1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Đề tài thế sự nông thôn trong tiểu thuyết việt nam sau 1975 (qua hai tiểu thuyết mảnh đất lắm người nhiều ma của nguyễn khắc trường và bến không chồng của dương hướng)

123 602 8

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 123
Dung lượng 693,07 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

NGUYỄN THỊ TRANG ĐỀ TÀI THẾ SỰ NÔNG THÔN Qua hai tiểu thuyết Mảnh đất lắm người nhiều ma của Nguyễn KhắcTrườngvà Bến không chồng của Dương Hướng Chuyên ngành: Lí luận văn học Mã số: 6

Trang 1

NGUYỄN THỊ TRANG

ĐỀ TÀI THẾ SỰ NÔNG THÔN

(Qua hai tiểu thuyết Mảnh đất lắm người nhiều ma của

Nguyễn KhắcTrườngvà Bến không chồng của Dương Hướng)

Chuyên ngành: Lí luận văn học

Mã số: 60 22 01 20

LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ VÀ VĂN HÓA VIỆT NAM

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Tôn Thảo Miên

HÀ NỘI - 2016

Trang 2

Tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành và lòng biết ơn sâu sắc tới cô giáo PGS TS Tôn Thảo Miên – người đã trực tiếp hướng dẫn, tận tình chỉ bảo cho tôi để hoàn thành luận văn này

Tôi cũng xin được gửi lời cảm ơn tới các thầy cô giáo trong khoa ngữ văn, phòng sau Đại học – Trường ĐHSP Hà Nội 2, cùng gia đình, bạn bè đã giúp đỡ và tạo điều kiện thuận lợi để tôi hoàn thành khóa luận

Hà Nội, tháng 12 năm 2016

Học viên thực hiện

NGUYỄN THỊ TRANG

Trang 3

Tôi xin cam đoan luận văn này là do kết quả nghiên cứu của cá nhân tôi dưới sự hướng dẫn trực tiếp của cô giáo- PGS.TS.Tôn Thảo Miên Luận văn này không trùng với bất kì công trình nghiên cứu của tác giả nào đã được công bố trước đó.Nếu sai tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm

Hà Nội, tháng 12 năm 2016

Học viên thực hiện

NGUYỄN THỊ TRANG

Trang 4

MỞ ĐẦU 1

1 Lí do chọn đề tài 1

2 Lịch sử vấn đề 2

3 Mục đích nghiên cứu 4

4 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu 5

5 Phương pháp nghiên cứu 5

6 Đóng góp của luận văn 5

7 Cấu trúc luận văn 6

NỘI DUNG 7

Chương 1 TIỂU THUYẾT VIẾT VỀ NÔNG THÔN THỜI KỲ ĐỔI MỚIVÀ HAI NHÀ VĂN NGUYỄN KHẮC TRƯỜNG VÀ DƯƠNG HƯỚNG 7

1.1 Khái quát tiểu thuyết về nông thôn Việt Nam từ sau 1975 7

1.1.1 Tiểu thuyết viết về nông thôn Việt Nam trước năm 1975 8

1.1.2 Tiểu thuyết viết về nông thôn Việt Nam sau 1975 10

1.1.2.1.Người nông dân gắn bó với quê hương, xứ sở 11

1.1.2.2 Đời sống nông thôn trước những biến đổi của xã hội 13

1.1.2.3 Mối quan hệ của con người trong đời sống thường nhật 16

1.2 Nguyễn Khắc Trường và Mảnh đất lắm người nhiều ma 19

1.3 Dương Hướng và tiểu thuyết Bến không chồng 25

Chương 2 BỨC TRANH THẾ SỰ NÔNG THÔN VIỆT NAMQUA HAI TIỂU THUYẾT MẢNH ĐẤT LẮM NGƯỜI NHIỀU MAVÀ BẾN KHÔNG CHỒNG 33

2.1 Bức tranh nông thôn 33

2.1.1 Bức tranh nông thôn trong cuộc cải cách ruộng đất 33

Trang 5

2.1.1.2 Thời kì hợp tác hóa nông nghiệp, xã hội nông thôn vẫn nhếch nhác, người dân vẫn đói nghèo 39 2.1.2 Bức tranh nông thôn với mâu thuẫn họ tộc 44 2.1.2.1 Sự đối đầu khốc liệt giữa các dòng họ 44 2.1.2.2.Ý thức về dòng họ - nguyên nhân của những thảm kịch đối với người nông dân 49

2.2 Bi kịch của con người 52

2.2.1 Bi kịch của con người giữa quyền lực và danh dự 53 2.2.1.1 Bi kịch của con người giữa quyền lực và danh dự trong tiểu thuyết Mảnh đất lắm người nhiều ma 53 2.2.1.2 Bi kịch của con người giữa quyền lực và danh dự trong tiểu thuyết Bến không chồng 58 2.2.2 Thân phận của người phụ nữ 60 2.2.2.1 Thân phận của người phụ nữ trong tiểu thuyết Mảnh đất lắm người nhiều ma 60 2.2.2.2 Thân phận của người phụ nữ qua tiểu thuyết Bến không chồng 62

2.3 Đời sống tâm linh và con người bản năng, tính dục 64

2.3.1 Nông thôn với đời sống tâm linh phong phú 64 2.3.1.1 Văn hoá tâm linh thể hiện trong việc xây dựng những không gian thiêng 64 2.3.1.2 Tin vào sự tồn tại của linh hồn là cách để người nông dân tìm về với đời sống tâm linh 65 2.3.1.3 Năng lực dự báo của người nông dân - một khía cạnh nữa của đời sống tâm linh 67

Trang 6

tình yêu, hạnh phúc của người nông dân 69

2.3.2.2 Bản năng tính dục như là khát vọng đam mê tình dục cháy bỏng của người nông dân 70

2.3.2.3 Qua việc khám phá con người với tính dục, phê phán sự xuống cấp của đạo đức, sự tha hóa về nhân cách của người nông dân 72

Chương 3 MỘT SỐ PHƯƠNG DIỆN NGHỆ THUẬT TIÊU BIỂU 75

3.1 Ngôn ngữ nghệ thuật 75

3.1.1 Khái niệm ngôn ngữ nghệ thuật 75

3.1.2 Các sắc thái ngôn ngữ cơ bản 76

3.2 Giọng điệu nghệ thuật 87

3.2.1 Khái niệm giọng điệu 87

3.2.2 Các giọng điệu khác 87

3.3 Không gian – thời gian nghệ thuật 99

3.3.1 Khái niệm không gian – thời gian nghệ thuật 99

3.3.2 Các kiểu không gian – thời gian nghệ thuật 100

KÊT LUẬN 110

TÀI LIỆU THAM KHẢO 113

Trang 7

MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài

Nông thôn Việt Nam là nơi chứa đựng những trầm tích về văn hóa vốn

đã kết thành những phẩm chất trong sáng, đẹp đẽ ở người nông dân Cũng chính mảnh đất này đã đọng lại không ít những nỗi đau, tủi hờn, oan khuất đeo bám người dân quê Hiện thực đời sống xã hội nông thôn và người dân Việt Nam đã được phản ánh và in dấu lên mọi sáng tác văn học Các tác phẩm viết về người nông dân luôn có sức hút lớn đối với bạn đọc

Đại thắng mùa xuân năm 1975 không chỉ mở ra một trang mới của lịch

sử dân tộc mà còn đưa tới một chặng đường mới của văn học nói chung và tiểu thuyết nói riêng Nhìn chung tiểu thuyết thời đổi mới đã có sự thay đổi rõ rệt về quan niệm nghệ thuật, cách thức miêu tả và tái hiện cuộc sống Nếu như văn học giai đoạn 1945-1975 là giai đoạn văn học mang tính sử thi thì văn học sau 1975 có thể coi là giai đoạn văn học mang cảm hứng thế sự.Cuộc sống thời hậu chiến với những vấn đề mới mẻ đòi hỏi nhà văn phải tham gia giải quyết bằng cách riêng của mình Đề tài thế sự trở thành một vấn đề hấp dẫn của tiểu thuyết, là mảnh đất hứa hẹn cho nhiều nhà văn khám phá (chẳng hạn như Ma Văn Kháng, Lê Lựu, Tạ Duy Anh, Nguyễn Khắc Trường, Dương Hướng,…)

Tiểu thuyết Mảnh đất lắm người nhiều ma của Nguyễn Khắc Trường

và Bến không chồng của Dương Hướng được đánh giá là hai tác phẩm tiêu

biểu của văn học thời điểm cao trào đổi mới văn học.Với cảm quan hiện thực nhạy bén và tinh thần công dân đầy trách nhiệm, các tác giả đã không ngại đối thoại với những quan niệm đơn giản về hiện thực.Họ đã mạnh dạn nhìn sâu vào bi kịch của một lớp người; những số phận con người, những toan tính lầm lạc, những ảo vọng cùng những khát khao đầy nhân bản

Trang 8

Với những lí do trên, chúng tôi đặt vấn đề nghiên cứu: Đề tài thế sự nông thôn trong tiểu thuyết Việt Nam sau 1975 (qua hai tiểu thuyết “Mảnh đất lắm người nhiều ma” của Nguyễn Khắc Trường và “Bến không chồng” của Dương Hướng)

2 Lịch sử vấn đề

Đề tài thế sự là đề tài đƣợc chú ý nhiều trong văn học thời kì đổi mới Những năm gần đây có khá nhiều bài nghiên cứu, những ý kiến đề cập đến vấn đề này:

Nguyễn Bích Thu khi nghiên cứu về “Ý thức cách tân trong tiểu thuyết

Việt Nam sau 1975” đã nhận định: “Trên phương diện đề tài, tiểu thuyết thời

kì đổi mới đã tiếp cận và khai thác sâu hơn vào cái hiện thực của đời sống cá nhân Các nhà tiểu thuyết nhìn thẳng vào những mảnh vỡ những bi kịch nhân sinh, mổ xẻ, phơi bày nó bằng cái nhìn trung thực, táo bạo Các đề tài truyền thống hay hiện đại đều được đưa trường nhìn mới, hướng những gấp khúc trong đường đời và thân phận con người thấm đẫm cảm hứng nhân sinh”

Theo đó, văn học đổi mới là giai đoạn văn học chuyển từ sử thi sang tƣ duy thế sự.[57]

Trong bài viết “Sự vận động và phát triển của các thể văn xuôi trong

thời kì đổi mới”, nhà phê bình Lý Hoài Thu đã đánh giá sự vận động của từng

thể loại trong điều kiện lịch sử mới trong đó có tiểu thuyết Tác giả cho rằng:

“Không phải ngẫu nhiên mà đề tài thế sự, đời tư nổi lên như một vấn đề trung tâm của mọi nỗ lực sáng tạo trong tiểu thuyết đương đương đại Ngay cả những tác phẩm viết về đề tài chiến tranh, đề tài nông thôn vơi quy mô hiện thực rộng lớn, nhiều mảng nhà văn vẫn xoáy sâu vào những vấn đề cốt yếu của đời sống thông qua tâm điểm nhân vật, những vui buồn sướng khổ, được mất của con người đã đi vào văn chương một cách nhân bản và giàu tính hướng thiện”

