Quá trình xây dựng và phát triển năng lực sản xuất kinh doanh của Công ty: - Từ năm 1989 - 1990, công ty đã xây dựng thành công trung tâm nghiên cứu khảo nghiệm với diện tích 100 ha nhằm
Trang 1MỤC LỤC CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU TỔNG QUAN CÔNG TY CỔ PHẦN MÍA ĐƯỜNG LAM SƠN
Error! Bookmark not defined
1.1 Giới thiệu chung Error! Bookmark not defined
1.2 Thông tin cổ phếu: Error! Bookmark not defined
1.3 Tóm tắt quá trình hình thành và phát triển: Error! Bookmark not defined
1.4 Sản phẩm kinh doanh: Error! Bookmark not defined
1.5 Sơ đồ cơ cấu tổ chức: Error! Bookmark not defined
1.6 Vị thế của công ty trong ngành: Error! Bookmark not defined CHƯƠNG 2: PHÂN TÍCH NỀN KINH TẾ VĨ MÔ VÀ KINH TẾ NGÀNH Error! Bookmark not defined
2.1 Phân tích kinh tế vĩ mô: Error! Bookmark not defined
2.1.1 Ảnh hưởng của nền kinh tế toàn cầu: Error! Bookmark not defined
2.1.2 Ảnh hưởng của nền kinh tế vĩ mô nội địa: Error! Bookmark not defined
2.1.3 Ảnh hưởng của cú sốc cung cầu: Error! Bookmark not defined
2.1.4 Ảnh hưởng của chính sách của chính phủ: Error! Bookmark not defined
2.1.5 Ảnh hưởng của chu kỳ kinh doanh Error! Bookmark not defined
2.2 Phân tích ngành Error! Bookmark not defined 2.2.1 Sự nhạy cảm của chu kỳ kinh doanh Error! Bookmark not defined
2.2.2 Chu kỳ sống của ngành Error! Bookmark not defined
CHƯƠNG 3 : PHÂN TÍCH TÌNH HÌNH TÀI CHÍNH TỔNG CÔNG TY CỔ PHẦN ĐƯỜNG
LAM SƠN TỪ NĂM 2009 – 2011 Error! Bookmark not defined
3.1 Khái quát tình hình tài sản và nguồn vốn của LSS từ năm 2009 đến năm 2011 Error! Bookmark not defined
3.1.1 Sự biến động của Tài sản, Nguồn vốn Error! Bookmark not defined
3.1.2 Phân tích báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh của LSS từ năm 2009-2011
Error! Bookmark not defined 3.1.3 Phân tích các chỉ số tài chính Error! Bookmark not defined
3.2 Định giá CP LSS Error! Bookmark not defined.
CHƯƠNG 4: Phân tích kỹ thuật cổ phiếu LSS và dự báo năm 2013……… 50
4.1 Tổng quan chỉ số VNINDEX và CP LSS……… ……… 50
4.2 Ứng dụng đường trung bình SMA10 và SMA 25 vào cổ phiếu LSS ………56
4.3 Ứng dụng dải Bollinger và chỉ báo kỹ thuật MACD ……… 57
4.1 Dự báo cổ phiếu LSS năm 2013 dựa trên FIBONACI và Sóng Elliott ………… 58 KẾT LUẬN
Trang 2LỜI MỞ ĐẦU
Thị trường chứng là một kênh đầu tư đem lại lợi nhuận rất cao cho những nhà đầu
tư nhưng đi kèm với nó cũng là rất nhiều rủi ro Các nhà đầu tư khi muốn tham gia vào thị trường cần phải giải đáp được các vấn đề nên mua cổ phiếu nào, giá cổ phiếu khi mua, thời điểm mua cổ phiếu, và thời gian nắm giữ cổ phiếu đó Để nắm bắt được cơ hội kinh doanh cũng như hạn chế được các rủi ro trên thị trường chứng khoán, thứ nhất nhà đầu tư phải hiểu rõ phương pháp phân tích chứng khoán, phân tích kinh tế vĩ mô , các ngành nghề kinh doanh và phân tích được tình hình tài chính của doanh nghiệp cũng như định giá cổ phiếu của doanh nghiệp niêm yết trên thị trường chứng khoán Thứ 2 là phải
có kế hoạch cũng như phương pháp quản lý danh mục đầu tư một cách hiệu quả
Nhận thức được vấn đề trên, và với kiến thức đã được học, em đã chọn đề tài “
Phân tích mã cổ phiếu LSS của Công ty Cổ phần mía đường Lam Sơn từ năm 2009 đến năm 2011”.Tuy nhiên với kiến thức hạn chế, bài tiểu luận sẽ không tránh khỏi sai sót
Em rất mong nhận được sự đóng góp ý kiến của cô và các bạn để đề tài được hoàn thiện hơn
Trang 3CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU TỔNG QUAN CÔNG TY
CỔ PHẦN MÍA ĐƯỜNG LAM SƠN
1.1 Giới thiệu chung
Tên công ty: Công ty Cổ phần Mía đường Lam Sơn
Tên viết tăt: LSS
Địa chỉ: Thị trấn Lam Sơn – Huyện Thọ Xuân – Tỉnh Thanh Hóa
Điện thoại: (84-373) 834 091/93
Fax: (84-373) 834 092
Email: lasuco@hn.vnn.vn
Website: www.lasuco.com.vn
1.2 Thông tin cổ phếu:
Loại cổ phiếu: Phổ thông
hệ lợi ích kinh tế với nông dân, gắn công nghiệp với nông nghiệp, thực hiện liên minh công nông, trở thành mô hình tiêu biểu về liên minh công nông, được nhiều
Trang 4đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước đến thăm và khẳng định Trở thành mô hình kinh tế mới đã và đang được nhân rộng
Quá trình xây dựng và phát triển năng lực sản xuất kinh doanh của Công ty:
- Từ năm 1989 - 1990, công ty đã xây dựng thành công trung tâm nghiên cứu khảo nghiệm với diện tích 100 ha nhằm nghiên cứu, thử nghiệm, lựa chọn, nhân giống các loại giống mía phù hợp với đất đai, khí hậu, thổ nhưỡng có năng suất, trữ đường cao
- Năm 1992 đầu tư 3,692 tỷ đồng xây dựng nhà máy cồn chế biến từ mật rỉ công suất 1,5 triệu lít năm sau đó nâng công suất lên 1,9 triệu lít năm
- Năm 1995-1996 đầu tư hàng chục tỷ đồng mua thiết bị nâng công suất nhà máy đường từ 1.500 tấn mía ngày lên 2.500 tấn mía ngày
- Năm 1995 đến năm 2003 đầu tư 57,477 tỷ đồng xây dựng nhà máy bánh kẹo Đình Hương với thiết bị tiên tiến của Đan mạch, Đài Loan, Italia công suất 5.000 tấn/năm
- Năm 1995-1996 đầu tư xây dựng xí nghiệp phân vi sinh có thành phần từ bùn mía công suất 20.000 tấn năm với tổng mức đầu tư 16,2 tỷ đồng vừa giải quyết vấn đề môi trường, vừa đáp ứng nhu cầu phân bón cho cây mía trong vùng và công ăn việc làm cho hàng trăm lao động và tăng hiệu quả sản xuất của Công ty
- Năm 1998, công ty đầu tư xây dựng nhà máy đường số 2 công suất 4.000 TMN với tổng mức đầu tư là 500 tỷ đồng Công trình đã hoàn thành và đi vào sử dụng cuối năm 1999 Đưa tổng công suất mía ép 1 ngày từ 2.500 TMN lên 6.500 TMN Năm 2003 công ty đầu 160 tỷ đồng xây dựng nhà máy cồn số 2 công suất 25 triệu lít năm, đã bắt đầu đi vào sản xuất năm 2004
- Cuối năm 2004 công ty đầu tư xây dựng nhà máy chế biến sữa công suất 100.000 tấn năm với tổng mức vốn đầu tư là 90 tỷ đồng, nhà máy đã đi vào hoạt động tháng 5/2005
- Hàng năm công ty đầu tư sữa chữa lớn, nâng cấp máy móc, thiết bị hàng chục tỷ đồng
Trang 5- Năm 2003 - 2004 công ty đã đầu tư nhập bò sữa làm trung tâm nuôi bò sữa với tổng mức đầu tư trên 40 tỷ đồng, ngoài ra còn mua bò đầu tư cho bà con nông dân trên 3 tỷ đồng
