Đặc điểm phân chia môi trường sinh thái đất vùng đất bán ngập lòng hồ thủy điện Sơn La .... Để có thể đánh giá đúng đắn lợi ích của một dự án thủy điện, tất cả các yếu tố nêu trên cần đư
Trang 1ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
HOÀNG THỊ THU HƯỜNG
ĐÁNH GIÁ ĐẶC ĐIỂM, ĐIỀU KIỆN MÔI TRƯỜNG SINH THÁI VÙNG BÁN NGẬP
LÒNG HỒ THỦY ĐIỆN SƠN LA
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC MÔI TRƯỜNG
Thái Nguyên, năm 2017
Trang 2ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
HOÀNG THỊ THU HƯỜNG
ĐÁNH GIÁ ĐẶC ĐIỂM, ĐIỀU KIỆN MÔI TRƯỜNG SINH THÁI VÙNG BÁN NGẬP
LÒNG HỒ THỦY ĐIỆN SƠN LA
Ngành: Khoa học môi trường
Mã số: 60.44.03.01
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC MÔI TRƯỜNG
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Đàm Xuân Vận
Thái Nguyên, năm 2017
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan bản luận văn này do chính tôi thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS Đàm Xuân Vận
Các số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn là trung thực và chưa hề được công bố hoặc sử dụng để bảo vệ một học hàm nào
Các thông tin trích dẫn trong luận văn này đều đã được chỉ rõ nguồn gốc Nếu sai tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm
Thái Nguyên, tháng 04 năm 2017
Học viên
HOÀNG THỊ THU HƯỜNG
Trang 4
LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành luận văn này, tôi đã nhận được sự giúp đỡ tận tình của các thầy cô giáo và sự quan tâm giúp đỡ của các cơ quan, các đồng nghiệp và gia đình Nhân dịp này tôi xin bày tỏ lòng biết ơn tới:
Ban giám hiệu, Phòng quản lý đào tạo Sau đại học Trường Đại học Nông Lâm - Đại học Thái Nguyên
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc, lời cảm ơn chân thành đến PGS.TS Đàm Xuân Vận đã tận tình hướng dẫn để tôi hoàn thành luận văn này
Tôi xin chân thành cảm ơn Lãnh đạo UBND huyện Mường La - tỉnh Sơn La, Viện kỹ thuật và công nghệ môi trường
Xin cảm ơn các cơ quan, tổ chức, các thầy cô giáo, các đồng nghiệp và gia đình đã giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn này
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Thái Nguyên, ngày 12 tháng 04 năm 2017
Tác giả
HOÀNG THỊ THU HƯỜNG
Trang 5DANH MỤC BẢNG
Bảng 2.1 Vị trí lấy mẫu đất vùng bán ngập lòng hồ thủy điện Sơn La 18
Bảng 2.2 Các thông số được phân tích mẫu đất 19
Bảng 2.3 Vị trí lấy mẫu nước vùng bán ngập lòng hồ thủy điện Sơn La 21
Bảng 2.4 Các thông số được phân tích mẫu nước 21
Bảng 3.1 Cơ cấu dân tộc ở khu vực dự án 30
Bảng 3.2 Tốc độ tăng trưởng kinh tế Tây Bắc 33
Bảng 3.3 Tổn thất về cơ sở hạ tầng 34
Bảng 3.3 Tổng hợp diện tích đất bán ngập hồ Sơn La tại địa bàn các huyện có tái định cư ven hồ 38
Bảng 3.4 Diện tích đất bán ngập có khả năng sử dụng trồng trọt phân theo địa bàn các xã có tái định cư ven hồ Sơn La 39
Bảng 3.5 Kết quả phân tích mẫu đất vùng bán ngập xã Mường Trai, huyện Mường La, tỉnh Sơn La 44
Bảng 3.6 Phân tích theo cao trình ngập tại thị trấn Ích Ong, xã Mường Trai, xã Mường Sại và xã Cà Nàng 48
Bảng 3.7 Kết quả phân tích nước theo độ sâu ở vùng bán ngâ ̣p tại xã Mường Trai 58
Trang 6DANH MỤC HÌNH
Hình 3.1 Thể hiện giá trị PH đất của 3 loại đất trên 44 Hình 3.2 Hàm lượng Mùn trong đất bán ngập tại xã Mường Trai 45 Hình 3.3 Hàm lượng Nitơ, P2O5, K2O, trong 3 loại đất bán ngập tại
xã Mường Trai 45 Hình 3.4 Nồng độ As so với QCVN 03 46 Hình 3.5 Nồng độ Pb so với QCVN 03 46 Bảng 3.6 Phân tích theo cao trình ngập tại thị trấn Ích Ong, xã Mường Trai, xã Mường Sại và xã Cà Nàng 48 Hình 3.6 Hàm lượng cát, limon và sét tại thị trấn Ích Ong, xã Mường Trai, xã Mường Sại và xã Cà Nàng 49 Hình 3.7 Giá trị pH theo cao trình ngập tại thị trấn Ích Ong, xã Mường Trai, xã Mường Sại và xã Cà Nàng 50 Hình 3.8 Hàm lượng đạm theo cao trình ngập tại thị trấn Ích Ong, 51
xã Mường Trai, xã Mường Sại và xã Cà Nàng 51 Hình 3.9 Hàm lượng Mùn theo cao trình ngập tại thị trấn Ích Ong, xã Mường Trai,
xã Mường Sại và xã Cà Nàng 51 Hình 3.10 Hàm lượng Ca2+, Mg2+, Al3+ tại thị trấn Ích Ong, xã Mường Trai, xã Mường Sại và xã Cà Nàng 52 Hình 3.11 Hàm lượng K2O và P2O5 tại thị trấn Ích Ong, xã Mường Trai, xã Mường Sại và xã Cà Nàng 54 Hình 3.12 Diễn biến, biến đổi theo độ sâu môi trường nước vùng bán ngập tại xã Mường Trai 58
Trang 7MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Đă ̣t vấn đề 1
2 Mục tiêu của đề tài 2
3 Yêu cầu của đề tài 3
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4
1.1 Cơ sở khoa ho ̣c 4
1.1.1 Cơ sở lý luâ ̣n 4
1.1.2 Căn cứ pháp lý 9
1.2 Nghiên cứu về môi trường sinh thái đất ngập nước trên thế giới và Việt Nam 11
1.2.1 Sinh thái đất ngập nước trên thế giới 11
1.2.2 Sinh thái đất ngập nước ở Việt Nam 12
1.2.3 Đất ngập nước ở Sơn La 16
CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 17
2.1 Đối tượng nghiên cứu và pha ̣m vi nghiên cứu 17
2.1.1 Đối tượng nghiên cứu 17
2.1.2 Phạm vi nghiên cứu 17
2.1.3 Đi ̣a điểm thực hiê ̣n và thời gian thực hiê ̣n 17
2.2 Nội dung nghiên cứu 17
2.3 Phương pháp nghiên cứu 17
2.3.1 Các phương pháp lấy mẫu, phân tích, đo đạc 17
2.3.2 Phương pháp thu thâ ̣p tài liê ̣u, số liê ̣u, thông tin thứ cấp 21
2.3.3 Phương pháp xử lý số liê ̣u 22
2.3.4 Phương pháp so sánh 22
2.3.5 Phương pháp tham khảo ý kiến của chuyên gia 22
CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 23
3.1 Điều kiê ̣n tự nhiên - kinh tế xã hô ̣i khu vực nghiên cứu 23
3.1.1 Điều kiê ̣n tự nhiên 23
3.1.2 Điều kiê ̣n kinh tế - xã hô ̣i 30
Trang 83.2 Đă ̣c điểm, điều kiê ̣n môi trường đất bán ngâ ̣p lòng hồ thủy điện Sơn La 42
3.2.1 Đặc điểm phân chia môi trường sinh thái đất vùng đất bán ngập lòng hồ thủy điện Sơn La 42
3.2.2 Nhận xét và đánh giá đặc điểm, tính chất đất bán ngập tại xã Mường Trai 44
3.2.3 Đặc điểm, tính chất đất theo cao trình ngập ở vùng bán ngập tại thị trấn Ích Ong, xã Mường Trai, xã Mường Sại và xã Cà Nàng 47
3.3 Đă ̣c điểm, điều kiê ̣n môi trường nước vùng bán ngập lòng hồ thủy điện Sơn La 55
3.4 Đă ̣c điểm, điều kiê ̣n môi trường hê ̣ đô ̣ng - thực vâ ̣t vùng bán ngâ ̣p lòng hồ thủy điê ̣n Sơn La 60
3.4.1 Đặc trưng ban đầu của hệ thực vật vùng đất bán ngập lưu vực thủy điện Sơn La 60
3.4.2 Thực vật vùng bán ngập lòng hồ thủy điện Sơn La 62
3.4.3 Đô ̣ng vâ ̣t vùng bán ngập lòng hồ thủy điện Sơn La 65
3.5 Các biê ̣n pháp bảo vê ̣ môi trường sinh thái vùng bán ngâ ̣p lòng hồ thủy điê ̣n Sơn La 67
3.5.1 Giải pháp đối với môi trường sinh thái đất ở vùng bán ngâ ̣p lòng hồ thủ y điê ̣n Sơn La 67
3.5.2 Giải pháp đối với môi trường nước vùng bán ngâ ̣p lòng hồ thủy điê ̣n Sơn La 68
3.5.3 Giải pháp bảo vê ̣ đô ̣ng thực vâ ̣t ở vùng bán ngâ ̣p lòng hồ thủy điê ̣n Sơn La 69 3.5.4 Đề xuất giải pháp sinh kế cho người dân vùng bán ngâ ̣p lòng hồ thủ y điê ̣n Sơn La 70
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 73
I Kết luâ ̣n 73
II Kiến nghi ̣ 74
TÀI LIỆU THAM KHẢO 75
PHỤ LỤC 78
Trang 9DANH MỤC CÁC THUẬT NGỮ VIẾT TẮT
Trang 10MỞ ĐẦU
Trái Đất là ngôi nhà chung của thế giới, là nơi sự sống con người được sinh sôi nảy nở Sự phát triển mạnh mẽ và liên tục của các cuộc Cách mạng công nghiệp, Cách mạng khoa học kỹ thuật cùng với quá trình Công nghiệp hoá trong hơn 3 thế
kỷ qua đã và đang làm biến đổi nhanh chóng và sâu sắc không chỉ bộ mặt của xã hội, loài người và cả tự nhiên Những biến đổi đó một mặt đất thúc đẩy nền văn minh hiện đại tiến nhanh hơn bất kỳ một giai đoạn lịch sử nào trước đây, song mặt khác cũng đang bộc lộ tất cả những mâu thuẫn gay gắt chưa thể điều hoà được giữa