Trang 9

Mai Hải Oanh trong công trình Những cách tân nghệ thuật trong tiểu thuyết đương đại Việt Nam đã trình bày một cách hệ thống những cách tân

của tiểu thuyết đương đại Việt Nam trên phương diện nội dung và nghệ thuật,

tác giả khẳng định: “Tiểu thuyết thời đổi mới đã có những thay đổi đáng kể về

tư duy nghệ thuật Biểu hiện cụ thể là các nhà văn đã chú ý đến tính văn xuôi như một đặc điểm quan trọng của tư duy tiểu thuyết hiện đại, sự phai giảm các yêu tố sử thi và sự gia tăng của các yếu tố thế sự, đời tư

Công trình tiêu biểu viết về đề tài nông thôn có lẽ phải kể đến tác giả Lã

Duy Lan với công trình khoa học Văn xuôi viết về nông thôn - tiến trình và đổi mới.Trong công trình này, tác giả đã khái quát và đánh giá về nông thôn

trong suốt quátrình phát triển từ trước và sau 1986 Nếu ở giai đoạn trước năm

1986, tác giả đi vào những thành tựu và hạn chế trong việc phản ánh hiện thực thì ở giai đoạn sau năm1986, ngoài việc giới thiệu diện mạo chung, tác giả còn tập trung đánh giá những đặc trưng sáng tạo về nội dung của văn xuôi viết về nông thôn thời kỳ đổi mới qua sự chuyển biến về chủ đề, phạm vi bao quát hiện thực và cách thể hiện nhân vật Đồng thời tác giả cũng đánh giá những thành tựu bước đầu về phương diện nghệ thuật: Ngôn ngữ, thể loại, phong cách chung và giọng điệu

Xác định ranh giới của tiểu thuyết nông thôn trước và sau đổi mới trong

bài Về hướng tiếp cận mới đối với hiện thực trong văn xuôi sau 1975, nhà nghiên cứu Tôn Phương Lan cho rằng “ Lâu nay người nông dân chưa được nhìn nhận qua vấn đề ruộng đất, vấn đề vào ra hợp tác xã, giờ đây vấn đề đó được nhà văn nhìn vào sốphận lịch sử của họ Và lịch sử đất nước được hiện

ra qua lịch sử cuộc đời nhân vật trong cuộc mưu sinh, trong sự duy trì đóng góp để làm nghĩa vụ cho tổ quốc, vớiphần trách nhiệm của từng hoàn cảnh gia đình” Từ góc độ đó, tác giả cho rằng :“ đã có một cách soi xét lại một

thời đã qua, thông qua những số phận cá nhân và những vấn đề của một làng

Trang 10

xã, một dòng họ”, trong đó “nổi bật lên là mối mâu thuẫn về quyền lợi cá nhân nấp dưới vấn đề họ tộc”

Tác giả Phạm Ngọc Tến trong bài Đề tài nông thôn không bao giờ mòn

cũng có cái nhìn lạc quan Trong bài viết tác giả đã khẳng định đề tài nông thôn không bao giờ “bạc màu”, “không bao giờ mòn” Bởi nông thôn việt Nam đang từng bước chuyển mình, đáng được ghi nhận Quá trình nông thôn hóa, sự tác động của công nghiệp vào nông nghiệp, sự lai căng về văn hóa…cũng có mặt tích cực và tiêu cực nên đáng để các nhà văn suy ngẫm,

điện ảnh Đúng như nhà nghiên cứu Phong Lê đã nhận định “…quả đã góp một cái nhìn mới về bức tranh đất nước trong thời chiến và hậu chiến.Tác phẩm cho thấy một phương diện của thực trạng đời sống tinh thần trong nông thôn” [39]

Đề tài nông thôn là một đề tài lớn Đề tài của chúng tôi tập trung vào haitác phẩm với mục đích đi sâu phân tích, đánh giá giá trị nội dung và nghệ thuậtđồng thời triển khai cụ thể bức tranh hiện thực nông thôn Việt Nam và những phương thức nghệ thuật biểu hiện qua hai tác phẩm được lựa chọn So với cáccông trình ra đời trước, luận văn của chúng tôi tiếp cận ở phạm vi nhỏ hơn và đi sâukhai thác về nội dung và nghệ thuật tác phẩm trên cơ sở đặc trưng thể loại tiểuthuyết

3.Mục đích nghiên cứu

Trang 11

Đặt vấn đề nghiên cứu: “Đề tài thế sự nông thôn trong tiểu thuyết Việt

Nam sau 1975 (qua tiểu thuyết Mảnh đất lắm người nhiều ma của Nguyễn Khắc Trường và Bến không chồng của Dương Hướng), luận văn hướng tới

việc khám phá, phát hiện cách nhìn, khai thác và thể hiện đề tài thế sự nông thôn trong tiểu thuyết của hai nhà văn

4.Đối tượng, phạm vi nghiên cứu

Luận văn tập trung nghiên cứu bức tranh hiện thực nông thôn và một số

phương thức nghệ thuật thể hiện trong hai tiểu thuyếtMảnh đất lắm người nhiều ma của Nguyễn Khắc Trường và Bến không chồng của Dương Hướng,

qua đó có cái nhìn khái quát về đề tài thế sự trong tiểu thuyết Việt Nam nói chung và hai tiểu thuyết này nói riêng

Tiểu thuyết viết về đề tài nông thôn có một số lượng lớn.Ở mỗi tác phẩm lại có cách thể hiện những diện mạo nông thôn khác nhau Nhưng do

mục đích khảo sát nên chúng tôi sẽ tập trung nghiên cứu hai tiểu thuyếtMảnh đất lắm người nhiều ma của Nguyễn Khắc Trường và Bến không chồng của

Dương Hướng

5.Phương pháp nghiên cứu

Để giải quyết nhiệm vụ của đề tài chúng tôi lựa chọn các phương pháp sau:

- Phương pháp so sánh- đối chiếu

- Phương pháp thống kê - phân loại

- Phương pháp phân tích – tổng hợp

- Phương pháp tiếp cận thi pháp học

6 Đóng góp của luận văn

Thông qua đề tài, chúng tôi muốn góp phần tìm hiểu một cách có hệ thống, toàn diện về nội dung và đề tài thế sự nông thôn qua hai tác phẩm

Trang 12

Mảnh đất lắm người nhiều ma - Nguyễn Khắc Trường và Bến không chồng -

Dương Hướng

7.Cấu trúc luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận và thư mục tham khảo, nội dung chính của luận văn gồm ba chương:

Chương 1: Tiểu thuyết viết về nông thôn thời kỳ đổi mới và hai nhà

văn Nguyễn Khắc Trường và Dương Hướng

Chương 2: Bức tranh thế sự nông thôn Việt Nam qua hai tiểu thuyết

Mảnh đất lắm người nhiều ma và Bến không chồng

Chương 3: Một số phương diện nghệ thuật tiêu biểu

Trang 13

NỘI DUNG

Chương 1 TIỂU THUYẾT VIẾT VỀ NÔNG THÔN THỜI KỲ ĐỔI MỚI

VÀ HAI NHÀ VĂN NGUYỄN KHẮC TRƯỜNG VÀ DƯƠNG HƯỚNG 1.1 Khái quát tiểu thuyết về nông thôn Việt Nam từ sau 1975

Trong sự vận động chung của nền văn học, tiểu thuyết đã và đang nỗ lực chuyển mình, đổi mới nhằm đáp ứng nhu cầu của thời đại, của đời sống văn học và của đông đảo độc giả So với những loại hình văn xuôi khác, tiểu thuyết với những thành tựu và hạn chế của nó luôn là vẫn đề lôi cuốn được nhiều sự quan tâm và kích thích được cảm hứng đối thoại của giới sáng tác, lý

luận, phê bình và công chúng Ấy thế nhưng để trả lời cho câu hỏi cụ thể thế nào là tiểu thuyết?thì lại có rất nhiểu câu trả lời khác nhau Ở phương Tây,

người ta cho rằng tiểu thuyết là “tác phẩm hư cấu có độ dài nhất định, dùng hình thức văn xuôi để viết thành”.Balzac thì gọi tiểu thuyết là “lời nói hư cấu trang nghiêm”

Lý Hoài Thu cho rằng tiểu thuyết: “là một hình thức tự sự cớ lớn, tiểu thuyết có những khả năng riêng biệt trong việc tái hiện với quy mô lớn những bức tranh hiện thực đời sống, trong đó chứa đựng nhiều vấn đề sâu sắc của đời sống xã hội, của số phận con người, của lịch sử, của đạo đức, của phong tục Nghĩa là tiểu thuyết có năng lực phản ánh hiện thực một cách bao quát và sinh động theo hướng tiếp cận trên cả bề rộng và chiều sâu của nó” [59;tr.184]

Từ những điều trên chúng ta có thể thấy điểm thống nhất khi nhận đinh tiểu thuyết chính là một loại tác phẩm tự sự hư cấu, có khả năng phản ánh toàn vẹn và sinh động đời sống theo hướng tiếp xúc gần gũi nhất với hiện thực

Trang 14

1.1.1.Tiểu thuyết viết về nông thôn Việt Nam trước năm 1975

Tiểu thuyết khi mới xuất hiện trong nền văn học Việt Nam đã nhanh chóng xác lập được vai trò, vị trí, thành tựu của mình Những hình thái đầu tiên của tiểu thuyết viết bằng chữ quốc ngữ được hình dung ban đầu là: “một truyện viết bằng văn xuôi đặt ra để tả tình tự người ta, phong tục xã hội hay những sự lạ tích kỳ khiến cho người đọc hứng thú” [15; tr.123].Tuy nhiên dù viết về ngoại cảnh hay đi sâu vào tâm lý con người thì nông thôn vẫn là đề tài chủ yếu trong văn xuôi nói chung và trong tiểu thuyết nói riêng

Trước Cách mạng tháng Tám, cả dân tộc Việt Nam phải quằn quại trong hiện thực đen tối với số phận bi kịch của người nông dân Nông thôn Việt Nam hiện lên với những tối tăm, đói nghèo, bế tắc đầy dãy những trớ trêu, nghịch cảnh và bất công Một nông thôn hiển hiện đầy dãy những mâu thuẫn xung đột của thực dân đế quốc và bè lũ tay sai với tầng lớp nhân dân, đặc biệt là tầng lớp nông dân ngày một sâu sắc và quyết liệt Xung đột giai cấp ấy là điểm “nóng” nhất của nông thôn Việt Nam lúc bấy giờ Nhưng chính trong bức tranh xã hội đen tối đó lại khơi cảm hứng sáng tác cho các nhà tiểu thuyết khám phá về nông thôn và người nông dân Tiểu thuyết về đề tài nông thôn thời kỳ này đã vẽ lên bức chân dung hiện thực đen tối của nông thôn Việt Nam, số phận bi kịch của người nông dân với xung đột giai cấp hết sức gay gắt Chúng ta có thể thấy rõ bức tranh toàn cảnh này qua những cuốn tiểu thuyết nổi tiếng của các nhà văn tiêu biểu thuộc trào lưu văn học hiện

thực phê phán như Tắt đèn (Ngô Tất Tố), Bước đường cùng (Nguyễn Công

Hoan)…

Cách mạng tháng Tám thành công như một sự kiện vĩ đại của lịch sử dân tộc Việt Nam Từ đây nước ta từ một nước thuộc địa trở thành một nước độc lập dưới nền chế độ dân chủ cộng hòa, đưa nhân dân ta từ thân phận nô lệ trở thành người dân tự do, làm chủ nước nhà Nhưng trong giai đoạn này,

