tạo phải được đầu tư và tự đầu tư một cách thích đáng để

có đủ các điều kiện bảo đảm chất lượng đào tạo Chất lượng của sản phẩm phụ thuộc vào giá thành làm ra sản phẩm đó

1.3.3.3 Quy luật cạnh tranh

Trong cơ chế thị trường, những người lao động được đào tạo với chất lượng thấp sẽ ít có cơ hội tìm được việc làm và những cơ sở đào tạo kém chất lượng cũng sẽ dần dần bị xã hội đào thải Do vậy, trong cơ chế thị trường ngoài quy luật cung cầu, cạnh tranh là một quy luật tất yếu Cạnh tranh lành mạnh là động lực cho sự phát triển

Trang 38

Tóm lại, trong cơ chế thị trường, các quy luật cơ bản của thị trường là quy luật giá trị, quy luật cung cầu, và quy luật cạnh tranh có tác động mạnh mẽ đến hệ thống đào tạo CNKT

1.4 Sự phối hợp giữa cơ sở đào tạo và cơ sở sản xuất

1.4.1 Sự phối hợp giữa cơ sở đào tạo và cơ sở sản xuất và nguyên lý giáo dục

“Học đi đôi với hành”

“Học đi đôi với hành, học tập kết hợp với lao động sản xuất, đào tạo gắn với sử dụng” đã trở thành một nguyên lí giáo dục có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong đào tạo nghề Nguyên lý này đã được các tác giả kinh điển của chủ nghĩa Mác - Lênin khẳng định từ lâu và lịch sử tiến hoá của loài người cũng đã chứng minh rằng chỉ có thông qua lao động sản xuất loài người mới tồn tại và phát triển

Lịch sử của loài người từ thời nguyên thuỷ, qua thời kì đồ đá, đồ đồng cho đến nay là lịch sử phát triển của phương tiện và công cụ lao động sản xuất, trong quá trình lao động, loài người thế hệ trước đã truyền thụ kinh nghiệm sản xuất cho thế hệ sau và giáo dục đã ra đời Do vậy, chỉ có học tập gắn với lao động sản xuất thì giáo dục mới phát triển và cũng do vậy, nhà trường gắn với

cơ sở sản xuất đã từ lâu trở thành sự thể hiện của nguyên lý “Học đi đôi với hành, học tập kết hợp với lao động sản xuất”

Trong đào tạo nghề, thời gian học thực hành chiếm khoảng 60 - 80% tổng thời lượng phụ thuộc vào từng nghề và trình độ đào tạo Đây là một tỉ lệ lớn giúp cơ sở đào tạo gắn bó với cơ sở sản xuất Tuy nhiên điều đáng quan tâm ở đây là thực hành lao động sản xuất có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong đời sống xã hội và trong quá trình phát triển nhân cách của con người so với sự lao động bình thường của mỗi con người Do vậy, nhiều nhà nghiên cứu về dạy nghề cho rằng, học thực hành nghề trong môi trường sản xuất của các cơ sở sản xuất là tốt nhất, vì ở đó học sinh không chỉ có điều kiện để hình thành nhanh chóng những kỹ năng nghề nghiệp sản xuất yêu cầu mà còn được tiếp cận với

Trang 39

môi trường sản xuất thực với nhịp độ khẩn trương của sự phấn đấu để không ngừng nâng cao năng xuất lao động và chất lượng sản phẩm Cũng chính ở đó học sinh sinh viên được rèn luyện tác phong công nghiệp trong điều kiện sản xuất thực tế, điều mà khi học ở nhà trường học sinh không thể có được, học đi đôi với hành còn có một ý nghĩa là lý luận phải gắn với thực tiễn Hồ Chủ Tịch cũng nêu rõ: “Lý luận không có thực tiễn là lý luận suông, thực tiễn không có

lý luận là thực tiễn mù” Học lý luận phải được kiểm chứng bằng thực tiễn, ngược lại thực tiễn phải được soi đường bằng lý luận đó là triết lý của mối quan

hệ giữa nhà trường và cơ sở sản xuất

Nghị quyết Hội nghị lần thứ hai Ban chấp hành Trung ương Đảng khoá VIII cũng chỉ ra: “Thực hiện giáo dục kết hợp với lao động sản xuất, nghiên cứu khoa học, lý luận gắn với thực tế, học đi đôi với hành, nhà trường gắn liền với gia đình và xã hội”.[5, 30]