sự tiến bộ của khoa học, kỹ thuật và công nghệ với việc bảo vệ những điều kiện tự nhiên cần cho sự tồn tại và phát triển của xã hội loài người Cùng với sự phát triển nhanh chóng của kinh tế cũng là sự suy thoái trầm trọng về môi trường sinh thái Đó không còn là vấn đề của riêng một quốc gia nào mà giờ đây ô nhiễm môi trường, suy thoái sinh thái đã trở thành mối quan tâm, lo lắng của toàn nhân loại vì sự sống còn của thế giới
Việt Nam tuy mới bước vào con đường phát triển kinh tế nhưng đã phải đối mặt với nhiều vấn đề môi trường nghiêm trọng Từ thực tiễn nghiên cứu và giải quyết các vấn đề sinh thái của thời đại và trong điều kiện cụ thể của nước ta hiện nay đã nảy sinh nhu cầu cấp thiết cần phải có một cơ sở lí luận - phương pháp luận chung làm nền tảng cho việc xem xét mối quan hệ giữa tự nhiên - con người - xã hội, đặc biệt là vai trò ngày càng to lớn của con người trong việc làm biến đổi tự nhiên
Như chúng ta đã biết, các dự án thủy điện thường nằm ở những vùng rừng núi nên khi xây dựng cần phải khai quang một diện tích lớn để xây các công trình như: đường sá, đập, nhà máy, đường dây dẫn điện Phần lòng hồ sẽ bị ngập nước cũng phải được khai quang, và dân cư trong vùng phải được dời đi chỗ khác Những hoạt động này sẽ ảnh hưởng lên môi trường thiên nhiên đã có sẵn trước đó và tác động lên hệ sinh thái của khu vực Đời sống của dân cư trong vùng cũng như các giá trị văn hóa lịch sử của khu vực dự án cũng sẽ bị thay đổi hoặc biến mất hoàn toàn Để có thể đánh giá đúng đắn lợi ích của một dự án thủy điện, tất cả các yếu tố nêu trên cần được phân tích đầy đủ, kể cả những thiệt hại hay lợi ích không thể hoặc rất khó định lượng theo các chỉ tiêu giá trị
Trang 11Bên cạnh những lợi ích về mặt kinh tế và năng lượng do việc làm thủy điện mang lại, chúng ta cũng cần phải đánh giá những ảnh hưởng đến điều kiện tự nhiên như: khi thực hiện công việc tích nước lòng hồ sẽ khiến hàng trăm nghìn hecta rừng
bị hủy hoại trực tiếp, các vùng dân cư lòng hồ thủy điện (phần lớn là người dân tộc) sau khi di dân đến địa phương mới sẽ tiếp tục có những hành động gây ảnh hưởng đến hệ sinh thái rừng đó là hủy hoại rừng một cách gián tiếp,các hệ sinh thái rừng trước đó sẽ được thay thế bằng hệ sinh thái nước ngọt, hệ sinh thái nước chảy sẽ được thay thế bằng hệ sinh thái nước lặng… Từ những thay đổi đó sẽ gây nên những ảnh hưởng đến các vấn đề như: khí hậu, địa chất, tài nguyên thiên nhiên cũng như thay đổi về văn hóa, xã hội
Những biến đổi to lớn về điều kiện tự nhiên do việc xây dựng nhà máy thủy điện Sơn La mang lại sẽ có ảnh hưởng tích cực cũng như tiêu cực đến điều kiện thời tiết và hệ sinh thái của vùng bán ngập lòng hồ thủy điện Sơn La
Xuất phát từ vấn đề trên và dưới sự hướng dẫn trực tiếp của thầy giáo
PGS.TS Đàm Xuân Vận, em tiến hành nghiên cứu đề tài: “Đánh giá đặc điểm,
điều kiê ̣n môi trường sinh thái vùng bán ngập lòng hồ thủy điện Sơn La”
Đánh giá đặc điểm, điều kiê ̣n môi trường sinh thái vùng bán ngâ ̣p lòng hồ thủy điện Sơn La Trên cơ sở đánh giá phân tích, đề xuất một số giải pháp, biện pháp bảo vệ môi trường sinh thái, giải pháp sinh kế cho người dân ở vùng bán ngâ ̣p
lòng hồ thủy điê ̣n Sơn La
- Đánh giá, phân tích đặc điểm, điều kiê ̣n môi trường đất tại vùng bán ngâ ̣p lòng
hồ thủy điện Sơn La
- Đánh giá, phân tích đặc điểm, điều kiê ̣n môi trường nước vùng bán ngâ ̣p
lòng hồ thủy điện Sơn La
- Đánh giá đặc điểm của hệ động, thực vật, vùng bán ngâ ̣p lòng hồ thủy điện Sơn La
- Đề xuất giải pháp phù hợp đảm bảo cho các vấn đề môi trường đất, nước, động thực vật tại vùng bán ngâ ̣p lòng hồ thủy điện Sơn La
Trang 12- Đề xuất giải pháp sinh kế cho người dân vùng bán ngâ ̣p lòng hồ thủy điê ̣n Sơn La
a Yêu cầu chung
- Đánh giá trung thực, khách quan về môi trường sinh thái vùng bán ngập
lòng hồ thủy điện Sơn La
- Kết quả phân tích thông số, phải đảm bảo khách quan, đúng quy định về QCVN, TCVN về lấy mẫu, bảo quản mẫu và phân tích mẫu
- Những kiến nghị đưa ra phải có tính khả thi với điều kiện của khu vực đó
Trang 13CHƯƠNG 1
1.1.1 Cơ sơ ̉ lý luận
1.1.1.1 Kha ́ i niê ̣m môi trường sinh thái
Môi trường sinh thái: là một trong những vấn đề được đề cập đến khá nhiều
trong thời gian qua ở nước ta trên các bình diện khác nhau
Theo định nghĩa (Nguyễn Thế Thôn, 2000), Môi trường sinh thái là môi trường sống của con người hoặc hệ sinh vật của một hệ sinh thái nhất định, có không gian sống nhất định bao gồm hệ thống môi trường ấy cùng với con người và hệ sinh vật ấy MTST được tổng hợp bởi tất cả các môi trường sống thành phần của hệ sinh thái theo lãnh thổ
Tác giả Nguyễn Minh Hằng trong bài viết “Môi trường sinh thái - vấn đề của
mọi người”[16] khẳng định, MTST là một mạng lưới chỉnh thể có mối liên quan
chặt chẽ với nhau giữa đất, nước, không khí và các cơ thể sống trong phạm vi toàn cầu Trong quá trình sinh sống vì nhiều lý do khác nhau, con người đã làm suy thoái MTST, thể hiện rõ nhất ở sự suy thoái tầng ôzôn, gây “hiệu ứng nhà kính”, ô nhiễm nguồn nước sạch Các giải pháp cơ bản mà tác giả nêu ra nhằm khắc phục tình trạng
ô nhiễm MTST là: xây dựng ý thức sinh thái, kết hợp giữa mục tiêu kinh tế và mục tiêu sinh thái trong quá trình sản xuất
Tác giả Vũ Trọng Dung, trong cuốn sách “Đạo đức sinh thái và giáo dục
đạo đức sinh thái” [17] quan niệm “môi trường sinh thái là tất cả những điều kiện
xung quanh có liên quan đến sự sống của sinh thể, của con người” [17, tr.153] Theo tác giả thì các nguyên nhân cơ bản gây ra tình trạng ô nhiễm MTST là các vấn
đề về công nghiệp hóa, kỹ thuật hóa, sự phát triển dân số… Không chỉ nhấn mạnh một phương diện quan trọng trong việc giải quyết vấn đề ô nhiễm MTST đó là giáo dục đạo đức sinh thái, tức là giáo dục thái độ, ý thức, hành vi tôn trọng và yêu quý thiên nhiên, giữ gìn và bảo vệ MTST cho mọi chủ thể, tác giả còn khẳng định sự thống nhất giữa nghĩa vụ đạo đức với nghĩa vụ pháp lý trong việc giữ gìn và bảo vệ MTST là đòi hỏi cấp bách đối với mỗi người và đó cũng là giải pháp cơ bản để giải quyết vấn đề ô nhiễm MTST ở Việt Nam hiện nay
Trang 14Như vậy, dù hiểu theo khía cạnh nào thì MTST vẫn được quan niệm như một chỉnh thể trọn vẹn có quan hệ với sự ổn định và phát triển của xã hội Đó là nơi cung cấp cho con người các sản phẩm vật chất với tính cách là yếu tố đầu vào và chứa đựng các sản phẩm đầu ra của quá trình sản xuất MTST không chỉ bao gồm các hợp chất vô cơ mà còn có cả các hợp chất hữu cơ có sẵn từ tự nhiên hoặc được tạo ra từ con người Nếu trong quá trình sản xuất, con người chỉ biết khai thác triệt
để các nguồn lợi từ tự nhiên mà không biết tái tạo, phục hồi, không kiểm soát chặt chẽ đầu ra của quá trình sản xuất, các chất thải độc hại được xả thẳng ra MT, sẽ dẫn đến huỷ hoại MTST
Xuất phát từ những quan điểm trên, có thể nhận định: (1) Nói đến MTST là nói đến một bộ phận của giới tự nhiên có tồn tại sự sống; (2) MTST được cấu thành
từ các yếu tố vô cơ (đất, nước, TNTN ) và hữu cơ (động - thực vật…); (3) MTST còn được gọi là môi trường sống nếu xét nó trong mối tương quan với sự sống, sự tồn tại của đối tượng vật chất sống nhất định; (4) MTST còn được gọi là “môi
trường tự nhiên”, “môi trường sinh thái tự nhiên”
1.1.1.2 Đất ngập nước
Các định nghĩa về đất ngập nước
Thuật ngữ “ĐNN” được hiểu theo nhiều cách khác nhau, tuỳ theo quan điểm, người ta có thể chấp nhận các định nghĩa khác nhau Hiện nay có khoảng trên 50 định nghĩa về ĐNN đang được sử dụng (theo Dugan, năm 1990) Các định nghĩa về ĐNN có thể chia thành hai nhóm chính Một nhóm theo định nghĩa rộng, nhóm thứ hai theo định nghĩa hẹp
Các định nghĩa về ĐNN theo nghĩa rộng như định nghĩa của Công ước Ramsar, định nghĩa theo các chương trình điều tra ĐNN của Mỹ, Canada, New Zealand và Ôxtrâylia
Theo Công ước Ramsar (năm 1971), ĐNN được định nghĩa như sau :
