Cộng đồng là một tập thể có tổ chức, bao gồm các cá nhân con người sống chung ở một địa bàn nhất định, có chung một đặc tính xã hội hoặc sinh học nào đó và cùng chia sẻ với nhau một lợi
Trang 1MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 2
1 Tính cấp thiết của đề tài 2
2 Mục đích nghiên cứu 4
3 Khách thể và đối tượng nghiên cứu 4
3.1 Khách thể nghiên cứu 4
3.2 Đối tượng nghiên cứu 4
4 Giả thuyết khoa học 5
5 Nhiệm vụ nghiên cứu 5
6 Giới hạn phạm vi nghiên cứu 5
7 Phương pháp nghiên cứu 5
7.1 Các phương pháp nghiên cứu lí luận 5
7.2 Các phương pháp nghiên cứu thực tiễn 5
7.2.1 Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi 5
7.2.2 Phương pháp phỏng vấn 6
7.2.3 Phương pháp chuyên gia 6
7.3 Phương pháp thống kê toán học 6
8 Dự kiến cấu trúc của luận văn 6
CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ HUY ĐỘNG CỘNG ĐỒNG THAM GIA CÔNG TÁC XÃ HỘI HÓA GIÁO DỤC TIỂU HỌC 7
1.1 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 7
1.1.1 Những nghiên cứu ở nước ngoài 7
1.1.2 Những nghiên cứu ở Việt Nam 8
1.2 Một số khái niệm công cụ của đề tài 9
1.2.1 Cộng đồng 9
1.2.2 Nguồn lực cộng đồng 10
1.2.3 Huy động cộng đồng 11
1.2.4 Xã hội và Xã hội hóa 11
1.2.5 Giáo dục tiểu học 13
Trang 21.2.6 Đặc điểm của giáo dục Tiểu học 15
1.3 Công tác xã hội hóa giáo dục Tiểu học 18
1.3.1.Tầm quan trọng của xã hội hóa giáo dục đối với việc nâng cao chất lượng Giáo dục tiểu học 18
1.3.2 Nội dung, chương trình XHH 19
1.3.3 Hoạt động của giáo viên trong tổ chức XHH 21
1.3.4 Tính tích cực của học sinh trong XHH 22
1.3.5 Phương pháp tổ chức XHH 23
1.3.6 Hình thức tổ chức XHH 27
1.3.7 Cơ sở vật chất phục vụ XHH 33
1.4 Huy động cộng đồng tham gia công tác xã hội hóa giáo dục Tiểu học 33
1.4.1 Mục đích, ý nghĩa của huy động cộng đồng 33
1.4.2 Nội dung của huy động cộng đồng 33
1.4.3 Huy động các lực lượng tham gia công tác Xã hội hóa giáo dục Tiểu học 34
1.5 Các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả HĐCĐ tham gia công tác Xã hội hóa giáo dục Tiểu học 35
Kết luận chương 1 37
CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG HUY ĐỘNG CỘNG ĐỒNG THAM GIA CÔNG TÁC XÃ HỘI HÓA GIÁO DỤC TIỂU HỌC QUẬN HỒNG BÀNG, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG 38
2.1 Khái quát về quận Hồng Bàng, thành phố Hải Phòng 38
2.1.1 Kinh tế- Chính trị 38
2.1.2 Dân cư 39
2.1.3 Tình hình giáo dục nói chung và giáo dục Tiểu học nói riêng 40
2.2 Khái quát về quá trình khảo sát 44
2.2.1 Mục đích khảo sát 44
2.2.2 Nội dung khảo sát 44
2.2.3 Phương pháp nghiên cứu 45
Trang 32.2.4 Địa bàn khảo sát và khách thể khảo sát 45
2.2.5 Cách xử lí số liệu khảo sát 45
2.3.Thực trạng về công tác xã hội hoá giáo dục Tiểu học ở quận Hồng Bàng, thành phố Hải Phòng 45
cần có câu hỏi trong phiếu điều tra và khai thác phiếu để có bảng số liệu đưa vào mục này trong luận văn 2.3.2 Đánh giá hoạt động của giáo viên trong tổ chức XHH 48
2.3.3 Đánh giá về tính tích cực của học sinh trong XHH 48
2.3.4 Đánh giá về hình thức tổ chức XHH 49
2.3.5 Đánh giá kết quả của XHH 50
2.4.Thực trạng HĐCĐ tham gia tổ chức XHH cho học sinh TH quận Hồng Bàng , thành phố Hải Phòng 52
Mỗi nội dung này cần có 1 cau hỏi trong phiếu phụ lcuj sau đó dùng câu hỏi đó xây dựng thành bảng số liệu và phân tích 2.4.1 Mục đích, ý nghĩa của huy động cộng đồngError! Bookmark not defined mục đích ý nghĩa huy động cộng đồng ko có trong đề cương ở chương 2 2.4.2 Nội dung của huy động cộng đồng 52
cần có só liệu chứ ko nói linh tinh, khoa học chứ ko phải sáng tác truyện viễn tưởng em nhé 2.4.2.1 Thực trạng huy động cơ sở vật chất 55
2.4.2.2 Thực trạng huy động tài chính cho xã hội hóa giáo dục 56
2.4.3 Thực trạng kết quả huy động cộng đồng tham gia công tác xã hội hóa 58
2.5 Thực trạng các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả HĐCĐ tham gia tổ chức XHH cho học sinh TH quận Hồng Bàng, thành phố Hải Phòng 60
2.6 Đánh giá chung về thực trạng 61
2.5.1 Những thành tựu 61
2.5.2 Những hạn chế 63
2.5.3 Nguyên nhân của những hạn chế 65
Trang 4Tiểu kết chương 2 66
CHƯƠNG 3 BIỆN PHÁP HUY ĐỘNG CỘNG ĐỒNG THAM GIA TỔ CHỨC XÃ HỘI HÓA CHO HỌC SINH TIỂU HỌC QUẬN HỒNG BÀNG,THÀNH PHỐ HẢI 68
3.1 Nguyên tắc đề xuất các biện pháp 68
3.1.1 Đảm bảo tính cần thiết 68
3.1.2 Đảm bảo tính khả thi Error! Bookmark not defined 3.1.3 Đảm bảo tính hệ thống Error! Bookmark not defined 3.2 Một số biện pháp HĐCĐ tham gia tổ chức XHH cho học sinh TH quận Hồng Bàng, thành phố Hải Phòng 69
3.2.1 Tổ chức tuyên truyền, nâng cao nhận thức cho các lực lượng xã hội về tầm quan trọng của việc tổ chức XHH cho học sinh TH 69
3.2.2 Tăng cường huy động các nguồn lực cộng đồng trong công tác bồi dưỡng kĩ năng tổ chức XHH cho đội ngũ giáo viên 73
3.2.4 Huy động các nguồn lực cộng đồng trong công tác hoàn thiện nội dung, chương trình, phương pháp và hình thức tổ chức XHH cho học sinh TH 74 3.4 Khảo nghiệm các biện pháp HĐCĐ tham gia tổ chức XHH cho học sinh TH quận Hồng Bàng, thành phố Hải Phòng 101
3.4.1 Những vấn đề chung về khảo nghiệm 101
3.4.1.1 Mục đích khảo nghiệm Error! Bookmark not defined 3.4.1.2 Nội dung khảo nghiệm Error! Bookmark not defined 3.4.1.5 Đánh giá kết quả khảo nghiệm 105
3.4.1.3 Đối tượng khảo nghiệm Error! Bookmark not defined 3.4.2 Phân tích kết quả khảo nghiệm Error! Bookmark not defined Kết luận chương 3 105
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 107
1 Kết luận 107
2 Khuyến nghị 109
2.1 Với Thành phố 109
2.2 Đối với Sở Giáo dục và Đào tạo 110
Trang 52.3 Đối với quận uỷ, UBND quận Hồng Bàng 110
2.4 Với cha mẹ học sinh và nhân dân 110
2.5 Với các trường tiểu học 111
PHỤ LỤC 1 112
PHỤ LỤC 2 113
PHỤ LỤC 3 116
PHỤ LỤC 4 117
PHỤ LỤC 5 119
PHỤ LỤC 6 121
PHỤ LỤC 7 123
PHỤ LỤC 8 125
Trang 6LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình học tập, nghiên cứu và thực hiện luận văn, tôi luôn nhận được
sự giúp đỡ tận tình của các thầy cô, bạn bè và đồng nghiệp
Với tình cảm chân thành, tôi xin trân trọng cảm ơn Ban giám hiệu và các thầy cô giáotrong khoa Tâm lí, khoa Sau đại học trường Đại Học Sư phạm Hà Nội
đã tận tình chỉ bảo và giúp đỡ tôi trong quá trình học tập, dìu dắt tôi những bước đi đầu tiên trên con đường nghiên cứu khoa học
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới TS Hoàng Tiến Dũng, một người thầy tận tụy, trách nhiệm đã truyền đạt cho tôi những kiến thức quý báu và hướng dẫn, giúp
đỡ tôi trong suốt quá trình hoàn thành luận văn này
Tôi cũng xin gửi lời cảm ơn chân thành đến Ban giám đốc và toàn thể các anh, chị, các bạn đồng nghiệp công tác tại Sở Giáo dục và Đào tạo Hải Phòng đã cùng chia sẻ những khó khăn và tạo điều kiện cho tôi trong quá trình học tập và nghiên cứu
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn đến các đồng chí lãnh đạo và chuyên viên các Phòng Giáo dục và Đào tạo, các trường tiểu học trên địa bàn thành phố Hải Phòng
đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi trong thời gian nghiên cứu khoa học tại trường Đại học
Sư phạm Hà Nội
Mặc dù đã nỗ lực và cố gắng nhưng chắc chắn luận văn sẽ không tránh khỏi những thiếu sót, tôi rất mong được sự chỉ bảo của các thầy giáo, cô giáo, sự góp ý chân thành của bạn bè đồng nghiệp để luận văn được bổ sung và hoàn thiện hơn
Tôi xin trân trọng cảm ơn!