- Năm 2002 đến 2004 công ty đã đầu tư trên 63 tỷ đồng để thành lập các công ty con và mua cổ phần của một số các doanh nghiệp khác
- Trong phong trào phát huy sáng kiến, cải tiến kỹ thuật và ứng dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật có gần 250 CBCNV Công ty có sáng kiến làm lợi hàng chục tỷ đồng cho công ty
Công ty đã và đang phát huy vai trò trung tâm của một cơ sở công nghiệp trong vùng kinh tế Lam Sơn, góp phần tạo việc làm cho hàng vạn lao động, tạo sự gắn kết giữa công nghiệp và nông nghiệp, nông dân và công nhân nông nghiệp để triển khai
và thực hiện có hiệu quả phương án phát triển mía đường, khai thác và làm sống dậy một vùng đất trống đồi núi trọc trung du miền núi, thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp từ sản xuất tự cấp, tự túc chuyển sang sản xuất hàng hoá, góp phần xây dựng nông thôn mới, nâng cao đời sống cho nhân dân trong vùng
1.4 Sản phẩm kinh doanh:
- Sản phẩm đường:
Đường RE xuất khẩu đạt tiêu chuẩn EU; Đường RS đạt TCVN; Đường vàng tinh khiết có tính đặc trưng riêng TCVN
- Cồn Công nghiệp và Cồn thực phẩm xuất khẩu
- Sản phẩm gia công cơ khí
- Dịch vụ làm đất, dịch vụ khoa học kỹ thuật đào tạo
- Dịch vụ cho thuê kho, cho thuê tài sản
- Cung cấp giống cây, con
- Sữa tiệt trùng, sữa thanh trùng các loại đạt TCVN
1.5 Sơ đồ cơ cấu tổ chức:
Trang 61.6 Vị thế của công ty trong ngành:
Là một doanh nghiệp hàng đầu trong ngành mía đường Việt Nam, LASUCO có khả năng tồn tại - phát triển - cạnh tranh - hội nhập kinh tế vào khu vực và trên thế giới; Sản phẩm của LASUCO phục vụ cho thị trường trong nước và xuất khẩu, luôn được khách hàng đánh giá cao về chất lượng và sự phục vụ hài lòng của khách hàng; Theo báo cáo mới nhất của ngành mía đường Việt Nam tại Hội nghị tổng kết sản xuất mía đường niên vụ 2006/2007, cả nước ta hiện nay có 36 Nhà máy đường hoạt động với tổng công suất thiết kế 87.500 TMN, sản lượng đường công nghiệp đạt 1.144.000 tấn Trong đó, Công ty Cổ phần mía đường Lam Sơn
có tổng công suất chế biến 7.000 TMN, sản lượng đường là 115.850 tấn, chiếm 10,13% tổng sản lượng đường cả nước Về thị trường tiêu thụ: Công ty tổ chức tiêu thụ rộng rãi sản phẩm trên thị trường cả nước Trong đó, thị trường khu vực
Trang 7phía Bắc chiếm 65%; khu vực miền Trung 20%; khu vực Miền Nam 15% Để đáp ứng nhu cầu tiêu thụ sản phẩm đường, cồn khu vực phía Nam, hiện nay Công ty
đã hợp tác thành lập Công ty TNHH SXTM Lam Thành và thành lập Chi nhánh tại TP.Hồ Chí Minh để tăng tỷ lệ sản phẩm tiêu thụ khu vực này trong thời gian tới Theo quy hoạch phát triển mía đường đến năm 2010 và định hướng đến năm
2020, ngành mía đường phấn đấu đến năm 2010 sản lượng đường công nghiệp cả nước sẽ đạt 1,4 triệu tấn Công ty CP mía đường Lam Sơn phấn đấu sẽ tiếp tục duy trì sản lượng chiếm ít nhất 10 - 12 % tổng sản lượng đường cả nước (tương đương 150.000 tấn đường vào năm 2010) Hiện nay Công ty đang triển khai dự án nâng công suất nhà máy đường số II từ 4.500 TMN lên 8.000 TMN, nâng tổng công suất ép của hai nhà máy từ 7.000 TMN lên 10.500 TMN
Trang 8CHƯƠNG 2: PHÂN TÍCH NỀN KINH TẾ VĨ MÔ VÀ
KINH TẾ NGÀNH
2.1 Phân tích kinh tế vĩ mô:
2.1.1 Ảnh hưởng của nền kinh tế toàn cầu:
Năm 2009:
Kinh tế thế giới trải qua một năm được xem là tồi tệ nhất từ sau cuộc đại suy thoái năm 1930-1931 Hiện tại, kinh tế thế giới đang cho thấy những dấu hiệu phục hồi khá mạnh mẽ, một điều mà những người lạc quan nhất trong các tháng đầu năm cũng không nghĩ tới Các chính sách tiền tệ và tài khóa mạnh mẽ của chính phủ các nước trên thế giới
đã có tác dụng tích cực
GDP của hầu hết các quốc gia đã tăng trưởng hoặc cải thiện mức suy giảm trong quý 3 và quý 4 Chỉ số giá tiêu dùng nhiều quốc gia bắt đầu tăng trưởng dương Nhiều chỉ báo kinh tế khác như chỉ số lòng tin người tiêu dùng, tăng trưởng công nghiệp, doanh số bán nhà, số đơn đặt hàng cũng được cải thiện khá tích cực
Tuy vậy, tình trạng thất nghiệp của nhiều nước vẫn còn ở mức rất cao Thất nghiệp tại Mỹ đã lên tới 10%, là mức cao nhất trong nhiều năm qua Thất nghiệp của Liên minh châu Âu hiện tại đang ở mức 9.8%, mức cao nhất trong hơn 20 năm qua
Những số liệu trên cho thấy kinh tế thế giới đã có những đấu hiệu phục hồi song vẫn chưa vững chắc Tình trạng thất nghiệp cao ở nhiều quốc gia đang là những mối lo ngại lớn đối với những nhà làm chính sách Nhiều quốc gia vẫn cam kết tiếp tục duy trì chính sách tiền tệ mở rộng và giữ lãi suất ở mức thấp để hỗ trợ cho nền kinh tế bất chấp cảnh báo về những hệ lụy
Các Thị trường Chứng khoán đều phục hồi ấn tượng
Ở thời điểm hiện nay, hầu hết các chỉ số chứng khoán trên thế giới đều đã tăng cao hơn so với trước cuộc khủng hoảng tài chính nổ ra hồi tháng 10 năm ngoái Cụ thể, nếu
so với đầu năm 2008 các chỉ số chứng khoán thế giới vẫn còn sút giảm 15-30% Tuy nhiên, so đến cuối năm 2008, các chỉ số này đều tăng 25-30%, còn so với mức đáy được thiết lập trong năm nay thì mức tăng khoảng 50%
Trang 9Các chỉ số chứng khoán bật lại mạnh mẽ cùng với những tín hiệu phục hồi của nền kinh tế Trong các chỉ số chứng khoán, Hang Seng của Hong Kong và Shanghai Composite trở thành một trong những chỉ số tăng mạnh nhất trong năm với mức tăng lần lượt là 52.02% và 79.98%
Nhìn chung trong năm 2009 nền kinh tế Việt Nam nói riêng và thế giới nói chung
đã thoát khỏi suy thoái và xác lập đáy trong quý 2/2009
Thị trường chứng khoán Việt Nam đã có sự tăng trưởng hết sức bất ngờ và ấn tượng từ mức đáy 234.66 được thiết lập vào 24/2/2009 lên đỉnh cao 633.21 vào ngày 23/10/2009
Năm 2010:
Theo đánh giá mới nhất của Liên Hợp Quốc, tăng trưởng kinh tế toàn cầu năm
2010 đạt 3,6% Trong đó các nước đang phát triển dẫn đầu với mức tăng 7,1%, các nước chậm phát triển tăng 5,5% và các nước phát triển tăng trưởng khiêm tốn với 2,3% (Mỹ 2,6%, EU 1,6% ) Châu Âu là khu vực hồi phục chậm nhất do khủng hoảng nợ công tại nhiều quốc gia thành viên Sau khi đi xuống mạnh năm 2009, kinh tế toàn cầu tăng trưởng trở lại trong năm 2010 cho thấy kết quả ban đầu của những nỗ lực kích thích kinh
