1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Biến đổi về vai trò của người phụ nữ trong gia đình ở Hà Nội hiện nay qua nghiên cứu một số xã, phường

203 503 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 203
Dung lượng 1,57 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

1. Tính cấp thiết của đề tài Trong xã hội hiện đại ngày nay, vai trò và những đóng góp, cống hiến của phụ nữ trong đời sống nói chung, trong gia đình nói riêng ngày càng được khẳng định thông qua các hoạt động trên nhiều lĩnh vực, trong cả gia đình và ngoài xã hội. Dưới ảnh hưởng của công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa và tiến trình hội nhập, toàn cầu hóa ở nước ta, phụ nữ Việt Nam ngày càng có nhiều điều kiện, cơ hội thuận lợi để thể hiện, khẳng định năng lực, trình độ bản thân cũng như tham gia tích cực vào sự nghiệp xây dựng, phát triển gia đình và đất nước bền vững. Có một thực tế, cũng là thành tựu đáng ghi nhận, là các chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước ngày càng thể hiện rõ quan điểm xóa bỏ phân biệt, bất bình đẳng nam - nữ trên các lĩnh vực của đời sống xã hội, tạo điều kiện thuận lợi để phụ nữ được hưởng thụ các thành tựu của công cuộc xây dựng, đổi mới, phát triển đất nước, tham gia các hoạt động xã hội và được ghi nhận những đóng góp của mình trên nhiều lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hóa… Hướng tới bảo đảm quyền bình đẳng và quyền lợi chính đáng cho phụ nữ là một mục tiêu chiến lược để đất nước và con người Việt Nam phát triển bền vững. Thành quả mà chúng ta đạt được trong những năm qua, là phụ nữ và vai trò của người phụ nữ ngày càng được khẳng định và nhìn nhận, đánh giá đúng đắn hơn bởi hiệu quả không chỉ từ những chủ trương, chính sách mang tính chiến lược đó, mà còn từ chính những nỗ lực và sự đóng góp về cả vật chất và tinh thần mà phụ nữ mang lại cho gia đình và xã hội… Song rõ ràng, bên cạnh những thành tựu, vẫn có những tồn tại, hạn chế trong việc đánh giá, nhìn nhận vai trò của người phụ nữ cũng như những đóng góp, cống hiến của họ trong nhiều lĩnh vực xã hội, mà trước tiên là trong gia đình. Thực trạng này tồn tại không phải ở đâu xa, mà ở ngay Thủ đô Hà Nội - trung tâm chính trị, kinh tế, văn hóa của nước ta. Trong bối cảnh Thủ đô đang có những sự biến chuyển, phát triển mạnh mẽ trên nhiều lĩnh vực hòa vào tiến trình hội nhập chung của đất nước, người phụ nữ Hà Nội ngày càng có điều kiện, cơ hội tham gia, hòa nhập sâu, rộng vào các lĩnh vực hoạt động của đời sống xã hội. Cùng với những biến chuyển về chủ trương, đường lối, chính sách, pháp luật trong bảo vệ và phát huy vai trò của phụ nữ, cùng với những đổi thay nhất định về nhận thức của xã hội…, vai trò của phụ nữ trong gia đình cũng vì thế mà có những biến đổi. Tuy nhiên, thực tế cho thấy, người phụ nữ dù trong gia đình Hà Nội gốc hay không, có việc làm (công việc chuyên môn, làm nông hoặc làm nghề) hay không, đa phần đều gặp một “lực cản” chung về quan niệm vốn tồn tại đã lâu, là việc đảm nhiệm vai trò làm vợ, làm mẹ, chịu trách nhiệm các công việc nhà, nuôi dạy con cái… đương nhiên được coi là của phụ nữ chứ không phải của nam giới; sự chia sẻ, thông cảm của các thành viên trong gia đình với các vai trò nói trên của phụ nữ vì thế cũng khá hạn chế, nên dễ dẫn đến những xung đột và gây trở ngại cho phụ nữ trong việc cống hiến trí và lực cho nghề nghiệp và các hoạt động xã hội khác. Mâu thuẫn giữa những biến đổi đã và vẫn đang diễn ra giữa vai trò của người phụ nữ trong gia đình với những quan niệm, rào cản xã hội, định kiến giới…, giữa mong muốn và hiện thực, giữa lý thuyết và thực tiễn, giữa phụ nữ và nam giới cũng như các thành viên khác trong gia đình v.v.. đang cản trở không nhỏ đến việc phát huy vai trò, năng lực của người phụ nữ, đến tiến trình xây dựng văn hóa gia đình, đánh giá một cách công bằng và phát huy hiệu quả nguồn nhân lực nữ phục vụ công cuộc đổi mới, phát triển Thủ đô nói riêng, đất nước nói chung. Những năm qua, Đảng và Nhà nước đã dành nhiều quan tâm cho phụ nữ nước ta nói chung, phụ nữ Hà Nội nói riêng, bảo vệ những quyền lợi chính đáng của phụ nữ và phát huy vai trò của họ, trước hết là trong gia đình. Cũng có không ít bài viết, sách, công trình nghiên cứu… nói về phụ nữ và vai trò của người phụ nữ trong gia đình ở Hà Nội với những khía cạnh nghiên cứu khác nhau. Tuy nhiên, thực tiễn sự biến đổi vai trò của người phụ nữ trong gia đình trên địa bàn luôn luôn đa dạng và phức tạp, đòi hỏi có sự nghiên cứu, kiến giải thấu đáo, kịp thời và thỏa đáng hơn nữa để tiếp tục gìn giữ, phát huy, phát triển một cách chính đáng và tích cực các vai trò của người phụ nữ trong gia đình. Nghiên cứu những biến đổi về vai trò của người phụ nữ trong gia đình ở Hà Nội hiện nay dưới góc nhìn văn hóa nhằm tìm hiểu những nguyên nhân, căn nguyên văn hóa sâu xa dẫn đến những đổi thay trong đời sống gia đình và xã hội, đồng thời góp phần tìm hiểu những biến đổi về gia đình và văn hóa gia đình với những sắc thái, giá trị điển hình, đặc sắc hội tụ nơi mảnh đất Thủ đô ngàn năm văn hiến đang là vấn đề thời sự đặt ra trong bối cảnh hội nhập với nhiều thời cơ và thách thức đan xen. Việc gìn giữ, phát huy bền vững giá trị nguồn nhân lực nữ trong gia đình, lấy đó là cơ sở, động lực cho sự phát triển xã hội, đất nước ta nói chung có trở nên hiệu quả hay không phụ thuộc một phần không nhỏ vào hoạt động nghiên cứu, tìm hiểu biến đổi vai trò của người phụ nữ trong gia đình ở Hà Nội hiện nay trên thực tế. Với những lý do trên, tôi chọn “Biến đổi về vai trò của người phụ nữ trong gia đình ở Hà Nội hiện nay qua nghiên cứu một số xã, phường” làm đề tài nghiên cứu.

Trang 1

1

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

Bùi Thị Như Ngọc

BIẾN ĐỔI VỀ VAI TRÒ CỦA NGƯỜI PHỤ NỮ TRONG GIA ĐÌNH Ở HÀ NỘI HIỆN NAY QUA NGHIÊN CỨU MỘT SỐ XÃ, PHƯỜNG

Chuyên ngành: Văn hóa học

Mã số: 62 31 06 40

LUẬN ÁN TIẾN SĨ VĂN HÓA HỌC

Người hướng dẫn khoa học

GS TS NGUYỄN XUÂN KÍNH

Hà Nội, 2017

Trang 2

2

MỤC LỤC

Lời cam đoan

Mục lục 1

Danh mục chữ viết tắt 2

MỞ ĐẦU 3

Chương 1: TỔNG QUAN VỀ TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU, ĐỊA BÀN 10

NGHIÊN CỨU VÀ LÝ THUYẾT VẬN DỤNG 1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu 10

1.2 Tổng quan về địa bàn nghiên cứu và văn hóa gia đình ở Hà Nội 18

1.3 Lý thuyết vận dụng 28

Chương 2: VAI TRÒ CỦA NGƯỜI PHỤ NỮ TRONG GIA ĐÌNH Ở 43

HÀ NỘI TRƯỚC NĂM 1986 2.1 Vai trò làm vợ 43

2.2 Vai trò làm mẹ 49

2.3 Vai trò trong hoạt động kinh tế gia đình và các hoạt động khác 57

Chương 3: THỰC TRẠNG BIẾN ĐỔI VAI TRÒ CỦA NGƯỜI PHỤ 69

NỮ TRONG GIA ĐÌNH Ở HÀ NỘI TỪ SAU NĂM 1986 3.1 Biến đổi vai trò làm vợ 69

3.2 Biến đổi vai trò làm mẹ 80

3.3 Biến đổi vai trò trong hoạt động kinh tế gia đình và các hoạt động khác 99

Chương 4: NHỮNG NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG VÀ XU HƯỚNG BIẾN 115

ĐỔI VAI TRÒ CỦA NGƯỜI PHỤ NỮ TRONG GIA ĐÌNH Ở HÀ NỘI 4.1 Những nhân tố ảnh hưởng 115

4.2 Xu hướng biến đổi vai trò của người phụ nữ trong gia đình ở Hà Nội 140

KẾT LUẬN 147

DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH CÔNG BỐ CỦA TÁC GIẢ 151

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 152

PHỤ LỤC 162

Trang 4

4

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Trong xã hội hiện đại ngày nay, vai trò và những đóng góp, cống hiến của phụ

nữ trong đời sống nói chung, trong gia đình nói riêng ngày càng được khẳng định thông qua các hoạt động trên nhiều lĩnh vực, trong cả gia đình và ngoài xã hội Dưới ảnh hưởng của công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa và tiến trình hội nhập, toàn cầu hóa ở nước ta, phụ nữ Việt Nam ngày càng có nhiều điều kiện, cơ hội thuận lợi để thể hiện, khẳng định năng lực, trình độ bản thân cũng như tham gia tích cực vào sự nghiệp xây dựng, phát triển gia đình và đất nước bền vững

Có một thực tế, cũng là thành tựu đáng ghi nhận, là các chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước ngày càng thể hiện rõ quan điểm xóa bỏ phân biệt, bất bình đẳng nam - nữ trên các lĩnh vực của đời sống xã hội, tạo điều kiện thuận lợi để phụ nữ được hưởng thụ các thành tựu của công cuộc xây dựng, đổi mới, phát triển đất nước, tham gia các hoạt động xã hội và được ghi nhận những đóng góp của mình trên nhiều lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hóa… Hướng tới bảo đảm quyền bình đẳng và quyền lợi chính đáng cho phụ nữ là một mục tiêu chiến lược để đất nước và con người Việt Nam phát triển bền vững Thành quả mà chúng ta đạt được trong những năm qua, là phụ nữ và vai trò của người phụ nữ ngày càng được khẳng định và nhìn nhận, đánh giá đúng đắn hơn bởi hiệu quả không chỉ từ những chủ trương, chính sách mang tính chiến lược đó, mà còn từ chính những nỗ lực và sự đóng góp về cả vật chất và tinh thần mà phụ nữ mang lại cho gia đình và xã hội…

Song rõ ràng, bên cạnh những thành tựu, vẫn có những tồn tại, hạn chế trong việc đánh giá, nhìn nhận vai trò của người phụ nữ cũng như những đóng góp, cống hiến của họ trong nhiều lĩnh vực xã hội, mà trước tiên là trong gia đình Thực trạng này tồn tại không phải ở đâu xa, mà ở ngay Thủ đô Hà Nội - trung tâm chính trị, kinh tế, văn hóa của nước ta Trong bối cảnh Thủ đô đang có những sự biến chuyển, phát triển mạnh mẽ trên nhiều lĩnh vực hòa vào tiến trình hội nhập chung của đất nước, người phụ nữ Hà Nội ngày càng có điều kiện, cơ hội tham gia, hòa nhập sâu, rộng vào các lĩnh vực hoạt động của đời sống xã hội Cùng với những biến chuyển về chủ trương, đường lối, chính sách, pháp luật trong bảo vệ và phát huy vai trò của phụ nữ, cùng với những đổi thay nhất định về nhận thức của xã hội…, vai trò của phụ nữ trong gia đình cũng vì thế mà có những biến đổi Tuy nhiên, thực tế cho thấy, người phụ nữ dù trong gia đình Hà Nội gốc hay không, có việc làm (công việc chuyên môn, làm nông hoặc làm nghề) hay không, đa phần đều gặp một “lực cản” chung về quan niệm vốn tồn tại đã lâu, là việc đảm nhiệm

Trang 5

5

vai trò làm vợ, làm mẹ, chịu trách nhiệm các công việc nhà, nuôi dạy con cái… đương nhiên được coi là của phụ nữ chứ không phải của nam giới; sự chia sẻ, thông cảm của các thành viên trong gia đình với các vai trò nói trên của phụ nữ vì thế cũng khá hạn chế, nên dễ dẫn đến những xung đột và gây trở ngại cho phụ nữ trong việc cống hiến trí và lực cho nghề nghiệp và các hoạt động xã hội khác Mâu thuẫn giữa những biến đổi đã và vẫn đang diễn ra giữa vai trò của người phụ nữ trong gia đình với những quan niệm, rào cản xã hội, định kiến giới…, giữa mong muốn và hiện thực, giữa lý thuyết và thực tiễn, giữa phụ nữ và nam giới cũng như các thành viên khác trong gia đình v.v đang cản trở không nhỏ đến việc phát huy vai trò, năng lực của người phụ nữ, đến tiến trình xây dựng văn hóa gia đình, đánh giá một cách công bằng và phát huy hiệu quả nguồn nhân lực nữ phục vụ công cuộc đổi mới, phát triển Thủ đô nói riêng, đất nước nói chung

Những năm qua, Đảng và Nhà nước đã dành nhiều quan tâm cho phụ nữ nước

ta nói chung, phụ nữ Hà Nội nói riêng, bảo vệ những quyền lợi chính đáng của phụ

nữ và phát huy vai trò của họ, trước hết là trong gia đình Cũng có không ít bài viết, sách, công trình nghiên cứu… nói về phụ nữ và vai trò của người phụ nữ trong gia đình ở Hà Nội với những khía cạnh nghiên cứu khác nhau Tuy nhiên, thực tiễn sự biến đổi vai trò của người phụ nữ trong gia đình trên địa bàn luôn luôn

đa dạng và phức tạp, đòi hỏi có sự nghiên cứu, kiến giải thấu đáo, kịp thời và thỏa đáng hơn nữa để tiếp tục gìn giữ, phát huy, phát triển một cách chính đáng và tích cực các vai trò của người phụ nữ trong gia đình

Nghiên cứu những biến đổi về vai trò của người phụ nữ trong gia đình ở Hà Nội hiện nay dưới góc nhìn văn hóa nhằm tìm hiểu những nguyên nhân, căn nguyên văn hóa sâu xa dẫn đến những đổi thay trong đời sống gia đình và xã hội, đồng thời góp phần tìm hiểu những biến đổi về gia đình và văn hóa gia đình với những sắc thái, giá trị điển hình, đặc sắc hội tụ nơi mảnh đất Thủ đô ngàn năm văn hiến đang là vấn đề thời sự đặt ra trong bối cảnh hội nhập với nhiều thời cơ và thách thức đan xen Việc gìn giữ, phát huy bền vững giá trị nguồn nhân lực nữ trong gia đình, lấy đó là cơ sở, động lực cho sự phát triển xã hội, đất nước ta nói chung có trở nên hiệu quả hay không phụ thuộc một phần không nhỏ vào hoạt động nghiên cứu, tìm hiểu biến đổi vai trò của người phụ nữ trong gia đình ở Hà Nội hiện nay trên thực tế

Với những lý do trên, tôi chọn “Biến đổi về vai trò của người phụ nữ trong

gia đình ở Hà Nội hiện nay qua nghiên cứu một số xã, phường” làm đề tài nghiên

cứu

2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận án

2.1 Mục đích nghiên cứu

Trang 6

6

Luận án nghiên cứu những biến đổi về vai trò của người phụ nữ trong gia đình ở Hà Nội hiện nay; đồng thời, tìm hiểu những căn nguyên văn hóa, những yếu

tố tác động, ảnh hưởng đến sự biến đổi về vai trò của người phụ nữ trong gia đình

Từ đó, luận án nhận diện một số xu hướng biến đổi vai trò của người phụ nữ trong gia đình

2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Tổng hợp, thu thập các tư liệu có liên quan đến đề tài nghiên cứu thông qua điều tra điền dã, phỏng vấn, các tài liệu sách, báo… nhằm nêu rõ thực trạng biến đổi vai trò của người phụ nữ trong gia đình ở Hà Nội hiện nay, trên cơ sở so sánh, đối chiếu với vai trò của người phụ nữ trong gia đình thời gian trước đây

- Tìm hiểu và đánh giá các nhân tố ảnh hưởng làm biến đổi vai trò của người phụ nữ trong gia đình ở Hà Nội hiện nay

- Trình bày những xu hướng biến đổi vai trò của người phụ nữ trong gia đình Thực hiện những nhiệm vụ trên, tức là tác giả luận án đã trả lời cho các câu hỏi nghiên cứu sau:

- Người phụ nữ trong gia đình ở Hà Nội có những vai trò gì và biểu hiện cụ thể của các vai trò đó?

- Hiện nay vai trò đó biến đổi như thế nào?

- Xu hướng biến đổi vai trò của người phụ nữ trong gia đình ở Hà Nội thời gian tới?

