Dạy Tập làm văn không chỉ dạy cho học sinh nắm được kiến thức lí thuyết mà chủ yếu là hình thành và rèn luyện những năng lực như: Năng lực tiếp nhận văn bản; năng lực giao tiếp, năng lực
Trang 1ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM ––––––––––––––––––––––––
ĐỖ THỊ DUNG
XÂY DỰNG HỆ THỐNG BÀI TẬP NHẰM HÌNH THÀNH NĂNG LỰC TẠO LẬP VĂN BẢN THUYẾT MINH
CHO HỌC SINH LỚP 8
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
THÁI NGUYÊN - 2017
Trang 2ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM ––––––––––––––––––––––––
ĐỖ THỊ DUNG
XÂY DỰNG HỆ THỐNG BÀI TẬP NHẰM HÌNH THÀNH NĂNG LỰC TẠO LẬP VĂN BẢN THUYẾT MINH
CHO HỌC SINH LỚP 8
Chuyên ngành: Lí luận và PPDH bộ môn Văn - Tiếng Việt
Mã số: 60.14.01.11
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
Người hướng dẫn khoa học: TS NGUYỄN THỊ THU THỦY
THÁI NGUYÊN - 2017
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của cá nhân tôi dưới sự hướng dẫn khoa học của TS Nguyễn Thị Thu Thủy Các nội dung nghiên cứu, kết quả trong luận văn này là trung thực và chưa từng được công bố dưới bất kỳ hình thức nào
Tôi xin chịu hoàn toàn trách nhiệm về nghiên cứu của mình
Tác giả luận văn
Đỗ Thị Dung
XÁC NHẬN CỦA
KHOA CHUYÊN MÔN
XÁC NHẬN CỦA GIÁO VIÊN HƯỚNG DẪN
TS Nguyễn Thị Thu Thủy
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình học tập và thực hiện luận văn tốt nghiệp cuối khóa, em
đã nhận được sự quan tâm, giúp đỡ tận tình của các thầy cô giáo khoa Ngữ văn, khoa Sau Đại học, Ban giám hiệu trường Đại học Sư phạm Thái Nguyên Đặc biệt, với tất cả tấm lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc, em xin chân thành cảm
ơn TS Nguyễn Thị Thu Thủy - người đã hết lòng tận tình hướng dẫn, giúp đỡ
em trong quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn này
Em xin chân thành cảm ơn quý thầy cô và bạn bè đồng nghiệp đã giúp
đỡ nhiệt tình, tạo mọi điều kiện thuận lợi, hướng dẫn, giúp đỡ em trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu đề tài này
Em cũng xin gửi lời cảm ơn tới những người thân yêu đã luôn bên em, động viên, khích lệ em trong những ngày học tập ở trường
Em xin chân thành cảm ơn!
Thái Nguyên, ngày 10 tháng 4 năm 2017
Tác giả luận văn
Đỗ Thị Dung
Trang 5MỤC LỤC
Lời cam đoan i
Lời cảm ơn ii
Mục lục iii
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Lịch sử vấn đề 3
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 7
4 Mục đích nghiên cứu 7
5 Nhiệm vụ nghiên cứu 7
6 Phương pháp nghiên cứu 7
7 Cấu trúc của luận văn 8
NỘI DUNG 9
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 9
1.1 Cơ sở lý luận 9
1.1.1 Văn thuyết minh và năng lực tạo lập văn bản thuyết minh 9
1.1.1.1 Văn thuyết minh 9
1.1.1.2 Năng lực tạo lập văn bản thuyết minh 11
1.1.2 Bài tập rèn luyện kỹ năng tạo lập văn bản 19
1.1.2.1 Bài tập 19
1.1.2.2 Các dạng bài tập rèn luyện kỹ năng tạo lập văn bản 22
1.1.3 Đặc điểm tâm lí của học sinh lớp 8 23
1.2 Cơ sở thực tiễn 24
1.2.1 Nội dung dạy học văn bản thuyết minh trong sách giáo khoa Ngữ văn 8 24
1.2.2 Thực trạng dạy học văn thuyết minh ở lớp 8 25
1.2.2.1 Khảo sát hoạt động nhằm hình thành năng lực tạo lập văn bản thuyết minh cho học sinh lớp 8 25
Trang 61.2.2.2 Khảo sát năng lực tạo lập văn bản thuyết minh của học sinh lớp 8 31
Chương 2: HÌNH THÀNH NĂNG LỰC TẠO LẬP VĂN BẢN THUYẾT MINH CHO HỌC SINH LỚP 8 THÔNG QUA HỆ THỐNG BÀI TẬP 36
2.1 Bài tập và nguyên tắc xây dựng hệ thống bài tập 36
2.1.1 Vị trí và tầm quan trọng của bài tập 36
2.1.2 Nguyên tắc xây dựng hệ thống bài tập 36
2.1.2.1 Hệ thống bài tập phải phù hợp với mục tiêu của môn học 36
2.1.2.2 Hệ thống bài tập phải đảm bảo tính hệ thống, đa dạng và tính phong phú 39
2.1.2.3 Hệ thống bài tập phải phù hợp với thực tiễn dạy học Ngữ văn 40
2.1.2.4 Hệ thống bài tập phải phát huy được tính tích cực, chủ động, sáng tạo của học sinh 41
2.2 Xây dựng hệ thống bài tập nhằm hình thành năng lực tạo lập văn bản thuyết minh 41
2.2.1 Bài tập hình thành năng lực tìm hiểu đề 41
2.2.1.1 Bài tập nhận diện 41
2.2.1.2 Bài tập tạo lập 44
2.2.1.3 Bài tập sửa chữa 45
2.2.2 Bài tập hình thành năng lực tìm ý 46
2.2.2.1 Bài tập nhận diện 46
2.2.2.2 Bài tập tạo lập 48
2.2.2.3 Bài tập sửa chữa 50
2.2.3 Bài tập hình thành năng lực lập dàn ý 51
2.2.3.1 Bài tập nhận diện 52
2.2.3.2 Bài tập tạo lập 58
2.2.3.3 Bài tập sửa chữa 59
2.2.4 Bài tập hình thành năng lực viết văn thuyết minh 60
Trang 72.2.4.1 Bài tập hình thành năng lực viết mở bài 60
2.2.4.2 Bài tập hình thành năng lực viết thân bài 62
2.2.4.3 Bài tập hình thành năng lực viết kết bài 69
2.3 Vận dụng hệ thống bài tập vào việc hình thành năng lực tạo lập văn bản thuyết minh cho học sinh lớp 8 72
2.3.1 Vận dụng trong giờ lý thuyết 72
2.3.2 Vận dụng trong giờ thực hành 78
Chương 3: THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 81
3.1 Mục đích và yêu cầu thực nghiệm 81
3.1.1 Mục đích thực nghiệm 81
3.1.2 Yêu cầu thực nghiệm 82
3.2 Đối tượng và địa bàn thực nghiệm 82
3.2.1 Đối tượng thực nghiệm 82
3.2.2 Địa bàn thực nghiệm 82
3.2.3 Thời gian thực nghiệm 83
3.3 Nội dung và cách thức thực nghiệm 83
3.3.1 Nội dung thực nghiệm 83
3.3.2 Cách thức thực nghiệm 83
3.4 Đánh giá kết quả thực nghiệm 99
3.4.1 Đánh giá kết quả thực hiện giáo án thực nghiệm 99
3.4.2 Kết quả đo nghiệm 100
3.5 Kết luận chung về thực nghiệm 101
KẾT LUẬN 104
TÀI LIỆU THAM KHẢO 106 PHỤ LỤC
Trang 8MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
1.1 Người xưa từng nói “Tiên học lễ, hậu học văn”, dạy học văn luôn
chiếm một vị trí quan trọng trong đạo học Cũng như dạy Ngữ văn nói chung, dạy tập làm văn còn rất nhiều tồn tại cần được các giáo viên khắc phục Tập làm văn là phân môn được học ở tất cả các cấp học: Tiểu học, Trung học cơ sở, Trung học phổ thông Phân môn Tập làm văn có vai trò quan trọng giúp hình thành và phát triển các kỹ năng nghe, nói, đọc, viết cho học sinh Ở cấp Trung học cơ sở Tập làm văn là phân môn chiếm nhiều số tiết: miêu tả, biểu cảm cho đến tự sự, thuyết minh, nghị luận, hành chính công vụ… Trong những kiểu văn bản ấy thì kiểu văn bản thuyết minh được dạy và học ở lớp 8 chiếm một vị trí quan trọng trong chương trình
Tập làm văn là môn thực hành tổng hợp Dạy Tập làm văn không chỉ dạy cho học sinh nắm được kiến thức lí thuyết mà chủ yếu là hình thành và rèn luyện những năng lực như: Năng lực tiếp nhận văn bản; năng lực giao tiếp, năng lực tư duy; năng lực sử dụng ngôn ngữ, năng lực giải quyết vấn đề; năng lực thẩm mĩ; năng lực tạo lập văn bản… Trong đó năng lực tạo lập văn bản, đặc biệt là năng lực tạo lập văn bản thuyết minh cho học sinh lớp 8 là một nội dung quan trọng, đòi hỏi người giáo viên phải có sự chuẩn bị chu đáo, có hiểu biết về kiến thức sâu sắc và có phương pháp giảng dạy phù hợp theo tinh thần đổi mới
Thông qua việc học kiểu văn bản thuyết minh, học sinh sẽ nâng cao khả năng tư duy, quan sát, điều tra, nghiên cứu, tích lũy tri thức Đồng thời học sinh cũng nắm được các tri thức khách quan về sự vật, hiện tượng để trau dồi thêm vốn hiểu biết của bản thân Cùng với các thể loại văn khác, văn thuyết minh góp phần giúp học sinh hình thành và rèn luyện năng lực diễn đạt, dùng từ, đặt câu, xây dựng đoạn văn và cuối cùng là xây dựng một bài văn hoàn chỉnh
Trang 9Thuyết minh là một hoạt động quan trọng trong đời sống của con người Tìm hiểu về văn thuyết minh, khảo sát thực trạng của phương pháp dạy học kiểu văn bản thuyết minh là một dịp để hiểu hơn về kiểu văn bản này và vai trò của nó đối với đời sống
Từ tầm quan trọng của văn bản thuyết minh trong chương trình Ngữ văn
8, chúng ta thấy việc hình thành năng lực tạo lập văn bản thuyết minh là điều cần thiết trong dạy học làm văn cho học sinh Thông qua đó chuẩn bị điều kiện