tế của năm trước và các hỗ trợ vẫn được duy trì trong năm nay Nhìn chung kinh tế thế giới đã tạm vượt qua giai đoạn khó khăn nhất, sản xuất công nghiệp, thương mại đã tăng trưởng trở lại và thị trường tài chính tiền tệ đều sự hồi phục và ổn định hơn trong năm
2010
Tuy nhiên, sự hồi phục kinh tế thế giới hiện tại vẫn khiêm tốn ẩn chứa những rủi
ro và bộc lộ dấu hiệu kìm hãm đà hồi phục Đó là tỷ lệ thất nghiệp vẫn cao ở các nền kinh
tế chủ chốt, nguy cơ vỡ nợ công ở châu Âu đe dọa hồi phục kinh tế do các gói kích thích kinh tế phải cắt giảm, tăng trưởng kinh tế nhiều nước đang phát triển chưa hồi phục trở lại mức trung bình trước khủng hoảng kinh tế, sự thiếu hợp tác giữa các nền kinh tế tăng lên hình thành nguy cơ xung đột thương mại, nguy cơ lạm phát tăng (đặc biệt tại các nước đang phát triển), sự phối hợp thiếu đồng bộ giữa chính sách tài khóa và tiền tệ bộc
lộ làm suy giảm niềm tin vào chính sách vĩ mô
Năm 2011:
Trang 10Có thể nói, nợ công và thâm hụt ngân sách Chính phủ là chủ đề nóng trong suốt năm vừa qua, đặc biệt ở khu vực sử dụng đồng Euro (Eurozone) Năm 2011 đã khởi đầu với một loạt các diễn biến tiêu cực xung quanh vấn đề giải cứu đồng Euro Hành động của Moody’s trong việc hạ mức tín nhiệm của Hi Lạp và Tây Ban Nha đã làm dấy lên những lo ngại trong giới đầu tư, khiến chi phí vay nợ của những thành viên yếu nhất trong khu vực Eurozone này liên tục tăng cao Bạo loạn xảy ra tại Hi Lạp càng tạo thêm
áp lực lên Chính phủ nước này, khiến lãi suất trái phiếu tăng cao kỉ lục Bên kia bờ Đại Tây Dương, Standard & Poor’s đã chuyển đánh giá về vấn đề nợ của Mỹ từ ổn định sang tiêu cực, khi quá trình thỏa hiệp chính trị giữa các Đảng phái trong Chính phủ liên bang
Mỹ về cắt giảm chi tiêu diễn ra rất chậm chạp Cùng với đó, thảm họa động đất và sóng thần ở Nhật Bản xảy ra vào tháng 3 đã kéo lùi các thị trường tài chính trên thế giới Giá dầu bất ngờ tăng cao trong tháng 4 do lo ngại về sự giảm sút nguồn cung bởi bất ổn chính trị ở Trung Đông và Bắc Phi Những diễn biến phức tạp này đã khiến giá vàng liên tục thiết lập những mức kỉ lục mới trong giai đoạn từ tháng 7 tới tháng 9, khi giới đầu tư quốc tế vội vã tìm kiểm một nơi trú ẩn tài chính an toàn, đặc biệt khi Standard & Poor’s
hạ bậc tín nhiệm của Mỹ từ AAA xuống AA+ vào tháng 8 Đáng chú ý, trong năm 2011 này, Trung Quốc đã vượt qua Nhật Bản trở thành nền kinh tế lớn thứ 2 thế giới Trong bối cảnh hậu kích cầu, Chính phủ nước này đã phải liên tiếp tiến hành nâng các mức lãi suất điều hành để ngăn ngừa lạm phát do lo ngại tăng trưởng đã trở nên quá nóng Chính phủ Trung Quốc cũng bắt đầu tái cân bằng nền kinh tế bằng việc khuyến khích tiêu dùng của dân cư và giảm tăng trưởng dựa vào xuất khẩu, qua Kế hoạch 5 năm lần thứ 12 được công bố vào tháng 3.Theo thống kê mới nhất của OECD, thương mại thế giới trong 3 quý đầu năm nay đã tăng trưởng 6,8% so với cùng kì năm 2010, và con số của cả năm sẽ khó
có thể khả quan hơn khi quý 4 bị ảnh hưởng bởi lực cầu suy yếu do sự tăng trưởng chậm chạp của khu vực EU Cụ thể, thương mại của các nước OECD đã tăng 6%, trong khi của các nước ngoài OECD tăng 8,2% Những chính sách tài khóa thắt chặt sẽ làm chậm quá trình phục hồi kinh tế ở các nước phát triển Theo IMF, kinh tế thế giới sẽ tăng trưởng khoảng 3,8% trong năm 2012, giảm từ mức 3,9% của năm 2011 và 5,2% của năm 2010 Những dự báo mới cập nhật vào tháng 12 này đã được điều chỉnh giảm so với những con
Trang 11số dự báo được công bố vào tháng 1 đầu năm 2011 Sự giảm tốc này là hậu quả của những bất ổn tài chính và nỗi lo sợ rủi ro nợ công lan tỏa ra bên ngoài phạm vi những nền kinh tế châu Âu Các 3 biện pháp thắt lưng buộc bụng sẽ thay thế các chương trình kích thích của giai đoạn 2010-2011, và phần lớn các nước phát triển có sẽ có mức GDP dưới sản lượng tiềm năng trong năm 2012 Mặc dù vậy, so với các nước phát triển, triển vọng tăng trưởng của các nền kinh tế đang phát triển sáng sủa hơn, bởi sự suy yếu của cầu ngoại sinh được dự báo sẽ được bù đắp bởi cầu nội địa nhờ những chính sách kinh tế linh hoạt của các Chính phủ
2.1.2 Ảnh hưởng của nền kinh tế vĩ mô nội địa:
2.1.2.1 Tổng sản phẩm quốc nội(GDP):
Năm 2009, tổng sản phẩm (GDP) ước đạt 90,273 tỷ USD, đạt ốc độ tăng trưởng kinh tế 5,3% Đây là mức tăng trưởng thấp nhất kể từ năm 2002 đến nay và là năm đầu tiên trong vòng 5 năm qua có mức tăng dưới 2 chữ số GDP bình quân đầu người đạt khoảng 18,85 triệu đồng
Năm 2010, tổng sản phẩm quốc nội (GDP), tính theo giá thực tế, đạt 97,146 tỷ USD, tốc độ tăng trưởng 6,78% tăng hơn so với năm 2009 gần 7 tỷ USD cùng 1,48% Đây là mức tăng ấn tượng nhất kể từ năm 2002
Năm 2011
Trang 12Tốc độ tăng trường GDP đạt 5,89% so với năm 2010 với tổng giá trị 103,571 tỷ USD Tốc độ tăng tổng sản phẩm trong nước năm nay tuy thấp hơn mức tăng 6,78% của năm 2010 nhưng trong điều kiện tình hình sản xuất rất khó khăn và cả nước tập trung ưu tiên kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô thì mức tăng trưởng trên là khá cao và hợp
Năm 2010
Năm 2010, CPI cuối kỳ khoảng 7% Mục tiêu này có thể không được hoàn thành khi 2 tháng đầu năm CPI đã tăng 3.35% Ngoài ra, nền kinh tế hiện nay vẫn còn tiềm ẩn nhiều yếu tố có thể dẫn đến lạm phát cao trong năm này
Năm 2011
Tỷ lệ lạm phát là 18,13% Theo nghiên cứu của các nhà kinh tế học thế giới, năm
2011 Việt Nam đã vượt ngưỡng lạm phát và sẽ có tác động tiêu cực đến tăng trưởng Nguyên nhân chủ yếu gây lạm phát cao ở nước ta là do hệ quả của việc nới lỏng chính sách tiền tệ, tài khóa kéo dài trong nhiều năm để đáp ứng yêu cầu đầu tư phát triển, bảo đảm an sinh xã hội, và phúc lợi xã hội trong khi cơ cấu kinh tế, cơ cấu đầu tư còn kém hiệu quả, cùng những hạn chế trong quản lý điều hành và tác động cộng hưởng của các
yếu tố tâm lý.