ĐNN được coi là các vùng đầm lầy, than bùn hoặc vùng nước dù là tự nhiên hay nhân tạo, ngập nước thường xuyên hoặc từng thời kỳ, là nước tĩnh, nước chảy, nước ngọt, nước lợ hay nước mặn, bao gồm cả những vùng biển mà độ sâu mực nước khi thuỷ triều ở mức thấp nhất không vượt quá 6m
Trang 15Theo các nhà khoa học Canada : “ĐNN là đất bão hoà nước trong thời gian dài đủ để hỗ trợ cho các quá trình thuỷ sinh Đó là những nơi khó tiêu thoát nước (có thực vật thuỷ sinh) và các hoạt động sinh học thích hợp với môi trường ẩm ướt
Theo các nhà khoa học New Zealand : “ĐNN là một khái niệm chung để chỉ những vùng đất ẩm ướt từng thời kỳ hoặc thường xuyên Những vùng ngập nước ở mức cạn và những vùng chuyển tiếp giữa đất và nước Nước có thể là nước ngọt, nước lợ hoặc nước mặn ĐNN ở trạng thái tự nhiên hoặc đặc trưng bởi các loại thực vật và động vật thích hợp với điều kiện sống ẩm ướt” [7]
a Phân loại đất ngập nước trên thế giới
Phân loại hiện hành của Hoa Kỳ - Kiểm kê đất ngập nước quốc gia
Phân loại được sử dụng trong kiểm kê các đất ngập nước và các nơi cư trú nước sâu của Hoa Kỳ tập trung vào mô tả các nhóm phân loại sinh thái học, sắp xếp chúng thành một hệ thống có ích đối với các nhà quản lý tài nguyên, trang bị cho các đơn vị thành lập bản đồ, và cung cấp sự đồng nhất về các khái niệm và các thuật ngữ
Phân loại này được dựa trên tiếp cận thứ bậc giống nhau về mặt phân loại học sử dụng để nhận dạng các loại động vật, thực vật Mức rộng nhất là hệ thống:
“Sự phức tạp của các đất ngập nước và các nơi cư trú nước sâu mà chúng cùng có ảnh hưởng của các nhân tố thuỷ lực, địa mạo, hóa học hay sinh học” Các hạng rộng này bao gồm như sau:(1)Biển, (2)Cửa sông, (3)Ven sông, (4)Hồ, (5)Đầm, (6)Các hệ
thống phụ bao gồm: bán thuỷ triều, trên triều, gian triều,gián đoạn, thủy triều, nước
ngọt, dưới triều,ven biển
Lớp đất ngập nước cụ thể hay nơi cư trú nước sâu mô tả sự xuất hiện nói chung của hệ sinh thái cả dưới dạng thực vật ưu thế và cả kiểu dạng chất nền Khi
độ che phủ của thảm thực vật vượt quá 30% thì lớp thảm thực vật được sử dụng (ví
dụ, đất ngập nước cây bụi – bụi) Nếu như chất nền bị che phủ bởi thảm thực vật nhỏ hơn 30% thì khi đó lớp chất nền được sử dụng (ví dụ, nền đáy không được vững chắc) [9]
Trang 16 Phân loại ĐNN của công ước Ramsar
Vào những năm đầu của thập kỷ 70, Công ước Ramsar (1971) đã phân ĐNN thành 22 kiểu mà không chia thành các hệ và lớp
Trong quá trình thực hiện Công ước và thực tiễn áp dụng vào các vùng và các quốc gia khác nhau, sự phân hạng này đã thay đổi Vào năm 1994, phụ lục 2B của Công ước Ramsar đã chia ĐNN thành 3 nhóm chính đó là: 1) ĐNN ven biển và biển (11 loại hình); 2) ĐNN nội địa (16 loại hình); và 3) ĐNN nhân tạo (8 loại hình) (Davis, 1994 - Ramsar Convention Bureau) với tổng cộng 35 loại hình Cũng theo Ramsar Convention Bureau (1997a,b - 2nd edition), thì các loại hình ĐNN đã được xem xét lại và chia thành 40 kiểu khác nhau Trong những năm gần đây, hệ thống phân loại ĐNN đã được xem xét, chỉnh sửa, bổ sung thành 42 kiểu [9]
a Phân loại đất ngập nước ở Việt Nam
Công ước Ramsar và phân loại đất ngập nước của Việt Nam/ Cục Bảo vệ Môi trường
Năm 2001, Cục Môi trường (Bộ Khoa học, Công nghệ và Môi trường) đã công bố tài liệu “Các vùng đất ngập nước có giá trị đa dạng sinh học và môi trường của Việt Nam” Trong tài liệu này, những người biên soạn đã đưa ra một bảng phân loại đất ngập nước tạm thời để tham khảo dựa trên cách phân loại đất ngập nước của Ramsar (Classification System for “Wetland Types”) Kèm theo là danh sách 68 khu đất ngập nước đã được kiểm kê theo tiêu chí có giá trị cao về đa dạng sinh học
và bảo vệ môi trường của Việt Nam
Bảng phân loại đất ngập nước của Cục Môi trường gồm có 39 loại hình đất ngập nước (wetland type)
Hệ thống phân loại này dựa vào Hệ thống phân loại các vùng ĐNN (Classification System for "Wetland Type") của Ramsar đã được chấp nhận trong Bản khuyến nghị 4.7 (Recommendation 4.7) và đã được sửa đổi trong Nghị quyết VI.5 của Hội nghị Cam kết giữa Các bên Tham gia Nhưng hệ thống phân loại này đã được lược bỏ một số kiểu ĐNN không có ở Việt Nam[9]
Trang 17 Phân loại đất ngập nước của Vũ Trung Tạng (2004)
Trong tạp chí khoa học của Đại học Quốc gia Hà Nội (ISSN 0866-8612) PGS.TS.Vũ Trung Tạng đã có bài viết về “Những quan điểm và sự phân loại đất ngập nước ở Việt Nam”
Về quan điểm, tác giả đồng tình với định nghĩa về đất ngập nước của Ramsar
để sử dụng trong phân loại đất ngập nước của Việt Nam Tác giả cũng nhìn nhận đất ngập nước là hệ sinh thái, trong đó quần xã sinh vật và các yếu tố môi trường có mối liên hệ tương tác với nhau Quần xã sinh vật là sản phẩm được sinh ra trong một môi trường xác định của đất ngập nước, nhưng quần xã sinh vật lại làm biến đổi các yếu tố môi trường Tác giả cũng nhấn mạnh rằng đất ngập nước là kết quả tổ hợp của 3 yếu tố chính: Đất, nước và thảm thực vật tồn tại trong đó
Về phân loại đất ngập nước, tác giả thiết lập cấu trúc bảng phân loại gồm 4 bậc: Hệ (system); Phân hệ (sub-system); Lớp (class); và Dạng (type), ngoài ra có 2 Phân lớp riêng cho Lớp đất ngập nước châu thổ[9]
a Một số đặc điểm sinh thái của đất ngập nước
Môi trường ĐNN được đặc trưng bởi nhiều sức ép hoặc áp lực môi
trường Những sinh vật ở nước không thích ứng với biến cố khô hạn theo thời kỳ
ở nhiều ĐNN Những sinh vật trên cạn lại bị áp lực bởi thời gian ngập úng lâu dài Vì nước nông, nhiệt độ cực trên trên bề mặt ĐNN lớn hơn là trong những môi trường nước Thế nhưng, sức ép khắc nghiệt nhất là sự thiếu ôxy trong các đất của ĐNN, nó làm ảnh hưởng đến các sinh vật do thay đổi hô hấp và các con đường trao đổi chất thông thường Khi thiếu ôxy, việc cung cấp các chất dinh dưỡng đối với thực vật cũng biến đổi, nồng độ những nguyên tố nhất định và các hợp chất hữu cơ có thể đạt tới mức độc hại cao Ở những đất ngập nước mặn ven biển, hàm lượng muối cũng là sức ép phụ mà đòi hỏi sinh vật phải có những phản ứng
Do đó, không ngạc nhiên khi thấy các loài động thực vật trong ĐNN có những cơ chế và chức năng liên quan đến những áp lực này Những thích ứng như vậy giúp cho các sinh vật chống chịu được áp lực của "các cú sốc" và thậm chí có thể điều chỉnh được cả áp lực Những sinh vật chống chịu có thể phòng tránh áp lực một cách có hiệu quả và có thể tự biến đổi chúng để tối thiểu hoá
Trang 18các tác động, các cơ chế đặc trưng của những sinh vật chống chịu có nhiều và thường biến đổi Nhìn chung, những vi khuẩn thể hiện những thích ứng sinh hoá,
mà những thích ứng này cũng đặc trưng cho hàng loạt những thích ứng ở mức tế bào được phát hiện trong những loài động thực vật đa bào phức tạp Những thực vật có sợi thể hiện cả hai loại thích ứng sinh lý và cấu trúc Động vật cũng phát triển những khả năng thích ứng rộng, không những chỉ qua cơ chế sinh hoá và cấu trúc mà còn bởi việc sử dụng tính ưu việt trong hoạt động sống phức tạp của chúng[7]
- Nạp nước ngầm : Nước được thấm từ các vùng ĐNN xuống các tầng ngập nước trong lòng đất, nước được giữ ở đó và điều tiết dần thành dòng chảy bề mặt ở vùng ĐNN khác cho con người sử dụng
- Hạn chế ảnh hưởng lũ lụt : Bằng cách giữ và điều hoà lượng nước mưa như
"bồn chứa" tự nhiên, giải phóng nước lũ từ từ, từ đó có thể làm giảm hoặc hạn chế
lũ lụt ở vùng hạ lưu
- Ổn định vi khí hậu : Do chu trình trao đổi chất và nước trong các HST, nhờ lớp phủ thực vật của ĐNN, sự cân bằng giữa O2 và CO2 trong khí quyển làm cho vi khí hậu địa phương được ổn định, đặc biệt là nhiệt độ và lượng mưa ổn định
- Chống sóng, bão, ổn định bờ biển và chống xói mòn : Nhờ lớp phủ thực vật, đặc biệt là RNM ven biển, thảm cỏ có tác dụng làm giảm sức gió của bão và bào mòn đất của dòng chảy bề mặt