Trang 15

người nông dân vẫn tiếp tục tham gia vào cuộc kháng chiến chống lại thực dân Pháp, giải phóng đất nước Chính vì vậy, trong những năm này văn xuôi viết về đề tài nông thôn không tách thành một mảng riêng biệt với văn xuôi nói chụng Đề tài nông thôn cũng nằm trong đề tài kháng chiến, hòa hợp trong một cái tên là văn xuôi kháng chiến

Sau khi hiệp định Giơ-ne-vơ được kí kết, hòa bình lập lại ở miền Bắc, đời sống nông thôn Việt Nam nổi lên hai sự kiện quan trọng: Cải cách ruộng đất và phong trào hợp tác hóa nông nghiệp Hai sự kiện này nhanh chóng in đậm dấu ấn với những hình ảnh tiêu biểu đáng ghi nhận trong văn học viết về nông thôn, nhất là tiểu thuyết Tiểu thuyết viết về nông thôn trong Cải cách

ruộng đất nổ bật lên với những tác phẩm có tiếng vang như: Con trâu; Bếp đỏ lửa của Nguyễn Văn Bổng, Vùng mỏ của Võ Huy Tâm hay Sắp cưới của Vũ

Bão…Còn khi viết về nông thôn trong Phong trào hợp tác hóa nông nghiệp

cũng có rất tác phẩm với những cây bút tiêu biểu như: Cái sân gạch, Vụ lúa chiêm (Đào Vũ), Xung đột (Nguyễn Khải)…Các tác phẩm thời kỳ này xuất

hiện với những chủ đề: Hai con đường trong thời kỳ đầu Phong trào hợp tác hóa nông nghiệp và Con người trong thời kỳ cải tiến quản lý hợp tác xã và dựng nền sản xuất lớn xã hội chủ nghĩa

Từ năm 1964, cả nước bước vào giai đoạn kháng chiến chống Mĩ cứu nước, nông thôn Việt Nam có vai trò quan trọng trong cuộc chiến: Nông thôn vừa là hậu phương vững chắc cho tiền tuyến, vừa là lực lượng sẵn sàng chiến đấu chống giặc Mĩ phá hoại miền Bắc Tiểu thuyết viết về nông thôn thời kỳ này mang đậm âm hưởng sử thi anh hùng và thực sự bội thu cả về số lượng tác phẩm cũng như đội ngũ tác giả Có thể kể tên các tác giả với các tác phẩm

gắn liền với tên tuổi của họ như: Bão biển, Đất mặn (Chu Văn); Đất làng, Buổi sáng (Nguyễn Thị Ngọc Tú); Ao làng (Ngô Ngọc Bội)…Nhìn chung

thời kỳ này tiểu thuyết viết về nông thôn mang âm hưởng ngợi ca cuộc sống

Trang 16

mới dưới sự lãnh đạo của Đảng, ca ngợi sự thành công của phương thức sản xuất tập thể; ngợi ca những tấm gương sáng về nhiệt tình cách mạng và khí thế chống Mĩ cứu nước của hậu phương

Nhìn chung tiểu thuyết viết về nông thôn trước năm 1975 có những đặc thù riêng Nét chính là sự vận động đổi mới của hiện thực nông thôn và con người vươn lên làm chủ vận mệnh của mình Xung đột chính là sự đối lập giữa cái cũ – cái mới, kết thúc thường có hậu

1.1.2 Tiểu thuyết viết về nông thôn Việt Nam sau 1975

Luồng sinh khí thông thoáng của thời kì đổi mới đã mở ra hướng đi mới cho sự phát triển và sáng tạo của văn học nghệ thuật Yêu cầu đổi mới tư duy tiểu thuyết trong thời đại mới là nhu cầu có tính cấp thiết và tất yếu.Vậy đổi mới tư duy tiểu thuyết là đổi mới gì? Khi xã hội bước sang một thời đại mới, với những thay đổi toàn diện về cả chính sách và quan niệm, thì văn chương cần có một cách viết mới, hướng tới một đối tượng rộng hơn so với trước “Văn học là nhân học”, đối tượng muôn đời của văn học là con người, nhưng tư duy của con người hiện đại đã thay đổi Vậy nhà văn cũng phải đổi mới tư duy cho phù hợp, làm sao để thấu hiểu sâu sắc và tái hiện sinh động, chân thực con người hiện thực trong bối cảnh xã hội mới Hoàng Quốc Hải

trong bài Lại bàn về đổi mới tư duy (Bài viết tham dự Hội thảo về Đổi mới tư

duy tiểu thuyết - họp ngày 07/11/2002 tại Đại Lải) cho rằng: Đổi mới tư duy tiểu thuyết trước hết là “đổi mới nhận thức của nhà văn trước những biến thái

xã hội của thế giới ”, nghĩa là “Nhà văn cứ viết, viết không phụ thuộc vào hình thức biểu hiện, không phụ thuộc vào sự cho phép hay không cho phép của bất cứ ai ” Đó là quan niệm hướng tới phản ánh sự thật theo chính sách đổi mới toàn diện của Đảng, Nhà nước Nhưng dù đổi mới bằng cách nào, thì văn học nói chung và tiểu thuyết nói riêng vẫn phải đạt tới chuẩn mực về sự hấp dẫn, nhân văn và nhân đạo[21]

Trang 17

Hòa chung vào đời sống văn nghệ ấy, tiểu thuyết viết về nông thôn sau

1975 cũng có những chuyển biến rõ rệt

1.1.2.1.Người nông dân gắn bó với quê hương, xứ sở

Môi trường tự nhiên như là mái nhà văn hóa trong quan niệm của người nông dân Ngay từ thuở hồng hoang, cha ông ta đã thấy được tầm quan

trọng của đất đai: Đất đai là nơi máu, nước mắt, mồ hôi của bao kiếp người nối tiếp nhau gây dựng, gìn giữ Đất đai thiên nhiên không chỉ là nguồn sống

mà còn là nguồn dinh dưỡng của tâm hồn, tạo nên căn cốt tính cách của mỗi

người Hoàng Kỳ Bắc trong Dưới chín tầng trời bao năm chiến đấu bảo vệ từng tấc đất đã đúc kết được ý nghĩa của đất đai: Lòng người u mê tăm tối thì đất đai cũng khô cằn”, vì thế cần phải: đổ máu, đổ mồ hôi mới thấu hiểu được sự tinh túy của đất trời Đất tạo nên vị ngọt của mía đường, đất tạo nên hương thơm của cơm gạo Và đất cũng tạo nên cả vị đắng cay của gừng ớt

[28; tr.220] Lời răn dạy của ông Bắc đã hằn in trong tâm trí Yến Quyên khi chị nhận thức được rằng: phải đổ mồ hôi, đổ máu mới thấu hiểu sự tinh túy

của đất trời Thuần (Giời cao đất dày) sống không nơi nương tựa, bố mẹ chết

trong cải cách ruộng đất, vợ con mất, người thân không còn ai, chân tay què cụt, bị dân làng Bùi xua đuổi nên đành rời xa quê hương, lưu lạc xứ người Sống nơi đất khách quê người, Thuần luôn chất chứa, canh cánh nỗi nhớ về

làng Bùi: Thuần nhớ biển, nhớ làng quá mà về Thuần nhớ những chiều hè gió cồn nam xa xả thổi; rồi nhớ những đêm tháng hai, sương mù dày đặc, ánh đèn chai như sao sa ngoài Cồn Đen sát mép nước - ấy là đèn dân làng đi bắt

cá soi Thuần nhớ những đêm trăng hè, cha con, anh em kéo nhau ra bãi thả diều, rồi về nhà bắt chõng tre ngoài sân nằm nghe tiếng sáo diều vi vu hát

[28; tr.6] Chính mùi thơm của đất đai, thiên nhiên xứ sở này đã nuôi dưỡng ý

chí, động lực để Thuần trở về làng Bùi sau mười năm cách xa: Thuần thấy khoan khoái quá, lần đầu tiên sau mười lăm năm xa cách Thuần được hưởng

Trang 18

cái không khí ban mai của làng quê biển cạn, làn gió mơn man mang hơi muối mặn mòi; hàng tre ôm nhau vặn mình kẽo kẹt như người đưa võng, tăm tắp ngoài khơi xa [28; tr.32] Người nông dân gắn bó với đất đai, xứ sở, bởi

đấy chính là tổ tiên, cha mẹ đã từng sinh trưởng và nơi chôn rau cắt rốn Họ yêu quý, gắn bó với đất đai, xứ sở bằng tình yêu vốn có từ lâu, sâu sắc và bền vững như chính máu thịt của mình Đất đai, xứ sở đã trở thành một phần máu thịt không thể thiếu trong mỗi con người nơi chốn quê hương Đây chính là sức mạnh để họ vượt qua mọi khó khăn, vất vả, đau thương, mất mát trong cuộc sống đời thường

Bên cạnh đó, chúng ta còn nhận thấy rằng trong cái ý thức tiểu nông tồn tại từ bao đời, người nông dân thường có quan niệm: “ăn cây nào rào cây ấy”, ở các làng quê Việt Nam, người ta thường có xu hướng thích đề cao làng mình Với họ, làng mình cái gì cũng nhất, cái gì cũng hơn thiên hạ Chính vì vậy, bất cứ địa danh nào nổi bật của địa phương cũng được người ta nâng niu bằng vô số những câu chuyện huyền thoại, truyền thuyết hóa chúng: một mặt

để bồi dưỡng thêm sự gắn bó, lòng tự hào của người dân, mặt khác để cho bất

cứ ai đến làng mình cũng phải nhớ, cũng phải ấn tượng Cái làng Đông của

Bến không chồng dẫu nhỏ bé và cũng bình dị như bao làng quê khác, nhưng

nó lại là cái kho của những huyền thoại Từ dòng sông, bến nước, đến bến tha

ma của làng đều ẩn chứa bao câu chuyện thần bí Nào là chuyện về hố “mắt tiên” quanh năm trong vắt, là nơi mà đàn bà con gái làng Đông có nỗi oan khuất đều trốn ra hồ tắm để được giải oan; nào là chuyện gò ông Đổng, nơi yên nghỉ của con trai làng Đông dũng cảm, không chết nơi trận mạc mà chết khi trở về nghe tin vợ ngoại tình; nào là chuyện về ba ba thuồng luồng ngoài bến sông…

Mỗi làng đều xây dựng lên những kho truyền thuyết khác nhau và không thua kém nhau về mức độ hấp dẫn Những kho truyền thuyết ấy được hình

Trang 19

thành từ tình yêu làng quê thôn xóm thiết tha, sâu lắng, xuất phát từ nhận thức giản đơn, ngây thơ của người dân và ý thức muốn tôn vinh làng, tôn vinh những con người của làng mình Bởi thế nên, thế hệ trước nối thế hệ sau, luôn nhắc nhở nhau một ý thức: đã là người làng mà “không biết tích làng là hỏng”

Như vậy, người nông dân sống hòa hợp, gắn bó với thiên nhiên, và luôn

tự hào về vẻ đẹp của làng quê mình.Lối ứng xử đó đã trở thành nét văn hóa đặc sắc trong cách ứng xử của người nông dân Việt Nam đối với quê hương,

xứ sở

1.1.2.2 Đời sống nông thôn trước những biến đổi của xã hội

Trước biến đổi của xã hội, nông thôn Việt Nam sau 1975 tồn tại lối sống theo kiểu “một người làm quan cả họ được nhờ”, dựa vào uy danh dòng

họ Tư tưởng “một người làm quan cả họ được nhờ” luôn ngự trị trong tâm thức của người nông dân.Nếu trong họ tộc, lãng xã có người làm quan to thì

cả họ hàng, thân thuộc được cậy nhờ, hưởng lây sự kính nể, kiêng nhường của xóm làng