2.1.2.3 Lãi suất
Trang 13Lãi suất huy động của các NHTM Việt Nam có dấu hiệu tăng mạnh trong những năm gần đây Đỉnh điểm của lãi suất là vào năm 2008 khi lãi suất huy động của các NHTM VN có lúc lên tới 17 – 18%, mức tăng cao nhất kể từ năm 1993 (22.04%) Lãi suất năm 2009 tuy có hạ xuống còn 8.5%, nhưng so với lãi suất huy động của năm 2000 (3.65%) thì lãi suất huy động của các NH đã tăng tới 133% trong giai đoạn 2000 – 2009 Năm 2010, chính sách điều hành của chính phủ vẫn tập trung vào việc kiểm soát lạm phát, mục tiêu duy trì chỉ số CPI cả năm 2010 ở mức dưới 8% Đây là chính sách đúng và hợp lý trong giai đoạn hiện nay Tuy nhiên việc đẩy lãi suất lên quá cao để thực hiện chính sách tiền tệ thắt chặt không những không giúp thị trường ổn định mà còn khiến kinh tế gặp khó khăn thực sự Thay vì chỉ cần áp mức lãi suất huy động và cho vay tương ứng là 10% và 13% thì lãi suất trên thị trường đã cao hơn lãi suất mục tiêu tới 4 – 5% Lãi suất tiền đồng lên cao khiến doanh nghiệp phải đi “đường vòng” bằng cách vay ngoại
tệ với lãi suất thấp hơn rồi đổi ra tiền đồng để đưa vào sản xuất Điều này đã góp phần tạo
áp lực lên thị trường ngoại hối cuối năm Bước sang năm 2011, nhiều ngân hàng đã huy động vốn ở mức 13%, 14%, rồi 15%/năm…, các đồng thuận lãi suất 11%, 12% rồi 14%/năm được đặt ra nhưng đến đầu 2011 lại tiếp tục bị phá vỡ Và ngày 3/3/2011, Ngân hàng Nhà nước ban hành Thông tư chính thức áp trần 14%/năm, buộc các tổ chức tín dụng phải thực hiện nghiêm quy định trần, một số ngân hàng bị xử lý do sai phạm một số
Trang 142.1.2.4 Tỷ lệ thất nghiệp
Năm 2009, tỷ lệ thất nghiệp tại nước ta là 2,4%, đây là tỷ lệ khá cao so với các năm trước nhất là khi năm 2008 chỉ có 2% Sang năm 2010 , tỷ lệ thất nghiệp năm 2010 là 2,88% tiếp tục tăng cao so với cùng kỳ năm trước Năm 2011, tỷ lệ thất nghiệp vẫ giữ ở mức 2,9%, điều nay cho thấy những nỗ lực của Chính phủ và Doanh nghiệp trong cả năm
2010 vẫn chưa đem lại hiệu quả
2.1.2.5 Thâm hụt ngân sách:
Năm 2009
Theo báo cáo về thực hiện nhiệm vụ tài chính ngân sách năm 2009 tại hội nghị tổng kết công tác năm 2009 và triển khai nhiệm vụ năm 2010 của ngành tài chính ngày 30-11, bội chi ngân sách nhà nước (NSNN) năm 2009 là 115.900 tỉ đồng, bằng 6,9% GDP, tăng 28.600 tỉ đồng so với dự toán Trong tổng chi NSNN, chi đầu tư phát triển ước đạt 135.500 tỉ đồng, chiếm 25,4% tổng chi NSNN và bằng 8,1% GDP, xấp xỉ mức thực hiện năm 2008; chi trả nợ và viện trợ cả năm ước đạt 64.800 tỉ đồng, tăng 10,2% so với dự toán; chi thường xuyên ước thực hiện cả năm đạt 332.605 tỉ đồng
Năm 2010
Tổng số chi cân đối ngân sách Nhà nước là 582.200 tỷ đồng; mức bội chi ngân
Trang 15sách nhà nước là 119.700 tỷ đồng, bằng 6,2% GDP
Năm 2011
Theo thông tin từ Bộ Tài Chính, sau khi thảo luận đánh giá thực hiện ngân sách nhà nước năm 2010, dự toán ngân sách nhà nước năm 2011 với các Bộ, cơ quan Trung ương và 63 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, mức bội chi ngân sách nhà nước năm
đe dọa đến hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp
Năm 2010, Việt Nam ghi nhận những điểm sáng từ kinh tế vĩ mô là tổng sản phẩm quốc nội khả quan đạt 6,78% vượt mục tiêu ban đầu là 6,5% của chính phủ cao hơn nhiều
so với các quốc gia trong khu vực Đông Nam Á Tuy nhiên, chất lượng tăng trưởng chưa được cải thiện, lạm phát đã có dấu hiệu tăng so với năm trước, VND bị mất giá, lãi suất tăng cao, rủi ro hệ thống ngân hàng thương mại tại Việt Nam gây bất ổn cho nền kinh tế
Trang 16buộc chính phủ phải thực hiện các biện pháp thắt chặt tiền tệ dẫn đến việc lãi suất tăng cao khiến cho doanh nghiêp gặp khó khăn
Dòng tiền và chứng khoán đã thắt chặt trước thông tư 13 được phát hành năm
2010 nay còn thắt chặt hơn khi mà lạm phát tăng cao như vậy Đây là những nguyên nhân khiến cho thị trường chứng khoán của Việt Nam hết sức tồi tệ
2.1.3 Ảnh hưởng của cú sốc cung cầu:
Tốc độ tăng trưởng kinh tế Việt Nam luôn tạo ra những cú sốc bất ngờ cho nhiều nước trên thế giới Đây là động lực tạo ra nhiều cơ hội đầu tư cho cộng đồng doanh nghiệp Hiện nay các nước ASEAN có thị trường tại chỗ tiềm năng lớn với 600 triệu người, dân
số trẻ chiếm phần lớn, đô thị hóa nhanh, số người có mức thu nhập từ 5.000 - 35.000 USD/năm ngày càng tăng cao…, để kích cầu thị trường nội địa, các nước ASEAN phải trang bị hệ thống tiếp vận, hậu cần, có chính sách hỗ trợ người tiêu dùng, sản xuất hàng hóa với mức giá mà người tiêu dùng tiếp cận được, phát triển hệ thống bán lẻ…
Dù thị trường nội địa tiềm năng như vậy, nhưng không dễ khai thác hết vì văn hóa tiêu dùng của người châu Á theo lối “tích trữ phòng cơ”, do vậy không thể sớm chiều có thể chuyển đổi vị trí giữa thị trường nội địa và xuất khẩu trong đóng góp vào ngân sách của quốc gia Do đó, các nước ASEAN không thể bỏ lơ xuất khẩu, tập trung xuất khẩu sẽ vẫn duy trì trong thời gian tới Bởi lẽ suốt thời gian dài vừa qua, 60% hàng hóa được sản xuất tại khu vực này được xuất sang EU, Mỹ, Nhật Bản Bắt đầu từ ngày 1/10, Hiệp định đối tác kinh tế Việt Nam – Nhật Bản (EPA) đã chính thức có hiệu lực.Theo đó, trên 90% hàng hóa Việt Nam xuất khẩu vào Nhật được hưởng mức thuế quan thấp hơn trước khá nhiều.Dù hiện tại hoạt động xuất khẩu đang gặp nhiều khó khăn, nhưng mọi việc sẽ ổn khi nền kinh tế thế giới phát triển trở lại