- Xử lý nước, giữ lại chất cặn, chất độc : Vùng ĐNN được coi như "bể lọc"
tự nhiên, có tác dụng giữ lại các chất lắng đọng và chất độc (chất thải sinh hoạt và công nghiệp) [4]
1.1.2 Căn cư ́ pháp lý
- Luật Bảo vệ môi trường (BVMT) 2014 số 55/2014/QH13 đã được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (CHXHCNVN) khóa XIII, kỳ họp thứ 7, thông qua ngày 23/6/2014
- Luật đa dạng sinh học, 20/2008/QH12
- Nghị định số 21/2008/NĐ-CP sửa đổi bổ sung nghị định 80/2006/NĐ-CP
về việc quy định chi tiết hướng dẫn thi hành một số điều của luật BVMT
Trang 19- Nghị định 112/2008/NĐ-CP Nghị định về quản lý, bảo vệ, khai thác tổng hợp tài nguyên và môi trường các hồ chứa thuỷ điện, thuỷ lợi
- Quyết định số 35/2002/QĐ - BKHCN ngày 5/6/2000 của BKHCN về việc ban hành tiêu chuẩn môi trường Việt Nam (31 tiêu chuẩn)
- Quyết định số 34/2004/QĐ- BKHCN ngày 9/10/2004 về việc ban hành tiêu chuẩn Việt Nam
- Nghị quyết số 41 NQ/TW ngày 15/11/2004 của Bộ Chính trị về BVMT trong thời kỳ đẩy mạnh CNH - HĐH đất nước
- Quyết định số 22/2006/QĐ- BTNMT ngày 18/12/2006 của BTNMT về việc bắt buộc áp dụng các tiêu chuẩn Việt Nam (5 tiêu chuẩn)
- Quyết định số 16/2008/QĐ- BTNMT ngày 31/12/2008 của BTNMT về việc ban hành Quy chuẩn kỹ thuật Quốc gia về môi trường
Một số TCVN, QCVN liên quan :
Một số TCVN, QCVN liên quan tới chất lượng nước:
- QCVN 08: 2008/ BTNMT: Quy chuẩn kỹ thuật Quốc gia về chất lượng nước mặt
- TCVN 5993:1995 (ISO 5667-3: 1985) - Chất lượng nước - Lấy mẫu Hướng dẫn bảo quản và xử lý mẫu
- TCVN 5996:1995 (ISO 5667-6: 1990) - Chất lượng nước - Lấy mẫu Hướng dẫn lấy mẫu ở sông và suối
Một số TCVN, QCVN liên quan tới môi trường đất :
- QCVN 03 : 2008/BTNMT - Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về giới hạn cho phép của kim loại nặng trong đất
- TCVN 5297:1995 - Chất lượng đất - Lấy mẫu - yêu cầu chung
- TCVN 4046:1985 - Đất trồng trọt - Phương pháp lấy mẫu
- TCVN 6857:2001 - Chất lượng đất - Phương pháp đơn giản để mô tả đất
- TCVN 7538/2:2005 (ISO 10381-2:2002) - Chất lượng đất Lấy mẫu Phần 2 hướng dẫn kỹ thuật lấy mẫu
- TCVN 6495/2:2001 - Chất lượng đất - Từ vựng các thuật ngữ và định nghĩa liên quan đến lấy mẫu
Trang 20- TCVN 5979 : 2007 - Chất lượng đất – Xác định pH
(Soil quality - Determination of pH)
- TCVN 6498 : 1999 - chất lượng đất – xác định nitơ tổng – phương pháp Kendan (Kjeldahl) cải biên
(Soil quality - Determination of total nitrogen - Modified Kjeldahl method)
- TCVN 4050-1985 - Đất trồng trọt - Phương pháp xác định tổng số chất hữu cơ
(Soil - Method for the determination of total organic matter)
- TCVN 8662-2011 - Chất lượng đất - Phương pháp xác định Kali dễ tiêu
(Soil quality - Method for determination of bio-available potassium)
- TCVN 5256-2009 - Chất lượng đất - Phương pháp xác định hàm lượng Phospho dễ tiêu
(Soil quality - Method for determination of bio-available phosphorus)
- TCVN 8569-2010 - Chất lượng đất - Phương pháp xác định các Cation Bazơ trao đổi - Phương pháp dùng Amoni Axetat
(Soil quality Method for determination of base cation exchange by ammonium acetate method)
- TCVN 4403-2011 - Chất lượng đất - Phương pháp xác định độ chua trao đổi và nhôm trao đổi
(Soil quality - Method for determination of exchangeable aluminium and acidity)
- TCVN 8567-2010 - Chất lượng đất - Phương pháp xác định thành cấp hạt
(Soil quality Method for determination of particle size distribution)
1.2 Nghiên cứu về môi trường sinh thái đất ngập nước trên thế giới và Việt Nam
1.2.1 Sinh thái đất ngập nước trên thế giới
HST ĐNN trên thế giới được đánh giá có tính ĐDSH cao bởi sự cấu trúc thành phần các loài thực vật, động vật Chính từng loại thảm thực vật có đặc tính thích ứng riêng với môi trường nước ngọt và nước mặn, để hình thành nên những
dải rừng ven suối, ven sông, ven hồ và ven biển như rừng ngập mặn
Các vùng đất ngập nước lớn của thế giới có rất nhiều động thực vật hoang dã nhưng đang ngày càng bị phá vỡ bởi hoạt động của con người
Dưới đây là sinh thái một số vùng đất bán ngập trên thế giới:
Trang 21 Đầm lầy Atchafalaya là khu dự trữ đất ngập nước lớn nhất Bắc Mỹ, gồm một mạng lưới các nhánh sông, hồ nhiều chim và đầm lầy đầy ắp cá sấu, trải rộng trên khoảng 400.000 ha
Hồ Tana là hồ lớn nhất Ethiopia, khởi nguồn của con sông Nile xanh nổi tiếng Trong các vùng đất ngập nước xung quanh hồ, những con thuyền làm bằng cói sậy theo phương pháp từ thời Ai Cập cổ đại chở hành khách và hàng hóa, bên cạnh là chim cốc, cò quăm, chim cổ rắn và nhiều loài chim khác đang kiếm ăn[24]
Hệ sinh thái của hồ Tana đang chịu áp lực nặng nề từ nạn chặt phá rừng, lượng mưa thất thường và lũ lụt của vùng đất ngập nước Cuối năm 2004, hồ Tana
là đại diện đầu tiên của Ethiopia nhận đề cử là thành viên của Ramsar - công ước về những vùng đất ngập nước có tầm quan trọng quốc tế
Khu bảo tồn Bulyong Vùng đất ngập nước có giá trị nhất của Úc nằm trong khu dự trữ sinh quyển Bookmark mênh mông này (900.000ha) tập trung quanh thị trấn Renmark bên bờ sông Murray Ngay từ sáng sớm, du khách có thể bắt gặp chim bói cá, chim ăn thịt và diều hâu chao liệng trên đầu
Bulyong, một phần của khu Bookmark, có gần 2.400ha ngòi lạch, đầm phá quanh co, được sông Murray bồi đắp Tuy nhiên vài năm nay, sông Murray đang phải chịu nhiều vấn đề về sinh thái như dòng chảy thay đổi, độ mặn, độ đục, tình trạng xói mòn bờ sông và đánh cá quá tải
Hồ Khanka: Nằm ở nơi gặp nhau của hai con sông Amur và Gorin về phía bắc thành phố Khabarovsk, khu bảo tồn thiên nhiên Komsomolskaya là một khu vùng đất ngập nước tuyệt đẹp, thu hút các loài chim di cư như sếu, diều hâu và đại bàng
Khu bảo tồn Bolonsky thu hút hàng triệu loài chim di cư qua đây mỗi mùa thu trên hành trình về phía nam của chúng và trở về vào mùa xuân [26]
1.2.2 Sinh thái đất ngập nước ở Việt Nam
Đất ngập nước (ĐNN) ở Việt Nam có diện tích khoảng 10 triệu ha, phân bố trên tất cả 8 vùng sinh thái Trong đó hai vùng là đồng bằng sông Cửu Long và châu thổ sông Hồng có diện tích ĐNN lớn nhất
Các hệ sinh thái (HST) - ĐNN trên thế giới nói chung, Việt Nam nói riêng không những có vai trò cực kỳ quan trọng trong phát triển kinh tế - xã hội, mà còn
có chức năng vô cùng quan trọng trong lĩnh vực bảo vệ môi trường, nghiên cứu
Trang 22khoa học, vui chơi giải trí phục vụ đời sống xã hội hiện tại và tương lai Các HST ĐNN của Việt Nam cũng là nơi tích lũy đa dạng sinh học (ĐDSH) cao có tiềm năng lớn để sản xuất và cung cấp các nguồn năng lượng xanh, sạch, lương thực, thực phẩm, thuốc chữa bệnh Đồng thời, sự phong phú của các loài động vật, thực vật còn có vai trò rất quan trọng về tinh thần và văn hóa truyền thống của dân tộc, đặc biệt đối với cộng đồng có cuộc sống dễ bị tổn thương do biến đổi khí hậu (BĐKH) ĐDSH ở vùng biển và vùng ĐNN nội địa không chỉ là vấn đề cốt lõi trong sinh kế hướng tới sự thịnh vượng, mà còn được xem như là vật chỉ thị cho chất lượng môi trường nước, chất lượng rừng, chất lượng ổ sinh thái bị biến đổi trong bối cảnh BĐKH hiện nay[22]
Sự phong phú về nguồn tài nguyên ĐDSH trong các HST ĐNN ở Việt Nam Đặc trưng HST ĐNN ở Việt Nam rất đa dạng:
- Các vùng có các HST hoàn toàn nước ngọt như sông, suối, hồ, ao, ruộng lúa, thủy vực ngầm trong hang đá, trảng cỏ ngập nước theo mùa
- HST vùng nước lợ: đầm lầy, kênh rạch, đầm lầy than bùn, cửa sông
- HST vùng biển, ven bờ, đảo trên vùng biển như: rừng ngập mặn, bãi triều, vũng - vịnh Việt Nam có trên 3.000 hòn đảo lớn nhỏ trong đó nhiều đảo có diện tích lớn như Cô Tô, Bạch Long Vĩ, Cát Bà, Hòn Mê, Cồn Cỏ, Sơn Trà, Lý Sơn, Hoàng Sa, Trường Sa, Phú Quý, Phú Quốc, Côn Đảo