Hà nội, tháng 06 năm 2017
Tác giả
Trang 7Phạm Thị Thanh Liễu
MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Giáo dục (GD) là nhu cầu không thể thiếu được của xã hội loài người
GD là một khoa học, đang trở thành một nhân tố thiết yếu và trực tiếp của nền sản xuất công nghiệp dựa trên tri thức GD là nhân tố quyết định đối với sự phát triển nhanh và bền vững của mỗi quốc gia, mỗi dân tộc Văn kiện Đại hội
X khẳng định: “Giáo dục và đào tạo cùng với khoa học và công nghệ là quốc sách hàng đầu, là nền tảng và động lực thúc đẩy công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước”[3] Cương lĩnh xây dựng đất nước thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa
xã hội (Bổ sung, phát triển 2011) được thông qua tại Đại hội XI của Đảng
nhấn mạnh: “Giáo dục và đào tạo, khoa học và công nghệ có sức mạnh nâng cao dân trí, phát triển nguồn nhân lực, bồi dưỡng nhân tài, góp phần quan trọng phát triển đất nước, xây dựng nền văn hoá và con người Việt Nam Phát triển giáo dục và đào tạo cùng với phát triển khoa học và công nghệ là quốc sách hàng đầu; đầu tư cho giáo dục và đào tạo là đầu tư phát triển”[4]
GD là sự nghiệp của toàn Đảng, Nhà nước và của toàn dân Chỉ có sự tham gia của toàn xã hội làm công tác GD thì mới đảm bảo cho GD phát triển
có chất lượng và hiệu quả cao Nói cách khác, cần làm tốt công tác XHHGD thì mới huy động được sức mạnh tổng hợp của toàn dân cùng tham gia làm
GD Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần IX của Đảng đã khẳng định: “ Đẩy mạnh xã hội hóa sự nghiệp giáo dục, đào tạo, khuyến khích mạnh mẽ các thành phần kinh tế đầu tư phát triển giáo dục ở tất cả các bậc học ”[2]
Giáo dục tiểu học (GDTH) là một bộ phận của Giáo dục phổ thông nói riêng và của hệ thống giáo dục quốc dân Tại Khoản 2, Điều 27 của Luật Giáo dục
đã nêu rõ “Giáo dục tiểu học nhằm giúp học sinh hình thành những cơ sở ban đầu cho sự phát triển đúng đắn và lâu dài về đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm
Trang 8mỹ và các kỹ năng cơ bản để học sinh tiếp tục học trung học cơ sở” [12]
Nhận thức rõ về vai trò và tầm quan trọng của GDTH, trong những năm gần đây, Đảng và Nhà nước có nhiều chủ trương, chính sách nhấn mạnh vai trò quốc sách hàng đầu của giáo dục và trong đó đặc biệt quan tâm đến GDTH, cần huy động mọi nguồn lực xã hội phát triển GDTH
Trong trường Tiểu học (TH), dạy học là một hoạt động trọng tâm, chiếm một quỹ thời gian lớn, chi phối nhiều hoạt động khác Tuy nhiên, do đặc điểm tâm lí học sinh tiểu học, trẻ có nhu cầu phát triển mạnh cả về trí tuệ, lẫn thể chất Bản chất của việc “học mà chơi, chơi mà học” vẫn là đặc điểm hết sức quan trọng và đặc trưng cho mọi hoạt động học tập, lao động, vui chơi, giải trí của các em Đây cũng là thời kì mà tư duy của trẻ đang chuyển dần từ tư duy trực quan sinh động sang tư duy trừu tượng Vì vậy, song song với việc tạo lập nền móng của kiến thức văn hóa và khoa học cho các em, chúng ta cần phải tổ chức cho trẻ sinh hoạt, vui chơi một cách lí thú, bổ ích, phù hợp với đặc điểm tâm – sinh lí lứa tuổi của các em
Làm thế nào để giúp trẻ cân bằng giữa việc học tập và vui chơi, giúp trẻ giảm bớt sự mệt mỏi, căng thẳng sau những giờ học trên lớp, tạo hứng thú trong học tập, trong tư duy, trong nghiên cứu sáng tạo, rèn luyện và phát triển thể chất, tinh thần cho học sinh…là những vấn đề đặt ra cho thực tiễn quá trình giáo dục tiểu học, đòi hỏi phải được giải quyết có kết quả Việc tổ chức tốt xã hội hóa (XHH) trong nhà trường sẽ giải quyết được những vấn đề nêu trên Bởi lẽ, đối với học sinh TH, xã hội hóa chính là một sân chơi bổ ích và lí thú nhất trong nhà trường, giúp các em vừa được học tập, ôn luyện, củng cố,
mở mang kiến thức đã học trên lớp, vừa được vui chơi, giải trí lành mạnh và được thể hiện chính mình Đây là động lực giúp các em học tốt hơn các môn học văn hóa, góp phần nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện học sinh trong nhà trường
Trang 9Chất lượng của xã hội hóa phụ thuộc vào sự quan tâm, đầu tư một cách toàn diện của các lực lượng giáo dụ ở trong và ngoài nhà trường Trong những năm qua, các trường Tiểu học quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng ngày càng chú trọng đến công tác tổ chức XHH cho học sinh, kết quả của công tác này ngày càng được cải thiện Tuy nhiên, cho đến nay, chất lượng XHH ở các trường Tiểu học trên địa bàn Quận còn nhiều bất cập Có nhiều nguyên nhân dẫn đến tình trạng này, trong đó, việc tổ chức XHH cho học sinh chưa được coi trọng đúng mức, không thường xuyên, chưa đồng bộ; chưa có những biện pháp hiệu quả trong công tác huy động các nguồn lực cộng đồng tham gia tổ chức XHH cho học sinh TH… là những nguyên nhân cơ bản Chính vì vậy, việc nghiên cứu lí luận, thực trạng và các biện pháp nâng cao hiệu quả HĐCĐ tham gia công tác giáo dục xã hội hóa cho học sinh TH là vấn đề có ý nghĩa cấp thiết hiện nay
Xuất phát từ các lí do nêu trên, chúng tôi chọn đề tài: “Huy động cộng đồng tham gia công tác Xã hội hóa giáo dục Tiểu học quận Hồng Bàng, thành phố Hải Phòng” để tiến hành nghiên cứu
2 Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu cơ sở lí luận về HĐCĐ tham gia công tác Xã hội hóa giáo dục Tiểu học ở quận Hồng Bàng thành phố Hải Phòng, trên cơ sở đó đề xuất một số biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả của hoạt động này trên địa bàn nghiên cứu
3 Khách thể và đối tượng nghiên cứu
3.1 Khách thể nghiên cứu
Công tác Xã hội hóa giáo dục Tiểu học của quận Hồng Bàng, Thành phố Hải Phòng
3.2 Đối tượng nghiên cứu
Các biện pháp HĐCĐ tham gia công tác Xã hội hóa giáo dục Tiểu học
của quận Hồng Bàng, Thành phố Hải Phòng
Trang 104 Giả thuyết khoa học
Việc HĐCĐ tham gia công tác Xã hội hóa giáo dục Tiểu học của quận Hồng Bàng, Thành phố Hải Phòng chưa thực sự đạt được kết quả như mong muốn Nếu đánh giá một cách toàn diện về thực trạng của hoạt động này, trên
cơ sở đó đề ra những biện pháp mang tính khoa học và hợp lý thì sẽ góp phần nâng cao hiệu quả của công tác này tại địa bàn nghiên cứu
5 Nhiệm vụ nghiên cứu
5.1 Hệ thống hóa những vấn đề lý luận cơ bản về HĐCĐ tham gia Công tác Xã hội hóa giáo dục Tiểu học
5.2 Khảo sát thực trạng HĐCĐ tham gia công tác Xã hội hóa giáo dục Tiểu học của quận Hồng Bàng, Thành phố Hải Phòng
5.3 Đề xuất biện pháp HĐCĐ tham gia công tác Xã hội hóa giáo dục Tiểu học của quận Hồng Bàng, Thành phố Hải Phòng
6 Giới hạn phạm vi nghiên cứu
Đề tài tập trung nghiên cứu những vấn đề về HĐCĐ tham gia Công tác
Xã hội hóa giáo dục Tiểu học của quận Hồng Bàng, Thành phố Hải Phòng trong thời gian từ năm 2011 đến năm nay
7 Phương pháp nghiên cứu
7.1 Các phương pháp nghiên cứu lí luận
Nhóm phương pháp này dùng để phân tích, tổng hợp các tài liệu có liên quan, trên cơ sở đó xây dựng cơ sở lí luận của đề tài nghiên cứu
7.2 Các phương pháp nghiên cứu thực tiễn
Nhóm phương pháp này dùng để nghiên cứu về thực trạng HĐCĐ tham gia Công tác Xã hội hóa giáo dục Tiểu học của quận Hồng Bàng, Thành phố Hải Phòng
Các phương pháp được sử dụng bao gồm:
7.2.1 Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi
Trang 11Xây dựng và sử dụng phiếu trưng cầu ý kiến để thu thập ý kiến của các chuyên gia, cán bộ quản lí, giáo viên (GV), phụ huynh về thực trạng HĐCĐ tham gia công tác Xã hội hóa giáo dục Tiểu học của quận Hồng Bàng, Thành phố Hải Phòng
7.2.2 Phương pháp phỏng vấn
Trò chuyện, phỏng vấn sâu để thu thập những ý kiến đánh giá của các chuyên gia, cán bộ quản lí, GV, phụ huynh về vấn đề HĐCĐ tham gia công tác
Xã hội hóa giáo dục Tiểu học của quận Hồng Bàng, Thành phố Hải Phòng
7.2.3 Phương pháp chuyên gia
Trực tiếp (với một số chuyên gia) hoặc gián tiếp (bằng phiếu hỏi) trao đổi những vấn đề liên quan đến đề tài nghiên cứu với các chuyên gia trong các lĩnh vực giáo dục cộng đồng Đặc biệt xin ý kiến về các biện pháp HĐCĐ tham gia công tác
Xã hội hóa giáo dục Tiểu học của quận Hồng Bàng, Thành phố Hải Phòng
7.3 Phương pháp thống kê toán học
Sử dụng các phương pháp nghiên cứu hỗ trợ nhằm xử lí những số liệu thu được từ thực trạng HĐCĐ tham gia công tác Xã hội hóa giáo dục Tiểu học của quận Hồng Bàng, Thành phố Hải Phòng Trên cơ sở đó, đưa ra những nhận xét, đánh giá, lí giải nguyên nhân, đồng thời đề xuất các biện pháp nâng cao chất lượng và hiệu quả của công tác này
Các phương pháp nghiên cứu được sử dụng bao gồm: Phương pháp sử dụng toán thống kê, phương pháp sử dụng phần mềm xử lí số liệu
8 Dự kiến cấu trúc của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, khuyến nghị, danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục, nội dung chính của luận văn được thể hiện ở 3 chương:
Chương 1 Cơ sở lí luận về HĐCĐ tham gia công tác Xã hội hóa giáo dục
Tiểu học
Chương 2 Thực trạng HĐCĐ tham gia công tác Xã hội hóa giáo dục