Tại Việt Nam, việc giá xăng dầu liên tục tăng với tốc độ chóng mặt trong thời gian gần đây đã khiến giá cả của các mặt hàng tăng theo.,giá điện cũng tăng theo xu hướng này khiến nhiều doanh nghiệp đầu tư khó khăn trong quá trình sản xuất Ngoài ra các nước thuộc khu vực Châu Á hàng năm luôn đối mặt với các vấn đề thiên tai, lũ lụt, hạn hán gây ảnh hưởng nặng nề đến nền kinh tế của đất nước
Trang 172.1.4 Ảnh hưởng của chính sách của chính phủ:
Có sự nhất quán trong điều hành chính sách tiền tệ và tài khóa nhằm mục tiêu duy trì đà tăng trưởng Mặc dù mục tiêu ổn định giá cả được tuyên bố là mục tiêu ưu tiên trong luật NHNN nhưng lựa chọn cuối cùng luôn là vấn đề tăng trưởng Có thể nhìn thấy điều này cả trong giai đoạn kiềm chế lạm phát năm 2008, giai đoạn kích cầu năm 2009 -
2010 và cả giai đoạn thực hiện Nghị quyết 11 tập trung ổn định vĩ mô năm 2011 Xét ở khía cạnh này, cả hai chính sách đã có sự phối hợp khá rõ nét Việc này ảnh hưởng rất lớn đến sự phát triển của ngành mía đường trong những năm 2008- 2011, trong đó có công ty cổ phần đường Lam Sơn
Giai đoạn lạm phát bùng nổ vào năm 2008 như là kết quả tất yếu của chính sách nới rộng tổng cầu trước đó đòi hỏi các chính sách kiềm chế tổng cầu quyết liệt và nhất quán song song với cải thiện các khía cạnh của cấu trúc kinh tế và hiệu quả đầu tư Song trong thực tế, Chính phủ đã 4 lần thay đổi mục tiêu ưu tiên và bằng cách đó, các điều chỉnh chính sách luôn có thiên hướng duy trì tốc độ tăng trưởng (đặc biệt là chính sách tài khóa)
- Từ thắt chặt tài khóa và tiền tệ để kiềm chế lạm phát (năm 2008) sang kích cầu đầu tư để thúc đẩy tăng trưởng (năm 2009) (Công văn số 75/TTg-KTTH ngày 15/01/2008 về biện pháp kiềm chế lạm phát, kiểm soát tăng giá năm 2008; Công văn số 319/TTg-KTTH ngày 03/3/2008 về tăng cường các biện pháp kiềm chế lạm phát năm 2008; Nghị quyết 10/2008/NQ-CP ngày 17/4/2008 về 8 giải pháp đồng bộ để kiềm chế lạm phát; Nghị quyết 30/2008/NQ-
CP ngày 11/12/2008 về những giải pháp cấp bách nhằm ngăn chặn suy giảm kinh
tế, duy trì tăng trưởng, bảo đảm an sinh xã hội)
- Thực hiện chính sách tài chính, tiền tệ chặt chẽ, linh hoạt để kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô và bảo đảm tăng trưởng (năm 2010) (Nghị quyết số 18/ NQ-CP ngày 06 tháng 4 năm 2010 về những giải pháp bảo đảm ổn định kinh tế vĩ mô và đạt tốc độ tăng trưởng kinh tế khoảng 6,5% trong năm 2010)
Trang 18- Tăng cường ổn định kinh tế vĩ mô và kiểm soát lạm phát (2011) (Nghị quyết số 11/NQ-CP ngày 24/2/2011 về các giải pháp chủ yếu nhằm tập trung kìm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, đảm bảo an sinh xã hội trong năm 2011)
iv/ Năm 2012 tiếp tục ưu tiên kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô (Nghị quyết số 01/NQ-CP ngày 03 tháng 01 năm 2012)
Có thể nhận thấy, cho tới 2010 và nửa đầu 2011, mục tiêu tăng trưởng vẫn là mục tiêu ưu tiên, mặc dù lạm phát không còn là dấu hiệu mà đã thực sự bùng phát cộng với những ảnh hưởng bởi độ trễ của chính sách kích cầu năm 2009 Chỉ tới nửa cuối năm
2011 cho tới nay, ưu tiên kiềm chế lạm phát mới thực sự được thể hiện trong các văn bản chỉ đạo của Chính phủ và trở thành hành động của hai Bộ Tài chính và NHNN Tuy nhiên, trong thực tế, chinh sách tiền tệ và chính sách tài khóa được sử dụng để hướng tới các mục tiêu kinh tế với các mức độ khác nhau Trong đó, chính sách tiền tệ luôn được sử dụng như là công cụ chủ yếu để điều tiết kinh tế vĩ mô, đặc biệt trong giai đoạn giảm tổng cầu, kiềm chế lạm phát
Từ nửa cuối năm 2008, CSTT lại hướng vào việc thúc đẩy tăng trưởng kinh tế nhằm đối phó với suy thoái kinh tế trong nước và khủng hoảng kinh tế thế giới thông qua một loạt các công cụ:
- Triển khai thực hiện cơ chế hỗ trợ lãi suất mà thực chất là mở rộng cung tiền
- Hạ lãi suất cơ bản từ 14% xuống 8,5% và cặp lãi suất chiết khấu, tái cấp vốn xuống 7,5% và 9,5%
- Giảm tỷ lệ dữ trữ bắt buộc đối với tiền đồng xuống còn 5%
- Thực hiện thanh toán trước hạn 20.300 tỷ đồng tín phiếu NHNN Nghiệp vụ thị trường mở chủ yếu là mua giấy tờ có giá để cung ứng thêm tiền
- Duy trì lãi suất cơ bản ở mức 7% trong gần suốt năm 2009, tăng lên 8% vào tháng 11/2009
Việc hạ lãi suất tác động đến giá của các sản phẩm trong ngành mía đường, làm tăng lượng cầu trong nền kinh tế Tuy nhiên, LSS sử dụng nợ dài hạn khá ít đồng thời vạy ngắn hạn dùng cho vốn lưu động cũng không nhiều do đó khi lãi suất trên thị trường biến động cũng không làm ảnh nhiều đến chi phí tài chính của công ty
Trang 19Nghị quyết số 18/NQ-CP 4/2010 xác định cả hai mục tiêu cho năm 2010: kiềm chế mức lạm phát khoảng 7% (tương tự như 2009) và theo đuổi mục tiêu tăng trưởng khoảng 6,5% Trong thực tế, khoảng nửa đầu năm 2010, CSTT tuân thủ định hướng hạn chế tốc độ tăng trưởng dư nợ tín dụng (mục tiêu tăng trưởng dư nợ tín dụng là 25% và M2 là 20%), kiểm soát rủi ro, cải thiện chất lượng tín dụng và cơ cấu dư nợ Các giải pháp này là khá tương thích theo nghĩa: yêu cầu chất lượng tín dụng cao sẽ làm giảm nhu cầu tín dụng ảo và hạn chế tình trạng rủi ro do lựa chọn đối nghịch và rủi ro đạo đức Chính sách tài khóa cũng theo đuổi mục tiêu nới rộng tổng cầu trong suốt năm 2010 nhằm kích thích tăng trưởng Trong năm 2010, các chính sách của chính phủ diễn ra trong bối cảnh tình hình kinh tế thị trường trong nước và thế giới có nhiều khó khăn, giá