Người dân làng Hạ Vị nể trọng, ngợi ca gia đình nhà cụ đồ Khang (Thời

xa vắng) vì cụ Khang là thầy đồ, con trai út (Sài) học hành giỏi giang, vâng lời

cha mẹ, chú bác, anh chị trong gia tộc Nhưng có lẽ gia đình cụ được nể trọng phần nhiều là vì hiện tại cụ có một người em trai là chú Hà làm bí thư huyện ủy

và người con trai thứ làm cán bộ huyện Nhờ uy danh đó, gia đình cụ Khang được “bảo vệ” danh dự khi có chuyện xảy ra như chuyện “giăng gió” của Sài

và Hương Vì Sài mà gia đình cụ đồ Khang “cả hàng tháng âm thầm như có người chết Không ai dám đi đâu xa Nếu miễn cưỡng phải đi qua chỗ đông người thì hoặc phải che nón, cúi xuống mà đi, hoặc phải dày mặt lên mới chịu nổi những cái nhìn nhọn như những mũi tên bắn” [43; tr.70] nhưng chú Hà, anh Tính đã dùng uy quyền, vị thế và cả sự thông minh đã chạy tội cho Sài một cách hợp tình, hợp lý khiến lãnh đạo xã và người dân làng Hạ Vị phải tin,

Trang 20

thán phục Từ đó, gia đình cụ đồ Khang cũng thoát khỏi tai tiếng đối với người dân làng Hạ Vị

Người Việt Nam có câu “nhất nghệ tinh, nhất thân vinh”, có nghĩa là trong cuộc sống xã hội con người ta tốt nhất là nên giỏi một nghề nào đấy hoặc là bản thân có được một chỗ đứng trong xã hội Điều này được thể hiện

khá rõ trong Mảnh đất lắm người nhiều ma.Ranh giới giữa làng/nước, cá

nhân/tập thể, chung/riêng không rõ ràng Cách ứng xử ở nước, làng, gia đình vẫn không hề thay đổi Là ứng xử của Thủ, Phúc cùng các cán bộ xóm Giếng Chùa dựa trên mối quan hệ dòng họ, gia đình là chính Tuy công việc của xã như Bí thư Đảng ủy Trịnh Bá Thủ, chủ nhiệm Vũ Đình Phúc luôn xem đó là việc nhà, việc họ Từ họp hành, bầu bán, sản xuất đến tổ chức sắp xếp cán bộ

xã đều nghĩ đến lợi ích của dòng họ, gia đình Từ khi Phúc trúng chân chủ nhiệm xã, cuộc sống gia đình Phúc khấm khá, có của ăn của để Ngoài gia đình, Phúc còn cấu kết đưa những người anh em họ hàng vào Đảng, giúp em trai, chị gái mua được gạch ngói làm nhà với giá gần như cho không, chỉ bằng một phần mười giá trị thực tế Trịnh Bá hàm dám chi nhiều tiền để vận động người dân bầu em trai (Trịnh Bá Thủ) vào chức bí thư xã Khi nắm quyền lực, Thủ tìm cách đưa Cao – cháu vợ vào ghế ban công an, ra sức vận động để Cao trúng hội đồng nhân dân; Dinh – cháu gọi bằng chú được ra quân khi chưa hết hạn nghĩa vụ để đi xuất khẩu nước ngoài; đám cháu Ngạc, Ưởng cậy vào cái bóng của Thủ suốt ngày gây gổ, đánh nhau, hung hăng với người dân xóm Giếng…

Có thể nói lối sống tình cảm, đoàn kết, quan hệ họ hàng khăng khít, gắn

bó, luôn che chở, bao bọc cho nhau là một nét đẹp trong văn hóa người Việt.Nét văn hóa ấy đáng được giữ gìn, đáng được tự hào và đáng được tôn vinh Nhưng nếu sự đoàn kết gắn bó ấy được tôn vinh đến mức “muốn có một chân dù nhỏ, từ đội sản xuất trở lên, và ai muốn vào Đảng thì nếu không có

Trang 21

họ hàng thân thích với những người đang nắm chính quyền, thì cũng phải là người được thu nạp vào trong vây cánh mới có điều kiện để phấn đấu” trong

tác phẩm Cánh đồng mía thì sẽ là tai họa Nó là mầm mống nảy sinh các phe

cánh trong chính quyền Nó sẽ biến các quan hệ xã hội rạch ròi, khách quan thành quan hệ gia đình du di, cả nể… Và vì thế, nó kìm hãm sự phát triển của

xã hội, tạo cơ hội cho người ta móc ngoặc tham ô… Thực tế là thế, bất cứ cái

gì, kể cả những điều tốt, nếu quá đà sẽ ra tiêu cực.Ở các tiểu thuyết kể trên, thực tế ấy mới chỉ thể hiện được phần nào.Các tác giả qua các tác phẩm của mình chỉ muốn phản ánh mối quan hệ họ hàng thân tộc nặng nề ở các làng quê.Nhưng cũng vì thế, những tiêu cực, những trì trệ của xã hội do những mối quan hệ đó gây ra được bộc lộ một cách tự nhiên, không gượng ép, không che đậy

Trong xã hội nông thôn, uy quyền thuộc về hai đối tượng: kẻ có chức

và kẻ có tiền Kẻ có chức khiến người ta sợ nên đi đến đâu cũng được người khác xum xoe, nịnh nọt, được người ta để ý đến từng hành động, thái độ Còn người có tiền không làm người ta sợ nhưng lại khiến người ta nể, khiến người ta phải trọng vọng

Người ta nói “Mạnh vì gạo, bạo vì tiền”, thật vậy, cứ nhìn vào Trịnh Bá

Hàm trong Mảnh đất lắm người nhiều ma thì thấy rõ điều đó Nhờ có hoa tay,

có tài nên ông Hàm đã tạo cho mình một cơ ngơi tương đối bề thế với căn nhà mái quét bằng ve xanh, lát ngạch men, có ruộng “thượng đẳng điền” Nhờ thế, ông tạo ra quyền uy cho mình, không chỉ có uy với xóm làng, anh em họ tộc

mà ngay cả với vợ con, ông Hàm cũng tỏ ra cực kì gia trưởng, trịch thượng

Đồng tiền – với sức mạnh của nó đã làm một cuộc cách mạng thay đổi thân phận con người Ngày xưa người ta không thèm để ý đến Tám là ai, sống chết thế nào; ngày nay, người ta háo hức nhìn Tám, ngầm đoán xem thực sự đằng sau cung cách ăn vận, tiêu xài, đằng sau những bộ cánh “mới nhưng

Trang 22

chưa giặt lần nào, đi lại cứ sột soạt” của gia đình Tám là một gia tài đáng giá khoảng bao nhiêu Đồng tiền giúp cho Tám đi lại nghênh ngang, kiêu hãnh giữa làng Tiền đã đem lại sức mạnh cho Tám, dù rằng vẫn là một kẻ vô danh tiểu tốt, nhưng Tám đã được sống cho ra người và có quyền yêu cầu người khác những điều mà khi nghèo khổ, dẫu mơ Tám vẫn không thể nghĩ là mình

có được những điều này

Những kẻ không có chức mà có tiền còn tạo ra một thứ quyền lực riêng cho mình chi phối đến những người khác.Vậy người vừa có chức vừa có quyền sẽ tạo cho mình thứ quyền lực gì? Trong làng Giếng Chùa, bộ phận lãnh đạo chia năm xẻ bảy, chia bè kết phái Các phe phải đấu đá nhau để giành quyền lực Ấy thế mà gia đình nhà chủ nhiệm Vinh không chịu đứng về phe nào, mặc cho các phe ra sức lôi kéo Bởi vì, cuộc sống sung túc đã khẳng định thêm chỗ đứng, uy quyền cho chủ nhiệm Vinh Chính sự giàu có và địa

vị cao đã giúp Vinh thoát khỏi vòng xoáy cạnh tranh, đấu đá khốc liệt trong cuộc chạy đua giành chức, giành quyền, Vinh vẫn đứng vững trên vị trí của mình, từ từ hưởng lợi một cách thanh nhàn

Những trường hợp trên chỉ là những câu chuyện của cá nhân riêng lẻ, thế nhưng, chính nó là minh chứng sinh động cho nếp nghĩ, nếp sống của người dân quê “cả vợ chồng con cái phải bán mặt cho đất, bán lưng cho giời mới kiếm được miếng ăn thì không ai người ta trọng” [64, tr.135] Vì thế, ở các làng quê những người có quyền, có tiền luôn có một vị thế riêng, được trọng vọng, đề cao, dẫu rằng sự trọng vọng ấy không phải lúc nào cũng song hành cùng sự yêu mến

1.1.2.3 Mối quan hệ của con người trong đời sống thường nhật

Bức tranh văn hóa làng quê có lẽ thể hiện sinh động nhất trong các mối quan hệ của con người trong đời sống thường nhật Tiền thân là một xã hội phong kiến tồn tại suốt hơn một ngàn năm, ảnh hưởng sâu sắc những chuẩn

Trang 23

mực đạo đức theo quan điểm Nho, Phật, Đạo nên khi nước Việt Nam dân chủ cộng hào rồi đến khi nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ra đời thì những quan điểm ấy vẫn luôn thực sự ăn sâu bén rễ trong nhân dân Chính vì thế, trong gia đình người Việt Nam nói chung luôn có sự nề nếp, có trên có dưới, quan hệ cha – con, chồng – vợ, anh – chị - em với vai vế rõ ràng Chẳng thế mà, cha để di huấn bảo phải đào mộ kẻ thù để giải quyết ân oán, dù run sợ

nhưng Trịnh Bá Hàm (Mảnh đất lắm người nhiều ma) vẫn cứ thực hiện Tất

cả những người phụ nữ như bà đồ Khang, vợ Tính, Tuyết (Thời xa vắng); bà Khiên, bà Nhân (Bến không chồng), bà Son, bà Dần (Mảnh đất lắm người nhiều ma) cũng tuân theo đạo đức phong kiến tồn tại từ bao đời: “tại gia

tòng phụ, xuất gia tòng phu, phu tử tòng tử” Cả đời họ chỉ biết tuân phục, hi sinh và cống hiến Bên cạnh những người đàn ông của mình, họ cam chịu kiếp dây leo, không một lúc nào dám tự sống, sống cho riêng mình

Con người bên cạnh cuộc sống riêng tư, mối quan hệ riêng tư thì mối quan hệ của con người với xóm làng cũng là một phần quan trọng Cha ông ta nói “phép vua thua lệ làng”, có nghĩa là bên cạnh những luật lệ chung của quốc gia, luôn tồn tại những “hương ước” của riêng từng làng được hình thành và điều chỉnh qua nhiều đời, không người dân làng dám chống đối và

nó cũng không dễ gì bị phá bỏ, những “lệ làng” ấy hầu như đều hướng tới mục đích xây dựng, phát triển làng tốt hơn, phồn thịnh hơn

Con đường chính giữa làng Giếng Chùa (Mảnh đất lắm người nhiều ma) dài gần một cây số được lát bằng gạch vồ mua từ dưới Hương Canh –