Tiểu học của quận Hồng Bàng, Thành phố Hải Phòng
Chương 3 Biện pháp HĐCĐ tham gia công tác Xã hội hóa giáo dục
Tiểu học của quận Hồng Bàng, Thành phố Hải Phòng
Trang 12CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ HUY ĐỘNG CỘNG ĐỒNG THAM GIA
CÔNG TÁC XÃ HỘI HÓA GIÁO DỤC TIỂU HỌC
1.1 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
1.1.1 Những nghiên cứu ở nước ngoài
Các nước trên thế giới đã đi trước Việt Nam trong công tác xã hội hoá giáo dục, ở Trung Quốc và Liên bang Nga cũng như ở Việt Nam có các mô hình sau:
Các trường Tiểu học được thành lập do Nhà nước bảo trợ như giúp đỡ về
cơ sở vật chất, trang thiết bị đến khi có thể tự mua sắm Trường thành lập do các
cá nhân hay các tổ chức phối hợp với các cơ quan, xí nghiệp, Nhà nước đầu tư tài chính Hình thức trường do các cổ đông góp vốn thành lập Nước cộng hoà nhân dân Trung Hoa từ năm 1985 đã quyết định cải cách thể chế giáo dục, phát động toàn xã hội đóng góp cho giáo dục và lập quĩ khen thưởng cho giáo viên, nhà trẻ, mẫu giáo Nguồn thu này tương đương 28% ngân sách đầu tư chung cho giáo dục Ấn Độ đóng góp dưới các hình thức học bổng, tặng quà, xây dựng quĩ bảo trợ Có lúc ở Ấn Độ 80% kinh phí giáo dục từ các nguồn này Vì vậy kinh tế Ấn Độ rất phát triển, nước này hoàn thành cuộc cách mạng xanh, xây dựng nền khoa học công nghệ tiên tiến trên thế giới Một số nước tăng cường phát triển giáo dục tư nhân, mở các trường tư thục, giảm sức ép cho Nhà nước Theo thống kê của tổ chức khoa giáo Liên hiệp quốc đa số học sinh ở các nước đang phát triển theo học ở trường tư: Philippin có 86%, Hàn Quốc 75%, Pakistan 70%, Ấn Độ 60%
Ngay nước Mĩ, một nước có nền kinh tế phát triển mạnh nhất trên thế giới
có các trường tư thục chất lượng đặc biệt cao Tại các trường này nguồn kinh phí chủ yếu do học sinh đóng góp Trên thế giới mô hình các trường loại này nhiều nhất là tại Anh và Mĩ
Ở một số nước trong khu vực Châu Á - Thái Bình Dương, các nước ở Châu Mĩ la tinh như Brazil, Colombia có tổ chức hội phụ huynh - giáo viên tạo điều kiện cho phụ huynh và cộng đồng tham gia vào công việc giáo dục con
Trang 13em ở địa phương, thông qua việc cung cấp thông tin, đóng góp ý kiến và giúp phương tiện cho giáo viên, nhà trường làm công tác giáo dục Tại In-đô-nê-xi-a trong những năm 1990 đã có diễn đàn cộng đồng về giáo dục với sự giúp đỡ của UNESCO và UNDP Mục đích tìm biện pháp sử dụng nguồn lực gồm nhiều loại của cộng đồng thông qua việc cộng đồng tham gia vào việc lập kế hoạch và quản lí các trường tiểu học và trung học nhằm cải thiện chất lượng giáo dục Trung Quốc khuyến khích các nhà máy, xí nghiệp mở trường Sự tham gia này
là sự đóng góp rất lớn đối với sự phát triển giáo dục Các lực lượng xã hội trở thành lực lượng quan trọng cùng với ngành giáo dục tạo nên thế và lực mới cho giáo dục Sự đóng góp của lĩnh vực tư vào giáo dục giữa các nước cũng rất khác nhau Một số quốc gia Chân Âu, sự đóng góp của người dân đối với giáo dục đại học (các nước OECD) trung bình khoảng 22%, trong khi đó Pháp 16.3%, Hàn Quốc lên đến 76.1%, Nhật Bản 60.3% và Hoa Kì là 57.2% (năm 2003)
Do vậy, những ý kiến khác nhau và lý giải khác nhau về xã hội hoá giáo dục của những người sống trong các xã hội khác nhau, hoàn cảnh lịch sử khác nhau cần xem là một việc bình thường
Qua tìm hiểu sơ bộ kinh nghiệm xã hội hoá giáo dục của một số quốc gia nêu trên, chúng tôi nhận thấy các quốc gia đó vận dụng sáng tạo xã hội hoá giáo dục vào tình hình cụ thể của mình Cách khai thác nguồn lực rất phong phú, rất linh hoạt tạo ra những bước tiến nhảy vọt trong giáo dục Có những quốc gia từ điều kiện hoàn cảnh rất khó khăn, nhờ huy động tốt nguồn lực cho giáo dục mà chất lượng giáo dục chuyển biến rõ nét so với trước và trở thành quốc gia có nền giáo dục phát triển mạnh trên thế giới Từ kinh nghiệm, cách làm của các quốc gia trên, Việt Nam có thể vận dụng vào tình hình cụ thể của mình để từng bước cải thiện và nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo
1.1.2 Những nghiên cứu ở Việt Nam
Sơ bộ có thể thấy: về vấn đề xã hội hoá giáo dục đã được đề cập đến từ
lâu và có nhiều tác giả nghiên cứu ở mức độ chung cũng như ở từng khía cạnh của vấn đề xã hội hoá giáo dục và các khái niệm có liên quan như: bàn về khái
Trang 14niệm xã hội hoá, nguồn lực xã hội, nội dung, mục tiêu, bản chất, chức năng xã hội hoá giáo dục, vai trò của cộng đồng xã hội với giáo dục và quản lý giáo dục,
cơ sở của xã hội hoá, mức độ xã hội hoá giáo dục cho từng cấp học.Trong đó, phải kể đến một số tác giả tiêu biểu như: Bùi Gia Thịnh - Võ Tấn Quang - Nguyễn Thanh Bình, Lê Ngọc Hùng, Phạm Minh Hạc, Đặng Xuân Hải, Trần Kiểm, Hồng Lê Thọ, Trần Kiều Phạm Tất Dong, Vũ Ngọc Hải Tuy nhiên, Chưa có công trình nào nghiên cứu về vấn đề huy động cộng đồng vào công tác
xã hội háo ở một cấp học cụ thể
1.2 Một số khái niệm công cụ của đề tài
1.2.1 Cộng đồng
Cộng đồng là một nhóm xã hội của các cơ thể sống chung trong cùng
một môi trường thường là có cùng các mối quan tâm chung Trong cộng đồng
người đó là kế hoạch, niềm tin, các mối ưu tiên, nhu cầu, nguy cơ và một số điều kiện khác có thể có và cùng ảnh hưởng đến đặc trưng và sự thống nhất của các thành viên trong cộng đồng Theo Fichter cộng đồng bao gồm 4 yếu tố sau:
(1) tương quan cá nhân mật thiết với nhau, mặt đối mặt, thẳng thắn chân tình, trên cơ sở các nhóm nhỏ kiểm soát các mối quan hệ cá nhân;
(2) có sự liên hệ chặt chẽ với nhau về tình cảm, cảm xúc khi cá nhân thực hiện được các công việc hoặc nhiệm vụ cụ thể;
(3) có sự hiến dâng về mặt tinh thần hoặc dấn thân thực hiện các giá trị xã hội được cả xã hội ngưỡng mộ;
(4) có ý thức đoàn kết tập thể Cộng đồng được hình thành trên cơ sở các mối liên hệ giữa cá nhân và tập thể dựa trên cơ sở tình cảm là chủ yếu; ngoài ra còn có các mối liên hệ tình cảm khác Cộng đồng có sự liên kết cố kết nội tại không phải do các quy tắc rõ ràng thành văn, mà do các quan hệ sâu hơn, được coi như kà một hằng số văn hóa
Trang 15Cộng đồng là một tập thể có tổ chức, bao gồm các cá nhân con người sống chung ở một địa bàn nhất định, có chung một đặc tính xã hội hoặc sinh học nào đó và cùng chia sẻ với nhau một lợi ích vật chất hoặc
tinh thần nào đấy” (Trung tâm Nghiên cứu và Tập huấn PTCĐ)
“Cộng đồng là tập thể người sống trong cùng một khu vực, một tình hoặc một quốc gia và được xem như một khối thống nhất”; “Cộng đồng là một nhóm người có cùng tín ngưỡng, chủng tộc, cùng loại hình nghề nghiệp, hoặc cùng mối quan tâm”; “Cộng đồng là một tập thể cùng chia sẻ, hoặc có tài nguyê chung, hoặc có tình trạng tương tự nhau về một số khía cạnh nào đó” (Tự điển Đại học Oxford)
Trong phạm v luận văn này Khái niệm cộng đồng được hiểu là các tổ
chức xã hội tham gia công tác XXH giáo dục nhằm năng cao chất lượng GDTH
1.2.2 Nguồn lực cộng đồng
- Phát triển cộng đồng là một diễn tiến qua đó cộng đồng nhận rõ nhu
cầu hoặc mục tiêu phát triển của cộng đồng; biết sắp xếp ưu tiên các nhu cầu vì mục tiêu này; phát huy sự tự tin và ý muốn thực hiện chúng; biết tìm đến tài nguyên bên trong và ngoài cộng đồng để đáp ứng chúng, thông qua đó sẽ phát huy những thái độ và kỹ năng hợp tác trong cộng đồng
Căn cứ vào tính chất, hình thức biểu hiện có thể phân biệt hai loại nguồn lực sau đây:
- Nguồn lực vật chất: Như quỹ đất, vị thế địa lý, cơ sở hạ tầng, các nguồn vốn tài chính, các nguyên vật liệu và các tiềm năng kinh tế
- Nguồn lực phi vật chất: Bao gồm có con người, sự vững mạnh và ổn định của hệ thống chính trị, những thành quả về kinh tế, chính trị văn hoá xã hội
và giáo dục, những chủ trương giải pháp, sự đồng tình ủng hộ của người dân, các tổ chức đoàn thể với giáo dục, trình độ nhận thức dân trí, kho tàng quý báu
về kinh nghiệm làm giáo dục
- Nguồn lực tài chính: Các nguồn lực tài chính cho giáo dục & đào tạo
Trang 16được tạo ra từ việc phân phối và phân phối lại tổng sản phẩm quốc dân, chủ yếu được phân phối từ quỹ tích luỹ và quỹ tiêu dùng
1.2.3 Huy động cộng đồng
Huy động cộng đồng là quá trình huy động các cá nhân và tập thể (không
phân biệt giai tầng, ý thức hệ, khoảng cách địa lí …) bằng nhiều giải pháp và cách thức khác nhau, để thu hút và kéo các nguồn lực xã hội ấy về với giáo dục, đồng thời thúc đẩy phát triển của sự nghiệp giáo dục & đào tạo ở từng cơ sở và từng địa phương nhằm thực hiện được mục tiêu xã hội hoá giáo dục
Huy động cộng đồng tham gia xây dựng trường tiểu học (TTH) đạt chuẩn quốc gia chính là quá trình huy động các cá nhân và tập thể (không phân biệt giai tầng, ý thức hệ, khoảng cách địa lí …) bằng nhiều giải pháp và cách thức khác nhau, để thu hút và kéo các nguồn lực xã hội ấy để “chuẩn hoá” giáo dục tiểu học
1.2.4 Xã hội và Xã hội hóa
Xã hội là một khái niệm đa nghĩa, phân tán theo bề rộng lẫn bề sâu
