1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Kinh tế, văn hóa huyện văn chấn tỉnh yên bái nửa đầu thế kỉ XIX

114 198 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 114
Dung lượng 5,26 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Các tộc người ở Văn Chấn mặc dù có nguồn gốc lịch sử khác nhau, có dân tộc là cư dân bản địa, có dân tộc hay bộ phận dân tộc từ miền xuôi lên, có dân tộc từ các vùng khác nhau của Trung

Trang 1

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM

HOÀNG THỊ DUNG

KINH TẾ, VĂN HÓA HUYỆN VĂN CHẤN TỈNH YÊN BÁI NỬA ĐẦU THẾ KỈ XIX

LUẬN VĂN THẠC SĨ NHÂN VĂN

Thái Nguyên, năm 2017

Trang 2

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

LUẬN VĂN THẠC SĨ NHÂN VĂN

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Đàm Thị Uyên

Thái Nguyên, năm 2017

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này là hoàn toàn trung thực và chưa được sử dụng để bảo vệ một học vị nào Các tài liệu tham khảo có nguồn gốc trích dẫn rõ ràng

Thái Nguyên, năm 2017

Tác giả luận văn

Hoàng Thị Dung

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến các thầy giáo, cô giáo đã tham gia giảng dạy lớp Cao học Lịch sử Việt Nam, những người thầy đã trang bị cho tôi tri thức và kinh nghiệm quý báu trong lĩnh vực khoa học giáo dục

Tôi xin trân trọng cảm ơn các thầy cô giáo khoa Đào tạo sau đại học, khoa Lịch sử trường Đại học Sư phạm - Đại học Thái Nguyên, các bạn bè đồng nghiệp đã động viên, nhiệt tình giúp đỡ tôi và tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong khóa học.

Đặc biệt, tôi xin tỏ lòng biết ơn PGS.TS Đàm Thị Uyên đã tận tình hướng dẫn

và giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn này

Thái Nguyên, năm 2017

Tác giả luận văn

Hoàng Thị Dung

Trang 5

Trang

Trang bìa phụ

L i cam đoan i

L m ơn ii

Mục lục iii

Danh mục các từ viết tắt iv

Danh mục các bảng v

MỞ ĐẦU 1

1 Lí do chọn đề tài 1

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 3

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 5

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 6

5 Nguồn tư liệu và phương pháp nghiên cứu 6

6 Đóng góp của luận văn 7

7 Cấu trúc của luận văn 8

Chương 1 KHÁI QUÁT VỀ HUYỆN VĂN CHẤN TỈNH YÊN BÁI 11

1.1 Vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên .11

1.2 Lịch sử hành chính huyện Văn Chấn 15

1.3 Đặc điểm cư dân và các thành phần dân tộc 19

1.4 Tình hình chính trị - xã hội 23

Tiểu kết chương 1 30

Chương 2 KINH TẾ CỦA HUYỆN VĂN CHẤN NỬA ĐẦU THẾ KỈ XIX 31

2.1 Tình hình ruộng đất ở huyện Văn Chấn nửa đầu thế kỉ XIX .31

2.1.1 Sở hữu ruộng đất huyện Văn Chấn theo địa bạ Gia Long 4 (1805) 32

2.1.2 Sở hữu ruộng đất huyện Văn Chấn theo địa bạ thời Minh Mệnh 21 (1840) 39

2.1.3 So sánh sở hữu ruộng đất ở Văn Chấn theo địa bạ Gia Long 4 (1805) và Minh Mệnh 21 (1840) 46

2.2 Hoạt động kinh tế 51

2.2.1 Nông nghiệp 51

2.2.2.Thủ công nghiệp và thương nghiệp 53

Trang 6

2.3 Thuế khóa 56

Tiểu kết chương 2 58

Chương 3 VĂN HÓA HUYỆN VĂN CHẤN NỬA ĐẦU THẾ KỈ XIX 59

3.1 Làng bản và nhà cửa 59

3.2 Ẩm thực 63

3.3 Trang phục 67

3.4 Phong tục, tập quán 69

3.5 Lễ hội 81

Tiểu kết chương 3 87

KẾT LUẬN 88

TÀI LIỆU THAM KHẢO 91

PHỤ LỤC 95

Trang 7

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

Trang 8

DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU

Bảng 1.1 Thành phần các dân tộc huyện Văn Chấn 22

Bảng 2.1 Tình hình ruộng đất huyện Văn Chấn thời Gia Long (1805) 33

Bảng 2.2 Bình quân thửa và bình quân số chủ thời Gia Long (1805) 35

Bảng 2.3: Quy mô sở hữu ruộng đất tư thời Gia Long (1805) 36

Bảng 2.4: Sự phân bố ruộng đất các nhóm họ thời Gia Long (1805) 37

Bảng 2.5: Chức sắc thời Gia Long 4 (1805) 38

Bảng 2.6: Thống kê tình hình ruộng đất thời Minh Mệnh 21 (1840) 40

Bảng 2.7: Quy mô sở hữu ruộng đất thời Minh Mệnh 21 (1840) 41

Bảng 2.8: Bình quân thửa và bình quân sở hữu một chủ thời Minh Mệnh 42

Bảng 2.9: Sở hữu ruộng đất nhóm họ theo địa bạ Minh Mệnh 21 (1840) 43

Bảng 2.10: Sở hữu ruộng đất các chức dịch thời Minh Mệnh 21 (1840) 44

Bảng 2.11: Quy mô chức sắc thời Minh Mệnh 21 (1840) 45

Bảng 2.12: So sánh ruộng đất thời Gia Long (1805) và Minh Mệnh (1840) 46

Bảng 2.13: Quy mô sở hữu thời Gia Long 4 (1805) và Minh Mệnh 21 (1840) 48

Bảng 2.14: So sánh chức sắc thời Gia Long 4 (1805) và Minh Mệnh 21 (1840) 49

Bảng 2.15: So sánh nhóm họ thời Gia Long 4 (1805) và Minh Mệnh 21 (1840) 50

Bảng 2.16: Biểu thuế ruộng công, tư năm 1803 57

Bảng 2.17 Biểu thuế thời Minh Mệnh năm 1840 57

Trang 9

MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài

Lịch sử dân tộc là lịch sử chung, bên cạnh đó mỗi địa phương lại có lịch sử riêng về vị trí địa lí, điều kiện tự nhiên, đời sống kinh tế, chính trị, xã hội, văn hóa, phong tục tập quán có khác nhau Đó là một thực tế khách quan, vừa mang tính địa phương vừa hòa đồng với quốc gia, dân tộc chung

Việt Nam nửa đầu thế kỉ XIX - thời Nguyễn, các triều vua Gia Long, Minh Mệnh đã thực hiện nhiều chính sách tích cực về kinh tế, chính trị, đặc biệt là việc cho lập địa bạ trong quản lí ruộng đất của nhà nước trên phạm vi toàn quốc và tiến hành cải cách hành chính Do vậy, thời điểm lịch sử này đã trở thành đối tượng nghiên cứu của nhiều nhà sử học, nhằm đánh giá lại một cách khách quan, cụ thể và

hệ thống hơn Trong cuộc hội thảo quốc gia về chúa Nguyễn và vương triều Nguyễn trong lịch sử Việt Nam từ thế kỷ XVI đến thế kỷ XIX (ngày 18,19/10/2008, tại

Thanh Hóa), GS Phan Huy Lê, Chủ tịch Hội khoa học Lịch sử Việt Nam nhận định:

thời kì các chúa Nguyễn và vương triều Nguyễn từ thế kỉ XVI đến thế kỉ XIX là một thời kì lịch sử đã trải qua những cách nhìn nhận và đánh giá hết sức khác nhau

có những lúc gần như đảo ngược lại Triều Nguyễn được đặt trong khung lí thuyết hình thái kinh tế xã hội là triều đại suy vong, lâm vào khủng hoảng nặng nề và chịu nhiều phán xét không công bằng [43, tr.11]

Văn Chấn, là huyện miền núi của tây bắc nằm ở phía tây nam tỉnh Yên Bái, có lịch sử lâu đời Thời Hùng Vương, thuộc bộ Tân Hưng, đến thời Âu Lạc thuộc bộ Giao Chỉ Qua hàng nghìn năm lịch sử, nhiều lần thay đổi địa danh, địa giới hành chính, đến triều Nguyễn (Thế kỉ XIX) thuộc vùng Thập Châu, tỉnh Hưng Hoá, sau là vùng Tam tổng Nghĩa Lộ, thuộc tỉnh Hưng Hoá

Hiện nay, huyện Văn Chấn có tổng diện tích tự nhiên 121.090,02 ha Đây là vùng có địa hình khá phức tạp nên chia thành 3 tiểu vùng kinh tế: Vùng trong (vùng cánh đồng Mường Lò), vùng ngoài và vùng cao thượng huyện Giao thông khá thuận lợi có đường quốc lộ 32 và 37 đi qua nên có thể thông thương với các tỉnh miền xuôi và miền núi Văn Chấn là vùng đất có thể coi “đất lành chim đậu” nơi

Trang 10

hội tụ của nhiều dân tộc Trên địa bàn Văn Chấn có 18 dân tộc anh em cùng sinh sống Dân tộc Thái, Tày là những người cư trú trên địa bàn từ lâu đời Mường Lò - Văn Chấn còn là trung tâm đầu tiên của người Thái ở Việt Nam rồi từ đây toả đi các địa bàn khác Các tộc người ở Văn Chấn mặc dù có nguồn gốc lịch sử khác nhau, có dân tộc là cư dân bản địa, có dân tộc hay bộ phận dân tộc từ miền xuôi lên, có dân tộc từ các vùng khác nhau của Trung Quốc di cư sang vào những thời điểm lịch sử khác nhau nhưng khi đã định cư tại địa phương họ đã cùng nhau khai sơn lập nghiệp, mở mang ruộng đồng, xây làng lập bản mới sinh sống lâu dài Văn Chấn trở thành quê hương của nhiều tộc người

Quá trình cộng cư của nhiều thành phần tộc người gắn liền với quá trình phát triển lâu dài của đất nước Việc xây dựng cộng đồng chính trị - xã hội trong lịch sử không tách rời việc xây dựng cộng đồng quốc gia dân tộc bao gồm nhiều thành phần dân tộc Trong lịch sử, các triều đại phong kiến Việt Nam đã có những chính sách cụ thể để đoàn kết cư dân vùng miền núi, củng cố quốc gia thống nhất, đẩy lùi các thế lực cát cứ

và các thế lực can thiệp từ bên ngoài Việc nghiên cứu lịch sử của huyện miền núi trong lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc không chỉ có ý nghĩa khoa học mà còn có ý nghĩa thực tiễn

Đất nước đang trong thời kì công nghiệp hóa, hiện đại hóa và xu thế hội nhập kinh tế quốc tế Song song với công cuộc xây dựng và phát triển kinh tế, công cuộc đấu tranh bảo vệ độc lập chủ quyền trở nên quan trọng và cấp thiết, đòi hỏi mỗi người dân Việt Nam phải có sự hiểu biết đầy đủ hơn, khách quan hơn về Lịch sử dân tộc, về quá trình dựng nước và đấu tranh giữ nước của cha ông ta Từ đó, rút ra những bài học kinh nghiệm sâu sắc mà trong đó có cả việc hay việc dở Tuy nhiên, trên thực tế hiện nay, một bộ phận người dân Việt Nam chưa có những hiểu biết căn bản về Lịch

sử dân tộc, chưa quan tâm đến lịch sử địa phương nơi mình sinh ra

Là giáo viên dạy bộ môn Lịch sử ở trường phổ thông thuộc khu vực miền núi tây bắc, nay được tham gia khóa học cao học chuyên ngành Lịch sử Việt Nam tại Trường Đại học Sư phạm Thái Nguyên, được lĩnh hội những kiến thức lịch sử quý báu do các Giáo sư, phó Giáo sư, Tiến sĩ truyền thụ, đây vừa là vinh dự vừa là cơ hội để bản thân trau dồi kiến thức, được nghiên cứu sâu sắc hơn về Lịch sử dân tộc Tôi nhận thức được

Trang 11

vai trò đặc biệt quan trọng của Lịch sử dân tộc trong đó có lịch sử địa phương, góp phần đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế, văn hóa, xây dựng khối đoàn kết các dân tộc khu vực miền núi phía bắc Đến nay, việc nghiên cứu lịch sử địa phương huyện Văn Chấn một cách có hệ thống, nhất là giai đoạn nửa đầu thế kỉ XIX, chưa được các nhà sử học

quan tâm, nghiên cứu Từ đó, tôi lựa chọn đề tài làm luận văn thạc sỹ, đó là: “ Kinh tế,

văn hóa huyện Văn Chấn tỉnh Yên Bái nửa đầu thế kỉ XIX”

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề

Phạm Thận Duật viết: Tiên nho xưa cho rằng “Miệng muốn nói hãy nói bằng miệng của người xưa Tay muốn viết hãy viết bằng tay của người xưa” Có lẽ vì cái mà người xưa nói đã rất đầy đủ rồi, người sau không nên nói thêm nữa [9, tr.121] Có thể thấy việc nghiên cứu lịch sử là rất quan trọng Nhưng trước khi nghiên cứu một vấn đề lịch sử việc đầu tiên quan trọng nhất đó là việc tiếp cận các nguồn tài liệu đặc biệt là

các nguồn tài liệu có liên quan trực tiếp đến vấn đề đang nghiên cứu

Trong quá trình nghiên cứu, tôi được thừa hưởng khá nhiều các kết quả nghiên cứu của những người đi trước Bởi vì, một công trình nghiên cứu về một huyện trong thời gian như đã giới hạn vào nửa đầu thế kỉ XIX từ trước tới nay chưa được thực hiện Tuy nhiên, ở từng lĩnh vực và khía cạnh khác nhau các nhà nghiên cứu đã đề cập đến vấn đề này một cách trực tiếp hay gián tiếp Để phục vụ cho việc nghiên cứu