để học sinh học tốt văn bản này
1.2 Dạy học Tập làm văn là dạy kiến thức lí thuyết của từng kiểu văn bản, cách xây dựng, tạo lập các kiểu văn bản, trong đó có dạy học kiểu văn bản thuyết minh cho học sinh lớp 8 Vì là phân môn mang tính chất thực hành, lí thuyết Tập làm văn là lí thuyết về kỹ năng, lí thuyết của những cách thức, phương pháp cho nên giáo viên ở trường phổ thông phần lớn là ngại dạy, học sinh ngại học, hay ỉ nại thoái thác Có một số ít các em bắt tay vào luyện tập viết theo yêu cầu của giáo viên nhưng chỉ là đối phó và không có hiểu biết thấu đáo về nội dung kiến thức của kiểu văn thuyết minh Vì thế các em không viết đúng, viết hay, do vậy mà hiệu quả giờ học cũng chưa cao
Để dạy và học Tập làm văn hiệu quả đòi hỏi yêu cầu rất lớn đối với người dạy Trong khi đó giáo viên trực tiếp giảng dạy Ngữ văn 8 còn lúng túng trong việc hướng dẫn học sinh tạo lập văn bản Làm sao để một giờ học vừa đảm bảo định hướng tích hợp, vừa không khô khan, cứng nhắc mà vẫn cung cấp những kiến thức cơ bản, hình thành năng lực và rèn luyện kỹ năng tạo lập văn bản cho học sinh Đó là vấn đề tương đối khó đặt ra cho phía người dạy Về phía học sinh chất lượng làm bài về kiểu văn thuyết minh còn chưa đáp ứng được yêu cầu, đặc biệt ở các kỹ năng: phân tích đề, chọn ý, lập dàn ý, viết đoạn văn thuyết minh, liên kết đoạn văn thuyết minh thành một bài văn hoàn chỉnh… Xuất phát từ thực trạng trên, luận văn của chúng tôi mong muốn đề xuất được hệ thống bài tập viết đoạn văn thuyết minh tương ứng với lý thuyết về tạo
Trang 10lập văn bản, phù hợp với điều kiện giảng dạy trong nhà trường Trung học cơ sở hiện nay
Đưa ra hệ thống bài tập thích hợp, chúng ta vừa giúp cho giáo viên có thêm tài liệu, điều kiện giảng dạy vừa giúp cho học sinh có khả năng, phương tiện và điều kiện vận dụng lý thuyết để hình thành những kĩ năng cần có trong việc tạo lập văn bản nói chung và tạo lập văn bản thuyết minh nói riêng Do đó
chúng tôi chọn đề tài “Xây dựng hệ thống bài tập nhằm hình thành năng lực
tạo lập văn bản thuyết minh cho học sinh lớp 8” làm vấn đề nghiên cứu
2 Lịch sử vấn đề
2.1 Tình hình nghiên cứu về văn thuyết minh và dạy học văn thuyết minh
Nghiên cứu về văn thuyết minh đã có rất nhiều tài liệu và công trình nghiên cứu đề cập đến Các nhà nghiên cứu đã tìm tòi, khám phá, đề xuất một
số nội dung cơ bản về văn thuyết minh và dạy học văn thuyết minh ở trường phổ thông
Đầu tiên phải kể đến sách giáo khoa Ngữ văn 8, sách giáo viên Ngữ văn 8
(2004) Đây là hai cuốn sách mang tính chất công cụ của người giáo viên Văn bản thuyết minh được đưa vào phổ thông bắt đầu từ lớp 8 và cũng là tài liệu đầu tiên sách giáo viên tiếp cận, hướng dẫn học kiểu văn bản này
Các nhà biên soạn đã đưa vào sách giáo khoa Ngữ văn 8 các bài như: Tìm hiểu chung về văn bản thuyết minh, phương pháp thuyết minh, đề văn thuyết minh và cách làm bài văn thuyết minh, viết đoạn văn trong văn bản thuyết minh… làm tiền đề cho việc dạy và học kiểu văn bản này
Các nhà biên soạn sách giáo viên định hướng cách dạy học những bài Tập
làm văn thuyết minh cụ thể trong chương trình là chủ yếu, phương pháp dạy văn thuyết minh xem ra vẫn còn mờ nhạt và sơ lược Việc phân biệt văn bản thuyết minh với một số dạng văn bản có trong chương trình như văn bản tự sự, miêu tả, nghị luận nằm ở mức độ sơ lược, người biên soạn chưa đưa ra được
tiêu chí để so sánh Ngay cả phương pháp tạo lập văn bản thuyết minh sách
Trang 11giáo viên cũng chỉ dừng lại ở những nét cơ bản nhất chứ không đi vào cụ thể
Tuy nhiên, công bằng mà xét, dù ở mức độ sơ giản, nhưng các nội dung về văn
bản thuyết minh được đề cập trong sách giáo khoa và sách giáo viên 8 là những
tư liệu hết sức quan trọng cho người dạy, người học và là một cơ sở cho chúng tôi thực hiện đề tài này
Tiếp đó, năm 2005, nhà xuất bản Giáo dục xuất bản cuốn sách giáo khoa
và sách giáo viên Ngữ văn 9 Hai cuốn sách đề cập đến cách dạy đối với những bài học về văn thuyết minh trong chương trình Ngữ văn 9, chẳng hạn như: Sử dụng các biện pháp nghệ thuật trong văn bản thuyết minh, sử dụng yếu tố miêu
tả trong văn thuyết minh
Chương trình sách giáo khoa và sách giáo viên 10 lại tiếp tục đề cập đến văn bản thuyết minh như bài: Các hình thức kết cấu của văn bản thuyết minh, lập dàn ý bài văn thuyết minh, phương pháp thuyết minh, luyện tập viết đoạn văn thuyết minh…
Điểm lại có tính chất sơ lược những nội dung được đề cập trong sách giáo khoa, sách giáo viên của chương trình Ngữ văn 8, 9, 10 như vậy để thấy một
thực tế rằng do đặc thù có tính chất công cụ, những bộ sách này cũng chỉ nêu lên những định hướng dạy học Làm văn thuyết minh những bài văn cụ thể giúp giáo viên và học sinh tiếp cận, có sự hiểu biết cơ bản về phương pháp thuyết minh, về văn bản thuyết minh, còn để rèn luyện cho học sinh cách tạo lập văn bản thuyết minh một cách có hệ thống thì các tài liệu này vẫn chưa có điều kiện
đi sâu tìm hiểu
Bên cạnh sách giáo khoa, sách giáo viên trong chương trình phổ thông
còn có những công trình nghiên cứu của nhiều tác giả khác viết về văn bản
thuyết minh Phải kể đến đó là cuốn “Làm văn” của nhóm tác giả Đỗ Ngọc
Thống (chủ biên), Phạm Minh Diệu, Nguyễn Thành Thi Tài liệu này cũng đã
đề cập đến lý thuyết về văn bản thuyết minh như khái niệm, đặc điểm và cách làm văn bản thuyết minh
Trang 12Theo nhóm tác giả “Văn thuyết minh là loại văn trình bày, giới thiệu, phổ biến hoặc giải thích nhằm làm rõ đặc điểm cơ bản của một đối tượng, cung cấp tri thức về các hiện tượng, sự vật trong tự nhiên và xã hội” [47, 241] Cũng
theo nhóm tác văn bản thuyết minh có 5 đặc điểm: Văn bản thuyết minh nhằm cung cấp những tri thức khách quan về sự vật hiện tượng; các dạng bài thuyết minh rất đa dạng, phong phú; văn thuyết minh rất cần sự kiện và số liệu; ngôn ngữ và văn phong thuyết minh phải trong sáng, rõ ràng và đơn nghĩa, trọng thông tin, không rườm rà… Ngoài việc đưa ra hướng dẫn chung cách làm văn bản thuyết minh theo 5 bước, nhóm tác giả còn đưa ra 6 phương pháp thuyết minh: Phương pháp nêu định nghĩa; phương pháp nêu ví dụ; viện dẫn ý kiến người khác; dùng số liệu để chứng minh; phân loại để thuyết minh; so sánh để thuyết minh Tuy nhiên ở công trình nghiên cứu này việc chưa có hệ thống bài tập để hình thành năng lực tạo lập văn bản thuyết minh cho học sinh
Cũng bàn về vấn đề này nhóm tác giả Lê A, Nguyễn Trí trong cuốn “Làm văn”, nhà xuất bản Giáo dục, Hà Nội đã giới thiệu khái quát về văn bản thuyết
minh, về hệ thống kiến thức, kỹ năng cơ bản của kiểu bài thuyết minh Đồng thời trong công trình này các tác giả đã dành một số trang để giới thiệu những kiểu bài thuyết minh thường gặp trong cuộc sống Tuy nhiên ở công trình này cũng chưa đề cập đến việc dạy tạo lập văn bản thuyết minh
Trong cuốn “Làm văn” của Đình Cao, Lê A cũng đã đưa ra một hệ thống
khái niệm, đặc điểm của văn bản thường gặp Bên cạnh đó, nhóm tác giả này còn nghiên cứu về cách thức tạo lập văn bản nói chung và văn bản thuyết minh nói riêng Nhưng ở công trình này cũng chưa đề cập đến việc xây dựng hệ thống bài tập hình thành năng lực tạo lập văn bản thuyết minh
Trong cuốn “Rèn kỹ năng làm văn thuyết minh” của tác giả Trần Thị
Thành có đưa ra những nét khái quát nhất về văn thuyết minh, các dạng bài tập rèn kĩ năng làm văn thuyết minh và hướng dẫn các kiểu bài thuyết minh cụ thể Tuy tác giả đã đưa ra các dạng bài tập rèn kỹ năng nhưng vẫn còn sơ lược
Trang 132.2 Tình hình nghiên cứu về việc xây dựng hệ thống bài tập nhằm hình thành năng lực tạo lập văn bản thuyết minh cho học sinh lớp 8