*Theo từ điển xã hội học thì:
Xã hội (hiểu theo nghĩa tổng quát): Là sự gắn bó (theo nghĩa chung cả về
không gian và thời gian) của một tập hợp các thực thể sống cùng loại và chia sẻ cùng một quan hệ sống (thực vật, động vật, con người)
Xã hội (hiểu theo nghĩa hẹp hơn và chỉ nói tới con người): Một tập hợp
được giới hạn và không gian, thời gian hoặc xã hội và đồng thời có sắp xếp của
cá nhân hoặc nhóm cá nhân, những người gắn bó với nhau trong các quan hệ tương tác trực tiếp và gián tiếp
Giữa giáo dục và xã hội có quan hệ mật thiết với nhau Giáo dục bắt nguồn từ đời sống xã hội, có bản chất xã hội Xuất phát từ cuộc sống lao động sản xuất, con người có nhu cầu truyền đạt và lĩnh hội những kinh nghiệm đã được tích luỹ trong quá trình lịch sử phát triển của xã hội loài người Giáo dục phục vụ cho xã hội Mỗi triều đại có một nền giáo dục đặc thù, phản ánh thực tiễn xã hội, đồng thời phục vụ quyền lợi cho chính xã hội đó, giai cấp đó Giáo
Trang 17dục được coi là công cụ, là phương tiện để cải biến xã hội Giáo dục vừa là mục tiêu, vừa là động lực của sự phát triển xã hội Khi xã hội phát triển sẽ lại tác động trở lại giáo dục, thúc đẩy giáo dục phát triển và đòi hỏi giáo dục phải có sự điều chỉnh cho phù hợp với sự phát triển của xã hội, của đất nước
Xã hội muốn duy trì, phát triển phải thực hiện chức năng giáo dục Đó là chức năng không thể thiếu và không bao giờ mất của giáo dục Nhờ có giáo dục các thế hệ sau tiếp tục duy trì, đẩy mạnh lao động sản xuất và các hoạt động khác Giáo dục sáng tạo ra khoa học công nghệ, đồng thời giáo dục lại luôn được hưởng thành tựu của khoa học công nghệ Người ta ví giáo dục là vầng trán của cộng đồng, sự tiến bộ văn minh của cộng đồng chính do giáo dục mang lại Cộng đồng là trái tim của giáo dục, dòng máu từ trái tim nuôi dưỡng giáo dục Giáo dục
xa rời xã hội, tách khỏi cộng đồng thì giáo dục trở nên vô nghĩa [18]
Từ phân tích trên có thể hiểu “Xã hội (hiểu theo cách đơn giản) là cộng
đồng những người cùng chung sống trên một lãnh thổ nhất định Cộng đồng xã hội là tập hợp những người có chung một nền văn hóa, một phương thức sản xuất và sinh hoạt với những dấu hiệu nhận biết là ngôn ngữ (gồm tiếng nói và
chữ viết), cách ăn mặc, cách ứng xử giao tiếp và các phương tiện sản xuất
Xã hội hóa
“Xã hội hoá” là một thuật ngữ chuyên dùng của xã hội học (socialization) còn có nghĩa là sự xã hội hoá có gốc từ social: xã hội và sociology: xã hội học; điều đó có nghĩa nhằm chỉ quá trình con người trở thành con người xã hội khi được nuôi dưỡng trong những thiết chế xã hội, khởi đầu từ gia đình, một thiết chế xã hội đặc thù, và tiếp đó là các thiết chế xã hội khác
Theo quan điểm xã hội học thì “Xã hội hoá là quá trình tương tác, lan toả các chuẩn mực, các giá trị, các khung mẫu, hành vi xã hội giữa các cá thể và các nhóm xã hội”[32,tr571] Như vậy, ta có thể hiểu xã hội hoá một lĩnh vực nào đó,
là quá trình tương tác, lan tỏa các chuẩn mực, các giá trị, các khung mẫu, hành vi
xã hội giữa các cá thể và các nhóm xã hội trên lĩnh vực đó Làm sao cho nội dung, thành quả của lĩnh vực đó phải lan tỏa và thấm sâu đến từng người dân và
Trang 18toàn xã hội, làm cho mọi người, mọi nhà hiểu và tích cực tham gia đóng góp xây dựng cho lĩnh vực đó ngày càng phát triển, kể cả vật chất và tinh thần, đồng thời họ cũng được thụ hưởng thành quả từ lĩnh vực đó mang lại Một khi họ đã hiểu, đã được hưởng quyền lợi ở một lĩnh vực nào đó, thì họ sẽ có trách nhiệm tham gia đóng góp sức lực trí tuệ làm cho lĩnh vực đó ngày một tốt hơn lên
1.2.5 Giáo dục tiểu học
Điều 2 của Luật phổ cập giáo dục tiểu học qui định: ” Giáo dục tiểu học
là bậc học nền tảng của hệ thống giáo dục quốc dân, có nhiệm vụ xây dựng và phát triển tình cảm, đạo đức, trí tuệ, thẩm mĩ và thể chất của các em, nhằm hình thành cơ sở ban đầu cho sự phát triển toàn diện nhân cách con người Việt Nam
xã hội chủ nghĩa” [21, điều 2]
Điều 2 của Điều lệ trường tiểu học (Ban hành kèm theo Quyết định số 51/2007/QĐ-BGDĐTngày 31 tháng 8 năm 2007 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo) đã xác định vị trí của trường tiểu học là: “Trường tiểu học là cơ sở giáo dục phổ thông của hệ thống giáo dục quốc dân, có tư cách pháp nhân, có tài khoản và con dấu riêng”
Trường tiểu học được tổ chức theo hai loại hình : công lập và tư thục
- Trường tiểu học công lập do Nhà nước thành lập, đầu tư xây dựng CSVC, bảo đảm kinh phí cho các nhiệm vụ chi thường xuyên;
- Trường tiểu học tư thục do các tổ chức xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp, tổ chức kinh tế hoặc cá nhân thành lập, đầu tư xây dựng CSVC và bảo đảm kinh phí hoạt động bằng vốn ngoài ngân sách Nhà nước [ 21,điều 2]
Điểm 2, điều 27 của Luật Giáo dục (2005) quy định: "Giáo dục tiểu học nhằm giúp học sinh hình thành những cơ sở ban đầu cho sự phát triển đúng đắn
và lâu dài về đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mỹ và các kỹ năng cơ bản để học sinh tiếp tục học trung học cơ sở"[ 21,điều 27]
Chiến lược phát triển giáo dục 2001-2010 khẳng định giáo dục phổ thông như sau: "Thực hiện giáo dục toàn diện về đức, trí, thể, mỹ Cung cấp học vấn phổ thông cơ bản, hệ thống và có tính hướng nghiệp; tiếp cận trình độ các nước
Trang 19phát triển trong khu vực Xây dựng thái độ học tập đúng đắn, phương pháp học tập chủ động, tích cực, sáng tạo; lòng ham học, ham hiểu biết, năng lực tự học, năng lực vận dụng kiến thức vào cuộc sống" [4] Đối với cấp tiểu học: "Phát triển những đặc tính tự nhiên tốt đẹp của trẻ em, hình thành ở học sinh lòng ham hiểu biết và những đức tính, kỹ năng cơ bản đầu tiên để tạo hứng thú học tập và học tập tốt Củng cố và nâng cao thành quả phổ cập giáo dục tiểu học trong cả nước Tăng tỷ lệ huy động học sinh trong độ tuổi đến trường từ 95% năm 2000 lên 97% năm 2005 và 99% năm 2010"[4]
Xã hội hóa giáo dục
Xã hội hóa là việc huy động toàn xã hội làm giáo dục, động viên các
tầng lớp nhân dân góp phần xây dựng nền giáo dục dưới sự quản lý của Nhà nước.” (Văn kiện hội nghị lần 4, Ban chấp hành Trung ương khóa VII, ) [1]
Xã hội hóa giáo dục là vận động toàn xã hội tham gia vào sự nghiệp quá trình xây dựng nền giáo dục hiện đại dưới sự quản lý của nhà nước để phục vụ cho sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, nâng cao mức hưởng thụ giáo dục của nhân dân
XHH giáo dục là xây dựng cộng đồng trách nhiệm của các tầng lớp nhân dân, các tổ chức kinh tế, chính trị xã hội đối với việc tạo lập và cải thiện môi trường kinh tế, xã hội lành mạnh và thuận lợi cho các hoạt động giáo dục Đa dạng hóa các hình thức hoạt động giáo dục – đào tạo, mở rộng các cơ hội cho các tầng lớp nhân dân tham gia chủ động và bình đẳng vào các hoạt động giáo dục Mở rộng nguồn đầu tư, khai thác các tiềm năng về nguồn nhân lực, vật lực
và tài lực trong xã hội Phát huy có hiệu quả các nguồn lực tạo điều kiện cho các hoạt động giáo dục – đào tạo phát triển nhanh có chất lượng cao hơn
Xã hội hóa giáo dục gồm 2 thành phần chính:
- Xây dựng một xã hội học tập trong đó mọi người học tập thường xuyên, học tập suốt đời
- Vận động toàn xã hội tham gia đóng góp cho giáo dục
Lợi ích của xã hội hóa giáo dục:
Trang 20- Xã hội hóa giáo dục là một tư tưởng chiến lược về giáo dục, chỉ đạo quá trình xây dựng và phát triển giáo dục nhằm tạo sự chuyển biến sâu sắc, có tính cách mạng trong hoạt động thực tiễn, biến hoạt động giáo dục mang tính chuyên biệt (chuyên môn và nghiệp vụ) trong một lĩnh vực, một thiết chế giáo (ngành giáo dục), trở thành một hoạt động học tập rộng lớn và sâu sắc bắt rễ vào các lĩnh vực đời sống vật chất, tinh thần của xã hội để đảm bảo cho giáo dục là sự nghiệp của toàn Đảng, toàn dân và toàn xã hội
- Tạo ra một phong trào học tập sâu rộng trong xã hội dưới nhiều hình thức, thực hiện học tập suốt đời để người dân làm việc tốt hơn, thu nhập cao hơn, cuộc sống tốt đẹp hơn, làm cho Việt Nam trở thành một xã hội học tập
- Xã hội hóa giáo dục sẽ phát huy mọi tiềm năng trong xã hội về vật chất, trí tuệ, khoa học kĩ thuật, huy động sự tham gia của toàn xã hội vào sự nghiệp giáo dục với các mức độ khác nhau giúp giáo dục đạt quy mô rộng, tốc độ lớn, chất lượng cao đáp ứng nhu cầu phát triển và tiến bộ giáo dục
+ Thực hiện xã hội hóa giáo dục là một giải pháp quan trọng để thực hiện chính sách công bằng xã hội trong chiến lược kinh tế – xã hội của Đảng và nhà nước Công bằng không chỉ trong việc hưởng thụ (Người dân được Nhà nước và
xã hội chăm lo) mà còn trong việc đóng góp, cống hiến cho xã hội theo khả năng thực tế của từng người, từng địa phương
1.2.6 Đặc điểm của giáo dục Tiểu học
1 Quá trình GD tiểu học nối tiếp quá trình GD mầm non và mở đầu cho quá trình GD ở phổ thông