đề tài, tôi đã tiếp cận được với các nguồn tài liệu của các tác giả có uy tín liên quan đến đề tài nghiên cứu Những nguồn tài liệu này là cơ sở quan trọng tạo điều kiện cho tôi thực hiện đề tài

Trước hết là cuốn Hưng Hóa ký lược của Phạm Thận Duật (1825 - 1858) là tác

phẩm được viết bằng chữ Hán năm 1856 khi ông đang làm tri châu ở Tuần Giáo, tỉnh Hưng Hóa Trong cuộc đời hoạt động chính trị và văn hóa đa diện của mình, Phạm Thận Duật trên phương diện học thuật đã để lại cho đời một tác phẩm địa phương chí

đặc sắc Hưng Hóa kí lược gồm 12 mục, trình bày các phương diện lịch sử, địa lí, kinh

tế và văn hóa của tỉnh Hưng Hóa trong đó có huyện Văn Chấn lúc bấy giờ Hưng Hóa là tên một đạo trong 13 đạo thừa tuyên lập ra từ niên hiệu Quang Thuận của vua

Lê Thánh Tông, đến đầu thời Nguyễn (năm 1831) là một tỉnh gồm 3 phủ, 5 huyện 16 châu, địa vực khá rộng, phía đông liền với huyện Sơn Vi, phủ Lâm Thao tỉnh Sơn Tây;

Trang 12

phía tây giáp các huyện Kiến Thủy, Văn Sơn, phủ Khai Hóa nước Trung Quốc và các nước Nam Chưởng, Xa Lí, phía nam giáp huyện Trình Cố, châu Quan Hóa, tỉnh Thanh Hóa và huyện Lạc Yên, tỉnh Ninh Bình; phía bắc giáp châu Thu, tỉnh Tuyên Quang

Đất nước Việt Nam qua các đời của Đào Duy Anh, tác phẩm nghiên cứu về địa lí

hành chính để nhận định cương vực của nước Việt Nam và vị trí các khu vực hành chính trải qua các đời từ thời Văn Lang - Âu Lạc cho đến thời Nguyễn Đây là một bức tranh rộng lớn, mô tả sự phát triển và biến đổi của lãnh thổ Việt Nam

Cuốn Đồng Khánh địa dư chí và Đại Nam nhất thống chí đã khái quát về vị trí

địa lí, khí hậu, sông ngòi, phong tục tập quán…của các huyện, tỉnh trong cả nước, trong đó có huyện Văn Chấn

Trong kỷ yếu Hội thảo quốc gia Chúa Nguyễn và triều Nguyễn trong lịch sử

Việt Nam từ thế kỷ XVI đến thế kỷ XIX do Hội khoa học Lịch sử Việt Nam và Ủy ban

nhân dân tỉnh Thanh Hóa phối hợp tổ chức, ngày 18-19/10/2008 Cuốn Kỷ yếu này

đã được Nxb Thế Giới ấn hành năm 2008 Nội dung cơ bản của cuộc Hội thảo là nhìn nhận và đánh giá toàn diện, cả mặt tích cực lẫn mặt hạn chế đối với chúa Nguyễn và vương triều Nguyễn trong tiến trình lịch sử Việt Nam Điều cần nhấn mạnh là trong cuốn kỷ yếu này có một số bài dù nội dung không liên quan trực tiếp tới đề tài nhưng

đã giúp cho tác giả luận văn có thêm nhận thức Có thể kể đến Vấn đề ruộng đất

trong chính sách đối nội của nhà Nguyễn nửa đầu thế kỷ XIX của tác giả Vũ Văn

Quân; Bộ máy hành chính làng xã thời Nguyễn (nửa đầu thế kỷ XIX) của tác giả Vũ Duy Mền; Sự phục hồi kinh tế và sự phát triển của quan hệ thương mại giữa hai nước

Trung Việt vào những năm đầu nhà Nguyễn (1802 – 1858) của tác giả Lương Chí

Minh; Ruộng của các chùa ở Thừa Thiên Huế dưới thời Nguyễn (1802 - 1945) của Nguyễn Văn Phụng (Thiện Tuệ); Quản lý ruộng đất của nhà Nguyễn qua tư liệu địa

bạ của Phan Phương Thảo; Triều Nguyễn với thành tựu khai hoang ở đồng bằng Bắc

Bộ nửa đầu thế kỷ XIX của tác giả Đào Tố Uyên; Cải cách hành chính mới dưới triều Minh Mệnh (1820 - 1840) của tác giả Nguyễn Minh Tường

Luận văn thạc sĩ của Trần Thị Thanh Xuyên (2015), kinh tế, văn hóa huyện

Trấn Yên tỉnh Yên Bái thế kỷ XIX Luận văn nghiên cứu sâu sắc, toàn cảnh về kinh tế,

văn hóa huyện Trấn Yên, tỉnh Yên Bái thế kỷ XIX Huyện Trấn Yên phía nam giáp huyện Văn Chấn

Trang 13

Cuốn Văn hóa và lịch sử người Thái ở Việt Nam của Cầm Trọng, cuốn sách

gồm hai phần: phần chung và phần cụ thể Cuốn sách tổng hợp những bài viết của một số nhà nghiên cứu Thái học ở Việt Nam bao gồm về ngôn ngữ Thái, hình thái kinh tế, xã hội, văn hóa của người Thái ở miền Bắc từ thế kỷ XIX đến nửa đầu thế kỷ

XX, đặc biệt là người Thái ở khu vực tây bắc

Luật tục của người Thái ở Việt Nam của Ngô Đức Thịnh, Cầm Trọng Luật tục

Thái phản ánh các sự chuyển động của cư dân Thái theo hai con sông Đà và sông Thao suốt trong thời kì trung cổ cho đến thời kì cận đại, do đó những tài liệu trong

luật tục Thái rất có ích cho việc nghiên cứu địa lý, lịch sử của vùng tây bắc Việt Nam

Tỉnh ủy, HĐND và UBND tỉnh Yên Bái đã xuất bản cuốn Tỉnh Yên Bái một

thế kỷ (Nxb Đại học Sư phạm - Đại học Quốc gia Hà Nội, năm 2000), cuốn sách trình

bày về lịch sử Yên Bái với điều kiện tự nhiên và các nền văn hóa cổ đã từng tồn tại trên đất Yên Bái xưa và về tình hình chính trị, kinh tế, văn hóa - xã hội, truyền thống yêu nước, cách mạng, sáng tạo của nhân dân Yên Bái từ đó đến nay

Tình hình ruộng đất nông nghiệp và đời sống nhân dân dưới triều Nguyễn do

Trương Hữu Quýnh và Đỗ Bang chủ biên đã nghiên cứu một cách sâu sắc về vấn đề ruộng đất và đời sống nông dân dưới triều Nguyễn

Cuối cùng là bộ Văn Hóa dân gian gồm 11 tập, Sở văn hóa- thông tin tỉnh Yên

Bái đã tập hợp các phong tục tập quán, lễ hội, tín ngưỡng, tôn giáo… của các tộc người trong tỉnh Yên Bái

Như vậy, cho đến nay chưa có một công trình nào nghiên cứu toàn diện về huyện Văn Chấn tỉnh Yên Bái đặc biệt là giai đoạn nửa đầu thế kỉ XIX Bởi vậy, còn nhiều vấn đề quan trọng chưa được làm sáng tỏ như về vị trí địa lí, điều kiện tự nhiên, kinh

tế, văn hóa, nguồn gốc các dân tộc Tuy nhiên, tôi vẫn xem các thành quả nghiên cứu của các nhà nghiên cứu đi trước là những ý kiến gợi mở quý báu, tạo điều kiện cho tôi tiếp tục thực hiện đề tài nghiên cứu của mình

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Mục đích

Thực hiện đề tài này với tư cách là một người dân tộc miền núi phía bắc Trước hết, việc nghiên cứu đề tài nhằm tìm hiểu sâu về tình hình kinh tế - văn hóa khu vực

Trang 14

miền núi phía bắc nửa đầu thế kỉ XIX trong đó có huyện Văn Chấn tỉnh Yên Bái, góp thêm cơ sở khoa học về cư dân miền núi nói chung và cư dân miền núi phía bắc nói riêng, lâu nay còn ít người quan tâm

Rút ra những kết luận, đánh giá khách quan trên sở khoa học và rút ra bài học kinh nghiệm cho thực tiễn Với mong muốn góp phần tái hiện một cách chân thực, khách quan, khoa học về kinh tế, chính trị, xã hội, văn hóa và con người trên mảnh đất Văn Chấn, Yên Bái trong quá khứ

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Làm rõ vấn đề kinh tế của huyện Văn Chấn ở nửa đầu thế kỷ XIX

Trình bày văn hóa của huyện Văn Chấn tỉnh Yên Bái nửa đầu thế kỷ XIX

Nhận xét một cách khách quan về những vấn đề kinh tế, văn hóa huyện Văn Chấn

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Tác giả tập trung nghiên cứu về kinh tế, văn hóa huyện Văn Chấn, tỉnh Yên Bái nửa đầu thế kỷ XIX Ngoài ra đề tài còn đề cập đến các vấn đề về vị trí địa lí, điều kiện tự nhiên, đặc điểm dân cư hồi nửa đầu thế kỉ XIX và hiện nay

4.2 Phạm vi nghiên cứu

Phạm vi thời gian: Nửa đầu thế kỉ XIX

Phạm vi không gian: Văn Chấn thuộc phủ Quy Hóa tỉnh Hưng Hóa, đến nay Văn Chấn thuộc tỉnh Yên Bái Tác giả tập trung nghiên cứu theo địa danh lãnh thổ với hai thời kì: thời Gia Long 4 (năm 1805) gồm 9 xã (Thượng Bằng La, Hạ Lộ, Phù Nham, Sơn Bộc, Thạch Lương, Hương Sơn, Tú Dung, Hạ Bằng La và Đại Lịch) và thời Minh Mệnh 21 (năm 1840) gồm 4 tổng 7 xã (Tổng Sơn A: xã Sơn A, Gia Nguyên; tổng Phù Nham: xã Hạ Lộ, Sơn Bộc; tổng Hương Sơn: xã Hương Sơn, Thạch Lương và tổng Đại Lịch: xã Đại Lịch)

5 Nguồn tư liệu và phương pháp nghiên cứu

5.1 Nguồn tư liệu

Nguồn tư liệu chung: Đại Việt sử kí toàn thư, Lịch triều hiến chương loại chí,

Việt sử thông giám cương mục, Đồng Khánh Dư địa chí, Kiến Văn tiểu lục, Đại Nam nhất thống chí…

Trang 15

Nguồn tư liệu địa phương: Lịch sử Đảng bộ tỉnh Yên Bái; Lịch sử Đảng bộ huyện Văn Chấn, Tỉnh Yên Bái một thế kỉ…

Nguồn tư liệu địa bạ được sử dụng trong công trình nghiên cứu gồm 16 đơn vị địa bạ trong đó 9 đơn vị địa bạ thời Gia Long 4 (năm 1805) và 7 đơn vị địa bạ thời Minh Mệnh 21 (năm 1840), có 5 đơn vị địa bạ trùng nhau ở hai thời điểm Các bản địa bạ trên hiện đang lưu trữ tại Trung tâm Lưu trữ Quốc gia I, Hà Nội Đây là cơ sở quan trọng để tác giả phục hồi lại các đơn vị hành chính cơ sở ở địa phương và phần nào kết cấu kinh tế, xã hội, văn hóa của huyện Văn Chấn tỉnh Yên Bái

Nguồn tư liệu điền dã: Nguồn tư liệu lịch sử có liên quan đến vấn đề kết cấu kinh

tế, xã hội, văn hóa, tổ chức chính trị ở khu vực miền núi ở giai đoạn nửa đầu thế kỷ XIX rất ít Do vậy, tác giả đã đi thực tế tại địa phương, thu thập được một số tài liệu do địa phương cung cấp, trực tiếp đến làng bản của đồng bào dân tộc thiểu số quan sát, phỏng vấn, ghi chép về phong tục tập quán, sinh hoạt, các câu ca dao, tục ngữ, cốt truyện truyền miệng của họ nhằm liên hệ với các vấn đề có thật trong lịch sử

5.2 Phương pháp nghiên cứu

Đây là đề tài lịch sử nên tác giả sử dụng các phương pháp lịch sử kết hợp với phương pháp lôgic, phân tích, mô tả, so sánh, đối chiếu các nguồn tư liệu

Bên cạnh đó còn sử dụng phương pháp thống kê, tổng hợp, hệ thống hóa Đề tài

sử dụng nhiều tư liệu địa bạ nên khâu giám định tư liệu là đặc biệt quan trọng, nhất là các tư liệu bằng chữ Hán để thấy được mức độ chính xác của nó Đồng thời, kết hợp với việc khảo cứu các nguồn tư liệu thành văn và tư liệu điền dã thực tế tại địa phương để làm rõ nội dung chính của luận văn Ngoài ra, luận văn còn kết hợp với một số phương pháp liên ngành như địa lí học, văn hóa học để từ đó rút ra những nhận xét, luận điểm khoa học Phương pháp đồng đại và lịch đại giúp tác giả đặt việc nghiên cứu lịch sử địa phương Văn Chấn nửa đầu thế kỉ XIX trong mối quan

hệ với lịch sử dân tộc để thấy được những tác động ảnh hưởng giữa lịch sử địa phương và lịch sử dân tộc

6 Đóng góp của luận văn

Đề tài bước đầu nghiên cứu một cách cụ thể về kinh tế, văn hóa của huyện Văn Chấn tỉnh Yên Bái nửa đầu thế kỷ XIX Dựa vào nguồn tài liệu khai thác được, luận

