1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Đánh giá khả năng sinh sản của của lợn nái f2 (3 phần 4 duroc x 1 phần 4 meishan) và khả năng sinh trưởng của con lai giai đoạn sau cai sữa nuôi tại hợp tác xã chăn nuôi dịch vụ tổng hợp hoà mỹ hà nội

88 230 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 88
Dung lượng 2,03 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Xuất phát từ thực tiễn đó chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: "Đánh giá khả năng sinh sản của của lợn nái F 2 3/4 Duroc x 1/4 Meishan và khả năng sinh trưởng của con lai giai đoạn sau

Trang 1

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM

CAO THỊ HUỆ

ĐÁNH GIÁ KHẢ NĂNG SINH SẢN

KHẢ NĂNG SINH TRƯỞNG CỦA CON LAI GIAI ĐOẠN SAU CAI SỮA NUÔI TẠI HỢP TÁC XÃ CHĂN NUÔI

DỊCH VỤ TỔNG HỢP HOÀ MỸ - HÀ NỘI

LUẬN VĂN THẠC SĨ CHĂN NUÔI

THÁI NGUYÊN - 2016

Trang 2

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM

CAO THỊ HUỆ

ĐÁNH GIÁ KHẢ NĂNG SINH SẢN

KHẢ NĂNG SINH TRƯỞNG CỦA CON LAI GIAI ĐOẠN SAU CAI SỮA NUÔI TẠI HỢP TÁC XÃ CHĂN NUÔI

DỊCH VỤ TỔNG HỢP HOÀ MỸ - HÀ NỘI

Chuyên ngành: Chăn nuôi

Mã số: 60.62.01.05

LUẬN VĂN THẠC SĨ CHĂN NUÔI

Người hướng dẫn khoa học: TS HÀ VĂN DOANH

THÁI NGUYÊN - 2016

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn là trung thực và chưa từng sử dụng để bảo vệ một học vị nào

Tôi xin cam đoan mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này đã được cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn này đã được chỉ rõ nguồn gốc

Tác giả

Cao Thị Huệ

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Nhân dịp hoàn thành luận văn, cho phép tôi được bày tỏ lời biết ơn chân thành nhất đến TS Hà Văn Doanh người hướng dẫn khoa học đã tận tình giúp đỡ tôi trong quá trình thực hiện đề tài và hoàn thành luận văn

Lời cảm ơn chân thành của tôi cũng xin gửi tới các thầy cô trong Khoa Chăn nuôi - Thú y, Phòng đào tạo Sau đại học, Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên

Cho phép tôi được bày tỏ lời cảm ơn tới Hợp tác xã chăn nuôi dịch vụ tổng hợp Hòa Mỹ về sự hợp tác giúp đỡ trong quá trình tôi thực hiện đề tài

Tôi xin cảm ơn gia đình, bạn bè và đồng nghiệp đã tạo mọi điều kiện giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn

Hà Nội, ngày tháng năm 2016

Tác giả

Cao Thị Huệ

Trang 5

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN i

LỜI CẢM ƠN ii

MỤC LỤC iii

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT v

DANH MỤC CÁC BẢNG vi

DANH MỤC CÁC HÌNH vii

MỞ ĐẦU 1

1 Tính cấp thiết của đề tài 1

2 Mục đích của đề tài 2

3 Ý nghĩa khoa học và ứng dụng của đề tài 2

Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3

1.1 Cơ sở khoa học của vấn đề nghiên cứu 3

1.1.1 Tính trạng số lượng 3

1.1.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến tính trạng số lượng 3

1.1.3 Cơ sở của sự lai tạo giống và ưu thế lai 5

1.1.4 Một số công thức lai tạo 9

1.1.5 Cơ sở sinh lý của sự sinh sản và các yếu tố ảnh hưởng đến năng suất sinh sản của lợn nái 10

1.1.6 Cơ sở sinh lý của sự sinh trưởng và các yếu tố ảnh hưởng 19

1.1.7 Đặc điểm một số giống lợn 23

1.2 Tình hình nghiên cứu ở ngoài nước và trong nước 25

1.2.1 Tình hình nghiên cứu ngoài nước 25

1.2.2 Tình hình nghiên cứu trong nước 26

Chương 2 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 29

2.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 29

2.1.1 Đối tượng nghiên cứu 29

2.1.2 Địa điểm và thời gian nghiên cứu 29

Trang 6

2.2 Nội dung nghiên cứu 29

2.3 Phương pháp nghiên cứu 29

2.3.1 Phương pháp đánh giá khả năng sinh sản của lợn nái F2 (3/4 Du x 1/4 Ms) 29

2.3.2 Phương pháp đánh giá khả năng sinh trưởng của con lai của lợn nái F2 (DuMs) x Du và so sánh với sinh trưởng của con lai của nái (PiDu) x Du giai đoạn sau cai sữa 28 - 56 ngày tuổi 32

2.3.3 Phương pháp xử lý số liệu 33

Chương 3 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 34

3.1 Một số chỉ tiêu về sinh lý sinh dục của lợn nái F2 (3/4Du x 1/4Ms) 34

3.2 Khả năng sinh sản của lợn nái F2 (3/4 Du x 1/4 Ms) 38

3.2.1 Kết quả theo dõi ở lứa 1 của lợn nái F2 (3/4 Dux1/4 Ms) 38

3.2.2 Kết quả theo dõi ở lứa 2 của lợn nái F2 (3/4 Du x 1/4 Ms) 43

3.2.3 Kết quả theo dõi ở lứa 3 của lợn nái F2 (3/4 Dux1/4 Ms) 45

3.2.4 Kết quả theo dõi ở lứa 4 của lợn nái F2 (3/4 Du x 1/4 Ms) 48

3.2.5 Khả năng sinh sản của lợn nái lai F2 (3/4 Du x 1/4 Ms) qua 4 lứa đẻ 51

3.2.6 Kết quả xác định hệ số tương quan giữa các chỉ tiêu sinh sản của lợn nái F2 (3/4 Du x 1/4 Ms) 61

3.3 Sinh trưởng và tiêu tốn thức ăn của lợn con của nái F2 (3/4 Du x 1/4 Ms) phối với Duroc giai đoạn sau cai sữa 28 - 56 ngày tuổi 62

3.3.1 Khả năng sinh trưởng của lợn con giai đoạn sau cai sữa 28 - 56 ngày tuổi 62

3.3.2 Tiêu tốn thức ăn của lợn con giai đoạn sau cai sữa 28 - 56 ngày tuổi 65

KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 67

TÀI LIỆU THAM KHẢO 1

MỘT SỐ HÌNH ẢNH CỦA ĐỀ TÀI 77

Trang 7

TĐLĐ : Tuổi đẻ lứa đầu

TGPGLCKQ : Thời gian phối giống lại có kết quả TGPGLĐ : Thời gian phối giống lần đầu

Trang 8

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 3.1: Một số chỉ tiêu sinh lý sinh dục của lợn nái F2 (3/4Du x 1/4Ms) 34

Bảng 3.2 Kết quả theo dõi ở lứa 1 của lợn nái F2 (3/4 Du x 1/4 Ms) (n=15) 38

Bảng 3.3 Khả năng sinh sản của lợn nái F2 (3/4 Du x 1/4 Ms) đẻ lứa thứ 2 (n=15) 43

Bảng 3.4 Kết quả theo dõi ở lứa 3 của lợn nái F2 (3/4 Du x 1/4 Ms) (n=15) 46

Bảng 3.5 Kết quả theo dõi ở lứa 4 của lợn nái F2 (3/4 Du x 1/4 Ms) (n=15) 48

Bảng 3.6 Khả năng sinh sản của lợn nái lai F2 (3/4 Du x 1/4 Ms) qua 4 lứa đẻ 51

Bảng 3.7 Hệ số tương quan giữa các chỉ tiêu sinh sản của lợn nái F2 (3/4 Du x 1/4 Ms) 61

Bảng 3.8 Khả năng sinh trưởng của lợn con giai đoạn sau cai sữa 28 - 56 ngày tuổi 63

Bảng 3.9 Tiêu tốn thức ăn của lợn con giai đoạn cai sữa 28 - 56 ngày tuổi 65

Trang 9

DANH MỤC CÁC HÌNH

Hình 3.1 Biểu đồ biểu thị KL cai sữa/con của lợn nái F2 (3/4 Du x 1/4

Ms) qua 4 lứa đẻ 54 Hình 3.2 Biểu đồ biểu thị KL cai sữa/ổ của lợn nái F2 (3/4 Du x 1/4 Ms)

qua 4 lứa đẻ 55 Hình 3.3 Biểu đồ biểu thị KL sơ sinh/con của lợn nái F2 (3/4 Du x 1/4

Ms) qua 4 lứa đẻ 56 Hình 3.4 Biểu đồ biểu thị KL sơ sinh/ổ của lợn nái F2 (3/4 Du x 1/4 Ms)

qua 4 lứa đẻ 57 Hình 3.5 Biểu đồ biểu thị số con sống đến lúc cai sữa/ổ của lợn nái F2

(3/4 Du x 1/4 Ms) qua 4 lứa đẻ 58 Hình 3.6 Biểu đồ biểu thị số con đẻ ra còn sống sau 24h/ổ của lợn nái F2

(3/4 Du x 1/4 Ms) qua 4 lứa đẻ 59 Hình 3.7 Biểu đồ biểu thị số con đẻ ra/ổ của lợn nái F2 (3/4 Du x 1/4 Ms)

qua 4 lứa đẻ 60

Trang 10

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Chăn nuôi lợn là ngành chăn nuôi quan trọng nhất của Việt Nam với sản lượng thịt cung cấp đáp ứng tiêu thụ thịt cho xã hội trên 75% (Cục chăn nuôi, 2014), với khoảng 80% số hộ vùng nông thôn có hoạt động sản xuất này

Việt Nam là một trong những quốc gia có nền chăn nuôi chưa phát triển, năng suất chăn nuôi và chất lượng sản phẩm không cao Kết quả này một phần là do khó khăn về điều kiện tự nhiên, nhưng quan trọng hơn là do quy trình kỹ thuật chăn nuôi còn hạn chế, hơn thế nữa các giống lợn được sử dụng cho chăn nuôi có sản xuất và chất lượng sản phẩm chưa cao

Chiến lược chăn nuôi lợn của Việt Nam trong thời gian tới là tăng số lượng đầu lợn, nâng cao năng suất sản xuất và chất lượng sản phẩm bằng cách tăng tỉ lệ máu ngoại cho đàn lợn nuôi trong nước Thực hiện chiến lược chăn nuôi này trong thời gian qua nhà nước ta đã cho nhập hàng loạt giống lợn ngoại có năng suất cao như Yorkshire, Landrace, Pietrian, Duroc và Meishan

Từ đó tiến hành lai tạo ra các con lai 2 máu, 3 máu, 4 máu nhằm nâng cao khả năng sản xuất và khả năng thích nghi với điều kiện chăn nuôi Việt Nam

Lai tạo có ý nghĩa quan trọng trong việc nâng cao khả năng và hiệu quả sản xuất của vật nuôi Con lai vừa kết hợp được các ưu điểm của những giống đem lai, vừa tận dụng được ưu thế lai của công thức lai Trong chăn nuôi công nghiệp việc xác định công thức lai tốt, phù hợp với điều kiện chăn nuôi của từng vùng là rất cần thiết

Hợp tác xã chăn nuôi Dịch vụ tổng hợp Hoà Mỹ là Hợp tác xã một chăn nuôi có quy mô tương đối lớn, có quy trình chăn nuôi hiện đại Trong thời gian qua Hợp tác xã chăn nuôi Dịch vụ tổng hợp Hoà Mỹ đã tiến hành nhập và thực hiện nhiều công thức lai và đưa các tổ hợp lai vào sử dụng trong chăn nuôi công nghiệp Điển hình là tổ hợp lai F2 (3/4 Duroc x 1/4 Meishan) làm nái sinh sản với đực Duroc để tạo con lai 2 máu nuôi thịt thương phẩm