Vĩnh Phúc, mà lát nghiêng nên trải qua thời gian, nó vẫn chắc khừ Có một con đường sạch sẽ, đẹp đẽ như vậy là vì từ xưa làng có lệ mỗi đám cưới phải nộp 200 viên gạch; ngoài ra làng còn quy định những người đỗ tú tài trở lên, những người nhận chức từ lí trưởng trở lên cũng phải mừng làng 200 viên gạch, hay những cô gái hoang thai cũng phải tạ làng 200 viên gạch Nhìn

Trang 24

chung, đường làng được lát bằng cả những niềm vui, niềm hạnh phúc, sự kiêu hãnh về chức danh và được lát bằng cả những nỗi đau ê chề, sự tủi nhục của những mảnh đời Đó là lệ làng, không ái dám cãi, không dễ phá bỏ, ai không tuân theo thì chỉ có cách bỏ làng mà đi Những định chế của làng cùng lối sống thuần nông khiến cho cuộc sống của người nông dân vừa đa dạng nhưng cũng vô cùng phức tạp Vì thế, mối quan hệ của con người với xóm làng cũng mang nhiều sắc thái, vừa cả nể vừa di di, vừa dễ dãi, vừa khắt khe, vừa tình cảm khăng khít, vừa tọc mạch, vừa tự tin vừa tự tôn

Khác với lối sống thờ ơ, đèn nhà nào nhà ấy sáng ở thành phố, ở nông thôn hầu như cả xóm, làng, xã đều biết nhau Chính điều đó tạo nên lối sống tình cảm, gắn bó giữa các gia đình trong cộng đồng thôn, xã tạo nên cái nết sống đẹp “tối lửa tắt đèn có nhau” ở các làng quê Thế nhưng, ngay trong sự đoàn kết, tình nghĩa lại nảy sinh vấn đề phức tạp “trong nhà chưa tỏ, ngoài ngõ đã thông” Hay nói cách khác, người nông dân thường có thói quen để ý, xét nét, thóc mách chuyện nhà người khác và lan truyền thông tin rất nhanh Song hành với thói quen xét nét cuộc sống của những người xung quanh thì người nông dân lại thích phô trương cuộc sống sung túc của mình cho làng

xóm thấy Bởi vậy, trong tâm thức họ luôn quan niệm rằng: Con công hơn con quạ cũng là ở bộ lông, chứ vặt trụi đi thì ông quyền cao cũng như anh đít nhọ [64; tr.75] Chính vì thế, người ta thích mua sắm, tích cóp được chút tiền

nào là lo sắm sửa đồ đạc.Thậm chí đói cũng bóp bụng sắm

Như vậy, trong quan hệ gia đình, người nông dân còn giữ một mối quan hệ vừa tình cảm, thân mật, vừa giữ kẽ, khách sáo.Trong quan hệ xã hội, quan hệ xóm làng sự câu nệ, khách sáo ấy lại càng lắm nhiêu khê

Đề tài thế sự nông thôn Việt Nam thời kì đổi mới qua các tiểu thuyết cho chúng ta thấy mỗi làng có một nét văn hóa riêng, phong tục riêng Những

sự khác biệt ấy tạo nên sự phong phú, đa dạng cho bức tranh đời sống chung

Trang 25

của dân tộc Tìm hiểu đề tài thế sự của người nông dân, ta phần nào hình dung được các quan điểm, lối sống, tính cách của con người ở những nơi này Chính điều đó là chiệc chìa khóa mở cánh cửa khám phá những vấn đề nông

thôn qua tác phẩm Mảnh đất lắm người nhiều ma của Nguyễn Khắc Trường

và Bến không chồng của Dương Hướng

1.2 Nguyễn Khắc Trường và Mảnh đất lắm người nhiều ma

Nguyễn Khắc Trường sinh ngày 06/07/1946 tại huyện Đồng Hỉ, một vùng quê thuần nông của tỉnh Thái Nguyên Năm 1965, ông nhập ngũ vào quân chủng Phòng không - Không quân, làm kĩ thuật vô tuyến điện ở sân bay phản lực Vĩnh Phúc (sân bay Nội Bài) Rồi từ đấy tham gia chiến dịch Đường

9 - Nam Lào năm 1971 và chiến dịch Quảng Trị năm 1972 ở đơn vị pháo cao

xạ Tác giả vào làng văn từ những năm mới 20 tuổi với bút danh Thao Trường gần gũi Đó là đầu những năm 70 từ người lính kĩ thuật của Quân chủng Phòng không - Không quân, Thao Trường trở thành phóng viên mặt trận, viết cho tờ tin của báo binh chủng này, sau này tham gia tạp chí Văn nghệ quân đội Thuộc số những nhà văn quân đội trưởng thành từ cuộc kháng chiến chống Mĩ cứu nước, nhiều năm Thao Trường là tác giả của bút kí, truyện ngắn viết về chiến tranh, hậu phương quân đội và nông thôn Năm 1986, nhà văn được trao giải nhất cho cuộc thi bút kí do tuần báo Văn nghệ và Đài tiếng nói Việt Nam phối hợp tổ chức

Lần đầu viết về nông thôn, cũng là lần đầu hoàn thành một cuốn tiểu thuyết, Nguyễn Khắc Trường đạt được thành công lớn (trước kia nhà văn đã

bỏ dở một cuốn tiểu thuyết về Quảng Trị) Nhiều bạn đọc, bạn viết ngạc nhiên

về vốn hiểu biết nông thôn của tác giả - một người mà nhiều năm nay ít bộc lộ

ưu điểm này.Nhưng nếu biết rõ về Nguyễn Khắc Trường thì không bất ngờ Sinh ra và lớn lên ở huyện Đồng Hỉ, tỉnh Thái Nguyên, Nguyễn Khắc Trường vốn là nông dân hoàn toàn từ nếp cảm đến lối sống Vào bộ đội rồi thành cán

Trang 26

bộ ở cơ quan, viết văn nhưng tác giả luôn nhớ về thôn quê, nơi chôn rau cắt rốn và nhiều nơi khác ông đã từng gửi gắm một phần đời mình Từ lâu, Nguyễn Khắc Trường đã nung nấu ý định viết về một cái gì đấy sâu sắc và tầm vóc về nông thôn - cái mảng hiện thực mà những năm đó chứa chất bao ngổn ngang, vui ít buồn nhiều Năm 1988, hết phiên trực biên tập văn xuôi ở tạp chí Văn nghệ quân đội, nhà văn nhận nhiệm vụ đi làm phóng viên Nguyễn Khắc Trường đi liền ba tháng ở các tỉnh Bắc Thái, Thanh Hóa, Hải Hưng Quê hương Thanh Hóa cuốn hút hơn cả, khiến tác giả sử dụng phần lớn quỹ thời gian đã định trước đó vào việc đi lang thang khắp ba huyện Triệu Sơn, Thọ Xuân, Nga Sơn của tỉnh này Đó là những nơi làm ăn rất tốt hoặc trái lại, có “vụ việc” từng gây xôn xao dư luận Nhà văn đã nhiều lần thổ lộ với bạn bè rằng mình say mê Thanh Hóa từ lâu và cho đến tận bây giờ, vì đó

là vùng không phẳng lặng, vùng đất của tiểu thuyết Sau khi hoàn thành xong cho tạp chí Văn nghệ quân đội bút kí ghi chép về một vùng quê, Nguyễn Khắc Trường bắt đầu đưa ngòi bút chạy những dòng đầu tiên của cuốn tiểu thuyết Nguyễn Khắc Trường chỉ lấy tư tưởng, vấn đề, cốt truyện, sự việc, con người… ở xứ Thanh, còn lời ăn tiếng nói, địa danh… thì lấy ở quê hương mình để rồi tất cả nhào nhuyễn, hòa quyện thành tác phẩm Là một chiến sĩ, rồi trở thành nhà văn, lại xuất thân từ nông dân, Nguyễn Khắc Trường rất thông thuộc hai đối tượng, hai đề tài, đó là nông thôn và người lính Khi trả lời một cuộc phỏng vấn, tác giả cuốn tiểu thuyết Mảnh đất lắm người nhiều

ma đã tâm sự rằng: “Tôi tự thấy mình thông thuộc hai đối tượng, hai đề tài, đó

là nông thôn và người lính Tôi nhập ngũ từ đầu cuộc chiến tranh chống Mĩ và

ở liên tục 26 năm đến khi chuyển ngành ra báo Văn nghệ Trước khi nhập ngũ, tôi đi học phổ thông và là xã viên hợp tác xã nông nghiệp, thông thạo chuyện cày bừa, gánh phân, nhổ mạ (…) Tôi yêu mến những tác giả viết về nông thôn từ bé Đến bây giờ tôi vẫn nhớ cảm giác bâng khuâng, bần thần khi

Trang 27

đọc những trang văn viết về cảnh “nhà quê” của Nam Cao, Kim Lân và trong tôi bỗng có một mơ ước rằng có lẽ mình cũng nên thử sức” Dám nghĩ, dám thử sức và Nguyễn Khắc Trường đã thành công khi viết về nông thôn “như tìm lại chính con người mình”

Trong sự nghiệp cầm bút của mình, Nguyễn Khắc Trường đã vinh dự nhận được những giải thưởng như: Giải nhất cuộc thi bút kí của báo Văn nghệ

và Đài Tiếng nói Việt Nam phối hợp tổ chức năm 1986 với bút kí Gặp lại anh hùng Núp, giải thưởng Văn học Hội nhà văn Việt Nam năm 1991 với tiểu thuyết Mảnh đất lắm người nhiều ma, Giải thưởng Nhà nước về văn học và nghệ thuật năm 2007

Các tác phẩm chính: Cửa khẩu (Tập truyện vừa, 1972), Thác rừng (Tập truyện ngắn, 1976), Mảnh đất lắm người nhiều ma (tiểu thuyết, 1990), Miền đất Mặt trời (tập truyện, 1982)…

Hiện tại, Nguyễn Khắc Trường đang công tác ở tuần báo Văn nghệ và

là biên tập viên Nhà xuất bản Hội nhà văn

Khi nhắc tới Nguyễn Khắc Trường bạn đọc sẽ nhớ ngay tới đứa con tinh thần của ông, nó đã giúp cho tên tuổi của người sinh ra nó được tỏa sáng

Và đứa con đó mang một cái tên rất đặc biêt: Mảnh đất lắm người nhiều ma

Nó được Nguyễn Khắc Trường khai sinh vào năm 1990.Mảnh đất lắm người nhiều ma được coi là một trong những tác phẩm xuất sắc viết về nông thôn

Việt Nam Tiểu thuyết này từng được đạo diễn Nguyễn Hữu Phần dựng thành

phim truyền hình dài 20 tập với tiêu đề Đất và người ra mắt bạn xem truyền

hình vào giữa năm 2002 Hãng phim truyền hình Việt Nam đã mời nhà văn Khuất Quang Ngụy là người có nhiều vốn sống về nông thôn miền Bắc và hiểu biết khá kĩ lưỡng về nhà văn Nguyễn Khắc Trường để làm người biên kịch với sự trợ giúp của một biên tập viên có kinh nghiệm của hãng là nhà văn Phạm Ngọc Tiến Đạo diễn Nguyễn Hữu Phần trong một bài trả lời phỏng