Tục ngữ có câu "Đất lành chim đậu", các vùng ĐNN Việt Nam từ xa xưa đã hình thành nên nhiều sân chim Đặc biệt ở đồng bằng sông Cửu Long và đồng bằng sông Hồng có khoảng hơn 30 sân chim, trong đó phải kể đến các sân chim lớn nhất như: Cà Mau, Bạc Liêu (40 ha), Đầm Dơi (120 ha), Cái Nước (13 ha), Tràm Chim hơn 5.000 ha; sân chim Chi Lăng Nam - Hải Dương (8,3 ha), sân chim Ngọc Nhị -
Ba Vì - Hà Nội (4 ha) Đây là nguồn tài nguyên vô cùng quý giá, có ý nghĩa to lớn
về khoa học, văn hóa giáo dục và phục vụ du lịch sinh thái, mang lại lợi ích về kinh
tế và xã hội Trong các loài chim làm tổ ở rừng tràm thì loài già đẫy Java có số lượng rất ít, là loài quý hiếm không chỉ đối với Việt Nam mà còn đối với khu vực ASEAN và thế giới Nhưng hiện nay, Việt Nam chỉ gặp chúng làm tổ ở Vườn quốc gia U Minh, Cà Mau; Loài sếu đầu đỏ cũng là loài chim vô cùng quý ở Đông Nam
Á đã xuất hiện và thích nghi với môi trường ở Vườn quốc gia Tràm Chim, huyện Tam Nông, tỉnh Đồng Tháp; Vạc hoa chỉ gặp ở hồ Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn - khu
Trang 23Ramsar vừa được công nhận năm 2011; Cò thìa cũng chỉ có ở khu Ramsar Xuân Thủy, tỉnh Nam Định Nhờ sự định cư và phát triển của các loài sinh vật quý, hiếm, độc đáo này đã là một nguyên nhân thu hút khách du lịch trong nước và quốc
Kết quả của các công trình nghiên cứu của nhiều nhà khoa học trong nước
và quốc tê cho đến nay đã thống kê sơ bộ có khoảng 12.115 loài thủy sinh vật phân bố ở môi trường biển và các vùng nước nội địa cùng với hơn 300 loài động vật có xương sống chuyên sống trong môi trường nước, hoặc có chu kỳ sống thích nghi liên quan với các HST ĐNN Chẳng hạn, thú có 47 loài thuộc 11 họ, 4 bộ: chim có 170 - 180 loài thuộc 42 họ nằm trong 20 bộ; bò sát có 35 loài thuộc
6 họ và hầu hết 162 loài lưỡng cư thường sống và phát triển trong môi trường ĐNN Trong số này đã ghi nhận 60 loài thuộc diện có nguy cơ bị đe dọa có tên trong Sách đỏ Việt Nam năm 2007 như rái cá lông mượt, rái cá vuốt bé, mèo cá, hươu đầm lầy, voọc bạc, voọc mông trắng, voọc đầu vàng, dơi ngựa lớn, bò biển,
cá ông chuông, cá heo, sếu cổ trụi, vạc hoa Đây là nguồn gen tự nhiên có giá trị bảo tồn cao đang hiện hữu trong các HST ĐNN ở Việt Nam, là nguồn tài nguyên vô cùng quý là sinh kế sản xuất sinh học trong môi trường nước[25]
Tác động tiềm ẩn của BĐKH đối với ĐDSH trong các HST ĐNN Việt Nam HST ĐNN là hệ rất nhạy cảm bởi sự tác động trực tiếp hoặc gián tiếp của tự nhiên và con người, trong khi HST ĐNN của Việt Nam ở một số vùng được xác định quan trọng ở tầm quốc gia và quốc tế như các khu Ramsar ở Vườn quốc gia Xuân Thủy (Nam Định), Bàu sấu (Đồng Nai), Tràm Chim (Đồng Tháp), khu hồ Ba
Trang 24Bể (Bắc Kạn) Đó là nơi nhằm bảo tồn HST, là nơi cư trú của các loài thực vật, động vật có giá trị kinh tế và giá trị bảo tồn các nguồn gen quý tự nhiên tạo nên sự ĐDSH cao của hệ Đặc biệt là nơi sinh sống và phát triển của các loài chim có cuộc sống gắn với môi trường nước, nơi dừng chân của các loài chim di cư từ các nước trên thế giới, trong khi BĐKH, thời tiết cực đoan xảy ra ngày càng rõ cùng với tình trạng ô nhiễm môi trường nước ngày càng trầm trọng, hiện tượng chặt phá rừng ngập mặn để nuôi trồng thủy sản cũng như phương thức chuyển đổi sử dụng tốt, nuôi tôm trên cát cho các mục đích kinh tế khác đã và sẽ gây tác động xấu đến nơi
cư trú của các loài đặc biệt các rạn san hô, cỏ biển, các loài thú biển, chim các loại Các loài sóc, khỉ, voọc, các loài dơi như dơi ngựa chỉ phân bố ở các tỉnh phía Nam, tập trung nhất là ở Vườn quốc gia U Minh, tại các sân chim Ngọc Hiển, Cái Nước (Cà Mau), dơi, khỉ, sóc và các loài chim nước có tập tính di chuyển nhiều để kiếm
ăn và tìm nơi làm tổ Các loài chim thường chỉ làm tổ trên các cành cây còn các loài dơi ngựa lớn, dơi ngựa Thái Lan và các loài sóc là những động vật sống phụ thuộc vào các tảng rừng và thân cây gỗ để kiếm ăn và nghỉ ngơi Trong trường hợp có sự tác động của BĐKH, các khu rừng ngập mặn sẽ bị chia cắt, phân mảnh thì khả năng tuyệt chủng của các loài voọc, khỉ, chim, dơi, sóc đỏ, sóc côn đảo, voọc bạc, sếu đầu đỏ, già đẩy là rất cao, đây là những loài động vật rất nhạy cảm khi yếu tố môi trường và các HST bị thay đổi Các nhà khoa học cảnh báo rằng, nếu không có giải pháp phù hợp để ngăn chặn, tạo thích ứng kịp thời thì với tình trạng BĐKH hiện nay thì chỉ đến giữa thế kỷ 21 này sẽ có khoảng 1/3 các loài động vật trên thế giới bị
đe dọa tuyệt chủng[24]
Theo các kịch bản dự báo về BĐKH, nhiệt độ trái đất nóng lên, mực nước biển sẽ dâng từ 75 cm đến 1 m vào năm 2100 thì có khoảng 20 đến 30% diện tích vùng thấp đồng bằng sông Cửu Long và 11% diện tích vùng đồng bằng sông Hồng
bị ngập và sẽ có khoảng 78 sinh cảnh tự nhiên quan trọng, trong đó có 36 khu bảo tồn thiên nhiên, 8 vườn quốc gia và 11 khu dự trữ thiên nhiên kể cả các khu Ramsar
sẽ bị ảnh hưởng Có nghĩa là thành phần các loài thực vật, động vật hoang dã nêu ở trên sẽ bị ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp như mất nơi sống, hoặc mất nguồn dinh dưỡng Chẳng hạn các loài voọc, khỉ, dơi ngựa, các loài sóc, các loài chim ở vùng ĐNN chỉ sống và làm tổ trên các cành cây Nguồn thức ăn chủ yếu là quả, lá, côn
Trang 25trùng, nhưng khi thời tiết thay đổi, nắng mưa bất thường làm biến động nguồn thức
ăn nơi ở sẽ là mối nguy cho sự tồn tại phát triển của các loài
1.2.3 Đất ngập nước ở Sơn La
Trong những năm đầu tích nước, nguồn gây ô nhiễm lớn nhất là thực vật bị ngập nước trong lòng hồ Tổng diện tích đất bị ngập là 23.333 ha, trong đó đất nông nghiệp là 7.670 ha, đất lâm nghiệp có rừng là 3.170 ha, đất chuyên dùng là 879 ha, đất chưa sử dụng là 11.087 ha Sau khi chặt cây và thu dọn lòng hồ, nhiều chủng loại thực vật cũng đã mọc lại Đất rừng, cây chồi, đồng cỏ và các nguồn thực vật bị ngập trong lòng hồ Sơn La
Hồ chứa thủy điện Sơn La là hồ điều tiết năm Hàng năm, hồ được khai thác
từ mực nước dâng bình thường đến mực nước chết Từ đầu tháng 1 đến đầu tháng 9 hàng năm, khoảng 8000 ha đất vùng bán ngập sẽ khô cạn
Trong mùa cạn, người dân sử dụng đất vùng bán ngập để sản xuất nông nghiệp Các loài cây canh tác phổ biến trong vùng là lúa, ngô, hoa màu… Ngoài ra, các thực vật trong nước như lau, sậy, bìm bìm… cũng có điều kiện để khôi phục cùng với các loài khác như rong, bèo… Vùng bán ngập của hồ còn chứa các loài cỏ dại, lùm bụi… Sau thời kỳ khô hạn, khi nước lên, các loài thực vật này lại bị ngập nước, phân hủy và nguồn bổ sung các chất hữu cơ và vi sinh vật Như vậy, hàng năm, một lượng lớn xác thực vật và đất canh tác ở vùng bán ngập nước đã bổ sung vào lòng hồ chứa các chất hữu cơ Khối lượng các yếu tố này phụ thuộc vào cơ cấu sử dụng đất vùng đất bán ngập
Trang 26CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1.1 Đối tươ ̣ng nghiên cứu
Vùng bán ngâ ̣p lòng hồ thủy điện Sơn La
2.1.2 Pha ̣m vi nghiên cứu
Vùng bán ngâ ̣p lòng hồ thủy điện Sơn La
2.1.3 Đi ̣a điểm thực hiê ̣n và thời gian thực hiê ̣n
- Thời gian từ: tháng 06 năm 2015 đến tháng 12 năm 2016
- Địa điểm thực hiện: Thị trấn Ích Ong, xã Mường Trai, xã Mường Sại và
xã cà Nàng
- Đặc điểm, điều kiện tự nhiên kinh tế - xã hội vùng bán ngâ ̣p lòng hồ thủy điện Sơn La
- Đánh giá môi trường đất vùng bán ngâ ̣p lòng hồ thủy điện Sơn La
- Đánh giá môi trường nước ở vùng lòng bán ngâ ̣p lòng hồ thủy điện Sơn La
- Đánh giá hệ động, thực vật vùng bán ngâ ̣p lòng hồ thủy điện Sơn La
- Đưa ra các giải pháp bảo vệ môi trường sinh thái và sinh kế cho người dân vùng bán ngâ ̣p lòng hồ thủy điê ̣n Sơn La
2.3.1 Các phương pháp lấy mẫu, phân tích, đo đạc
2.3.1.1 Đối với lấy mẫu đất ở vùng đất bán ngập lo ̀ ng hồ thủy điện Sơn La