Trang 11

Tuy nhiên chưa có nhiều nghiên cứu đánh giá năng suất sinh sản của lợn nái

F2 (3/4 Duroc x 1/4Meishan) một cách cụ thể và có hệ thống tại địa bàn huyện Ứng Hoà - Hà Nội Xuất phát từ thực tiễn đó chúng tôi tiến hành nghiên cứu

đề tài: "Đánh giá khả năng sinh sản của của lợn nái F 2 (3/4 Duroc x 1/4 Meishan) và khả năng sinh trưởng của con lai giai đoạn sau cai sữa nuôi tại Hợp tác xã chăn nuôi Dịch vụ tổng hợp Hoà Mỹ - Hà Nội”

3 Ý nghĩa khoa học và ứng dụng của đề tài

- Tư vấn cho cơ sở chăn nuôi để định hướng sản xuất

- Kết quả nghiên cứu của đề tài làm tài liệu tham khảo cho các nghiên cứu khoa học tiếp theo về các giống lợn

- Tạo cơ sở cho nghành chăn nuôi lợn phát triển

Trang 12

Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Cơ sở khoa học của vấn đề nghiên cứu

Muốn công tác chọn lọc giống vật nuôi đạt kết quả tốt, trước hết cần có những kiến thức cơ bản về di truyền, đặc biệt là bản chất của di truyền và ưu thế lai của từng tính trạng Kiểu hình là biểu hiện cụ thể của kiểu gen dưới tác động của các nhân tố môi trường khác nhau Để công tác chọn giống vật nuôi đạt kết quả tốt, trước tiên cần có những kiến thức cơ bản về di truyền học, đặc biệt là bản chất của di truyền và ưu thế lai của từng tính trạng

1.1.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến tính trạng số lượng

Giá trị kiểu hình (P - Phenotyphic value) của bất kỳ tính trạng số lượng nào cũng có thể phân chia thành giá trị kiểu gen (G - Genotypic value) và sai lệch môi trường (E - Enviromental deviation)

Giá trị kiểu hình (P) được biểu thị như sau: P = G + E

1.1.2.1 Giá trị kiểu gen (G)

Giá trị kiểu gen của tính trạng số lượng do nhiều cặp gen quy định Tuỳ theo tác động khác nhau của gen các giá trị kiểu gen bao gồm các thành phần khác nhau: giá trị cộng gộp (A - Additive value) hoặc giá trị giống (Breeding value), sai lệch trội (D - Dominance deviation) và sai lệch tương tác gen hoặc sai lệch lấn át gen (I - Interaction deviaton hoặc Epistatic deviation )

Trang 13

G = A + D + I

Giá trị cộng gộp (A): để đo lường giá trị truyền đạt từ bố mẹ sang đời con phải có một giá trị đo lường có quan hệ với gen chứ không phải có liên quan với kiểu gen Mỗi một gen trong tập hợp các gen quy định một tính trạng số lượng nào đó đều có một hiệu ứng nhất định đối với tính trạng số lượng đó Tổng các hiệu ứng mà các gen nó mang được gọi là giá trị cộng gộp hay còn gọi là giá trị giống của cá thể

Sai lệch trội (D): là sai lệch được sản sinh ra do sự tác động qua lại giữa các cặp alen ở cùng một locus, đặc biệt là các cặp alen dị hợp tử (Đặng Hữu Lanh và cs, 1999) [15] Sai lệch trội cũng là một phần thuộc tính của quần thể, quan hệ trội của bố mẹ không truyền được sang con cái

Sai lệch át gen (I): là sai lệch được sản sinh ra do sự tác động qua lại giữa các gen thuộc các locus khác nhau Sai lệch át gen không có khả năng di truyền cho thế hệ sau

1.1.2.2.Giá trị kiểu hình của tính trạng số lượng

Khi lai tạo giữa các cá thể thuộc hai quần thể với nhau thì giá trị kiểu hình của một tính trạng số lượng ở các tổ hợp lai bao gồm hai thành phần chính:

- Giá trị trung bình của trung bình giá trị kiểu hình của quần thể thứ nhất XP1 và trung bình giá trị kiểu hình của quần thể thứ hai XP2 ( XP1P2)

XP1P2 = XP1 + XP2

2

Do đó: XF1 = XP1P2 + H

Tùy theo nguồn gốc đóng góp của các thành phần trên, ta chia chúng thành:

- Di truyền cộng gộp: bao gồm di truyền cộng gộp trực tiếp (Ad), di truyền cộng gộp của bố (Ab) và di truyền cộng gộp của mẹ (Am)

- Ưu thế lai: bao gồm ưu thế lai trực tiếp (Dd), ưu thế lai của bố lai (Db) và ưu thế lai của mẹ lai (Dm)

Trang 14

1.1.2.3 Sai lệch môi trường (E)

Sai lệch môi trường được thể hiện thông qua sai lệch môi trường chung (Eg) và sai lệch môi trường riêng (Es)

Sai lệch môi trường chung (Eg): là sai lệch do loại môi trường tác động lên toàn bộ con vật suốt đời của nó

Sai lệch môi trường riêng (Es): là sai lệch do loại môi trường chỉ tác động lên một số con vật trong một giai đoạn nào đó trong đời con vật

Như vậy, kiểu hình của một cá thể được cấu tạo từ hai locus trở lên có giá trị kiểu hình chi tiết như sau:

P = A + D + I + Eg + Es Qua việc phân tích các nhân tố ảnh hưởng tới tính trạng số lượng cho thấy, muốn nâng cao năng suất vật nuôi cần phải:

- Tác động về mặt di truyền (G) bao gồm: Tác động vào hiệu ứng cộng gộp (A) bằng cách chọn lọc và tác động vào các hiệu ứng trội (D) và át gen (I) bằng cách phối giống tạp giao

- Tác động về mặt môi trường (E) bằng cách cải tiến điều kiện chăn nuôi như chuồng trại, thức ăn, thú y, quản lý…

1.1.3 Cơ sở của sự lai tạo giống và ưu thế lai

1.1.3.1 Lai giống

Lai giống là phương pháp nhân giống bằng cách cho đực giống và cái giống thuộc hai quần thể khác nhau giao phối với nhau, hai quần thể này có thể là hai dòng, hai giống, hai loài khác nhau Nên đời con của chúng mang đặc tính của bố mẹ nó

Lai giống làm cho tần số kiểu gen đồng hợp tử ở thế hệ sau giảm đi, còn tần số kiểu gen dị hợp tử ở thế hệ sau tăng lên

Lai giống là phương pháp chủ yếu nhằm khai thác biến đổi di truyền của quần thể gia súc Lai giống có những ưu việt vì con lai thường có ưu thế lai đối với một số tính trạng nhất định

Trang 15

1.1.3.2 Ưu thế lai

Ưu thế lai là hiện tượng con lai có các đặc điểm vượt trội hơn cha mẹ

về sức sống, tốc độ sinh trưởng, khả năng cho sữa, khả năng sinh sản, về tính chống chịu với điều kiện bất lợi của môi trường và khả năng sử dụng chất dinh dưỡng

Ưu thế lai hay sức sống con lai hoàn toàn ngược với suy hoá cận huyết

và sự suy giảm sức sống do cận huyết được khắc phục trở lại khi lai giống

Thuật ngữ ưu thế lai được hiểu như sau: Ưu thế lai là sự hơn hẳn của đời con so với trung bình của đời bố mẹ Có thể ưu thế lai là sức sống, sức miễn kháng đối với bệnh tật và tính trạng sản xuất của con lai được nâng cao, khả năng lợi dụng thức ăn tốt

Bản chất hiện tượng ưu thế lai được giải thích bởi ba thuyết đó là thuyết trội, thuyết siêu trội và tương tác gen

- Thuyết trội: các gen có lợi phần lớn là gen trội, giả thiết này cho rằng mỗi bên cha mẹ có những cặp gen trội đồng hợp tử khác nhau Khi tạp giao ở thế hệ F1 sẽ có các gen trội ở tất cả các locus Nếu bố có kiểu gen AABBCCddeeff và

mẹ có kiểu gen aabbccddEEFF thì thế hệ F1 có kiểu gen là: AaBbCcDdEeFf Do tính trạng số lượng được quyết định bởi nhiều gen, nên xác suất có một kiểu gen đồng hợp hoàn toàn là thấp Ngoài ra, vì sự liên kết giữa các gen trội và gen lặn trên cùng một nhiễm sắc thể, nên xác suất tổ hợp được kiểu gen tốt nhất cũng thấp Nhiều tác giả đã chứng minh được hiện tượng này và thuyết trội đã được bổ sung thông qua giả thiết sự liên kết của các gen

- Thuyết siêu trội: hiệu quả của một alen trạng thái dị hợp tử sẽ khác với hiệu quả từng alen ở trạng thái đồng hợp tử và các alen di hợp tử có tác động lớn hơn các cặp alen đồng hợp tử Aa>AA>aa Do vậy, kiểu gen dị hợp

tử sẽ có khả năng thích nghi tốt hơn với những thay đổi của môi trường

- Tương tác gen: hai giống đã hình thành nên các tổ hợp gen mới trong

đó có tác động tương hỗ giữa các alen không cùng locus là nguyên nhân tạo

ra ưu thế lai

Trang 16

Cơ sở thống kê của ưu thế lai

Cơ sở thống kê của ưu thế lai do Falconer đưa ra từ năm 1964 Ưu thế lai

ở F1: HF1 = dy2, trong đó d là giá trị của kiểu gen dị hợp, y là sai khác về tần số gen giữa hai quần thể bố, mẹ Ưu thế lai sinh ra bởi ảnh hưởng đồng thời của tất cả các giá trị riêng rẽ của từng locus: HF1 = ∑dy2 Như vậy, ưu thế lai ở F1

phụ thuộc vào giá trị của các kiểu gen dị hợp và sự khác biệt giữa hai quần thể

Cơ sở thống kê này cho phép tính toán được ưu thế lai ở các thế hệ lai khác nhau Ưu thế lai ở F2: HF2 = 1/2dy2 Do đó HF2 = 1/2HF1

Thay đổi trung bình từ F1 đến F2 cũng được coi là hiện tượng suy hoá cận huyết Ưu thế lai ở F1, F2 có thể phức tạp do ảnh hưởng của mẹ Chẳng hạn, tính trạng số con trong ổ của lợn Ưu thế lai quan sát được ở F1 không có đóng góp của mẹ ở F2, mặc dù ưu thế lai mất đi một nửa nhưng lại có ảnh hưởng ưu thế lai của mẹ, do mẹ là con lai của F1

Khi lai giữa hai giống con lai chỉ có ưu thế lai cá thể Khi lai 3 giống, nếu dùng đực của giống thuần giao phối với nái lai, con lai có cả ưu thế lai cá thể và ưu thế lai của mẹ, do mẹ là con lai F1 Nếu dùng đực lai giao phối với nái của giống thứ 3, con lai có ưu thế lai cá thể và ưu thế lai của bố, do bố là con lai F1 Trong lai 4 giống, con lai có cả ưu thế lai cá thể, cả ưu thế lai của

mẹ và ưu thế lai của bố

Tính ưu thế lai đối với một số tính trạng nhất định từ các giá trị trung bình của đời con và giá trị trung bình của bố mẹ theo công thức sau:

H(%) =

) (

2

1 ) (

2

1

BB AA AB

x 100

) (

Trang 17

* Các yếu tố ảnh hưởng đến ưu thế lai:

- Công thức lai

Ưu thế lai đặc trưng cho mỗi công thức lai, mức độ ưu thế lai đạt được

có tính cách riêng biệt cho từng cặp lai cụ thể Ưu thế lai của mẹ có lợi cho đời con, ưu thế lai của lợn nái ảnh hưởng đến số con/ổ và tốc độ sinh trưởng của lợn con Ưu thế lai cá thể ảnh hưởng đến sinh trưởng và sức sống của lợn con, đặc biệt ở giai đoạn sau cai sữa Ưu thế lai của bố thể hiện tính năng của con đực, kết quả phối giống, tỷ lệ thụ thai Khi lai hai giống, số lợn con cai sữa/nái/năm tăng 5 - 10%, khi lai 3 giống hoặc lai trở ngược số lợn con cai sữa/nái/năm tăng tới 10 - 15%, số con cai sữa/ổ nhiều hơn 1,0 - 1,5 con và khối lượng cai sữa/con tăng được 1kg, ở 28 ngày tuổi so với giống thuần (ColinT, 1998) [39]