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận án

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Những biến đổi về vai trò của người phụ nữ trong gia đình, như biến đổi về vai trò làm vợ, làm mẹ, vai trò trong hoạt động kinh tế gia đình, vai trò trong các hoạt động đối nội, đối ngoại và các hoạt động khác của gia đình

3.2 Phạm vi nghiên cứu

3.2.1 Không gian nghiên cứu

Không gian nghiên cứu ở Hà Nội, cụ thể là các địa bàn:

+ Phường Hàng Bông (quận Hoàn Kiếm) - địa bàn đô thị Hà Nội gốc, với nhiều nét văn hóa đặc trưng của Hà Nội và người Hà Nội được duy trì, gìn giữ trải qua nhiều thế hệ

+ Phường Mỹ Đình 1 (quận Nam Từ Liêm) - địa bàn từ nông thôn chuyển thành đô thị, đang trong quá trình đô thị hóa, hội nhập với những bước chuyển mình mạnh mẽ khi từ xã thành phường

Trang 7

7

+ Xã Đồng Trúc (huyện Thạch Thất) - xã thuần nông, chưa chịu ảnh hưởng

quá nhiều bởi tiến trình đô thị hóa, hội nhập

3.2.2 Thời gian nghiên cứu

Thời gian nghiên cứu được tiến hành từ Đổi mới, tháng 12/1986 đến hiện nay

Trong quá trình nghiên cứu, để có cái nhìn khách quan và tổng thể, rõ ràng,

sâu sắc hơn, cũng như có cơ sở so sánh, đối chiếu, đánh giá và chỉ rõ được những

biến đổi đổi vai trò của người phụ nữ trong gia đình hiện nay ở Chương 3, luận án

dành Chương 2 trình bày vai trò của người phụ nữ trong gia đình từ năm 1930 đến

trước tháng 12/1986 (trước Đổi mới) Việc nghiên cứu vai trò của người phụ nữ

trong gia đình từ năm 1930 đến trước tháng 12/1986 chủ yếu dựa vào các tài liệu

thứ cấp, bên cạnh điều tra xã hội học và phỏng vấn hồi cố

4 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu của luận án

4.1 Phương pháp luận

Luận án vận dụng phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ

nghĩa duy vật lịch sử Cụ thể, luận án xem xét, nhìn nhận, đánh giá… đối tượng

nghiên cứu trong sự vận động và trong mối liên hệ giữa sự việc, hiện tượng này

với sự việc, hiện tượng khác nhằm làm rõ và lý giải những biến đổi về vai trò của

người phụ nữ trong gia đình ở Hà Nội hiện nay so với trước đây

4.2 Phương pháp nghiên cứu

- Phương pháp điền dã dân tộc học: Là phương pháp chủ yếu nhất được sử

dụng NCS quan sát tham dự, phỏng vấn các đối tượng liên quan đến nội dung

nghiên cứu của luận án, điều tra hồi cố… Việc điền dã, thu thập tư liệu ở địa bàn

đô thị và nông thôn có những thuận lợi và khó khăn riêng Mang theo giấy giới

thiệu, NCS liên hệ với lãnh đạo phường Hàng Bông, phường Mỹ Đình 1 và xã

Đồng Trúc để xin thông tin, tài liệu và đề nghị tạo điều kiện tiếp xúc, gặp gỡ người

dân NCS cũng làm việc với chủ tịch Hội Phụ nữ các phường, xã nói trên để nắm

bắt được tình hình vai trò và biến đổi vai trò của phụ nữ, cũng như các hoạt động

của Hội Phụ nữ đối với chị em trên địa bàn… và nhờ các chị giới thiệu đến nhà

dân Sau những ngày đầu làm quen với các hộ gia đình và nắm bắt địa hình, NCS

lên kế hoạch về lịch sinh hoạt, làm việc của cộng đồng dân cư, để từ đó xây dựng

lịch trình điền dã hợp lý Với người dân ở phường Hàng Bông, do nhiều người bận

việc kinh doanh, buôn bán và đi làm nên NCS thường đến gặp vào buổi chiều hoặc

tối Với người dân ở phường Mỹ Đình 1, nhiều người cho thuê nhà trọ, kinh doanh

hàng quán… tại nhà nên thời gian gặp có thể linh động hơn, tùy thuộc vào thời

gian rỗi của người dân Ở xã Đồng Trúc, do có nhiều người vẫn đi làm đồng nên

NCS thường đến vào buổi tối, kết hợp với một số buổi ban ngày theo chân họ ra

Trang 8

8

đồng, ăn mặc như nông dân, vừa giúp họ làm việc, vừa trò chuyện với họ nhằm tạo

sự chân tình, thân mật Nhờ thế, NCS có thể hiểu rõ hơn thực trạng, cũng như nhận được chia sẻ, tâm sự thật lòng về vai trò và biến đổi vai trò của người phụ nữ trong gia đình với những quan điểm, biểu hiện, suy nghĩ… từ cả hai giới nam và nữ, ở các lứa tuổi và nghề nghiệp, trình độ khác nhau

Nếu như ở nông thôn (xã Đồng Trúc), đa phần người dân sống cởi mở, chan hòa, việc tìm hiểu thông tin cũng dễ dàng hơn, thì nhiều người ở đô thị dè dặt, đóng kín, thậm chí đề phòng, nghi ngại, khó gần và có phần lạnh lùng với người lạ, nên NCS phải vận dụng những kinh nghiệm cá nhân để xử lý linh hoạt các tình huống Ở phường Hàng Bông và Mỹ Đình 1, dù có sự giới thiệu lãnh đạo phường hoặc của Chủ tịch Hội phụ nữ phường, NCS vẫn gặp sự “đề phòng” của một số người dân khi một số người cung cấp thông tin rất dè chừng Thời gian đối với người dân đô thị là “vàng ngọc” nên NCS phải rất linh hoạt nhằm thu thập thông tin một cách hiệu quả nhất, như vừa vừa trò chuyện, vừa giúp họ làm việc (ví dụ, với vợ chồng chủ quán bán cơm gần bến xe Mỹ Đình, NCS vừa hỏi chuyện, vừa giúp họ vo gạo, nhặt rau, chuẩn bị bát đũa và các nguyên vật liệu khác để nấu nướng) Với đối tượng được phỏng vấn là người cao tuổi, NCS phải kết hợp sàng lọc, kiểm chứng thông tin thông qua những người thân trong gia đình; cụ nào nói khó nghe (đặc biệt là các cụ ở xã Đồng Trúc hay sử dụng phương ngữ), NCS nhờ người thân (con, cháu) của cụ ngồi cạnh và “phiên dịch” lại hộ

Với phương pháp phỏng vấn, NCS tiến hành phỏng vấn 90 người, gồm các

cán bộ ở địa phương và người dân sinh sống trên các địa bàn nghiên cứu (mỗi địa bàn 30 người) Tùy theo đối tượng nghiên cứu, NCS sử dụng cách phỏng vấn phi cấu trúc và phỏng vấn bán cấu trúc để thấy được quan điểm, nhận thức và thực trạng biến đổi vai trò của người phụ nữ trong gia đình hiện nay so với trước đây Phỏng vấn phi cấu trúc được dùng nhiều nhất trong những ngày điền dã để trò chuyện, tìm hiểu thông tin, thu thập tư liệu từ người dân Phỏng vấn bán cấu trúc được sử dụng khi làm việc với các cán bộ quản lý, cán bộ địa phương… là những người có ít thời gian hoặc quen sử dụng thời gian một cách hiệu quả

- Phương pháp điều tra xã hội học: NCS thiết kế bảng hỏi với các tiêu chí về

biến đổi vai trò của người phụ nữ ở khía cạnh làm vợ, làm mẹ, vai trò trong hoạt động kinh tế gia đình và các hoạt động khác của gia đình NCS phát 450 phiếu điều tra xã hội học (mỗi địa bàn nghiên cứu phát ra 150 phiếu, trong đó mỗi địa bàn phường Hàng Bông và phường Mỹ Đình 1 thu về được 150 phiếu, xã Đồng Trúc thu về được 113 phiếu) để đưa ra số liệu định lượng phục vụ kết quả nghiên cứu

- Phương pháp lịch sử và logic: Do nghiên cứu sự biến đổi vai trò của người

phụ nữ trong gia đình, nên luận án sử dụng phương pháp lịch sử và logic nhằm tìm

Trang 9

9

hiểu vai trò của người phụ nữ trong gia đình ở các giai đoạn, thời kỳ lịch sử trước đây và hiện nay; xâu chuỗi và đánh giá, nhận xét dưới cái nhìn logic nhằm tạo sự xác thực về cứ liệu lịch sử - văn hóa và thuyết phục về các nội dung được đề cập trong luận án

- Phương pháp thống kê: Các thông tin, số liệu thu thập được sẽ được thống

kê theo nhóm (đối với các đối tượng trả lời phỏng vấn) hoặc theo số liệu nội dung (đối với các đối tượng tham gia trả lời phiếu điều tra xã hội học) nhằm đưa ra thông tin, cứ liệu khách quan phục vụ mục đích nghiên cứu của luận án

- Phương pháp phân tích - tổng hợp: Được sử dụng đối với cả các tài liệu thứ

cấp và các số liệu, chi tiết thu thập, quan sát được trong thực tế để phục vụ mục đích nghiên cứu của luận án

- Phương pháp so sánh: Dựa trên cơ sở các thông tin, dữ liệu thu thập được

qua các tài liệu và từ thực tế nghiên cứu, luận án sử dụng phương pháp so sánh để nhận biết đặc điểm chung và nét riêng về biến đổi vai trò của người phụ nữ trong gia đình ở ba địa bàn nghiên cứu trải qua thời gian và những sự biến đổi văn hóa

5 Đóng góp mới về khoa học của luận án

5.1 Trình bày các kết quả khảo sát và hệ thống, khái quát hóa những biến đổi

về vai trò của người phụ nữ trong gia đình ở Hà Nội hiện nay ở ba địa bàn nghiên cứu cụ thể dưới góc nhìn văn hóa học

5.2 Tìm hiểu, xác định nguyên nhân văn hóa dẫn đến sự biến đổi, những tương đồng hoặc khác biệt trong vai trò của người phụ nữ trong gia đình thuộc phạm vi các địa bàn nghiên cứu

5.3 Phân tích các xu hướng biến đổi vai trò của người phụ nữ trong gia đình

6.1.2 Làm rõ vai trò tác động qua lại giữa các thành tố trong một hệ thống với toàn bộ hệ thống và sự tương tác giữa các yếu tố trong một hệ thống

6.2 Ý nghĩa thực tiễn

6.2.1 Kết quả nghiên cứu của luận án sẽ là tài liệu tham khảo cho các nhà quản lý, các cấp có thẩm quyền trong việc phát huy và nâng cao vai trò của người

Trang 10

7 Kết cấu của luận án

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo, Phụ lục, luận án có bốn chương như sau:

Chương 1 Tổng quan về tình hình nghiên cứu, địa bàn nghiên cứu và lý

thuyết vận dụng

Chương 2 Vai trò của người phụ nữ trong gia đình ở Hà Nội thời gian trước

năm 1986

Chương 3 Thực trạng biến đổi vai trò của người phụ nữ trong gia đình ở Hà

Nội hiện nay

Chương 4 Những nhân tố ảnh hưởng và xu hướng biến đổi vai trò của người

phụ nữ trong gia đình ở Hà Nội

Trang 11

11

Chương 1: TỔNG QUAN VỀ TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU, ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU VÀ LÝ THUYẾT VẬN DỤNG

1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu

1.1 1 Về các nghiên cứu biến đổi vai trò của người phụ nữ trong gia đình của các tác giả nước ngoài

Nhiều công trình của các nhà khoa học nước ngoài khi nghiên cứu biến đổi vai trò của người phụ nữ nói chung, người phụ nữ trong gia đình nói riêng thường bắt đầu từ cái nhìn về phụ nữ, coi sự khác biệt về đặc điểm giới tính và quan niệm

về giới dẫn đến những phân biệt trong đánh giá, nhìn nhận vai trò của người phụ

nữ Sherry B Ortner trong bài Từ nữ đến nam như từ tự nhiên đến văn hóa cho

rằng, phụ nữ được coi là gần với tự nhiên do “mọi thứ bắt đầu với thân thể và các

chức năng sinh sản tự nhiên chỉ dành riêng cho phụ nữ… thân thể phụ nữ và những

chức năng của thân thể ấy khiến họ mất nhiều thời gian quan tâm đến “đời sống

loài” hơn, đặt họ gần tự nhiên hơn, đối lập với chức năng sinh lý nam, cái cho phép anh ta hoàn toàn tự do hơn để tham gia các dự phóng văn hóa …Thân thể phụ nữ

và những chức năng của thân thể ấy đặt họ trong các vai trò xã hội, mà trong tiến

trình văn hóa, nó ngày càng bị đánh giá thấp hơn vai trò của đàn ông; và… các vai trò xã hội truyền thống của phụ nữ, bị áp đặt vì thân thể và các chức năng thân thể

của họ, dần dần tạo cho phụ nữ một cấu trúc tâm lý khác… tương tự như cái sinh

lý tự nhiên và các vai trò xã hội của họ, được coi là thực thể gần với tự nhiên”

[100, tr 495)] Nhà nhân học Pháp Lévi-Strauss, trong The elementary structure of

kinship (Cấu trúc cơ bản của quan hệ thân tộc, 1949), thể hiện quan điểm phụ nữ

không bao giờ trở thành một ký hiệu theo đúng nghĩa, vì ngay cả trong thế giới của đàn ông, họ vẫn là một con người và vì khi được xác định như là một ký hiệu, họ phải được coi là nhân tố sản sinh các ký hiệu [141]

Simone de Beauvoir trong sách The Second Sex (Giới thứ hai, 1949) xuất phát

từ quan điểm nam nữ bình quyền để bàn vấn đề phụ nữ bị kẹt trong tình trạng bị áp bức lâu dài qua sự loại bỏ mình nên dần trở thành giới ít quan trọng hơn (giới thứ hai) trong mối quan hệ với nam giới Thông qua việc dùng kiến thức của khoa học sinh học, nhân loại học, thần thoại học, tác giả khẳng định không ngành nào đủ khả năng để giải thích định nghĩa phụ nữ là giới thứ hai đối với nam giới cũng như vị thế bị áp bức của họ, nhưng mỗi ngành này đều góp phần tạo nên vị thế đó của phụ

nữ Việc phụ nữ có những thiên chức mà nam giới không hề có, như mang thai, nuôi con… đã góp phần tạo vị thế, vai trò khác biệt rõ rệt của người phụ nữ so với nam giới, song những biểu hiện sinh lý này không trực tiếp làm cho phụ nữ có vị thế thấp kém hay vai trò kém quan trọng hơn bởi yếu tố sinh học và lịch sử không

Trang 12

12

đơn thuần là những sự thật thu được từ sự quan sát không thành kiến mà luôn được cấu thành và giải thích từ một hoàn cảnh Từ đó, Beauvoir chủ ý phá bỏ quan niệm cho rằng phụ nữ sinh ra đã là phái yếu chứ không phải trở thành như vậy qua quá trình vận động của xã hội [144]

Các nghiên cứu đã chỉ ra, trải qua nhiều giai đoạn phát triển của lịch sử loài người, đặc biệt từ khi xã hội chuyển sang chế độ phụ quyền, thay đổi phương thức sản xuất, sinh hoạt, thì vị trí, vai trò của người phụ nữ cũng bị coi nhẹ Friedrich

Engels, trong tác phẩm Nguồn gốc của gia đình, của chế độ tư hữu và của nhà

nước đã chỉ rõ, chủ nghĩa phụ quyền đã bộc lộ bản chất bóc lột và thống trị rất

khắc nghiệt với phụ nữ, đánh dấu sự thất bại lịch sử có tính chất toàn cầu của giới

nữ Việc phụ nữ ngày càng mất đi vai trò quyền lực cũng như quyền tự do tính giao theo kiểu chế độ quần hôn là do sự thay đổi các hình thức hôn nhân trong các giai đoạn của lịch sử, mặc dù đây là một bước tiến bộ của nhân loại Engels đã chỉ ra mối quan hệ biện chứng giữa yếu tố kinh tế của một chế độ xã hội cụ thể với vấn

đề hôn nhân và gia đình Sự ra đời của chế độ tư hữu dẫn đến sự áp bức nô dịch của giai cấp có của đối với giai cấp không có của, sự nô dịch ấy trùng với sự nô dịch của đàn ông đối với đàn bà trong gia đình, nên người phụ nữ mặc dù đóng nhiều vai trò trong gia đình vẫn phụ thuộc vào người chồng, người cha về mọi mặt

Trong bài Feuerbach: Sự đối lập giữa quan điểm duy vật với quan điểm duy tâm,

hai tác giả Karl Marx và Friedrich Engels chỉ ra trong lịch sử người phụ nữ đã từng

bị coi là nô lệ của chồng, tức là không có quyền tự do và quyền tự quyết, phải phụ thuộc vào người đàn ông do có sự phân công lao động tự nhiên trong gia đình và

sự phân chia xã hội thành những gia đình cá nhân đối lập với nhau [100, tr 583] Trong bài viết Sự buông thả trong nghi lễ (Trích trong Custom and Conflict in

Africa, 1956), Max Gluckman khi nói về các hành vi nổi loạn trong một nghi lễ có

sự tham dự của cả đàn ông và phụ nữ ở châu Phi đã chỉ rõ quan niệm của cộng đồng về người phụ nữ khi được cưới về chuyển vai trò thành người “người xa lạ”,

và là những “kẻ ngoại tộc” nguy hiểm [100, tr 277, 278] Chung quan điểm này,

Collier trong cuốn Women in Polities (Phụ nữ trong chính trị, 1974) đã chứng

minh trong nhiều xã hội, phụ nữ bị cuốn vào các quá trình chính trị ở cấp gia đình chứ không phải ở cấp công cộng Họ là trọng tâm của các quá trình chính trị như việc hình thành hay tan rã của các nhóm dòng họ

Trước đây, đa phần các công trình nghiên cứu về phụ nữ và vai trò của người phụ nữ trong gia đình thường đặt phụ nữ trong mối quan hệ gia đình, dòng họ… dưới cái nhìn tổng quan mà chưa nhìn nhận hoặc ít thấy có công trình coi phụ nữ như đối tượng nghiên cứu chính và độc lập Phải đến đầu những năm 70 của thế kỷ

XX, trong lĩnh vực nhân loại học, các nhà nghiên cứu mới bắt đầu hướng trọng tâm

Trang 13

13

nghiên cứu cụ thể vào vai trò của phụ nữ trong các xã hội trên toàn thế giới, thay vì

quan điểm cho rằng đàn ông mới là trung tâm nghiên cứu Bộ sách Women,

Culture, and Society (Phụ nữ, văn hóa và xã hội) của Michelle Ronaldo viết năm

1974 có bài viết khẳng định vai trò và sự biến đổi vai trò của phụ nữ trong sự tiến hóa của con người đã không được biết đến, bởi các nhà nghiên cứu chỉ tập trung vào hoạt động săn bắt chứ không phải hoạt động hái lượm