Trang 16

văn bước đầu khôi phục một cách có hệ thống bức tranh về kinh tế, mối quan hệ tộc người, những bản sắc văn hóa của cộng đồng cư dân, gắn với môi trường sinh thái địa phương, vùng miền Luận văn lần đầu công bố 16 đơn vị địa bạ của huyện Văn Chấn nửa đầu thế kỉ XIX Từ tài liệu địa bạ giúp chúng ta hiểu được chế độ sở hữu ruộng đất và đơn vị hành chính cơ sở của huyện Văn Chấn dưới thời Nguyễn Đồng thời, góp phần tìm hiểu những nét chính về quan hệ cộng đồng làng xã, phong tục tập quán, tín ngưỡng và sự giao thoa văn hóa giữa các tộc người trên địa bàn

Luận văn còn có thể là tài liệu giúp các nhà nghiên cứu, giảng dạy tham khảo

7 Cấu trúc của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, Tài liệu tham khảo, phụ lục, cầu trúc luận văn gồm 3 chương:

Chương 1: Khái quát chung về huyện Văn Chấn tỉnh Yên Bái

Chương 2: Kinh tế huyện Văn Chấn nửa đầu thế kỷ XIX

Chương 3: Văn hóa huyện Văn Chấn nửa đầu thế kỷ XIX

Trang 17

BẢN ĐỒ HÀNH CHÍNH TỈNH YÊN BÁI

Trang 18

BẢN ĐỒ HÀNH CHÍNH HUYỆN VĂN CHẤN TỈNH YÊN BÁI

Trang 19

Chương 1 KHÁI QUÁT VỀ HUYỆN VĂN CHẤN TỈNH YÊN BÁI 1.1 Vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên

Vị trí địa lý

Nửa đầu thế kỉ XIX, huyện Văn Chấn thuộc phủ Quy Hóa tỉnh Hưng Hóa Sách

Đại Nam nhất thống chí có ghi: huyện Văn Chấn đông tây cách nhau 184 (164) dặm,

nam bắc cách nhau 149 dặm, phía đông đến địa giới huyện Hạ Hòa tỉnh Sơn Tây 22 dặm, phía tây đến địa giới châu Quỳnh Nhai 142 dặm, phía nam đến địa giới châu Phù Yên 111 dặm, phía bắc đến địa giới huyện Trấn Yên 38 dặm Xét Hưng hóa

phong thổ lục của Hoàng Trọng Chính chép: đất huyện Văn Chấn phía trên giáp các

châu Quỳnh Nhai và Sơn La, phía dưới giáp huyện Yên Lập, phía nam giáp châu Phù Hoa và huyện Thanh Xuyên, phía bắc giáp huyện Trấn Yên và sông Thao [18, tr.327]

Sách Đồng Khánh địa dư chí chép như sau: “Văn Chấn là huyện thống hạt của phủ Quy

Hóa Huyện lỵ đặt ở xã Đại Lịch, chu vi 40 trượng, bốn phía trồng rào tre, mở một cửa trước Huyện hạt phía đông giáp huyện Hạ Hòa tỉnh Sơn Tây, phía tây giáp châu Quỳnh Nhai, phía nam giáp châu Phù Yên, phía bắc giáp huyện Trấn Yên Đông tây cách nhau

164 dặm, nam bắc cách nhau 149 dặm” [13, tr.725] Theo Hưng Hóa ký lược: huyện

Văn Chấn, đông giáp huyện Hạ Hòa, tây giáp châu Quỳnh Nhai, nam giáp châu Sơn La, Phù Yên; bắc giáp huyện Trấn Yên [9, tr.148]

Văn Chấn ngày nay là một huyện miền núi, tổng diện tích tự nhiên là 121.090,02 ha, chiếm 17% diện tích toàn tỉnh Huyện nằm ở phía tây nam tỉnh Yên Bái, phía bắc giáp huyện Mù Cang Chải, phía đông giáp huyện Văn Yên và Trấn Yên, phía tây giáp huyện Trạm Tấu, phía nam giáp tỉnh Sơn La Văn Chấn cách trung tâm chính trị, kinh tế, văn hoá tỉnh 72 km; cách thị xã Nghĩa Lộ 10 km; cách Hà Nội

200 km Với vị trí địa lí này Văn Chấn có thể giao lưu với các huyện miền núi phía bắc và một số tỉnh thuộc Trung du, đây là điều kiện thuận lợi cho giao lưu phát triển kinh tế với các huyện trong tỉnh và các tỉnh Sơn La, Phú Thọ, Lai Châu Như vậy, trải qua những biến đổi về lịch sử địa giới hành chính và diện tích, huyện Văn Chấn xưa rộng hơn nhiều so với ngày nay

Trang 20

Điều kiện tự nhiên

Những cuộc vận động kiến tạo địa chất từ hàng chục triệu năm trước đây đã tạo ra cho Văn Chấn một địa hình phức tạp có rừng, núi, hang động, suối khe chằng chịt, thung lũng bằng phẳng Văn Chấn nằm ở sườn phía đông bắc của dãy Hoàng

Liên Sơn Độ cao trung bình so với mặt nước biển 400m Sách Đại Nam nhất thống

chí chép: “Đất này bốn mặt đều là núi Hạ Lộ có núi Khau Bút [18, tr.328] “Xã Thượng Bằng La có núi Chi Sơn, xã Đại Lịch có núi Khau Bút” [13, tr.726], “núi Khau Bút ở huyện Văn Chấn, núi nhiều rắn độc, không ai dám qua” [18, tr.259]

Sách Hưng Hóa ký lược viết: huyện Văn Chấn có núi Khau Bút (tục gọi là Đèo

Chiến), có nhiều rắn độc, không ai dám đến; có Khe Vận, Khe Uyển, Khe Lao và ở

xã Hạ Lộ có nhiều suối độc [9, tr.155] Vùng thượng huyện có một bộ phận thuộc dãy Hoàng Liên Sơn hùng vĩ kéo dài quá đông bắc Mù Cang Chải về gần đến Tú Lệ hình thành đèo Khau Phạ nổi tiếng Vùng ngoài có đèo Lũng Lô và dãy núi Đá Xô, đèo ách hùng vĩ Đồng bằng Mường Lò, phía đông có dãy núi Bu và núi Dông; phía tây là dãy núi Sà Phình, hai dãy núi này vòng ra như một vành đai kiên cố bảo vệ 9 xã vùng đồng bằng Mường Lò Nhìn từ núi cao xuống, theo quan niệm xưa, đây là thế “tả Thanh Long - hữu Bạch Hổ”, một địa thế để dựng nghiệp muôn đời Bên cạnh đó, Văn Chấn còn có các hang Thẩm Lé, Thẩm Han, Thẩm Kia, Thẩm Thoóng, Thẩm

Bu Địa hình khá phức tạp, chia thành 3 tiểu vùng kinh tế: Vùng trong (vùng cánh đồng Mường Lò) gồm 12 xã, là vùng tương đối bằng phẳng, có cánh đồng Mường

Lò rộng trên 2.400 ha đứng thứ 2 trong 4 cánh đồng Tây Bắc Vùng ngoài: gồm 9

xã, thị trấn, có lợi thế về phát triển vườn đồi, vườn rừng và trồng lúa nước Vùng cao thượng huyện: gồm 10 xã, có độ cao trung bình 600m trở lên, có tiềm năng về đất đai, lâm sản, khoáng sản, chăn nuôi đại gia súc

Sản vật tự nhiên khá phong phú và đa dạng mang đặc trưng của miền núi phía bắc Tài nguyên khoáng sản, có mỏ bạc Tú Lệ, mỏ chì, kẽm có trữ lượng hàng triệu tấn, mỏ sắt ở Mỵ, mỏ nhiên liệu như than đá ở Phù Nham, vật liệu xây dựng như đá

vôi ở Đồng Khê Theo ghi chép trong sách Đại Nam nhất thống chí: “Hương Sơn có

mỏ bạc, Sơn A có mỏ diêm tiêu” [18, tr.328], “Vàng…mỏ Gia Nguyên huyện Văn Chấn đều có thuế” [18, tr.383] Và, “Lúa thì có ngô, lúa nếp, lúa tẻ Tre thì có tre

Trang 21

vầu, nứa Gỗ thì phần nhiều là gỗ tạp Các súc vật chăn muôi thông thường thì các nơi trong huyện đều có Thú rừng thì rải rác vài nơi cũng có hươu, nai, hổ, báo Xã Gia Hội có mỏ vàng đã đóng cửa, hiện đang sức cho khám thực” [13, tr.726]

Văn Chấn nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa Mùa đông lạnh, khô hạn

và mùa hạ nóng ẩm mưa nhiều Sách Đồng Khánh địa dư chí chép: “Mùa xuân, mùa

hè mưa nhiều Mùa thu, mùa đông rét nhiều Việc nông chỉ làm ruộng vụ thu, cây cối rậm rạp, sương mù bốc ngùn ngụt, khí lam chướng rất nặng nề” [13, tr.726] Sách Đại Nam nhất thống chí – mục tỉnh Hưng Hóa có viết: “Khắp tỉnh, tháng giêng mưa nhiều, tháng 2, tháng 3 khí trời ấm áp, tháng 5, tháng 6 nóng bức, tháng 7, tháng 8 mưa nhiều, thỉnh thoảng có bão, tháng 10 bắt đầu hết sấm, tháng 11 gió rét, tháng 12 giá buốt, không mưa, sấm bắt đầu nổi… Các châu, huyện thượng du, nhân dân ở núi, khí trời thay đổi, nóng lạnh không giống nơi khác, bắt đầu mùa nóng đã thấy nực, chưa đến mùa đông đã thấy rét Khí núi mù mịt, hàng ngày đến giờ Thìn, giờ Tỵ vẫn chưa tan hết sương” [18, tr.347]

Khí hậu của huyện Văn Chấn đặc trưng là nhiệt đới gió mùa, nắng và mưa nhiều, độ ẩm cao Nhiệt độ trung bình ít biến động trong năm khoảng 18oc - 20 oc, cao nhất là 37 oc - 39 oc, mùa đông rét đậm nhiệt độ xuống dưới tới -2oc đến -4oc Tổng nhiệt độ cả năm khoảng 7.500o

c - 8.100oc; lượng mưa được chia thành hai mùa

rõ rệt, từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau là mùa mưa ít, từ tháng 4 đến tháng 10 hàng năm là mùa mưa nhiều Lượng mưa trung bình hàng năm từ 1200mm đến 1600mm

Số ngày mưa trong năm 140 ngày Độ ẩm bình quân từ 83% - 87%, thấp nhất là 50% Thời gian chiếu sáng nhiều nhất từ tháng 5 đến tháng 9, ít nhất từ tháng 11 đến tháng

3 năm sau; lượng bức xạ thực tế đến được mặt đất bình quân cả năm đạt 45%, thích hợp phát triển các loại động thực vật Á nhiệt đới, ôn đới và các loại cây lương thực, thực phẩm, cây công nghiệp, lâm nghiệp Nhìn chung, khí hậu nhiệt đới ẩm gió mùa thuận lợi cho sản xuất nông nghiệp Lượng bức xạ phong phú, nền nhiệt lượng cao đã tạo ra sinh khối lớn giúp cho cây trồng phát triển, cây ăn quả và cây lương thực ngắn ngày, các ngành khai thác và chế biến có nhiều thuận lợi, các ngành du lịch và giao thông có thể hoạt động quanh năm Khí hậu mát ở vùng cao nên có thể trồng các loại cây dược liệu và chăn nuôi gia súc Bên cạnh những thuận lợi trên địa phương cũng

Trang 22

gặp nhiều khó khăn do điều kiện tự nhiên đem lại Mùa đông gió rét lạnh buốt, sương muối dẫn đến khô hạn, mùa hè nóng nực, mưa nhiều gây lũ lụt đặc biệt là lũ quét, mưa

đá làm ảnh hưởng không nhỏ đến đời sống con người và sản xuất của địa phương

Do điều kiện địa hình đồi núi dốc mạnh, lượng mưa lớn và tập trung nên tạo cho Văn Chấn một hệ thống ngòi suối khá dày đặc, có tốc độ dòng chảy lớn và lưu lượng nước thay đổi theo từng mùa Suối Thia được hợp thành bởi các suối: Ngòi Nhì, Nậm Tăng, Nậm Mười, Nậm Đông và được bắt nguồn từ vùng núi cao trên 2000m, ngoài việc cung cấp nước để tưới cho sản xuất nông nghiệp, nước sinh hoạt

còn là tiềm năng phát triển thuỷ điện nhỏ và vừa Theo sách Kiến văn tiểu lục thì sông Thao lớn nhất chảy qua địa phận của huyện Sông này bắt nguồn từ “nước Thổ Phồn,

chảy qua tỉnh Vân Nam Trung Quốc, hợp với các ngọn sông khác chảy ra địa giới huyện Mông Tự, đến xứ Hưng Hóa chảy qua các xứ Ngòi mật, Ngòi Quyền, Ngòi Bắc Sát thuộc ba động Trình Lan, Hoa Quán, Hương Sơn … Sông Thao có nhiều sa cát, nước đỏ và đục, hạ lưu qua các trang Châu Quế” [11, tr.346] Sách Đồng Khánh địa

dư chí cũng ghi chép:“Một dòng sông lớn từ chỗ giáp giang huyện Trấn Yên đến giáp giang phận huyện Hạ Hòa tỉnh Sơn Tây Đó là sông Thao, dài 10 dặm, rộng trên dưới 100 trượng, sâu 1 trượng 5 thước” [13, tr.726]

Văn Chấn có nhiều tiềm năng về rừng và khai thác lâm sản Rừng của Văn Chấn có hàng trăm loại gỗ cùng tre, nứa, song, mây, trong đó có các loại gỗ quý như: lát, pơmu, vàng tâm, đinh, lim, sến, táu, chò, re mít, gội, kháo… Bên cạnh các loại gỗ quý còn có các loại dược liệu có giá trị như: thiên niên kiện, ba kích, sa nhân, hoài sơn; nhiều loại thực phẩm tự nhiên như măng, mộc nhĩ, nấm hương, mật ong, cánh

kiến và nhiều loại thú rừng Sách Đồng Khánh địa dư chí ghi: “Tre thì có tre vầu,

nứa Gỗ thì phần nhiều là gỗ tạp Thú rừng thì rải rác vài nơi cũng có hươu, nai, hổ, báo” [13, tr.726] Địa hình chủ yếu là đồi núi cùng với khí hậu nhiệt đới ẩm gió mùa