- Tính trạng

Ưu thế lai phụ thuộc vào tính trạng, các tính trạng khác nhau thì có mức

độ di truyền khác nhau Những tính trạng liên quan đến khả năng nuôi sống

và khả năng sinh sản có ưu thế lai cao nhất Các tính trạng này có hệ số di truyền thấp thường có ưu thế lai cao, vì vậy để cải tiến các tính trạng này, so với chọn lọc, lai giống là một biện pháp nhanh hơn và hiệu quả hơn

Một số tính trạng ở lợn có ưu thế lai khác nhau, số con đẻ ra/ổ có ưu thế lai cá thể là 2%, ưu thế lai của mẹ là 8%, số con cai sữa có ưu thế lai của

mẹ là 11%, khối lượng cả ổ ở 21 ngày tuổi có ưu thế lai cá thể 12%, ưu thế lai của mẹ 18% (Richard, 2000) [64]

- Sự khác biệt giữa bố và mẹ

Ưu thế lai phụ thuộc vào sự khác biệt giữa hai giống đem lai, hai giống càng khác xa nhau về di truyền thì ưu thế lai thu được càng lớn Nếu các giống hay các dòng đồng hợp tử đối với một tính trạng nào đó thì mức độ dị hợp tử sẽ giảm dần

Các giống càng xa nhau về điều kiện địa lý, ưu thế lai càng cao Như vậy, ưu thế lai của một tính trạng phụ thuộc đáng kể vào ngoại cảnh

Trang 18

1.1.4 Một số công thức lai tạo

1.1.4.1 Lai giữa hai giống (50%)

Trong phương pháp này người ta cho giao phối giữa con đực Duroc với con cái Meishan để tạo ra con cái lai F1 (Duroc x Meishan) làm giống

♀ Con cái Ms ♂ Du

♂Con đực

♀ DuMs

Hình 1.1: Sơ đồ lai hai giống

1.1.4.2 Lai giữa hai giống (75%)

Là phương pháp cho giao phối giữa con đực Duroc với con cái Meishan

để tạo ra con cái lai F1 (Duroc x Meishan) làm giống sau đó dùng con cái F1

cho giao phối với con đực Duroc để tạo ra con cái lai F2 làm giống

♀ Ms ♂Du ♂ Du

DuMs

Hình 1.2: Sơ đồ lai giữa con lai F 1 và giống thuần

1.1.4.3 Lai giữa F 2 với giống thuần (87,5%)

Trang 19

con cái F1 cho giao phối với con đực Duroc để tạo ra con cái lai F2 làm giống lợn nái lai sau đó cho con cái F2 (3/4 Du x 1/4 Ms) giao phối với con đực Duroc để tạo ra con lai làm giống lợn nuôi thịt thương phẩm

1.1.5.1 Những đặc điểm sinh lý sinh sản của gia súc

Sinh sản là một quá trình sinh học hết sức phức tạp của cơ thể động vật đồng thời là chức năng duy trì giống nòi và tái sản xuất của vật nuôi Sinh sản hữu tính là hình thức sinh sản cao nhất và phổ biến nhất ở cơ thể động vật, đó là quá trình của sự tham gia của hai cơ thể đực và cái, là một quá trình mà ở đó con đực sản sinh ra tinh trùng, con cái sản sinh ra trứng, thụ tinh giữa tinh trùng và trứng hình thành hợp tử, hợp tử phát triển trong

tử cung của con cái và sinh ra đời con

Quá trình sinh sản của con cái xẩy ra bắt đầu bằng sự xuất hiện chu kì tính Chu kì tính là một quá trình sinh lý phức tạp của cơ thể cái sau khi đã phát triển hoàn toàn và cơ quan sinh dục không có quá trình bệnh lý, thì trong buồng trứng có quá trình noãn bào thành thục, trứng chín và rụng trứng Song song với quá trình rụng trứng thì cơ thể nói chung đặc biệt là cơ quan sinh dục phát sinh hàng loạt các biến đổi và có sự lặp đi lặp lại có tính chất chu kì được gọi là chu

Con lai nuôi thịt thương phẩm

Trang 20

kì tính Chu kì này xuất hiện khi cơ thể cái thành thục về tính kết thúc khi già yếu Thời gian của một chu kì được tính từ lần rụng trứng trước tới lần sau Chu

kì động dục ở lợn thường kéo dài từ 20 - 22 ngày (18 - 25 ngày)

Khi kết thúc chu kì động dục con cái được thu tinh, hình thành hợp tử, phát triển thành bào thai, sau hết thời kì mang thai thì diễn ra quá trình sinh

đẻ Theo Trần Tiến Dũng và cs (2002) [5], gia súc cái mang thai trong một thời gian nhất định tùy từng loài gia súc, khi bào thai phát triển đầy đủ, dưới tác động của hệ thống thần kinh, thể dịch, con mẹ sẽ xuất hiện những cơn dặn để đẩy bào thai, nhau thai và các sản phẩm trung gian ra ngoài, quá trình này gọi là quá trình đẻ

- Thời gian động dục lợn: chia làm hai giai đoạn

+ Thời gian tiền động dục (kéo dài 2 - 3 ngày): Đây là giai đoạn đầu của chu kỳ động dục Ở giai đoạn này các noãn bao phát triển thành thục và nổi rõ lên bề mặt buồng trứng Buồng trứng to hơn bình thường các tế bào ống dẫn trứng tăng cường sinh trưởng, số lượng lông nhung tăng lên, đường sinh dục tăng tiết dịch nhày và xung huyết nhẹ, hệ thống tuyến ở cổ tử cung tiết dịch nhày, các noãn bao chín và tế bào trứng tách ra ngoài, tử cung co bóp mạnh, niêm dịch đường sinh dục chảy nhiều, con vật bắt đầu xuất hiện tính dục Các biến đổi trên tạo điều kiện cho tinh trùng tiến lên trong đường sinh dục cái gặp tế bào trứng và tiến hành thụ tinh Biểu hiện bên ngoài: Âm đạo không nhìn thấy, đỏ hồng, không có hoặc có ít nước nhờn không cho đực nhảy hoặc bỏ chạy khi ta ấn tay vào hông Ở giai đoạn này lợn thường hay bỏ

ăn hoặc ăn ít, hay kêu rít

+ Tới thời gian động dục (kéo dài 2 - 3 ngày): Thời gian của giai đoạn này được tính từ khi tế bào trứng tách khỏi noãn bao các biến đổi của cơ quan sinh dục lúc này rõ rệt nhất, niêm mạc âm hộ xung huyết, phù thũng rõ rệt, niêm dịch trong suốt chảy ra ngoài nhiều, con vật biểu hiện tính hung phấn cao độ: Con cái đứng nằm không yên, phá chuồng, ăn uống giảm hẳn, kêu rít, đứng trong trạng thái ngẩn ngơ, ngơ ngác, đái rắt, luôn nhảy lên lung con khác hoặc để con khác nhảy lên lưng mình, thích gần đực, khi gần đực thì luôn đứng ở tư thế sẵn sang chịu đực như: đuôi cong lên và lệch sang một

Trang 21

bên, hai chân sau dạng ra và khụy xuống sẵn sang chịu đực Nếu giai đoạn này trứng gặp tinh trùng, hợp tử được hình thành thì chu kỳ tính ngừng lại, gia súc cái ở vào giai đoạn có thai và cho đến ki đẻ xong

Các chỉ tiêu đánh giá năng suất sinh sản của lợn nái

Hiệu quả của chăn nuôi lợn nái sinh sản được đánh giá bằng số lợn con cai sữa /nái/ năm và tổng khối lượng lợn con cai sữa

Gordon (2004) [48] cho rằng: trong các trại chăn nuôi hiện đại, số lợn con cai sữa do một nái sản xuất trong một năm là chỉ tiêu đánh giá đúng đắn nhất năng suất sinh sản của lợn nái Tác giả cũng cho biết tầm quan trọng của các thành phần cấu thành ảnh hưởng đến chỉ tiêu số lợn con cai sữa do một nái sản xuất trong một năm lần lượt là: số con đẻ ra trong ổ, tỷ lệ chết của lợn con

từ sơ sinh đến cai sữa, thời gian bú sữa, tuổi đẻ lứa đầu và thời gian từ cai sữa đến khi thụ thai lứa sau Theo Ducos (1994) [41], các thành phần đóng góp vào chỉ tiêu số con còn sống khi cai sữa gồm: số trứng rụng, tỷ lệ sống khi sơ sinh

và tỷ lệ lợn con sống tới lúc cai sữa

Theo Vandersteen (1986) [70], sức sinh sản của lợn nái bao gồm các chỉ tiêu về tuổi động dục lần đầu, tỷ lệ thụ thai, số con đẻ ra /ổ và thời gian từ khi cai sữa đến động dục lại, phối giống có kết quả

Trần Đình Miên và cs (1997) [19] cho biết: việc tính toán khả năng sinh sản của lợn nái cần xét đến các chỉ tiêu như chu kỳ động dục, tuổi thành thục

về tính, tuổi có khả năng sinh sản, thời gian chửa và số con đẻ ra /lứa

Mabry và cs (1997) [59] cho rằng: các tính trạng năng suất sinh sản chủ yếu của lợn nái bao gồm: số con đẻ ra/ổ, số con cai sữa/ổ, khối lượng toàn ổ ở

21 ngày tuổi và số lứa đẻ/nái/năm Các tính trạng này ảnh hưởng lớn đến lợi nhuận của người chăn nuôi lợn nái

Trong thực tế người ta thường quan tâm đến một số chỉ tiêu quan trọng về năng suất mà qua đó có thể đánh giá được khả năng cũng như năng suất sinh sản của lợn nái như:

- Tuổi động dục lần đầu: là thời gian từ sơ sinh đến khi lợn cái hậu bị động dục lần đầu

Trang 22

- Tuổi phối giống lần đầu: thông thường người ta phối giống lần đầu vào lần động dục thứ 2 hoặc thứ 3 vì ở lần động dục đầu cơ thể phát triển chưa đầy đủ, chưa tích lũy đủ dinh dưỡng nuôi bào thai và trứng rụng ít, chưa đều nên thường bỏ qua không phối giống

- Khối lượng động dục lần đầu là khối lượng của lợn nái lần đầu tiên động dục, chỉ tiêu này cũng phụ thuộc vào giống và điều kiện nuôi dưỡng và chỉ tiêu này ở các giống lợn ngoại cao hơn lợn nội

- Tuổi đẻ lứa đầu: là tuổi lợn nái đẻ lứa thứ nhất Tuổi đẻ lứa đầu nói lên tuổi thành thục về tính, thể vóc đảm bảo về khối lượng lợn nái khi đưa vào phối giống

- Khối lượng phối giống lần đầu của cơ thể lợn mẹ: Để tiến hành phối giống lần đầu thì lợn cái hậu bị phải thành thục về tính và thể vóc ở mức độ nhất định

- Số con đẻ ra/ổ (con): là tổng số con đẻ ra trong một ổ bao gồm cả số con đẻ ra còn sống và số con đẻ ra chết Thông thường số con đẻ ra/ổ khác nhau qua các lứa đẻ và tuân theo một quy luật, lứa đầu thường không cao sau đó tăng lên ở lứa thứ 2, tương đối ổn định ở các lứa tiếp theo đến lứa 6

- 7 sau đó giảm dần

- Số con đẻ ra còn sống đến 24 giờ/ổ (con): là số con sống từ lúc sinh ra đến 24 giờ/ổ

- Số con đẻ ra sống/ổ (con): là số con đẻ ra sống được đến khi lợn mẹ

đẻ ra con cuối cùng Đây là chỉ tiêu kinh tế kỹ thuật quan trọng vì nó phản ánh đúng khả năng đẻ sai hay đẻ ít con của giống đồng thời phản ánh cả chất lượng đàn con đẻ ra

- Số con đẻ ra chết/ổ (con): có thể là thai chết, thai non, thai gỗ, chết trong quá trình đỡ đẻ, chết trong khoảng thời gian từ khi đẻ con đầu tiên đến con cuối cùng (thường được tính trong vòng 24 giờ)