Trang 28

vấn đã nói: “Chúng tôi thay đổi một phần kết cấu truyện, thêm bớt các tình tiết và nhân vật để phù hợp với ngôn ngữ điện ảnh và tính chất của phim truyền hình Tác giả tiểu thuyết cũng như kịch bản là những người rất am hiểu

về nông thôn, tạo thuận lợi cho đoàn làm phim Nội dung phim cũng có nhiều biến tấu Điều quan trọng là những thay đổi đó không làm mất đi sự hấp dẫn, ngược lại phần nào làm phong phú, đa dạng hơn về cuộc sống, tính cách người nông dân và thể hiện cách nhìn nhân hậu, đầm ấm hơn về nông thôn…” Bộ phim đã tạo một tiếng vang lớn khi trình chiếu trên kênh VTV1 Đài truyền hình Việt Nam

Đề tài nông thôn là niềm trăn trở, ấp ủ từ lâu của nhà văn Nguyễn Khắc Trường Như ở trên đã nói, sau thời gian nhà văn chịu khó đi thực tế tìm hiểu

về đời sống nông thôn, tác phẩm ra đời và được sự đón nhận nồng nhiệt của độc giả Không gian của câu chuyện là địa bàn nông thôn ven sông Công (Thái Nguyên) trong thời gian năm 1988, khi mà Việt Nam đang bắt đầu thời

kì đổi mới Nội dung chính của tiểu thuyết là sự đấu đá cá nhân của hai dòng

họ, họ Vũ và họ Trịnh ở làng Giếng Chùa, mà đại diện là Vũ Đình Phúc (trưởng họ Vũ) và anh em Trịnh Bá Hàm (trưởng họ Trịnh), Trịnh Bá Thủ (em của Hàm, bí thư Đảng ủy của xã) Đây là hai họ lớn nhất và có máu mặt nhất trong làng: nhiều người giàu có, nhiều người có quyền chức là đi thoát li Mối hiềm khích giữa hai họ này qua lời kể lại trong tác phẩm thực ra đã kéo dài từ nhiều đời trước và đến đời Phúc - Hàm thì trực tiếp liên quan đến mối tình thù Trước kia, khi còn trẻ, Phúc có quan hệ yêu đương với bà Son (lúc

đó Phúc đã có vợ), sau đó vì nhát gan mà bỏ bà Son Bà Son sau đó bị bố mẹ

ép gả cho Hàm (có biệt danh Hàm thọt), sau khi cưới nhau, Hàm phát hiện ra

vợ mình đã bị mất trinh khiến cho bà Son vì cớ đó sợ hãi phải sống như một cái bóng, tự coi mình là con tôi đòi trong nhà để đổi lấy việc Hàm để cho mình sống yên ổn trong nhà Đây cũng chính là nguyên nhân chính khiến

Trang 29

Hàm rất thù Phúc

Câu chuyện cứ xoay quanh những ân oán hai họ, và những đấu đá trong làng quê, được nâng cao lên quan điểm thành ra sự đấu đá trong chi bộ Đảng Cộng sản Việt Nam của xã mà ở đó Thủ làm bí thư xã, Phúc là chủ nhiệm hợp tác xã Đỉnh cao của ân oán là việc ông Hàm âm mưu đào mộ bố Phúc (mới mất) để yểm bùa nhằm ám hại dòng họ Phúc nhưng bị phát hiện, sau đó bị bắt giam Thủ dùng chị dâu mình là bà Son lừa cho ông Phúc rơi vào bẫy, vu oan cho hai người có tình ý, viết biên bản và bắt ép Phúc phải hòa giải để cứu ông Hàm Sau đó lại dùng biên bản này để ép bà Son phải giả mạo đơn tố cáo Phúc có ý định cưỡng hiếp mình Mâu thuẫn được đẩy cao lên đỉnh điểm khi

bà Son bị cưỡng bách cao độ, xấu hổ và không còn lối thoát đã nhảy xuống sông tự vẫn và Phúc là người đầu tiên vớt xác bà

Mảnh đất lắm người nhiều ma cũng gắn liền với một mối tình oan trái

là con gái của ông Hàm Đào yêu Tùng, cháu gọi ông Phúc bằng cậu (mẹ Tùng là chị gái ông Phúc, người họ Vũ) Tùng là Đảng viên tốt, cựu quân nhân, có chí vươn lên và muốn vượt qua những định kiến dòng họ, đồng thời cùng những Đảng viên tốt khác muốn xóa bỏ những bóng đen hắc ám trong chi bộ Đảng, làm trong sạch đội ngũ để xây dựng quê hương Cùng sát cánh với Tùng còn có trung tá Chỉnh, bạn chiến đấu của bố Tùng, cả hai thành một cặp Đảng viên đang vươn lên để xây dựng nền nếp mới cho chi bộ Chuyện tình của Tùng và Đào tưởng chừng như dang dở sau khi chính Tùng phát hiện

ra việc ông Hàm có ý đồ đào mộ và báo cho ông Phúc.Mâu thuẫn của họ được giải quyết ở cuối chuyện nhờ nhân vật nữ khác là Minh, bạn của Đào, cũng là một người thầm yêu Tùng

Ngoài ra, truyện cũng mô tả những chuyện rắc rối “quanh lũy tre làng” thông qua những quan hệ phức tạp, và những nhân vật rất thú vị khác như cặp tình nhân ông Quản Ngư - bà Đồ Ngật, hay chuyện Tám lé cố ngóc đầu lên

Trang 30

khỏi cuộc sống bí bách, hay những hành vi bất nhân của ông Phúc với chính

bố mẹ, anh em của mình trong Cải cách ruộng đất Câu chuyện cũng bị che phủ bởi những “bóng ma”, từ huyền thoại ma ám của nhân vật Quỳnh - Quềnh cho đến sự hiện diện của một thầy mo - cô Thống Biệu Nhưng thực chất của những bóng ma đó được lí giải vừa đơn giản mà lại rất triết lí của chính người trừ ma - cô Thống Biệu: “Đừng tưởng đất này đã hết ma Ma còn đang đẻ sinh đôi sinh ba nữa cơ đấy! ( ) Thế mà hôm ấy tôi đi nhận ruộng hộ con cháu thấy hốt quá! Nhìn chả thấy người đâu, toàn ma! Những người thân ngồi đấy mà cấm còn nhận ra ai nữa”

Tiểu thuyết kết thúc dang dở khi những mâu thuẫn bắt đầu được hạ nhiệt và những bóng đen hắc ám bắt đầu lộ ra mặt, mối tình Tùng - Đào bắt đầu có tín hiệu tốt đẹp và kết thúc bằng việc nhân vật Minh lặng lẽ khóc sau khi làm cầu nối hòa giải cho hai người

Đọc Mảnh đất lắm người nhiều ma chúng ta phải giật mình trước

những vấn đề tồn tại của đời sống nông thôn Việt Nam Giật mình để rồi phải nhận thức lại nhiều điều Nhà văn đã viết về nông thôn với cách nhìn chân thực, chủ động làm bộc lộ qua từng trang viết một nông thôn có nhiều chuyển động, xáo trộn, đấu tranh giữa cái tốt và cái xấu, tranh chấp nhau giữa các thế lực Tưởng rằng khi tiến lên xây dựng chủ nghĩa xã hội thì con người đã là những con người mới xã hội chủ nghĩa với những phẩm chất cách mạng cao quý, thế nhưng tư tưởng phong kiến vẫn còn ảnh hưởng nặng nề trong mỗi con người Nói như Hà Minh Đức thì: “Cuộc xung đột giữa cánh này, cánh kia, mượn danh đoàn thể, Đảng, Đoàn để đấu nhau thực chất là cuộc xung đột giữa các dòng họ, các gia đình mang nặng tư tưởng và lề thói phong kiến cũ”

Có thể nói, đây chính là những trăn trở của nhà văn về thực trạng nông thôn ở nước ta Đánh giá sự thành công của nhà văn Nguyễn Khắc Trường viết về đề tài nông thôn, nhà thơ Trần Đăng Khoa khẳng định: “Có thể nói tắt từ Nam

Trang 31

Cao, qua một chút Kim Lân, đến Nguyễn Khắc Trường và Lê Lựu, chúng ta mới lại có nhà văn nông thôn thứ thiệt

1.3 Dương Hướng và tiểu thuyết Bến không chồng

Dương Hướng có tên khai sinh là Dương Văn Hướng, sinh ngày 08 tháng 07 năm 1949 tại làng An Lệnh, xã Thụy Liên, huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình Dương Hướng bắt đầu sự nghiệp văn chương ở tuổi ngũ tuần với

truyện ngắn Gót son (1989) Tác phẩm ra đời nhưng chưa gây được sự chú ý

của người đọc Tuy nhiên điều đó không ngăn cản được niềm đam mê sáng tạo của nhà văn Do vậy, liền ngay sau đó, năm 1990 Dương Hướng cho xuất

bản cuốn tiểu thuyết Bến không chồng Tác phẩm làm xôn xao dư luận, cái

tên Dương Hướng nhanh chóng trở nên quen thuộc đối với độc giả Việt

Nam.Tiểu thuyết Bến không chồng đã đánh dấu bước thành công đầu tiên của

nhà văn và đồng thời cũng ghi danh nhà văn trên đỉnh cao của văn đàn văn học Việt Nam thời kì đầu đổi mới

Đến nay, sau hơn 20 năm trong nghề, Dương Hướng đã xuất bản được

chín tác phẩm: Hai tập truyện ngắn: Gót Son (1989), Người đàn bà trên bãitắm (1995); ba truyện vừa: Đàn chim két bay ngang trời, Quãng đường còn lại và Người mắc bệnh tâm thần cùng với ba cuốn tiểu thuyết: Bến không chồng (1990), Trần gian đời người (1991) và Dưới chín tầng trời (2007) Tuy

thành công ở cả hai thể loại: Truyện ngắn và tiểu thuyết, nhưng người đọc biết đến ông nhiều hơn ở thể loại tiểu thuyết

Qua những tác phẩm của Dương Hướng, đặc biệt là tiểu thuyết, người đọc khám phá thêm nhiều góc cạnh khác nhau của xã hội thời chiến cũng như thời hậu chiến qua cái nhìn đầy biện chứng Dương Hướng không phán xét

mà chỉ “phác thảo” (Hoàng Ngọc Hiến) lại thời đại chúng ta đang sống, để

mỗi người tự nhìn nhận mà phán xét lấy chính mình

Trang 32

Gắn với quan niệm coi: “nhiệm vụ cao cả của nhà văn là kiếm tìm cái đẹp và phải biết khai thác tới tận cùng để nhìn cho thấu cả nỗi khổ đau và niềm đam mê khát vọng trong tâm hồn con người”, tư duy tiểu thuyết Dương

Hướng nghiêng về nghiên cứu đời sống xã hội, phát hiện những vấn đề nghiêm túc của con người được ẩn sau các sự vật hiện tượng tưởng thật giản đơn, quen thuộc Dương Hướng đã đi sâu vào bi kịch của từng số phận nhân vật để nói lên cái bi kịch của cả một lớp người Đó là những toan tính lầm lạc, những ảo vọng và cả những khao khát đầy nhân bản Phùng Văn Khai khi phác họa chân dung Dương Hướng đã nhận xét: “Cái tạng Dương Hương viết

về chiến tranh luôn là không tiếng súng, không ùng oàng nhưng thân phận con người hẳn nhiên được đặt lên trên hết” [25; tr.320]