đã tạo điều kiện cho rừng ở Văn Chấn phát triển và trở thành một trong những nguồn lợi chủ yếu của huyện Hiện nay, diện tích rừng của huyện là 84.356 ha trong đó đất

có rừng 67.015 ha được phân chia gồm: rừng phòng hộ 20.488 ha, rừng sản xuất 46.527 ha và đất chưa có rừng 17.314 ha với các loại cây chủ yếu như keo lai, quế,

mỡ, bồ đề… Đặc biệt thời gian gần đây việc đưa cây cao su vào trồng trên địa bàn 11

Trang 23

xã, thị trấn đã góp phần quan trọng trong việc phủ xanh đất trống, đồi trọc, bảo vệ môi trường sinh thái, hạn chế hậu quả thiên tai, tạo việc làm và tăng thu nhập cho người lao động Lợi ích từ rừng ở Văn Chấn đang được phát huy

Về giao thông vận tải, từ huyện lỵ Văn Chấn đến Yên Bái gần 80km, nhưng từ địa giới phía đông bắc của huyện đến thành phố Yên Bái chỉ gần 30km Văn Chấn có đường Quốc lộ 32 chạy dọc theo chiều dài của huyện, là cửa ngõ đi vào thị xã Nghĩa

Lộ, huyện Trạm Tấu, Mù Cang Chải, huyện Phù Yên, Bắc Yên tỉnh Sơn La và tỉnh Lai Châu Đường quốc lộ 37 chạy qua 4 xã, đây là điều kiện thuận lợi cho giao lưu phát triển kinh tế với các huyện trong tỉnh, giữa tỉnh Yên Bái với các tỉnh Sơn La, Phú Thọ, Lai Châu.… Hệ thống đường liên xã, đã được xây dựng rộng hơn với đường ô tô có thể đến trung tâm tất cả các xã Đây là điều kiện quan trọng để thúc

đẩy nền kinh tế hàng hóa, thương mại, dịch vụ Sách Đại Nam nhất thống chí viết: “

Đường bộ từ sông Thao qua khe Vận đi vào phải 3 ngày, nhưng đi bộ nhiều chỗ hiểm trở, qua 23 sách khe Vận Mỗi khi nước lũ thì không đi được, cách trấn sở 6 ngày”

[18, tr.328] Sách Đồng Khánh địa dư chí cũng viết: “Một đường nhỏ từ huyện lỵ đi

về phía tây qua các xã Đại Lịch, Sơn Bộc, Hạ Lộ đến giáp châu Quỳnh Nhai, dài 230 dặm, 10 trượng, rộng 3 thước” [13, tr.726]

1.2 Lịch sử hành chính huyện Văn Chấn

Văn Chấn là địa phương có lịch sử lâu đời, trải qua quá trình lịch sử với nhiều biến đổi về tên gọi, địa giới hành chính Hiện nay, Văn Chấn có 31 đơn vị hành chính cơ

sở, gồm 28 xã và 3 thị trấn (Tú Lệ, Nậm Búng, Gia Hội, Sơn lương, Nậm Mười, Sùng

Đô, An Lương, Nậm Lành, Sơn A, Nghĩa Sơn, Hạnh Sơn, Phúc Sơn, Suối Quyền, Suối Giàng, Suối Bu, Cát Thịnh, Phù Nham, Minh An, Thanh Lương, Thạch Lương, Sơn Thịnh, Đồng Khê, Tân Thịnh, Chấn Thịnh, Bình Thuận, Nghĩa Tâm, Thượng Bằng La, thị trấn nông trường Liên Sơn, thị trấn nông trường Nghĩa Lộ, thị trấn nông trường Trần Phú và Đại Lịch) Huyện lỵ đóng trên địa bàn xã Sơn Thịnh Qua những cuộc khai quật, các nhà khảo cổ học đã phát hiện nhiều công cụ bằng đá (thời kì đá cũ) và xương cốt động vật cách ngày nay khoảng 10 vạn năm ở hang dưới Thẩm Thoóng (Thượng Bằng La) Tìm thấy trống đồng và một số công cụ đồ đá mới thuộc nền văn hóa Hòa Bình và nền văn hóa Đông Sơn, có niên đại từ 8 đến 10 ngàn năm ở hai xã Phù Nham và Thạch

Trang 24

Lương [2, tr.7- 8] Điều đó chứng tỏ Văn Chấn là một địa bàn sinh tụ của người Việt Cổ

Theo sách Đại Nam nhất thống chí, mục tỉnh Hưng Hóa: “Đời Hùng Vương xưa là bộ

Tân Hưng Thời Âu Lạc thuộc bộ Giao Chỉ Thời Bắc thuộc: Đời Tần thuộc Tượng Quận, đời Hán là đất Nam Trung (Dư địa chí của Nguyễn Trãi ghi chép: Hưng Hóa là

bộ Tân Hưng, Xưa đời Hán là Nam Trung), đời Ngô là đất các huyện Lâm Tây và Tây Đạo thuộc quận Tân Hưng, đời Đường là huyện Tân Xương, lệ vào Châu Phong” [18,

tr.309] Sau kháng chiến chống quân Nam Hán của Ngô Quyền năm 938 thắng lợi, đất nước ta bước vào thời kì độc lập tự chủ lâu dài Trải qua các đời Ngô, Đinh, Tiền Lê các đơn vị hành chính hầu như không thay đổi Năm 1009, nhà Lý được thành lập, năm 1010 rời kinh đô từ Hoa Lư (Ninh Bình) về Thăng Long tiếp tục củng cố và xây dựng chính

quyền từ trung ương đến địa phương cụ thể ở địa phương chia thành 12 Lộ Sách Đại

Nam nhất thống chí ghi chép: tỉnh Hưng Hóa “Nước ta là đất đạo Lâm Tây và Châu Đằng Đời Trần đặt làm đạo Đà Giang; lại đặt làm trấn, cuối đời Trần đổi làm trấn Thiên Hưng” [18, tr.309] Thời nhà Trần, Văn Chấn thuộc trại Quy Hóa (Nay thuộc

Văn Chấn, Trấn Yên, Văn Bàn) Thời thuộc Minh đặt 2 châu Gia Hưng và Quy Hóa

Sách Thiên hạ quận quốc lợi bệnh thư chép: Năm Vĩnh Lạc thứ 5 đổi hai trấn Gia

Hưng và Quy Hóa làm châu, lệ thẳng vào ty Bố chính … Đời Lê Thuận Thiên đặt 2

lộ Gia Hưng và Quy Hóa thuộc tây đạo Thời Hồng Đức, đổi 2 lộ làm phủ, đặt Hưng Hóa thừa tuyên, cũng gọi là xứ Hưng Hóa lãnh 3 phủ 4 huyện và 17 châu Trong đó, phủ Quy Hóa lãnh 3 huyện là Trấn Yên, Yên Lập, Văn Chấn và châu là Văn Bàn, Thủy Vĩ Như vậy, đến đời Lê mới thấy xuất hiện danh xưng Văn Chấn thuộc phủ Quy Hóa

Thời Nguyễn, Sách Đại Nam nhất thống chí ghi chép: “Bản triều năm Gia

Long năm thứ 1 vẫn để tên trấn như cũ, lãnh 3 phủ, 4 huyện và 16 châu Trong đó, phủ Quy Hóa lãnh 3 huyện Văn Chấn, Trấn Yên, Yên lập và 2 châu Thủy Vĩ, Văn Bàn” [18, tr.310] Tuy đơn vị hành chính là những châu, huyện cùng một trấn nhưng

đơn vị hành chính cấp cơ sở ở miền núi thường gọi là sách, động, trang còn miền

xuôi gọi là tổng, xã Sách Đại Nam nhất thống chí có ghi: Trước có 20 sách Năm

Quý Hợi đời Cảnh Hưng làm sổ bình lệ còn 8 sách, số đinh 222 suất Thổ nghi và phong tục gần giống huyện Thanh Xuyên và Yên Lập Họ Hà ở núi Thạch Lương nối

Trang 25

đời làm Phụ đạo, sách Hạ Lộ thì họ Lê được thế tập, cũng như các châu khác Năm Canh Thân phụ đạo là Đanh Nghĩa làm phản Sầm Thừa Tiến, người nước Thanh đem dân người Thanh đánh dẹp được nên cho được đóng đồn phòng thủ (tức đông Hạ Lộ), chiêu tập dân binh, kiêm quản các sách Sơn A và Hương Sơn Nay con cháu là Sầm Quản, Sầm Trọng nối nghiệp Đầu đời Gia Long vẫn theo như thế Năm Minh Mệnh thứ 17 mới đặt lưu quan, đổi sách làm xã và đặt tên tổng Lãnh 4 tổng, 10 xã

[18, tr.327, 328] Sách Đồng Khánh địa dư chí có ghi huyện Văn Chấn có 4 tổng,

tổng Hương Sơn gồm 2 xã là Hương Sơn và Thạch Lương; tổng Phù Nham gồm 3 xã

là Phù Nham, Sơn Bộc và Hạ Lộ; tổng Sơn A gồm 3 xã là Sơn A, Gia Hội và Tú Lệ; tổng Đại Lịch gồm 3 xã là Đại Lịch, Thượng Bằng La và Hạ Bằng La [13, tr.725]

Theo sách Hưng Hóa kí lược, huyện Văn Chấn có 12 sách: Đại Lịch, Thượng Bằng,

La Hạ, Bằng La, Hương Sơn, Thanh Lương, Phù Nham, Hạ Lộ, Sơn Bộc, Sơn A, Mẫn Tuyền, Tú Dung Năm Minh Mệnh 17 (1836) đổi sách làm xã, chia đặt tên tổng: tổng Đại Lịch có 4 xã (Đại Lịch, Thượng Bằng, La Hạ, Bằng La); tổng Hương Sơn có

2 xã (Hương Sơn, Thanh Lương); tổng Phù Nham có 3 xã (Phù Nham, Hạ Lộ, Sơn Bộc); tổng Sơn A có 3 xã (Sơn A, Mẫn Tuyền, Tú Dung) Năm Thiệu Trị thứ 3 (1843) cải Mẫn Tuyền thành Gia Nguyên, Tú Dung thành Tú Lệ [9, tr.135] Như vậy, phủ Quy Hóa xưa là đất tỉnh Lào Cai, các huyện Trấn Yên, Văn Chấn, Văn Yên tỉnh Yên Bái, huyện Yên Lập và một số xã thuộc các huyện Sông Thao, Tam Thanh tỉnh Phú Thọ

Theo sách Yên Bái một thế kỉ: hồi nửa đầu thế kỉ XIX, Văn Chấn gồm 10 sách:

Thạch Lương, Tú Lệ, Mẫn Tuyền, Phù Nham, Đại Lịch, Sơn Bộc, Hương Sơn, Thượng Bằng La, Sơn A, Nghĩa Lộ [37, tr.82]

Thời Pháp thuộc, tháng 2 năm 1886, sau khi làm chủ được Hưng Hóa và Tuyên Quang, đội quân viễn chinh Pháp tiếp tục kéo đến thượng lưu sông thao tấn công vào phòng tuyến kéo dài từ Hào Gia, Tuần Quán đến Giới Phiên, Bách Lẫm Vừa đánh dẹp các cuộc nổi dậy, thực dân Pháp vừa ra sức củng cố những vùng đất vừa bình định xong Thực dân Pháp cắt đất Hưng Hóa đặt tỉnh Lào Cai làm đạo quan binh thứ tư của miền thượng du Bắc Kỳ tỉnh lỵ đặt ở Lào Cai gồm 4 hạt là Lào Cai, Bảo Hà, Nghĩa Lộ, Yên Bái và hai châu Chiêu Tấn và Thủy Vĩ

Trang 26

Theo Địa danh và tài liệu lưu trữ về làng xã Bắc Kỳ: Tổng Sơn A gồm xã Sơn

A, Gia Hội, Tú Lệ, Nậm Búng, Động Nậm Mười, Động Nậm Hành, Suối Quyền Động, Nghĩa Sơn Động và Vĩnh Quang Phố; Tổng Hạnh Sơn gồm xã Hạnh Sơn, Thạch Lương; Tổng Phù Nham gồm xã Nghĩa Lộ, Phù Nham, Sơn Bạc, Phù Sơn, Nghĩa Lộ Phố; Tổng Đại Lịch gồm xã Đông Khê, Thượng Bằng La, Chấn Thịnh, Đại Lịch, Đá Nhảy; Tổng Trạm Tấu gồm xã Trạm Tấu Động, Suối Giàng Động, Suối Bu

Động, Cao Pha Động, Bản Sán Động, Bạch Tú Sơn [42, tr 897 - 902]