- Khối lượng sơ sinh toàn ổ (kg): là khối lượng cân sau khi lợn con đẻ

ra, lau khô, cắt rốn, bấm răng nanh và chưa cho bú sữa đầu

- Số con 21 ngày tuổi (con): đánh giá chất lượng sữa và khả năng nuôi con khéo của lợn mẹ

Trang 23

- Số con cai sữa/ổ (con): đây là chỉ tiêu đánh giá rất quan trọng trong chăn nuôi lợn nái sinh sản, vì số con cai sữa/ổ cao thì số con cai sữa/nái/năm cao, như vậy hiệu quả chăn nuôi sẽ cao hơn

- Khối lượng cai sữa/ổ (kg): đánh giá khả năng tăng trọng của lợn con, khả năng tiết sữa của lợn mẹ và kỹ thuật cho ăn của người chăn nuôi

- Thời gian phối giống trở lại sau cai sữa (ngày): là thời gian từ lúc cai sữa đến lúc động dục trở lại

- Tỷ lệ hao mòn cơ thể lợn mẹ: sau khi mang thai, đẻ, nuôi con lợn mẹ

có sự thay đổi về khối lượng, nếu gầy sút quá sẽ ảnh hưởng tới thời gian động dục trở lại sau cai sữa và ảnh hưởng tới năng suất của lứa tiếp theo Nếu lợn nái có chất lượng, số lượng sữa tốt thì nhất định sẽ bị hao mòn thể trạng Tỷ lệ hao mòn trung bình 15 - 16% Sự hao mòn của lợn mẹ thay đổi theo các lứa, lứa lớn nhất ở lứa đẻ thứ 5 tới 43 kg So với lứa 1, lứa 2 là 29

và 33 kg Sau đó giảm dần ở các lứa thứ 6, tứ 7 là 42 và 31 kg Lợn mẹ hao mòn ảnh hưởng tới số lượng trứng rụng ở chu kỳ sau, nếu hao mòn 20kg thì trứng rụng lần sau chỉ là 5 so với trứng rụng 20 trứng khi lợn mẹ hao mòn 5

kg Nếu lợn mẹ hao mòn dưới 15kg thì sẽ động dục trở lại trong vòng 10 ngày Từ 22-35 kg thì thời gian đó sẽ là 15-20 ngày ở lợn nái béo và 30 ngày

ở lợn nái gầy (Nguyễn thiện và cs, 1995) [31]

- Khoảng cách 2 lứa đẻ (ngày): khoảng cách 2 lứa đẻ là thời gian từ lứa

đẻ này đến lứa đẻ tiếp theo, bao gồm thời gian nuôi con + thời gian chờ phối + thời gian mang thai

Hệ số tương quan giữa các chỉ tiêu sinh sản của lợn nái

Hệ số tương quan biểu thị phương hướng và cường độ của quan hệ tương quan

Phương pháp tính hệ số tương quan:

Giả sử có hai dãy biến số x và y, hai dãy biến số này có n đôi biến số:

Trang 24

Như trên đã trình bày, nếu x và y là tương quan thuận thì x lớn y cũng lớn, x nhỏ y cũng nhỏ Nếu x và y tương quan nghịch thì ngược lại

Gọi là lớn hay nhỏ như trên chỉ là tương đối, muốn biết lớn hay nhỏ bao nhiêu phải so sánh x và y với một tiêu chuẩn nào đó, ở đây chọn làm tiêu chuẩn để so sánh với các biến số x và y là tiêu chuẩn để so sánh với các

biến số y Mức độ lớn nhỏ của x có thể dùng hiệu x x

Đây chính là công thức nguyên để tính hệ số tương quan Nếu vẽ biểu

đồ điểm tương quan và các góc tương quan I, II, III, IV, rồi phân tích và trị số

tuyệt đối của tích ( x x

Trang 25

Khi biến số x và y hoàn toàn tương quan nghịch, tức giá trị x lớn cùng giá trị y nhỏ xếp thành một cặp, giá trị x nhỏ cùng giá trị y lờn xếp thành một

Khi biến số x và y không hoàn toàn tương quan thuận,tức là lúc thì tích

 ) mang dấu dương do đó hệ số tương quan vẫn mang dấu dương

và có giá trị tuyệt đối nhỏ hơn Trường hợp này đại đa số các điểm tương quan nằm ở góc I và góc III, một số ít điểm tương quan nằm ở góc II và góc IV, các điểm tương quan này họp thành một hình bầu dục nghiêng về phải

Khi biến số x và y không hoàn toàn tương quan nghịch,tức là lúc thì

 ) mang dấu âm do đó hệ số tương quan vẫn mang dấu âm

và có giá trị tuyệt đối nhỏ hơn Trường hợp này đại đa số các điểm tương quan nằm ở góc II và góc IV, một số ít điểm tương quan nằm ở góc I và góc III, các điểm tương quan này họp thành một hình bầu dục nghiêng về trái

Khi biến số x và y hoàn toàn không tương quan,tức là lúc thì tích

Hệ số tương quan nói lên mức độ chặt chẽ của hai tính trạng được biểu hiện trong các giá trị tương đối từ 0 - 1 Càng gần 1 thì mối liên hệ càng chặt chẽ Càng gần 0 thì mối liên hệ càng yếu; Nếu bằng 0 không liên quan; Tương

Trang 26

quan yếu: 0 - 0,3; Tương quant rung bình: 0,3 - 0,5; Tương quan chặt chẽ: 0,5

- 0,7; Tương quan rất chặt chẽ: 0,7 - 0,999; Tương quan hàm số: 1

Hệ số tương quan có thể âm hoặc dương nghĩa là sự tăng của tính trạng này kéo theo sự tăng hoặc giảm của tính trạng khác

Mối liên hệ giữa số con sinh ra và trọng lượng sơ sinh: số con đẻ ra càng nhiều thì trọng lượng sơ sinh càng nhỏ, số con đẻ ra ít thì trọng lượng

sơ sinh càng lớn

Trọng lượng sơ sinh và trọng lượng cai sữa có quan hệ mật thiết với nhau Trọng lượng sơ sinh càng cao thì trọng lượng cai sữa càng cao và ngược lại

1.1.5.2 Các yếu tố ảnh hưởng tới sức sản xuất của lợn nái

Có rất nhiều các nhân tố ảnh hưởng tới sức sản xuất của lợn nái, có thể chia thành 2 loại: nhân tố di truyền và nhân tố ngoại cảnh Trong các nhân tố ngoại cảnh có 2 loại: nhân tố tác động do thiên nhiên (thời tiết, khí hậu ), nhân tố tác động do con người (kỹ thuật chăn nuôi, thụ tinh nhân tạo, cai sữa sớm, bổ sung thức ăn cho lợn con )

Ảnh hưởng của giống: Giống là yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến các

chỉ tiêu sinh sản của lợn nái, giống khác nhau thì sự thành thục về tính khác

nhau, cho năng suất sinh sản khác nhau

Ảnh hưởng của các yếu tố ngoại cảnh

* Phương pháp nhân giống:

- Phương pháp nhân giống khác nhau sẽ cho năng suất khác nhau

+ Cho nhân giống thuần chủng thì năng suất của chúng là năng suất của giống đó ví dụ như: Móng CáiMóng Cái, YorkshireYorkshire

+ Cho lai giống thì năng suất sẽ cao hơn 2 giống gốc, các giống gốc càng thuần thì khi lai giống cho ưu thế lai càng cao

Như vậy, nhân giống thuần chủng hay nhân giống tạp giao sẽ cho kết quả sản xuất khác nhau

* Tuổi và lứa đẻ:

Tuổi và lứa đẻ đều là yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến số con đẻ ra/ổ Lợn nái kiểm định có số co đẻ ra thấp hơn so với lợn nái sinh sản (Koketsu và cs, 1998) [54] Thông thường số lượng trứng rụng thấp nhất ở chu kỳ động dục thứ

Trang 27

nhất, tăng đến 3 tế bào trứng ở chu kỳ động dục thứ hai và đạt tương đối cao ở chu

kỳ động dục thứ ba Số con đẻ ra tương quan thuận với số lượng trứng rụng

* Mùa vụ:

Mùa vụ là yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến khả năng sinh sản của lợn nái Gaustad -Aas và cs (2004) [45], cho biết mùa vụ có ảnh hưởng đến số con đẻ ra/ổ Tỷ lệ thụ thai bị ảnh hưởng bởi nhiệt độ và mùa vụ Lợn nái phối giống vào các tháng nóng có tỷ lệ thụ thai thấp, làm tăng số lần phối giống, giảm khả năng sinh sản từ 5 - 20%

Nhiều nghiên cứu đã chỉ rõ ảnh hưởng của stress nhiệt đến khả năng sinh sản của lợn nái Nhiệt độ cao làm cho tỷ lệ loại thải nái cao (30 - 50%) và làm thiệt hại về kinh tế trong chăn nuôi nái sinh sản Số con đẻ ra/ổ khi phối giống vào mùa hè có thể ít hơn một con so với khi phối giống vào mùa thu, mùa đông (Peltoniemi và cs, 2000) [63] Tỷ lệ thụ thai thấp và số con đẻ ra ít vào mùa hè đã được Dominguez và cs (1998) [40] xác nhận

Nhiệt độ thích hợp nhất cho chăn nuôi lợn là 18 - 20oC Nếu nhiệt độ trên 30oC thì sẽ làm giảm tỷ lệ thụ thai và tăng tỷ lệ chết phôi Do đó vào mùa

hè tỷ lệ thụ thai và số con đẻ ra/ổ thường thấp hơn các mùa khác trong năm Khi nhiệt độ thấp quá sẽ làm giảm khả năng sinh sản của lợn nái do ảnh hưởng tới sức sống của lợn con

* Kỹ thuật phối giống:

Kỹ thuật phối giống có ảnh hưởng đến số lượng lợn con/lứa Chọn thời điểm phối giống thích hợp sẽ làm tăng tỷ lệ thụ thai và số con sơ sinh/lứa Để xác định được thời điểm phối giống thích hợp người chăn nuôi cần theo dõi lợn trong quá trình động dục của lợn nái, thông thường sau khi lợn chịu đực khoảng 12 giờ sau trứng sẽ rụng, thời gian rụng trứng kéo dài 10 - 15 giờ, vì vậy mà tùy vào phương pháp phối giống ta chọn thời điểm phối giống cho thích hợp Để nâng cao tỷ lệ thụ thai cũng như số con đẻ ra/ổ, người ta có thể dùng phương pháp phối kép, phối lặp Phối giống kết hợp giữa nhảy trực tiếp và thụ tinh nhân tạo làm tăng tỷ lệ thụ thai, số lợn con đẻ ra/ổ so với phối giống riêng rẽ Phối giống bằng thụ tinh nhân tạo làm giảm tỷ lệ thụ thai, số lợn con đẻ ra/ổ đều thấp hơn so với phối giống trực tiếp

Trang 28

* Dinh dưỡng:

Dinh dưỡng đối với lợn nái hậu bị có chửa và lợn nái cơ bản có chửa là yếu tố quan trọng bậc nhất, ảnh hưởng tới thành tích sản xuất của lợn nái

1.1.6 Cơ sở sinh lý của sự sinh trưởng và các yếu tố ảnh hưởng

1.1.6.1 Cơ sở sinh lý của sự sinh trưởng

* Đặc điểm của sinh trưởng và cho thịt của gia súc

Sinh trưởng là quá trình tích lũy các chất hữu cơ do cơ thể thực hiện sự đồng hóa và dị hóa Đó là sự tăng lên về chiều cao, chiều dài, bề ngang và khối lượng

các bộ phận của toàn bộ cơ thể con vật nuôi, trên cơ sở đặc tính di truyền sẵn có

* Các chỉ tiêu đánh giá khả năng sinh trưởng và cho thịt

- Đánh giá khả năng sinh trưởng của lợn từ giai đoạn sơ sinh đến 60 ngày tuổi thường thông qua các chỉ tiêu: Khối lượng sơ sinh/ổ (kg), khối lượng 21 ngày/ổ (kg), khối lượng cai sữa/ổ (kg), tăng khối lượng từ sơ sinh đến cai sữa (g), tăng khối lượng từ cai sữa đến 60 ngày tuổi (g)