Phong Lê lí giải căn nguyên đổ vỡ, khổ đau của những thân phận người

trong tác phẩm là do “lịch sử để lại” Cơn bão táp của lịch sử đã tác động vô

cùng dữ dội tới số phận con người Đi qua nó người ta mới có dịp nhìn lại để

mà xót xa thương mình và cũng giận mình

Với cái nhìn đầy nhân ái, Dương Hướng đã cho thấy “cái hèn mọn và lòng cao thượng cũng rất gần nhau Bản năng con người nói chung là muốn làm điều tốt, điều thiện Nếu con người xấu đi, độc ác tàn bạo là do thời thế Thời thế cũng tạo nên anh hùng và thời thế cũng làm hỏng con người ta mau

lắm”[39; tr.248] Dương Hướng từng tâm sự: Hiện thực cuộc sống đầy sôi động ở mọi mặt Nhưng điều quan trọng của nhà văn là phải trăn trở để viết thế nào chứ không phải viết cái gì Quan trọng hơn lại vẫn là tác phẩm của anh nói được điều gì[39]

Phải chăng vì lẽ đó mà những đóng góp của nhà văn cho nền văn học

nước nhà không phải là sự cách tân trong cách viết, không phải là những “của lạ” mà là ở sự mộc mạc, nguyên sơ, cổ điển trong phong cách, là cách nhìn

đầy mới mẻ về xã hội, về cuộc sống Đọc ông ta thấy căm phẫn cái ác, muốn

Trang 33

sống nhân ái, có tình hơn Điều cốt yếu của một tác phẩm tốt là phải trung thực, nói lên nỗi niềm khao khát cháy bỏng chính đáng của nhân dân, của cả dân tộc

Có thể thấy, tuy bước vào nghề văn khi tuổi đã nhiều, Dương Hướng đã gặt hái không ít thành công và có nhiều đóng góp đối với nền văn học đương đại Việt Nam, đặc biệt là thể loại tiểu thuyết, Tuy viết theo mô hình cốt truyện truyền thống nhưng tiểu thuyết của Dương Hướng vẫn nhận được nhiều sự ưu

ái từ phía bạn đọc, có lẽ bởi tài dẫn truyện khéo léo mà rất tự nhiên, đời thường Không chỉ thế, người đọc luôn tìm thấy sự gần gũi, thân thuộc qua lời

ăn tiếng nói của các nhân vật trong truyện Hay nói cách khác, dưới ngòi bút tài năng của Dương Hướng, những thi pháp truyền thống vươn lên bứt phá ngọan mục trước những thi pháp hiện đại đang được ưu ái trong tiểu thuyết đương đại Bên cạnh đó, Dương Hướng là một người cần mẫn, miệt mài lao động không ngừng trên cánh đồng văn chương Dương Hướng không bảo thủ chỉ biết rập khuôn theo thi pháp truyền thống mà còn góp nhặt cho mình những tinh hoa trong thi pháp hiện đại để ngòi bút của mình phản ánh được sâu hơn, rộng hơn những vấn đề của thời đại Dù viết không nhiều, nhưng với

Bến không chồng, Thời gian người đời, Dưới chín tầng trời, Dương Hướng

cũng đã có những đóng góp quan trọng cho nền văn học nước nhà

Dương Hướng vừa khai sinh cho Bến không chồng năm 1990 thì năm

sau (1991) được trao giải thưởng của Hội Nhà văn Việt Nam và đến ngày 03/6/2011 tác phẩm lại nhận được giải thưởng “Các tác phẩm viết về nông nghiệp, nông thôn hay nhất trong 30 năm (1981 – 2011)” do Bộ Nông nghiệp

và Phát triển Nông thôn cùng Hội Nhà văn Việt Nam trao tặng

Tiểu thuyết Bến không chồng, ở thời điểm mở đầu những năm 90, đã

góp được một cái nhìn mới về bức tranh đất nước trong thời chiến và hậu chiến, kéo dài những hơn 40 năm với gánh nặng không phải chỉ là chiến

Trang 34

tranh, về phía khách quan; mà còn là những lầm lạc của con người, trong một bối cảnh có quá nhiều biến động và thử thách mà tất cả những ai "do lịch sử

để lại" đã không đủ tầm sức để vượt qua Đó là thử thách của phát động quần chúng Cải cách ruộng đất, của phong trào Hợp tác hóa, của việc phá đình - chùa và của những nền nếp tâm lý, ý thức vẫn còn nguyên sự hủ lậu, chưa thể nào thay đổi được trong một xã hội nông nghiệp manh mún, lạc hậu và tâm lý

làng - xã lưu cữu ngàn đời Bến không chồng là một trong số ít tiểu thuyết viết

về chiến tranh và nông thôn động được vào chiều sâu những vấn đề khó nói, hoặc không thể nói, trên cả một chặng dài lịch sử Tác phẩm đã khẳng định

được tài năng của Dương Hướng, bởi cho đến nay Bến không chồng đã được

tái bản 11 lần và có lẽ vẫn sẽ được tái bản nhiều lần nữa Không những thế, tiểu thuyết còn được dựng thành phim và dịch ra tiếng Ý, tiếng Pháp

Sự ra đời của tiểu thuyết Bến không chồng đã “góp được một cái nhìn

mới mẻ về bức tranh đất nước trong thời chiến và hậu chiến, kéo dài những mấy chục năm; với gánh nặng không phải là chỉ chiến tranh, về phía khách quan; mà còn là những lầm lạc của con người trong thời kì lịch sử có quá nhiều biến động và thử thách, mà tất cả những ai “do lịch sử để lại” không đủ tầm và sức để vượt qua nó” Đó là những hệ lụy từ cải cách ruộng đất, từ phong trào Hợp tác hóa, là những nề nếp tâm lý, ý thức hủ lẩu trong một xã hội nông nghiệp lạc hậu Tất cả đều có thể trở thành những nguyên cớ gây tai họa mà con người phải nhẫn nhịn chịu đựng trong một thời gian dài như một áp đặt của định mệnh Chỉ đến giai đoạn chuyển giao đến hai thập niên 80 và 90 của thế kỉ

XX, con người mới chợt bừng tỉnh và nhận ra mình vừa là nạn nhân, vừa là tội nhân của lịch sử Người đọc không khỏi lặng đi suy nghĩ khi đọc những câu

văn: Con cắn cơm, con cắn cỏ, con lạy ông… Ông hãy cứu lấy thằng Tốn Nếu không các ông nông dân sẽ giết chết nó Nó không có tội gì… Con xin hứa sẽ giáo dục thằng Tốn sau này trở thành kẻ nghèo khó…[28; tr.23]

Trang 35

Có độ dày 300 trang, Bến không chồng lấy nhân vật trung tâm là những

người phụ nữ ở nông thôn trong bối cảnh nông thôn Việt Nam (mà cụ thể là làng Đông) vừa kết thúc cuộc chiến tranh chống Pháp và đang tiếp tục cuộc kháng chiến chống Mỹ Chiến tranh dù đã đi qua nhưng những dấu ấn, thương tích mà nó để lại cho con người còn tiếp tuc kéo dài Nó “chà nát” con người theo nhiều cách khác nhau và phải gánh chịu nhiều nhất là người phụ nữ Đọc tác phẩm, người đọc sẽ không thể quên được những người phụ nữ như Hạnh, Dâu, Cúc, Thắm… với ước mơ giản dị được làm vợ, làm mẹ, có một tổ ấm để yêu thương, chăm sóc, nhưng những điều ngỡ như bình thường đó lại trở nên

xa vời Họ đều là những người phụ nữ “không chồng” (đúng như cái tên của tác phẩm).Với tiểu thuyết này, Dương Hướng đã cho bạn đọc một cái nhìn mới, một cảm xúc mới về lịch sử - một lịch sử quá nghiệt ngã đối với dân tộc thông qua những số phận bi kịch Tác phẩm tuy không có cái sắc sảo, riết róng của Mảnh đất lắm người nhiều ma, không có cái chiều sâu thâm trầm đến ám ảnh, da diết của Nỗi buồn chiến tranh nhưng với sức nặng của đề tài cùng phương thức thể hiện truyền thống, với cốt truyện mộc mạc và chân phương, ngôn từ không lấp lánh tài hoa mà giản dị, tự nhiên đã khẳng định được giá trị trong lòng độc giả

Đối với Dương Hướng: Nhiệm vụ cao cả của nhà văn là tìm cái chân, cái thiện, cái mỹ và chống cái ác Có viết về cái ác cũng để cho cái thiện trường tồn… Nhân vật trong cái nhìn của Dương Hướng con người luôn tồn

tại hai mặt: tốt và xấu, cái ác và cái thiện, cái cao cả và cái thấp hèn nhưng với niềm tin cũng như tấm lòng nhân ái của nhà văn, ông luôn tìm ra những cái thiện, cái cao cả, cái phần “người” mà đôi khi bị lấp đi Những nhân vật từng là “tội nhân” nhà văn vẫn tìm thấy ở họ những vẻ đẹp trong sáng, giàu

tình người Vạn (Bến không chồng) mặc dù là kẻ có tội đối với Hạnh nhưng

cũng do hoàn cảnh xã hội đã đẩy hai con người cô đơn, bất hạnh đến với

Trang 36

nhau Ở Vạn vẫn tỏa sáng nhân cách của người lính Con người sẵn sàng giúp

đỡ mọi người lúc khó khăn, hoạn nạn Con người với tình yêu thương vô bờ đối với mẹ con Hạnh

Không phải là một nhà văn lớn và có những tuyên ngôn nghệ thuật có tính chất khai sáng, mở đường, Dương Hướng khi dấn thân vào nghiệp cầm bút cũng đã tự xác định cho mình một quan niệm về nghề văn khá rõ: “Cái đích cuối cùng của văn học, theo tôi, là phản ánh những nỗi niềm của con người trong xã hội Cũng có người trước sau cứ nói đến cá nhân, nhưng cá nhân đó phải gắn với xã hội thì tác phẩm mới lớn được, mới có tầm được Hơn nữa, một khi người viết, viết bằng cả cái tâm của mình thì tôi tin sẽ được

xã hội chấp nhận Cái khó là viết sao cho hay, cho có tầm tư tưởng.Bởi tôi quan niệm trong văn học không có đề tài cũ – mới” Qua đó, chúng ta thấy

được rằng tác phẩm Bến không chồng của Dương Hướng đã được bạn đọc

đón nhận nồng hậu bởi quan niệm văn chương của ông gần gũi với mối quan tâm của họ

Sau năm 1975, đất nước thoát khỏi chiến tranh, cùng với thành thị, nông thôn đang từng ngày thay da đổi thịt.Văn xuôi viết về nông thôn đã có

sự chuyển mình Các tác phẩm là lời tuyên cáo đối với cung cách làm ăn và quản lí nông thôn kiểu cũ, đồng thời đề cập đến lối làm ăn và quản lí nông thôn kiểu mới

Từ sau năm 1986, công cuộc đổi mới toàn diện đất nước, không khí dân chủ của xã hội đã khơi thông tư tưởng cho con người Đây là thời kì đất nước đang chuyển mình từ nền kinh tế bao cấp sang nền kinh tế thị trường, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Nông thôn Việt Nam đang có những thay đổi to lớn: nông thôn đang dần bị đô thị hóa, văn hóa nông thôn chuyển dần sang văn hóa đô thị Văn xuôi viết về đề tài nông thôn thời kì này cũng chuyển mình, đổi mới trong không khí đổi mới chung của đất nước Các