Từ năm 1940 đến năm 1945, châu Văn Chấn được đổi thành phủ Văn Chấn Cách mạng tháng Tám năm 1945 thành công, nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà ra đời, Văn Chấn là một huyện thuộc tỉnh Yên Bái Cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp thắng lợi, vùng Tây Bắc được hoàn toàn giải phóng, tháng 5 năm 1955, Đảng, Nhà nước quyết định thành lập Khu tự trị Thái – Mèo, Văn Chấn là một trong 16 châu thuộc Khu tự trị Tháng 10 năm 1962, Quốc hội quyết định đổi tên Khu tự trị Thái - Mèo thành Khu tự trị Tây Bắc và lập các tỉnh trực thuộc Ngày 24 tháng 12 năm 1962, tỉnh Nghĩa Lộ thuộc Khu tự trị Thái - Mèo chính thức được thành lập, Văn Chấn thuộc tỉnh Nghĩa Lộ Năm 1963, thị trấn Nghĩa Lộ được tách ra khỏi huyện Văn Chấn thành thị trấn tỉnh lỵ, trực thuộc tỉnh, sau đó là thị xã Nghĩa Lộ Năm 1964, một phần huyện Văn Chấn được tách ra để thành lập huyện Trạm Tấu; hai xã Nậm Có, Khau Phạ tách khỏi Văn Chấn, nhập vào huyện Mù Cang Chải Sau khi đất nước hoàn toàn giải phóng, tại kỳ họp thứ 2 Quốc hội khoá V (1976) quyết định bỏ cấp khu trong hệ thống các đơn vị hành chính trong cả nước Ngày 03 tháng 01 năm 1976, tỉnh Hoàng Liên Sơn được thành lập, huyện Văn Chấn trực thuộc tỉnh Hoàng Liên Sơn Ngày 01 tháng 10 năm 1991, thực hiện Nghị quyết kỳ họp thứ 9 Quốc hội (khoá VII), tỉnh Yên Bái được tái thành lập, huyện Văn Chấn trực thuộc tỉnh Yên Bái Tháng 7 năm 1995, thị trấn Nghĩa Lộ tách ra khỏi Văn Chấn, tái lập thành thị xã Nghĩa Lộ Tháng 12 năm 2003, theo Nghị định 167/2003/NĐ-CP, thêm 3 xã (Nghĩa

An, Nghĩa Phúc, Nghĩa Lợi) từ huyện Văn Chấn hợp nhất về thị xã Nghĩa Lộ

Như vậy, huyện Văn Chấn là một địa phương có lịch sử lâu đời, lưu giữ những dấu tích nền văn hóa Hòa Bình, văn hóa Đông Sơn trong quá trình vận động hình thành quốc gia dân tộc Việt Nam, liên tục được ghi danh trong suốt quá

Trang 27

trình lịch sử dân tộc So với các huyện, thị khác trong vùng Tây Bắc, Văn Chấn sớm được định hình với tư cách là một đơn vị hành chính

1.3 Đặc điểm cƣ dân và các thành phần dân tộc

Văn Chấn là địa phương có nhiều dân tộc sinh sống lâu đời Sách Đồng Khánh địa dư chí cho biết trong huyện người Thổ (chỉ người Thái) chuyên việc cày cấy, khai khẩn đất bằng làm ruộng Đến ngày lễ cầu thần thì bày bàn thờ dưới gốc cây mà cúng Lấy vợ thì đi ở rể, sau đó mới thành hôn Người Mán đốt nương làm rẫy, địu con sau lưng, nấu cháo đầu lũng, du canh du cư, chỉ theo nơi đất tốt mà rời đến, khi đất kém màu mỡ thì bỏ đi nơi khác Các việc cưới xin, chúc mừng, tang ma, điếu viếng thì chỉ có thổ hào, mán trưởng dần theo phong tục người Kinh, còn lại đều rất sơ sài, đơn giản [13, tr.726] “Các phủ, huyện, châu trong tỉnh người Kinh, người Thanh, người

Thổ (Thái), Nùng, Mán ở xen kẽ lẫn nhau” [13, tr.704] Sách Hưng Hóa ký lược cho

biết không chỉ ở văn Chấn mà ở cả vùng đất Hưng Hóa có người Thái Đen, Thái Trắng đều là người dân bản địa Người Nùng, người Mán, người Lào, người Xiêm, người Nhuộm, người Xa Lý (tục gọi là người Lào Lự) người Sắt Xá Bông, người Mèo, người Thổ…[9, tr.186] Đã có nhiều tộc người sinh sống trên vùng đất Văn Chấn sống, theo thời gian nhiều tộc người từ nơi khác đã di cư đến cùng sinh sống tạo nên một vùng dân cư đa dân tộc sống đan xen

Dân tộc Kinh, sống xen cư với các dân tộc khác trong huyện, chủ yếu tập trung

ở các trung tâm huyện lỵ hoặc trung tâm xã Về nguồn gốc, họ từ miền xuôi lên, có

bộ phận là những dân nghèo tha phương cầu thực lên miền núi làm ăn lâu đời trở thành dân bản địa như dòng họ Nguyễn, họ Phạm, họ Vũ lên khai hoang, có bộ phận

là quan quân triều đình lên cai trị do chính sách lưu quan Thời kì Pháp thuộc, người Kinh di cư lên Văn Chấn để làm công nhân, tá điền trong các hầm mỏ, đồn điền, xây dựng, một số lên làm ăn buôn bán, khai thác lâm thổ sản Sau năm 1954, bên cạnh việc phân chia lại ruộng đất cho nông dân ly tán do tác động chiến tranh, Đảng và Nhà nước có chủ trương tổ chức hệ thống các nông trường Lực lượng tham gia nông trường gồm nhiều thành phần dân cư, trong đó có một số lượng lớn quân nhân tạm thời chưa giải ngũ được điều động làm công tác kinh tế Họ chủ yếu là người Kinh ở miền xuôi Theo Quyết định số 87-NV năm 1967 về việc phê chuẩn thành lập 3 thị trấn nông

Trang 28

trường thuộc tỉnh Nghĩa Lộ do Bộ Nội vụ ban hành đó là thị trấn nông trường chè Nghĩa Lộ, Trần Phú thành lập năm 1968 và nông trường chè Liên Sơn thành lập năm

1970 Sau khi được thành lập, các nông trường đã thu hút hàng nghìn công nhân ở miền xuôi lên công tác và sống tại đây, làm cho cơ cấu dân cư ở huyện Văn Chấn có sự biến động khá nhanh Hiện nay, cả 3 nông trường trên đều vẫn đang tồn tại ở huyện Văn Chấn Do vậy, người Kinh chiếm đa số trong kết cấu dân cư của huyện, chiếm 31,9% Họ có nhiều đóng góp to lớn vào công cuộc xây dựng và phát triển mọi mặt của huyện Văn Chấn

Dân tộc Thái, là tộc người cư trú trên địa bàn từ lâu đời, chủ yếu là người Thái

Đen “Ngày xưa người Thái Đen ở đất Hán, đưa nhau xuống ăn Mường Lò Mường bản đầy toàn người, Mường Lò trở nên chật nơi ăn, hẹp nơi ở” [32, tr 66] Mường Lò - Văn Chấn là trung tâm đầu tiên của người Thái ở Việt Nam rồi từ đây toả đi các địa bàn khác Mường Lò, từ thời nhà Trần là một lòng chảo mênh mông hoang vắng Người Thái Đen tập trung ở đây cùng khai phá và lập lên làng bản mới Theo Táy Pú Sắc miêu tả:

“Tiếng đồn có người Mường Lò Một vùng rộng lớn đất phì nhiêu

Có đồng Hốc, đồng Uôn đất phì nhiêu”

“Có đồng Dạ Cói Nàng Ngồi không cũng được của

Có ao Hôm, ao Hang hàng cau trĩu buồng Người Mường Lò làm ra thu thóc lúa” [37, tr.86]

Dân tộc Tày, cũng là một trong những tộc người bản địa, một bộ phận di cư từ

Tuyên Quang, Hà Giang sang, bộ phận di cư từ vùng Lạng Sơn, Cao Bằng lên làm ăn

và định cư lâu dài, họ sống xen kẽ với người Kinh, Thái là chủ yếu Hiện nay, người Tày ở huyện Văn Chấn có số dân đứng thứ ba sau người Kinh và người Thái

Dân tộc Dao, về nguồn gốc, họ cư trú trên đất Trung Hoa xưa, được lưu truyền

trong câu chuyện truyền khẩu Bàn Hồ, còn được ghi chép chi tiết trong các cuốn bảng văn và trong cuốn sách cúng của người Dao Quá trình di cư vào Việt Nam diễn ra lâu dài từ đầu thế kỉ XIII cho đến những năm 40 của thế kỉ XX Người Dao chủ yếu

cư trú ở khu vực miền núi tây bắc, đến Việt Nam vào khoảng thế kỉ XIII và đi theo

Trang 29

đường bộ Có nhiều nguyên nhân, thời gian và luồng di cư khác nhau Nguyên nhân chủ yếu là do sự chèn ép, áp bức của chế độ phong kiến Trung Quốc, các cuộc chiến tranh giữa các thế lực phong kiến liên miên hoặc do hạn hán, thiên tai, mất mùa, đói kém nên phải di cư đi nơi khác Khi định cư ở Việt Nam, họ có nhiều tên gọi khác nhau như Dao Nhân, Kiềm, Miền, Dụ Lẩy Miền, Ồ Gang miền, Dụ Kùn Miền, Cần Đông, Cần Khau, Cần Téo Chèn Người Dao ở Văn Chấn gồm Dao Trắng, Dao Đỏ chủ yếu dựa vào trang phục để gọi tên Hiện nay, người Dao ở Văn Chấn chiếm khoảng 10% dân số của huyện, họ sống đoàn kết với các dân tộc khác ở địa phương Địa bàn cư trú chủ yếu ở vùng núi thấp, rải rác ở 22 xã trong huyện Kinh tế chủ yếu

là nông nghiệp nương rẫy, trồng cây ăn quả và chăn nuôi, đời sống kinh tế còn thấp

Dân tộc Mông, về nguồn gốc, họ cư trú ở đất Trung Quốc di cư sang Việt Nam

từ nhiều thế kỉ trước, người Mông có nhiều tên gọi khác nhau như Mèo, Mán, Miêu,

Mông Sách Kiến Văn tiểu lục có nhắc đến dân tộc Mông với tên gọi “Sơn Miêu”,

“họ đều ở nơi đại sơn lâm, cầy cấy trì đốt nương đào hốc bỏ thóc, chỗ ở nay đây mai

đó không nhất định” [11, tr.336] Sách Đại Nam nhất thống chí ghi: “Châu Văn Chấn, người Mèo Trắng, mặc toàn màu trắng, búi tóc, răng để trắng như người nước Thanh, quen rét không quen nóng” [18, tr.349] Người Mông di cư đến tỉnh Yên Bái

nói chung, huyện Văn Chấn nói riêng theo nhiều đợt, họ sống định cư lâu dài nên coi đây là quê hương của mình, vừa làm ăn sinh sống vừa xây dựng cho mình những bản sắc văn hóa riêng Địa bàn sinh sống của người Mông chủ yếu ở các vùng núi cao, thường khó khăn về giao thông, khí hậu khắc nghiệt Kinh tế chủ yếu là trồng lúa nương, ngô, khoai, sắn, giỏi săn bắt Hiện nay, người Mông có dân số khoảng 12.163 người chiếm 7,7 % dân số toàn huyện, sống rải rác trên địa bàn 22 xã, đời sống còn nhiều khó khăn Theo điều tra dân số năm 1999, trên địa bàn Văn Chấn có 23 dân tộc anh em (Kinh, Thái, Tày, Mường, Dao, Mông, Nùng, Hoa, Khơ Me, Ra Rai, Ngái, Ê

Đê, Ba Na, Xê Đăng, Sán Chay, Sán Dìu, Thổ, Giáy, Cơ Tu, Khơ Mú, Phù Lá, Bố Y,

Si La) Căn cứ vào ngữ hệ có thể xếp những dân tộc này vào 5 nhóm ngữ hệ là: Thái - Tày, Mông - Dao, Việt - Mường, Nam Á (Khơ Mú), Hán Các dân tộc sống xen kẽ, nhưng có thể chia thành 3 vùng cư trú: vùng ngoài đa số là dân tộc Tày; vùng đồng bằng đa số là dân tộc Thái, Kinh; vùng cao đa số là dân tộc Mông, Dao

Trang 30

Theo kết quả báo cáo thống kê, rà soát thành phần dân tộc trên địa bàn huyện năm 2016, Văn Chấn có 18 thành phần dân tộc đang sinh sống trên địa bàn 28 xã và 3 thị trấn (Kinh, Thái, Tày, Dao, Mông, Mường, Giáy , Khơ Mú, Hoa, Nùng, Gia Rai, Phù Lá, Ba Na, Cao Lan, Sán Dìu, Khơ Me, Ê Đê, Lào), trong đó, có 5 thành phần tộc người đông nhất là Kinh, Thái, Tày, Dao, Mông

Nghiên cứu của các nhà dân tộc học cho thấy, người Thái và người Tày là những tộc người đã cư trú trên địa bàn Văn Chấn từ lâu đời Theo truyền thuyết, Văn Chấn còn là trung tâm người Thái đầu tiên ở Việt Nam rồi từ đây tỏa đi các địa bàn khác Đáng chú ý, mặc dù thời điểm quần tụ khác nhau, đặc điểm tộc người khác nhau, song các tộc người trên vùng đất Văn Chấn đã sớm gắn bó với nhau thành một cộng đồng đoàn kết, cùng đấu tranh chống thiên tai và kẻ thù, bảo vệ quê hương, đất nước trong suốt chặng đường lịch sử lâu dài Một đặc điểm trong kết cấu dân cư ở Văn Chấn những năm gần đây là sự hội tụ ngày càng đông của những nhóm dân cư mới, đến từ các tỉnh đồng bằng và nhiều địa phương khác, tạo nên sự gia tăng dân số

cơ học nhanh chóng Nhưng sự gia tăng này không trực tiếp dẫn đến nguy cơ làm mất cân bằng sinh thái và các yếu tố bất lợi khác về môi trường sống và không gian sinh tồn mà còn là biểu hiện tốt đẹp của một vùng “đất lành chim đậu”

Bảng 1.1 Thành phần các dân tộc huyện Văn Chấn

Trang 31

Tóm lại, trên địa bàn huyện Văn Chấn từ xưa đã tồn tại nhiều thành phần dân tộc, bao gồm cả dân bản địa và dân di cư từ nơi khác đến Đến nay, họ đều trở thành một bộ phận trong kết cấu dân cư của huyện, sống đoàn kết, hòa đồng tạo nên những sắc thái văn hóa đa dạng, đặc sắc