- Đánh giá khả năng sinh trưởng của lợn thịt thường dùng các chỉ tiêu: Tuổi bắt đầu nuôi (ngày), khối lượng bắt đầu nuôi (kg), tuổi kết thúc nuôi (ngày), khối lượng kết thúc nuôi (kg), tăng khối lượng/ngày (g), tiêu tốn thức ăn/kg tăng khối lượng (kg)

1.1.6.2 Các yếu tố ảnh hưởng

Các tính trạng về khả năng sinh trưởng của vật nuôi nói chung và của lợn nói riêng đều là những tính trạng số lượng chịu ảnh hưởng của yếu tố di

truyền và yếu tố ngoại cảnh

* Ảnh hưởng của nhân tố di truyền:

Các giống, các dòng khác nhau có tiềm năng sinh trưởng, cho thịt khác

nhau (Evans và cs, 2003) [43] Khả năng này phụ thuộc vào quá trình lớn lên

của con vật tức là quá trình sinh trưởng, quá trình tích luỹ các chất mà chủ yếu là protein Tốc độ tổng hợp protein phụ thuộc vào sự hoạt động của gen điều khiển sự sinh trưởng của cơ thể, tiềm năng di truyền về sinh trưởng của gia súc thông qua hệ số di truyền, hệ số di truyền rất khác nhau ở các giai đoạn phát triển của lợn Hệ số di truyền đối với tính trạng khối lượng sơ sinh

và sinh trưởng trong thời gian bú sữa dao động từ 0,05 - 0,21 Hệ số di truyền này thấp hơn so với hệ số di truyền của tính trạng này trong thời gian vỗ béo

Trang 29

Tăng khối lượng và tiêu tốn thức ăn có mối tương quan di truyền nghịch và khá chặt chẽ đã được nhiều tác giả nghiên cứu kết luận, đó là: -0,51 đến -0,56 (Nguyễn Văn Đức, 2001) [7]

Về phương diện sinh trưởng và cho thịt ở lợn, mối quan tâm chủ yếu tới nhân tố di truyền chính là việc tạo ra ưu thế lai Chính vì vậy mà hầu hết đàn lợn thương phẩm ở các nước là lợn lai Con lai có ưu thế lai cao hơn bố

mẹ về tăng trọng 10% (Sellier, 1998) [68]

Ngoài ra, tính biệt cũng có ảnh hưởng rất lớn đến khả năng sinh trưởng, cho thịt của con vật đó là do sự cấu thành của cơ thể khác nhau điều này được chi phối bởi tác động của hormone Thường ở lợn đực có khối lượng nạc cao hơn lợn cái và đực thiến, nhu cầu năng lượng cho duy trì của lợn đực cũng lớn hơn lợn cái và đực thiến Một số công trình nghiên cứu khác lại cho rằng lợn đực thiến có mức độ tăng khối lượng cao hơn, tiêu tốn thức ăn thấp hơn (Campell và cs, 1985) [38]

* Ảnh hưởng của nhân tố ngoại cảnh:

Các nhân tố ngoại cảnh ảnh hưởng đến khả năng sinh trưởng của lợn nói riêng và của gia súc, gia cầm nói chung, bao gồm rất nhiều yếu tố: cơ sở chăn nuôi và chuồng trại, điều kiện nuôi dưỡng, chăm sóc, quản lý và sử dụng,…

- Ảnh hưởng của cơ sở chăn nuôi và chuồng trại

Cơ sở chăn nuôi và chuồng trại biểu thị tổng hợp sự chăm sóc, quản lý, nuôi dưỡng đàn lợn Lợn sẽ phát huy được hết tiềm năng và cho sức sản xuất cao trong điều kiện chăn nuôi phù hợp với đặc tính của chúng Thông thường, khi bị nuôi trong chuồng chật hẹp thì khả năng tăng trọng của lợn là thấp hơn

so với được nuôi trong điều kiện chuồng trại rộng rãi

- Ảnh hưởng của yếu tố dinh dưỡng

Một trong những yếu tố có ảnh hưởng lớn nhất đến khả năng sinh trưởng của lợn đó là yếu tố nuôi dưỡng Một khẩu phần đầy phù hợp cho từng giai đoạn phát triển, từng mục tiêu sản xuất với một chế độ ăn hợp lý sẽ tạo điều kiện cho lợn phát huy được hết tiềm năng di truyền của nó Trong khẩu phần ăn của lợn ngoài việc phải đủ các chất dinh dưỡng thì yêu cầu sự cân bằng dinh dưỡng và chất lượng thức ăn là rất quan trọng, nó tăng tỷ lệ hấp

Trang 30

thu, giảm chi phí năng lượng cho tiêu hóa từ đó tăng tỷ lệ tiêu hóa thức ăn và làm giảm tiêu tốn thức ăn/kg tăng khối lượng

Khi nói đến dinh dưỡng thì chúng ta cần quan tâm đến một số yếu tố sau: + Dinh dưỡng protein: các axit amin đặc biệt là các loại axit amin không thay thế ảnh hưởng rất lớn đến thành tích sinh sản của lợn mẹ Nếu khẩu phần ăn thiếu protein thì lợn sẽ chậm động dục và giảm số lứa đẻ/năm Trong giai đoạn mang thai của lợn nái, nếu không cung cấp đủ protein, thì khối lượng sơ sinh của lợn con giảm thấp và nếu thiếu trong giai đoạn tiết sữa

sẽ làm giảm khả năng sinh trưởng của lợn con Trong thời kỳ chửa cuối, nếu hàm lượng protein thấp trong khẩu phần ăn sẽ làm giảm khả năng sống của thai và lợn con sau khi sinh ra Nuôi dưỡng lợn nái trong thời kỳ tiết sữa nuôi con với mức protein thấp trong khẩu phần ăn sẽ làm tăng thời gian động dục trở lại (Gordon, 1997) [47]

+ Dinh dưỡng năng lượng: là yếu tố cần thiết cho tất cả các hoạt động sống của cơ thể Nếu thiếu năng lượng đặc biệt là giai đoạn mang thai và nuôi con sẽ dẫn đến hiện tượng suy dinh dưỡng, còi cọc, sức kháng bệnh kém Tuy nhiên, nếu cung cấp quá thừa trong giai đoạn có chửa thì dẫn đến hiện tượng chết phôi, chết thai, đẻ khó Mặt khác, năng lượng thừa sẽ tích tụ dưới dạng mỡ và lợn con sẽ mắc bệnh đường ruột do sữa mẹ có hàm lượng

mỡ trong sữa đầu cao

- Nhu cầu vitamin và khoáng chất: vitamin và khoáng chất rất cần thiết cho lợn nái và lợn con theo mẹ vì vitamin và khoáng chất tham gia vào các hoạt động chuyển hóa trong cơ thể, nếu thiếu sẽ gây hiện tượng rối loạn chức năng của các cơ quan trong cơ thể

+ Nhu cầu vitamin:

Thiếu vitamin A: lợn chậm động dục, có hiện tượng sảy thai, đẻ non, teo thai, khô mắt

Thiếu vitamin B: gây ra hiện tượng thần kinh yếu, co giật, bại liệt tứ chi Thiếu vitamin D: lợn còi cọc, lợn con sinh ra có trọng lượng thấp, lợn mẹ sau khi sinh hay bị liệt chân sau, hấp thu Ca, P kém

Thiếu vitamin E: lợn chậm động dục hoặc không động dục, chết phôi thai

Trang 31

+ Dinh dưỡng khoáng: gồm 2 loại: khoáng vi lượng và đa lượng

Khoáng đa lượng gồm: Ca, P, K,Na, cần cho mọi hoạt động của cơ thể Thiếu khoáng đa lượng làm xương phát triển không bình thường, xương thai nhi phát triển kém,…

Nên cho lợn nái nuôi con ăn tự do để đáp ứng nhu cầu dinh dưỡng, giảm lượng thức ăn thu nhận khi nuôi con sẽ làm giảm khối lượng cơ thể, hậu quả là thời gian động dục trở lại dài, giảm tỷ lệ thụ tinh và giảm số phôi sống (Gordon, 2004) [48] Mục tiêu của việc nuôi dưỡng lợn nái là làm sao cho số ngày không sản xuất ít, khối lượng cơ thể tăng phù hợp trong thời kỳ có chửa

và có khối lượng cơ thể thích hợp trong thời kỳ nuôi con Vì vậy, cần phải đưa ra khẩu phần ăn khoa học để tăng sữa Nếu khẩu phần ăn với mức lyzin thấp và protein thấp làm suy yếu sự phát triển của bao noãn, giảm khả năng trưởng thành của tế bào trứng, giảm số con đẻ ra và số con còn sống/ổ, tăng tỷ

lệ hao hụt của lợn mẹ và giảm tối đa sinh trưởng của lợn con (Yang và cs, 2000) [71] Song mức protein quá cao trong khẩu phần đều không tốt cho lợn nái cả giai đoạn chửa và nuôi con

Ngoài ra, phương thức nuôi dưỡng cũng có ảnh hưởng đến khả năng sản xuất của con vật Khi cho lợn ăn khẩu phần ăn tự do, khả năng tăng khối lượng nhanh hơn, tiêu tốn thức ăn thấp hơn, nhưng dày mỡ lưng lại cao hơn (Nguyễn Nghi và cs, 1995) [19] khi lợn được ăn khẩu phần ăn hạn chế Lợn cho ăn khẩu phần thức ăn hạn chế có tỷ lệ nạc cao hơn lợn cho ăn khẩu phần thức ăn tự do

- Ảnh hưởng của năm và mùa vụ

Có nhiều tác giả nghiên cứu về năm và mùa vụ trong chăn nuôi cho biết chúng gây ảnh hưởng đến khả năng tăng khối lượng của lợn Pathiraja và cs (1990) [62] cho biết sự khác nhau giữa năm và mùa ảnh hưởng đến tăng khối lượng và dày mỡ lưng là rõ rệt

Ngoài các yếu tố trên thì còn một số yếu tố khác như tính biệt, tuổi, khối lượng giết mổ cũng ảnh hưởng lớn tới khả năng sản xuất và cho thịt cũng như chất lượng thịt của lợn

Trang 32

- Ảnh hưởng của tuổi và khối lượng giết mổ

Khả năng sản xuất và chất lượng thịt cũng phụ thuộc vào tuổi và khối lượng lúc giết thịt Giết thịt ở độ tuổi lớn hơn thì chất lượng thịt sẽ tốt hơn do

sự tăng lên của các mô ở giai đoạn cuối của thời kỳ trưởng thành Song không nên giết thịt ở tuổi quá cao vì lợn sau 6 tháng tuổi khả năng tích lũy mỡ lớn, dẫn đến tỷ lệ nạc sẽ thấp và hiệu quả kinh tế kém

- Ảnh hưởng của tính biệt

Tính biệt có ảnh hưởng rõ rệt đối với tăng khối lượng (Nguyễn Văn Đức và cs, 2001) [7]

Theo Campell và cs (1985) [38], lợn cái, lợn đực và đực thiến có tốc độ phát triển và cấu thành cơ thể khác nhau Lợn đực có khối lượng nạc cao hơn lợn cái và đực thiến Tuy nhiên, về nhu cầu năng lượng cho duy trì của lợn đực cao hơn lợn cái và lợn đực thiến Một số công trình nghiên cứu khác lại cho rằng lợn đực thiến có mức độ tăng trọng cao hơn, tiêu tốn thức ăn thấp hơn Theo nghiên cứu của Millgan, (2002) [61] các chỉ tiêu vỗ béo và giết thịt Landrace đạt được như sau: đối với lợn cái tăng trọng đạt 868 g/ngày, TTTĂ/kg tăng khối lượng là 2,60 kg/kg, tỷ lệ nạc đạt 53,8%, pH đạt 6,32 Các chỉ tiêu tương ứng ở lợn đực thiến là 936 g/ngày, 2,70 kg/kg, 50,9% và 6,26