Quá trình GD tiểu học phải tính đến quá trình GD ở Mẫu giáo, duy trì và phát triển những mặt hiểu biết, thái độ, hành vi và thói quen nói riêng, những nét nhân cách nói chung đã được hình thành ở các em Trước khi vào tiểu học những kỹ năng, hành vi thói quen đã được hình thành ở các em chủ yếu dựa trên
sự bắt chước, kinh nghiệm và vốn sống của học sinh còn nghèo nàn, khả năng thích ứng với các hoạt động GD được tổ chức một cách chặt chẽ còn rất hạn chế, năng lực nhận thức còn thấp Khi bước vào quá trình giáo dục tiểu học, học
Trang 21sinh phải tham gia nhiều hoạt dộng khác nhau, thực hiện các nội quy, quy định của trường lớp…
Quá trính giáo dục tiểu học mở đầu cho quá trình GD trong nhà trường phổ thông, tiếp nối quá trình GD tiểu học là quá trình GD phổ thông cơ sở, quá trình GD tiểu học phải xây dựng ở Hs phổ thông những cơ sở quan trọng của nhân cách người công dân người lao dộng tương lai
2 Quá trình GD tiểu học diễn ra dưới tác động phức hợp, và có những tính chất sau:
a Tính chất:
- Tính tích cực và tính tiêu cực:
Tính tích cực: là những tác động gây được ảnh hưởng tốt, thuận lợi cho việc GD hs tiểu học hình thành những hành vi và thói quen phù hợp với chuẩn mực
Tính tiêu cực gây ra những ảnh hưởng xấu, khộng thuận lợi cho quá trình GD trẻ em
- Tính trực tiếp và tính gián tiếp:
Tính trực tiếp: chúng nhằm thẳng vào đối tượng học sinh tiểu học
Tính gián tiếp: chúng ảnh hưởng tới HS tiểu học thông quan những đối tượng khác
- Tính đan kết vào nhau:
Tính chất của các tác động thể hiện ở chổ chúng xảy ra đồng thời, tác động lẫn nhau tạo ra sự cộng hưởng tích cực và cộng hưởng tiêu cực cùng tác động đến học sinh
b Trong quá trình GD tiểu học GV cần lưu ý:
Trang 22- Xem xét những tác động thường gặp có thể gây ảnh hưởng tới HS, xác định những tác động tích cực và tiêu cực
3 Quá trình GD tiểu học có tính lâu dài:
Quá trình GD tiểu học, muốn đạt được kết quả thì cần phải trải qua một thời gian lâu dài Kết quả mong muốn của HS qua quá trình GD thể hiện qua việc học sinh đồng thời hình thành được cả ý thức, thái độ, tình cảm, kỹ năng, hành vi,… Và cần một thời gian dài để đạt được kết quả đó Khi học sinh có ý thức tự giác thì các em phải có những tri thức cần thiết và niềm tin tương ứng, việc hình thành niềm tin phải đòi hỏi HS có trải nghiệm cuộc sống Cũng như vậy để có thái độ, tình cảm đúng đắn và đăc biệt là kỹ năng, thói quen thì cần thời gain dài để học sinh thực hiện, rèn luyện lâu dài, thường xuyên, liên tục trong mọi tình huống tron quá trình học sinh phải tiến hành một cuộc đấ tranh bản thân, giữa động cơ dúng và động cơ sai, giữa những quan niệm, niềm tin, tình cảm cũ và mới Bên cạnh đó những kết quả đạt được cần phải được củng
cố Khắc sâu thì mới trở nên bền vững Trong quá trình GD cũng cho thây rằng cón những HS có những hành vi, thói quen xấu thường tồn tại dai dẳng, việc khắc phuc5v chúng không phải là dẽ dàng
4 Quá trình GD tiểu học thống nhất biện chứng với quá trình dạy học tiểu học
Hai quá trình này khộng tách rời nhau mà thống nhất biện chứng với nhau
Trang 23+ Đều có sự thaqm gia của Hs và GV
+ Đều có cơ sở quản lý chung
- Sự biện chứng:
+ Dạy học là con đường cơ bản thực hiện con đường GD tiểu học
+ Kết quả dạy học là cơ sơ điều kiện để tổ chức HĐ cho HS tham gia + Quá trình dạy học định hướng cho việc tổ chức các HĐGD
+ QTDH cung cấp những kiến thức cần thiết làm nội dung cho các HĐGD
+ Kết quả GD ảnh hưởng mạnh mẽ đến chất lượngg và hiệu quả DH + Tổ chức HĐGD có tác dụng củng cố khắc sâu kiến thức
1.3 Công tác xã hội hóa giáo dục Tiểu học
1.3.1.Tầm quan trọng của xã hội hóa giáo dục đối với việc nâng cao chất lượng Giáo dục tiểu học
- Trước hết làm cho xã hội nhận thức đúng đắn vị trí, vai trò của Giáo dục
- Đào tạo trong quá trình xây dựng và phát triển đất nước nói chung, cũng như trong phát triển kinh tế - xã hội của mỗi địa phương, mỗi gia đình và toàn cộng đồng Trên cơ sở đó hình thành hệ tư tưởng xã hội về Giáo dục - Đào tạo theo quan điểm, đường lối của Đảng, coi “Giáo dục là quốc sách hàng đầu, đầu tư cho giáo dục là đầu tư cho phát triển”
- Xã hội hoá giáo dục là tạo nhiều nguồn lực cùng tham gia xây dựng và phát triển giáo dục, trước hết là nguồn lực con người Giáo dục không còn bó hẹp trong thế đơn độc của nhà trường mà có sự cộng đồng trách nhiệm của toàn xã hội, đặc biệt trong giáo dục đạo đức và rèn luyện ý thức công dân cho học sinh
- Xã hội hoá giáo dục là nhằm thực hiện phương châm giáo dục cho mọi người Trên cơ sở khai thác và phát huy tối đa các điều kiện và khả năng đáp ứng của xã hội cho giáo dục, vận động mọi thành viên trong cộng đồng, không phân biệt thành phần, lứa tuổi, vùng miền… tham gia học tập; học ở nhà trường, học ở gia đình, học ở ngoài xã hội thông qua các hình thức chính quy, không
Trang 24chính quy nhằm đáp ứng yêu cầu: học để biết, học để làm, học để chung sống,
để xây dựng sự phồn vinh của quốc gia, dân tộc
- Xã hội hoá giáo dục đồng thời là chủ trương và giải pháp nhằm thực hiện có hiệu quả cuộc vận động dân chủ hoá trong Giáo dục - Đào tạo Khi mà giáo dục không còn bó hẹp trong giới hạn trách nhiệm của nhà trường, vai trò của các cấp uỷ Đảng, chính quyền, đoàn thể và các tổ chức quần chúng khác có ảnh hưởng nhất định đối với giáo dục, thì sự tham gia quản lý của các tổ chức đoàn thể quần chúng, các lực lượng xã hội sẽ tạo điều kiện đẩy mạnh không khí dân chủ trong giáo dục, tạo thêm động lực để nâng cao chất lượng giáo dục trong các nhà trường, những hạn chế, tiêu cực trong giáo dục cũng được hạn chế, môi trường giáo dục trở nên lành mạnh và trong sạch hơn
Xã hội hoá giáo dục góp phần thực hiện mục tiêu giáo dục là đào tạo con người phát triển toàn diện Muốn vậy cần có sự tham gia trực tiếp hoặc gián tiếp của gia đình và các lực lượng xã hội vào việc tạo ra môi trường thuận lợi cho giáo dục, hoàn thiện nội dung và phương pháp giáo dục, cải tiến công tác quản
lý giáo dục Đồng thời làm cho mọi người dân trong cộng đồng nắm được những thông tin về giáo dục để họ có thể đòi hỏi quyền lợi chính đáng của mình
và hưởng thụ một nền giáo dục có chất lượng, có thể tham gia ý kiến, đóng góp công sức, trí tuệ, tiền của cho giáo dục
1.3.2 Nội dung, chương trình XHH
Nghị quyết số 05/2005/NQ-CP ngày 18/4/2005 của Chính phủ về việc mạnh XHH các hoạt động giáo dục, y tế, văn hoá và thể dục thể thao, có 5 nội dung cơ bản như sau:
Giáo dục cho mọi người
Là các hình thức, nội dung, biện pháp tuyên truyền vận động toàn dân tham gia học tập, học thường xuyên, học suốt đời, học bằng mọi hình thức, học
để trang bị những tri thức cần thiết cho cuộc sống, để làm việc tốt hơn, tạo ra khả năng thu nhập cao hơn, đảm bảo có cuộc sống tốt đẹp hơn và tham gia vào sự nghiệp xây dựng và phát triển quê hương, đất nước Như vậy, giáo dục cho mọi
Trang 25người là tạo lập phong trào học tập sâu rộng trong cộng đồng xã hội, làm cho xã hội ta trở thành một xã hội học tập
Huy động cộng đồng tham gia phát triển giáo dục
Là xây dựng môi trường giáo dục lành mạnh mà mỗi người đều tự ý thức
và xác định được trách nhiệm của mình trong việc tham gia, chăm sóc, giáo dục thế hệ tương lai của đất nước; xoá bỏ quan niệm cho rằng việc đào tạo con người là thuộc trách nhiệm của nhà trường, của đội ngũ những người thầy Huy động cộng đồng tham gia phát triển giáo dục thực chất là thực hiện tốt nguyên
lý 3 môi trường giáo dục: Giáo dục nhà trường, giáo dục gia đình và giáo dục xã hội, tạo lập một không gian khép kín trong hoạt động giáo dục
Đa dạng hoá loại hình
Là mở rộng các loại hình trường lớp, các hình thức đào tạo, hình thức học tập Bên cạnh hệ thống trường học công lập được xây dựng và phát triển ổn định gần một nửa thế kỷ qua, phát triển thêm các loại hình trường ngoài công lập, bao gồm trường bán công, dân lập, tư thục ở tất cả các ngành học, bậc học, từ giáo dục Mầm non đến Cao đẳng và Đại học Mặt khác, để đáp ứng nhu cầu học tập ngày càng cao của xã hội, đa dạng hoá loại hình trường lớp còn là việc hình thành hệ thống các trung tâm, bao gồm các trung tâm giáo dục thường xuyên, trung tâm dạy nghề, trung tâm giáo dục kỹ thuật tổng hợp - hướng nghiệp - dạy nghề, trung tâm đào tạo, bồi dưỡng theo chuyên ngành (ngoại ngữ, tin học, điện tử viễn thông…), đặc biệt gần đây là sự ra đời của các trung tâm học tập cộng đồng cấp xã, phường
Đa dạng hoá loại hình trường lớp cũng có nghĩa là đa dạng hoá các hình thức học tập của người học: học theo hình thức chính quy, tập trung, học bổ túc, tại chức, học từ xa, học theo nhóm chuyên đề…
Đa phương hoá nguồn lực
Là việc mở rộng nguồn đầu tư cho phát triển giáo dục Bên cạnh nguồn ngân sách chủ yếu của Nhà nước, giáo dục có thể tranh thủ sự đầu tư hỗ trợ của các cơ quan kinh tế, các tổ chức xã hội, đoàn thể quần chúng, các cá nhân và cả cộng đồng về nhân lực, vật lực, tài lực, góp phần xây dựng cơ sở vật chất trường