Nhìn chung, các công trình đã thể hiện quan điểm, cách nhìn nhận về phụ nữ

và biến đổi vai trò của người phụ nữ trong gia đình dưới những góc nhìn khá đa dạng Có thể thấy các tác giả có sự đồng thuận hoặc gặp gỡ nhau ở các điểm sau:

Thứ nhất, các nghiên cứu thường được đặt trong tương quan với nam giới để

so sánh, luận giải các vấn đề về biến đổi vai trò của phụ nữ, gắn với đó là các vấn

đề xã hội (Max Gluckman, Collier, Michelle Ronaldo, Lévi-Strauss, Simone De Beauvoir…)

Thứ hai, chỉ ra có sự phân biệt trong quan niệm về vai trò của phụ nữ và nam

giới Trải qua nhiều giai đoạn lịch sử, phụ nữ thường bị nhìn nhận vai trò thấp hơn

so với nam giới Một trong những nguyên nhân căn bản là do đặc trưng về giới tính dẫn đến sự phân biệt về quan niệm, vai trò, chức năng và cách nhìn nhận vai trò, chức năng giữa phụ nữ và nam giới (Sherry B Ortner, Simone de Beauvoir)

Thứ ba, từ phân biệt, dẫn tới có sự bất bình đẳng trong các lĩnh vực xã hội đối

với phụ nữ, do đó tất yếu ảnh hưởng đến biến đổi vai trò và việc thực hiện vai trò của họ (Geogre Peter Murdock, Max Gluckman, Collier)

Thứ tư, hầu hết các công trình đều hướng đến mục tiêu giải quyết các vấn đề

liên quan đến biến đổi vai trò của phụ nữ trong mối liên hệ rộng, tương tác với xã hội, chứ không thể chỉ bằng cách phân chia “một số nhiệm vụ và vai trò trong hệ thống xã hội, hoặc thậm chí sắp xếp lại toàn bộ cơ cấu kinh tế” (Sherry B Ortner),

mà “cần phải giải phóng mình và phục hồi cái tôi của mình”, “các cấu trúc xã hội như luật pháp, giáo dục, phong tục… cần phải được điều chỉnh” (Simone de Beauvoir), tức là cần có những thay đổi trong hệ thống xã hội, với sự phối hợp, tham gia của nhiều lĩnh vực, nhiều ngành, đối tượng khác nhau…

1.1.2 Nghiên cứu biến đổi về vai trò của người phụ nữ trong gia đình của các tác giả trong nước

Ở nước ta, số công trình đề cập hoặc liên quan đến biến đổi vai trò của người phụ nữ trong gia đình với tư cách độc lập hoặc là đối tượng nghiên cứu chính trước

năm 1950 có thể kể đến Phụ nữ dự gia đình (quyển trung) của soạn giả Đạm Phương nữ sử (1929), Vấn đề phụ nữ giải phóng của Dật Sĩ Tử (1932), Phụ nữ với

gia đình của Dũng - Kim (1951)… và một số bài viết trên báo Nam Phong, Phụ nữ tân văn, Phụ nữ thời đàm Nghiên cứu về biến đổi vai trò của người phụ nữ trong

Trang 14

14

gia đình ở nước ta chỉ phát triển khoảng vài chục năm trở lại đây, với sự ra đời của Trung tâm Nghiên cứu khoa học về phụ nữ năm 1987 (thuộc Ủy ban Khoa học xã hội Việt Nam, nay là Viện Nghiên cứu Gia đình và Giới, thuộc Viện Hàn lâm khoa học xã hội Việt Nam), thường triển khai theo hai hướng chính:

Thứ nhất, đặt biến đổi vai trò của người phụ nữ trong gia đình ở phạm vi gia đình Trong mảng tài liệu này, trước hết là các công trình bàn về mối quan hệ gia

đình trong ca dao, tục ngữ, ở sách Tục ngữ, ca dao và dân ca Việt Nam, nhà văn

Vũ Ngọc Phan có bài tiểu luận phân tích mối quan hệ vợ chồng, gia đình, và tuyển chọn những tác phẩm tục ngữ, ca dao với chủ đề này, từ đó góp phần thể hiện biến đổi về vai trò của người phụ nữ trong gia đình Ở các tập giáo trình đại học về văn học dân gian của Đinh Gia Khánh và Chu Xuân Diên, của Bùi Văn Nguyên và các đồng tác giả, của Lê Chí Quế và các đồng tác giả, những nội dung trên cũng được thể hiện, phân tích trong ca dao, tục ngữ Nội dung này còn được thấy trong bài

tiểu luận mở đầu tập 15 của bộ tổng tập Văn học dân gian người Việt do GS

Nguyễn Xuân Kính chấp bút Nhìn chung, các tài liệu trên đều chỉ viết về quan hệ gia đình truyền thống thể hiện trong ca dao, tục ngữ, qua đó phần nào thấy được biến đổi vai trò của người phụ nữ trong gia đình, và đó chỉ là một phần nội dung của các công trình, giáo trình, bài tiểu luận Một số cuốn sách tập trung viết về quan hệ gia đình trong ca dao, tục ngữ, qua đó có thể thấy sự biến đổi vai trò của

người phụ nữ trong gia đình gồm: Sự phản ánh quan hệ gia đình, xã hội trong tục

ngữ ca dao của Đỗ Thị Bảy, Tục ngữ ca dao về quan hệ gia đình của Phạm Việt

Long Ở đó, có thể thấy người phụ nữ khi đã lập gia đình thì “Thuyền theo lái, gái theo chồng” [69, tr 196]; ở cùng gia đình chồng, “bố chồng là lông con phượng,

mẹ chồng là tượng mới tô, nàng dâu là bồ nghe chửi” [69, tr.89] Đồng thời, “làm thân con gái thờ chồng nuôi con” [69, tr.191], “có con phải khổ vì con, có chồng phải gánh giang sơn nhà chồng” [69, 188] Nếu chồng vắng nhà, người phụ nữ phải thay chồng gánh vác việc nhà: “Anh ơi! Phải lính thì đi/Cửa nhà đơn chiếc đã thì

có tôi/ Anh ơi, giữ lấy việc công/Để em cày cấy mặc lòng em đây [69, tr 169]… Mặc dù vậy, vai trò quan trọng của người phụ nữ trong mối quan hệ vợ - chồng

vẫn được khẳng định: “lệnh ông không bằng cồng bà” [69, tr 193]

Các nghiên cứu chỉ rõ, dù người phụ nữ phải chịu ảnh hưởng từ tư tưởng Nho giáo, nhưng khác với gia đình Nho giáo Trung Hoa, trong gia đình người Việt, người vợ trong tương quan với chồng vẫn có vai trò nhất định, thậm chí quyết định

dù trải qua sự biến đổi, thăng trầm của thời gian Theo Vũ Ngọc Khánh, dù ở thế

hệ nào, người phụ nữ cũng có quyền không thể xem là bình đẳng với nam giới, mà phải đặt lên trên cả nam quyền, đó là quyền làm mẹ, cũng là quyền làm vợ Thông qua nghiên cứu một số trường hợp phụ nữ cụ thể (bà nội của Đặng Thai Mai, cụ bà

Vũ Như Kỳ, cụ án bà Nguyễn Chí Đạo…), tác giả Nguyễn Xuân Kính nhận định

Trang 15

15

phụ nữ Việt Nam xưa rất đảm đang, tháo vát trước những biến động của thời cuộc, thực sự là “nội tướng” trong nhà Như trường hợp bà nội của Đặng Thai Mai: “đảm đương mọi việc trong nhà, lo đối nội đối ngoại, giỗ tết, ứng phó với chức dịch, nha lại,… Cụ không chỉ lo toan việc nhà mà còn hiểu nghĩa lớn… khi cho các cháu đi học chữ Pháp” [63, tr 362] Đặng Cảnh Khanh, Lê Thị Quý cho rằng do ảnh

hưởng của tư tưởng Nho giáo, phụ nữ trong gia đình không bao giờ thuộc hạng sử

(tức thuộc đối tượng những người chủ trong gia đình có quyền uy tuyệt đối trong

cả đối nội và đối ngoại) mà chỉ thuộc hàng sự (bậc thứ dưới) do bị trói buộc bởi

các nguyên tắc tam tòng, tứ đức Nhiều nghiên cứu chỉ rõ, phụ nữ ngoài việc phải làm tròn chức năng mang thai, sinh đẻ, cho con bú còn phải đảm đương việc sản xuất như hoặc hơn nam giới Thời gian lao động trong một ngày của phụ nữ thường dài hơn đàn ông từ 3 đến 6 giờ, nhiều người phải chịu cảnh chồng “dốt nát, gia trưởng, lười nhác, nhậu nhẹt tối ngày và đánh đập, hạch sách vợ con” [57, tr 347] Từ đó, dẫn tới biến đổi vai trò của người phụ nữ trong gia đình cả ở mặt tích cực và tiêu cực, dẫn tới bất bình đẳng trong mối quan hệ nam - nữ, trong sự tham gia và hưởng lợi của phụ nữ ở gia đình, trong các cơ hội để phụ nữ phấn đấu, vươn lên khẳng định giá trị, năng lực bản thân

Các nghiên cứu cũng nêu rõ, “chế độ gia trưởng (patriarchy) trong gia đình phụ hệ phát triển thành sự thống trị của nam giới đối với nữ giới… Người phụ nữ khi đã lấy chồng chỉ có một con đường “thờ chồng nuôi con” và thực hiện các nghĩa vụ với gia đình nhà chồng” [122, tr.49] Đỗ Hoàng nhấn mạnh về định kiến

đã và đang tồn tại trong hệ thống gia đình là “Nam giới trụ cột kinh tế gia đình - Phụ nữ có thiên chức làm công việc nội trợ Nam giới bản chất là phái mạnh nên thích hợp với những công việc lớn, là người chủ gia đình, người ra quyết định - Phụ nữ ở vị trí phụ thuộc, vị trí thứ yếu” [47, tr 11] Trong khi xã hội đang hướng vào các hoạt động vì sự bình đẳng nam nữ, vì sự tiến bộ của phụ nữ, thì định kiến như trên lại là suy nghĩ của không ít phụ nữ, được họ dùng để đánh giá hành vi của nam giới và hành vi của bản thân, mà các nhà nữ quyền gọi là “tiếp thu sự áp bức”, nên ảnh hưởng ít nhiều đến sự biến đổi và xu hướng biến đổi vai trò của người phụ

nữ trong gia đình Tuy nhiên, hầu hết các nghiên cứu đều góp phần thể hiện hoặc nhấn mạnh trên thực tế, ở nước ta vẫn tồn tại “văn hóa mẹ” (Trần Quốc Vượng) Người vợ trong gia đình Việt được kính trọng và đề cao hơn, có tinh thần chủ động hơn so với người vợ trong gia đình người Trung Hoa Nho giáo, nguyên tắc “phu xướng, phụ tùy” bao giờ cũng được đặt bên cạnh một nguyên tắc quan trọng khác

là “thuận vợ thuận chồng biển Đông tát cạn”

Những nghiên cứu gần đây thường đặt phụ nữ trong bối cảnh gia đình trong thời đại toàn cầu hóa, hướng tới phát triển bền vững, nêu bật vai trò của người phụ

nữ với tư cách người lao động, tái sản xuất trực tiếp ra con người, giáo dục con cái,

Trang 16

16

hình thành nhân cách trẻ, gìn giữ, truyền thụ các giá trị văn hóa của dân tộc cho thế

hệ trẻ, và giữ gìn sự cân bằng về tâm lý, tình cảm của các thành viên gia đình Lê Thi thể hiện quan điểm cần thực hiện bình đẳng giới mới có thể giúp người phụ nữ đảm nhiệm tốt các trách nhiệm, vai trò của mình và đóng góp tích cực vào gìn giữ văn hóa gia đình, văn hóa dân tộc và phát triển xã hội [111, tr.117]

Thứ hai, đặt biến đổi vai trò của người phụ nữ trong gia đình gắn với bối cảnh làng xã, cộng đồng và các mối quan hệ xã hội

Nhìn chung, do là các nghiên cứu định tính nên có thể nhận định, nội dung nghiên cứu thường chỉ chính xác với những trường hợp nghiên cứu mà các tác giả nêu ra Điển hình, nghiên cứu của Bùi Xuân Đính chỉ ra, bối cảnh hệ thống thang bậc xã hội của làng xã được dựa trên nền tảng tư tưởng là ý thức hệ Nho giáo đã gạt toàn bộ nữ giới ra khỏi chốn đình trung và các hoạt động xã hội của làng, để họ

bị giam hãm trong “chế độ nô lệ gia đình” [37, tr 137] Tuy nhiên, theo Trần Quốc Vượng, Thành Duy, phụ nữ có vai trò lớn trong sinh hoạt kinh tế, trong đời sống

xã hội, thể hiện qua nuôi dạy con cái, sản xuất, kinh doanh, quản lý kinh tế, tài sản gia đình; đấu tranh chống ách đô hộ của phong kiến xâm lược, góp phần bảo tồn, phát huy tinh hoa văn hóa nước nhà Trần Quốc Vượng chỉ ra những biến đổi linh hoạt trong vai trò của người phụ nữ: “Ở Việt Nam, cứu nước không chỉ là nhiệm

vụ của đàn ông mà đàn bà cũng lo cứu nước” [128, tr 118] Lê Minh đã khái quát những bước chuyển trong vai trò của phụ nữ trải qua các thời kỳ lịch sử, từ thời cổ xưa khi đàn ông là chủ nô thì phụ nữ là “vật trao đổi” và “công cụ sinh đẻ”; ở thời phong kiến, đàn ông là gia trưởng, thì phụ nữ là “vật mua bán” để làm phận “máy đẻ” và phục vụ chồng con, gia đình nhà chồng Trong chiến tranh, người phụ nữ tham gia tích cực chiến đấu bảo vệ Tổ quốc Song, khi hòa bình lập lại, những người đàn ông từ chiến trường trở về, phụ nữ Việt Nam mất dần vai trò ở xã hội và gia đình mà họ đã tạo dựng được trong kháng chiến Vai trò tham gia các hoạt động xã hội, quyền quyết định những việc lớn trong lao động sản xuất, kinh tế, ứng

xử với họ hàng, làng mạc và trong nội bộ gia đình, hướng nghiệp cho các con… đều chủ yếu do người đàn ông nắm giữ [79, tr 155 - 156] Tuy nhiên, trong xã hội ngày nay, phụ nữ đang dần vươn lên làm chủ cuộc đời mình bằng nghề nghiệp, bằng kiến thức của bản thân, đi đầu trong cuộc cách mạng giải phóng sức lao động, giải phóng tài năng và giải phóng người phụ nữ [79, tr 26]

Nghiên cứu của Lê Minh khẳng định phụ nữ vừa là người lao động, người công dân, vừa là người mẹ, “người thầy đầu tiên” của con người [80, tr 56 - 57] Trần Thị Vân Anh, Lê Ngọc Hùng đặt vai trò của người phụ nữ trong gia đình trong tương quan với vấn đề giới và phát triển, coi phụ nữ có vai trò hết sức to lớn, quan trọng, cần thiết trong quá trình xây dựng gia đình và đất nước, đóng vai trò

Trang 17

17

chủ thể trong quá trình hoạch định, thực hiện và đánh giá các mục tiêu phát triển kinh tế xã hội Theo Lê Ngọc Văn, ảnh hưởng của công nghiệp hóa tạo sự thay đổi các mối quan hệ gia đình, trong đó quan hệ vợ - chồng mở rộng ra là quan hệ giữa hai giới, là mối quan hệ theo chiều ngang, hôn nhân chuyển dần từ một thể chế kinh tế là chính sang một thể chế tâm lý là chính, và gia đình chuyển từ chủ yếu là một đơn vị sản xuất sang chủ yếu là một đơn vị tiêu dùng Vai trò của người phụ

nữ vì thế cũng có thay đổi nhất định trong yêu đương, hôn nhân, lựa chọn các mô hình gia đình để sống và trong các mối quan hệ xã hội (đặc biệt là quan hệ đôi lứa) Một số nghiên cứu nêu thực tế hiện nay có một bộ phận không nhỏ phụ nữ vừa phải đảm đương việc nhà, vừa làm cán bộ lãnh đạo, quản lý, nghiên cứu khoa học…; chỉ ra những ưu điểm của phụ nữ trong vai trò làm lãnh đạo so với nam giới, như: khả năng kiểm tra, giám sát, xử lý một số tình huống, khả năng tham

mưu, chấp hành tốt hơn (nghiên cứu của Nguyễn Thị Kim Hoa trong cuốn Gia

đình Việt Nam - quan hệ quyền lực và xu hướng biến đổi), cùng với đó là những

thay đổi thuận lợi hơn đối với phụ nữ trong việc tham gia lãnh đạo, quản lý như sự thay đổi định kiến của xã hội về phụ nữ, thay đổi từ chính người phụ nữ (Đặng

Cảnh Khanh, Lê Thị Quý trong cuốn Gia đình học) Tuy nhiên, theo Nguyễn Thị

Thuận và Trần Xuân Kỳ, phụ nữ vẫn phải chịu nhiều khó khăn, thiệt thòi, bị phân biệt đối xử, không đủ sức khỏe, trí tuệ để phấn đấu và chịu nhiều thiệt thòi về phân công lao động trong xã hội do phải tốn phí thời gian, công sức cho gia đình, ít có

cơ hội được tập trung học hành…

Những năm gần đây, trước thực trạng một bộ phận không nhỏ phụ nữ Việt Nam kết hôn với người nước ngoài, một số nghiên cứu đã thể hiện và làm rõ vai trò của họ trong gia đình qua quá trình hòa nhập xã hội, sinh sống với gia đình chồng ở ngoại quốc Thông qua nghiên cứu trường hợp những người phụ nữ Việt Nam lấy chồng người Trung Quốc ở Vạn Vĩ (Đông Hưng, Quảng Tây, Trung Quốc), Nguyễn Thị Phương Châm khẳng định dù có nhiều khó khăn về khác biệt văn hóa, lối sống,…, nhưng những người phụ nữ đã năng động, chủ động và thông minh trong quá trình thích nghi với cuộc sống mới để có cuộc sống yên ổn nơi đất mới [16, tr 376] Nghiên cứu của Phạm Văn Bích (viết cùng Iwai Misaki) cho thấy

sự nỗ lực vươn lên của một bộ phận cô dâu Việt lấy chồng Đài Loan để đảm đương vai trò làm vợ, làm mẹ cũng như trong các hoạt động đối nhân xử thế để tồn tại, hòa nhập được với văn hóa nước sở tại, mặc dù lấy chồng Đài Loan “cũng giống như chơi xổ số” [81, tr.467]