Với những lý do trên, mối liên kết giữa cơ sở đào tạo và cơ sở xuất là sự thể hiện tất yếu và hoàn thiện nhất của nguyên lý học đi đôi với hành, học tập kết hợp với lao động sản xuất trong đào tạo nghề

Để thiết lập được mối liên kết giữa cơ sở đào tạo và cơ sở sản xuất một cách bền vững cần làm sáng tỏ được bản chất của mối quan hệ này

1.4.1.1 Quan hệ cung cầu

Đào tạo và sử dụng nhân lực có mối quan hệ gắn bó hữu cơ với nhau, trước hết, đó là quan hệ cung cầu, nhà trường cung ứng CNKT và các loại lao động kỹ thuật khác cho các cơ sở sản xuất và ngược lại các cơ sở sản xuất tiếp nhận CNKT từ các cơ sở đào tạo để phát triển sản xuất theo yêu cầu của mình

Do vậy cơ sở đào tạo cần biết nhu cầu về CNKT và các loại LĐKT khác của các cơ sở sản xuất là khách hàng của mình để lập kế hoạch và tổ chức các khoá đào tạo cho phù hợp về ngành nghề và trình độ Ngược lại các cơ sở sản xuất cần hiểu được khả năng đào tạo của các cơ sở đào tạo để có được đơn đặt hàng theo nhu cầu LĐKT của mình trong từng giai đoạn phát triển sản xuất

Trang 40

Trong cơ chế thị trường, nếu mối quan hệ giữa nhà trường và các cơ sở sản xuất không được thiết lập hoặc thiết lập một cách hình thức trên quan hệ xin cho thì tất yếu dẫn đến tình trạng LĐKT vừa thừa lại vừa thiếu như tình trạng hiện nay và quy luật cung cầu không được tuân thủ đến một chừng mực nào đó sẽ gây nên khủng hoảng thừa hoặc khủng hoảng thiếu về lao động kỹ thuật và sản xuất bị đình trệ ngược lại nhà trường cũng không thể phát triển

1.4.1.2 Quan hệ nhân quả

Mối quan hệ giữa đào tạo và sản xuất còn mang tính triết lý nhân quả cái

nọ làm tiền đề cho cái kia phát triển và ngược lại

Sản xuất phát triển, nhu cầu về CNKT và các loại LĐKT khác ngày càng tăng tạo điều kiện thúc đầy hoạt động đào tạo của cơ sở đào tạo phát triển, đào tạo càng phát triển, quy mô đào tạo ngày càng tăng và chất lượng đào tạo ngày càng được nâng cao đáp ứng yêu cầu CNKT về chất cũng như về lượng trong sản xuất Cứ như vậy các đối tác bên nọ thúc đẩy và tạo điều kiện cho bên kia phát triển một cách thuận chiều

Ngược lại, nếu đào tạo không phát triển, quy mô và chất lượng đào tạo ngày càng giảm, không có đủ CNKT đáp ứng được yêu cầu của sản xuất về chất cũng như về lượng làm cho sản xuất không đủ cạnh tranh và ngày càng đình trệ nhu cầu về nhân lực giảm, CNKT tốt nghiệp ra không có cơ hội tìm việc làm khả năng đầu tư cho cơ sở đào tạo và uy tín của cơ sở đào tạo ngày càng giảm và cứ thế cái nọ kéo theo cái kia ngày càng đi xuống theo một triết

lý nhân quả

Bởi vậy, thiết lập mối liên kết hữu cơ giữa cơ sở đào tạo và các cơ sở sản xuất nhằm mục đích hai bên cùng hợp tác gắn bó để hỗ trợ nhau cùng phát triển