Trang 26lớp, cung cấp trang thiết bị phục vụ dạy và học Mặt khác, đa phương hoá nguồn lực còn là việc thu hút sự tham gia công tác, quản lý của một bộ phận lao động không nhỏ bao gồm các nhà quản lý giáo dục, các thầy cô giáo đã nghỉ hưu, các nhà đầu tư… xây dựng bầu không khí dân chủ, năng động và hiệu quả trong các lĩnh vực hoạt động của giáo dục
Nguồn lực tài chính theo hướng đa phương hoá có thể được phân loại như sau:
- Nguồn ngân sách của Nhà nước
- Nguồn ngân sách của địa phương
- Nguồn đóng góp của cha mẹ học sinh và người học
- Nguồn đóng góp của các doanh nghiệp, các cơ sở sản xuất
- Nguồn đóng góp của các tổ chức phi Chính phủ
- Nguồn tài chính của cá nhân đầu tư cho giáo dục
- Nguồn đóng góp của các nhà từ thiện, các nhà hảo tâm, các tôn giáo
- Nguồn đóng góp từ các hiệp hội thông qua các quỹ học bổng
Thể chế hoá chính sách
Là xây dựng hệ thống các văn bản pháp quy về mọi lĩnh vực liên quan đến Giáo dục - Đào tạo, bao gồm các Nghị quyết, Chỉ thị, Nghị định, Điều lệ, Quy chế, Quyết định … của Đảng và Nhà nước, của địa phương Hệ thống văn bản này chính là hành lang pháp lý, là những trụ cột để Giáo dục - Đào tạo phát triển Hệ thống chính sách phải mang tính đồng bộ, khoa học, tránh chồng chéo giữa văn bản trước với văn bản sau, giữa chính sách của Nhà nước với chính sách của địa phương
Chính sách về xã hội hoá giáo dục cũng cần thiết phải có quy định cụ thể của Nhà nước nhằm tránh những cách làm tùy tiện, lợi dụng, dẫn đến những vi phạm, nhất là trong việc huy động các nguồn lực tài chính
1.3.3 Hoạt động của giáo viên trong tổ chức XHH
Là lực lượng chính trong nhà trường thực thi các nhiệm vụ mà Nhà nước giao phó thông qua sự phân công của hiệu trưởng Đồng thời họ là người trực
Trang 27tiếp là các đầu mối quan trọng triển khai các nội dung, các yêu cầu của nhà trường đến với học sinh và đến với CMHS Họ vừa là đối tượng tiếp nhận lĩnh hội, đối tượng tác động của hiệu trưởng, là những hạt nhân quan trọng tham gia vào quá trình giáo dục và HĐCĐ, tạo ra sức hút của nhà trường để thu hút các nguồn lực xã hội, vai trò của giáo viên vô cùng quan trọng trong quá trình thực hiện nhiệm vụ giáo dục và HĐCĐ Giáo viên là những người có vốn tri thức, có trình độ sư phạm, có phẩm chất đạo đức, có đủ khả năng để đáp ứng nhu cầu của xã hội về giáo dục Chất lượng và uy tín của nhà truờng phần lớn do giáo viên tạo dựng Những giáo viên giỏi, có uy tín chính bản thân họ đã tạo ra uy tín
và sức hút cho nhà trường Thường là những trường có nhiều giáo viên giỏi thì học sinh vào đó rất đông và họ cũng sẵn sàng ủng hộ nhà trường cả về vật chất lẫn tinh thần Bản thân họ có mối quan hệ tốt với cha mẹ và các em học sinh, họ còn được coi như thần tượng được nhiều người ngưỡng mộ, ngoài ra họ có mối quan hệ rất rộng và ảnh hưởng uy tín của họ rất lớn tới xã hội, họ có rất nhiều
lợi thế khi tham gia làm nhiệm vụ giáo dục và huy động cộng đồng
1.3.4 Tính tích cực của học sinh trong XHH
Học sinh nhà trường là một lực lượng hùng hậu, một nhân tố quan trọng góp phần khẳng định thương hiệu và uy tín của trường Bản thân các em chăm ngoan, học tập tích cực, năng động sáng tạo dành nhiều thành tích cao trên mọi lĩnh vực chính là các em đã góp phần nâng cao uy tín và tạo nên thương hiệu nhà trường Các em còn là những tuyên truyền viên tích cực cho các hoạt động
xã hội khác như tham gia tuyên truyền phòng chống ma tuý, ATGT Tích cực tham gia hoạt động từ thiện nhân đạo, giúp đỡ bạn nghèo, xây dựng đôi bạn cùng tiến để góp phần nâng cao chất lượng giáo dục, chống lưu ban bỏ học Bản thân các em tích cực đóng góp xây dựng nhà trường, như quyên góp sách truyện cho thư viện, cho các bạn nghèo, vùng sâu, vùng xa; chăm sóc bồn hoa cây cảnh Trách nhiệm của nhà trường là nuôi dưỡng chăm sóc các em, tạo môi trường tốt nhất cho các em học tập phấn đấu, quan tâm chất lượng giáo dục toàn diện, trong đó có chất lượng đại trà và chất lượng mũi nhọn Quan tâm bồi
Trang 28dưỡng nhân tài, các câu lạc bộ năng khiếu, các bộ môn tự chọn như tin học và ngoại ngữ đáp ứng nhu cầu của xã hội và của chính bản thân các em Nhà trường cần khai thác và sử dụng cho tốt nguồn lực đầy tiềm năng này
1.3.5 Phương pháp tổ chức XHH
Thành lập ban chi đạo XHHGD, tham mưu cho hội đồng GD về các chủ chương biện pháp để thực hiện các nhiệm vụ liên quan đến tiêu chí XHHGD
Phát huy sức mạnh của cá nhân đóng góp vào công tác giáo dục
Nêu cao vai trò của giáo viên:
Mọi hoạt động XHHGD đều liên quan đến người giáo viên Khi giáo viên làm tốt chức trách của mình sẽ là nguồn lực cơ bản khích lệ sự nhiệt tình của các lực lượng xã hội, đặc biệt là của các bậc phụ huynh
Giáo viên nhất là giáo viên chủ nhiệm phải có năng lực vận động quần chúng, tổ chức quần chúng thành lực lượng thực hiện tích cực Giáo viên cần chú ý những việc như: Nâng cao nhận thức, sự tự giác của quần chúng bằng mọi hình thức tuyên truyền; Đảm bảo hiệu quả công việc, không hình thức chủ nghĩa
cá nhân, đem lại lợi ích thiết thực
* Phát huy sức mạnh của PHHS:
Phụ huynh là nhân tố tích cực tham gia vào công tác XHHGD Vì vậy, nhà trường cần thực hiện tốt các nhiệm vụ sau: Nắm vững lý lịch của PHHS; Xây dựng kế hoạch; Huy động sự giúp đỡ của các bậc phụ huynh; Phát huy khả năng và lòng nhiệt tình của PHHS…
Ví dụ: Khi nhà trường cần sửa chữa, nâng cấp một hạng mục công trình của trường, ngoài ý kiến của thi công, nhà trường đều lấy ý kiến góp ý, tư vấn của PHHS có chuyên môn Qua thực tế, PHHS đưa ra những ý kiến rất hay giúp nhà trường có những quyết định đúng đắn
Phụ huynh giúp đỡ nhà trường về việc tư vấn sức khỏe cho giáo viên và học sinh:
Hàng năm, nhà trường thường tiến hành kiểm tra sức khỏe cho giáo viên
và học sinh Sau khi có kết quả kiểm tra bao giờ nhà trường cũng đưa kết quả
Trang 29nhờ Ban chăm sóc sức khỏe của trường tư vấn Trong quá trình quản lý học sinh tại trường, có những vấn đề bất thường về sức khỏe học sinh, nhà trường cũng
có thể nghe tư vấn của các bác sĩ là PHHS để có hướng giải quyết
Phụ huynh giúp đỡ nhà trường trang bị một số điều kiện về cơ sở vật chất phục vụ cho việc dạy học và chăm sóc học sinh
Vì cơ sở vật chất của nhà trường còn hạn chế, một số điều kiện cho việc phục vụ cho học tập và chăm sóc học sinh còn thiếu, do đó nhà trường đã động viên phụ huynh học sinh ủng hộ nhà trường Một nguyên tắc đặt ra là đảm bảo tính đồng thuận, sự tự nguyện, công khai minh bạch, ban đại diện của lớp, của trường đứng ra giúp đỡ
Phụ huynh giúp nhà trường bồi dưỡng các câu lạc bộ, tổ chức và tham gia các hoạt động ngoại khóa của trường
Ngoài việc học tập chính khóa, nhà trường còn tổ chức nhiều câu lạc bộ
để học sinh lựa chọn tham gia Với CLB cờ vua, cờ tướng nhà trường đã mời phụ huynh học sinh giúp đỡ Nhờ đó, năm nào CLB cờ vua, cờ tướng của nhà trường đều đạt giải cao và luôn dẫn đầu Quận Đặc biệt hàng năm, vào tháng 10, phụ huynh học sinh đã giúp nhà trường tổ chức giải cờ mang tên "Trí tuệ trẻ Thủ đô", thu hút được nhiều học sinh tham gia, qua cuộc thi nhà trường đã lựa chọn được đội tuyển Phong trào văn nghệ của trường cũng luôn được các bậc phụ huynh quan tâm giúp đỡ Ngoài ra, phụ huynh còn tạo cơ hội cho con em mình giao lưu với các loại hình nghệ thuật dân gian Những dịp tết Trung Thu, phụ huynh đã mời đoàn múa Lân về biểu diễn cho học sinh…
* Phát huy vai trò của các tổ chức xã hội đóng góp vào sự nghiệp giáo dục
+ Với chính quyền địa phương:
Việc tạo dựng mối quan hệ tốt với chính quyền địa phương để tranh thủ
sự chỉ đạo, giúp đỡ là một việc làm rất quan trọng, vì vậy nhà trường đã tích cực tham gia các công việc với UBND phường; Hàng năm khi tổ chức những kì cuộc lớn nhà trường thường mời lãnh đạo phường, đại diện các ban ngành đoàn
Trang 30thể, đại diện PHHS tới dự để họ tận mắt chứng kiến các hoạt động của trường, thấy được cách tổ chức của trường, nề nếp, khả năng của học sinh…
+ Với các cơ quan và các đơn vị đóng trên địa bàn
Hàng năm vào dịp đầu tháng 8, nhà trường thường tổ chức buổi giao lưu
để đón học sinh lớp 1 Tất cả các món quà mà nhà trường trao tặng cho học sinh lớp 1 đều do các công ty tài trợ Ngoài ra, nhà trường còn luôn được Học viện Quân sự, Học viện Quốc phòng giúp đỡ về phương tiện đưa học sinh đi tham gia các cuộc thi, nhận được ủng hộ sách truyện, kinh phí may trang phục biểu diễn cho học sinh…
+ Liên kết với các tổ chức nước ngoài