Qua tổng quan những nghiên cứu về biến đổi vai trò của người phụ nữ trong gia đình của các tác giả nước ngoài và trong nước, có thể rút ra một số nhận xét sau:

Trang 18

18

- Biến đổi vai trò của người phụ nữ trong gia đình là tất yếu, mang những sắc thái đa dạng Tuy nhiên, các công trình nghiên cứu về mảng này chưa nhiều; góc tiếp cận chủ yếu là Xã hội học, Nhân học, Tâm lý học, các công trình dưới góc độ Văn hóa học còn ít, chưa chuyên sâu

- Vẫn còn thiếu những công trình nghiên cứu mang tính tổng thể về biến đổi vai trò của người phụ nữ trong gia đình ở Hà Nội thông qua nghiên cứu các địa bàn

có tính đại diện, từ đó làm rõ biến đổi vai trò với các khía cạnh khác nhau ở những đối tượng thuộc nghề nghiệp, trình độ học vấn, vị thế xã hội … khác nhau

- Nội dung chủ yếu của các công trình đề cập tới những biến đổi vai trò của người phụ nữ trong gia đình gắn với bối cảnh gia đình, hoặc bối cảnh làng xã, cộng đồng và các mối quan hệ xã hội, nhưng hầu hết đều từ góc độ nhà khoa học, nhà nghiên cứu mà chưa chú ý đến việc đặt mình vào vai trò là người phụ nữ với tiếng nói của người trong cuộc là bản thân người phụ nữ để tìm hiểu, xác định các biểu hiện biến đổi một cách trung thực, rõ ràng hơn Nói cách khác, là chưa thực sự để người phụ nữ được tự nói lên tiếng nói của mình về những biến đổi vai trò của họ trong gia đình Đây là một khoảng trống mà luận án mong muốn sẽ khắc phục được nhằm đưa ra được những phân tích, đánh giá khách quan hơn nữa về biến đổi vai trò của người phụ nữ trong gia đình

- Nhiều nội dung tập trung mô tả những khía cạnh xã hội và văn hóa truyền thống hoặc hiện đại trong biến đổi vai trò của người phụ nữ trong gia đình, mà chưa đi sâu phân tích về mối quan hệ giữa truyền thống và biến đổi, bảo tồn và phát huy; cũng như chưa chỉ ra đầy đủ, sâu sắc những yếu tố tác động đến sự biến đổi này Điều này rất quan trọng bởi nó là cơ sở để kết nối các giá trị về vai trò của người phụ nữ trong gia đình từ quá khứ đến hiện tại, cũng như tạo điều kiện cho sự kết nối giá trị trong tương lai, cũng chính là nhằm khẳng định vai trò quan trọng của người phụ nữ trong gia đình, nhận biết những biến đổi là tích cực hay tiêu cực

để kịp thời điều chỉnh

- Ít thấy có công trình nghiên cứu chuyên sâu dưới các góc độ vừa đa dạng, vừa tổng thể về biến đổi vai trò của người phụ nữ trong gia đình ở các khía cạnh: làm vợ, làm mẹ, tham gia vào hoạt động kinh tế gia đình và các hoạt động khác của gia đình đặt trong bối cảnh xã hội hội nhập ngày nay ở Hà Nội với những đặc trưng riêng dưới cái nhìn Văn hóa học

- Cũng chưa có công trình đề cập sâu về xu hướng biến đổi vai trò của người phụ nữ trong gia đình trong thời gian tới Đây là một khoảng trống trong nghiên cứu, khiến việc nghiên cứu biến đổi vai trò của người phụ nữ trong gia đình hầu hết mới chỉ dừng ở thì quá khứ hoặc/và hiện tại, mà chưa chỉ ra hay dự báo được

Trang 19

Kế thừa những thành tựu nghiên cứu đi trước, luận án cho rằng, sự khác biệt

về đặc điểm về giới tính và quan niệm về giới dẫn đến những phân biệt trong đánh giá, nhìn nhận vai trò của người phụ nữ Đồng thời, đặt việc tìm hiểu biến đổi vai trò của người phụ nữ trong gia đình ở Hà Nội hiện nay chủ yếu trong bối cảnh gia đình, song cũng gắn với bối cảnh xã hội rộng hơn nhằm có cái nhìn đa dạng, khách quan hơn Để khắc phục những gì các nghiên cứu đi trước chưa thể hiện rõ, luận án tập trung nghiên cứu biến đổi vai trò của người phụ nữ trong gia đình ở Hà Nội hiện nay dưới góc nhìn Văn hóa học, trên cơ sở tinh thần để “người trong cuộc” (tức người phụ nữ) được tự nói, tự thể hiện những biến đổi vai trò của mình trong đời sống gia đình, bên cạnh tiếng nói của các thành viên khác trong gia đình Nội dung luận án cũng sẽ tập trung thể hiện sự đa dạng trong biến đổi vai trò của người phụ nữ trong gia đình ở các đối tượng phụ nữ thuộc nghề nghiệp, trình độ học vấn,

vị thế xã hội… khác nhau, thuộc các gia đình khác nhau, các thế hệ (lứa tuổi) khác nhau để nhận thấy những sự tương đồng hay khác biệt, những biểu hiện tích cực hay tiêu cực… trong biến đổi vai trò của họ trong gia đình ở cái nhìn đa chiều trải qua thời gian văn hóa và không gian văn hóa nhất định Thông qua những biểu hiện biến đổi đó, luận án kiến giải những căn nguyên văn hóa, nhân tố tác động đến sự biến đổi này, đồng thời chỉ ra các xu hướng biến đổi vai trò của người phụ

nữ trong gia đình thời gian tới

1.2 Tổng quan về địa bàn nghiên cứu và văn hóa gia đình ở Hà Nội

1.2.1 Tổng quan về địa bàn nghiên cứu

Phường Hàng Bông là phường thuộc đô thị Hà Nội gốc, mang nhiều nét đặc

trưng của văn hóa đô thị Hà Nội truyền thống Diện tích của phường là 0,18km2

, gồm 10 tuyến phố và 3 ngõ, là một trong những phường nằm trong khu vực phố cổ của quận Hoàn Kiếm - trung tâm của Thủ đô Hà Nội Phường có hơn 1.800 hộ dân với gần 9.000 nhân khẩu phân bố trên 42 tổ dân phố, với vị trí địa lý phía Bắc giáp phường Điện Biên và phường Cửa Đông, phía Đông tiếp giáp với phường Hàng Gai và phường Hàng Trống, phía Tây giáp với phường Cửa Nam và phường Điện Biên, phía Nam tiếp giáp với phường Cửa Nam và phường Hàng Trống

Trên địa bàn phường có trên 600 hộ kinh doanh, trong đó có nhiều hộ kinh doanh, buôn bán các mặt hàng thủ công truyền thống như chế tác vàng bạc, đá quý…, kinh doanh ẩm thực, may da vải bạt; 35 cơ sở sản xuất; 2 trường tiểu học, 1 trường mầm non công lập, 1 chợ tạm bán hoa quả ở Ngõ Trạm, 4 bệnh viện (bệnh

Trang 20

20

viện C, K, Việt Đức, Răng - Hàm - Mặt); nhiều cơ quan, tổ chức (Đài Tiếng nói Việt Nam, Mặt trận Tổ quốc,…) Các phố thuộc phường Hàng Bông có chiều dài đoạn đường dao động trong khoảng 150 - 800m, chiều rộng đường dao động trong khoảng 5,5 - 9m, chiều rộng vỉa hè tương đối từ 1,5 - 4,5m, thuận tiện hoạt động thương mại Điển hình là phố Hàng Bông với chiều dài 932m, chủ yếu tập trung các hộ kinh doanh, buôn bán, các văn phòng, cơ quan nhà nước và tư nhân Phố Phùng Hưng dài 230m, tập trung chủ yếu các hộ sản xuất, kinh doanh, đặc biệt là kinh doanh ăn uống Phố Hà Trung dài 132m, có các hộ chủ yếu buôn bán, sửa chữa các loại bạt, hàng da, khóa, khuy… Đường Điện Biên Phủ dài 110m tập trung các cửa hàng điện thoại di động, cửa hàng may mặc… Phố Tống Duy Tân dài 175m là tuyến phố ẩm thực của Hà Nội, có nhiều cửa hàng ăn uống, giải khát Phố Quán Sứ có chiều dài 385m, có chùa Quán Sứ, bênh viện Răng - Hàm - Mặt và có nhiều hộ kinh doanh Phố Tràng Thi dài 790m, có bệnh viện C và nhiều hộ kinh doanh Phố Phủ Doãn có bệnh viện Việt Đức tập trung nhiều cửa hàng ăn và một

số cửa hàng sửa chữa xe máy Phố Hai Bà Trưng dài 315m, có Bệnh viện C và tập trung nhiều hiệu thuốc, cửa hàng kinh doanh đồ điện tử như ti vi, tủ lạnh…

Do phường Hàng Bông là địa bàn đô thị Hà Nội gốc, nên thành phần dân cư ở hiện nay không có nông dân Trong quá khứ, từng có những người có gốc gác làm nông nghiệp, nhưng trải qua nhiều thế hệ, nhiều năm sinh sống trên địa bàn, họ đã hòa nhập với lối sống, thói quen văn hóa và những phương thức sinh kế đặc trưng của phường, như kinh doanh, buôn bán, làm việc cho các cơ quan, công sở… Trải qua nhiều biến đổi của đời sống văn hóa - xã hội từ năm 1930 đến nay, những sắc thái văn hóa đô thị Hà Nội gốc gắn với những biểu hiện, biến đổi sinh động về vai trò của người phụ nữ trong gia đình vẫn được thể hiện, duy trì và tiếp nối qua các thế hệ gia đình ở phường Hàng Bông Hiện nay, sinh kế của người dân tập trung chủ yếu vào hoạt động thương mại, như kinh doanh, buôn bán, làm du lịch, cho thuê nhà Các hoạt động này không chỉ thu hút sự tham gia của những người thuộc lứa tuổi trẻ hoặc trung niên, mà cả người cao tuổi, đặc biệt là phụ nữ do tập quán làm ăn, buôn bán từ các thế hệ trước truyền lại Theo kết quả thu được trên cơ

sở 150 phiếu điều tra xã hội học phát ra trên địa bàn, tỉ lệ người dân làm kinh doanh, buôn bán tương đối cao với 40,0% (trong đó nữ chiếm quá nửa), số người

là cán bộ, công chức chiếm 16,0%, còn lại làm các nghề khác hoặc làm nội trợ, hoặc đang đi học Với tốc độ đô thị hóa thời hội nhập, bộ mặt phường Hàng Bông đang dần thay đổi với nhiều hoạt động phát triển thương mại, kinh tế, văn hóa… kéo theo đó tất yếu là những biến đổi về vai trò của người phụ nữ trong gia đình

Phường Mỹ Đình 1 thuộc quận Nam Từ Liêm, nằm ở phía tây Thủ đô Hà

Nội, cách trung tâm thành phố 10 km Phường được thành lập theo Nghị quyết số 132/NQ-CP do Thủ tướng Chính phủ ban hành ngày 27/12/2013 về việc điều chỉnh

Trang 21

Phường Mỹ Đình 1 có phía Bắc giáp phường Mỹ Đình 2 và Cầu Diễn, phía Nam giáp phường Mễ Trì và Phú Đô, phía Đông giáp Quận Cầu Giấy, phía Tây giáp phường Cầu Diễn, Xuân Phương và Tây Mỗ Hiện nay, trên địa bàn phường

có khoảng trên 300 cơ quan, doanh nghiệp, đặc biệt có Khu Liên hợp thể thao Quốc gia Hoạt động kinh tế được phường xác định phát triển theo cơ cấu: dịch vụ

- công nghiệp - nông nghiệp Các hoạt động phát triển văn hóa - xã hội, gắn với bảo đảm an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội trên địa bàn luôn được chính quyền phường quan tâm và chủ động triển khai trên cơ sở bám sát chỉ đạo của chính quyền cấp trên và căn cứ vào tình hình, điều kiện thực tiễn của địa phương Trước đây, phường Mỹ Đình 1 là vùng ngoại thành, nông thôn với tỉ lệ đa phần dân số làm nông nghiệp, nay chuyển thành phường, nên bên cạnh một bộ phận dân cư gốc, có nhiều người ở các địa bàn lân cận và các địa phương khác đổ

về phường sinh sống, làm ăn, lập nghiệp với những nghề nghiệp đa dạng… Từ năm 1930 đến trước năm 1945, đại đa số người dân phường Mỹ Đình 1 làm nông nghiệp, một bộ phận theo người nhà, người quen đi làm thuê ở đô thị Hà Nội hoặc các vùng lân cận Trước năm 1975, nhiều gia đình có con em tham gia các hoạt động kháng chiến, chiến đấu bảo vệ Tổ quốc Trước năm 1986, phần lớn người dân trên địa bàn sinh sống nhờ hoạt động làm nông nghiệp hoặc các nghề khác, một bộ phận làm việc trong các cơ quan, xí nghiệp nhà nước Từ sau năm 1986, các gia đình ít nhiều chịu tác động bởi tiến trình Đổi mới, tiếp đó là của kinh tế thị trường nên tất yếu ảnh hưởng đến lối sống và mối quan hệ giữa các thành viên trong gia đình, cũng như vai trò của người phụ nữ trong gia đình Ngày nay, do trở thành đơn vị hành chính đô thị, diện tích đất nông nghiệp hầu hết đã được chuyển đổi mục đích sử dụng thành đất dự án, xây dựng trường học, chung cư, công sở…, cộng với ảnh hưởng của tiến trình đô thị hóa, công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong thời kỳ hội nhập, nên kéo theo đó là sự thay đổi sinh kế cũng như những biến đổi văn hóa trên địa bàn, nhiều người trước kia là nông dân nay đã chuyển sang các hoạt động kinh tế khác, chủ yếu liên quan đến thương mại Do đó, trong số 150 phiếu điều tra xã hội học được phát ra ở phường Mỹ Đình 1, tỉ lệ người hoạt động kinh doanh, buôn bán tương đối cao với 40,0% (phần lớn là nữ), tỉ lệ người là cán

bộ, công chức chiếm 20,67%, nông dân chiếm 6,67%, còn lại hoạt động trong các

Trang 22

22

lĩnh vực, ngành nghề khác như lực lượng vũ trang, nghề tự do, hoặc là học sinh,

sinh viên…

Xã Đồng Trúc là xã vùng đồi gò nằm ở phía tây nam huyện Thạch Thất, cách

trung tâm thành phố Hà Nội 30km về phía đông và có hơn 2,4km đại lộ Thăng Long chạy qua địa bàn Xã có tổng diện tích tự nhiên 663,25 ha với 1.715 hộ dân (6.885 nhân khẩu) sống phân bố ở 6 làng: Trúc Động, Đồng Kho, Đồng Táng, Trúc Voi, Khu Ba và Chằm Muộn Tỉ lệ phụ nữ chiếm 52,4% dân số, lao động nữ chiếm trên 53% Người dân trong xã sống chủ yếu bằng sản xuất nông nghiệp và một số nghề phụ như làm thợ mộc, thợ nề và tham gia lao động ở một số doanh nghiệp, nhà máy đóng gần địa bàn xã

Từ năm 1930 đến trước năm 1945, đại đa số người dân xã Đồng Trúc làm nông nghiệp, một bộ phận nhỏ theo người nhà, người quen đi làm thuê ở đô thị Hà Nội hoặc các vùng lân cận Trước năm 1975, đại bộ phận các gia đình vẫn sinh sống bằng nghề nông, và nhiều gia đình có con em tham gia các hoạt động kháng chiến, chiến đấu bảo vệ Tổ quốc Lần sáp nhập đầu tiên vào Hà Nội (từ năm 1978 đến 1991) do điều kiện kinh tế địa phương còn khó khăn, phương tiện giao thông,

đi lại hạn chế, kéo theo đó là các hoạt động giao thương, giao lưu và tiếp biến văn hóa với Thủ đô không mấy phát triển, nên cuộc sống của người dân cũng như vai trò của người phụ nữ trong gia đình không chịu quá nhiều tác động Trước năm

1986, phần lớn người dân xã Đồng Trúc tiếp tục sinh sống nhờ làm nông nghiệp, một bộ phận nhỏ làm việc trong các cơ quan, xí nghiệp nhà nước hoặc làm các nghề khác Sau năm 1986, dưới ảnh hưởng của Đổi mới và hội nhập kinh tế thị trường, hoạt động sản xuất nông nghiệp của các hộ gia đình vẫn tiếp tục được duy trì Bắt đầu từ khoảng những năm cuối thập niên 90 của thế kỷ XX, đã có một bộ phận người dân, đặc biệt là thanh niên, thoát ly quê hương để học tập, làm việc ở các thành phố lớn Lần sáp nhập thứ hai (từ 01/08/2008 đến nay), xã Đồng Trúc với vị thế không quá xa trung tâm thành phố Hà Nội, lại có đại lộ Thăng Long chạy qua nên có nhiều người (chủ yếu ở Hà Nội hoặc các xã lân cận) về mua đất, đầu tư các hoạt động kinh doanh, dịch vụ,… Dưới ảnh hưởng của tiến trình phát triển, hội nhập của đất nước và sự mở rộng đô thị của Hà Nội, với lợi thế gần khu quy hoạch Công nghệ cao Hòa Lạc, có tuyến đường cao tốc Láng - Hòa Lạc và đường liên xã Đồng Trúc - Cẩm Yên, nên hoạt động giao thương, giao lưu, phát triển văn hóa - xã hội trên địa bàn có những chuyển biến đáng kể Tuy nhiên, đất đai nông nghiệp và đất thổ cư bị thu hẹp một phần do sự xuất hiện của các dự án, điển hình như Resort Đồng Trúc, và do một bộ phận người dân bán đất cho các nhà đầu tư với giá dao động từ một đến tám triệu đồng/m2