cả nguyên vật liệu tăng cao đã ảnh hưởng đến hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty
Cả chính sách tiền tệ và chính sách tài khóa đều được yêu cầu sử dụng triệt để các công
cụ chính sách nhằm ưu tiên kiềm chế lạm phát Chính sách tiền tệ một lần nữa quay lại thực hiện thắt chặt với mục tiêu trung gian gồm dư nợ tín dụng tăng trưởng dưới 16%, M2 tăng dưới 20% NHNN đã triển khai các chính sách cụ thể nhằm đạt mục tiêu này, gồm:
- Yêu cầu các tổ chức tín dụng điều chỉnh kế hoạch kinh doanh phù hợp với mục tiêu tăng trưởng tín dụng, điều chỉnh cơ cấu tín dụng, tập trung vốn phát triển sản xuất kinh doanh, giảm tốc độ và tỷ trọng dư nợ cho vay lĩnh vực phi sản xuất trong tổng dư nợ xuống mức 22% đến 30/06/2011 và 16% đến 31/12/2011
- Lãi suất chiết khấu tăng từ 7%/năm lên 12->13%/năm, lãi suất tái cấp vốn và lãi suất cho vay qua đêm trong thanh toán điện tử liên ngân hàng từ 10-16%/năm
- Nghiệp vụ thị trường mở thực hiện nghiệp vụ hút tiền ròng trong phần lớn thời gian của năm 2011 (tính đến cuối tháng 6/2011, mức cung ròng qua OMO là không đáng kể: hơn 13.000 tỷ đồng và tính đến cuối năm 2011 lượng hút ròng 111.365 tỷ đồng
- Tuân thủ nghiêm ngặt giới hạn tín dụng trong toàn hệ thống ngân hàng với các chế tài xử phạt nghiêm khắc của nội bộ từng ngân hàng
Trang 20- Xây dựng và triển khai chiến lược cấu trúc lại hệ thống ngân hàng từng bước nhằm nâng cao tính hiệu quả, giảm mức độ rủi ro và cải thiện sức mạnh cạnh tranh của hệ thống ngân hàng Chủ trương này cũng nhằm giải quyết tận gốc căn nguyên của tình trạng mặt bằng lãi suất cao hiện nay (về phía ngân hàng)
- Triển khai đồng bộ các giải pháp đối với thị trường ngoại tệ, thị trường vàng nhằm mục tiêu giảm sự di chuyển vốn lòng vòng giữa tài sản được coi như tiền (money likes) - một trong các yếu tố gây áp lực lên lãi suất nội tệ, triệt tiêu tác động của CSTT Kết quả là mức tăng M2 và tín dụng của cả năm 2011 đạt dưới 10% và trên 12% (số liệu ước tính theo công bố của NHNN đầu năm 2012), thấp hơn nhiều so với mức tăng trung bình của các năm trước Ðây là mức thắt chặt thấp hơn đáng kể so với mức tăng định hướng đã nêu trong Nghị quyết 11 nhằm hướng tới giảm tổng cầu Tuy vậy, sự quyết liệt trong giảm tổng cầu từ phía CSTT
đã không đạt được kết quả mong muốn Trong khi tỷ lệ tăng trưởng đạt 5,89% thì
tỷ lệ lạm phát vẫn tiếp tục tăng tới mức kỷ lục gần 19% (mức tăng cao so với mục tiêu đã được điều chỉnh là 15% cho năm 2011) Chính sách chỉnh phủ trong năm
2011, tác động mạnh đến công ty và các công ty trong ngành Giá vốn hàng bán tăng hơn gấp đôi, chi phí tài chính tăng gấp bốn lần từ năm 2010 đến năm 2011 dẫn đến lợi nhuận giảm trong năm; khả năng thanh toán ngắn hạn và thanh toán nhanh cũng giảm trong năm
Quá trình thắt chặt tiền tệ trong năm 2009 - 2011 đã làm cho thị trường chứng khoán Việt Nam đã rơi về mức định giá rất thấp (trong đó có các công ty trong ngành mía đường), chỉ số P/E rẻ nhất trong các thị trường các nước mới nổi Báo cáo mới nhất của McKinsey về nền kinh tế Việt Nam đã so sánh tỷ lệ tổng dư nợ tín dụng của ngành ngân hàng/GDP của Việt Nam so với các nước trong khu vực Đồ thị cho thấy, Việt Nam và Trung Quốc là 2 nước có tỷ lệ này ( tỷ lệ đòn bẩy) cao nhất trong khu vực
Với tỉ lệ đòn bẩy cao hơn 110%, vì vậy một khi Việt Nam thay đổi chính sách tiền
tệ và chính sách tài khóa thì lập tức ảnh hưởng tới doanh nghiệp mía đường và nền kinh
tế, kéo theo những thay đổi trên thị trường chứng khoán Để đạt được tăng trưởng cao ( trung bình 7% trong vòng 10 năm qua) Việt Nam đã có tăng trưởng tín dụng rất cao,
Trang 21nhưng hệ quả là từ khi giảm tỉ lệ tăng trưởng tín dụng bằng cách thắt chặt tiền tệ, thì chứng khoán đi xuống một cách rõ rệt
Từ tháng 10/2010 tới cuối 2011 chính phủ đã chọn biên pháp thắt chặt tiền tệ để kiềm chế lạm phát Lãi suất liên ngân hàng qua đêm đã tăng mạnh lên đỉnh điểm gần 20% cho thấy thanh khoản hệ thống ngân hàng gặp vấn đề Cùng với thời kỳ này, thị trường chứng khoán liên tục đi xuống Trong năm 2009, chúng ta đã chứng kiến việc chính phủ hạ mặt bằng lãi suất bằng gói kích thích kinh tế làm cho thị trường chứng khoán thăng hoa, tăng điểm 100% trong vòng 4 tháng
2.1.5 Ảnh hưởng của chu kỳ kinh doanh
2.1.5.1 Khái niệm chu kỳ kinh doanh
Chu kỳ kinh doanh được hiểu là sự biến động của các hoạt động kinh tế ngắn hạn trong một thời kỳ nhất định, trong đó các giai đoạn tăng trưởng và các giai đoạn suy giảm luân chuyển lẫn nhau không ngừng Là mô hình lặp lại của quá trình suy thoái và phục hồi
Chu kỳ kinh doanh là một loại dao động được nhận thấy trong các hoạt động kinh
tế tổng hợp của những quốc gia mà tổ chức công việc chủ yếu của họ diễn ra trong các đơn vị sản xuất kinh doanh: một chu xdkỳ gồm có các quá trình mở rộng sản xuất xuất hiện vào các khoảng thời gian giống nhau ở rất nhiều hoạt động kinh tế, kế theo là các giai đoạn giảm sút, thu hẹp và các giai đoạn phục hồi tương tự mà những giai đoạn này hợp nhất vào giai đoạn mở rộng của chu kỳ tiếp theo; quá trình thay đổi liên tiếp này thường xuyên diễn ra nhưng không mang tính định kỳ