Nghiên cứu về việc xây dựng hệ thống bài tập tạo lập văn bản thuyết minh cho học sinh lớp 8 phải kể đến trước tiên đó là hệ thống kiến thức lý thuyết và
bài tập được đưa vào sách giáo khoa Ngữ văn Tuy đã tương đối khái quát nhưng sách giáo khoa chỉ đưa ra các đoạn văn thuyết minh và yêu cầu học sinh
trả lời mà chưa đưa ra cách để viết đoạn văn thuyết minh Bên cạnh đó, bài tập còn khá sơ lược, chưa thành một hệ thống để từ đó có thể rèn cho học sinh kỹ năng tạo lập văn bản
Cùng với đó là sách bài tập Ngữ văn 8 cũng đã phần nào đưa ra được
những bài tập rèn luyện kỹ năng tạo lập văn bản cho học sinh, tuy nhiên bài tập
đó một nửa là trong sách giáo khoa, còn lại cũng không có bài tập nhận diện, sửa chữa…
Trong cuốn “Hướng dẫn tập làm văn 8” tác giả Vũ Nho đã đưa ra cách
làm một bài văn thuyết minh, ngoài tri thức và quy trình của bài văn thuyết minh tác giả cũng chỉ ra một số phương pháp thuyết minh có thể sử dụng khi làm kiểu văn bản này Tuy nhiên ở tài liệu này tác giả chỉ hướng dẫn một cách chung nhất cách xây dựng bài văn thuyết minh mà chưa đưa ra hệ thống bài tập nhằm hình thành và rèn luyện năng lực tạo lập văn bản cho học sinh
Bên cạnh đó phải kể đến cuốn “Bồi dưỡng Ngữ văn 8” của Nguyễn Kim Dung, Đỗ Kim Hảo; cuốn “Kiến thức, kĩ năng cơ bản tập làm văn THCS” của Huỳnh Thị Thu Ba; Sáng kiến kinh nghiệm với đề tài “Rèn luyện kĩ năng viết đoạn văn thuyết minh cho học sinh lớp 10” của Hoàng Thị Dung…
Các tài liệu, công trình nghiên cứu này dù có cách tiếp cận khác nhau nhưng đều đề cập đến nội dung của văn bản thuyết minh Tuy nhiên phần lớn các công trình chưa thật đi sâu và cụ thể vào vấn đề xây dựng hệ thống bài tập nhằm hình thành năng lực tạo lập văn bản thuyết minh cho học sinh lớp 8 Vì vậy chúng tôi tiến hành nghiên cứu một cách chuyên sâu về đề tài này để góp phần cho việc dạy học Làm văn được hiệu quả hơn
Trang 143 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là xây dựng hệ thống bài tập nhằm hình thành năng lực tạo lập văn bản thuyết minh cho học sinh lớp 8
5 Nhiệm vụ nghiên cứu
Đề tài “Xây dựng hệ thống bài tập nhằm hình thành năng lực tạo lập văn bản thuyết minh cho học sinh lớp 8” có nhiệm vụ:
- Nghiên cứu cơ sở lí luận và cơ sở thực tiễn của việc xây dựng hệ thống bài tập
- Đề xuất nội dung, phương pháp cách hình thành năng lực tạo lập văn bản thuyết minh cho học sinh lớp 8 Đồng thời đưa ra các dạng bài tập, từ đó chỉ ra cách thức vận dụng chúng vào việc dạy và học văn bản thuyết minh
- Tổ chức thực nghiệm để kiểm tra tính khả thi của kết quả nghiên cứu
6 Phương pháp nghiên cứu
6.1 Phương pháp nghiên cứu lý thuyết
- Ở đề tài này, chúng tôi tập hợp các tài liệu có liên quan đến chương trình Ngữ văn cơ sở: những bài văn thuyết minh được học trong chương trình lớp 8,
Trang 15những bài văn mẫu của các tác giả viết văn thuyết minh, những tài liệu lý thuyết văn bản
- Ngoài ra, chúng tôi còn sưu tầm, tuyển chọn những bài tập, những bài văn mẫu hoàn thiện cả về nội dung và hình thức thuộc kiểu văn bản thuyết minh…
6.2 Phương pháp nghiên cứu thực tiễn
- Phương pháp thống kê để xử lý số liệu thu thập được trong quá trình điều tra khảo sát và thực nghiệm
- Phương pháp điều tra, khảo sát thực tiễn để nắm bắt thực trạng dạy học văn bản thuyết minh ở nhà trường Trung học cơ sở Qua đó phục vụ cho nghiên cứu đề tài được sát thực hơn, góp phần nâng cao hiệu quả dạy và học
Trong quá trình khảo sát bài làm về kiểu văn bản thuyết minh cần phải biết được: học sinh viết theo hình thức nào, năng lực tạo lập văn bản được các
em vận dụng ra sao, năng lực sử dụng ngôn ngữ như thế nào… để có thể đưa ra phương pháp phù hợp giúp học sinh học tốt văn thuyết minh
- Phương pháp thực nghiệm sư phạm là phương pháp quan trọng nhất trong quá trình nghiên cứu Thông qua thực nghiệm, chúng tôi có được những
dự cảm ban đầu về tính đúng đắn, khả năng áp dụng vào thực tiễn cũng như tính thiết thực của vấn đề nghiên cứu Phương pháp này sẽ góp phần làm cho
đề tài nghiên cứu có tính khách quan và khoa học
7 Cấu trúc của luận văn
Luận văn gồm ba phần: Phần mở đầu, Phần nội dung, Phần kết luận
Phần nội dung gồm 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lí luận và cơ sở thực tiễn của đề tài
Chương 2: Hình thành năng lực tạo lập văn bản thuyết minh cho học sinh lớp 8 thông qua hệ thống bài tập
Chương 3: Thực nghiệm sư phạm
Ngoài ra, còn có phần Tài liệu tham khảo và Phụ lục
Trang 16NỘI DUNG
Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 1.1 Cơ sở lý luận
1.1.1 Văn thuyết minh và năng lực tạo lập văn bản thuyết minh
1.1.1.1 Văn thuyết minh
Thuyết minh là thuật ngữ được sử dụng khá rộng rãi trong đời sống và
nhiều ngành khoa học Ở đây “thuyết” có nghĩa là “nói lí lẽ làm cho người ta nghe theo”, còn “minh” nghĩa là “sáng tỏ” (minh xét, minh chứng)
Theo “Từ điển Hán Việt” của Phan Văn Các: “Thuyết minh nghĩa là nói
rõ, giải thích, giới thiệu, hay còn có nghĩa là hướng dẫn cách dùng” [14, 89]
Vậy có thể hiểu thuyết minh là nói hoặc chú thích cho người ta hiểu rõ hơn về những sự vật, sự việc hoặc hình ảnh đã được đưa ra
Thuyết minh là loại văn bản thông dụng trong cuộc sống hàng ngày Văn bản thuyết minh được sử dụng rất rộng rãi, ngành nghề nào cũng cần đến Chẳng hạn như mua một cái ti vi, máy giặt, tủ lạnh… đều phải kèm theo bản thuyết minh
để ta hiểu được tính năng, cấu tạo, cách sử dụng, cách bảo quản Mua một hộp bánh trên đó cũng ghi xuất xứ, thành phần các chất làm nên bánh, ngày sản xuất, hạn sử dụng, trọng lượng tĩnh Đến một danh lam thắng cảnh, ta bắt gặp các bảng quảng cáo, giới thiệu lai lịch, sơ đồ thắng cảnh Ra ngoài phố ta bắt gặp bảng quảng cáo, giới thiệu sản phẩm… Tất cả đều là văn bản thuyết minh
Chẳng hạn để giới thiệu về Lăng Bác cũng có thể sử dụng văn thuyết
minh “Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh được khánh thành vào ngày 29 tháng 8 năm
1975 Lăng gồm 3 lớp với chiều cao 21.6 mét, lớp dưới tạo dáng bậc thềm tam cấp, lớp giữa là kết cấu trung tâm của lăng gồm phòng thi hài và những hành lang, những cầu thang lên xuống Quanh bốn mặt là những hàng cột vuông bằng đá hoa cương, lớp trên cùng là mái lăng hình tam cấp Ở mặt chính có
Trang 17dòng chữ: “Chủ tịch Hồ-Chí-Minh” bằng đá hồng màu mận chín Lăng được xây theo kiểu kiến trúc hiện thực xã hội chủ nghĩa, lấy nguyên bản của Lăng Lênin” [28, 122]
Đó cũng có thể là hướng dẫn cách làm các món ăn Chẳng hạn như “Món canh xúp tổng hợp”:
* Nguyên liệu: (10 suất)
100 gam thịt lợn, 100 gam thịt bò, cà chua, cà rốt, khoai tây, su hào, cần tây, tỏi tây, bột ngọt, dầu thực vật
* Cách làm:
- Thịt lợn, thịt bò rửa sạch, băm hoặc xay nhỏ, ướp với một chút bột ngọt
- Các loại rau sơ chế sạch Cà rốt, khoai tây, su hào thái hạt lựu Cà chua cắt ngang bỏ hạt rồi cắt miếng nhỏ Cần tây, tỏi tây cắt khúc ngắn
- Cho chút dầu vào nồi đun nóng, cho cà chua vào chưng một lúc cho nổi màu đỏ, rồi cho thịt vào xào Chú ý đảo nhanh đều tay để thịt không bị vón cục Đảo một lúc thì đổ lượng nước vừa đủ vào nồi, cho cà rốt, su hào, khoai tây vào đun vừa lửa Nêm chút gia vị vừa ăn Khi thịt và các loại rau củ chín mềm (nhưng không được bở, nát), thì cho cần tây, tỏi tây vào đảo nhẹ tay, chờ canh chớm sôi trở lại thì tắt bếp, múc ra bát ăn nóng
* Chất lượng: Canh có vị ngọt mát của các loại rau, củ; dậy mùi thơm của thịt bò và các nguyên liệu khác [52, 39]
Sách giáo khoa Ngữ văn 8 đã định nghĩa: “Thuyết minh là kiểu văn bản thông dụng trong mọi lĩnh vực đời sống nhằm cung cấp tri thức (kiến thức) về đặc điểm, tính chất, nguyên nhân… của các hiện tượng, sự vật trong tự nhiên,
xã hội bằng phương thức trình bày, giới thiệu, giải thích” [11, 117]