Diện tích đất nông nghiệp bình quân trên đầu người khoảng 600 - 800m2

Bên cạnh đa phần người dân làm nông nghiệp hoặc các hoạt động liên quan đến nông nghiệp với tỉ lệ 53,99% theo

Trang 23

23

kết quả từ 113 phiếu điều tra xã hội học thu được của NCS (còn lại là cán bộ, công chức chiếm 15,93%, kinh doanh chiếm 13,27%, chăn nuôi chiếm 8,85% và các nghề khác), trên địa bàn hiện nay có một số hộ gia đình nông dân không trực tiếp canh tác nông nghiệp mà chuyển sang hình thức cho thuê ruộng hoặc giao khoán Bên cạnh hoạt động nông nghiệp là chủ đạo, cơ cấu kinh tế của một bộ phận các gia đình trong xã dần chuyển đổi từ nông nghiệp sang kinh doanh, dịch vụ hoặc làm các ngành nghề phi nông nghiệp Thu nhập bình quân ước đạt 26 triệu đồng/người/năm Trong bối cảnh đó, nhận thức và đời sống của người dân ít nhiều

có những biến chuyển, kéo theo những biến đổi về đời sống văn hóa, xã hội trên địa bàn và biến đổi về vai trò của người phụ nữ trong gia đình

1.2.2 Văn hóa gia đình ở Hà Nội

Hàng ngàn năm nay, Hà Nội là mảnh đất hội tụ tinh hoa văn hóa của các vùng, miền trên cả nước, là nơi kết tinh những giá trị văn hoá đặc sắc, độc đáo, trong đó văn hoá gia đình của người Hà Nội được coi như một trong những yếu tố cốt lõi góp phần làm nên bản sắc văn hóa của Thăng Long - Hà Nội Từ năm 1460, vua Lê Thánh Tôn từng nói: “Kinh kỳ (tức Hà Nội) là nơi tập hợp tinh hoa của tứ tuyên” [115, tr 26], tức là nơi tập hợp tinh hoa của các vùng, bốn hướng Đông, Tây, Nam, Bắc Cộng với các sắc thái văn hóa vốn có của Hà Nội, đã góp phần tạo nên mảnh đất “nghìn năm văn vật”, con người sống theo nền nếp “lễ giáo” từ nghìn xưa để lại Các khu vực phố phường, “vì công việc, vì phong khí mà con người có những nét riêng Phía Tây Hồ Gươm… là nơi đi lại của các văn nhân, sĩ tử, ảnh hưởng của các trường Dưỡng Am, Hồ Đình Phía cửa sông Tô Lịch lên Hàng Đậu, các trường Phương Đình và Cúc Hiên; hễ gần đến ngày “Bình văn” là các đình chùa chật ních, những thầy đồ từ các tỉnh về, trọ để đi nghe giảng Từ Hàng Buồm, Hàng Bè đến Cầu Đất, đi lại những người da sạm, râu hùm, những người hồ hởi, đi mành ra Bắc, vào Nam Ở Ngũ Xã với Hàng Bừa, rộn tiếng bễ, tiếng búa quai của những người lực lưỡng, đúc đồng, nấu gang Ở giữa thành, Hàng Gai, Hàng Đào như là khu vực của các vị ngoài hào hoa và trong phong nhã” [115, tr 30) Trải qua nhiều năm tháng, đến ngày nay, Hà Nội vẫn là trung tâm chính trị, kinh tế, văn hóa của đất nước Ở đó, các thế hệ, thành viên gia đình vẫn nối tiếp nhau duy trì các giá trị văn hóa gia đình của Hà thành

Là một bộ phận góp phần cấu thành văn hóa gia đình đất nước ta, văn hóa gia đình ở Hà Nội cũng mang những đặc điểm chung của gia đình người Việt truyền thống, như:

- Thuộc loại gia đình phụ quyền, con cái truyền theo dòng bố và mang tộc danh phía bố (con sinh ra theo họ bố)

Trang 24

24

- Mang nhiều nét đặc thù Á Đông, chịu ảnh hưởng của Khổng giáo (đặc biệt

là những thành viên gia đình có điều kiện được học chữ Hán), như: trọng nam, thích có con trai nối dõi

- Có sự gắn bó chặt chẽ giữa gia đình và dòng họ (trọng quan hệ huyết thống), nhìn rộng ra là sự gắn bó chặt chẽ quan hệ gia đình - tộc họ - làng, nước

- Vừa đề cao tính cộng đồng, có tinh thần vì lợi ích chung, vừa coi trọng đúng mức vai trò cá nhân, song tính cộng đồng, tập thể thường “lấn át” tính cá nhân

- Về cơ bản, người phụ nữ có địa vị bình đẳng với nam giới, điều này xuất phát từ đặc trưng nền văn hóa nông nghiệp lúa nước tự cung, tự cấp và hoàn cảnh sống của gia đình người Việt Về bản chất, nam giới có vai trò, vị trí trong các hoạt động đối ngoại của gia đình, người phụ nữ có vai trò đặc biệt quan trọng trong đối nội, trong điều hành gia đình (nội tướng)…

Trong dòng chảy của văn hóa Hà Nội với sự kết hợp giữa tính năng động của một vùng đô hội kinh kỳ với tính bền vững của một cố đô lâu đời nhất nước, văn hoá gia đình Hà Nội mang tính dân tộc với những giá trị vừa phổ biến, song cũng mang tính địa phương đặc thù Những giá trị đó được thể hiện từ những biểu hiện trong đời sống sinh hoạt gia đình hằng ngày, thông qua những việc làm cụ thể như giao tiếp giữa các thành viên trong gia đình, nuôi dạy con cái biết điều hay, lẽ phải, biết làm việc thiện, giúp đỡ người khó khăn, ứng xử lịch sự với mọi người xung quanh Người Hà Nội đặc biệt “coi trọng gia đình, gia phong bởi đó là một cái nôi tạo dựng các thế hệ tương lai cho đất nước Cha mẹ, ông bà luôn là tấm gương mẫu mực cho con cháu noi theo Việc trong nhà to nhỏ đều tự xử Đưa nhau ra tòa là nhà vô phúc” [142], và “cốt cách gia đình chiếm phần quan trọng hình thành nên những nét đẹp trong văn hóa người Hà Nội” [134] Nói như nhà nghiên cứu văn hóa Giang Quân, “Hà Nội thanh lịch bắt nguồn từ cái nôi văn hóa gia đình” [147],

và điểm nổi bật bao trùm trong văn hóa gia đình Hà Nội là sự văn minh, thanh lịch, biểu hiện ở: Chất trí tuệ, hàn lâm, văn hiến, coi trọng người tài trong tri thức và ứng xử của nhiều thành viên gia đình; giàu nghĩa khí, …lòng tự trọng; có lòng nhân ái, chuộng hòa bình và hòa đồng với cộng đồng dân cư và các cư dân từ nơi khác đến; có tính chừng mực, vừa phải, thường có thái độ trung dung, coi trọng sự bình an, ổn định; coi trọng lễ nghĩa, tôn ti trật tự, kỷ luật, tôn trọng pháp luật…

[142]; ý thức sâu sắc về danh dự và lòng tự trọng không cho phép các thành viên gia đình làm việc xấu ảnh hưởng đến sự tôn nghiêm của gia đình [134] Nhà nghiên cứu Hoàng Đạo Thúy từng nhận định, trải bao thế hệ, các thành viên trong gia đình ở Hà Nội vẫn có ý thức giữ “vẻ” thanh lịch, đôi lúc hào hoa, …ăn mặc đơn sơ và trang nhã, nói lời văn vẻ dễ nghe, dễ hòa hợp với bà con phường, xóm, hay động lòng vì việc nghĩa, tình người, ghét cay ghét đắng những chuyện tục tằng

Trang 25

25

kệch cỡm, hoạnh họe, lố lăng, đê tiện”; … ở với nhau “biết nhịn”, “biết nể”, “biết ngượng”, “suy bụng ta ra bụng người” Trong thôn phố, có việc là chạy sang thăm hỏi nhau ngay, ở với nhau chu tất, ăn ý, không “bỏ được lòng nhau”… Người ta tóm cả cái thanh, cái cao, cái lịch sự, ẩn ý vào hai chữ “thanh lịch” [115, tr 30-31]

Từ đó, góp phần làm nên những giá trị gắn kết, đùm bọc, yêu thương nhau giữa các thành viên trong gia đình, sự chu đáo, lịch thiệp trong ứng xử với làng xóm, cộng đồng; làm nên tính chất thanh lịch, hào hoa đặc trưng về lời ăn, tiếng nói, về nếp sống, hành động hằng ngày của văn hóa gia đình Hà Nội Đặc biệt, các gia đình Hà Nội, từ trí thức, nông dân đến những thương gia… đều đề cao giáo dục và đặt danh

dự lên hàng đầu Tuy nhiên, bên cạnh đó, cũng có một số hạn chế, như: đề cao quá mức tính hàn lâm, bác học trong đời sống thường nhật nên khả năng vận dụng thực

tế, tiếp nhận những yếu tố văn hóa mới còn chậm, thậm chí bị coi nhẹ; chậm đổi mới và ít đột phá do sự cẩn trọng, chắc chắn dẫn đến dè dặt, thiếu quyết đoán, táo bạo; tính kín đáo khiến nhiều thành viên gia đình trở nên khách sáo, thiếu chân tình, thẳng thắn…

Từ nhận định của Phan Đại Doãn cho rằng, trước Cách mạng tháng Tám năm

1945, ở nông thôn có hai loại gia đình: gia đình của những người lao động nông

1945, về cơ bản, ở nông thôn Hà Nội cũng có hai loại gia đình như trên Tương tự,

ở đô thị Hà Nội cũng có hai loại gia đình, gồm: gia đình của những người lao động

và gia đình của tầng lớp thượng lưu Gia đình của những người lao động thường là những người buôn bán nhỏ, làm thuê, làm mướn (như trường hợp các gia đình nghèo, gia đình bình dân ở phường Hàng Bông); gia đình của tầng lớp thượng lưu thường gồm những người buôn bán phát đạt, những người làm việc cho chính quyền thực dân Pháp hoặc một số gia đình trí thức… Sau năm 1945, các gia đình ở

Hà Nội thường được phân chia thành gia đình nông dân, gia đình công nhân, gia đình trí thức Những năm gần đây, các nghiên cứu về gia đình ở Hà Nội thường lựa chọn cách phân chia loại hình gia đình theo nghề nghiệp (gia đình trí thức - gia đình nông dân - gia đình buôn bán ), theo điều kiện kinh tế (gia đình khá giả - gia đình bình dân - gia đình nghèo), hoặc theo quy mô (gia đình hạt nhân - gia đình nhỏ - gia đình lớn), theo địa bàn cư trú (gia đình đô thị - gia đình nông thôn)… Dù chọn cách phân chia nào, nhìn chung, các nghiên cứu đều thường nhấn mạnh đến

sự đa dạng, sự chênh lệch về kinh tế, trình độ tri thức… bên cạnh sự đa dạng của thành phần dân cư ở Hà Nội do ảnh hưởng của quá trình hội nhập và đô thị hóa Nhìn từ văn hóa gia đình ở Hà Nội với những đặc trưng chung nói trên, có thể thấy, văn hóa gia đình ở các phường Hàng Bông, phường Mỹ Đình 1 và xã Đồng Trúc đều có những đặc điểm mang đặc trưng của văn hóa gia đình Hà Nội Xét theo quy mô, loại hình gia đình hạt nhân là phổ biến hơn cả ở cả ba địa bàn, với

Trang 26

26

48,18% gia đình có hai thế hệ cùng chung sống, nhiều hơn so với 32,45% gia đình

có ba thế hệ cùng chung sống, còn lại là gia đình 1 hoặc 4 thế hệ cùng chung sống (rất ít) Xét theo nghề nghiệp, loại hình gia đình trí thức, gia đình buôn bán chiếm phần lớn ở phường Hàng Bông và Mỹ Đình 1 (còn lại làm các nghề khác); ở xã Đồng Trúc, loại hình gia đình nông dân là phổ biến nhất, áp đảo so với loại hình gia đình trí thức và làm các nghề khác

Quá trình đô thị hóa, hội nhập ngày nay khiến thành phần dân cư ở ba địa bàn

có sự biến động nhất định, kéo theo đó là những biến đổi về văn hóa gia đình Về dân số, tính đến hết năm 2015, Hà Nội là thành phố đông dân thứ hai cả nước (sau thành phố Hồ Chí Minh) với khoảng hơn 8 triệu người, trong đó có khoảng 1 triệu người nhập cư Điều này dẫn đến tình trạng hạ tầng giao thông, giáo dục, y tế quá tải Chỉ tính riêng ở mười phường có phạm vi thuộc khu phố cổ Hà Nội, trong đó

, thuộc loại

10.000 nhân khẩu, trong đó gần 6.000 người sống tại địa bàn, số còn lại có hộ khẩu

ở phường nhưng không sinh sống trên địa bàn Phường Mỹ Đình 1 có diện tích hơn

sống ở địa phương từ 10 năm đến hơn 20 năm dù chiếm 73,36%, nhưng những năm gần đây có sự gia tăng đáng kể của những người dân có thời gian cư trú từ 10 năm trở xuống (gần 26,64%) từ nơi khác đến Đặc biệt, trong quá trình điền dã, NCS nhận thấy, trong khoảng mười năm trở lại đây, phường Mỹ Đình 1 là địa bàn nổi trội về việc có số lượng không nhỏ người ở các tỉnh khác (Nam Định, Thái Bình, Ninh Bình, Hà Nam, Phú Thọ, Lào Cai, Hà Giang, Thanh Hóa, Nghệ An…)

đổ về mua đất làm nhà, thuê nhà, sinh sống, làm ăn Họ có trình độ văn hóa đa dạng, từ những người có trình độ tri thức cao (có học hàm, học vị) đến những người mới chỉ tốt nghiệp phổ thông trung học, và có sự chênh lệch giàu - nghèo nhất định Bên cạnh một bộ phận người dân bán đất nên có tiền xây dựng những căn nhà to, cao và có tiền tiết kiệm, hay những trường hợp là trí thức hoặc người kinh doanh sở hữu những tài sản có giá trị (tập trung chủ yếu ở khu đô thị Mỹ Đình

và một số khu lân cận), cũng có những trường hợp đã sinh sống, lập nghiệp ở phường nhiều năm mà vẫn phải đối mặt với gánh nặng kinh tế nuôi sống bản thân

và gia đình hằng tháng Trong khi đó, thành phần dân cư trong các gia đình ở xã Đồng Trúc vẫn tương đối ổn định với số người dân có gốc ở địa phương sinh sống chiếm phần lớn, chỉ có một bộ phận thoát ly đi làm việc hoặc sinh sống ở các địa phương khác hoặc các địa bàn lân cận do xuất phát từ yêu cầu công việc, hoặc do kết hôn với người nơi khác…

Trang 27

27

Trong bối cảnh xã hội hiện đại ngày nay, biến đổi văn hóa đang diễn ra ở hầu khắp các lĩnh vực, các địa bàn trong cả nước Hà Nội do là thủ đô kinh tế, chính trị, văn hóa của đất nước, nên có điều kiện giao lưu, tiếp biến văn hóa một cách nhanh chóng và rộng mở, thậm chí sâu sắc hơn so với các địa phương khác Nhìn ở khía cạnh này, quá trình biến đổi văn hóa ở Hà Nội có thể diễn ra ở mức độ nhanh, rộng

và sâu sắc Song, do có những tố chất, bản sắc văn hóa đặc trưng đã được lưu truyền qua hàng nghìn năm, nên bên cạnh sự biến đổi như trên, sẽ vẫn tồn tại việc gìn giữ, luy truyền và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống Từ cái nhìn tổng thể này, có thể thấy, hiện nay, cả ba địa bàn nghiên cứu đều chịu ảnh hưởng và tất yếu xuất hiện những biến đổi trong suy nghĩ, lối sống, hành vi, ứng xử giữa các thành viên gia đình nói chung, ở vai trò của người phụ nữ trong gia đình nói riêng Bên cạnh những điểm chung tương đồng, mỗi địa bàn có những đặc điểm riêng về kinh tế, thành phần dân cư, văn hóa gia đình, thể hiện ở:

- Phường Hàng Bông, do là địa bàn đô thị Hà Nội gốc, đa phần người dân theo nghiệp kinh doanh, buôn bán từ lâu đời nên kinh tế của nhiều gia đình tương đối phát triển Ở trung tâm thành phố “đất chật, người đông”, nên cơ cấu dân cư dần tăng trải theo thời gian nhưng không có quá nhiều biến động, chủ yếu vẫn là người dân gốc ở phường và người dân ở một số địa bàn lân cận đến sinh sống, làm việc do quá trình kết hôn, lập nghiệp… Tính đến tháng 05/2016, tổng số dân của phường là trên 10.000 người, trong đó có hơn 5.000 nữ Trong số hơn 7.000 người

đã tốt nghiệp trung học phổ thông có 3.700 người là nữ Số người có trình độ trên đại học là 28, trong đó khoảng một nửa là nữ Phần lớn các gia đình ở đây vẫn có thói quen sinh sống nhờ buôn bán, kinh doanh theo truyền thống gia đình, hoặc cho thuê mặt tiền (đối với một số hộ gia đình có nhà mặt phố nhưng không kinh doanh

do điều kiện về sức khỏe, hoặc con, cháu đã phương trưởng, làm các ngành, nghề khác không liên quan đến buôn bán) bên cạnh sinh sống nhờ làm một số nghề khác, như cán bộ, công chức, nhân viên văn phòng, làm nghề tự do v.v Qua quá trình điền dã, NCS nhận thấy, do là đô thị gốc với những phong tục, tập quán văn hóa được duy trì qua nhiều thế hệ gia đình, nên nhiều gia đình sinh sống lâu đời ở phường vẫn tiếp tục duy trì văn hóa gia đình truyền thống với nếp sống thanh lịch, hòa nhã, ăn nói văn vẻ, nhẹ nhàng, có thói quen tương trợ, giúp đỡ lẫn nhau… Do vậy, dù ít nhiều chịu tác động của quá trình biến đổi văn hóa trong bối cảnh xã hội hiện đại, bên cạnh các biến đổi, những giá trị văn hóa gia đình truyền thống vẫn tiếp tục được duy trì trong không ít gia đình