1.4 Tình hình chính trị - xã hội

Về chính trị, sau khi lấy được toàn bộ Bắc Hà, Nguyễn Ánh xưng vương,

kiểm lại các đơn vị hành chính cũ, đặt quan chức cai quản Thời Gia Long, cơ bản giữ nguyên cách tổ chức cũ như thời nhà Lê Ở Đàng Ngoài vẫn là trấn, phủ, huyện,

xã, sau đó đặt cấp tổng thành một cấp hành chính trung gian giữa huyện và xã Nhà Nguyễn tiếp tục duy trì chế độ phiên thần cho các thổ tù biên giới đối với nhà nước, còn gọi là thổ quan Năm 1802, các phủ, huyện, châu, thổ dân ở Hưng Hóa, Quảng

Yên, Thái Nguyên, Tuyên Quang, Lạng Sơn lấy quan người quản lãnh sách Hưng

Hóa ký lược có ghi: từ đời Lê trở về trước đều cho thế tập, những chức tước ban cho

họ thì hoặc là Tri châu, Cai châu, Phó châu, Đồng chi châu hoặc Tuyên úy sứ, Chiêu thảo sứ, Phòng ngự sứ Thổ dân đều gọi các quan chức ấy là Phụ đạo Triều Nguyễn phần nhiều theo lệ nhà Lê Sách Thạch Lương, Hạ Lộ ở Văn Chấn họ Lê cũng cho thế tập, các sách Đại Lịch, Hương Sơn thì tùy nghi mà lập tù trưởng, chứ không cho thế tập Từ năm Minh Mệnh 14 (1833), viên thổ tri huyện là Đinh Công Tiến; năm thứ 15, viên thổ tri châu Bảo Lạc thuộc Tuyên Quang là Nùng Văn Vân làm loạn Sau đó, 19 châu, huyện lần lượt cải đặt lưu quan chứ không dùng thổ dân nữa, trong đó

có huyện Văn Chấn năm Minh Mệnh thứ 17 (1836) đặt lưu quan [9, tr.142- 143]

Năm 1820, Minh Mệnh lên ngôi vua, một mặt ông tiếp tục duy trì chính sách

cũ, mặt khác tăng cường sự kiểm soát của chính quyền trung ương đến địa phương đặc biệt là những vùng biên giới, miền núi Minh Mệnh từng bước xóa bỏ chế độ phiên thần, thổ quan thay vào đó là chế độ lưu quan Năm 1821, Minh Mệnh nghị chuẩn cho tạm đặt các chức cai châu biên giới Những chức này triều đình cho phép các quan đứng đầu trấn chọn người có năng lực ở địa phương đảm nhiệm Năm 1827, Minh Mệnh xóa bỏ một số các chức quan như Tuyên úy đại sứ, Tuyên úy sứ, châu thảo sứ, phòng ngự đồng tri, phòng ngự thiêm sự trao cho các thổ tù cai trị ở miền núi được đặt ra từ thời Gia Long thay bằng các chức tri phủ, tri huyện, huyện thừa như ở

Trang 32

các khu vực đồng bằng Nhưng các viên quan này đều do người địa phương phụ trách

có thêm chữ “Thổ” ở đằng trước (Thổ tri phủ, Thổ tri huyện…) Năm 1829, Minh Mệnh ban hành chính sách khá cứng rắn đối với thổ tù: Trong thành hạt theo công việc nhiều hay ít, dân số đông hay thưa nên đặt thổ tri châu, thổ tri huyện, huyện thừa, lại mục … thì định rõ ràng Không cứ thổ ty, hào mục cứ trong hạt ai là người

có trách nhiệm, tài năng cần cán, vốn được nhân dân tin phục thì chọn cử tâu lên, không được theo trước xưng là tập quản Việc phân định chức vụ theo số dân hết sức

rõ ràng: đinh từ 5000 người, ruộng từ 500 mẫu trở lên thì đặt một Thổ tri châu, huyện đặt một Thổ tri huyện cùng thổ lại mục đều một người; đinh từ 100 người, ruộng từ

100 mẫu trở lên thì đặt một thổi tri châu, huyện đặt một thổ huyện thừa; đinh điền không đủ 100 thì đặt một thổ lại mục [19, tr.862]

Năm 1831, Minh Mệnh giải thích rõ ràng việc bãi bỏ chế độ thổ ty thế tập ở các trấn biên giới: Lệ thế tập đời xưa là để đền công những con cháu công thần, nếu có người hư hỏng triều đình cũng phải truất bãi thì lại thương tổn đến ân điển [44, tr.224] Đây là cuộc cải cách hành chính lớn ở địa phương trên phạm vi cả nước Có thể coi, “là một phen quy hoạch lớn lao khiến cho nước nhà có phên dậu giữ gìn, yêu nước thái sơn bàn thạch” [5, tr.194]

Cấp chính quyền tổng, xã được tổ chức chặt chẽ nhằm đảm bảo quyền lực nhà nước và giải quyết khó khăn một cách kịp thời Đối với các châu miền núi, chi châu thường do các tù trưởng thổ tù, lang đạo quản lãnh Đối với các vùng thượng du, tình hình chính trị thường không ổn định Minh Mệnh chủ trương nhất thể hóa về mặt hành chính cùng với miền xuôi, cắt cử quan lại người Kinh lên, có nhiệm vụ đề xuất việc thu thuế và đàn áp các cuộc phản loạn Một số tù trưởng trung thành ở các địa phương xa xôi, hiểm yếu được triều đình ưu ái ban cho quyền hạn đặc biệt, phong làm ngự sử, bên cạnh lại đặt một viên quan người Kinh gọi là chiêu thảo sứ hoặc man phủ sứ, các chức này gọi là lưu quan Minh Mệnh cho rằng đây là một chính sách tích cực “quyền hành nặng nhẹ kiềm chế lẫn nhau, chức tước lớn nhỏ ràng buộc lấy nhau thực chất là một chính sách hay trong việc trị dân” [39, tr.158]

Trang 33

Vua lại ra chỉ dụ: Các thổ châu, huyện ở Hưng Hóa, Tuyên Quang, Thái Nguyên, Lạng Sơn, Cao Bằng cho chọn bổ lưu quan, vì trước đây có vụ nổi loạn của Nông Văn Vân châu, huyện các tỉnh còn nhiều chỗ khuyết nên không thể không đặt những viên chức sung vào, chứ không phải muốn đổi thổ quan và cho theo về lưu quan, nhất nhất theo y phục tục kinh đâu Chẳng những bọn thổ quan, những người quy thuận, hết lòng trung, yên phận mình, giữ phép nước đều chuẩn cho vẫn giữ chức, mà cả đến thổ ti, thổ mục hễ ai một dạ trung thành kính cẩn, không có điều gì khác cũng sẽ được tùy tài cất dùng, không sao cả Nay người kinh người thổ cùng ở xen nhau, chính mong rằng lâu ngày, người Thổ sẽ tiêm nhiễm thói tục người Kinh [13, tr.633, 634] Như vậy, chính sách lưu quan là chính sách tích cực nhằm củng cố quyền lực của nhà nước phong kiến Nguyễn, đồng thời, góp phần ổn định tình hình chính trị khu vực biên giới, miền núi Tuy nhiên, chính sách này đã ảnh hưởng tới quyền lợi của các tù trưởng, thổ tù địa phương nên bị phản kháng Vậy nên chính sách này phải thực hiện từng giai đoạn, lâu dài

Tổ chức quản lý hành chính huyện Văn Chấn được chia làm hai giai đoạn: Giai đoạn trước nhà Nguyễn chủ yếu giao cho các tù trưởng địa phương quản lý dân

cư cùng lãnh thổ địa phương và hằng năm phải nộp một số cống phẩm và sản vật của địa phương; giai đoạn nhà Nguyễn, lãnh thổ được thống nhất, vấn đề quản lý các khu vực miền núi, vùng biên giới được quan tâm hơn trước Cùng với việc cải cách đơn vị hành chính nhà Nguyễn đặt chức lưu quan nhằm quản lý các khu vực miền núi, biên giới chặt chẽ hơn Đồng thời, nhà Nguyễn tiến hành lập sổ địa bạ, lập sổ đinh trên phạm vi toàn quốc, nhờ đó nhà nước quản lý chặt chẽ được diện tích ruộng đất và số nhân khẩu, giúp nhà Nguyễn đưa ra chính sách thuế phù hợp với tình hình thực tế của địa phương

Tình hình chính trị ở khu vực miền núi, biên giới nói chung, huyện Văn Chấn

nói riêng trước, nay vẫn phức tạp Sách Hưng Hóa ký lược ghi chép “Ở vùng này có

bọn côn đồ người Thanh rất hung hãn Trước chúng vốn là bọn phu mỏ, nơi nào hết quặng, chúng tụ tập nhau lại kéo đi các châu, ăn mặc giả làm thương nhân, rồi vu vạ cho người ta Bọn nọ đi bọn kia đến, tới hàng trăm tên, bắt người tống tiền Dân ở đó

sợ chúng tàn bạo, nên phải mang đút nót Chúng tha hồ ngang ngược không sợ gì,

Trang 34

quanh năm lấy việc đó làm kế sinh nhai Dân 16 châu hàng năm bị chúng quấy nhiễu luôn luôn” [2, tr.184] Do vậy, các triều đại phong kiến đều rất quan tâm đến vấn đề biên viễn đặc biệt là những khu vực miền núi xa xôi hẻo lánh

Về xã hội, Bản (làng) là đơn vị cư trú lâu đời của đồng bào các tộc người thiểu

số, bản nhỏ có từ 15 - 20 nóc nhà, bản lớn có từ 60 - 80 nóc nhà, gần những bản đó có các nà nhỏ, mỗi nà có khoảng 3 - 5 nóc nhà chủ yếu từ những gia đình lớn tách ra để sống gần mảnh ruộng, bãi nương của mình Bản có địa vực cư trú riêng, có phạm vi đất đai canh tác, đất rừng, khúc sông, khe suối, mó nước riêng thuộc quyền quản lý

và sử dụng của bản Tên gọi bản, mường thường gắn với sự hình thành đồng ruộng, căn cứ vào những yếu tố như lấy tên người có công khai phá: “Tông Ló (ruộng Tạo

Lò) Văn Chấn Nghĩa Lộ; Nã Tõng Đón (ruộng Tạo Đón)” [15, tr.255] Theo Quắm tố

mướng thì chúa đưa dân đi chiếm đất “có ruộng thì mới tập trung được dân cư cũng

như có nước mới giữ được cá” Có ruộng đất thì mới có bản mường “Ruộng ra đời hình thành bản, mường Từ khi Mường Lò -Văn Chấn ra đời từ Tạo Lò thì bản mường cũng dần dần tổ chức thành hệ thống” [34, tr.260] Mối quan hệ gia tộc của đồng bào các tộc người thiểu số có phần bền chặt hơn quan hệ của người Kinh Khi làng có công việc như cưới xin, ma chay, lễ tế … người ta thường bổ theo từng nhà

để quy định mức đóng góp tuỳ theo mức độ nhiều ít của ruộng đất, làng bản lớn nhỏ

Tổ chức dòng họ có vai trò trong lịch sử xây dựng làng (bản) mới để mở rộng diện tích đất canh tác Dòng họ vừa hỗ trợ về vật chất vừa là chỗ dựa tinh thần, đôi khi còn

là một tổ chức chính trị Làng bản của người Tày, Nùng thường dựa vào sườn núi hoặc trên những đồi thấp cạnh sông suối hay các thung lũng, có khi ở giữa cánh đồng, nơi gần nguồn nước, gần ruộng, gần các rừng cây cao ráo, trong khi đó bản mường của người Tái lại chủ yếu ở các thung lũng bằng phẳng Trong làng bản của người Thái, Tày, Nùng ở Văn Chấn cũng như những nơi khác đều được cấu thành từ những gia đình phụ quyền thuộc các dòng họ khác nhau Thông thường bản ít thì từ 2 - 3 họ, bản lớn trên dưới 10 họ Trong đó các làng bản dù lớn hay nhỏ, ở bản nào cũng có từ một đến 2 dòng họ lớn chiếm ưu thế Những dòng họ này thường có mặt sớm nhất, có công khai phá đất đai lập làng bản và chiếm những ruộng đất tốt nhất, do đó giàu

Trang 35

mạnh và có uy tín với họ khác Ví dụ dòng họ Hà, họ Lò, họ Cầm ở Văn Chấn chiếm hữu diện tích đất đai lớn và giữ những chức vụ quan trọng trong làng xã

Phong cấp bậc hàng châu được xếp đặt theo lệ như sau: Án nha là gốc của bản mường; phìa thổ (thư lại), phìa thông (thông lại) làm việc ở trong phòng hàng châu; mường phìa có phìa lý là gốc, vua Kinh gọi là lý trưởng; phìa phó, vua Kinh gọi là phó lý, hai phìa này chuyên trông coi dân mường; có tám chức ông ở hàng xổng, vua Kinh gọi là kì mục; có ông mo, ông nghè, ông chang giúp việc phong tục tập quán luật lệ và cúng lễ” [32, tr.72] Trong đó, án nha ăn mười mẫu ruộng, thu “thóc lười” của dân, mỗi một mẫu ruộng dân phải nộp một tạ thóc Thư lại ăn từ 5 - 6 mẫu ruộng, phìa lý ăn 5 mẫu ruộng, phìa phó ăn ba mẫu ruộng, các chức dịch nhỏ hơn ăn từ 2 - 4 mẫu ruộng Khi nào phìa thu thuế, chiêu phu hay cần bất cứ việc gì đều xuống đến đầu xổng, xổng lại sức đến các quan bản để thực thi mệnh lệnh Đất ruộng trong bản còn bao nhiêu thì đem phân chia hết cho dân mường gánh vác theo lệ truyền lại Ai lĩnh ít ruộng thì đi việc mường ít, ai nhận nhiều ruộng thì đi làm việc mường nhiều, ai không nhận đất ruộng thì không đi việc mường [32, tr.74,76] Dân bản, mường ngoài làm ruộng cho các quan còn phải làm rất nhiều nghĩa vụ cho các quan bản, mường như “Dân hàng châu phải làm nhà cho án nha, thư lại, thông lại và thầy giáo Dân hàng mường phải làm nhà cho án nha, phìa lý, phìa phó Dân hàng bản thì làm nhà cho các quan hàng xổng; làm cho các ông quan ở phòng nghi lễ Nhà ở trong chiềng của các ông quan chức quyền đó thì do dân hàng xổng của họ đến dựng cho Nhà quan bản nào thì do dân bản đó dựng cho” [32, tr.120], đi phu, đi lính, nộp các sản vật thu hoạch được “Người đã là dân thì phải phụng sự quan bản, quan bản phải bận tâm chia ruộng hàng mường để cho dân trong bản làm và hưởng Ngoài những ruộng