Theo cuốn “Làm văn” - Đỗ Ngọc Thống chủ biên: “Văn thuyết minh là loại văn trình bày, giới thiệu, phổ biến hoặc giải thích nhằm làm rõ đặc điểm
cơ bản của một đối tượng, cung cấp tri thức về các hiện tượng, sự vật trong tự nhiên và xã hội” [47, 241]
Trang 18Như vậy văn thuyết minh giúp người đọc, người nghe hiểu đúng, hiểu rõ
về bản chất của sự vật, hiện tượng
Thuyết minh nhằm làm cho người đọc hiểu đúng về đối tượng chứ không cốt giúp người đọc hình dung, có những xúc cảm chủ quan về đối tượng như miêu tả, biểu cảm Thuyết minh không xây dựng cốt truyện, diễn biến sự việc, như kể chuyện (tự sự) Thuyết minh trình bày nguyên lý, cách thức, quy luật của đối tượng chứ không dùng lập luận, suy luận, lý lẽ… để giải quyết vấn đề bằng luận điểm, luận cứ như văn nghị luận
Tóm lại, trong văn bản thuyết minh có dùng giải thích nhưng là giải thích bằng tri thức khoa học: cơ chế, quy luật của sự vật, cách thức sử dụng và bảo quản một cách khách quan… còn giải thích trong văn nghị luận là dùng dẫn chứng, lí lẽ để làm sáng tỏ vấn đề nhằm trình bày cách hiểu, quan điểm đánh giá đối tượng của người viết
Đối tượng của văn thuyết minh là các hiện tượng xã hội như lịch sử, con người, chính trị, tôn giáo…; là các hiện tượng tự nhiên như: địa lý, động vật, thực vật, hiện tượng thời tiết…; là các vật dụng trong đời sống như: cách làm (nấu) một món ăn, gieo trồng…; là văn học nghệ thuật Có thể nói, đối tượng của văn thuyết minh vô cùng phong phú, mọi hiện tượng, sự vật trong đời sống đều có thể là đối tượng của thuyết minh, mọi ngành nghề đều cần đến thuyết minh
1.1.1.2 Năng lực tạo lập văn bản thuyết minh
* Năng lực
Năng lực định nghĩa theo nhiều cách khác nhau Ở góc độ tâm lý học,
nhiều tác giả có quan niệm chung về năng lực như sau: “Năng lực là tổ hợp các thuộc tính độc đáo của cá nhân, phù hợp với yêu cầu của một hoạt động nhất định, đảm bảo cho hoạt động đó có hiệu quả cao”
Theo cuốn “Từ điển Giáo dục học”, Bùi Hiền và các tác giả cho rằng:
“Năng lực được thể hiện vào khả năng thi hành một hoạt động, thực hiện một nhiệm vụ Năng lực chỉ có hiệu quả khi nó được chứng minh, trong trường hợp
Trang 19ngược lại nó chỉ là giả định hoặc không có thực Nó phát triển bởi kinh nghiệm hoặc bởi việc học tập phù hợp với tính riêng biệt của cá nhân Năng lực được coi như khả năng của con người khi đối mặt với những vấn đề mới và những tình huống mới, gợi tìm lại được tin tức và những kĩ thuật đã được sử dụng trong những thực nghiệm trước đây” [23, 158] Như vậy, ở góc độ giáo dục học
năng lực được hiểu là một hệ thống các cấu trúc tinh thần bên trong và khả năng huy động các kiến thức, kỹ năng nhận thức, kỹ năng thực hiện thành công các hoạt động trong một bối cảnh cụ thể
Theo “Từ điển tiếng Việt”, Hoàng Phê có giải thích khái niệm năng lực theo hai ý: “1 Khả năng hoặc điều kiện chủ quan, tự nhiên sẵn có để thực hiện một loạt hoạt động nào đó: năng lực tư duy, năng lực tài chính… 2 Phẩm chất sinh lý và trình độ chuyên môn tạo cho con người khả năng hình thành một loại hoạt động nào đó với chất lượng cao: năng lực lãnh đạo, năng lực chuyên môn, năng lực sư phạm” [36]
Theo PGS TS Nguyễn Huy Tú “Năng lực phát triển trên nền khả năng
và là bậc cao hơn Năng lực là những phẩm chất quá trình của hoạt động tâm
lý tương đối ổn định và khái quát của nhân cách nhờ đó con người giải quyết được ở mức này hay mức khác một hay nhiều yêu cầu loại mới nhất định Năng lực biểu lộ ở tính nhanh, tính dễ dàng, chất lượng tiếp nhận và thực hiện hoạt động, ở bề rộng của di chuyển, tính sáng tạo, tính độc đáo của hoạt động cũng như của sản phẩm hoạt động giải quyết yêu cầu mới”
Theo cuốn “Tài liệu tập huấn thí điểm phát triển chương trình giáo dục nhà trường phổ thông” năng lực được phân thành hai nhóm chính:
- Nhóm lấy dấu hiệu về các yếu tố tạo thành khả năng hành động để định nghĩa: “Năng lực là tập hợp các tính chất hay phẩm chất của tâm lý cá nhân, đóng vai trò là điều kiện bên trong, tạo thuận lợi cho việc thực hiện tốt một dạng hoạt động nhất định”
- Nhóm lấy dấu hiệu về các yếu tố tạo thành khả năng hoạt động để định nghĩa: “Năng lực là khả năng làm chủ những hệ thống kiến thức, kỹ năng, thái
Trang 20độ và vận hành chúng một cách hợp lý vào thực hiện thành công nhiệm vụ hoặc giải quyết hiệu quả vấn đề đặt ra của cuộc sống” [10, 12]
Cũng theo tài liệu tập huấn thì năng lực gồm hai loại chính đó là năng lực chung và năng lực chuyên biệt Vì vậy mà môn Ngữ văn cần hình thành và phát triển cho học sinh những năng lực cơ bản sau:
Năng lực chung: Năng lực giao tiếp, năng lực tư duy sáng tạo, năng lực
giải quyết vấn đề, năng lực hợp tác, năng lực tự học…
Năng lực chuyên biệt: Năng lực giao tiếp tiếng Việt, năng lực cảm thụ
thẩm mỹ, năng lực tạo lập văn bản…
* Năng lực tạo lập văn bản thuyết minh
Chương trình môn Ngữ văn từ trước đến nay, từ cách hiểu chung về năng lực, có thể nói năng lực Ngữ văn là trình độ vận dụng kiến thức, kỹ năng cơ bản
về Văn học và tiếng Việt để thực hành giao tiếp trong cuộc sống Năng lực Ngữ văn gồm hai năng lực bộ phận là: năng lực tiếp nhận văn bản và năng lực tạo
lập văn bản Trong phân môn Làm văn, rèn luyện cho học sinh năng lực tạo lập văn bản là nhiệm vụ chủ yếu Trong quá trình tạo lập văn bản, người tạo lập cần xác định rõ mình sẽ đạt được mục đích nào Sau khi tạo lập xong cần đối chiếu với những mục đích đó để đạt hiệu quả giao tiếp trong văn bản Muốn đạt hiệu quả giao tiếp, người viết phải lựa chọn ngôn ngữ cho phù hợp với đối tượng giao tiếp Trong khi tạo lập văn bản người viết, người nói phải trả lời được câu hỏi: Viết cho ai đọc? Nói cho ai nghe? Những câu trả lời là căn cứ để người viết, người nói lựa chọn phương tiện ngôn ngữ và thậm chí điều chỉnh cả nội dung giao tiếp sao cho phù hợp với đối tượng tiếp nhận Bên cạnh đó, khi tạo lập văn bản cần chú ý cả hoàn cảnh giao tiếp
Tóm lại, hoạt động tạo lập văn bản để giao tiếp bị chi phối bởi rất nhiều yếu tố, nhân tố giao tiếp khác nhau Các nhân tố đó không chỉ chi phối tới việc tạo lập văn bản ở người nói, người viết mà còn là căn cứ cho việc tiếp nhận văn bản ở người nghe, người đọc Đây chính là tiền đề quan trọng giúp giáo viên xây dựng những định hướng trong việc dạy Làm văn
Trang 21Năng lực tạo lập văn bản tức là khả năng nói lên, viết ra những gì mình suy nghĩ Để nói và viết trước hết học sinh phải biết suy nghĩ đúng, sâu sắc và biết dùng ngôn ngữ tiếng Việt thành thạo để diễn đạt, trình bày lại những suy nghĩ đó một cách rành mạch, thuyết phục Để rèn luyện năng lực tạo lập văn bản cần chú ý những kỹ năng cơ bản như kỹ năng tìm hiểu đề, phân tích đề văn; kỹ năng tìm ý và lập dàn ý chi tiết cho bài viết; kỹ năng phát triển ý; kỹ năng trình bày…
Đối với văn bản thuyết minh, để tạo lập văn bản cũng cần rèn luyện những kỹ năng trên thông qua các bước: Bước 1: Phân tích đề; bước 2: Tìm ý, lập dàn ý; bước 3: Viết thành văn
* Bước 1: Phân tích đề
Trong thực tế, đề văn thuyết minh rất đa dạng, phong phú với nhiều cấu trúc diễn đạt khác nhau Tuy nhiên đặc điểm chung nhất và cũng là đặc điểm dùng để phân biệt với các loại đề văn khác là đề văn thuyết minh thường được diễn đạt bằng một câu văn, thậm chí nhiều khi chỉ là một câu đặc biệt
Ví dụ: Giới thiệu về chiếc nón lá Việt Nam
Phân tích đề là thao tác đầu tiên khi tiếp cận với một đề văn thuyết minh Phân tích đề rất quan trọng, có ý nghĩa định hướng cho việc xây dựng bố cục và triển khai nội dung văn bản Vì vậy, trước khi làm một bài văn thuyết minh cần:
- Cần đọc kĩ để biết đề bài có yêu cầu thuyết minh không? Nếu là bài văn thuyết minh thì thuyết minh về đối tượng nào?