Thời gian lấy mẫu: 03/03/2015; với điều kiện thời tiết: trời nắng, không
mưa Lý do lấy mẫu: Từ tháng 1 – tháng 3 thời gian hở đất lớn vì cộng thêm 4 tháng của cao trình 215m từ tháng 9 – tháng 12 nữa
Sơ đồ vị trí lấy mẫu:
- Đối với đất đồi, đất lúa nước và đất nương rẫy: Hình PL 2.1
- Đối với đất bán ngập theo cao trình: Hình PL 2.1.; hình PL 2.2.; hình PL 2.3., hình PL 2.4
Cơ sở lấy mẫu đất vùng bán ngập lòng hồ thủy điện Sơn La: xác định được hàm lượng chất tại các vùng khảo sát nghiên cứu
Trang 27a Yêu cầu lấy mẫu
Những yêu cầu cơ bản của việc lấy mẫu đất và chuẩn bị mẫu là:
Mẫu phải đại diện được cho đối tượng nghiên cứu
Mẫu phải được xử lý tốt, nghiền nhỏ, đồng nhất, xử lý và bảo quản để mẫu giữ nguyên được tính chất
b Du ̣ng cụ lấy mẫu, túi đựng mẫu
Dụng cụ lấy mẫu có thể dùng bằng cuốc, xẻng, hoặc các dụng cụ chuyên dụng
Túi đựng mẫu có thể dùng túi plastic Các mẫu đất được lấy yêu cầu phải ghi rõ tên mẫu, địa điểm, thời gian lấy
c Ca ́ ch lấy mẫu, xử lý
Bảng 2.1 Vị trí lấy mẫu đất vùng bán ngập lòng hồ thủy điện Sơn La
STT Địa điểm Kí hiệu
mẫu
Cách lấy mẫu (TCVN 5297:1995) Ghi chú
(lấy 5 điểm)
Khi lấy mẫu ở các điểm riêng biệt cần tránh các vị trí cá biệt không đại diện như: Chỗ bón phân hoặc vôi tụ lại, chỗ cây quá tốt hoặc quá xấu, chỗ cây bị bệnh
Trang 28CT1: Vị trí lấy mẫu ở cao trình 215m: Đ01, Đ05, Đ09,Đ13
CT2: Vị trí lấy mẫu ở cao trình 190 - 195m: Đ02, Đ06, Đ010,Đ14
CT3: Vị trí lấy mẫu ở cao trình 175 - 190m: Đ03, Đ07, Đ11,Đ15
CT4:Vị trí lấy mẫu ở cao trình 175m: Đ04, Đ08, Đ12,Đ16
MĐ-1: mẫu đất đồi
MĐ-2: mẫu đất nương rẫy
MĐ-3:mẫu đất lúa nước
+ Theo đúng yêu cầu của mỗi loại chỉ tiêu hay chất cần phân tích
+ Để riêng từng loại, từng lô và từng nhóm mẫu
+ Trong môi trường thích hợp (không khí, ánh sáng, nhiệt độ, độ ẩm…) + Bảo vệ được chất cần phân tích không bị phân hủy hay sa lắng
+ Chỉ trong thời gian thích hợp theo yêu cầu của chất phân tích cho phép + Không để chung các loại mẫu có ảnh hưởng lẫn nhau cùng một chỗ
Các thông số được phân tích theo các TCVN hiện hành, cụ thể như sau:
Đối với mẫu đất đồi, đất nương rẫy và đất lúa nước
Bảng 2.2 Các thông số được phân tích mẫu đất
STT Thông số Đơn vị Phương pháp phân tích
- TCVN 8246:2009 (EPA Method 7000B) – Chất lượng đất – Xác định kim loại bằng phương pháp quang phổ hấp thụ nguyên tử ngọn lửa
Trang 29 Đối với các mẫu đất lấy theo cao trình
Xác định các chỉ tiêu trong đất bằng những phương pháp có độ chính xác cao
và thường được dùng phổ biến hiện nay trong các phòng phân tích đất ở Việt Nam Các phương pháp cụ thể như sau:
- TCVN 5979 : 2007 - Chất lượng đất – Xác định pH
- TCVN 6498 : 1999 - chất lượng đất – xác định nitơ tổng – phương pháp Kendan (Kjeldahl) cải biên
- TCVN 4050-1985 - Đất trồng trọt - Phương pháp xác định tổng số chất hữu cơ
- TCVN 8662-2011 - Chất lượng đất - Phương pháp xác định Kali dễ tiêu
- TCVN 5256-2009 - Chất lượng đất - Phương pháp xác định hàm lượng Phospho dễ tiêu
- TCVN 8569-2010 - Chất lượng đất - Phương pháp xác định các Cation Bazơ trao đổi - Phương pháp dùng Amoni Axetat
- TCVN 4403-2011 - Chất lượng đất - Phương pháp xác định độ chua trao đổi và nhôm trao đổi
- TCVN 8567-2010 - Chất lượng đất - Phương pháp xác định thành cấp hạt
2.3.1.2 Đối với lấy mẫu nươ ́ c ở vùng bán ngập lòng hồ thủy điện Sơn La
Thời gian lấy mẫu: 03/12/2016; với điều kiện thời tiết: trời nắng, không mưa
Sơ đồ vị trí lấy mẫu: Hình PL 2.1
Cơ sở lấy mẫu nước vùng bán ngập lòng hồ thủy điện Sơn La:
Dựa vào TCVN 5993 – 1995 Chất lượng nước - Lấy mẫu Hướng dẫn bảo quản và xử lý mẫu Ta thấy lấy mẫu nước theo độ sâu 0,3m; 2m; 3,5m sẽ biết được đặc trưng chất lượng của toàn bộ vùng nước cần lấy mẫu ở những độ sâu ở nhiều điểm khác nhau Từ đó mà đánh giá được chính xác được các chỉ tiêu hóa học cần nghiên cứu
a Tiến ha ̀ nh khảo sát khu vực lấy mẫu, rồi chọn vi ̣ trí lấy mẫu
Vị trí lấy mẫu vùng bán ngâ ̣p lòng hồ thủy điê ̣n tại xã Mường Trai, huyện Mường La, tỉnh Sơn La Ta tiến hành lấy ở 3 độ sâu khác nhau (mẫu 1 đô ̣ sâu 0,3m, mẫu 2 độ sâu 2m, mẫu 3 độ sâu 3,5 m), mỗi vị trí lấy 1 mẫu khác nhau
b Phương pha ́ p lấy mẫu, bảo quản và phân tích
Trang 30Bảng 2.3 Vị trí lấy mẫu nước vùng bán ngập lòng hồ thủy điện Sơn La
Khi tiến hành quan trắc tại hiện trường cần lập hồ sơ mẫu như: địa điểm lấy mẫu, ký hiệu mẫu, thời gian lấy mẫu, các thông số đo nhanh, phương thức lấy và bảo quản mẫu, các ghi chú nhận xét về nguồn lấy mẫu, điều kiện thời tiết, trạng thái màu nước
MN-1: mẫu nước ở độ sâu 0,3m MN-2: mẫu nước ở độ sâu 2m
MN-3: mẫu nước ở độ sâu 3,5m
a Phương pha ́ p phân tích trong phòng thí nghiệm
Các thông số được phân tích theo các TCVN hiện hành, cụ thể như sau:
Bảng 2.4 Các thông số được phân tích mẫu nước
2.3.1.3 Đối với đô ̣ng, thực vật ở vùng bán ngập lòng hồ thủy điện Sơn La
Sử dụng phương pháp tổng hợp và kế thừa các tài liệu đã công bố
2.3.2 Phương pha ́ p thu thập tài liê ̣u, số liê ̣u, thông tin thứ cấp
- Tài liệu về điều kiện tự nhiên, điều kiện kinh tế xã hội (dân số, việc làm, cơ
sở hạ tầng…) của tỉnh Sơn La
Trang 31- Tài liệu về các báo cáo hiện trạng môi trường sinh thái của địa phương và kết quả quan trắc môi trường hàng năm tại địa bàn nghiên cứu
- Niên giám thống kê tỉnh Sơn La năm 2014
- Tài liê ̣u thu thâ ̣p từ Sở tài nguyên và môi trường tỉnh Sơn La, trung tâm quan trắc của tỉnh Sơn La
- Tài liê ̣u về phương pháp nghiên cứu khoa ho ̣c trong quản lý tài nguyên và môi trườ ng
- Tài liệu về động thực vật khu vực nghiên cứu
2.3.3 Phương pha ́ p xử lý số liê ̣u
- Tính toán và tổng hợp các kết quả phân tích trên excel 2007
- Tiến hành xử lý số liệu trên excel và vẽ biểu đồ, bảng biểu đối với số liệu
đã được xử lý
2.3.4 Phương pha ́ p so sánh
Từ các số liệu thứ cấp cộng với số liệu đo đạc khảo sát thực tế, kết quả phân tích mẫu trong phòng thí nghiệm, tính toán về lượng ô nhiễm, để đưa ra kết luận về các thành phần môi trường So sánh với QCVN để đưa ra những ảnh hưởng của nhà máy tới môi trường sinh thái vùng bán ngập lòng hồ thủy điện Sơn La
2.3.5 Phương pháp tham khảo ý kiến của chuyên gia
Tham khảo và tiếp thu hướng dẫn của thầy cô giáo hướng dẫn giảng dạy về
bộ môn quan trắc và phân tích môi trường, bộ môn đa dạng sinh học; sự hướng dẫn các cán bộ môi trường khu vực cần nghiên cứu về sự hiểu biết về đa dạng động thực vật Tham khảo ý kiến, kinh nghiệm của những người có kinh nghiệm về lĩnh vực điều tra, khảo sát thực địa
Trang 32CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN
3.1.1 Điều kiê ̣n tự nhiên
3.1.1.1 Vi ̣ trí đi ̣a lý
Địa bàn vùng hồ thủy điện Sơn La kéo dài khoảng 200km từ huyện Mường
La tỉnh Sơn La đến huyện Mường Lay tỉnh Điện Biên, hồ chứa ngập khoảng 23.000
ha đất tự nhiên trong đó có 10.000 ha đất bán ngập
Tọa đô ̣ phạm vi thủy điện Sơn La
X: 2377100m - 2379000m
Y: 498600m - 501000m
3.1.1.2 Đi ̣a hình, đi ̣a mạo
Lưu vực thủy điện Sơn La và lân cận có cấu trúc địa chất và kiến tạo phức tạp, bị chia cắt mạnh và phân dị, các đứt gãy hoạt động và có khả năng sinh chấn Nằm trong lưu vực sông Đà, chảy qua miền núi cao và trung bình, hướng dòng chảy gắn như song song với hướng của các dãy núi lớn, lòng sông hẹp có nhiều ghềnh thác, có nhũng đoạn bờ sông khoét sâu vào chân sườn núi Hồ chứa Sơn la có dạng chung là một thung lũng được mở rộng thêm với hai sườn đổ thẳng vào lòng hồ Và hầu hết các sườn trực tiếp đổ vào lòng hồ có độ dốc từ 200 - 300, phổ biến là mức từ
250- 280 Độ dốc nhỏ hơn 200 và trên 300 là rất ít Chiều dài sườn chủ yếu là từ 70 - 80m, Những sườn nhỏ hơn 60m và trên 100m chiếm tỉ lệ nhỏ Trên bề mặt đỉnh, sườn núi lại được cấu thành từ các nhóm đá trầm tích phun trào nên thường xảy ra các quá trình rữa lũ, xói mòn, rửa trôi còn trên bề mặt sườn thấp hơn còn xảy ra hiện tượng xâm thực mương xói sau nương rẫy hay trượt lở, trượt chảy dưới các tác động nhân sinh[11]