đã bớt cho ông quan, tạo, phìa, đất bản còn bao nhiêu ruộng thì chia cho dân bấy nhiêu Một mặt người là dân thì phải xem đủ mặt, làm đủ việc, đủ đường cho ông quan, tạo, phìa, án nha Họ phải chịu làm thân tôi đòi, làm người chịu mọi sự sai khiến… dân muốn đi đâu phải xin phép người có chức có quyền cho đi mới được đi, dân muốn làm gì người có chức có quyền cho mới được làm” [32, tr.124]

Trang 36

Ở Văn Chấn - Mường Lò (Tông Lò) của người Thái do Tạo Lò đứng đầu khai

phá dựng bản lập mường vào thế kỉ XI (nhà Lý) Theo Quắm Tố Mướng khi Mường

Lò (Mường khởi thủy) ra đời thì phân chia:

“Họ Lướng dệt mo

Họ Lò dệt Tạo”,

dịch: “Họ Lường làm Thầy mo

Họ Lò làm Tạo” [34, tr.261]

Tạo Lò làm chủ (chúa) Mường Lò Luật Mường đã xác định: Tất cả các thứ kể

cả đất đai là của vua, của Tạo - đó là quyền sở hữu nhà nước An Nha (quan Châu) phân quyền ban cấp tất cả các sản vật thiên nhiên trong rừng, trên đất, dưới nước cho các mường phìa, lộng Tạo bản đều thuộc quyền các quan chức ban cấp chiếm giữ Ai săn bắn được thú to, cá lớn đều phải trích nộp cho An Nha một đùi, cho phìa một đôi thăn, nếu không coi là phá tục lệ bản mường, tùy tội mà xử phạt Do đó mỗi người dân phải tự răn mình:

“Phít nọi sia quai “Sai phạm nhỏ mất trâu

Phít lai bên khỏi Sai phạm lớn thành tôi tớ

É pảo hữ dók mi Muốn có sẹo thì đùa với gấu

É pi hữ dók tó Muốn béo thì đùa với ong”

É khó hữ dók Tạo quan” Muốn nghèo khó thì đùa với Tạo quan” [34, tr.262] Quy định bổng lộc đối với các quan chức là: làm chủ vùng đất cai trị/hưởng nương dành ruộng chia/ruộng cày nương cuốc/cuông nhốc pụa làm tôi tớ Suối cá/ong vách đá/mật nhung hổ, gấu, hươu, nai, voi, tê giác tới rừng tre măng quý - dân ai vi

phạm đều bị phạt tiền, dân được tham gia cử Tạo/ dựng quan (Theo lời ca cổ) Tên

gọi bản mường thường đặt theo tên sông suối, núi, đất (na, nà) cỏ cây, con gì Đã có bản mường là phải có Tạo:

“Khột ma phái mi nương “Khai ruộng phải có mường

Tánh mường phái mi Tạo” Dựng mường phải có Tạo” [34, tr.312]

Bộ máy chính quyền các chức dịch phân chia thành hai đẳng cấp rõ rệt Thứ nhất, dòng dõi quý tộc châu mường gồm họ gốc có tên Lò Cầm (đó là họ Lò to, Lò

Trang 37

luông) để phân biệt với họ Lò bé (Lò bình dân) Họ Lò Cầm chia ra các họ: Cầm, Bạc Cầm, Điêu (Đeo, Tao), Hoàng Người thuộc họ quý tộc được phép tham gia giữ chức đứng đầu Bản, Lọng, các phìa và An Nha châu mường Thứ hai, thuộc ngoài họ quý tộc như họ Lường, Lò, Cà… thì chỉ được phép giữ chức dịch thấp là người đứng đầu bản và các ông quan hàng “Xổng”

Nhà nước phong kiến từ thời Lý, Trần, Lê, Nguyễn gọi đơn vị Mường là “đại tri châu” Năm 1834, Minh Mệnh xóa bỏ chế độ đại tri châu và đặt ra các châu (huyện vùng dân tộc) Người Thái có ba quan hệ về họ hàng: Ải noọng gồm anh em, chị em chưa xây dựng gia đình sinh ra từ một nội tộc 4 đời; Nhinh sao là họ nhà trai hay thuộc khối Ải noọng và ở rể; Lung ta là họ nhà gái

Người Mông, có một đội ngũ chức dịch riêng như thống lí, thống quán, chống

chụa, sa thần tùy theo chức dịch đều sở hữu một diện tích ruộng đất riêng nhưng người dân phải đảm nhiệm canh tác và thu hoạch Họ có quyền sử dụng tỷ súng (tạp dịch, liên lạc), thú dung (lính dõng), cai Sự phân hóa của người Mông không đồng đều, tùy thuộc vào việc du canh du cư hay định canh định cư

Người Tày ở Văn Chấn chiếm số lượng khá nhiều, cũng như tộc người Thái xã

hội của họ có sự phân chia đẳng cấp như đẳng cấp quý tộc gồm các tù trưởng, lí trưởng, xã trưởng trong bộ máy hành chính nhà nước và các chức dịch khác do làng bản tự bầu lên để trông coi làng bản, buộc những người thổ dân phải đóng góp lao dịch hoặc phải cống nộp các sản vật khai thác được Đời sống xã hội bắt nguồn từ nền văn minh lúa nước nên tập quán hái lượm, chọc đất trồng hạt đến nay vẫn còn tồn tại mặc dù nông thôn đã được nông nghiệp hóa, trình độ dân trí của người Tày khá cao, song tập quán ấy vẫn lưu lại như một nét văn hóa cổ truyền ở nông thôn

Bên cạnh những tầng lớp thống trị do nhà nước quy định ở Văn Chấn còn có những chức dịch người dân tộc ở các làng bản bầu lên, họ chính là lực lượng có sở hữu ruộng đất tư khá lớn Người dân không chỉ phải nộp tô thuế từ ruộng đất, các sản vật thiên nhiên, lao dịch, binh dịch theo quy định của nhà nước mà còn phải thực hiện các luật lệ, phục dịch các thổ quan như chúa đất, phìa, tạo và các chức dịch trong bản mường quy định Đây chính là một trong những nguyên nhân làm cho đời sống của người dân luôn trong tình trạng nghèo đói và lệ thuộc chặt chẽ vào các quan bản, mường

Trang 38

Tiểu kết chương 1

Văn Chấn là địa phương có truyền thống lịch sử lâu đời, lưu giữ những dấu tích nền văn hóa Hòa Bình, Đông Sơn trong quá trình hình thành quốc gia dân tộc Việt Nam, liên tục được ghi danh trong suốt quá trình lịch sử dân tộc với tư cách là một đơn vị hành chính đã tạo nên những giá trị to lớn về mặt lịch sử cũng như tính nhân

văn, khẳng định bề dày truyền thống của địa phương Vị trí địa lí, điều kiện tự nhiên tương đối thuận lợi, nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, tài nguyên thiên nhiên

đa dạng nên Văn Chấn là nơi sinh sống của nhiều tộc người Mặc dù có nguồn gốc, phong tục tập quán khác nhau nhưng khi đã hội tụ trên mảnh đất Văn Chấn họ đã xây dựng lên một cộng đồng dân cư đoàn kết, yêu thương, giúp đỡ lẫn nhau cùng vượt qua mọi khó khăn thử thách, xây dựng cuộc sống tốt đẹp và văn minh hơn Đời sống chính trị, xã hội khá phức tạp bởi sự tồn tại đan xen giữa khuôn mẫu chung của nhà nước quân chủ với tính chất tự trị cao của các tộc người miền núi, điển hình là tộc người Thái Đen với chế độ phìa, tạo

Trang 39

Chương 2 KINH TẾ CỦA HUYỆN VĂN CHẤN NỬA ĐẦU THẾ KỈ XIX

2.1 Tình hình ruộng đất ở huyện Văn Chấn nửa đầu thế kỉ XIX

Thời kì quân chủ ở Việt Nam, chính sách quản lý ruộng đất có vai trò quan trọng đặc biệt, nhằm xác nhận quyền sở hữu tuyệt đối của nhà nước về ruộng đất, đồng thời là nguồn thu tài chính cơ bản từ tô thuế và chi phối các mặt đời sống của

nhân dân “Có nhiều loại văn bản quản lý đất đai nhưng địa bạ ở các xã thôn là loại

văn bản có tính pháp lý cao nhất vì được lập theo sự chỉ đạo của nhà nước việc khám đạc cũng được thực hiện dưới sự tổ chức và giám sát trực tiếp của nhà nước” [26,

tr.6) Nhà Nguyễn rất quan tâm đến chính sách quản lý ruộng đất Trong đó có việc lập địa bạ các địa phương trong cả nước Đa số địa bạ được lưu trữ tại Trung tâm lưu trữ Quốc gia I, Hà Nội và Viện nghiên cứu Hán - Nôm trong đó địa bạ dưới thời nhà Nguyễn chiếm 98,3% Do vậy, việc tìm tòi nghiên cứu và sưu tập về địa bạ càng có ý

nghĩa quan trọng bởi: “Địa bạ là một nguồn tư liệu cực kì phong phú để nghiên cứu

chế độ sở hữu ruộng đất, hình thái nông nghiệp, kết cấu kinh tế, xã hội và nhiều mặt của đời sống văn hóa.” [26, tr.15], cho phép các nhà nghiên cứu lịch sử có thể khai

thác sử dụng nghiên cứu trên một số lĩnh vực

Sau khi hoàn thành công cuộc thống nhất đất nước, Nguyễn Ánh lên ngôi vua, nhà Nguyễn thành lập (năm 1802) Đồng thời với công cuộc củng cố và xây dựng chính quyền quân chủ chuyên chế từ trung ương đến địa phương, năm 1803 Gia Long

bắt đầu cho lập địa bạ Theo Nội Các triều Nguyễn, Khâm định Đại Nam hội điển sự lệ

- tục biên: Năm 1804, Gia Long xuống chiếu “chiếu theo ruộng chiêm, ruộng mùa và ruộng chiêm mùa hai vụ ở trong xã mà kê khai mẫu, sào, thước, tấc, phân ở xứ sở nào

và bốn bên đông tây cước trú rõ ràng, làm sổ để nộp” [15, tr.119] Đến thời Minh

Mệnh, việc lập địa bạ đã được cơ bản hoàn thiện xong trên phạm vi toàn quốc, các vua nhà Nguyễn tiếp theo đến thời Bảo Đại chỉ bổ sung thêm địa bạ ở một số địa phương Việc lập địa bạ được thực hiện theo mẫu chung của nhà nước nhưng thời Gia Long và Minh Mệnh xu hướng địa bạ chi tiết và nội dung phong phú hơn Địa bạ huyện Văn Chấn cụ thể như sau:

Trang 40

Thứ nhất, đơn vị hành chính: xứ Hưng Hóa, phủ Quy Hóa, huyện Văn Chấn, tổng, Thứ ba, tổng diện tích của cả xã trong đó có tổng diện tích ruộng đất thực trưng

và lưu hoang Thứ tư, miêu tả từng thửa ruộng đất tư với các thông tin về diện tích, vị trí, họ tên người sở hữu thuộc loại phân canh hay phụ canh Thứ năm, họ tên các sắc mục, hương mục, xã trưởng, thôn trưởng cũng như xã dân có kê khai địa bạ một cách chi tiết cụ thể Trên cơ sở khai thác địa bạ đã góp phần quan trọng trong quá trình nghiên cứu về chế độ ruộng đất từ đó có thể nắm bắt tình hình kinh tế của huyện Văn Chấn ở thời điểm lịch sử này

2.1.1 Sở hữu ruộng đất huyện Văn Chấn theo địa bạ Gia Long 4 (1805)

Ở nửa đầu thế kỉ XIX, tình hình ruộng đất - tư liệu sản xuất chính của nông nghiệp và là nền tảng kinh tế chủ yếu của xã hội, gặp nhiều khó khăn lớn Nạn kiêm tinh ruộng đất của bọn cường hào, địa chủ ngày càng mạnh, sổ sách bị mất mát, thất lạc nhiều Từ năm 1803 - 1820, Gia Long cho tiến hành một đợt đo đạc ruộng đất lớn, lập địa bạ các xã Năm 1820, bộ Hộ chính thức báo cáo tổng diện tích ruộng đất của nhà nước là 3.076.300 mẫu 26.750 khoảnh Thời Minh Mệnh, sau nhiều lần lập thêm địa bạ các xã chưa làm và đặc biệt sau đợt đo đạc ruộng đất Nam Kì năm 1836 thì đến năm 1840, bộ Hộ đã thống kê được: Tổng diện tích ruộng đất thực canh là 4.063.892 mẫu, trong đó tổng diện tích ruộng là 3.396.584 mẫu công tư, trong số ruộng này có 2.816.221mẫu ruộng tư và 580.363 mẫu ruộng công [27, tr 446] Ruộng đất công làng xã ngày càng bị thu hẹp, ở Bắc kì nhiều xã không có hoặc rất ít ruộng đất công Hàng loạt nông dân không có ruộng đất phải đi phiêu tán, số ít trông chờ vào ruộng đất công ít ỏi Tình hình trên, các vua Gia Long và Minh Mệnh đã cho tiến hành chế