Liên kết với các tổ chức mời tình nguyện viên nước ngoài về dạy ngoại ngữ cho học sinh Ở trường Tiểu học Nghĩa Tân, 2 môn tự chọn các con được học là môn Tiếng Anh và Tin học Để giúp học sinh học tốt môn ngoại ngữ nhà trường đã liên kết phối hợp với 2 tổ chức: Tổ chức vì hòa bình và tổ chức phi chính phủ mời tình nguyện viên của các nước về để phối hợp với giáo viên tiếng anh, tiếng pháp của trường dạy ngoại ngữ cho học sinh Vào những dịp nghỉ hè, tình nguyện viên nước ngoài sang Việt Nam đông, các sinh viên ở các trường đại học như: Đại học Ngoại thương, Ngoại ngữ được nghỉ hè, nhà trường đã phối hợp với các tổ chức mời tình nguyện viên và sinh viên đại học ở các trường về phối hợp với giáo viên của trường để tổ chức câu lạc bộ ngoại ngữ cho học sinh giỏi ở các khối Nhờ đó, trình độ ngoại ngữ của của học sinh nhà trường tăng lên rõ rệt
Tạo điều kiện cho học sinh được giao lưu với học sinh nước ngoài Để giúp học sinh tự tin hơn trong giao tiếp, nhà trường đã tổ chức cho học sinh của trường giao lưu với học sinh của trường Nhật Bản tại Hà Nội Qua buổi giao lưu, học sinh được giao tiếp, giới thiệu với các bạn nước ngoài về nhà trường,
về bản thân, được chơi trò chơi với các bạn các em đã tự tin hơn
* Hiệu quả từ công tác xã hội hóa giáo dục
Trang 31Thực hiện tốt công tác xã hội hóa giáo dục, trường TH Nghĩa Tân đã nhận được sự ủng hộ của các bậc phụ huynh và các ban ngành đoàn thể Mọi kế hoạch của nhà trường đưa ra được Ban đại diện cha mẹ học sinh của trường, của lớp, phụ huynh toàn trường ủng hộ và cùng bàn biện pháp thực hiện hiệu quả Qua đó, 100% các lớp và các phòng chức năng được trang bị máy chiếu Projetor (63 máy)
và điều hòa (159 bộ) PHHS đã lắp đặt hệ thống camera wife gồm 64 camera đặt
ở vị trí các lớp học Lắp đặt hệ thống vòi phun sân trường: gồm 16 vòi phun sương Trang bị toàn bộ nội thất phòng Thư viện học sinh với tổng diện tích 500m2 tủ gỗ, bàn ghế, máy tính, máy projector, âm thanh loa đài PHHS tạo điều kiện về kinh phí để làm sân bóng rổ và 8 rổ bóng PHHS tặng 32 bồn hoa khô để trang trí nhà trường Tổng xã hội hóa được gần bốn tỷ đồng chẵn
Bên cạnh ủng hộ về vật chất, phụ huynh còn giúp đỡ nhà trường về mặt tinh thần như mời đoàn xiếc Nhật Bản, xiếc trung ương về biểu diễn cho học sinh; Phụ huynh đã giúp nhà trường liên kết với các tổ chức vì hòa bình, tổ chức phi chính phủ mời tình nguyện viên các nước về dạy ngoại ngữ cho học sinh
Phụ huynh cùng nhà trường tổ chức cho học sinh nhiều hoạt động ngoại khóa; đi kiểm tra, lựa chọn đơn vị cung cấp nước và đơn vị nấu cơm cho học sinh; tham gia vào việc giám sát công trình xây dựng, tư vấn thiết kế, trang trí nhà trường
Đối với các ban ngành đoàn thể, các cơ quan đóng trên địa bàn phường, các đơn vị đối tác: Nhà trường luôn nhận được sự ủng hộ của Đảng ủy, UBND, HĐND và các Ban ngành đoàn thể của phường Nghĩa Tân; Công ty nước Miru tặng nhà trường 64 máy nước ấm, mát; Các cơ quan đóng trên địa bàn phường ủng hộ nhà trường xe đưa giáo viên học sinh đi thi, thăm quan…
Như vậy, để công tác xã hội hóa giáo dục trong nhà trường đạt hiệu quả, nhà trường cần xây dựng kế hoạch cụ thể, nên lựa chọn các công việc phục vụ trực tiếp cho học sinh và có dự trù kinh phí để phụ huynh học sinh thuận lợi trong việc lựa chọn các việc mà họ sẽ ủng hộ nhà trường
Trang 32Vận động, động viên để phụ huynh tham gia một cách tự nguyện, tránh
gò ép gây bức xúc Để phụ huynh học sinh hiểu lầm sẽ làm cho họ thiếu niềm tin với nhà trường Những công việc có liên quan đến kinh phí đóng góp của phụ huynh học sinh cần để phụ huynh tham gia, lựa chọn đối tác, giám sát thi công Nhà trường chỉ là đối tượng được thụ hưởng những sản phẩm mà các bậc phụ huynh trao tặng
Để thu hút được nhiều phụ huynh, nhiều tổ chức tham gia nhiệt tình vào công tác XHHGD, cần để cho họ hiểu rõ: Làm cho ai? Làm như thế nào? Hiệu quả của việc làm? Những việc làm thiết thực vì trẻ sẽ là những việc thu hút được nhiều người tham gia nhất, góp phần đảm bảo sự phát triển bền vững cho mỗi nhà trường, cho sự phát triển toàn diện của người học
Dân chủ hoá là xoá bỏ tính khép kín của hệ thống giáo dục nói chung và
hệ thống trường học nói riêng, tạo điều kiện để tất cả mọi người có cơ hội nắm bắt những thông tin trong giáo dục, tham gia ý kiến, đóng góp công sức và tiền của vào sự nghiệp xây dựng và phát triển giáo dục
Dân chủ hoá giáo dục trước hết phải được thể hiện trong việc hoạch định đường lối, chính sách phát triển giáo dục Đảng, Nhà nước, Quốc hội, Chính phủ cũng như hệ thống lãnh đạo quản lý từ Trung ương đến địa phương phải
Trang 33thực sự phát huy dân chủ, tập trung trí tuệ để xây dựng chiến lược quốc gia về Giáo dục - Đào tạo Trên cơ sở đó hình thành các bước đi cho phù hợp với từng thời kỳ cách mạng, từng giai đoạn lịch sử cụ thể
Dân chủ hoá giáo dục ở các nhà trường thể hiện trong quá trình công khai hoá các mục tiêu, chương trình, giải pháp thực hiện nhiệm vụ chính trị của nhà trường; là quá trình thu hút sự tham gia quản lý và thực hiện các nội dung công tác của các tổ chức Đảng, chính quyền, đoàn thể quần chúng, hội cha mẹ học sinh và các lực lượng xã hội khác đối với sự phát triển của mỗi trường học
Dân chủ hoá còn thể hiện ngay trong việc thực hiện và đảm bảo quyền, nghĩa vụ của học sinh Học sinh không chỉ là đối tượng đánh giá, xếp loại của giáo dục mà thường xuyên cũng phải đuợc tham gia vào các hoạt động quản lý, nhất là hoạt động tự quản, được tham gia đóng góp ý kiến đối với người dạy bằng nhiều hình thức, nhằm tác động trở lại để góp phần hoàn chỉnh chu trình dạy và học Tuy nhiên, dân chủ trong lĩnh vực này vẫn phải đảm bảo nguyên tắc như Bác Hồ đã khẳng định “Dân chủ nhưng trò phải kính thầy, thầy phải quý trò”, hay như câu nói của cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng “Trường ra trường, lớp
ra lớp, thầy ra thầy, trò ra trò” với đầy đủ các nghĩa của nó
Đa dạng hoá Giáo dục - Đào tạo
Từ khi xoá bỏ cơ chế quản lý tập trung quan liêu bao cấp, sự phát triển của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa không chấp nhận một nền giáo dục mà sản phẩm của một cấp học, bậc học chỉ là kết quả như nhau vì
nó được thực hiện trong một chương trình giống nhau, cách học giống nhau Những sản phẩm ấy không đáp ứng được tính năng động, linh hoạt của nền kinh
tế thị trường Vì vậy đa dạng hoá giáo dục trước hết là đa dạng hoá mục tiêu đào tạo nhằm nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực và bồi dưỡng nhân tài, cung cấp nguồn nhân lực phong phú và đa dạng cho các thành phần kinh tế
Đa dạng hoá giáo dục là đa dạng hoá loại hình trường lớp, hình thức đào tạo mà bản chất của nó là đa dạng hoá nguồn đầu tư cho giáo dục Mục tiêu của lĩnh vực này là vừa mở rộng cánh cửa của trường học, tạo nhiều cơ hội học tập
Trang 34cho nhân dân, vừa huy động được nhiều nguồn lực tham gia vào quá trình đẩy nhanh sự phát triển giáo dục, nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội trong thời kỳ mới
Mô hình trường lớp hiện nay không chỉ thu hẹp trong một kiểu trường công lập như trước đây mà được bổ sung nhiều loại trường như trường dân lập, tư thục, bán công, các trung tâm giáo dục thường xuyên, trung tâm giáo dục kỹ thuật tổng hợp, hướng nghiệp và dạy nghề Đặc biệt mô hình trung tâm học tập cộng đồng đang hình thành và phát triển ở các địa phương, tạo mọi điều kiện để người lao động được học tập
Hình thức đào tạo hiện nay cũng rất đa dạng và linh hoạt Tuỳ theo khả năng và điều kiện của người học, họ có thể tham gia theo các chương trình đào tạo chính quy, tại chức, đào tạo từ xa, chương trình ngắn hạn, dài hạn…
Xây dựng và phát triển các tổ chức khuyến học
Khuyến học là một con đường khá hiệu quả của xã hội hoá giáo dục Thông qua các hình thức khuyến học, người học được động viên bằng cả tinh thần và vật chất, từ đó củng cố thêm ý chí và động cơ học tập
Khuyến học trước hết là hình thức tuyên truyền nâng cao nhận thức về con đường học hành của nhân dân Quan điểm của Bác “Một dân tộc dốt là một dân tộc yếu” cũng đồng nhất với đường lối của Đảng “Đầu tư cho giáo dục là đầu tư cho phát triển” không chỉ được coi là những định hướng về giáo dục mà
đó còn là những nội dung tuyên truyền giáo dục có ý nghĩa sâu sắc
Khuyến học là hình thức huy động sự đóng góp của toàn thể xã hội vào
sự nghiệp phát triển giáo dục Sự hình thành các loại quỹ như quỹ giáo dục, quỹ
hỗ trợ giáo dục, quỹ bảo trợ học đường, quỹ tài năng trẻ, quỹ học bổng Nguyễn Bỉnh Khiêm, Lương Thế Vinh, Lê Quý Đôn… là kết quả của phong trào khuyến học ở nhiều địa phương, trong đó vai trò của Hội khuyến học, của các doanh nghiệp, các nhà hảo tâm, các tổ chức xã hội và từng dòng họ… là vô cùng lớn Phong trào hiến đất xây trường ở các tỉnh phía Nam, phong trào quyên góp xây dựng và ghi tên, gắn biển công trình trường học ở các tỉnh phía Bắc, các hình
Trang 35thức phân công tổ chức đoàn thể xã hội đỡ đầu, chăm lo xây dựng cảnh quan môi trường sư phạm xanh - sạch - đẹp, vận động con em nhân dân đi học để thực hiện phổ cập, xoá mù chữ ở nhiều địa phương là hình thức khuyến học rất hiệu quả