Lịch sử phát triển kinh tế của nhiều nước khác nhau, nhất là của những nước công nghiệp phát triển, đã trải qua nhiều chu kỳ kinh doanh khác nhau Song thực tế cho thấy, chu kỳ kinh doanh ở nước nào cũng lặp đi lặp lại không theo một độ dài thời gian giống nhau, không theo một biên độ dao động giống nhau về các kết quả hoạt động kinh tế vĩ mô như GDP (theo giá so sánh), thất nghiệp, lạm phát Do vậy, rất khó dự báo trước được với độ chính xác cao Sự kế tiếp nhau các chu kỳ kinh doanh có thể được mô tả một cách hình thức theo đồ thị sau đây:
Trang 22Ở đồ thị trên:
- Đỉnh là điểm cao nhất mà GDP đạt tới trong một chu kỳ
- Đáy là điểm thấp nhất mà GDP giảm xuống trong một chu kỳ
- Giai đoạn suy giảm của chu kỳ được xét là khoảng thời gian giữa đỉnh của chu
kỳ liền trước với đáy của chu kỳ được xét
- Giai đoạn tăng trưởng của chu kỳ được xét là khoảng thời gian giữa đáy của chu
kỳ được xét với đỉnh của chu kỳ liền sau
Mặc dù đã đơn giản hoá thực tế đi rất nhiều, song đồ thị mô tả sự kế tiếp nhau các chu kỳ kinh doanh được vẽ ở trên cũng chứa đựng ba điểm đáng lưu ý sau:
- Đỉnh được xét đều cao hơn đỉnh liền trước, đáy được xét đều sâu hơn đáy liền sau
- Giai đoạn tăng trưởng thường dài hơn giai đoạn suy giảm
- Các chu kỳ kinh doanh thường khác nhau về độ dài thời gian
2.1.5.2 Các chu kỳ kinh doanh ở nước ta từ sau Đổi mới
Sau hơn 20 năm đổi mới nước ta đã trải qua ba giai đoạn suy thoái chu kỳ với tần suất từ 9-10 năm Lần đầu tiên là năm 1989-1990 khi tăng trưởng GDP trung bình chỉ đạt 4,9% trong khi tỷ lệ thất nghiệp lên đến 13% năm 1989 và 9% năm 1990
Từ năm 1990, sau khi tư duy cải cách thực sự được chuyển hóa thành các chính sách kinh tế và đi vào cuộc sống, nền kinh tế đã nhanh chóng vượt qua giai đoạn khó
Thu hẹp Mở rộng Thu hẹp Mở rộng Thu hẹp
Cực đại
Cực đại
Cực tiểu
Cực tiểu
Trang 23khăn và bước vào thời kỳ phát triển mạnh với tốc độ tăng GDP bình quân 8,2%/năm trong giai đoạn 1991-1995, đạt mức cao nhất trong chu kỳ là 9,5% năm 1994, thất nghiệp chỉ còn 5,8%
Từ năm 2000-nay, việc tiếp tục kiên trì đường lối đổi mới với nhiều cải cách mạnh
mẽ, đặc biệt là sự ra đời Luật Doanh nghiệp đã giải phóng nguồn lực dồi dào trong khu vực dân doanh GDP liên tục tăng qua các năm và đạt 8,5% năm 2007, thất nghiệp giảm xuống chỉ còn 4,2% Tuy nhiên, để đạt được kết quả đó, trong giai đoạn 2003-2007 cung tiền cũng tăng cao trung bình 25%/năm, tín dụng nội địa tăng trên 35%/năm và đạt mức cao nhất thế giới là 53% trong năm 2007
2.1.5.3 Ảnh hưởng của chu kỳ kinh doanh đến TTCK Việt Nam
Nền kinh tế trong suốt xu hướng vận động dài hạn của nó phải trải qua nhiều chu
kỳ Mỗi chu kỳ đều gồm một giai đoạn mở rộng, tăng trưởng lên đến đỉnh điểm, sau đó là giai đoạn thu hẹp, suy thoái và chạm đáy Thị trường chứng khoán cũng vậy, luôn có tính chu kỳ và lấy nền kinh tế làm nền tảng
Năm 2009
Trang 24Đầu năm 2009, chỉ số VN-Index ở mức 313.3 điểm và dao động dưới mức này trong 2 tháng đầu với đáy là 241.5 điểm vào ngày 03/03 Từ đó chỉ sô VN-Index đã có bước phục hồi thần kỳ với đà tăng mạnh liên tiếp cho đến giữa tháng 6, sau đó từ nửa sau tháng 6 đến gần cuối tháng 7, chỉ số VN-Index có những bước điều chỉnh khá nhẹ Bắt đầu từ tháng 8 đến nửa đầu tháng 10 tiếp tục ghi nhận đà tăng mạnh mới khi thiết lập đỉnh trong năm ở mức 617.4 điểm vào ngày 17/10 Các tháng cuối năm 2009 ghi nhận sự giằng co của chỉ số VN-Index và kết thúc năm 2009 ở mức 494.8 điểm, tăng 181.5 điểm (tương ứng 57.9%)
Năm 2010
Mở đầu phiên giao dịch năm 2010, chỉ số VN-Index đã có bước tăng mạnh mẽ từ 494,8 điểm lên 517,1 điểm (tăng 23,3 điểm) Trong suốt năm 2010, chỉ số VN-Index hầu như chỉ dao động trong khoảng 420-540 điểm, với đỉnh là 549,5 điểm ngày 06/05 và đáy
là 423,9 điểm ngày 25/08 Kết thúc năm 2010, chỉ số VN-Index chốt ở mức 484,7 điểm, giảm 10,1 điểm tương ứng 2,04%
Năm 2011
Trang 25Chỉ số VN-Index mở đầu năm 2011 ở mức 484,7 điểm và chỉ có dấu hiệu đi lên trong 2 tháng đầu năm với mức đỉnh là 522,5 điểm ngày 09/02 Sau đó là chuỗi ngày giảm điểm liên tục và dốc đứng, thậm chí từ ngày 12/05 đến 25/05 là 10 phiên giảm liên tục làm bốc hơi gần 100 điểm (từ 482,1 điểm còn 386,4 điểm), sau đó tăng lên lại lại thành đồ thị hình nến ngược trong tháng 5 Trong giai đoạn từ 25/08 đến 14/09 là xu hướng ngược lại tháng 5 với 13 phiên tăng điểm liên tiếp từ 401,7 điểm lên 469,4 điểm
Đó được coi là lần vụt sang duy nhất trong năm 2011, sau đó là chuỗi giảm thẳng để lập mức đáy mới là 347,8 điểm Kết thúc giao dịch năm 2011, VN-Index chốt ở mức 351,6, giảm 133,1 điểm tương ứng 27,5 % so với đầu năm
2.2 Phân tích ngành
2.2.1 Sự nhạy cảm của chu kỳ kinh doanh
2.2.1.1 Độ nhạy cảm của doanh thu
Có thể thấy được ngành đường là một ngành thuộc các nhu yếu phẩm có tính nhạy cảm ít nhất đối với các điều kiện kinh doanh điều này biểu hiện qua việc doanh thu của các công ty trong ngành vẫn tăng trưởng khá ổn định mặc dù giai đoạn từ 2009 đến 2011 nền kinh tế vĩ mô của Việt Nam không mấy sáng sủa lắm
Biểu đồ doanh thu bán đường của 6 công ty niêm yết
Trang 26Doanh thu của 6 công ty đường trong 3 năm qua tăng với tốc độ khá cao Năm
2010, tốc độ tăng trưởng doanh thu bình quân của 6 công ty đạt khoảng 53,7%, năm 2011 tốc độ tăng đạt khoảng 68% Chú ý rằng doanh thu bán đường của các công ty niêm yết chiếm tỷ trọng khoảng 85-90% tổng doanh thu Điều này chứng tỏ các công ty niêm yết luôn tập trung vào hoạt động kinh doanh cốt lõi là mía đường chứ không kinh doanh đa ngành hay phân tán nguồn lực sang đầu tư tài chính như nhiều nhóm ngành khác
2.2.1.2 Đòn bẩy hoạt động