1.4.2 Nội dung của sự phối hợp giữa cơ sở đào tạo và cơ sở sản xuất

Mối liên kết giữa cơ sở đào tạo và cơ sở sản xuất phải được thiết lập trên quan điểm hệ thống, có nghĩa là một quan hệ trên nhiều lĩnh vực, với nhiều

Ngày đăng: 26/06/2017, 15:40

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. A Climoov (1991), Nay đi học mai làm gì ? Tủ sách ĐHSP Hà nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nay đi học mai làm gì
Tác giả: A Climoov
Năm: 1991
2. Bộ giáo dục và Đào tạo, Điều lệ Trường trung cấp chuyên nghiệp Ban hành kèm theo Thông tư số 54/2011/QĐ- BGD&ĐT, ngày 15 tháng 11 năm 2011 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Điều lệ Trường trung cấp chuyên nghiệp Ban hành kèm theo Thông tư số 54/2011/QĐ- BGD&ĐT
3. Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, Hệ thống các quy định công tác Dạy nghề và tiêu chuẩn, chất lượng Trường dạy nghề, năm 2009 - NXB LĐXH Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hệ thống các quy định công tác Dạy nghề và tiêu chuẩn, chất lượng Trường dạy nghề
Nhà XB: NXB LĐXH
4. Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, Các văn bản Quy phạm pháp luật về Dạy nghề, NXB LĐXH Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các văn bản Quy phạm pháp luật về Dạy nghề
Nhà XB: NXB LĐXH
5. Đảng cộng sản Việt Nam - Văn kiện hội nghị lần thứ hai ban chấp hành Trung ương khóa VIII, NXB Chính trị quốc gia Hà nội, năm 1997 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện hội nghị lần thứ hai ban chấp hành Trung ương khóa VIII
Nhà XB: NXB Chính trị quốc gia Hà nội
6. Đảng cộng sản Việt Nam - Văn kiện hội nghị lần thứ hai ban chấp hành Trung ương khóa IX, NXB Chính trị quốc gia Hà nội, năm 2002 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện hội nghị lần thứ hai ban chấp hành Trung ương khóa IX
Nhà XB: NXB Chính trị quốc gia Hà nội
7. Đảng cộng sản Việt Nam - Văn kiện đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, NXB Chính trị quốc gia. Hà nội, năm 2011 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI
Nhà XB: NXB Chính trị quốc gia. Hà nội
9. Đảng bộ Thành phố Uông bí, Báo cáo chính trị tại Đại hội Đại biểu lần thứ XVIII nhiệm kỳ 2010 - 2015, tháng 8 năm 2010 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo chính trị tại Đại hội Đại biểu lần thứ XVIII nhiệm kỳ 2010 - 2015
10. Đảng bộ Trường TCXD - Báo cáo chính trị tại Đại hội đảng bộ lần thứ V nhiệm kỳ 2010 - 2015, tháng 5 năm 2010 Sách, tạp chí
Tiêu đề: - Báo cáo chính trị tại Đại hội đảng bộ lần thứ V nhiệm kỳ 2010 - 2015
12. Nguyễn Thị Doan (1996), Các học thuyết quản lý, NXB Chính trị Quốc gia Hà nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: ), Các học thuyết quản lý
Tác giả: Nguyễn Thị Doan
Nhà XB: NXB Chính trị Quốc gia Hà nội
Năm: 1996
13. Trần Khánh Đức, Giáo dục kỹ thuật nghề nghiệp và phát triển nguồn nhân lực, NXB Giáo dục, năm 2002 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo dục kỹ thuật nghề nghiệp và phát triển nguồn nhân lực
Nhà XB: NXB Giáo dục