- Phạm vi thuyết minh là gì? Những yêu cầu về nội dung bài nếu không
cụ thể thì cần dựa vào đề bài mà xác định cho hợp lí
* Bước 2: Tìm ý và lập dàn ý
- Tìm ý
Đây là bước quan trọng cần phải có tri thức và có cái nhìn sâu sắc để xây dựng dàn ý một cách đúng và đầy đủ nhất Dàn ý là khung xương của bài văn Bài văn có tốt hay không phần lớn phụ thuộc vào việc xây dựng dàn ý có đầy
Trang 22đủ hay không Việc tìm ý cho bài văn thuyết minh là tri thức về đối tượng được trình bày trong bài viết Tri thức được tích lũy nhờ quan sát, đọc tài liệu và hỏi han những người có kinh nghiệm, hiểu biết… Những tri thức đó sẽ được huy động khi làm bài Hiểu càng phong phú thì nội dung bài viết càng có sức thuyết phục
Tìm ý cho bài văn thuyết minh cũng dùng cách đặt câu hỏi Những câu hỏi được đặt ra để định hướng tìm ý thường là: Đối tượng thuyết minh là gì? Đặc điểm nào tiêu biểu của đối tượng? Đối tượng có những đặc điểm phụ nào? Nguồn gốc, cấu tạo của đối tượng có gì đáng chú ý? Đối tượng có giá trị, ý nghĩa như thế nào đối với cuộc sống con người trong quá khứ, hiện tại, tương lai? Dĩ nhiên, câu hỏi phải phù hợp với đối tượng và mục đích của bài văn thuyết minh Câu hỏi tìm ý cho bài thuyết minh về một phương pháp không thể giống với câu hỏi tìm ý cho bài văn thuyết minh về một đồ vật
Để tìm kiếm kiến thức cho bài viết, trước hết ta phải quan sát đối tượng
để tìm ra đặc điểm chính cũng như đặc điểm phụ phục vụ cho việc viết bài Tiếp đến, ta có thể tìm đọc tài liệu tham khảo từ sách báo, các trang mạng điện
tử uy tín để chọn lọc thông tin chính xác về đối tượng cần thuyết minh Sau khi
đã có kiến thức về đối tượng, cần sắp xếp những kiến thức ấy thành hệ thống
- Lập dàn ý
Sau khi tìm ý thì cần phải sắp xếp theo một trình tự hợp lý thành dàn ý của bài văn thuyết minh Đây là một công việc cần thiết trong quá trình làm một bài văn thuyết minh Dàn ý là một hệ thống các ý được sắp xếp mạch lạc, hợp lý nhằm giải quyết những yêu cầu đề bài đặt ra
Cũng giống như kiểu văn bản khác, dàn ý bài văn thuyết minh cũng gồm
ba phần: Mở bài, Thân bài, Kết bài
Mở bài:
+ Giới thiệu chung về đối tượng thuyết minh Cách giới thiệu cũng khá linh hoạt, có thể đi thẳng vào vấn đề, giới thiệu bằng cách nêu định nghĩa hoặc những thông tin chính, khái quát khái niệm về đối tượng được thuyết minh Có
Trang 23thể sử dụng cách mở bài gián tiếp, sử dụng phương pháp đòn bấy nhằm làm nổi bật đối tượng thuyết minh hoặc dùng cách nói tranh luận để nêu vấn đề
+ Dẫn dắt, tạo ra sự chú ý của người đọc về đối tượng thuyết minh
+ Giới hạn phạm vi thuyết minh nếu cần thiết
Thân bài:
+ Về nội dung: Trình bày nguồn gốc, cấu tạo, các đặc điểm, lợi ích… của đối tượng Cần trình bày các ý cho phù hợp với đối tượng thuyết minh, đạt được mục đích thuyết minh, giúp người tiếp nhận dễ dàng nắm được nội dung thuyết minh Sử dụng các phương pháp thuyết minh một cách linh hoạt
+ Về hình thức: Thân bài gồm nhiều đoạn văn nối tiếp nhau, mỗi đoạn văn trình bày một mặt của đối tượng, giữa các đoạn có sự liên kết chặt chẽ cả
về nội dung lẫn hình thức diễn đạt
Kết bài:
Có nhiệm vụ khép lại vấn đề thuyết minh
+ Bày tỏ thái độ với đối tượng, khẳng định về ý nghĩa, công dụng, lợi ích của đối tượng thuyết minh
+ Nhận xét về tương lai của đối tượng…
Mỗi bài thuyết minh có thể theo một kết cấu khác nhau Việc lựa chọn kết cấu cho bài tùy thuộc vào đối tượng thuyết minh Giúp cho nội dung thuyết phục được trình bày khúc triết, mạch lạc Những cách kết cấu thường gặp: theo trình tự thời gian, theo trình tự không gian, theo trình tự logic, theo trình tự hỗn hợp…
* Bước 3: Viết thành bài văn
Sau khi đã lập xong dàn ý chi tiết, cần dựa vào đó để viết thành bài văn thuyết minh hoàn chỉnh
Bài văn thuyết minh gồm nhiều đoạn văn nối tiếp nhau, có sự liên kết chặt chẽ về nội dung cũng như hình thức Bài văn thuyết minh gồm ba phần chính: Mở bài, Thân bài, Kết bài Trong mỗi phần có nhiều đoạn văn, mỗi đoạn văn có thể được trình bày theo nhiều cách khác nhau như: diễn dịch, quy nạp, song hành, tổng - phân - hợp…
Trang 24Rèn luyện kỹ năng viết đoạn văn nói chung và kỹ năng viết đoạn văn thuyết minh nói riêng là một khâu đột phá để hoàn thiện một bài văn thuyết minh hoàn chỉnh Mỗi đoạn văn trong bài thuyết minh trình bày một ý lớn của bài Khi viết đoạn văn, cần làm rõ chủ đề của đoạn, tránh lẫn ý giữa các đoạn văn Các ý trong đoạn văn nên sắp xếp theo thứ tự hợp lý như: theo thứ tự cấu tạo của sự vật, theo thứ tự nhận thức (từ tổng thể đến bộ phận; từ ngoài vào trong; từ xa đến gần), hoặc theo thứ tự diễn biến sự việc trong thời gian trước sau hoặc theo thứ tự chính phụ (cái chính nói trước, cái phụ nói sau)
Ngôn ngữ trong đoạn văn cũng như trong cả bài văn cần chính xác, rõ ràng và hấp dẫn người đọc Các phương pháp thuyết minh cần được sử dụng nhuần nhuyễn, linh hoạt
Văn bản thuyết minh nhằm mục đích giúp người đọc hiểu về đặc trưng, tính chất của sự vật, hiện tượng Thuyết minh gắn liền với tư duy khoa học nên bài thuyết minh yêu cầu cao về tính chính xác, mạch lạc
Khi thuyết minh, có thể dùng nhiều phương pháp khác nhau để bài văn thuyết minh hấp dẫn, giàu sức thuyết phục Thường sử dụng các phương pháp thuyết minh sau:
+ Phương pháp định nghĩa, giải thích
Muốn thuyết minh bằng cách nêu định nghĩa, người viết cần nắm vững đối tượng thuyết minh thuộc loại sự vật, hiện tượng nào? Tính chất cơ bản của đối tượng trong loại sự vật hiện tượng đó ra sao? Từ đó, bằng những lời lẽ ngắn gọn, chỉ ra đặc trưng của đối tượng một cách chuẩn xác
Trong văn thuyết minh, phương pháp định nghĩa dùng để nêu lên những đặc trưng riêng, tính chất, những nhận xét đánh giá xác định về vị trí vai trò công dụng giá trị của sự vật hiện tượng
Giải thích thường đi kèm với định nghĩa để bổ sung cụ thể cho định nghĩa + Phương pháp liệt kê: Liệt kê dùng để kể ra những thuộc tính, biểu hiện cùng loại của đối tượng
Trang 25+ Phương pháp nêu ví dụ, dẫn chứng: Phương pháp này được dùng để chứng minh cho một đặc tính, ý nghĩa, giá trị của sự vật hiện tượng Phương pháp này giúp người đọc hiểu và tin hơn vào đối tượng thuyết minh
+ Phương pháp dùng số liệu: Phương pháp này đưa ra những con số để người đọc hiểu rõ về sự vật Đây là phương pháp thường được sử dụng khi sự vật được giới thiệu có những biểu hiện đặc trưng ở số liệu Việc đưa ra những
số liệu giúp bài văn thuyết minh thêm chính xác và đáng tin cậy hơn
+ Phương pháp so sánh: Đối chiếu sự vật này với sự vật khác ở điểm giống
và khác nhau để nêu bật những nét riêng, đặc trưng của đối tượng thuyết minh
+ Phương pháp phân loại phân tích: Phân loại để phân tích từng mặt, từng khía cạnh của sự vật hiện tượng cần thuyết minh Tách loại lớn thành nhiều loại nhỏ dựa vào những đặc điểm khác nhau của chúng rồi theo đó mà thuyết minh Phân loại, phân tích giúp người đọc hiểu được cụ thể, chi tiết từng mặt, từng khía cạnh của đối tượng thuyết minh
Các phương pháp thuyết minh trên luôn được sử dụng linh hoạt trong văn thuyết minh Khi giới thiệu về một phong cảnh, một loài vật hoặc đối tượng thuộc lĩnh vực văn học nghệ thuật… thì việc tạo sự hấp dẫn, lôi cuốn người đọc lại cần được chú ý đến Để làm được điều đó, người viết thường sử dụng một số biện pháp nghệ thuật khi diễn đạt nội dung như: Miêu tả, ẩn dụ, tự thuật, đối thoại… Sử dụng các biện pháp nghệ thuật chỉ góp phần làm tăng hứng thú, lôi cuốn người đọc chứ không làm sự thật bị mất đi hay bị phóng đại
* Bước 4: Đọc lại và chữa bài
Đây là khâu quan trọng cuối cùng để hoàn tất bài viết Sau khi hoàn chỉnh bài viết cần đọc lại xem có chi tiết nào không chính xác, câu văn và cách dùng