- Ảnh hưởng của lứa đẻ

Tuổi và lứa đẻ đều là yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến số con đẻ ra/ổ (Gordon, 1997) [47] Lợn nái kiểm định có tỷ lệ đẻ thấp hơn so với lợn nái sinh sản (Koketsu và cs, 1998) [54]

Lứa đẻ là yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến khả năng sinh sản của lợn nái vì có sự khác nhau về chức năng theo tuổi của lợn nái Khả năng sinh sản của lợn nái thường thấp nhất ở lứa đẻ thứ nhất, đạt cao nhất ở lứa đẻ thứ 3, 4,

5 và sau đó gần như là ổn định hoặc hơi giảm khi lứa đẻ tăng lên

1.1.7 Đặc điểm một số giống lợn

1.1.7.1 Giống lợn Duroc

Giống lợn Duroc có nguồn gốc ở Bắc Mỹ Lợn hiện nay đã khá phổ

biến ở các nước châu Âu, châu Á và chiếm một tỷ trọng khá cao trong tổng đàn lơn của nước Mỹ Lợn nái có nhiều sữa cho con bú nên tốc độ tăng

Trang 33

trưởng của lợn con nhanh Lợn có khả năng chống chịu nắng, nóng khá tốt Thịt có tỷ lệ nạc cao, ngon, chắc, được sử dụng để ăn tươi, tham gia nhiều vào công nghệ đóng đồ hộp

Khả măng sản xuất: Lợn Duroc có bốn múi chân và mõm sẫm đen, tai đứng Hiện nay lợn Duroc có khả năng tăng trọng 785 g/ngày, khả năng tăng thịt nạc 320 g/ngày, tiêu tốn thức ăn 2,91 kg/kg tăng khối lượng Nuôi 171,89 ngày tuổi, đạt khối lượng 99,88 kg Dày mỡ lưng ở sườn 10 là 3,09 cm Duroc có khả năng sinh sản tương đối cao Trung bình đạt 1,7 - 1,8 lứa/năm Mỗi lứa đẻ từ 9 -

11 con, khối lượng sơ sinh của lợn con trung bình đạt 1,2 - 1,3 kg, khối lượng cai sữa 12 - 15 kg Sức tiết sữa của lợn đạt 5 - 8 kg/ngày Duroc trưởng thành con đực đạt cân nặng 370 kg, con cái 250 - 280 kg Duroc được coi là giống lợn tốt trên thế giới hiện nay và được nuôi rất phổ biến ở nhiều nơi, đặc biệt được nuôi theo hướng nạc và sử dụng thịt nướng Giống Duroc được chọn là một trong những giống tốt để thực hiện chương trình nạc hóa đàn lợn ở Việt Nam

1.1.7.2 Giống lợn Meishan

Lợn Meishan là giống được nuôi ở Trung Quốc trong nhiều thế kỷ Xuất

xứ của giống lợn Meishan là ở vùng thung lũng thuộc tỉnh Tứ Xuyên, Trung Quốc Giống lợn này cỏ màu đen, mặt và da nhăn, lông đen toàn thân và cổ vành lông trắng vắt qua vai bao gồm cả chân trước và ngực Lợn có đầu nhỏ thanh, cổ dài và hẹp thân Toàn thân trông chắc chắn và vận động tốt, thích hợp với hệ thống chăn nuôi chăn thả trên đồng cỏ Lợn nái trưởng thành cao khoảng 57,8

cm và có trọng lượng hơi tối đa trên 60 kg Tuy nhiên lợn Meishan lớn chậm, nhiều mỡ và cấu tạo thân thịt kém Tuy lớn chậm và nhiều mỡ nhưng thịt lợn Meishan có mùi vị thơm ngon rất đặc trưng Ngoài ra, giống lợn này còn có khả năng chống chịu với rất nhiều loài bệnh tật khác nhau do chủ yếu ăn thức ăn thô

tự nhiên Lợn Meishan hiện là giống mắn đẻ nhất trong số các giống lợn trên thế giới với trung bình mỗi lứa từ 15 - 16 con và trung bình mỗi năm hai lứa Lợn Meishan có nhiều vú, thành thục sinh dục sớm ngay từ lúc chưa đầy 2,5 tháng tuổi so với 5 tháng tuổi ở các giống lợn khác Con nái trông bề ngoài thì dữ dằn, nhưng lại rất hiền và nuôi con rất tốt Giống lợn Meishan có trọng lượng tương đối lớn so với các giống lợn châu Á Lợn nái trưởng thành có chiều cao 57,8 cm,

Trang 34

vòng ngực 100 cm, khả năng sinh sản rất tốt, đẻ trung bình 15 - 16 con/lứa, có khi 20 - 22 con Lợn có khả năng tăng trọng tương đối tốt

1.1.7.3 Lợn nái F 2 (Duroc x Mieshan)

Lợn nái F2 (Duroc x Mieshan) có màu lông da hung đen, mặt hơi nhăn, thân hình phát triển cân đối, bốn chân khỏe vững chắc, lợn nái đẻ từ

11 - 12 con/lứa

1.2 Tình hình nghiên cứu ở ngoài nước và trong nước

1.2.1 Tình hình nghiên cứu ngoài nước

Các nước có nền chăn nuôi lợn phát triển như Mỹ, Canada,… đã sử dụng các tổ hợp lai kinh tế phức tạp từ các giống lợn cao sản như Landrace, Yorkshire, Pietrain, Duroc, Hampshire Các nước này thường dùng lợn nái lai từ 2 giống, sau

đó cho phối giống với lợn đực thứ 3 để sản xuất ra lợn thương phẩm

Lai giống là biện pháp quan trọng nhằm nâng cao khả năng sinh sản

và cho thịt trong chăn nuôi lợn ở Ba Lan Tuz và cs (2000) [69] nhận thấy lai

ba giống đạt được số con/lứa ở 21 và 42 ngày tuổi cũng như khối lượng sơ sinh/con cao hơn hẳn so với giống thuần

Trung Quốc có 60 giống lợn được nuôi ở các vùng sinh thái khác nhau

Để nâng cao chất lượng đàn lợn thịt, Trung Quốc đã nhập một số giống lợn có khả năng sản xuất cao, phẩm chất thịt tốt như lợn: Yorkshire, Duroc, Hampshire, Landrace cho phối với lợn nái Meishan của Trung Quốc Vì vậy đã làm tăng khả năng sinh sản của lợn nái, đạt trung bình 12,5 con/ổ Lợn vỗ béo đạt khối lượng

90 kg lúc 180 ngày tuổi, tiêu tốn thức ăn/kg tăng trọng là 3,4 kg; dày mỡ lưng trung bình là 26 mm và đạt tỷ lệ nạc trên 48% (Đỗ Thị Tỵ, 1994) [31]

Giống lợn Meishan có nguồn gốc từ Trung Quốc đã được nhiều nước

có nền chăn nuôi lợn tiên tiến như Anh, Pháp, Mỹ nhập và sử dụng làm nguyên liệu để lai giống tạo ra các dòng lợn có năng suất sinh sản cao

Giống lợn Meishan được nhập vào Mỹ và cho lai tạo với các giống lợn

ở Mỹ như các giống lợn Landrace, lợn Hampshire, lợn Duroc để tạo ra các con lai có khả năng sản xuất tốt nhưng giống lợn Meishan không được sử dụng trong chăn nuôi lợn thịt thương phẩm tại Mỹ Bộ Nông nghiệp Mỹ (USDA) cùng hai trường đại học trong nước là Illinois và Iowa đã nhập khẩu

Trang 35

tổng cộng 144 cá thể lợn Meishan để nghiên cứu lai tạo Trước đó giống lợn

đã được du nhập vào Anh, Pháp, Hà Lan phục vụ mục đích nghiên cứu bảo tồn lai tạo với giống lợn Large White của Anh Khả năng đẻ nhiều con của lợn Meishan chủ yếu là do tỷ lệ phôi sống cao hoặc khả năng đẻ nhiều con của lợn Meishan vừa do số lượng trứng chín rụng nhiều vừa do tỷ lệ phôi sống cao Cho đến nay các nhà khoa học cũng chưa nghiên cứu chính xác được khả năng đẻ nhiều con của lợn Meiahan là do một gen đặc hiệu nào gây

ra Để cải tiến di truyền còn lại của lợn Meishan có thể đi theo hai hướng là chọn lọc thuần chủng lợn Meishan theo hướng nâng cao tỷ lệ nạc và chất lượng thân thịt vì hệ số di truyền của tỷ lệ nạc và chất lượng thân thịt cao, hơn nữa mức độ biến dị của hai tính trạng này còn lớn Việc xác định tỷ lệ nạc qua

độ dày mỡ lưng đối với lợn Meishan không được chính xác lắm, vì tỷ lệ mỡ ở lợn này nhiều, đồng thời giá trị thân thịt của lợn Meishan thuần là thấp hoặc là cho lai giữa lợn châu Âu với lợn Meishan, sau đó tiến hành chọn lọc các dòng tổng hợp cả tính trạng sinh sản và cho thịt Lợn Meishan được biết đến là một giống lợn của Trung Quốc có khả năng đẻ sai nhất trong số các giống lợn có trên thế giới Các kết quả nghiên cứu trên thế giới cho thấy giống lợn này không chỉ thành thục sớm, mà còn đẻ sai hơn rất nhiều so với các giống lợn trắng của châu Âu (Haley & Lee 1993) [51] Nhiều năm qua, chương trình lai tạo các giống lợn của các nước Phương Tây đã sử dụng lợn Meishan để nâng cao năng suất sinh sản của đàn lợn nái với việc khai thác tối đa ưu thế lai của con mẹ trong các tổ hợp lai có giống Meishan (Kuhlers 1988) [56] Đặc biệt là ưu thế lai giữa lợn Meishan và các giống lợn trắng của châu Âu cao hơn khi lai giữa các giống lợn trắng Châu Âu với nhau (Mercer.T and Hoste, 1994) [60]

1.2.2 Tình hình nghiên cứu trong nước

Trong những năm qua đã có nhiều nghiên cứu về năng suất và chất lượng của một số giống lợn lai như: Theo kết quả điều tra của Nguyễn Thắng,

Vũ Đình Tôn (2010) [25] ở một số hộ chăn nuôi ở các tỉnh phía Bắc cho thấy, việc sử dụng đực lai là khá cao và chiếm 36% trong cơ cấu đực giống

Trang 36

(trong đó đực lai giữa Pietrain và Duroc (PiDu) chiếm 15%) Các đực lai phối giống với lợn nái các giống ngoại (nái lai hai giống ngoại chiếm 51,1%; nái thuần Landrace chiếm 15,6% và Yorkshire (hoặc Large White-Lw) chiếm 18,9%) để sản xuất con lai (3 hoặc 4 giống) có năng suất sinh sản cao, sinh trưởng nhanh, tiêu tốn thức ăn thấp (Phan Xuân Hảo và Hoàng Thị Thúy, 2009) [9] Theo kết quả nghiên cứu của Đinh Văn Chỉnh và cs (1999) [4], nái lai F1(L×Y) có nhiều chỉ tiêu sinh sản cao hơn so với nái thuần Landrace Nái lai F1(L×Y) có số con sơ sinh sống, số con cai sữa tương ứng là: 9,25 - 9,87; 8,50 - 8,80 con/ổ; khối lượng sơ sinh, khối lượng cai sữa/con: 1,32 và 8,12 kg Nái Landrace có số con sơ sinh sống, số con cai sữa tương ứng: 9 - 9,83; 8,27 - 8,73 con/ổ Nguyễn Thị Viễn và cs (2004) [37] thông báo kết quả về khả năng sinh sản của các tính trạng của nái tổng hợp giữa 2 giống Yorkshire và Landrace so với phối thuần như sau: nhóm nái lai (Yorkshire×Landrace) nâng cao được số con sơ sinh là 0,24 - 0,62 con/ổ và

có tuổi đẻ lứa đầu sớm hơn 4 - 11 ngày Nhóm nái lai (Yorkshire×Landrace) nâng cao được khối lượng cai sữa từ 0,42 - 0,65 kg/ổ Hai nhóm nái lai đã giảm được số ngày chờ phối sau cai sữa 0,25 - 0,42 ngày và không ảnh hưởng tới số con sơ sinh chết Số thai khô, số lợn nhỏ và dị tật, ưu thế lai về tính trạng sinh sản của nhóm nái lai đạt được từ 0,99 - 7,11% và tính trạng tăng trọng g/ngày giai đoạn 90 - 150 ngày tuổi đã được cải thiện 2,03 - 3,48% Theo Nguyễn Văn Thắng và Đặng Vũ Bình (2005) [26] thì năng suất sinh sản lợn nái F1(Landrace ×Yorkshire) phối với đực Pietrain và Duroc có

số con đẻ ra/ổ tương ứng là 10,05 và 9,63 con; số con 21 ngày tuổi/ổ là 9,7

và 9,23 con; số con cai sữa/ổ tương ứng là 9,39 và 3,13 con

Thời gian gần đây, từ ngày 06 tháng 12 năm 2010 đã nhập lợn Meishan thuần chủng về để nghiên cứu, thử nghiệm thêm các công thức lai mới, đáp ứng được yêu cầu của công tác nghiên cứu khoa học và nhu cầu xã hội, tại Trung tâm nghiên cứu lợn Thụy Phương - Viện chăn nuôi