- Phường Mỹ Đình, dù trước đây là địa bàn nông thôn nay chuyển thành đô thị, lại chịu ảnh hưởng mạnh mẽ bởi quá trình đô thị hóa, thành phần dân cư thay đổi do có nhiều người ở nơi khác đến sinh sống, lập nghiệp nên văn hóa gia đình trong những năm gần đây mang tính “mở”, đa dạng, được tập hợp bởi nhiều sắc

Trang 28

28

thái văn hóa địa phương (chủ yếu từ các tỉnh phía Bắc nước ta) bên cạnh các sắc thái văn hóa gia đình bản địa (được pha trộn giữa các yếu tố vừa mang đặc trưng văn hóa gia đình nông thôn kết hợp với đặc trưng văn hóa gia đình đô thị Hà thành, như: có sự gắn kết, đùm bọc, yêu thương nhau giữa các thành viên trong gia đình, chu đáo, lịch thiệp trong ứng xử với làng xóm, cộng đồng; có ý thức giữ vẻ thanh lịch nhưng sự hào hoa không được biểu hiện rõ như ở các thành viên gia đình đô thị Hà Nội ở phường Hàng Bông, thay vào đó là sự giản dị, chất phác; ăn mặc cũng đơn sơ, trang nhã, nói lời dễ nghe nhưng không đến nỗi quá văn vẻ do trước đây có nhiều nông dân không được học chữ v.v ) Thành phần dân cư rất đa dạng, nếu như trước kia chủ yếu là nông dân và một bộ phận là trí thức, làm nghề chăn nuôi hoặc buôn bán nhỏ… thì nay do tốc độ đô thị hóa nhanh, xuất hiện ngày càng nhiều tầng lớp trí thức Trong quá trình điền dã, NCS đã tiếp xúc, phỏng vấn nhiều người có trình độ từ đại học trở lên, hoặc có học hàm, học vị, trong đó nữ chiếm quá nửa Ngoài ra, còn có những người làm các nghề buôn bán, kinh doanh, cán

bộ, công chức, nhân viên văn phòng… với sự tham gia đáng kể của phụ nữ

- Xã Đồng Trúc là xã nông nghiệp, nên khác với người dân ở phường Hàng Bông và phường Mỹ Đình 1 không còn làm nghề nông, nghề nghiệp chính của đa phần người dân ở xã vẫn là nông dân, song họ cũng làm thêm các nghề khác lúc nông nhàn, thậm chí có một bộ phận (gồm cả thanh niên và người trung tuổi) thoát

ly đi làm việc, kiếm sống ở nơi khác Đời sống kinh tế của người dân trong xã đa phần ở mức trung bình, vẫn còn trên 3% hộ nghèo Dù đã sáp nhập vào Hà Nội gần mười năm, nhưng ở xa trung tâm nên đặc trưng của yếu tố văn hóa gia đình nông thôn với tính gia trưởng, chịu sự chi phối của gia đình, dòng tộc,… vẫn được thể hiện tương đối rõ trong đời sống thường nhật của các thành viên gia đình Sự thanh lịch cũng không được thể hiện rõ như ở các gia đình đô thị, thậm chí có phần nhạt nhòa, thay vào đó là sự chân chất, thuần hậu trong cách cư xử và trong các mối quan hệ, mang dấu ấn chất phác của những người nông dân nơi “đất lề quê thói” Những đặc điểm trên ít nhiều chi phối, ảnh hưởng đến biến đổi vai trò của người phụ nữ trong gia đình ở các địa bàn nghiên cứu ở các mức độ, khía cạnh khác nhau Điều này sẽ được thể hiện trong nội dung luận án

Trang 29

29

1.3 Lý thuyết vận dụng

1.3.1 Một số khái niệm cơ bản

Nghiên cứu về phụ nữ và biến đổi vai trò của người phụ nữ trong gia đình đã thu hút sự quan tâm, chú ý, kiến giải của nhiều nhà nghiên cứu trong và ngoài nước

trong nhiều năm qua Có quan niệm cho rằng, từ “phụ nữ” được dùng để chỉ người

thuộc giống cái, không phân biệt tuổi tác Cũng có quan niệm “phụ nữ” là từ chỉ giống cái của loài người, thường được dùng để chỉ người trưởng thành, hoặc coi

“phụ nữ” đơn giản chỉ là người thuộc giới nữ, hoặc chỉ một, một nhóm hay tất cả

nữ giới đã trưởng thành, hoặc được cho là đã trưởng thành về mặt xã hội Trong tiếng Việt, “phụ nữ” được hiểu một cách dân dã là “đàn bà, con gái” Với cách hiểu này, có quan niệm đồng nhất “phụ nữ” với “đàn bà”, cho đó là từ chỉ giống cái của loài người, thường được dùng để chỉ người trưởng thành Song cũng có quan niệm phân biệt rõ ràng giữa “phụ nữ” và “đàn bà” khi cho rằng đàn bà có ý nghĩa tương

tự, nhưng bản thân nó không hàm ý sự trang trọng do thể hiện cái nhìn bao hàm nhiều mặt, cả về khía cạnh xã hội cũng như bản chất sinh học Người ta thường sử dụng từ “đàn bà” khi chỉ người phụ nữ đã có chồng, hoặc cần thể hiện cái nhìn trung lập, hoặc một số người dùng để bày tỏ thái độ thiếu thiện cảm hay có chút kỳ thị đối với người nữ, bởi nó khiến người ta liên tưởng đến những mặt xấu, hoặc được cho là xấu, mang đặc trưng và thường gặp ở nữ giới (ví dụ: lắm mồm, nông cạn, ích kỷ ) So sánh giữa hai từ "phụ nữ" và "đàn bà", từ "đàn bà" được cho là suồng sã hơn, thô thiển hơn, và phần nào mang ý nghĩa tiêu cực hơn Trong khi đó,

“con gái” chỉ những người nữ trẻ, thường ở độ tuổi vị thành niên và thanh niên, đã

có biểu hiện rõ ràng của giới tính nữ nhưng chưa được cho là trưởng thành

Từ điển tiếng Việt giải thích, “phụ nữ” là “người lớn thuộc nữ giới” [93, tr

1035], để phân biệt tương đối với “con gái” là “người thuộc nữ giới còn ít tuổi” [92, tr 275], và “đàn bà” chỉ “người thuộc nữ giới, thường đã nhiều tuổi” [93, tr 383] Theo Điều lệ Đoàn Thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh, tại thời điểm xét kết nạp, người được kết nạp vào Đoàn ít nhất ở tuổi 16 (từ đủ 15 tuổi + 1 ngày) [138] Theo Luật Hôn nhân và Gia đình hiện nay, tuổi kết hôn của nữ là 18 tuổi trở lên, nam 20 tuổi trở lên Trong quan niệm dân gian, “nữ thập tam, nam thập lục”, tức là con gái 13 tuổi, con trai 16 tuổi là ở tuổi dậy thì [124, tr 32] Tựu trung, có thể quan niệm phụ nữ là người nữ có tuổi từ 16 trở lên

Cũng theo Từ điển tiếng Việt, “biến đổi” là “thay đổi hoặc làm cho thay đổi

thành khác trước”, hoặc là “sự thay đổi, điều thay đổi khác với trước” [93, tr 90] Theo nghiên cứu của Nguyễn Thị Phương Châm, “biến đổi văn hóa” bao hàm những sự chia sẻ, những sự biến đổi tương đối lâu dài của những mô hình ứng xử

và niềm tin văn hóa Nhìn ở khía cạnh lịch sử, xã hội nào cũng biểu lộ nhữg sự

Trang 30

30

biến đổi, cũng trộn lẫn những sự tiếp nối và biến đổi” [16, tr 11] Phạm Đức Dương cho rằng, văn hoá chỉ biến đổi tiệm tiến chứ không biến đổi ngay tức khắc,

do văn hóa có cấu trúc hai bậc với sự tương tác lẫn nhau: Biểu tầng thường xuyên

biến đổi - là biến số, yếu tố động của văn hoá, cơ tầng ít biến đổi - là hằng số, yếu

nhà khoa học khởi xướng ủng hộ thuyết tiến hóa văn hóa như E Taylor (1891), L Morgan (1877) khi họ phân chia xã hội theo thứ bậc đơn tuyến và có chung một mẫu hình biến đổi xã hội và biến đổi văn hóa Theo mô hình phát triển tiến hóa đơn tuyến này, những nền văn hóa ngoài phương Tây được nhìn nhận là “kém văn minh”, con người sống trong sự ràng buộc chặt chẽ của phong tục nên sự biến đổi diễn ra rất chậm chạp Trong khi đó, nền văn hóa phương Tây “văn minh”, năng động và biến đổi nhanh Mô hình này bị phản đối rộng khắp trong giới Nhân học

và là tiền đề để các lý thuyết mới về biến đổi văn hóa ra đời và phát triển vào cuối

thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX Daniel Bell trong tác phẩm Cultural Contraditions of

Capitalism (Những mâu thuẫn văn hóa của chủ nghĩa tư bản) năm 1976 cho rằng,

những biến đổi trong thế giới hiện đại đang gia tăng là do mâu thuẫn giữa ba lĩnh vực của thực tiễn xã hội, đang vận hành trên những nguyên tắc và mục tiêu khác nhau, gồm: cấu trúc kinh tế - kỹ thuật (khoa học, công nghiệp và kinh tế), hệ thống chính trị và văn hóa Ngày nay, từ mô hình Bell đưa ra, có thể nhận thấy biến đổi thường không đều và mang tính bộ phận Trễ văn hóa (cultural lag) là một hiện tượng phổ biến, ở đó sự phát triển của văn hóa thường bị trễ so với sự phát triển trong công nghệ, chính trị hoặc kinh tế Sự đồng nhất biến đổi với tiến bộ từ thế kỷ XIX giờ đây không còn được chấp nhận nữa Thay vào đó, là quan điểm biến đổi cũng có thể là thoái bộ, là phá hoại hoặc đảo lộn trật tự bởi sự trễ văn hóa [84, tr 141] Do vậy, có thể quan niệm biến đổi nói chung, biến đổi văn hóa nói riêng có

sự thay đổi một cách từ từ, song trong một số trường hợp biến đổi mang tính chất nhảy vọt (ví dụ: biến đổi văn hóa thời kỳ Cách mạng văn hóa ở Trung Quốc), hoặc biến đổi có thể bao gồm cả sự thay đổi từ từ và nhảy vọt

Khái niệm “vai trò” được coi là bắt nguồn từ khái niệm vai diễn trên sân

khấu Vai diễn trên sân khấu đòi hỏi diễn viên phải nhập tâm, bắt chước và học tập đóng vai của những nhân vật được đạo diễn phân đóng Tuy nhiên, vai trò của con người trong thực tế không có tính chất tưởng tượng, bắt chước, cứng nhắc và nhất thời, mà tùy thuộc vào nhận thức, quan niệm, kinh nghiệm, lối sống, tác phong…

có được trong cuộc sống để thể hiện và thực hiện vai trò của mình Theo Robertsons, vai trò là một tập hợp các chuẩn mực, hành vi, quyền lợi và nghĩa vụ được gắn liền với một vị thế xã hội nhất định Cũng có thể hiểu, vai trò là tác dụng, chức năng trong sự hoạt động, sự phát triển của cái gì đó, hoặc của một tập thể, tổ chức, hoặc là “tác dụng, chức năng của ai hoặc cái gì trong sự hoạt động, sự phát

Trang 31

31

triển chung” [93, tr 1432] Mỗi cá nhân có nhiều vai trò khác nhau ở gia đình, ngoài xã hội, và tuỳ theo vai trò của mình, cá nhân sẽ có cách ứng xử, hành vi, tác phong, hành động tương ứng với vai trò mà mình đảm trách Cũng theo Robertsons, trong đời sống gia đình và xã hội, mỗi cá nhân có nhiều vai trò khác nhau, tương ứng với những mối quan hệ mà cá nhân có Tùy theo vai trò của mình,

cá nhân sẽ có cách ứng xử, hành vi, tác phong, hành động tương ứng với vai trò mà

cá nhân đảm trách Khái niệm “vai trò” khác khái niệm “vị thế” (status) ở chỗ, khái niệm “vị thế” thường “viện dẫn đến cả giá trị mà người ta quy cho phụ nữ và hoạt động của họ, lẫn mức độ mà phụ nữ có thể kiểm soát được cuộc sống của họ cũng như cuộc sống của người khác” [43, tr 347]

Khi nghiên cứu biến đổi về vai trò của người phụ nữ trong gia đình, các tác giả thường hay nhắc đến khái niệm “vai trò giới” với sự phân chia nhất định về vai trò giữa nữ giới và nam giới Theo Trần Thị Minh Đức, Hoàng Xuân Dung và Đỗ Hoàng, vai trò giới được coi là “tập hợp những hoạt động và hành vi ứng xử mà nam giới và phụ nữ học được và thể hiện trong thực tế, dựa trân sự mong đợi từ phía xã hội ở một người tùy thuộc người đó là phụ nữ hay nam giới” [39, tr 284] Các vai trò giới rất đa dạng tùy thuộc vào vị trí và bối cảnh, có thể thay đổi theo thời gian tương ứng với sự thay đổi của các điều kiện và hoàn cảnh, và thay đổi theo sự thay đổi trong quan niệm xã hội, tương ứng với việc chấp nhận hay không một hành vi ứng xử và vai trò nào đó Một số vai trò giới chủ yếu thường được nhắc đến là: vai trò tái sản xuất (gồm việc sinh đẻ, các công việc nhà, chăm sóc trẻ

em, người già… nhằm duy trì và tái sản xuất sức lao động, được coi là những công việc không được trả thù lao); vai trò sản xuất (gồm những công việc được trả thù lao của phụ nữ và nam giới, những việc tạo ra giá trị sử dụng thực tế hoặc có giá trị trao đổi sản xuất lương thực, dịch vụ để tiêu dùng trong gia đình hoặc tạo thu nhập); vai trò cộng đồng (gồm những hoạt động nhằm bảo đảm sự cung cấp và bảo

vệ những nguồn lực khan hiếm cho nhu cầu chung của cộng đồng như vệ sinh môi trường, nước sạch, dịch vụ chăm sóc sức khỏe và giáo dục…, hầu hết là hoạt động tình nguyện, không được trả thù lao); vai trò lãnh đạo cộng đồng (gồm những hoạt động được thực hiện ở cấp cộng đồng, các tổ chức, hoạt động chính trị chính thức…, là những hoạt động được trả công hoặc dẫn đến việc nâng cao quyền lực

và địa vị) Nghiên cứu của Trần Thị Minh Đức, Hoàng Xuân Dung và Đỗ Hoàng chỉ rõ, phụ nữ thường thực hiện cùng lúc vai trò tái sản xuất, vai trò sản xuất và vai trò cộng đồng, trong khi nam giới thường tập trung vào vai trò sản xuất và vai trò lãnh đạo cộng đồng [39, tr 285] Tựu trung, có thể nhìn nhận vai trò của người phụ

nữ trong gia đình ở các khía cạnh: vai trò làm vợ, vai trò làm mẹ, vai trò trong hoạt động kinh tế gia đình và các hoạt động khác của gia đình

Trang 32

32

Theo chiết tự tiếng Hán, “gia” gồm bộ miên, mang ý nghĩa mái lợp trùm nhà ngoài nối nhà trong, dưới có chữ thỉ, nghĩa là lợn Chữ gia mang nghĩa nhà ở chắc chắn phải xuất hiện từ thời con người đã biết chăn nuôi “Đình” gồm bộ nghiễn, tức mái nhà (cũng đọc là yêm), dưới là đình với ý nghĩa là nơi phát lệnh cho cả

nước theo (như triều đình) Gia đình có thể hiểu là một đơn vị kinh tế nhỏ, chung

sống dưới mái nhà trong cộng đồng xã hội Từ điển tiếng Việt định nghĩa, “gia

đình” là “tập hợp người cùng sống chung thành một đơn vị nhỏ nhất trong xã hội,

gắn bó với nhau bằng quan hệ hôn nhân và dòng máu, thường gồm có vợ chồng, cha mẹ và con cái” [93, tr 507] Dưới góc độ tâm lý học, Ngô Công Hoàn cho rằng, gia đình “là một nhóm nhỏ xã hội có quan hệ gắn bó về hôn nhân hoặc huyết thống, tâm sinh lý, có chung các giá trị vật chất, tinh thần ổn định trong các thời điểm lịch sử nhất định” [133, tr 36] Dưới góc nhìn xã hội học, Lê Như Hoa nhận thấy “một số nhà xã hội học quan niệm gia đình là một nhóm người” [44, tr 24] Tác giả cũng trích dẫn quan điểm của các nhà xã hội học phương Tây E W Burgess và H J Cooker: Gia đình là một nhóm người được thống nhất với nhau bởi những mối quan hệ hôn nhân, huyết thống hoặc nhận con nuôi; tạo thành một

hộ duy nhất, tác động qua lại và giao tiếp với nhau theo vai trò xã hội riêng của từng người trong số họ: là chồng vợ, là mẹ cha, anh trai và em gái, tạo thành một nền văn hóa chung Còn theo Kingley Davis, gia đình là “một nhóm người mà quan hệ của họ với nhau dựa trên cơ sở dòng dõi, và do đó họ là họ hàng thân thích của nhau” [44, tr 24] Lê Thi cho rằng, khái niệm gia đình được sử dụng để chỉ một nhóm xã hội hình thành trên cơ sở quan hệ hôn nhân và quan hệ huyết thống nảy sinh từ quan hệ hôn nhân đó và cùng chung sống (cha mẹ, con cái, ông bà); gia đình cũng có thể bao gồm một số người được nuôi dưỡng tuy không có quan hệ huyết thống nhưng các thành viên gia đình gắn bó với nhau về trách nhiệm và quyền lợi kinh tế, văn hóa, tình cảm, giữa họ thường có những điều ràng buộc có tính pháp lý, được Nhà nước thừa nhận và bảo vệ (được ghi rõ trong Luật Hôn nhân và Gia đình của nước ta) Đồng thời, trong gia đình có những quy định rõ ràng về quyền được phép và cấm đoán quan hệ tình dục giữa các thành viên [109] Đặng Cảnh Khanh và Lê Thị Quý quan niệm, gia đình là “một thiết chế xã hội đặc thù liên kết con người lại với nhau nhằm thực hiện việc duy trì nòi giống, chăm sóc

và giáo dục con cái” [55, tr.54], “sự liên kết giữa các thành viên trong gia đình với nhau thường chặt chẽ hơn nhiều so với các nhóm xã hội khác” [57, tr 55-56] Tựu trung, có thể hiểu, gia đình là một tập hợp người được hình thành trên cơ sở quan

hệ hôn nhân, quan hệ huyết thống và quan hệ pháp lý, có quan hệ mật thiết với nhau trong sinh hoạt vật chất và sinh hoạt tinh thần