từ có đúng không để sửa chữa lại cho phù hợp Điều đó giúp năng lực sửa chữa bài viết của học sinh được rèn luyện hiệu quả hơn
Trang 261.1.2 Bài tập rèn luyện kỹ năng tạo lập văn bản
1.1.2.1 Bài tập
a Khái niệm bài tập
Bài tập là một khái niệm quen thuộc trong lĩnh vực dạy học, một bài học
lý thuyết thường có phần lý thuyết và phần bài tập Phần bài tập thường có vị trí sau phần lý thuyết, có nhiệm vụ củng cố kiến thức và rèn luyện kỹ năng cho học sinh Ở phần bài tập thực hành rèn luyện kỹ năng thì phần bài tập là chính
Theo cuốn “Từ điển tiếng Việt” do Hoàng Phê chủ biên, khái niệm bài tập có nghĩa là “Bài ra cho học sinh làm để vận dụng những điều đã học” [36, 33]
Trong cuốn “Lý luận dạy học đại cương”, tác giả Nguyễn Ngọc Quang
xem xét khái niệm bài tập trong mối quan hệ với chủ thể nhận thức – người giải
bài tập: “Bài tập trở thành đối tượng hoạt động của một chủ thể khi bài tập đó làm nảy sinh ở người nào đó nhu cầu chọn và giải quyết nó” [37, 30]
Theo cuốn “Dạy học và phương pháp dạy học trong nhà trường”, tác giả Phan Trọng Ngọ quan niệm: “Bài tập bao gồm các hoạt động của học viên được thực hiệ theo yêu cầu của giáo viên, hướng đến việc củng cố những tri thức, kỹ năng, phương pháp hành động đã học” [32, 310]
Trên cơ sở các quan niệm trên, theo chúng tôi: Bài tập là một dạng nhiệm vụ do giáo viên đặt ra cho học sinh, trên cơ sở những thông tin đã biết hoch sinh phải tư duy, suy nghĩ, tìm ra cách giải quyết nhằm lĩnh hội nội dung bài tập, rèn luyện kỹ năng
b Khái niệm hệ thống bài tập
Khái niệm hệ thống bài tập được hiểu là: tập hợp những bộ phận có liên
hệ chặt chẽ với nhau; thứ tự sắp xếp có quy củ; sự liên tục
Bản chất cốt lõi của khái niệm hệ thống được thể hiện ở hai khía cạnh: thứ nhất là mối quan hệ nội tại có tính logic rất rõ của từng thành tố riêng biệt với những thành tố khác trong một dãy các thành tố; thứ hai là tính chất tổng thể, hợp thành của một đối tượng từ những thành tố bộ phận cùng loại hay có cùng chức năng
Trang 27Như vậy, khái niệm hệ thống được hiểu là tập hợp những thành tố có liên
hệ, quan hệ với nhau, tác động lẫn nhau tạo nên một chỉnh thể mới Và hệ thống bài tập là một tập hợp với nhiều bài tập khác nhau được sắp xếp thành các nhóm (trong mỗi nhóm có thể có những nhóm nhỏ hơn) theo một trình tự
có chủ đích nhất định Thông thường để đảm bảo tính khoa học về quá trình nhận thức của người học, hệ thống bài tập sẽ được sắp xếp theo thứ tự từ dễ đến khó, từ đơn giản đến phức tạp, từ những kiến thức đơn lẻ đến những kiến thức tổng hợp nhằm rèn luyện, phát triển những kỹ năng cụ thể cho người học
Tác giả Sharma và R Ahmer cho rằng: “Bản chất hoạt động học tập của học sinh là hoạt động tự học, tự nghiên cứu, giáo viên có thể hướng dẫn học sinh phương pháp học tập bằng nhiều hình thức khác nhau tùy theo tính chất, đặc thù môn học và nội dung của mỗi bài học” [40] Theo ông dù với hình thức
dạy học nào cũng đều phải thực hiện các giai đoạn sau:
Giai đoạn 1: Giáo viên thiết kế bài tập, cung cấp nguồn tài liệu cần thiết cho bài tập và chỉ dẫn cụ thể những gì học sinh phải làm để hoàn thành bài tập
Giai đoạn 2: Giáo viên tổ chức cho học sinh tự nghiên cứu, tự làm bài tập với sự hỗ trợ của những thông tin sẵn có
Giai đoạn 3: Giáo viên làm việc với học sinh trên lớp theo hình thức cá nhân hay tập thể thông qua những hình thức khác nhau: Thảo luận, xemina, củng cố ôn tập, kiểm tra, đánh giá và tự kiểm tra đánh giá
Trang 28Cuối những năm 80 của thế kỷ XX, một số tác giả Liên Xô như: G.C Koschuc, G.A Avanhexop… coi quá trình dạy học là quá trình tổ chức cho học sinh thực hiện các bài tập
Việc đa dạng hóa các loại hình bài tập không chỉ bồi dưỡng cho học sinh
kỹ năng giải quyết các nhiệm vụ học tập một cách linh hoạt, mà còn phát huy tính sáng tạo cho học sinh xử lý trong cùng một tình huống Bản chất của rèn luyện kỹ năng không phải là môn học lý thuyết mà là môn học thực hành Việc cung cấp những kiến thức về lý thuyết cho học sinh là bước chuẩn bị đầu tiên, không phải là mục đích cuối cùng Lẽ đương nhiên muốn viết một bài văn tốt, học sinh phải nắm được lý thuyết, khái niệm về bài văn mình cần làm Nhưng điều quan trọng hơn là phải xác định được yêu cầu của đề, tìm ý, lập dàn ý cho bài văn Vì vậy mà việc đưa ra hệ thống bài tập giúp học sinh hình thành năng lực tạo lập văn bản là rất cần thiết
c Tầm quan trọng của hệ thống bài tập
Trong thực tiễn dạy học ở trường phổ thông, bài tập giữ vai trò rất quan trọng trong việc thực hiện mục tiêu đào tạo Bài tập vừa là mục đích, vừa là nội dung vừa là phương pháp dạy học vô cùng hiệu quả Nó không chỉ cung cấp cho học sinh kiến thức mà còn khơi gợi sự tìm tòi, khám phá của học sinh trong quá trình tìm câu trả lời Không những thế bài tập còn đem đến niềm say mê hứng thú trong quá trình học tập Yếu tố tâm lý là một trong những nhân tố quan trọng trong quá trình nhận thức của học sinh
Trong dạy học, sử dụng bài tập là yêu cầu bắt buộc trong chương trình của mỗi môn học, bài tập chứa đựng nội dung dạy học, vì vậy kiến thức trong mỗi bài tập phải nằm trong hệ thống kiến thức được quy định trong chương trình môn học Giáo viên có thể sử dụng bài tập trong tất cả các khâu của quá trình dạy học: Mở bài tạo tình huống có vấn đề, tổ chức lĩnh hội tri thức mới, củng cố, ôn tập… nhằm hoàn thành các chức năng giáo dục, giáo dưỡng và phát triển dạy học Vì vậy, bài tập có vai trò giúp học sinh nắm vững kiến thức
Trang 29hơn, bài tập cũng là một phương tiện giáo dục tốt Bên cạnh đó, bài tập còn có khả năng phát triển trí tuệ, tình cảm của học sinh rất hiệu quả
Như vậy, tổ chức thực hành qua hệ thống bài tập sẽ rất thuận lợi cho việc đánh giá nhận thức chung của học sinh cả lớp, cũng như trình độ nhận thức cụ thể của từng học sinh Đồng thời học sinh cũng được bổ cứu kịp thời những ưu khuyết điểm trong cách viết của mình ngay ở từng tiết học
1.1.2.2 Các dạng bài tập rèn luyện kỹ năng tạo lập văn bản
a Bài tập nhận diện
Bài tập nhận diện là dạng bài tập cơ bản đầu tiên giúp học sinh rèn luyện
kỹ năng tạo lập văn bản Bởi muốn học sinh có thể tạo lập văn bản một cách tốt nhất, giáo viên cần phải đưa ra hệ thống bài tập từ dễ đến khó, từ đơn giản đến phức tạp Từ đó, giúp các em dần làm quen với các kiểu văn bản mà giáo viên đưa ra Bài tập nhận diện là dạng bài tập đơn giản nhất mà học sinh có thể dễ dàng hoàn thành Loại bài tập này cho trước một ngữ liệu có sẵn hoặc các văn bản mẫu và yêu cầu học sinh nhận diện một hoặc một vài yếu tố theo như đề bài đưa ra
Khi dạy về văn bản thuyết minh, giáo viên có thể đưa ra bài tập nhận diện
để tìm hiểu đề; bài tập nhận diện để tìm ý, lập dàn ý và bài tập nhận diện các đoạn mở bài, thân bài, kết bài trong văn bản đó
Khi làm dạng bài tập này, học sinh vừa được khắc sâu lý thuyết và vừa biết vận dụng lý thuyết vào thực hành
Trang 30- Bài tập tạo lập theo những yêu cầu nhất định: Bài tập này cho sẵn một phần của sản phẩm và yêu cầu học sinh tạo lập tiếp theo yêu cầu của đề bài đưa ra
- Bài tập tạo lập sản phẩm chỉ dựa vào những yêu cầu nhất định: Loại bài tập này không có mẫu, cũng không có bộ phận nào cho trước mà chỉ có những yêu cầu về một phương diện nào đó của sản phẩm Có thể có nhiều mức độ yêu cầu từ ít đến nhiều, từ đơn giản đến phức tạp
c Bài tập sửa chữa
Đây là dạng bài tập yêu cầu học sinh phân tích và sửa chữa lỗi theo yêu cầu nào đó Loại bài tập này được sử dụng khá linh hoạt: có thể dẫn ra những lỗi trong cách diễn đạt, dùng từ, dùng câu; lỗi thiếu ý, nhầm ý,… những lỗi mà học sinh hay mắc phải trong quá trình giải quyết bài tập cũng cần được giáo viên đưa ra Học sinh sẽ dựa vào yêu cầu của từng bài cụ thể để tiến hành sữa chữa các lỗi cho đúng Dạng bài tập này giúp các em củng cố kiến thức và rèn luyện các kỹ năng cần thiết để tạo lập văn bản