Trang 37

Việt Nam không lựa chọn giống lợn Meishan trong chương trình nạc hóa đàn Lợn, nhưng giống lợn này được đưa vào Việt Nam thông qua công ty chăn nuôi PIC (Anh Quốc) từ năm 1995 theo các giống lợn ngoại khác, để tạo

ra một lợn lai có máu của 5 giống lợn khác nhau (Landrace,Yorkshire, Duroc, Peitrain, Meishan) có năng xuất cao và chất lượng thịt tốt Trại lợn giống hạt nhân Tam Điệp (Ninh Bình) đang sử dụng các dòng lợn có nguồn gốc PIC Trong số đó, lợn cái dòng tổng hợp L95 có máu Meishan được lai với lợn đực Landrace (dòng L06) tạo ra dòng ông bà C1230 Lợn cái bố mẹ CA là

tổ hợp lai giữa cái C1230 với lợn đực dòng tổng hợp L19 (Dr) sử dụng để sản xuất lợn thương phẩm 5 máu được thị trường người chăn nuôi ưa thích Việc mở rộng khai thác nguồn gen giống lợn Meishan có nguồn gốc PIC tại Việt Nam bằng việc thử nghiệm lai chúng với các giống lợn cao sản khác là cần thiết Khi nghiên cứu về các tính trạng năng suất sinh sản, các tác giả đều quan tâm đến tính mắn đẻ, khả năng sản xuất của con mẹ…(Hughes,

1995 [53]; Roehe và Kennedy, 1995 [65]; Samanta và cs,1998 [67]; Phùng Thị Vân và cs, 2002 [36]; Nguyễn Văn Đức và cs, 2001 [7] ) và đặc biệt đi sâu vào nghiên cứu sự ảnh hưởng của các cá thể mẹ và ảnh hưởng của ngoại cảnh trong việc đánh giá tính trạng năng suất sinh sản, tăng áp lực chọn lọc giống đối với các tính trạng này (Estany và Sorensen, 1995 [42]; Lorvelec và cs,1998 [58]; Hoque và cs,2002 [52]; Đặng Vũ Bình, 1999 [2])

Trang 38

Chương 2 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

2.1.1 Đối tượng nghiên cứu

- Là sử dụng con đực Duroc lai với con cái Meishan để tạo ra con cái lai

F1 (Duroc x Meishan) làm giống sau đó dùng con cái F1 cho giao phối với con đực Duroc để tạo ra con cái F2 (3/4 Du x 1/4 Ms) làm giống Sau đó ta chọn

15 con cái F2 (3/4 Du x 1/4 Ms) sắp lên giống lần đầu và 15 con cái F2 (3/4

Du x 1/4 Ms) sắp phối giống lứa đẻ thứ 3 để theo dõi

- Con lai của nái F2 (DuMs) có 3/4Du và 1/4 Ms với Duroc (có so sánh với con lai của nái Pidu với Duroc )

2.1.2 Địa điểm và thời gian nghiên cứu

Hợp tác xã chăn nuôi Dịch vụ tổng hợp Hoà Mỹ - xã Vạn Thái - huyện Ứng Hoà - Hà Nội Thời gian nghiên cứu: Từ tháng 8/2015 đến tháng 8/2016

2.2 Nội dung nghiên cứu

- Đánh giá khả năng sinh sản của lợn nái F2 (3/4 Duroc x 1/4 Meishan)

- Xác định khả năng sinh trưởng và tiêu tốn TĂ của con lai thương phẩm của nái (F2 DuMs x Du) và so sánh với con lai của nái (PiDu) x Du

2.3 Phương pháp nghiên cứu

2.3.1 Phương pháp đánh giá khả năng sinh sản của lợn nái F 2 (3/4 Du x 1/4 Ms)

- Chọn ngẫu nhiên đàn lợn nái 30 con bao gồm:

+ Đàn nái hậu bị sắp phối giống: 15 con (theo dõi chỉ tiêu về sinh lý sinh dục, đẻ lứa 1, 2)

+ Đàn nái sinh sản ở lứa đẻ 3, 4: 15 con (theo dõi lứa 3,4)

- Trực tiếp theo dõi từng cá thể lợn nái, cân khối lượng, theo dõi quá trình đẻ, đỡ đẻ, ghi chép số liệu về thời gian, số lương lợn con và khối lượng lợn con

Trang 39

* Các chỉ tiêu theo dõi sinh lý sinh dục của lợn nái F 2 (3/4 Du x 1/4 Ms)

(n = 15)

- Tuổi động dục lần đầu (ngày):

Tuổi động dục lần đầu (TĐDLĐ): là khoảng thời gian từ khi sơ sinh đến lúc lợn hậu bị có biểu hiện động dục lần đầu tiên TĐDLĐ được tính theo công thức: TĐDLĐ = Ngày động dục lần đầu - Ngày sinh của lợn nái

- Khối lượng động dục lần đầu (kg): Là khối lượng của cơ thể lợn

nái hậu bị tại ngày đầu tiên khi xuất hiện động dục ở lần động dục đầu tiên

của lợn nái hậu bị

- Tuổi phối giống lần đầu (ngày): TPGLĐ: Là lợn cái được phối giống lần

đầu tiên, TPGLĐ được tính là khoảng thời gian từ ngày sinh đến khi lợn cái được

phối giống lần đầu tiên

TPGLĐ = Ngày phối giống lần đầu - Ngày sinh của lợn cái

- Khối lượng phối giống lần đầu (kg): Là khối lượng của cơ thể lợn cái tại

ngày đầu tiên khi tiến hành phối giống ở lứa thứ nhất

- Chu kì động dục: Chu kì động dục ở lợn thường kéo dài từ 20 - 22 ngày

(18 - 25 ngày)

- Thời gian động dục: Thời gian động dục ở lợn lai thường kéo dài từ 4

- 5 ngày

- Tuổi đẻ lứa đầu (ngày)

Tuổi đẻ lứa đầu (TĐLĐ): Là tuổi lợn nái sinh con lứa đầu tiên TĐLĐ được xác định là khoảng thời gian từ ngày sinh ngày lợn nái sinh con lứa đầu tiên

TĐLĐ = Ngày lợn nái đẻ lứa đầu - Ngày sinh của lợn nái

- Các biểu hiện khi lợn động dục: Lợn nái kêu giống, giảm ăn hoặc bỏ ăn, nhảy lên lưng con khác

* Các chỉ tiêu theo dõi khả năng sinh sản

- Số con đẻ ra/ổ (con/ổ)

Số con đẻ ra/ổ (SCĐR): Là số con được sinh ra của ổ kể cả con sống và con chết, được tính khi lợn mẹ đẻ xong con cuối cùng

Trang 40

- Số con đẻ ra còn sống đến 24 giờ/ổ (con): là số con sống từ lúc sinh

ra đến 24 giờ/ổ Trong vòng 24 giờ sau khi đẻ, những lợn con không đạt khối lượng sơ sinh trung bình của giống, không phát dục hoàn toàn, dị dạng,… thì sẽ bị chết Ngoài ra do lợn mới sinh còn yếu, chưa nhanh nhẹn nên dễ bị lợn mẹ đè chết

- Khối lượng sơ sinh/ổ (kg): là khối lượng cân sau khi lợn con đẻ ra, lau

khô, cắt rốn, bấm răng nanh và chưa cho bú sữa đầu

- Khối lượng sơ sinh sống/con (kg/con)

KLSS sống =

Khối lượng ổ SS sống (kg)

Số lợn con còn sống trong ổ (con)

- Số con lúc cai sữa/ổ (con/ổ): Là số lợn con còn sống của ổ tính ở thời

điểm cai sữa

- Khối lượng cai sữa/ổ là: Khối lượng của số lợn con/ổ được nuôi sống

đến khi cai sữa

- Khối lượng cai sữa/con (kg/con)

Khối lượng cai sữa (KLCS): Là khối lượng của lợn con sau khi cai sữa KLCS được xác định là trung bình khối lượng lợn con cai sữa của ổ

KLCS =

Khối lượng lợn con toàn ổ khi cai sữa (kg)

Số con cai sữa (con)

- Thời gian động dục trở lại và phối giống có kết quả (ngày)

Thời gian động dục trở lại và phối giống có kết quả (TGPGLCKQ) là khoảng thời gian từ khi cai sữa lứa trước đến khi phối giống có kết quả lứa tiếp theo TGPGLCKQ = Ngày phối giống có kết quả - Ngày cai sữa lợn con lứa trước

- Khoảng cách giữa hai lứa đẻ (ngày)

Khoảng cách giữa hai lứa đẻ (KCLĐ): Là khoảng thời gian từ lứa đẻ này đến lứa đẻ tiếp theo KCLĐ được xác định bằng tổng thời gian chờ phối, thời gian mang thai và thời gian nuôi con Hay chính là thời gian từ ngày phối đạt lứa này đến ngày phối đạt lứa tiếp theo