Xây dựng và đẩy mạnh hoạt động của ba môi trường giáo dục
Nguyên lý giáo dục của mọi quốc gia đều khẳng định: muốn phát triển giáo dục phải xây dựng và phát huy hiệu quả hoạt động của 3 môi trường giáo dục: nhà trường, gia đình và xã hội
Môi trường giáo dục nhà trường là môi trường trung tâm, chính yếu để xây dựng và phát triển nhân cách con người Sự tác động và chi phối toàn diện của nhà trường từ môi trường cảnh quan, nề nếp kỷ cương, không khí vui chơi đến việc học tập, rèn luyện, tu dưỡng cũng như các hành vi ứng xử, quan hệ, tình cảm thầy trò, bạn bè… thường để lại trong cuộc đời học trò những dấu ấn đậm nét, khó phai nhạt Tạo được môi trường giáo dục nhà trường tốt, học sinh sẽ được thụ hưởng những giá trị văn hoá đẹp đẽ, giàu tính nhân văn, tạo nền tảng cho quá trình định hình nhân cách về sau
Môi trường giáo dục gia đình là nhân tố quan trọng, trực tiếp tác động tới hành vi đạo đức của học sinh Nếp sống gia đình, bao gồm văn hoá giao tiếp, tình cảm giữa các thành viên trong gia đình cũng như giữa gia đình và cộng đồng… có ảnh hưởng lớn đến sự hình thành và phát triển nhân cách của học sinh Môi trường giáo dục gia đình tốt là cơ sở giúp cho học sinh khi tiếp xúc với môi trường xã hội sẽ nhanh chóng hoà nhập và nắm bắt tri thức một cách có hiệu quả
Giáo dục nhà trường và giáo dục gia đình là hai môi trường giáo dục gần nhau có mối quan hệ hữu cơ, tương tác và ảnh hưởng trực tiếp, tích cực đến chất lượng giáo dục
Môi trường giáo dục xã hội có tính phức tạp hơn vì xã hội là sự tổng hoà các mối quan hệ Cái tốt, cái xấu, cái tích cực, cái tiêu cực đôi khi đan cài trong
Trang 36nhau, ảnh hưởng của môi trường xã hội tới hành vi đạo đức và nhân cách học sinh là không nhỏ
Xây dựng môi trường giáo dục xã hội là quá trình thông qua hoạt động của các đoàn thể xã hội, chọn lọc, biểu dương các điển hình tiên tiến, xây dựng thành phong trào trong thanh thiếu niên như các phong trào thi đua “Học tập vì ngày mai lập nghiệp”, phong trào “mùa hè tình nguyện”,“vì một thế giới xanh”, phong trào “áo lụa tặng bà”… Ngược lại, cũng thông qua hoạt động của các đoàn thể xã hội giúp học sinh có điều kiện xa lánh, loại trừ cái tiêu cực và sự cám dỗ của văn hoá và lối sống độc hại như ma tuý, mại dâm và nhiều tệ nạn xã hội khác Các phong trào xây dựng môi trường không có ma tuý, nói không với
ma tuý, ma tuý - HIV/AIDS hiểm hoạ của loài người… nếu được tổ chức thường xuyên, tuyên truyền sâu rộng sẽ tác động tích cực đến đời sống và sinh hoạt của thanh thiếu niên học sinh
Ba môi trường giáo dục là ba nhân tố cơ bản tham gia hoàn thiện nhân cách người học theo yêu cầu của mục tiêu Giáo dục - Đào tạo Giải quyết tốt mối quan hệ hữu cơ giữa các nhân tố gia đình - nhà trường - xã hội trong hoạt động giáo dục chính là đã định ra được con đường chủ đạo của xã hội hoá giáo dục, một trong những “chìa khoá” quan trọng tạo điều kiện để phát triển giáo dục một cách nhanh chóng, bền vững theo yêu cầu của công nghiệp hoá, hiện đại hoá
Tổ chức Đại hội giáo dục các cấp
Tổ chức đại hội giáo dục các cấp là một chủ trương mới do Bộ Giáo dục - Đào tạo và Công đoàn Giáo dục Việt Nam khởi xướng từ tháng 10 năm 1990 bằng Thông tư liên tịch số 35/TTLT, trong đó nêu rõ “Đại hội giáo dục tổ chức theo nhiệm kỳ của Hội đồng nhân dân và tổ chức vào năm học đầu tiên của nhiệm kỳ đó Đại hội giáo dục ở một địa phương do cấp uỷ và chính quyền ở đó chủ trì tổ chức, nhưng các đồng chí thủ trưởng cơ quan quản lý giáo dục và Chủ tịch Công đoàn giáo dục cùng cấp phải tích cực, chủ động tham mưu để Đại hội Giáo dục đạt kết quả cao”
Trang 37Đại hội giáo dục nhằm đặt ra 3 yêu cầu cơ bản:
- Cụ thể hoá mục tiêu đào tạo, nguyên lý giáo dục của Đảng và kế hoạch phát triển giáo dục của Nhà nước vào mục tiêu, nhiệm vụ giáo dục trong kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội của địa phương
- Phát huy quyền làm chủ của nhân dân trong việc tham gia xây dựng kế hoạch của các nhà trường trên địa bàn; động viên được sức mạnh tổng hợp của nhà trường - gia đình - xã hội để chăm lo việc học tập, giáo dục đạo đức, lao động, hướng nghiệp cho học sinh, xây dựng cơ sở vật chất, tôn tạo cảnh quan môi trường sư phạm, chăm lo đời sống cán bộ, giáo viên…
- Tạo ra động lực kích thích tinh thần lao động của đội ngũ trí thức ngành Giáo dục - Đào tạo, khuyến khích tính hiếu học, động viên học sinh chăm ngoan học giỏi, đáp ứng yêu cầu nâng cao chất lượng nguồn nhân lực cho nền kinh tế của địa phương
Đại hội giáo dục là kết quả của quá trình thực hiện phương châm “Dân biết - dân bàn - dân làm - dân kiểm tra” trong giáo dục, đảm bảo tính dân chủ xã hội chủ nghĩa, phù hợp với hoàn cảnh thực tế hiện nay của các địa phương, phù hợp với cơ chế quản lý Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ ngay trong xây dựng và phát triển giáo dục
Củng cố hoạt động của Ban đại diện cha mẹ học sinh trường học
Ban đại diện cha mẹ học sinh là một tổ chức quần chúng đặc biệt quan trọng trong hệ thống tổ chức của các nhà trường Thông qua hoạt động của Ban đại diện, các trường học không chỉ nhận được sự tham gia vào các lĩnh vực giáo dục của cha mẹ học sinh, đặc biệt là việc giáo dục đạo đức, xây dựng và hoàn thiện nhân cách học sinh… mà còn được Ban đại diện cha mẹ học sinh tham gia vào công tác quản lý nhà trường, cùng chia xẻ gánh nặng với nhà trường trong việc đầu tư trang bị thêm cơ sở vật chất và các điều kiện phục vụ dạy và học Có nhiều hình thức và biện pháp củng cố hoạt động của Ban đại diện cha mẹ học sinh, nhưng hình thức tổ chức đại hội cha mẹ học sinh có thể được coi là con đường của xã hội hoá giáo dục
Trang 38Đại hội cha mẹ học sinh là một biện pháp tăng cường tuyên truyền giúp cho cha mẹ học sinh nhận thức đầy đủ hơn mục tiêu của Giáo dục - Đào tạo, hiểu rõ hơn thực trạng và nhu cầu phát triển của mỗi nhà trường, đồng thời cùng nhà trường bàn các biện pháp nâng cao chất lượng giáo dục, xây dựng cảnh quan môi trường sư phạm trong trường học, phòng chống các tệ nạn xã hội xâm nhập vào nhà trường…
1.4 Huy động cộng đồng tham gia công tác xã hội hóa giáo dục Tiểu học
1.4.1 Mục đích, ý nghĩa của huy động cộng đồng
- Huy động sức mạnh tổng hợp của toàn dân cùng tham gia làm giáo dục
nhằm đáp ứng nhu cầu của xã hội về chất và lượng của giáo dục Tiểu học
1.4.2 Nội dung của huy động cộng đồng
Bản chất của xã hội hoá giáo dục là mang tính xã hội hoá cao, vì vậy
nó đa dạng về phương thức, phong phú về đối tượng và phát triển ở diện rộng Vai trò của việc huy động nguồn lực cộng đồng tham gia công tác xã hội hoá giáo dục cũng dừng lại ở một mức độ nhất định mà nó phải phối hợp với một hệ thống đoàn thể xã hội Trong giáo dục, huy động nguồn lực cộng đồng tham gia công tác xã hội hoá giáo dục thông qua vai trò, chức
năng của tổ chức CĐ
Trang 39Nội dung chủ yếu của việc huy động nguồn lực cộng đồng tham gia công tác xã hội hoá giáo dục thể hiện trên hoạt động:
- Tổ chức học tập, quán triệt đường lối chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước và thành phố về phát triển Giáo dục - Đào tạo
- Tuyên truyền nâng cao nhận thức trong nhân dân về vai trò của sự nghiệp Giáo dục - Đào tạo trong quá trình xây dựng và phát triển đất nước,
cụ thể hơn là vấn đề học tập đối với sự trưởng thành của mỗi người, đối với cuộc sống của từng gia đình và cả cộng đồng…
- Vận động và tổ chức cho nhân dân tham gia bằng nhiều hình thức chăm lo phát triển sự nghiệp giáo dục
- Đa dạng hoá loại hình trường lớp, phương thức đào tạo, tạo cơ hội cho tất cả mọi người được học tập, học thường xuyên, học suốt đời, tiến tới xây dựng một xã hội học tập
- Tham gia quản lý tài chính, tài sản huy động từ sự đóng góp của xã hội ủng hộ cho Giáo dục - Đào tạo, sử dụng và phát huy có hiệu quả cơ sở vật chất, trang thiết bị do dân đóng góp nhằm không ngừng nâng cao chất lượng giáo dục
1.4.3 Huy động các lực lượng tham gia công tác Xã hội hóa giáo dục Tiểu học
- Xã hội hoá giáo dục ở các nhà trường:
Điểm nổi bật trong phong trào xã hội hoá giáo dục ở các nhà trường của Hải Phòng là công tác tuyên truyền, vận động tạo ra sự chuyển biến tích cực trong nhận thức của nhân dân về sự nghiệp Giáo dục - Đào tạo Nhân dân hiểu giáo dục, chia xẻ khó khăn với giáo dục và cùng tham gia làm giáo dục trở thành truyền thống ở nhiều nhà trường
- Xã hội hoá giáo dục trong các doanh nghiệp, các cơ quan Nhà nước và các đoàn thể xã hội:
Các doanh nghiệp:
. Hội khuyến học thành phố:
Trang 40Hội Khoa học tâm lý giáo dục Hải Phòng:
Hội Giáo dục gia đình Hải Phòng
Hội Phụ nữ Hải Phòng
Uỷ ban Dân số - Gia đình và trẻ em Hải Phòng
Hội Cựu chiến binh thành phố
Hội Chữ thập đỏ, Hội từ thiện
Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh
Liên đoàn Lao động thành phố
Mặt trận tổ quốc Việt Nam thành phố