Trang 37

nhà văn tự do thể hiện suy nghĩ, chính kiến của mình, không còn bị ràng buộc bởi bất cứ yếu tố khách quan nào Văn xuôi có sự đổi mới về nội dung và hình thức biểu hiện.Đề tài nông thôn một lần nữa được khắc họa rõ nét và chân thực ở tất cả mọi phương diện, trong sự đa dạng, phức tạp, xấu tốt lẫn lộn, đan xen Ở thời kì này tất cả các tác phẩm đều được nâng lên một bước trong sự nhìn nhận về con người và xã hội Đáng chú ý với một loạt các tác

phẩm, bước đầu mang tính “thành tựu”, như: Lê Lựu với Thời xa vắng (1986), Chuyện làng Cuội (1991), Sóng ở đáy sông (1994); Nguyễn Khắc Trường với Mảnh đất lắm người nhiều ma (1990); Dương Hướng với Bến không chồng (1990), Dưới chín tầng trời (2007); Ngô Ngọc Bội với Ác mộng (1990); Tạ Duy Anh với Lão Khổ (1992); Đào Thắng với Dòng sông mía (2004); Trịnh Thanh Phong với Ma làng (2002); Hoàng Minh Tường với bộ tiểu thuyết Gia phả của đất, gồm: Thuỷ hoả đạo tặc, Đồng sau bão, Ngư phủ,

và tiểu thuyết Thời của Thánh Thần; Phạm Ngọc Tiến với Những trận gió người (sau đổi thành Gió làng Kình)

Tiếp thu tư tưởng các bậc đàn anh và tiếp nối đúng nguồn mạch của dòng chảy văn học thời kì đổi mới sau 1986, nhà văn Nguyễn Khắc Trường,

Dương Hướng đã đặt ra và giải quyết các vấn đề bức bối ở nông thôn trong Mảnh đất lắm người nhiều ma, Bến không chồng theo cách riêng của mình Mảnh đất lắm người nhiều ma, Bến không chồng là cuốn tiểu thuyết thu hút

được sự quan tâm của đông đảo độc giả và giới phê bình

Tiểu kết: Như vậy ở chương 1 chúng tôi đã tập trung tìm hiểu quá trình

tiểu thuyết viết về nông thôn thời kỳ đổi mới Viết về nông thôn, các tiểu thuyết gia không đơn thuần chỉ quan tâm tới sự khổ cực, tha hóa không lối thoát của người nông dân, hay mâu thuẫn xã hội gay gắt giữa nông dân với giai cấp cầm quyền đang diễn ra trong bầu không khí ngột ngạt, khổ cực trước

Trang 38

Cách mạng tháng Tám Đó cũng không chỉ là những bản ngợi ca mang âm hưởng sử thi ca ngợi những con người hoàn mỹ không tì vết, ca ngợi phong trào Hợp tác hóa sản xuất tập thể và sự đúng đắn của chính sách cải cách ruộng đất năm 1968 Mà nó còn có cả những mặt trái trong tính cách của người nông dân cũng như nông thôn với những mặt bất cập khi bước vào thời

Trang 39

Chương 2 BỨC TRANH THẾ SỰ NÔNG THÔN VIỆT NAM QUA HAI TIỂU THUYẾT MẢNH ĐẤT LẮM NGƯỜI NHIỀU MA

VÀ BẾN KHÔNG CHỒNG 2.1.Bức tranh nông thôn

2.1.1 Bức tranh nông thôn trong cuộc cải cách ruộng đất

Dưới sự lãnh đạo của Đảng Lao Động Việt Nam và Chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hòa, phong trào cải cách ruộng đất tại miền Bắc Việt Nam trong những năm 1953 – 1956 được ví như là một cuộc cải cách vĩ đại trong lịch sử dân tộc Nó biến ước mơ ngàn đời của tầng lớp nông dân nghèo khổ,

nô lệ, tối tăm, không ruộng đất trở thành người làm chủ cuộc đời mới: Người cày có ruộng Mục đích của phong trào cải cách ruộng đất là đúng đắn, hợp lý: “Luật cải cách ruộng đất của ta chí nhân, chí nghĩa, hợp tình hợp lý Chẳng những là làm cho cố nông, đồng thời chiếu cố đồng bào địa chủ”.Nhưng thực

tế, khi áp dụng vào thực tiễn lại cứng nhắc, giáo điều dẫn đến hiệu quả chưa cao, để lại những hậu quả nặng nề, ảnh hưởng đến công cuộc xây dựng đất nước.Trước tình hình như vậy Đảng Lao Động Việt Nam và Chính phủ đã nhận ra sai lầm, thừa nhận khuyết điểm trước toàn thể nhân dân và tiến hành sửa sai (tháng 10/1956)

Cải cách ruộng đất không phải là đề tài mới Các tiểu thuyết gia viết về

đề tài nông thôn trước thời kì đổi mới đã chú ý, quan tâm, tập trung phản ánh

như Nguyễn Văn Bồng (Bếp đỏ lửa), Nguyễn Huy Tưởng (Truyện anh Lục)

Nhưng đó chỉ là những mặt tích cực, mặt thắng lợi còn mặt trái, khuất lấp và

sự mất mát lớn lao cả vật chất lẫn tinh thần vẫn còn đọng mãi trong chiều sâu tâm thức tình cảm, tâm lí của mỗi người dân Việt Nam chưa có dịp đề cập tới,

vì một thời là “trái cấm bất khả xâm phạm” Sau 1986, vấn đề này trở thành tâm điểm nóng bỏng của quá khứ mà bấy lâu nay vẫn âm thầm day dứt trong

Trang 40

chính nội tại của đời sống văn học Nguyễn Khắc Trường (Mảnh đất lắm người nhiều ma), Võ Văn Trực (Chuyện làng ngày ấy), Lê Lựu (Chuyện làng Cuội), Dương Hướng (Bến không chồng, Dưới chín tầng trời), Tạ Duy Anh (Lão Khổ), Tô Hoài (Ba người khác) đã không ngần ngại, né tránh mà dũng

cảm “xông thẳng” vào vấn đề gai góc, tưởng cũ nhưng còn nhạy cảm này Hành trình tìm về quá khứ, hình ảnh nông thôn Việt Nam trong cơn giông bão cải cách ruộng đất hiện lên chân thực, sinh động

2.1.1.1 Nông dân không còn giữ vai trò chủ nhân tích cực của lịch sử mà trở thành đám đông bạc nhược, mù quáng và thô bạo

Trải qua suốt một thời kì dài hết chịu sự áp bức của phong kiến đến thực dân nên việc đầu tiên mà nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa làm là tìm cách xóa bỏ tư hữu, xóa bỏ quan hệ chủ tớ tồn tại ở Việt Nam suốt bao đời Cụ thể là chủ trương phát hiện và đấu tố địa chủ, cường hào ác bá, tay sai Chủ trương có thể không sai nhưng đường lối thực hiện này sinh nhiều vấn đề Cả nước đã tốn rất nhiều thời gian cho công việc đấu tố, xét xử những người bị kết tội là địa chủ, cường hào ác bá tay sai Thậm chí người ta giao chỉ tiêu cho các địa phương thực hiện Bao nhiêu tiền của, tài sản đã bị tiêu hủy, phá bỏ Biết bao con người đã bị xử bắn Chưa khi nào như lúc này, người ta hãnh diện về sự nghèo khó, ngưỡng mộ và kính nể sự nghèo khó Người ta hào hứng, hùng hổ tố những kẻ giàu có bóc lột nhân dân, những kẻ mang cái tội “bán nước hại dân” Người ta lợi dụng việc đấu tố để thanh toán với những ân oán cá nhân với nhà giàu Và cũng chưa bao giời lịch sử xã hội Việt Nam lại có thể xoay vần, thay đổi số phận con người nhanh như lúc này

Lần tìm trong hai tiểu thuyết Mảnh đất lắm người nhiều ma và Bến không chồng ta sẽ thấy phần nào thực trạng đó

Với Mảnh đất lắm người nhiều ma của Nguyễn Khắc Trường, người

đọc đều cảm nhận về một không khí ngột ngạt, bức bối, rối loạn thời kì cải

Ngày đăng: 26/06/2017, 12:13

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
[1]. VũTuấn Anh,Đổimớivănhọcvìsựpháttriển,Tạpchívănhọc tháng4/1995 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đổimớivănhọcvìsựpháttriển
[2]. Nguyễn Việt Anh (2010), Tiểu thuyết viết về nông thôn sau đổi mới (Qua Mảnh đất lắm người nhiều ma của Nguyễn Khắc Trường và Dòng sông mía của Đào Thắng), Luận văn Thạc sỹ Ngữ Văn, Đại học Sƣ phạm Thái Nguyên Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiểu thuyết viết về nông thôn sau đổi mới (Qua Mảnh đất lắm người nhiều ma của Nguyễn Khắc Trường và Dòng sông mía của Đào Thắng)
Tác giả: Nguyễn Việt Anh
Năm: 2010
[3]. LạiNguyênÂn(1999), 150thuậtngữvănhọc, NxbĐại học Quốc gia,Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: 150thuậtngữvănhọc
Tác giả: LạiNguyênÂn
Nhà XB: NxbĐại học Quốc gia
Năm: 1999
[4]. LạiNguyênÂn(2012),“Góp thêm một vài ý kiến xung quanh việc tiếp cận di sản văn học của Nguyễn Triệu Luật”, Tham luận Hội thảoNguyễn Triệu Luật- con người và tác phẩm Sách, tạp chí
Tiêu đề: Góp thêm một vài ý kiến xung quanh việc tiếp cận di sản văn học của Nguyễn Triệu Luật”, Tham luận Hội thảo
Tác giả: LạiNguyênÂn
Năm: 2012
[5]. Nguyễn Thị Bình (2003), Một vài nhận xét về quan niệm hiện thực trong văn xuôi nước ta từ sau 1975, Tạp chí Văn học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một vài nhận xét về quan niệm hiện thực trong văn xuôi nước ta từ sau 1975
Tác giả: Nguyễn Thị Bình
Năm: 2003
[6]. Nguyễn Thị Bình (2003), "Một số khuynh hướng tiểu thuyết ở nước ta từ thời điểm đổi mới đến nay", nguvanhnue.edu.vn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số khuynh hướng tiểu thuyết ở nước ta từ thời điểm đổi mới đến nay
Tác giả: Nguyễn Thị Bình
Năm: 2003
[7]. Nguyễn Thị Bình (2007), Văn xuôi Việt Nam 1975 - 1995 - Những vấn đề đổi mới, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn xuôi Việt Nam 1975 - 1995 - Những vấn đề đổi mới
Tác giả: Nguyễn Thị Bình
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2007
[8]. Nguyễn Minh Châu (1994), Trang giấy trước đèn, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trang giấy trước đèn
Tác giả: Nguyễn Minh Châu
Nhà XB: Nxb Khoa học xã hội
Năm: 1994
[9]. Phạm Vĩnh Cƣ (dịch) (1992), M.Bakhin, Lí luận thi pháp tiểu thuyết, Trường viết văn Nguyễn Du, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: M.Bakhin, Lí luận thi pháp tiểu thuyết
Tác giả: Phạm Vĩnh Cƣ (dịch)
Năm: 1992
[10]. Nguyễn Văn Dân (2004), Phương pháp luận nghiên cứu văn học, Mxb Khoa học xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp luận nghiên cứu văn học
Tác giả: Nguyễn Văn Dân
Năm: 2004
[11]. Dorothy Brewter vaf Jonh Bureell (2003), Tiểu thuyết hiện đại, Nxb Lao động, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiểu thuyết hiện đại
Tác giả: Dorothy Brewter vaf Jonh Bureell
Nhà XB: Nxb Lao động
Năm: 2003

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w