KCLĐ = Thời gian chờ phối + Thời gian mang thai + Thời gian nuôi con

Ngày đăng: 26/06/2017, 15:00

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Đặng Vũ Bình (1994), “Các tham gia số thống kê di truyền và chỉ số chọn lọc năng suất sinh sản của lợn nái Yr và Lr”, Báo cáo khoa học phần tiểu gia súc, Hội nghị KHKT Chăn nuôi - Thú y toàn quốc tháng 7/1994 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các tham gia số thống kê di truyền và chỉ số chọn lọc năng suất sinh sản của lợn nái Yr và Lr”, "Báo cáo khoa học phần tiểu gia súc
Tác giả: Đặng Vũ Bình
Năm: 1994
2. Đặng Vũ Bình (1999), “Phân tích một số yếu tố ảnh hưởng tới các tính trạng năng suất sinh sản trong một lứa đẻ của lợn nái ngoại”, Kết quả nghiên cứu khoa học kĩ thuật - Khoa chăn nuôi -thú y - Trường Đại học Nông nghiệp I, Hà Nội, tr. 16 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phân tích một số yếu tố ảnh hưởng tới các tính trạng năng suất sinh sản trong một lứa đẻ của lợn nái ngoại”," Kết quả nghiên cứu khoa học kĩ thuật - Khoa chăn nuôi -thú y - Trường Đại học Nông nghiệp I, Hà Nội
Tác giả: Đặng Vũ Bình
Năm: 1999
3. Đinh Văn Chỉnh, Đặng Vũ Bình, Trần Xuân Việt, Vũ Ngọc Sơn (1995), “Năng suất sinh sản của lợn nái Y và L nuôi tại Trung tâm giống gia súc Hà Tây”, Kết quả nghiên cứu khoa học Khoa Chăn nuôi -Thú y (1991 - 1995), Trường Đại học Nông nghiệp I, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Năng suất sinh sản của lợn nái Y và L nuôi tại Trung tâm giống gia súc Hà Tây”, "Kết quả nghiên cứu khoa học Khoa Chăn nuôi -Thú y (1991 -1995)
Tác giả: Đinh Văn Chỉnh, Đặng Vũ Bình, Trần Xuân Việt, Vũ Ngọc Sơn
Năm: 1995
4. Đinh Văn Chỉnh, Đặng Vũ Bình, Nguyễn Hải Quân, Phan Xuân Hảo, Hoàng Sĩ An (1999), “Kết quả bước đầu xác định khả năng sinh sản của lợn nái Lr và F1 (Lr x Yr) có các kiểu gen halothan khac nhau nuôi tai xí nghiệp thức ăn chăn nuôi An Khánh”, Kết quả nghiên cứu khoa học kĩ thuật khoa Chăn nuôi - Thú y (1996 -1998), Nxb Nông Nghiệp, Hà Nội, tr. 9-11 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kết quả bước đầu xác định khả năng sinh sản của lợn nái Lr và F1 (Lr x Yr) có các kiểu gen halothan khac nhau nuôi tai xí nghiệp thức ăn chăn nuôi An Khánh”, "Kết quả nghiên cứu khoa học kĩ thuật khoa Chăn nuôi - Thú y (1996 -1998)
Tác giả: Đinh Văn Chỉnh, Đặng Vũ Bình, Nguyễn Hải Quân, Phan Xuân Hảo, Hoàng Sĩ An
Nhà XB: Nxb Nông Nghiệp
Năm: 1999
5. Trần Tiến Dũng, Dương Đình Long, Nguyễn Văn Thanh (2002), Sinh lý sinh sản gia súc, Nxb Nông Nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sinh lý sinh sản gia súc
Tác giả: Trần Tiến Dũng, Dương Đình Long, Nguyễn Văn Thanh
Nhà XB: Nxb Nông Nghiệp
Năm: 2002
6. Nguyễn Văn Đồng, Nguyễn Ngọc Phục, Phạm Duy Phẩm, Lê Thanh Hải, Phạm Thị Kim Dung, Lê Thế Tuấn, Trịnh Hồng Sơn, Nguyễn Văn Ngạn (2010), “Kết quả nghiên cứu một số chỉ tiêu sinh trưởng, sinh sản của 2 dòng lợn ông bà C1050 và C1230 tại Trung tâm Nghiên cứu lợn Thụy Phương - Viện Chăn nuôi Quốc Gia, Hà Nội”, Tuyển tập các công trình nghiên cứu khoa học về các dòng lợn nguồn gốc PIC, tr. 1-9 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Kết quả nghiên cứu một số chỉ tiêu sinh trưởng, sinh sản của 2 dòng lợn ông bà C1050 và C1230 tại Trung tâm Nghiên cứu lợn Thụy Phương - Viện Chăn nuôi Quốc Gia, Hà Nội”
Tác giả: Nguyễn Văn Đồng, Nguyễn Ngọc Phục, Phạm Duy Phẩm, Lê Thanh Hải, Phạm Thị Kim Dung, Lê Thế Tuấn, Trịnh Hồng Sơn, Nguyễn Văn Ngạn
Năm: 2010
7. Nguyễn Văn Đức, Lê Thanh Hải, Giang Hồng Tuyến (2001). “Nghiên cứu tổ hợp lợn lai P´MC tại Đông Anh-Hà Nội”, Tạp chí Nông nghiệp và Phát triển nông thôn số 6, tr. 382-384 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu tổ hợp lợn lai P´MC tại Đông Anh-Hà Nội”, "Tạp chí Nông nghiệp và Phát triển nông thôn số 6
Tác giả: Nguyễn Văn Đức, Lê Thanh Hải, Giang Hồng Tuyến
Năm: 2001
9. Phan Xuân Hảo và Hoàng Thị Thúy (2009), “Năng suất sinh sản và sinh trường ở các tổ hợp lai giữa nái Landrace, Yorkshire và F1 (Landrace x Yorkshire) phối với đực lai Pietrain và Duroc (PiDu) ”, Tạp chí Khoa học và Phát triển, Trường Đại học Nông Nghiệp I Hà Nội, Tập 7, số 3/2009 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Năng suất sinh sản và sinh trường ở các tổ hợp lai giữa nái Landrace, Yorkshire và F1 (Landrace x Yorkshire) phối với đực lai Pietrain và Duroc (PiDu) ”, "Tạp chí Khoa học và Phát triển
Tác giả: Phan Xuân Hảo và Hoàng Thị Thúy
Năm: 2009
10. Phan Xuân Hảo, Hoàng Thị Thúy, Đinh Văn Chỉnh, Nguyễn Chí Thành và Đặng Vũ Bình (2009), “Đánh giá năng suất và chất lượng thịt các con lai được tạo ra giữa đực lai PiDu với nái Landrace, Yorkshire và F1(Landrace x Yorkshire) ”, Tạp chí Khoa học và Phát triển, Trường Đại học Nông Nghiệp I Hà Nội, Tập 7, số 4/2009 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đánh giá năng suất và chất lượng thịt các con lai được tạo ra giữa đực lai PiDu với nái Landrace, Yorkshire và F1(Landrace x Yorkshire) ”, "Tạp chí Khoa học và Phát triển
Tác giả: Phan Xuân Hảo, Hoàng Thị Thúy, Đinh Văn Chỉnh, Nguyễn Chí Thành và Đặng Vũ Bình
Năm: 2009
11. Phan Xuân Hảo (2006) “ Đánh giá khả năng sản xuất của lợn ngoại đời bố mẹ và con lai nuôi thịt”. Báo cáo tổng kết đề tài khoa học và công nghệ cấp bộ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đánh giá khả năng sản xuất của lợn ngoại đời bố mẹ và con lai nuôi thịt”
12. Trần Thị Minh Hoàng, Tạ Thị Bích Duyên và Nguyễn Quế Côi (2010), “Nghiên cứu một số ảnh hưởng đến năng suất sinh sản của đàn lợn Landrace và Yorskhire” Nuôi tại Mỹ Văn, Tam Điệp và Thụy Phương, Tuyển tập các công trình nghiên cứu tại Trung tâm nghiên cứu lợn Thụy Phương, Việt Chăn nuôi Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu một số ảnh hưởng đến năng suất sinh sản của đàn lợn Landrace và Yorskhire” Nuôi tại Mỹ Văn, Tam Điệp và Thụy Phương
Tác giả: Trần Thị Minh Hoàng, Tạ Thị Bích Duyên và Nguyễn Quế Côi
Năm: 2010
13. Phan Văn Hùng và Đặng Vũ Bình (2008). “Khả năng sản xuất của các tổ hợp lai giữa lợn PiDu, L19, với nái F1 (LxY) và F1 (YxL) nuôi tại Vĩnh Phúc”, Tạp chí khoa học và phát triển, tập IV, số 6, tr. 537 - 541 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khả năng sản xuất của các tổ hợp lai giữa lợn PiDu, L19, với nái F1 (LxY) và F1 (YxL) nuôi tại Vĩnh Phúc”, "Tạp chí khoa học và phát triển, tập IV, số 6
Tác giả: Phan Văn Hùng và Đặng Vũ Bình
Năm: 2008
15. Đặng Hữu Lanh, Trần Đình Miên, Trần Đình Trọng (1999). “Cơ sở di truyền chọn giống động vật”, Nxb Giáo dục, tr. 96-101 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Cơ sở di truyền chọn giống động vật”
Tác giả: Đặng Hữu Lanh, Trần Đình Miên, Trần Đình Trọng
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1999
16. Hoàng Bế Liêm (2010), “Nghiên cứu khả năng sản suất của lợn nái C22 và con lai của chúng với đực Landrace, đực Maxter 16 và đưc Maxter 304”, Luận văn thạc sĩ Nông nghiệp - Trường Đại học Nông lâm Thái Nguyên Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Nghiên cứu khả năng sản suất của lợn nái C22 và con lai của chúng với đực Landrace, đực Maxter 16 và đưc Maxter 304”
Tác giả: Hoàng Bế Liêm
Năm: 2010
17. Trịnh Xuân Lượng (1998), “Nghiên cứu, đánh giá khả năng sinh sản của lợn nái ngoại nhân giống thuần nuôi tại Xí nghiêp lợn giống Thiệu Yên- Thanh Hóa”, Kết quả nghiên cứu khoa học, Viện KHKT Nông nghiệp Việt Nam, III, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu, đánh giá khả năng sinh sản của lợn nái ngoại nhân giống thuần nuôi tại Xí nghiêp lợn giống Thiệu Yên-Thanh Hóa”, "Kết quả nghiên cứu khoa học, Viện KHKT Nông nghiệp Việt Nam, III
Tác giả: Trịnh Xuân Lượng
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 1998
19. Trần Đình Miên, Phan Cự Nhân, Nguyễn Văn Thiện, Trịnh Đình Đạt (1997). “Di truyền chọn giống động vật”, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Di truyền chọn giống động vật
Tác giả: Trần Đình Miên, Phan Cự Nhân, Nguyễn Văn Thiện, Trịnh Đình Đạt
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 1997
20. Nguyễn Nghi, Bùi Thị Gợi (1995). “Ảnh hưởng của hàm lượng protein và năng lượng trong khẩu phần ăn đến năng suất và phẩm chất thịt của một số giống lợn nuôi tại Việt Nam”, Tuyển tập công trình nghiên cứu khoa học kỹ thuật chăn nuôi, (1969-1995), Nxb Nông nghiệp, Hà Nội, tr. 24- 34 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ảnh hưởng của hàm lượng protein và năng lượng trong khẩu phần ăn đến năng suất và phẩm chất thịt của một số giống lợn nuôi tại Việt Nam”, "Tuyển tập công trình nghiên cứu khoa học kỹ thuật chăn nuôi, (1969-1995)
Tác giả: Nguyễn Nghi, Bùi Thị Gợi
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 1995
21. Nguyễn Đức Nhật (2009), “Đánh giá năng suất sinh sản, sinh trưởng, cho thịt và chất lượng thịt của các tổ hợp lai giữa nái F1(Lr x Yr) với đực Duroc và đực PiDu tại một số trang trại chăn nuôi tại Hưng Yên”, Luận văn thạc sĩ Nông nghiệp - Trường Đại học Nông nghiêp I - Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Đánh giá năng suất sinh sản, sinh trưởng, cho thịt và chất lượng thịt của các tổ hợp lai giữa nái F1(Lr x Yr) với đực Duroc và đực PiDu tại một số trang trại chăn nuôi tại Hưng Yên”
Tác giả: Nguyễn Đức Nhật
Năm: 2009
22. Nguyễn Quang Phát (2010), “Đánh giá năng suất sinh sản của lợn nái lai F1 (Landrace x Yorkshire) phối với lợn đực Duroc, PiDu và Pietrain tại trại Việt Tiến tỉnh Bắc Giang”, Luận văn thạc sĩ Nông nghiệp - Trường Đại học Nông nghiệp I, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Đánh giá năng suất sinh sản của lợn nái lai F1 (Landrace x Yorkshire) phối với lợn đực Duroc, PiDu và Pietrain tại trại Việt Tiến tỉnh Bắc Giang”
Tác giả: Nguyễn Quang Phát
Năm: 2010
23. Trịnh Hồng Sơn, Nguyễn Quế Côi, Nguyễn Ngọc Phục, Lê Thế Tuấn, Nguyễn Thành Chung, Phan Duy Hưng (2010), “Năng suất sinh sản, các yếu tố ảnh hưởng và tương quan giữa các chi tiêu sinh sản của lợn nái VCN01 và VCN02 qua 5 thế hệ”, Tuyển tập các công trình nghiên cứu khoa học về các dòng lợn nguồn gốc PIC, Trung tâm nghiên cứu lợn Thụy Phương - Viện Chăn nuôi Sách, tạp chí
Tiêu đề: Năng suất sinh sản, các yếu tố ảnh hưởng và tương quan giữa các chi tiêu sinh sản của lợn nái VCN01 và VCN02 qua 5 thế hệ”, "Tuyển tập các công trình nghiên cứu khoa học về các dòng lợn nguồn gốc PIC
Tác giả: Trịnh Hồng Sơn, Nguyễn Quế Côi, Nguyễn Ngọc Phục, Lê Thế Tuấn, Nguyễn Thành Chung, Phan Duy Hưng
Năm: 2010

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w