độ quân điền, theo đó tất cả mọi người đều được chia ruộng công ở xã Trên thực tế chính sách quân điền hiệu quả không cao do ruộng đất công còn quá ít, chỉ góp phần làm chậm lại quá trình kiêm tinh ruộng đất mà thôi Nhà Nguyễn đã thực sự bất lực trước sự phát triển mạnh mẽ của quá trình tư hữu ruộng đất

Để khôi phục lại bức tranh toàn cảnh về tình hình kinh tế - văn hóa huyện Văn Chấn tỉnh Yên Bái nửa đầu thế kỉ XIX, tác giả chủ yếu dựa vào nguồn tư liệu địa bạ có niên đại Gia Long 4 (1805) và niên đại Minh Mệnh 21 (1840), tổng cộng có 16 đơn vị địa bạ Các địa bạ này đều là bản gốc hiện đang lưu tại Trung tâm Lưu trữ Quốc gia I, Hà

Ngày đăng: 26/06/2017, 11:26

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Đào Duy Anh, Đất nước Việt Nam qua các đời, Nxb Văn hóa thông tin, Hà Nội, năm 2005 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đất nước Việt Nam qua các đời
Nhà XB: Nxb Văn hóa thông tin
2. Ban chấp hành Đảng bộ huyện Văn Chấn, Lịch sử Đảng bộ huyện Văn Chấn, tập 2, năm 2007 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử Đảng bộ huyện Văn Chấn
3. Nguyễn Trọng Báu, Phong tục tập quán và lễ hội của người Việt, Nxb Văn hóa thông tin Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phong tục tập quán và lễ hội của người Việt
Nhà XB: Nxb Văn hóa thông tin
4. Trần Văn Bính (chủ biên) (2004), Văn hóa các dân tộc Tây Bắc thực trạng và những vấn đề đặt ra, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hóa các dân tộc Tây Bắc thực trạng và những vấn đề đặt ra
Tác giả: Trần Văn Bính (chủ biên)
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2004
5. Nguyễn Đức Châu, Nguyễn Tuấn Chung (1994), Ông cha ta bảo vệ biên giới, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ông cha ta bảo vệ biên giới
Tác giả: Nguyễn Đức Châu, Nguyễn Tuấn Chung
Nhà XB: Nxb Công an nhân dân
Năm: 1994
6. Phan Huy Chú, Lịch triều hiến chương loại chí, Nxb Thời Đại, Hà Nội, 1992 7. Cổng thông tin điện tử tỉnh Yên Bái, Một số bài báo về ẩm thực, trang phục, lễhội của người Thái Mường Lò Văn Chấn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch triều hiến chương loại chí
Nhà XB: Nxb Thời Đại
8. PGS.TS.KTS Phạm Hùng Cường, Giữ gìn và kế thừa nhà sàn dân tộc Thái.Báo điện tử của Bộ xây dựng, 2015 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giữ gìn và kế thừa nhà sàn dân tộc Thái.Báo điện tử của Bộ xây dựng
9. Phạm Thận Duật, Hưng hóa kí lược, Nxb Văn hóa Thông tin, Hà Nội, năm 2000 10. Bế Viết Đẳng, Nguyễn Khắc Tụng, Nông Trung, Nguyễn Nam Tiến (1971),Người Dao ở Việt Nam, Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hưng hóa kí lược", Nxb Văn hóa Thông tin, Hà Nội, năm 2000 10. Bế Viết Đẳng, Nguyễn Khắc Tụng, Nông Trung, Nguyễn Nam Tiến (1971), "Người Dao ở Việt Nam
Tác giả: Phạm Thận Duật, Hưng hóa kí lược, Nxb Văn hóa Thông tin, Hà Nội, năm 2000 10. Bế Viết Đẳng, Nguyễn Khắc Tụng, Nông Trung, Nguyễn Nam Tiến
Nhà XB: Nxb Văn hóa Thông tin
Năm: 1971
11. Lê Qúy Đôn (2007), Kiến văn tiểu lục, Nxb Văn hóa thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kiến văn tiểu lục
Tác giả: Lê Qúy Đôn
Nhà XB: Nxb Văn hóa thông tin
Năm: 2007
13. Ngô Sĩ Liên , Đại Việt sử kí toàn thư, Nxb Khoa học - xã hội, Hà Nội, năm 1993 14. Lã Văn Lô - Hà Văn Thư (1980), Bàn về cách mạng tư tưởng văn hóa ở vùng cácdân tộc thiểu số, Nxb Văn hóa, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đại Việt sử kí toàn thư, "Nxb Khoa học - xã hội, Hà Nội, năm 199314. Lã Văn Lô - Hà Văn Thư (1980), "Bàn về cách mạng tư tưởng văn hóa ở vùng các
Tác giả: Ngô Sĩ Liên , Đại Việt sử kí toàn thư, Nxb Khoa học - xã hội, Hà Nội, năm 1993 14. Lã Văn Lô - Hà Văn Thư
Nhà XB: Nxb Khoa học - xã hội
Năm: 1980
15. Nội các triều Nguyễn, Khâm định Đại Nam hội điển sự lệ - tục biên, tập 3, Nxb Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khâm định Đại Nam hội điển sự lệ - tục biên
Nhà XB: Nxb Giáo dục
16. Nội các triều Nguyễn, Khâm định Đại Nam hội điển sự lệ, tập 4, Nxb Thuận Hóa, Huế, năm 2009 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khâm định Đại Nam hội điển sự lệ
Nhà XB: Nxb Thuận Hóa
17. Vũ Huy Phúc (1979), Tìm hiểu chế độ ruộng đất Việt Nam nửa đầu thế kỷ XIX, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tìm hiểu chế độ ruộng đất Việt Nam nửa đầu thế kỷ XIX
Tác giả: Vũ Huy Phúc
Nhà XB: Nxb Khoa học xã hội
Năm: 1979
18. QSQTN (2006), Đại Nam nhất thống chí, tập IV, Nxb Thuận Hóa Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đại Nam nhất thống chí
Tác giả: QSQTN
Nhà XB: Nxb Thuận Hóa
Năm: 2006
19. QSQTN (2007), Đại Nam thực lục, tập II, Nxb Giáo dục 20. QSQTN (2007), Đại Nam thực lục, tập III, Nxb Giáo dục 21. QSQTN (2007), Đại Nam thực lục, tập IV, Nxb Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đại Nam thực lục," tập II, Nxb Giáo dục 20. QSQTN (2007), "Đại Nam thực lục," tập III, Nxb Giáo dục 21. QSQTN (2007), "Đại Nam thực lục
Tác giả: QSQTN (2007), Đại Nam thực lục, tập II, Nxb Giáo dục 20. QSQTN (2007), Đại Nam thực lục, tập III, Nxb Giáo dục 21. QSQTN
Nhà XB: Nxb Giáo dục 20. QSQTN (2007)
Năm: 2007
22. QSQTN (19б7), Đại Nam thực lục, tập XVIII, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đại Nam thực lục
Nhà XB: Nxb Khoa học xã hội
23. QSQTN (19б4), Đại Nam thực lục chính biên - đệ nhị kỉ, tập IX, Nxb Khoa học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đại Nam thực lục chính biên - đệ nhị kỉ
Nhà XB: Nxb Khoa học
24. Trương Hữu Quýnh (1982), Chế độ ruộng đất ở Việt Nam từ thế kỷ XI- XVIII, Tập 1, Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chế độ ruộng đất ở Việt Nam từ thế kỷ XI- XVIII
Tác giả: Trương Hữu Quýnh
Nhà XB: Nxb Khoa học Xã hội
Năm: 1982
25. Trương Hữu Quýnh (1983), Chế độ ruộng đất ở Việt Nam, Tập 2, Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chế độ ruộng đất ở Việt Nam
Tác giả: Trương Hữu Quýnh
Nhà XB: Nxb Khoa học Xã hội
Năm: 1983
26. Trương Hữu Quýnh, Đỗ Bang (chủ biên) (1997), Tình hình ruộng đất nông nghiệp và đời sống nông dân dưới triều Nguyễn, Nxb Thuận Hóa Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tình hình ruộng đất nông nghiệp và đời sống nông dân dưới triều Nguyễn
Tác giả: Trương Hữu Quýnh, Đỗ Bang (chủ biên)
Nhà XB: Nxb Thuận Hóa
Năm: 1997

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1.1. Thành phần các dân tộc huyện Văn Chấn  STT  Dân tộc  Số lượng (người)  Tỷ lệ%  Ghi chú - Kinh tế, văn hóa huyện văn chấn tỉnh yên bái nửa đầu thế kỉ XIX
Bảng 1.1. Thành phần các dân tộc huyện Văn Chấn STT Dân tộc Số lượng (người) Tỷ lệ% Ghi chú (Trang 30)
Bảng số liệu trên cho thấy diện tích sở hữu tư điền (tư nhân) chiếm 100% tổng  diện tích của cả huyện, trong đó diện tích thực trưng là 354.96.0.9.0 chiếm 61,76%; - Kinh tế, văn hóa huyện văn chấn tỉnh yên bái nửa đầu thế kỉ XIX
Bảng s ố liệu trên cho thấy diện tích sở hữu tư điền (tư nhân) chiếm 100% tổng diện tích của cả huyện, trong đó diện tích thực trưng là 354.96.0.9.0 chiếm 61,76%; (Trang 41)
Bảng 2.2. Bình quân thửa và bình quân số chủ thời Gia Long (1805) - Kinh tế, văn hóa huyện văn chấn tỉnh yên bái nửa đầu thế kỉ XIX
Bảng 2.2. Bình quân thửa và bình quân số chủ thời Gia Long (1805) (Trang 43)
Bảng 2.3: Quy mô sở hữu ruộng đất tƣ thời Gia Long (1805) - Kinh tế, văn hóa huyện văn chấn tỉnh yên bái nửa đầu thế kỉ XIX
Bảng 2.3 Quy mô sở hữu ruộng đất tƣ thời Gia Long (1805) (Trang 44)
Bảng 2.4: Sự phân bố ruộng đất các nhóm họ thời Gia Long (1805) - Kinh tế, văn hóa huyện văn chấn tỉnh yên bái nửa đầu thế kỉ XIX
Bảng 2.4 Sự phân bố ruộng đất các nhóm họ thời Gia Long (1805) (Trang 45)
Bảng 2.5: Chức dịch thời Gia Long 4 (1805) - Kinh tế, văn hóa huyện văn chấn tỉnh yên bái nửa đầu thế kỉ XIX
Bảng 2.5 Chức dịch thời Gia Long 4 (1805) (Trang 46)
Bảng 2.6: Thống kê tình hình ruộng đất thời Minh Mệnh 21 (1840) - Kinh tế, văn hóa huyện văn chấn tỉnh yên bái nửa đầu thế kỉ XIX
Bảng 2.6 Thống kê tình hình ruộng đất thời Minh Mệnh 21 (1840) (Trang 48)
Bảng 2.7: Quy mô sở hữu ruộng đất thời Minh Mệnh 21 (1840) - Kinh tế, văn hóa huyện văn chấn tỉnh yên bái nửa đầu thế kỉ XIX
Bảng 2.7 Quy mô sở hữu ruộng đất thời Minh Mệnh 21 (1840) (Trang 49)
Bảng 2.8: Bình quân thửa và bình quân sở hữu một chủ thời Minh Mệnh - Kinh tế, văn hóa huyện văn chấn tỉnh yên bái nửa đầu thế kỉ XIX
Bảng 2.8 Bình quân thửa và bình quân sở hữu một chủ thời Minh Mệnh (Trang 50)
Bảng 2.9: Sở hữu ruộng đất nhóm họ theo địa bạ Minh Mệnh 21 (1840) - Kinh tế, văn hóa huyện văn chấn tỉnh yên bái nửa đầu thế kỉ XIX
Bảng 2.9 Sở hữu ruộng đất nhóm họ theo địa bạ Minh Mệnh 21 (1840) (Trang 51)
Bảng 2.11: Quy mô chức dịch thời Minh Mệnh 21 (1840) - Kinh tế, văn hóa huyện văn chấn tỉnh yên bái nửa đầu thế kỉ XIX
Bảng 2.11 Quy mô chức dịch thời Minh Mệnh 21 (1840) (Trang 53)
Bảng 2.12: So sánh ruộng đất thời Gia Long (1805) và Minh Mệnh (1840) - Kinh tế, văn hóa huyện văn chấn tỉnh yên bái nửa đầu thế kỉ XIX
Bảng 2.12 So sánh ruộng đất thời Gia Long (1805) và Minh Mệnh (1840) (Trang 54)
Bảng 2.13: Quy mô sở hữu thời Gia Long 4 (1805) và Minh Mệnh 21 (1840) - Kinh tế, văn hóa huyện văn chấn tỉnh yên bái nửa đầu thế kỉ XIX
Bảng 2.13 Quy mô sở hữu thời Gia Long 4 (1805) và Minh Mệnh 21 (1840) (Trang 56)
Bảng 2.14: So sánh chức dịch thời Gia Long 4 (1805) và Minh Mệnh 21 (1840) - Kinh tế, văn hóa huyện văn chấn tỉnh yên bái nửa đầu thế kỉ XIX
Bảng 2.14 So sánh chức dịch thời Gia Long 4 (1805) và Minh Mệnh 21 (1840) (Trang 57)
Bảng 2.15: So sánh nhóm họ thời Gia Long 4 (1805) và Minh Mệnh 21 (1840) - Kinh tế, văn hóa huyện văn chấn tỉnh yên bái nửa đầu thế kỉ XIX
Bảng 2.15 So sánh nhóm họ thời Gia Long 4 (1805) và Minh Mệnh 21 (1840) (Trang 58)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w