Trên cơ sở thừa nhận sự đa dạng trong quan niệm về các khái niệm có liên

quan đến đề tài nói trên, có thể đưa ra khái niệm về “biến đổi vai trò” như sau:

Trang 33

Từ khái niệm “biến đổi vai trò”, có thể nhìn nhận “biến đổi về vai trò của người phụ nữ trong gia đình” theo cách hiểu dưới đây:

Biến đổi về vai trò của người phụ nữ trong gia đình là sự thay đổi về các tác

dụng, chức năng của người phụ nữ trong hoạt động sống và sinh hoạt của gia đình trải qua sự vận động, phát triển của gia đình trong tương quan so sánh với những biểu hiện về tác dụng, chức năng đó trong khoảng thời gian (hoặc những khoảng thời gian) trước đây, cụ thể là biến đổi vai trò làm vợ, vai trò làm mẹ, vai trò trong hoạt động kinh tế gia đình và các hoạt động khác của gia đình Sự biến đổi vai trò của người phụ nữ trong gia đình phụ thuộc vào trình độ, nhận thức, quan niệm, ứng xử, hành động… của không chỉ người phụ nữ, mà còn của các thành viên khác trong gia đình và của cả cộng đồng, xã hội dưới ảnh hưởng, tác động của các yếu

tố không gian, thời gian và bối cảnh văn hóa - chính trị - xã hội nhất định

1.3.2 Hướng tiếp cận và lý thuyết nghiên cứu

Luận án sử dụng hướng tiếp cận văn hóa học để nghiên cứu những biến đổi về vai trò của người phụ nữ trong gia đình ở Hà Nội hiện nay Quan điểm văn hóa có

“hằng số” là sự biến đổi, là dòng chảy không ngừng trong đời sống xã hội được luận án vận dụng để khẳng định tính tất yếu của sự biến đổi về vai trò của người phụ nữ trong gia đình, do người phụ nữ cũng như vai trò của người phụ nữ trong gia đình cũng là một bộ phận, một thành tố của văn hóa

Theo quan điểm tổng thể và tương đối văn hóa, một nền văn hóa không phải

là tổng của các thành tố, mà tất cả các thành tố văn hóa của nền văn hóa ấy đều có

sự nối kết chặt chẽ với nhau và đều có chức năng nào đó trong nền văn hóa mà nó tồn tại Do đó, trong quá trình nghiên cứu, luận án đặt phụ nữ và biến đổi vai trò của người phụ nữ trong gia đình trong bối cảnh lịch sử, chính trị, kinh tế - xã hội… cũng như trong tương quan với các thành viên khác trong gia đình, đặc biệt là trong tương quan giới để tìm hiểu, nhận xét, đánh giá Đồng thời, luận án cũng sử dụng cách tiếp cận từ bên trong ra (người trong cuộc, cụ thể ở đây là người phụ nữ) gắn với chú trọng tiếng nói, sự tham gia của người dân nhằm có thông tin khách quan về vấn đề nghiên cứu

Trang 34

34

Trên cơ sở sử dụng hướng tiếp cận văn hóa học, luận án tập trung vận dụng các lý thuyết sau:

- Lý thuyết về biến đổi văn hóa

Trong quá trình vận động, phát triển của con người và xã hội loài người, văn hóa có những biến đổi nhất định, thể hiện sự thích ứng và biến đổi của con người

và các cộng đồng người trong môi trường cộng sinh, thể hiện ở việc chấp nhận hay

“không chối từ” về văn hóa trong việc hấp thụ các yếu tố ngoại sinh Sự vận động của mỗi nền văn hóa trong không gian và thời gian nhất định luôn có sự vận động của các yếu tố bất biến và khả biến, giữa cái cố hữu và cái cách tân Cái khả biến phát triển đến mức độ nào đó sẽ làm thay đổi chính thực thể văn hóa, như quy luật lượng đổi, chất đổi [127, tr.48, 52-53] Nói cách khác, một nền văn hóa không phải

là một khối thuần nhất, và biên giới giữa các nền văn hóa thì mờ nhạt Trong một

xã hội có những cơ hội để lựa chọn thì con người không thể không lựa chọn Sự lựa chọn ấy có thể được thể hiện ở việc những thành viên của nền văn hóa thường trao đổi với nhau những quan niệm và tập tục; ngay cả khi không có cơ hội để lựa chọn từ bên ngoài đưa vào, mọi truyền thống văn hóa đều cung cấp cho các thành viên của chúng nhiều cách khác nhau để diễn giải kinh nghiệm của mình, mặc dù

có thể chỉ có một cách được chính thức cho phép [4, tr 48]

Các nghiên cứu lý thuyết về biến đổi văn hóa đã chỉ ra rằng, biến đổi văn hóa

là một quá trình tất yếu và phổ biến, với nhiều dạng thức: tiếp biến, kế thừa, giao thoa… dưới những tác động chủ quan (tự nguyện) và khách quan (bắt buộc); tùy từng nơi, do địa hình cư trú, trình độ nhận thức, điều kiện giao lưu, tiếp nhận… mà quá trình này xảy ra nhanh, chậm, mạnh, yếu… không giống nhau [145] Những biến đổi văn hóa trong từng thời kỳ, từng giai đoạn dù mang tốc độ, sắc thái khác nhau nhưng vẫn có một mặt bằng văn hóa chung cho mỗi cộng đồng cụ thể Trong quá trình biến đổi, các yếu tố văn hóa truyền thống vốn là điểm mạnh trong văn hóa và đến một thời kỳ nào đó sẽ phai nhạt hoặc không còn Đồng thời, chủ thể văn hóa có thể tiếp nhận những yếu tố mới hoặc yếu tố ngoại sinh Các yếu tố mới ngày càng được khẳng định và có tính phù hợp với thực tế cuộc sống, được cộng đồng chấp nhận, vận hành Biến đổi văn hóa là quy luật tất yếu, song vẫn cần giữ những giá trị văn hóa tinh hoa của mỗi cộng đồng, dân tộc…

Các lý thuyết về biến đổi văn hóa được hình thành chủ yếu dựa trên những lý thuyết về biến đổi xã hội được các học giả phương Tây xây dựng trong ngành nhân

học và xã hội học Ở đó, biến đổi xã hội là một quá trình qua đó các khuôn mẫu

của các hành vi xã hội, các quan hệ xã hội, các thiết chế xã hội và các hệ thống phân tầng xã hội được thay đổi theo thời gian Với quan điểm này, văn hóa với tư cách là một bộ phận của đời sống xã hội, cũng không ngừng tự biến đổi Sự ổn

Trang 35

35

định chỉ là sự ổn định của bề ngoài, còn thực tế bên trong bản thân nó không ngừng thay đổi Bất cứ xã hội nào và bất cứ nền văn hóa nào, dù bảo thủ và cổ truyền đến đâu chăng nữa, cũng luôn biến đổi Trong xã hội hiện đại, sự biến đổi ngày càng rõ hơn, nhanh hơn Mọi sự vật, hiện tượng đều biến đổi, và xã hội cũng giống như các hiện thực khách quan khác, không ngừng vận động và thay đổi, với một thực trạng đứng yên trong sự vận động liên tục [99, tr 24]

Biến đổi văn hóa được các nhà khoa học khởi xướng ủng hộ thuyết tiến hóa văn hóa như E.Taylor (1891) hay L.Morgan (1877) đề cập từ khá sớm Họ cho rằng, những nền văn hóa ngoài phương Tây do cư dân có sự ràng buộc bởi phong tục và “kém văn minh”, nên sự biến đổi văn hóa diễn ra rất chậm so với văn hóa phương Tây “văn minh”, năng động và biến đổi nhanh Từ mô hình tiến hóa luận đơn tuyến về sự phát triển và biến đổi của văn hóa, dẫn đến sự xuất hiện nhiều lý

thuyết mới về biến đổi văn hóa vào cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX như: Thuyết

Truyền bá văn hóa (đại diện là G.Elliot Smith 1911, W.River 1914 cho rằng vấn

đề mấu chốt của biến đổi văn hóa là sự vay mượn hoặc sự truyền bá của các đặc

trưng văn hóa từ xã hội này sang xã hội khác; Thuyết vùng văn hóa (đại diện là

C.L.Wissler 1923, A.L.Kroeber 1925 ) đưa ra các khái niệm cơ bản về vùng văn hóa, loại hình văn hóa, trung tâm văn hóa, tổ hợp văn hóa, sự biến đổi văn hóa diễn

ra rất đa chiều và nhiều cấp độ tùy thuộc vào việc cộng đồng đó là trung tâm, ngoại

vi hay vùng chuyển tiếp, môi trường và sự chuyên môn hóa của cộng đồng đó là

gì; Thuyết tiếp biến văn hóa (đại diện là Redfiel 1934, Broom 1954 ) chỉ ra sự

biến đổi văn hóa trong bối cảnh những xã hội phương Tây và ngoài phương Tây đã trải qua mối quan hệ lâu dài, đặc biệt là ảnh hưởng của những xã hội có ưu thế đối

với người dân bản địa; Thuyết chức năng (đại diện là Brown 1952, Malinowski

1944 ) nhìn nhận xã hội như một dạng cơ cấu, trong đó từng bộ phận đều có chức năng cụ thể, mỗi chức năng đó có thể xác định được nhằm duy trì hệ thống xã hội tổng thể Vì vậy, xã hội và văn hóa thường có sự hội nhập tốt và ổn định, nếu văn hóa thay đổi thì phần lớn do tác động từ bên ngoài Cùng với các trường phái trên,

là sự xuất hiện của hàng loạt những luận điểm lý thuyết về thích nghi văn hóa, hội

nhập văn hóa, sinh thái học văn hóa [16, tr.9-10]

Các nhà nhân học và xã hội học khi xem xét sự phát triển của xã hội đã đưa ra một số lý thuyết để giải thích tại sao biến đổi lại xảy ra và dự đoán những biến đổi

sẽ diễn ra trong tương lai dựa trên một số cách tiếp cận chủ yếu về biến đổi xã hội, như: Cách tiếp cận theo chu kỳ, các quan điểm tiến hóa, quan điểm xung đột, quan điểm hiện đại về biến đổi xã hội Julian Steward, nhà nghiên cứu văn hóa người

Mỹ, tác giả của tác phẩm “Lý thuyết về biến đổi văn hóa: Phương pháp luận về

tiến hóa đa hệ” đã đặt sự biến đổi văn hóa liên quan đến hành vi con người trong

Trang 36

36

ứng xử với môi trường thiên nhiên, đi sâu “tìm kiếm nguyên nhân của thay đổi văn hóa và cố gắng để đưa ra một phương pháp để công nhận cách thức mà sự thay đổi văn hóa được gây ra bởi sự thích nghi với môi trường” [148] Theo ông, các xã hội

có công nghệ kỹ thuật sinh tồn càng thô sơ thì xã hội đó càng phụ thuộc nhiều vào

tự nhiên, trái ngược lại với những xã hội có trình độ khoa học kỹ thuật cao Julian

đã tiếp nhận quan điểm về tiến hóa, đặc biệt coi trọng kỹ thuật, xem đó như là chìa khóa để hiểu tính đa dạng của văn hóa và tổ chức xã hội, cũng như để hiểu những đặc điểm có tính quy luật của biến đổi văn hóa

Với quan niệm biến đổi văn hóa có thể do giao lưu, tiếp xúc, tiếp biến văn

hóa; do cấu trúc/ mô hình/ thể chế xã hội thay đổi; do các vấn đề khác trong xã hội

đã biến đổi; do chuyển cư hay thay đổi môi trường; hoặc do tiến hóa tự nhiên vì mọi sự vật, hiện tượng… trong xã hội đều biến đổi, không có gì mãi đứng yên

v.v , luận án tập trung vận dụng thuyết tiến hóa văn hóa dựa trên cơ sở quan điểm

nhìn nhận biến đổi văn hóa là thể hiện của sự tiến hóa tự nhiên Cội nguồn của lý

thuyết về sự tiến hóa có thể từ các nhà triết học thời kỳ Phục hưng với niềm tin vào

sự tiến hóa và khả năng của trí tuệ con người Trong khoa học tự nhiên, các nhà nghiên cứu tìm tòi để hiểu biết về sự tiến triển kế tiếp của các hình thái cuộc sống

đã diệt vong với các hình thái cuộc sống hiện tại Ở đó, cơ chế thay đổi trong các hình thái còn tồn tại được xác định như là sự biến thể, chọn lọc tự nhiên, thích nghi

và tái sinh của những hình thái trước Các quá trình phát triển trên gọi là sự tiến

hóa, được tập hợp trong cuốn sách nổi tiếng Nguồn gốc muôn loài (Origin of

Spices) của Charles Darwin, in năm 1859 [85, tr 581] Các nhà tiến hóa luận thế

kỷ XIX như Edward Taylor, Lewis Morgan cho rằng, tất cả các nền văn hóa đều trải qua những giai đoạn phát triển giống nhau theo một trật tự nhất định Song, trong khi cố gắng khái quát hóa các nền văn hóa và đưa ra kết luận đúc kết từ cuộc sống con người, các nhà khoa học theo lý thuyết này cũng quan tâm nghiên cứu những khía cạnh cụ thể của nền văn hóa riêng biệt và đặc thù, từ đó nhận ra tầm quan trọng của việc nghiên cứu những vấn đề cụ thể của một nền văn hóa trong mối liên kết với cái tổng thể của nền văn hóa đó Theo Tylor, có sự kế tiếp trong quá trình phát triển văn hóa của xã hội loài người, nếu có sự dị biệt của các nền văn hóa xã hội thì chúng thể hiện những giai đoạn khác nhau trong quá trình tiến hóa văn hóa Tylor một mặt phản đối định kiến của thời đại đã nhìn nhận sai lệch những dân tộc không phải là châu Âu, coi những nền văn hóa ngoài phương Tây được nhìn nhận là “kém văn minh”, con người sống trong sự ràng buộc chặt chẽ của phong tục nên sự biến đổi diễn ra rất chậm chạp, đối ngược với văn hóa phương Tây “văn minh”, năng động và biến đổi nhanh [16, tr 9-10] Theo Morgan, sự kế tiếp nhau của tiến trình tiến hóa dựa vào các hình thức tồn tại từ trước, ví dụ như các mô hình gia đình đương đại được tạo nên từ tổ chức gia đình

Trang 37

tr 584]

Do “hằng số của văn hóa là sự biến đổi”, nên vai trò của người phụ nữ trong gia đình trải qua sự vận động, biến chuyển của thời gian, của lịch sử - xã hội… cũng sẽ biến đổi như một lẽ tất yếu Nhìn dưới góc độ lý thuyết về biến đổi văn hóa, tập trung vận dụng thuyết tiến hóa văn hóa, sự biến đổi vai trò của người phụ

nữ trong gia đình cũng được thay đổi và không ngừng biến đổi, tiến hóa theo thời gian; có thể được thể hiện thông qua việc chấp nhận hay không chối từ khi giao lưu, tiếp xúc, tiếp biến, hấp thụ… các yếu tố văn hóa, và được thể hiện qua sự thay đổi về các tác dụng, chức năng của người phụ nữ trong hoạt động sống và sinh hoạt của gia đình Sự biến đổi ấy có thể đến từ người phụ nữ với những nhận thức, nhu cầu, nguyện vọng… của bản thân, và có thể được thể hiện bằng hành động (tùy trường hợp, điều kiện cụ thể); song, cũng có thể đến từ tác động của bối cảnh kinh tế, xã hội, văn hóa, của môi trường xã hội xung quanh đối với phụ nữ và ảnh hưởng cả đến các thành viên trong gia đình Từ đó, góp phần không ngừng làm nên những sắc thái đa dạng về sự biến đổi vai trò của người phụ nữ trong gia đình Tuy nhiên, khác với quan điểm của các nhà tiến hóa luận coi sự biến đổi được nhìn nhận như là sự đổi mới, sự tiến bộ tiến tới một cái gì đó tốt hơn, hữu hiệu hơn và mang tính luân lý hơn, luận án cho rằng sự tiến hóa bao hàm những thay đổi có thể mang tính tích cực, tiến bộ, song cũng có thể mang các yếu tố hạn chế, tiêu cực chính bởi từ sự đa dạng, phong phú và phức tạp của các con người văn hóa với những nhận thức và hành vi văn hóa đa dạng

Vận dụng lý thuyết về biến đổi văn hóa, tập trung vào thuyết tiến hóa, luận án nghiên cứu biến đổi về vai trò của người phụ nữ trong gia đình gắn với sự biến đổi, tiến hóa tất yếu của thời gian, bối cảnh, không gian văn hóa nhất định Từ đó, góp