1.1.3 Đặc điểm tâm lí của học sinh lớp 8
Lứa tuổi học sinh Trung học cơ sở, cụ thể là học sinh lớp 8 có một vị trí đặc biệt quan trọng trong thời kỳ phát triển của trẻ em Đây là lứa tuổi có bước nhảy vọt về thể chất lẫn tinh thần, các em đang tách dần khỏi thời ấu thơ để tiến sang giai đoạn phát triển cao hơn tạo nên nội dung cơ bản và sự khác biệt trong mọi mặt phát triển: thể chất, trí tuệ, tình cảm, đạo đức… của thời kỳ này
Ở lứa tuổi thiếu niên có sự phát triển song song “vừa tính trẻ con, vừa tính người lớn”, điều này phụ thuộc vào sự phát triển mạnh mẽ về cơ thể, điều kiện sống, hoạt động… của các em Vì thế việc giáo dục đạo đức cũng như việc định hướng học tập cho các em là điều hết sức cần thiết
Ở lứa tuổi này các em có nhu cầu phát triển năng lực rất cao, các em cũng khao khát được tìm hiểu, khám phá thế giới xung quanh Vì vậy giáo viên phải là người định hướng, khơi nguồn để các em học tập trau dồi kiến thức Bên cạnh đó, cần rèn luyện cho các em những năng lực cần thiết trong học tập như
Trang 31năng lực tư duy, năng lực giao tiếp, năng lực sáng tạo, năng lực tưởng tượng, năng lực quan sát, năng lực cảm thụ thẩm mỹ, năng lực tạo lập văn bản…
Như vậy, có thể khẳng định rằng việc tìm hiểu đặc điểm tâm lý học lứa tuổi học sinh lớp 8 là cơ sở để đưa ra hệ thống bài tập phù hợp giúp học sinh hình thành năng lực tạo lập văn bản thuyết minh
1.2 Cơ sở thực tiễn
1.2.1 Nội dung dạy học văn bản thuyết minh trong sách giáo khoa Ngữ văn 8
Sách giáo khoa Ngữ văn 8, đã phân bố 13 tiết dạy về văn bản thuyết minh tương ứng với các bài học:
- Tìm hiểu chung về văn bản thuyết minh
- Phương pháp thuyết minh
- Đề văn thuyết minh và cách làm bài văn thuyết minh
- Luyện nói: Thuyết minh về một thứ đồ dùng
- Viết bài tập làm văn số 3 - Văn thuyết minh
- Thuyết minh về một thể loại văn học
- Trả bài làm văn số 3
- Viết đoạn văn trong văn bản thuyết minh
- Thuyết minh về một phương pháp (cách làm)
- Thuyết minh về một danh lam thắng cảnh
- Ôn tập về văn bản thuyết minh
- Viết bài tập làm văn số 5 - Văn thuyết minh
- Trả bài làm văn số 5
Qua việc khảo sát sách giáo khoa Ngữ văn 8, chúng tôi thấy nổi lên một
số vấn đề cần được chú ý khi đề xuất hệ thống bài tập nhằm hình thành năng lực tạo lập văn bản thuyết minh trong luận văn của mình:
Phần Làm văn trong sách giáo khoa Ngữ văn 8 chương trình chỉnh lý,
hợp nhất 2000 có phần lý thuyết và thực hành đan xen nhau Bên cạnh việc đưa
ra lý thuyết của văn thuyết minh như: khái niệm, vai trò và đặc điểm chung, các
Trang 32phương pháp thuyết minh; sách giáo khoa Ngữ văn 8 còn đưa ra cách làm các
dạng bài văn thuyết minh như: thuyết minh về một thứ đồ dùng, thuyết minh về một thể loại văn học, thuyết minh về một phương pháp, thuyết minh về một danh lam thắng cảnh
Tất cả các bài tập lý thuyết đều có hai phần rõ rệt: phần lý thuyết và phần thực hành Phần kiến thức lý thuyết được trình bày theo kiểu giải thích minh họa, chỉ cung cấp lý thuyết có sẵn mà ít quan tâm đến việc gợi mở, tổ chức cho học sinh khám phá và chiếm lĩnh các tri thức Phần thực hành tách riêng, không xen kẽ vào quá trình học lý thuyết Chính việc này đã không phát huy được tính tích cực, chủ động, sáng tạo của học sinh trong quá trình học tập
Nội dung các bài tập về làm văn trong sách giáo khoa còn thiên về lý
thuyết trong khi đó phương pháp dạy học làm văn khẳng định “Bản thân những tiết học lý thuyết không thể tạo nên được những kỹ năng làm văn” Và “Làm văn cần thực hành tổng hợp, cần đặt yêu cầu kỹ năng thực hành cao hơn yêu cầu tri thức” Vì vậy, lý thuyết không phải là mục đích cuối cùng của làm văn
mà chỉ là cơ sở để rèn luyện các kỹ năng làm văn
Bên cạnh đó, việc xây dựng hệ thống bài tập để hình thành và rèn luyện năng lực tạo lập văn bản thuyết minh cho học sinh cũng ít được quan tâm Do đặc thù có tính chất công cụ, sách giáo khoa cũng chỉ nêu lên những định hướng dạy học làm văn thuyết minh giúp giáo viên và học sinh tiếp cận, có sự hiểu biết cơ bản về văn bản thuyết minh, còn để hình thành và rèn luyện cho học sinh năng lực tạo lập văn bản thuyết minh một cách có hệ thống thì sách giáo khoa vẫn chưa có điều kiện đi sâu tìm hiểu
1.2.2 Thực trạng dạy học văn thuyết minh ở lớp 8
1.2.2.1 Khảo sát hoạt động nhằm hình thành năng lực tạo lập văn bản thuyết minh cho học sinh lớp 8
* Khảo sát tình hình dạy của giáo viên
Để có thêm tư liệu cho luận văn, chúng tôi đã tiến hành khảo sát tình hình dạy của giáo viên qua phiếu điều tra
Trang 33Câu hỏi
Trả lời
Số lượng Tỉ lệ
(%)
1 Thầy cô cảm thấy như thế nào khi dạy các bài học
về văn bản thuyết minh?
2 Thầy cô thấy học sinh có hứng thú trong giờ học
văn thuyết minh không?
3 Theo thầy cô, học sinh hứng thú nhất với phần nào
khi học về văn bản thuyết minh?
A Học lý thuyết về văn thuyết minh
B Viết bài văn thuyết minh
C Luyện nói về văn thuyết minh
A Tri thức cung cấp phải khách quan, xác thực và
hữu ích đối với con người
5 Thầy cô thường định hướng cho học sinh sử dụng
các phương pháp nào khi làm bài văn thuyết minh?
A Phương pháp nêu định nghĩa, giải thích;
Phương pháp liệt kê; Phương pháp nêu ví dụ;
Phương pháp dùng số liệu; Phương pháp so
sánh; Phương pháp phân loại phân tích
B Phương pháp định nghĩa, giải thích
C Phương pháp phân loại phân tích
Trang 34Câu hỏi
Trả lời
Số lượng Tỉ lệ
(%)
6 Khi rèn luyện cho học sinh viết bài văn thuyết
minh, thầy cô tiến hành theo phương pháp nào?
7 Thầy cô có nhận xét gì về bài tập được đưa vào
trong sách giáo khoa?
8 Thầy cô hình thành và rèn luyện năng lực tạo lập
văn bản thuyết minh vào lúc nào?
A Trong giờ lý thuyết
9 Thầy cô đánh giá như thế nào về phần lý thuyết và
phần thực hành làm văn thuyết minh trong sách
giáo khoa?
A Nội dung đề cập chưa sâu, thời gian dành cho
thực hành còn ít
B Kiến thức đưa ra còn chung chung
C Hệ thống bài tập chưa đa dạng về mức độ
10 Thầy cô có nhận xét gì về bài làm của học sinh
sau khi học phần này?
A Học sinh không biết cách lập dàn ý
B Ngôn ngữ nghèo nàn, yếu về cách diễn đạt
C Thông tin đưa ra thuyết minh không chính xác
Trang 35Căn cứ vào những gì khảo sát được của giáo viên lớp 8 ở một số trường, chúng tôi có những nhận xét như sau:
Hầu hết các giáo viên đều nắm được phương pháp dạy học tích hợp Quá trình lên lớp đã áp dụng các phương pháp dạy học này còn nhiều hạn chế Giáo viên chỉ lấy những ví dụ trong sách giáo khoa trong khi đó nhiều bài cần lấy thêm ví dụ ở ngoài để giờ học sinh động hơn
Việc dạy lý thuyết tập làm văn còn nhiều lúng túng: lúng túng về nội dung khoa học, lúng túng về phương pháp tiến hành Bên cạnh đó, không ít giáo viên tách bạch giữa lý thuyết và thực hành Hình thành lý thuyết một cách có hệ thống
là cần thiết, nhưng lý thuyết thực sự được củng cố qua hệ thống bài tập
Với tiết dạy thực hành, giáo viên đều cho học sinh thực hành vào sách
giáo khoa hoặc sách bài tập Ngữ văn, còn các hình thức khác thì ít được sử dụng, đặc biệt là hình thức thực hành theo tiến trình “xây dựng các kỹ năng làm văn” Điều đó giúp học sinh củng cố được kiến thức vừa học nhưng kiểu thực
hành đó không tạo cho người học một cái nhìn tổng quát
Giáo viên hầu hết đều nắm được lý thuyết về văn bản thuyết minh nhưng việc đưa vào thực hành, rèn luyện cho học sinh năng lực viết văn, năng lực tạo lập văn bản vẫn còn nhiều thiếu sót Một phần vì giờ thực hành quá ít so với giờ lý thuyết, một phần vì bài tập được đưa ra trong sách giáo khoa chưa đa dạng về mức độ và chưa hệ thống
* Khảo sát tình hình học của học sinh
2 Khi học về văn bản thuyết minh em có cảm
thấy dễ tiếp thu không?