14. Trần Khánh Đức, Cơ sở khoa học và thực tiễn phân tích - đánh giá chính sách phát triển nguồn nhân lực - từ chiến lược phát triển giáo dục đến chính sách phát triển nguồn nhân lực, NXB Giáo dục Hà Nội, năm 2002 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ sở khoa học và thực tiễn phân tích - đánh giá chính sách phát triển nguồn nhân lực - từ chiến lược phát triển giáo dục đến chính sách phát triển nguồn nhân lực
Nhà XB: NXB Giáo dục Hà Nội
15. Trần Khánh Đức, Giáo dục đại học và nghề nghiệp với thị trường lao động- Lao động việc làm và nguồn nhân lực ở Việt nam 15 năm đổi mới, NXB Thế giới Hà nội, năm 2001 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo dục đại học và nghề nghiệp với thị trường lao động- Lao động việc làm và nguồn nhân lực ở Việt nam 15 năm đổi mới
Nhà XB: NXB Thế giới Hà nội
16. Nguyễn Minh Đường, Đào tạo nhân lực đáp ứng yêu cầu CNH, HĐH trong điều kiện kinh tế thị trường, toàn cầu hoá và hội nhập quốc tế, NXB ĐHQGHN, năm 2006 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đào tạo nhân lực đáp ứng yêu cầu CNH, HĐH trong điều kiện kinh tế thị trường, toàn cầu hoá và hội nhập quốc tế
Nhà XB: NXB ĐHQGHN
17. Harol Koontz, Cyril Odnneill, Heinz Weihrich (1999), Những vấn đề cốt yếu của quản lý, Nhà xuất bản Khoa học Kỹ thuật Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những vấn đề cốt yếu của quản lý
Tác giả: Harol Koontz, Cyril Odnneill, Heinz Weihrich
Nhà XB: Nhà xuất bản Khoa học Kỹ thuật
Năm: 1999
18. Trần Khắc Hoàn, Kết hợp đào tạo tại Trường và Doanh nghiệp nhằm nâng cao chất lượng đào tạo nghề ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay, Luận án Tiến sỹ, ĐHQGHN, năm 2006 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kết hợp đào tạo tại Trường và Doanh nghiệp nhằm nâng cao chất lượng đào tạo nghề ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay, Luận án Tiến sỹ
20. Phan Văn Kha, Các giải pháp tăng cường mối quan hệ giữa đào tạo với sử dụng nhân lực có trình độ trung học chuyên nghiệp ở Việt Nam - Báo cáo tổng kết đề tài B, năm 2003 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các giải pháp tăng cường mối quan hệ giữa đào tạo với sử dụng nhân lực có trình độ trung học chuyên nghiệp ở Việt Nam
21. Mai Hữu Khuê (1982), Những vấn đề cơ bản của Khoa học quản lý, Nhà xuất bản lao động xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: ), Những vấn đề cơ bản của Khoa học quản lý
Tác giả: Mai Hữu Khuê
Nhà XB: Nhà xuất bản lao động xã hội
Năm: 1982
22. Các Mác (1959), Tư bản, quyển 1, tập 2, NXB sự thật, Hà nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tư bản, quyển 1, tập 2
Tác giả: Các Mác
Nhà XB: NXB sự thật
Năm: 1959
23. Phan Tùng Mậu, Đào tạo theo địa chỉ - Một giải pháp gắn đào tạo với việc sử dụng nguồn nhân lực trong điều kiện nền kinh tế thị trường ở nước ta hiện nay - từ chiến lược phát triển giáo dục đến chính sách phát triển nguồn nhân lực, NXB Giáo dục Hà nội, năm 2002 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đào tạo theo địa chỉ - Một giải pháp gắn đào tạo với việc sử dụng nguồn nhân lực trong điều kiện nền kinh tế thị trường ở nước ta hiện nay - từ chiến lược phát triển giáo dục đến chính sách phát triển nguồn nhân lực
Nhà XB: NXB Giáo dục Hà nội

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w