3.1.1.3 Điều kiện khí hậu
a Nhiệt đô ̣
Khí hâ ̣u vùng lưu vực sông Đà nói chung và khí hậu khu vực thủy lưu vực thủy điện Sơn La nói riêng thuô ̣c nhiê ̣t đới gió mùa Mùa đông la ̣nh và khô, mùa hè
Trang 33nóng và mưa nhiều Lưu vực thủy điện Sơn La chi ̣u ảnh hưởng của gió mùa đông
bắc, mùa hè gió Tây Nam và bão từ biển Đông Phân chia mùa đông từ tháng 11 đến tháng 3, mùa hè từ tháng 5 đến tháng 9
Nhiệt độ trung bình năm khá cao ở những vùng thấp, đạt 22,5 - 23,30C thuộc chế độ nhiệt nóng Nhiệt độ trung bình năm giảm theo độ cao địa hình xuống còn 200C
ở độ cao khoảng 750m; đến 160C ở độ cao 1500 - 1600m Ở những vùng núi cao từ
1500 - 1600m trở lên, nhiệt độ trung bình tất cả các tháng trong năm đều nhỏ hơn
200C Như vậy ở các vùng núi cao này mùa lạnh thường kéo dài quanh năm
Chỉ ở những vùng núi thấp dưới 700m mới có mùa nóng dài 2 - 5 tháng Mùa lạnh dài 3 - 4 tháng ở những vùng thấp dưới 700m, tăng lên đến 6 tháng ở độ cao 1000m và kéo dài quanh năm ở vùng núi cao từ 1500 - 1600m trở lên
Trên toàn lưu vực tiến trình năm của nhiệt độ có một cực đại và một cực tiểu Cực đại thường xuất hiện vào tháng VI hoặc tháng VII, còn cực tiểu xuất hiện vào tháng I
Do tác dụng chắn gió mùa Đông Bắc của dãy Hoàng Liên Sơn, nên biên độ năm của nhiệt độ ở lưu vực thủy điện Sơn La thường thấp hơn ở vùng Đông Bắc từ
1 - 30C; tuy nhiên vẫn còn khá cao, đạt 9 - 110C Như vậy, mùa đông ở đây thường ấm hơn phía đông của Bắc Bộ nơi có cùng độ cao và vĩ độ
Nằm ở vùng núi có địa hình chia cắt phức tạp và xa biển, lưu vực thủy điện Sơn La có biên độ ngày đêm của nhiệt độ khá cao, trị số trung bình năm đạt 8 -
110C Trong mùa đông thời tiết lạnh và khô, mức độ chênh lệch nhiệt độ ngày đêm lớn Trị số biên độ nhiệt ngày đêm trên phần lãnh thổ đạt 10 - 150C, ở vùng núi cao dao động trong khoảng 8 - 100C Vào mùa hè, trời nhiều mây và mưa nhiều nên biên độ ngày đêm của nhiệt độ tương đối thấp, đạt 7 - 90C trên phần lớn lãnh thổ; dao động trong khoảng 5 - 70C ở vùng núi cao 900 - 1000m trở lên
Ở những vùng thấp trong thung lũng sông Đà do ảnh hưởng của hiệu ứng
“phơn” với gió mùa Tây Nam sau khi vượt qua các dãy núi cao thượng Lào nên các giá trị cao nhất của nhiệt độ đều lớn hơn 350C vào thời kì (II - X hoặc XI); có thể đạt tới 40 - 42,20C trong hai tháng IV - V Chỉ ở những vùng núi cao 800 - 900m trở lên nhiệt độ cao tuyệt đối mới thấp hơn 350C [11]
Trang 34Trong mùa đông do ảnh hưởng của thời tiết lạnh khô, ở những vùng có độ cao trên Sơn La chỉ ở những vùng thấp sương núi mới không có khả năng xuất hiện
b Đô ̣ ẩm
Độ ẩm tuyệt đối trung bình nhiều năm, theo trạm khí tượng Lai Châu và Sơn
La được xác định vào khoảng 20 – 23,3mb Độ ẩm tương đối dao động từ 81 - 83%, lớn nhất đạt 100%, nhỏ nhất là 12%
c Mưa
Mưa trên lưu vực sông Đà phân bố không đều theo không gian và thời gian,
và phụ thuộc vào nhiều yếu tố tác động:
+ Theo không gian: chủ yếu phụ thuộc vào cao độ địa hình và hướng núi + Theo thời gian: lượng mưa phân bố theo hai mùa rõ rệt Mùa mưa (từ tháng
5 – 9) chiếm tới 85 – 88% tổng lượng mưa cả năm
Thời gian mưa liên tục dài nhất là 67 giờ, ít nhất là 11 giờ 30 phút Trong thời kỳ mùa lũ số ngày mưa có thể đạt tới 90 – 120 ngày và chủ yếu tập trung vào hai tháng 7 và 8 Trung bình mỗi tháng đạt khoảng 24 – 25 ngày (tại Lai Châu và Mường Tè) Số ngày mưa nhiều nhất thường xảy ra vào tháng 7 và đạt tới 30 ngày[11]
d Bốc hơi
Theo tài liệu quan trắc trên sông Đà cho thấy lượng bốc hơi trong điều kiện khí hậu ẩm không lớn, theo tài liệu quan trắc của trạm Sơn La :
- Tổng lượng bốc hơi năm đạt khoảng 936 mm
- Lượng bốc hơi lớn nhất vào tháng III là 123 mm
- Lượng bốc hơi nhỏ nhất vào tháng VIII là 55,4 mm
e Gió
Do công trình nằm trên lưu vực sông Đà thuộc khu vực Tây Bắc nên có 2 mùa rõ rệt
+ Mù a đông: có gió Đông Bắc
+ Mù a hè: có gió Tây Nam
Chế độ gió ở lưu vực thủy điện Sơn La phụ thuộc chủ yếu vào đặc điểm địa hình địa phương Trên hầu khắp lưu vực các hướng gió Nam, Đông Nam và Tây Nam có tần
Trang 35suất lớn hơn cả Ví dụ: Ở Quỳnh Nhai nằm trong thung lũng sông Đà có hướng thiên Bắc Nam nên gió thịnh hành là Nam vơi tần suất lớn nhất từ 12 - 21% Ở Lai Châu từ tháng (I - IV) hướng gió thịnh hành là Đông Bắc với tần suất là 10 -15%; còn từ tháng (V - XII) hướng gió thịnh hành là Nam với tần suất dao động trong khoảng 8 - 11%
Do địa hình khuất gió nên tần suất lặng gió trên lưu vực công trình thủy điện Sơn La khá lớn, đạt 45 - 70% ở vùng thấp và dao động trong khoảng 30 - 40% ở các vùng núi cao
Tốc độ gió trung bình năm chỉ đạt dưới 1m/s ở những vùng thấp và dao động trong khoảng 1 - 2,4m/s trên các cao nguyên và vùng núi Tốc độ gió trung bình ít thay đổi trong năm, tuy nhiên vào thời kì chuyển tiếp từ Đông sang Hè (II - V) do ảnh hưởng của các cơn dông nhiệt trị số này thường đạt giá trị lớn nhất
Tốc độ gió mạnh nhất ở lưu vực công trình thủy điện Sơn La tương đối lớn Hầu như quanh năm trị số này đều lớn hơn 15m/s, có thể đạt tới 30 - 40m/s vào thời kì (II - V) do ảnh hưởng của các cơn dông nhiệt[11]
3.1.1.4 Điều kiện thủy văn
Hồ chứa Sơn La là bậc thang thứ 2 kể từ hạ lưu, khai thác dòng chính sông
Đà Vị trí đập Sơn La nằm ở trung lưu sông Đà có diện tích lưu vực khống chế là 43.760km2 trong đó phần diện tích thuộc nước ta là 18.960km2 (chiếm 43,4%) Thung lũng sông dạng hẻm vực, lòng sông hẹp, độ rộng trong mùa kiệt đạt 40 - 60m, trên sông nhiều thác ghềnh (23 thác) Mạng lưới sông suối trong lưu vực hồ chứa có 34 phụ lưu cấp 1, trong đó có 16 phụ lưu trực tiếp đổ vào hồ Trung bình hàng năm trên toàn lưu vực đến tuyến đập Sơn La tiếp nhận lớp nước mưa là 1813mm, lượng dòng chảy trên toàn lưu vực đổ vào hồ chứa là 48,3 tỷ m3 nước Chính vì vậy mà so với các sông suối trên lãnh thổ Việt Nam, đây là lưu vực có tiềm năng nước dồi dào
Ngoài ra, mạng lưới sông suối trên lưu vực sông Đà có dạng hình lông chim
và các phụ lưu đổ thẳng góc vào dòng chính, khả năng tập trung nước trên sông Đà rất lớn và đây là nguyên nhân gây nên tính ác liệt của dòng chảy lũ trên lưu vực và các hiện tượng lũ quét, lũ bùn đá xảy ra mang tính chất thường xuyên trên lưu
Trang 36vực Khả năng xói mòn, xâm thực cát bùn trên bề mặt đưa xuống sông cũng rất lớn[11]
3.1.1.5 Các nguồn Tài nguyên
Tài nguyên đất: Dự án Thủy điện Sơn La sẽ làm ngập khoảng 22.430 ha
đất, trong đó có khoảng 7% diện tích đất nông nghiệp vào loại phì nhiêu nhất trên toàn lưu vực hồ Đối với cuộc sống và nền sản xuất nông nghiệp ven sông của nhân dân trong vùng thì tài nguyên đất nông nghiệp này khó có thể thay thế bằng đất đai các vùng khác Cùng với việc ngập đất, khoảng 71.000 dân vùng bị ngập phải tái định cư ở những nơi ở khác, theo các phương thức di dân tái định
cư đã được chuẩn bị trước Nếu tái định cư theo phương thức "đất đổi đất", thì cần huy động hơn 54.000 ha đất tại 2 tỉnh Sơn La, Lai Châu và các tỉnh khác Sự mất cân bằng giữa diện tích để sản xuất lương thực và nhu cầu thực tế về lương thực tất yếu sẽ đẫn tới hiện tượng xâm hại đất rừng, triệt phá rừng, thậm chí khai phá các vùng đất cần bảo vệ, nếu luồng di cư to lớn này không được kiểm soát chặt chẽ
Mất đất cho Thủy điện Sơn La không phải là mất hẳn mà chúng được đánh đổi bằng lợi ích khác có khi lại cao hơn: nuôi trồng thủy sản, khai thác dịch vụ
du lịch, vi khí hậu Tây Bắc được điều hoà Đây là sự mất mát cần thiết và có lợi, nếu công tác di dân tái định cư được thực hiện tốt.[20]
Tài nguyên rừng: Dự án thủy điện Sơn La sẽ làm ngập khoảng 22.430 ha