Trang 36Câu hỏi
Trả lời
Số lượng Tỉ lệ
%
3 Theo em, để rèn luyện kỹ năng tạo lập văn bản
thuyết minh ta cần tiến hành lần lượt những
4 Em có thực hiện đầy đủ các bước khi làm bài
văn thuyết minh không?
C Thuyết minh về một thể loại văn học
D Thuyết minh về một danh lam thắng cảnh
Trang 37Câu hỏi
Trả lời
Số lượng Tỉ lệ
%
7 Theo em, thời gian dành cho việc thực hành rèn
luyện năng lực tạo lập văn bản thuyết minh
hiện nay như thế nào?
8 Em có nhận xét gì về bài tập được đưa vào sách
giáo khoa nhằm hình thành năng lực tạo lập
văn bản thuyết minh?
A Bài tập tương đối hay và đầy đủ
B Bài tập chưa đa dạng về mức độ và cũng
A Dựa vào bài văn mẫu (chép hoặc học thuộc)
B Tự tìm kiếm tài liệu và suy nghĩ tìm ý và lập
dàn ý sau đó viết thành bài văn
Qua kết quả khảo sát, chúng tôi nhận thấy đa số học sinh còn mơ hồ về
về cách thức làm bài văn thuyết minh Các em chưa nắm được cụ thể từng bước
để làm một bài văn thuyết minh Các kỹ năng tạo lập văn bản thuyết minh chưa được rèn luyện thành thạo như: Phân tích đề; tìm ý và lập dàn ý; viết thành bài
Trang 38văn; đọc lại và sửa lỗi Học sinh tuy được giảng dạy khá kĩ nhưng vẫn còn khá
lơ mơ về kiểu bài văn này
Hệ thống bài tập trong sách giáo khoa cũng như do giáo viên đưa ra vẫn chưa đa dạng về mức độ Vì thế mà học sinh cũng khó có thể hình thành cho mình năng lực tạo lập văn bản thuyết minh một cách hoàn thiện
Để khắc phục những hạn chế trên việc xây dựng hệ thống bài tập cho học sinh hình thành và rèn luyện năng lực là hết sức cần thiết
1.2.2.2 Khảo sát năng lực tạo lập văn bản thuyết minh của học sinh lớp 8
Để khảo sát năng lực tạo lập văn bản thuyết minh của học sinh lớp 8, chúng tôi đã đi thực tế ở một số trường
a) Ưu điểm
Theo như kết quả khảo sát chúng tôi nhận thấy học sinh ở thành phố có khả năng viết văn thuyết minh tốt hơn so với học sinh vùng nông thôn Chúng tôi có thể trích dẫn một số bài văn của học sinh khá, giỏi để minh họa:
Đề bài 1: Thuyết minh về cái phích nước
Bài làm: Phích nước là đồ dùng để giữ nhiệt cho nước nóng, rất thông dụng và thường có trong mọi gia đình
Phích nước có rất nhiều loại được làm từ những vật liệu khác nhau, có cấu tạo và hình dáng khác nhau, về hình dáng phích nước thường có hình trụ, cao khoảng 35 - 40cm, giúp cho phích có thể đứng thẳng mà không bị đổ
Về cấu tạo: Phích nước được làm theo nguyên lý chống sự truyền nhiệt của nước, gồm hai bộ phận: ruột phích và vỏ phích Ruột phích là bộ phận quan trọng nhất Nó được làm bằng hai lớp thuỷ tinh Ở giữa là môi trường chân không làm mất khả năng truyền nhiệt của nước ra ngoài, ở phía trong lòng và ngoài của ruột phích là lớp thuỷ tinh được tráng bạc có tác dụng hắt nhiệt trở lại
để giữ nhiệt Càng lên trên cao đầu phích, miệng phích càng nhỏ lại để giảm khả năng truyền nhiệt của nước Gắn với chiếc miệng nhỏ nhắn là cái nút có thể làm bằng gỗ hoặc bằng nhựa cứng luôn vừa khớp với miệng phích để cản trở sự thoát hơi nước và sự đối lưu truyền nhiệt của nước
Trang 39Ruột phích có hiệu quả giữ nhiệt cho nước rất tốt, trong vòng 6 tiếng đồng hồ, nước từ 100°C còn giữ được 70°C sẽ đảm bảo dùng nước được lâu và nước đủ nhiệt để pha chế trà, cà phê tạo nên một nét đẹp văn hoá vừa mang tính chất cổ truyền của dân tộc vừa mang một phong cách hiện đại còn gọi là nét văn hoá "cafe" đậm đà bản sắc dân tộc Chính vì ruột phích được làm bằng hai lớp thuỷ tinh nên rất dễ vỡ Vì vậy, vỏ phích là lớp để bảo quản ruột phích như là một tấm bình phong, vỏ phích ngày xưa có thể làm bằng tre, mây, sắt, nhôm Ngày nay công nghiệp nhựa phát triển, vỏ phích cũng được thay thế dần bằng nhựa cứng vừa nhẹ, đẹp lại vừa bền và tốt Gắn trên vỏ phích là một chiếc quai bằng nhựa, sắt tuỳ theo từng loại phích, chiếc quai đó có thể quay
đi quay lại một cách dễ dàng giúp chúng ta có thể xách di chuyển đi chỗ khác
mà không phải bưng bê Trên chiếc nút phích là nắp phích, nó có chức năng năng bảo vệ nút phích không cho trò em nghịch ngợm gây bỏng nước nóng Nút phích bằng các lớp ren xoáy chặt với miệng phích Chiếc nắp phích đó có thể lấy làm cốc đựng nước cũng được
Để bảo quản phích lâu hỏng ta nên làm một chiếc khung bằng gỗ để đặt phích và giữ chặt lấy phích Đặt khuôn giữ phích ở nơi khô ráo, sạch sẽ, tránh nóng và xa tầm tay của trẻ em Nếu để phích không đúng quy cách có thể gây tai nạn bỏng nặng vì phích giữ nhiệt cho nước sôi khá lâu
Điều quan trọng nhất là ta phải giữ gìn chiếc nút phích, vì nút phích để giữ khoảng chân không góp phần làm giảm khả năng truyền nhiệt của nước Chúng ta nên lưu ý khi rót nước nóng vào phích phải rót từ từ để ruột phích dễ thích nghi với nhiệt độ cao thì phích sẽ lâu hỏng hơn khi chúng ta không làm như vậy Khi rót nước xong phải đậy nút phích cẩn thận Đối với nút phích bằng nhựa thì phải xoáy đúng ren, xoáy thật chặt, còn với nút phích bằng gỗ ta cũng phải đậy cho vừa khít để nước nóng được lâu Nếu chúng ta không làm đúng cách thì ruột phích sẽ chóng hỏng vì không khí bên ngoài xâm nhập vào ruột phích
Trang 40Phích nước là một đồ dùng rất tiện lợi cho cuộc sống hàng ngày trong mỗi gia đình Nó như người bạn thân trong mỗi gia đình Sáng sớm bác nông dân mang phích nước nóng ra đồng pha ấm trà nóng, rít điếu thuốc lào khi đã cày xong thửa ruộng thì sảng khoái biết bao Khách đến chơi nhà không phải
"đốt than quạt nước" vì đã có phích ủ sẵn nước nóng pha trà mời khách rồi Như vậy có thể nói: Phích nước đã góp phần tạo nên một nét đẹp văn hoá ở Việt Nam
Nhận xét: Số học sinh làm khá đầy đủ các ý từ cấu tạo, hình dáng, chất liệu đến công dụng, chức năng không nhiều Tuy nhiên bài văn này vẫn thiếu ý về nguồn gốc, xuất xứ của phích nước Cách trình bày tương đối chặt chẽ, súc tích
Đề bài 2: Thuyết minh về chiếc bàn học
Bài làm: Chiếc bàn học là một đồ dùng học tập và sinh hoạt rất thân thiết
với mỗi chúng ta thời cắp sách tới trường Chiếc bàn học là người bạn gần gũi,
thân thuộc của mỗi lứa tuổi học sinh lúc ở trường cũng như lúc ở nhà
Chiếc bàn học xuất hiện từ thời xa xưa, khi con người có kiến thức thì
chiếc bàn học được ra đời, theo thời gian qua nhiều giai đoạn nhiều quá trình con người đã thiết kế ra một sản phẩm đa dạng - chiếc bàn học phù hợp với mọi lứa tuổi học sinh để phục vụ nhu cầu học tập, sinh hoạt của con người
Trên thị trường hiện nay có rất nhiều loại bàn học đa dạng phong phú với nhiều hãng khác nhau, giá cả phù hợp với túi tiền của người mua Mỗi học sinh ngoài học ở trường ban ngày còn phải tự học ở nhà nên ngày nay, cho ra đời hai loại bàn phổ biến bàn học trên lớp và bàn học ở nhà Đặc biệt khi viết muốn nét chữ được đẹp, mềm mại, việc học trở nên dễ dàng hơn thì chiếc bàn học nào cũng vậy, phải có mặt bàn phẳng, nhẵn Nếu mặt bàn gồ ghề thì chắc hẳn mỗi học sinh đều thấy chán nản với việc học, không thích góc học tập của mình Vật liệu để làm chiếc bàn học thường bằng gỗ, nhưng phần lớn bằng gỗ thường, bàn học thường gồm: mặt bàn, ngăn bàn và chân bàn
Ở trường học hiện nay, chiếc bàn học thường gắn liền với ghế ngồi để tránh những trường hợp ghế bị đổ Mặt bàn phẳng, hình chữ nhật, có chiều dài