Khi nói đến cơ cấu phân bổ chi phí trong sản xuất của doanh nghiệp thì chi phí gồm 2 loại đó là biến phí và định phí Hiện tại có 6 công ty sản xuất đường đang niêm yết trên hai sàn chứng khoán, trong đó SBT là công ty có nhà máy sản xuất có quy mô lớn và hiện đại nhất Các công ty như KTS, NHS và SEC có quy mô sản xuất tương đối nhỏ - chỉ bằng một phần ba so với LSS và SBT Phần lớn các công ty khác đều sử dụng công nghệ máy móc của Trung Quốc do đó thường lạc hậu và thời gian khấu hao đã gần hết như KTS đã khấu hao 87%, LSS là 80% các công ty còn lại ở mức 50% - 60% Do công nghệ lạc hậu nên giá thành sản xuất của các công ty thường cao, chi phí nguyên liệu chiếm khoảng 80% doanh thu Chi phí bán hàng và chi phí tài chính không đáng kể do các doanh nghiệp này sử dụng vốn chủ nhiều, nợ dài hạn ít đồng thời hệ thống bán hàng đại lý đã làm giảm chi phí cho doanh nghiệp Ngoài ra đặc trưng của ngành mía đường Việt Nam là có tình thời vụ, thường chủ yếu thu hoạch, vận chuyển và sản xuất trong thời gian khoảng 5 tháng (tháng 11 đến tháng 4 năm sau), sau đó tồn kho thành phẩm để bán cho các tháng còn lại trong năm Vì vậy nên chi phí tồn trữ hàng hóa này rất cao và giá thành sản phẩm khá cao Các công ty trong ngành mía đường không có chi phí thuê nhà xưởng kho bãi vì công ty đã có sẵn vì vậy nhìn chung các doanh nghiệp mía đường có tỷ
lệ biên phí lớn hơn định phí nên ít nhạy cảm hơn đối với điều kiện kinh doanh, vì vậy mà khi nền kinh tế khó khăn các doanh nghiệp có thể giảm bớt chi phí khi kết quả giảm do doanh thu giảm
2.2.1.3 Đòn bẩy tài chính
Bảng tính cơ cấu vốn trung bình 3 năm 2009-2011
Trang 27CP thuộc ngành đường chỉ bị sụt giảm khoảng 15% so với sự sụt giảm chung của thị trường Tuy nhiên khi nền kinh tế phát triển mạnh mẽ thì các cổ phiếu trong lĩnh vực tài chính bất động sản sẽ có tỷ suất sinh lời lớn hơn nhiều so với cổ phiếu ngành mía đường
2.2.2 Chu kỳ sống của ngành
Chu kì sống của ngành trải qua 4 giai đoạn :Giai đoạn khởi điểm (giới thiệu), giai đoạn phát triển (củng cố), giai đoạn chín muồi (sung mãn), giai đoạn suy thoái Khi nền kinh tế đi qua các giai đoạn khác nhau trong chu kỳ kinh doanh, lợi nhuận tương đối của các nhóm ngành khác nhau dự kiến cũng thay đổi theo môi trường vĩ mô
Ngành mía đường là ngành thuộc tính phòng thủ nên sẽ ít chịu sự tác động của chu kỳ ngành Điều này khá dễ lý giải khi dù cho nền kinh tế có xấu thì những thực phẩm thiết yếu cả trong tiêu dung và sản xuất như đường ít chịu tác động mạnh Có thể nói cổ
Trang 28phiếu mía đường nằm trong trạng thái bão hòa là chủ yếu nên hầu như tốc độ tăng trưởng của ngành chỉ biến động theo tốc độ tăng trưởng chung của nền kinh tế
2.3.3.1 Cơ cấu và kết quả ngành
Mô hình 5 tác lực cạnh tranh của Michael Porter:
Mối đe dọa xâm nhập:
Hiện tại, sản xuất đường trong nước mới chỉ đáp ứng được khoảng 70% nhu cầu tiêu thụ Thị phần tiêu thụ hiện nay ngoài SBT, LSS, BHS và NHS, trên thị trường đường còn có Công ty đường Quảng Ngãi và Công ty đường Cần Thơ là các công
ty lớn có sức cạnh tranh cao Phần còn lại của thị trường là các công ty đường nhỏ chiếm dưới 2% thị phần và các doanh nghiệp nhập khẩu đường để kinh doanh chiếm dưới 2% thị phần, vì vậy nên mối đe dọa xâm nhập của các đối thủ trong nước là không nhiều mà sự đe dọa từ nước ngoài mới là lớn
Trang 29 Cạnh tranh của các đối thủ hiện có:
Sự cạnh tranh trong ngành mía đường không cao Ngành đường Việt Nam không
có tính cạnh tranh cao so với các nước trong khu vực và trên thế giới, do giá thành sản xuất cao, một phần là do giá mua nguyên liệu mía cao hơn các nước trong khu vực khoảng 30%, đồng thời dây chuyền sản xuất mía nước ta chưa cao so với các nước trên thế giới Mặt khác, trong các năm gần đây, giá đường Việt Nam được bảo hộ bởi thuế quan cao và hạn ngạch nhập khẩu, đã tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp trong nước Tuy nhiên, năm 2010, nước ta hội nhập AFTA, và
sẽ áp dụng thuế xuất nhập khẩu đường là 5%, cùng với việc gia nhập WTO, Việt Nam sẽ phải mở cửa nhập khẩu trong hạn ngạch là 25% với đường thô, ngoài hạn ngạch là 65%, khối lượngnhập khẩu trong hạn ngạch còn tăng 5% mỗi năm Đây
là một khó khăn ngành đường để cạnh tranh với các nước công nghiệp đường phát triển trong khu vực và trên thế giới
Sức ép từ các sản phẩm thay thế:
Đường là một sản phẩm thiết yếu và không thể thay thế được chỉ có một số ít các loại được sử dụng thay cho đường như mật ong, thốt nốt, lõi dừa, ngôn, củ cải đường, tuy nhiên nó là không nhiều và không thể làm ảnh hưởng mấy đến sản phẩm của ngành mía đường
Quyền lực của người mua:
Vì việc nguồn cung đường ở thị trường trong nước còn không đủ mà chỉ được có 70% vậy nên vị thế của người mua đối với sản phẩm đường là không mạnh
Quyền lực của nhà cung cấp:
Ngành công nghiệp mía đường trong nước luôn trong tình trạng thiếu hụt nguyên liệu, nguyên nhân: - Việc trồng mía là sự thỏa thuận giữa hai bên: người trồng mía
và các chủ doanh nghiệp sản xuất mía Vậy nên trong ngành mía đường này yếu tố
về quyền lực của nhà cung cấp không tác động nhiều đối với các doanh nghiệp trong ngành
Trang 30CHƯƠNG 3 : PHÂN TÍCH TÌNH HÌNH TÀI CHÍNH
TỔNG CÔNG TY CỔ PHẦN ĐƯỜNG LAM SƠN TỪ NĂM
CHÊNH LỆCH 2011/2010
-4 Phải thu theo tiến độ KH hợp
-5 Các khoản phải thu khác -4,141,298,090 -22.09% -3,815,052,335 -26.12%
6 Dự phòng các khoản phải thu