đất, trong đó có 13.088 ha đất rừng, với 4,078 ha rừng, tức khoảng 2,5% tổng diện tích rừng trên lưu vực hồ Mặt khác việc xây đựng các công trình phụ trợ, các cơ sở hạ tầng, khai thác vật liệu sẽ hủy hoại hay tổn hại ước đoán hàng nghìn ha đất trong đó một bộ phận là rừng, hoặc cây bụi, trảng cỏ trên diễn thế tái sinh trở lại rừng
Nếu có chủ trương đúng đắn kết hợp tái định cư dân vùng bị ngập với bảo
vệ và phát triển tài nguyên rừng bằng cách chuyển một bộ phận các hộ nông nghiệp tái định cư sang làm lâm nghiệp và nông lâm kết hợp, đặc biệt là khoanh nuôi, trồng và bảo vệ rừng ven hồ và rừng đầu nguồn thì sau khoảng 1 0 - 1 5 năm, sẽ xuất hiện khả năng thâm canh lâm nghiệp, phát triển lâm - nông và nông
Trang 37- lâm kết hợp trên lưu vực; khả năng phục hồi và phát triển rừng sẽ có triển vọng tốt đẹp Điều này có cơ sở khi những công việc chuẩn bị di dân tái định cư thủy điện Sơn La đang được tiến hành theo quy hoạch và được rút kinh nghiệm từ những bài học di dân tái định cư của thủy điện Hoà Bình Hiện nay, các dự án di dân tái định cư mẫu vẫn đang được xây dựng và triển khai thực hiện; một khối lượng lớn công việc đã được thực hiện, một bộ phận dân đã được chuyển đến; trong thực tế đã không tránh khỏi những vướng mắc nảy sinh và những bộn bề còn ở phía trước
Công trình thủy điện Sơn La và công tác di dân tái định cư cũng sẽ là động lực để các tỉnh Tây Bắc, đặc biệt là 3 tỉnh Lai Châu, Điện Biên và Sơn La điều chỉnh lại quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội, gắn quy hoạch phát triển với
di dân tái định cư thủy điện Sơn La và phục vụ xây dựng công trình thủy điện Sơn La Đây thực sự là một cơ hội nếu sự kết hợp này gắn bó hữu cơ với nhau,
và cũng chỉ như thế mới biến nguồn lực của thủy điện Sơn La thành nguồn lực cho phát triển của các tỉnh Tây Bắc [20]
Tài nguyên sinh vật và đa dạng sinh học: Khi xây đựng thủy điện Sơn La,
do bị ngập, địa bàn cư trú của một số động vật hoang dã sẽ bị thu hẹp hoặc mất hẳn Một số ít thú lớn hiện còn lại phải di cư đến các vùng cao và xa hơn Tuy nhiên kết quả điều tra cho thấy các hệ sinh thái bị ngập không mang tính đặc hữu, các đặc trưng đa dạng sinh học có tại đây có thể tìm được tại các nơi không
bị ngập trong và ngoài lưu vực sông Đà
Việc tái định cư có thể có tác động tiêu cực tới đa dang sinh học Hàng chục nghìn người sẽ từ khu lòng hồ di cư tới các địa điểm trong và ngoài lưu vực hồ; nếu không được tổ chức hợp lý thì luồng di cư lớn này sẽ có khả năng gây nên việc tàn phá rừng, hủy hoại tài nguyên sinh vât và đa dạng sinh học trên quy
mô lớn Di dân quy mô lớn vào huyện Mường Tè có thể có tác động trực tiếp tới khu bảo tồn Mường Nhé
Với sự hình thành hồ chứa Sơn La thành phần thủy sinh vật có xu hướng giảm số loài Các nhóm thích nghi với thủy vực nước chảy, nước nông sẽ giảm
số lượng và khu phân bố Nghề cá lồng trên hồ sẽ phát triển Số lượng cá và sinh
Trang 38khối của một số loài thủy sinh sẽ tăng nhanh Số lượng chim sống ở nước và đất ngập nước sẽ tăng
Cùng với việc hình thành hồ một vùng ven hồ rộng hàng trăm km2 sẽ xuất hiện Đất đai vùng này sẽ có độ ẩm cao hơn lúc chưa có hồ, thuận lợi cho việc sinh trưởng của cây trồng, khoanh nuôi, tái sinh rừng tự nhiên, phát triển nuôi trồng các cây con có giá trị kinh tế Nếu tổ chức tốt việc di dân tái định cư sẽ góp phần tích cực vào nhiệm vụ bảo vệ tài nguyên sinh vật và đa dạng sinh học của vùng hồ thủy điện và cả vùng Tây Bắc [20]
Tài nguyên nước: Khi dự án thủy điện Sơn La thực hiện thì diễn biến quan
trọng nhất về tài nguyên nước là sự hình thành hồ chứa nước Sơn La với dung tích lớn, khả năng điều tiết nhiều năm
Theo tiến độ dự kiến sau hơn 7 năm xây dựng hồ Sơn La bắt đầu tích nước, tới năm thứ 10 hồ sẽ tích nước tới mức nước dâng bình thường (215 m) Thung lũng hiện nay của sông Đà từ Pa Vinh lên tới gần biên giới Việt Trung tại Mường Tè và Phong Thổ, sẽ ngập thành một hồ nước hình thuôn dài khoảng 300
km, với 2 nhánh, một theo lòng sông chính, một theo sông Nậm Na Bề rộng trung bình của hồ khoảng 1,4 km, nơi rộng nhất có thể lên tới 5 km (Cửa suối Nậm Muội, Thuận Châu), chỗ hẹp nhất chỉ khoảng 1 km Diện tích hồ ở mực nước dâng bình thường khoảng, 224,3 km2 Tổng dung tích của hồ là 9,26 tỷ m3
Trang 39giữ lại hồ Sơn La, tuổi thọ của hồ Hòa Bình sẽ tăng thêm, xói mòn hạ lưu sông Hòa Bình sẽ mãnh liệt hơn, xói mòn và bồi lắng lòng sông dọc dòng chính và các nhánh sông Hồng sẽ diễn biến phức tạp[20]
3.1.2 Điê ̀u kiê ̣n kinh tế - xã hội
3.1.2.1 Cơ câ ́u dân tộc
Vị trí khu vực dự án xây dựng thủy điện Sơn La nằm ở xã trung tâm phát triển của
cả nước, địa hình hiểm trở, giao thông khó khăn, dân cư thưa thớt, đầu tư phát triển
chưa cao… là yếu tố hết sức trọng yếu gây khó khăn cho nhiệm vụ phát triển kinh tế
xã hội, đảm bảo an ninh quốc phòng tại đây Mật độ dân số ở Sơn La là 68 người/km2, Điện Biên là 45,2 người/km2 và Lai Châu là 33,32 người/km2 Khu vực dự án là nơi cư trú của 29 dân tộc thuộc nhiều dòng ngôn ngữ khác nhau Dù ở từng thôn, bản có từng dân tộc đồng nhất cư trú, nhưng trên một địa bàn nhỏ của từng tỉnh, huyện, xã có thể có nhiều họ tộc người khác nhau cùng chung sống
Năm 2009 cơ cấu dân tộc trong khu vực đã được điều tra và thể hiện trong bảng sau:
Bảng 3.1 Cơ cấu dân tộc ở khu vực dự án
3.1.2.2 Ca ́ c hoạt động kinh tế – xã hội
Nói đến đặc trưng kinh tế vùng Tây Bắc và lưu vực sông Đà phải nói đến nền sản xuất nông nghiệp lâu đời mang tính truyền thống Hầu hết cư dân trong vùng sống chủ yếu dựa vào nông nghiệp, mà trong đó trồng trọt là chủ đạo, đó là yếu tố cơ bản hình thành nền văn minh nông nghiệp các dân tộc thiểu số Tây Bắc
Trang 40Do đặc điểm tự nhiên các vùng cư trú, mỗi dân tộc lựa chọn cho mình các loại hình trồng trọt thích hợp, nhưng phổ biến là làm ruộng và làm nương Ngoài
ra còn làm vườn và các nghề thủ công ở những trình độ khác nhau
Kinh tế lúa nước
Vùng thung lũng sông Đà tập trung nhiều dân tộc như: Mường, Thái, Tày là các dân tộc làm ruộng nước lâu đời với trình độ sản xuất khá phát triển
Họ đã biết lợi dụng các điều kiện tự nhiên sẵn có vào việc canh tác ruộng nước như làm ruộng bậc thang, be bờ giữ nước hoặc tạo ra hệ thống dẫn nước thủ công đơn giản dẫn nước chảy tự nhiên vào ruộng Tất cả các biện pháp canh tác từ chọn giống, làm đất (cày bừa), gieo mạ, chăm sóc, thu hoạch, thời vụ đều được thực hiện khá thuần thục phù hợp với các đặc điểm của mỗi nơi
Ngày nay, nhờ quá trình tiếp cận với những kiến thức mới, nhiều vùng đã biết sử dụng phân bón hoá học, các giống mới và áp dụng các kỹ thuật canh tác tiên tiến làm tăng hiệu quả lao động và năng suất chất lượng cây trồng; nhờ vậy, đời sống của người dân được nâng cao[20]
Kinh tế nương rẫy
Làm nương là hình thức canh tác rất đặc trưng chỉ có ở miền núi, thuộc vùng cao mà đại diện là người HMông, Khơ mú, Xinh Mun, Mẻng Đây là hình thức sản xuất thủ công thô sơ, vất vả nhọc nhằn và phụ thuộc nhiều vào thiên nhiên nên thu hoạch thất thường Đói giáp hạt là phổ biến và vì thế họ thường phải dựa vào các nghề khác như săn bắn, hái lượm, chặt gỗ, củi trong rừng, góp phần làm suy giảm tài nguyên rừng
Các hoạt động kinh tế phụ khác
- Làm vườn, chăn nuôi gia súc, gia cầm, nuôi ong, nuôi cá ở nhiều nơi cũng đã phát triển, góp phần cải thiện đời sống dân bản
- Sản xuất thủ công nghiệp như dệt nhuộm vải, đan lát, thêu, rèn, mộc,
gốm, làm giấy, nghề kim hoàn v.v Là các nghề thủ công truyền thống ở nhiều
vùng dân tộc Tây Bắc Trong những năm gần đây, các vùng trung tâm hoặc dọc đường quốc lộ, do giao lưu thông thương với nhiều vùng khác nên nhiều nghề như nung vôi, làm gạch, làm miến dong, chế biến lương thực cũng xuất hiện