Trang 38

38

phần nhìn nhận, đánh giá một cách tổng thể, khách quan về sự biến đổi vai trò này dưới những tác động, ảnh hưởng tương tác của các biến đổi gia đình và xã hội Việc sử dụng lý thuyết nói trên để nghiên cứu biến đổi vai trò của người phụ

nữ trong gia đình cũng đồng thời tạo ra cái nhìn luôn “động” về vai trò của người phụ nữ đặt trong tương quan với sự biến đổi văn hóa nói chung của gia đình và xã hội Nhờ đó, có căn cứ để đánh giá, lý giải những biểu hiện biến đổi trên cơ sở bối cảnh chính trị, lịch sử, văn hóa… đương thời; tránh được cái nhìn phiến diện, một chiều khi đánh giá sự việc, hiện tượng Đồng thời, cũng là cơ sở để nhận diện xu hướng biến đổi vai trò của người phụ nữ trong gia đình trong thời gian tới, hướng

đến khẳng định vai trò này sẽ tiếp tục có những biến đổi trong tương lai

- Lý thuyết nữ quyền

“Nữ quyền” được hiểu một cách đơn giản là những tư tưởng, học thuyết, những hoạt động đấu tranh cho quyền chính đáng của phụ nữ chống lại chế độ phụ quyền Charles Fourier - một triết gia người Pháp chuyên về chủ nghĩa xã hội không tưởng - được coi là người đặt ra “chủ nghĩa nữ quyền” vào năm 1837 Lý thuyết nữ quyền ra đời khoảng giữa thế kỷ XIX, bao gồm các lý thuyết xã hội khác nhau, giải thích nguyên nhân của việc phụ nữ bị áp bức trong xã hội, tìm ra các biện pháp để thay đổi quan hệ giới, tiến tới bình đẳng và công bằng trong gia đình

và xã hội Nói cách khác, lý thuyết nữ quyền là một hệ thống tư tưởng khái quát về

đời sống xã hội và kinh nghiệm con người được phát triển từ một bối cảnh phụ nữ

- trung tâm Lý thuyết nữ quyền có tính chất phụ nữ - trung tâm (woman - centered) hoặc những người phụ nữ - trung tâm (women - centered) theo ba cách thức: 1.Đối tượng tìm hiểu chủ yếu của thuyết này là hoàn cảnh hay các hoàn cảnh

và những kinh nghiệm của giới nữ trong xã hội; 2.Coi phụ nữ là chủ thể trung tâm trong quá trình tìm hiểu, tức là tìm cách nhìn thế giới từ sự khác biệt của phụ nữ trong thế giới xã hội; 3.Thuyết nữ quyền có tính chất phê phán và chính trị với tư cách của phụ nữ, tìm cách tạo ra một thế giới tốt đẹp hơn cho nữ giới, lấy đó làm

cơ sở lý luận cho việc tìm cách tạo ra thế giới tốt đẹp hơn cho cả nhân loại

Dù ra đời muộn, nhưng sự xuất hiện của lý thuyết nữ quyền đã làm đảo lộn nhiều quan điểm mang tính truyền thống, đến mức các nhà khoa học đã chia làm hai giai đoạn: giai đoạn trước nữ quyền và giai đoạn sau nữ quyền Sự ra đời và phát triển của lý thuyết nữ quyền gắn với lịch sử phong trào phụ nữ và được phân chia theo ba giai đoạn, gọi là ba làn sóng nữ quyền, gồm: Làn sóng nữ quyền thứ nhất, từ khoảng năm 1848 đến năm 1918, là thời kỳ đấu tranh đầu tiên của phong trào phụ nữ Quan điểm của các nhà nữ quyền thời kỳ này là phải nhanh chóng đưa phụ nữ tham gia vào hoạt động chính trị - xã hội, các lĩnh vực công cộng – nơi vốn

có nhiều định kiến nghiêm khắc về phân biệt giới tính Làn sóng nữ quyền thứ hai,

Trang 39

39

từ năm 1918 đến năm 1968, là thời kỳ phong trào phụ nữ chuyển hướng vào các vấn đề liên quan đến những cải cách xã hội, như: cải cách vấn đề thực phẩm, chăm sóc sức khỏe cho phụ nữ nghèo, tự do ở trường học cho trẻ em… và trong lĩnh vực riêng tư: quyền tránh thai, chấm dứt áp bức tình dục của nam giới với phụ nữ Ở làn sóng nữ quyền thứ hai, tồn tại hai nhóm lớn: nhóm nữ quyền xã hội chủ nghĩa,

nữ quyền mác-xít Canađa và nhóm nữ quyền tự do, nữ quyền cấp tiến Làn sóng

nữ quyền thứ ba bắt đầu từ năm 1968 đến nay, được coi là giai đoạn phát triển rực

rỡ nhất của học thuyết nữ quyền với việc các vấn đề phụ nữ được đề cập toàn diện hơn, cả trong lĩnh vực công cộng lẫn đời sống riêng tư Trong giai đoạn này, đã xuất hiện hàng ngàn tác phẩm của các tác giả nữ quyền (gồm cả nam và nữ) phân tích vấn đề giới dưới góc độ khoa học

Từ giữa thế kỷ XX đến nay, đã có nhiều trường phái nữ quyền xuất hiện, nổi bật là các thuyết nữ quyền tự do, nữ quyền mác-xít Canađa, nữ quyền xã hội chủ nghĩa, nữ quyền phân tâm học, nữ quyền hậu hiện đại, nữ quyền hiện sinh… Một

số tên tuổi được coi là đại biểu lớn cho lý thuyết, trường phái nữ quyền là Ann Oakley (Anh), người đưa ra thuật ngữ “giới”, Simone de Beauvoir (Pháp) - tác giả cuốn sách “Giới tính thứ hai” (The Second Sex), Betty Friedan (Mỹ) - tác giả cuốn sách “Huyền thoại nữ tính” (Feminine Mystique)…

Từ nghiên cứu, tìm hiểu các lý thuyết nữ quyền, luận án tập trung vận dụng

luận điểm của Simone de Beauvoir: “Người ta không sinh ra là phụ nữ, người ta

trở thành phụ nữ” để áp dụng vào nghiên cứu Luận điểm này được đưa ra trong

cuốn “Giới thứ hai” (The second sex), xuất bản năm 1949 Cụ thể, Beauvoir cho rằng, phụ nữ sinh ra chỉ có khác biệt với đàn ông về mặt hình thể (giới tính) với thiên chức mang thai và sinh con đã góp phần tạo ra vị thế của người phụ nữ có sự khác biệt rõ rệt so với nam giới Song, những biểu hiện này không trực tiếp làm cho phụ nữ có vị thế thấp kém hơn bởi yếu tố sinh học, và lịch sử luôn được cấu thành và giải thích từ một hoàn cảnh, chứ không đơn thuần là những sự thật thu được từ sự quan sát không thành kiến Từ đó, Beauvoir chủ ý phá bỏ quan niệm phụ nữ sinh ra đã là phái yếu chứ không phải trở thành phái yếu trong quá trình vận động của xã hội thông qua việc nêu ra quá trình giáo dục mà người phụ nữ nhận được kể từ khi còn bé cho đến các giai đoạn phát triển sau này Ở mỗi giai đoạn, bà đều chứng minh, phụ nữ bằng sự chấp nhận vai trò bị động trước những nhu cầu chủ động và chủ quan của đàn ông đã buộc phải từ bỏ đòi hỏi đối với tính siêu nghiệm (sự vượt trội) và tính chủ quan đích thực Vì vậy, phụ nữ có khả năng lựa chọn như nam giới và có thể lựa chọn nâng cao vị thế của mình lên Bà chỉ ra, phụ nữ cần phải giải phóng mình và phục hồi cái tôi của mình, trước hết bằng cách cho phép mình vượt lên bằng những hướng đi tự do, tự hào về bản thân mình trong suy nghĩ, trong sáng tạo, trong hành động giống như nam giới [144]

Trang 40

40

Vận dụng luận điểm trong thuyết nữ quyền của Simone de Beauvoir, luận án tập trung tìm hiểu, phân tích vai trò cũng như những biến đổi về vai trò của người phụ nữ trong gia đình (được thể hiện qua quá trình nghiên cứu các tài liệu thứ cấp

và sơ cấp, điền dã, kết hợp với điều tra xã hội học, phỏng vấn…) theo hướng không áp đặt, không cho rằng phụ nữ bẩm sinh đã ở vị thế thấp hơn đàn ông và đương nhiên phải chịu những thiệt thòi, bất công hơn so với đàn ông chỉ vì họ là phụ nữ; nhìn nhận phụ nữ “trở thành phụ nữ” và thực hiện, đảm trách những vai trò của mình do có chịu sự chi phối bởi những quan niệm và cả định kiến xã hội, do ảnh hưởng bởi các yếu tố tư tưởng chính trị - xã hội, bối cảnh lịch sử, điều kiện kinh tế… Dần dần, họ trở nên cam chịu, coi những bất bình đẳng xảy ra với mình

là điều tất yếu v.v Từ đó, luận án hướng tới góp phần kiến giải căn nguyên và thực trạng biểu hiện của vai trò người phụ nữ trong gia đình ở địa bàn nghiên cứu một cách công bằng, khách quan hơn

Trên đây là những lý thuyết, luận điểm được luận án sử dụng để nghiên cứu biến đổi về vai trò của người phụ nữ trong gia đình ở Hà Nội hiện nay Việc kết hợp sử dụng lý thuyết về biến đổi văn hóa, tập trung vào thuyết tiếp biến văn hóa

và lý thuyết nữ quyền, tập trung vào luận điểm của Simone de Beauvoir “người ta không sinh ra là phụ nữ, người ta trở thành phụ nữ” trong luận án trước hết nhằm khẳng định, dưới cái nhìn văn hóa, trải qua thời gian, quan niệm, biểu hiện về vai trò của người phụ nữ trong gia đình có những biến đổi Sự biến đổi này là thể hiện của tiến hóa một cách tất yếu, chịu tác động của nhiều yếu tố: gia đình, xã hội, lịch

sử, kinh tế, chính trị, văn hóa… Những biến đổi sẽ được đánh giá, phân tích khách quan dưới góc độ bình đẳng, nhìn nhận phụ nữ chỉ khác nam giới ở mặt hình thể (giới tính) với thiên chức mang thai và sinh con

Đồng thời, sự kết hợp giữa các lý thuyết, luận điểm trên góp phần tạo nên hệ quy chiếu tổng thể về mặt lý thuyết, lấy đó làm cơ sở cho việc thu thập thông tin thực tế, phân tích thực trạng hay những so sánh về sự tương đồng hoặc khác biệt về

sự biến đổi vai trò của người phụ nữ trong gia đình ở Hà Nội hiện nay so với thời gian trước đây một cách khách quan, khoa học Điều này đòi hỏi việc nghiên cứu không chỉ dừng lại ở biến đổi vai trò của người phụ nữ trong gia đình, mà còn phải chú ý, tìm hiểu trong mối quan hệ so sánh, đối chiếu với các đối tượng khác, như các thành viên trong gia đình, trong cộng đồng xã hội xung quanh (gồm cả đàn ông

và phụ nữ, thuộc các lứa tuổi khác nhau, thuộc các thành phần gia đình khác nhau, với trình độ, nghề nghiệp đa dạng…) Điều này cũng đòi hỏi, việc nghiên cứu không chỉ dừng ở hiện tại, mà còn phải soi chiếu vào quá khứ và dự đoán xu hướng biến đổi vai trò của người phụ nữ trong gia đình ở thì tương lai

Ngày đăng: 26/06/2017, 15:26

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. A. A. Belik (2000), Văn hóa học những lý thuyết nhân học văn hóa, Tạp chí Văn hóa nghệ thuật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hóa học những lý thuyết nhân học văn hóa
Tác giả: A. A. Belik
Năm: 2000
2. Đào Duy Anh (2005), Việt Nam văn hóa sử cương, tái bản, Nxb Văn hóa thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Việt Nam văn hóa sử cương
Tác giả: Đào Duy Anh
Nhà XB: Nxb Văn hóa thông tin
Năm: 2005
3. Trần Thị Vân Anh, Lê Ngọc Hùng (1996), Phụ nữ, giới và phát triển, Nxb Phụ nữ, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phụ nữ, giới và phát triển
Tác giả: Trần Thị Vân Anh, Lê Ngọc Hùng
Nhà XB: Nxb Phụ nữ
Năm: 1996
4. A. Schultz, E & H. Lavenda, R. (2001), Nhân học - Một quan điểm về tình trạng nhân sinh, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhân học - Một quan điểm về tình trạng nhân sinh
Tác giả: A. Schultz, E & H. Lavenda, R
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2001
5. Toan Ánh (2010), Nếp cũ (Trong họ ngoài làng), tái bản, Nxb Trẻ, Tp Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nếp cũ (Trong họ ngoài làng)
Tác giả: Toan Ánh
Nhà XB: Nxb Trẻ
Năm: 2010
6. Toan Ánh (1992), Nếp cũ con người Việt Nam, Nxb Tp Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nếp cũ con người Việt Nam
Tác giả: Toan Ánh
Nhà XB: Nxb Tp Hồ Chí Minh
Năm: 1992
7. Toan Ánh (2001), Phong tục thờ cúng trong gia đình Việt Nam, tái bản, Nxb Văn nghệ, Tp Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phong tục thờ cúng trong gia đình Việt Nam
Tác giả: Toan Ánh
Nhà XB: Nxb Văn nghệ
Năm: 2001
8. Huỳnh Công Bá (2005), Hôn nhân và gia đình trong pháp luật triều Nguyễn, Nxb Thuận Hóa, Huế Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hôn nhân và gia đình trong pháp luật triều Nguyễn
Tác giả: Huỳnh Công Bá
Nhà XB: Nxb Thuận Hóa
Năm: 2005
10. Nguyễn Duy Bắc (2007), Sự biến đổi các giá trị văn hóa trong quá trình phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sự biến đổi các giá trị văn hóa trong quá trình phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta
Tác giả: Nguyễn Duy Bắc
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2007
11. Mai Huy Bích (1993), Đặc điểm gia đình đồng bằng sông Hồng, Nxb Văn hóa Thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đặc điểm gia đình đồng bằng sông Hồng
Tác giả: Mai Huy Bích
Nhà XB: Nxb Văn hóa Thông tin
Năm: 1993
12. Nguyễn Thanh Bình (chủ biên) (2001), Những vấn đề cấp bách trong vấn đề giáo dục con ở lứa tuổi thiếu niên trong gia đình thành phố hiện nay, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những vấn đề cấp bách trong vấn đề giáo dục con ở lứa tuổi thiếu niên trong gia đình thành phố hiện nay
Tác giả: Nguyễn Thanh Bình (chủ biên)
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2001
13. Đỗ Thị Bình, Lê Ngọc Văn, Nguyễn Linh Khiếu (2002), Gia đình Việt Nam và người phụ nữ trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Gia đình Việt Nam và người phụ nữ trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa
Tác giả: Đỗ Thị Bình, Lê Ngọc Văn, Nguyễn Linh Khiếu
Nhà XB: Nxb Khoa học xã hội
Năm: 2002
14. Phan Kế Bính (1995), Việt Nam phong tục, tái bản, Nxb Thành phố Hồ Chí Minh, Thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Việt Nam phong tục
Tác giả: Phan Kế Bính
Nhà XB: Nxb Thành phố Hồ Chí Minh
Năm: 1995
16. Nguyễn Thị Phương Châm (2009), Biến đổi văn hóa ở các làng quê hiện nay (Trường hợp làng Đồng Kỵ, Trang Liệt và Đình Bảng thuộc huyện Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh), Nxb Văn hóa thông tin và Viện Văn hóa xb, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Biến đổi văn hóa ở các làng quê hiện nay (Trường hợp làng Đồng Kỵ, Trang Liệt và Đình Bảng thuộc huyện Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh)
Tác giả: Nguyễn Thị Phương Châm
Nhà XB: Nxb Văn hóa thông tin và Viện Văn hóa xb
Năm: 2009
17. Bùi Đình Châu (2002), Văn hóa gia đình, Nxb Văn hóa Thông tin, Hà Nội 18. Nguyễn Từ Chi (1989), Nhận xét bước đầu về gia đình người Việt, Tạp chí Xã hội học, số 2 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hóa gia đình", Nxb Văn hóa Thông tin, Hà Nội 18. Nguyễn Từ Chi (1989), "Nhận xét bước đầu về gia đình người Việt
Tác giả: Bùi Đình Châu (2002), Văn hóa gia đình, Nxb Văn hóa Thông tin, Hà Nội 18. Nguyễn Từ Chi
Nhà XB: Nxb Văn hóa Thông tin
Năm: 1989
19. Nguyễn Từ Chi (1996), Góp phần nghiên cứu văn hóa và tộc người, Nxb văn hóa Thông tin, Tạp chí Văn hóa nghệ thuật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Góp phần nghiên cứu văn hóa và tộc người
Tác giả: Nguyễn Từ Chi
Nhà XB: Nxb văn hóa Thông tin
Năm: 1996
20. Chiến lược quốc gia vì sự tiến bộ của phụ nữ Việt Nam đến năm 2010 do Thủ tướng Chính phủ phê duyệt ngày 21/01/2002 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chiến lược quốc gia vì sự tiến bộ của phụ nữ Việt Nam đến năm 2010
21. Cmafika Mesem (1995), Vai trò phụ nữ trong gia đình hiện nay, Tạp chí Khoa học và Phụ nữ, số 4 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vai trò phụ nữ trong gia đình hiện nay
Tác giả: Cmafika Mesem
Năm: 1995
22. Phan Đại Doãn (2010), Làng xã Việt Nam - một số vấn đề kinh tế - văn hóa - xã hội, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Làng xã Việt Nam - một số vấn đề kinh tế - văn hóa - xã hội
Tác giả: Phan Đại Doãn
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2010
23. Dũng - Kim (1951), Phụ nữ với gia đình, Nxb Đời mới, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phụ nữ với gia đình
Tác giả: Dũng - Kim
Nhà XB: Nxb Đời mới
Năm: 1951

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

4  Hình thức khác (nêu rõ).………………… - Biến đổi về vai trò của người phụ nữ trong gia đình ở Hà Nội hiện nay qua nghiên cứu một số xã, phường
4 Hình thức khác (nêu rõ).………………… (Trang 178)
4  Hình thức khác (nêu rõ).…………………  50  12,11 - Biến đổi về vai trò của người phụ nữ trong gia đình ở Hà Nội hiện nay qua nghiên cứu một số xã, phường
4 Hình thức khác (nêu rõ).………………… 50 12,11 (Trang 195)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w