Ý nghĩa của nghiên cứu - Kết quả nghiên cứu của đề tài bám sát mục tiêu, nhận diện được những thành công, bất cập trong quá trình triển khai thực hiện “Chương trình mục tiêu quốc gia về
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
ĐẶNG THỊ KIM LIÊN
GIẢI PHÁP THÚC ĐẨY HOÀN THÀNH
CHƯƠNG TRÌNH XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI
TẠI THÀNH PHỐ THÁI NGUYÊN,
TỈNH THÁI NGUYÊN
LUẬN VĂN THẠC SĨ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN
THÁI NGUYÊN - 2016
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
ĐẶNG THỊ KIM LIÊN
GIẢI PHÁP THÚC ĐẨY HOÀN THÀNH
CHƯƠNG TRÌNH XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI
TẠI THÀNH PHỐ THÁI NGUYÊN,
TỈNH THÁI NGUYÊN
Ngành: Phát triển nông thôn
Mã số ngành: 60.62.01.16
LUẬN VĂN THẠC SĨ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN
Người hướng dẫn khoa học: TS Bùi Đình Hòa
THÁI NGUYÊN - 2016
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu
và kết quả nghiên cứu trong luận văn này có nguồn gốc rõ ràng, trung thực và chưa được sử dụng để bảo vệ một học vị nào khác
Tôi xin cam đoan mọi sự giúp đỡ trong việc thực hiện luận văn này đều
đã được cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn đã được chỉ rõ nguồn gốc
Thái Nguyên, ngày tháng năm 2016
Tác giả
Đặng Thị Kim Liên
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình thực hiện đề tài “Giải pháp thúc đẩy hoàn thành
chương trình xây dựng nông thôn mới tại thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên”, tôi đã nhận được sự hướng dẫn, giúp đỡ, động viên nhiệt tình
của nhiều cá nhân và tập thể Tôi xin chân thành cảm ơn sâu sắc nhất tới tất
cả các cá nhân và tập thể đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi trong quá trình học tập
và nghiên cứu
Tôi xin trân trọng cảm ơn Ban giám hiệu, khoa kinh tế và phát triển nông thôn của Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi
về mọi mặt trong quá trình học tập và hoàn thành luận văn này
Tôi xin trân trọng cảm ơn sự giúp đỡ tận tình của giáo viên hướng dẫn
xã Đồng Bẩm, xã Cao Ngạn, tôi xin cảm ơn sâu sắc tới các đồng chí đã hỗ trợ nhiệt tình, cung cấp số liệu liên quan tới đề tài
Tôi xin bày tỏ sự cảm ơn sâu sắc đối với mọi sự giúp đỡ quý báu đó
Thái Nguyên, ngày tháng năm 2016
Tác giả
Đặng Thị Kim Liên
Trang 5MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT vi
DANH MỤC CÁC BẢNG vii
MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Mục tiêu nghiên cứu 3
3 Ý nghĩa của nghiên cứu 3
Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI 4
1.1 Cơ sở lý luận về xây dựng nông thôn mới 4
1.1.1 Lý luận về nông thôn 4
1.1.2 Lý luận về xây dựng nông thôn mới 5
1.2 Kinh nghiệm thực tiễn về xây dựng nông thôn mới 7
1.2.1 Tình hình nghiên cứu về xây dựng mô hình PTNT trên thế giới 7
1.2.2 Thực trạng xây dựng nông thôn mới ở Việt Nam 14
Chương 2 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 28
2.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 29
2.1.1 Đối tượng nghiên cứu 29
2.1.2 Phạm vi nghiên cứu 29
2.2 Nội dung nghiên cứu 29
2.3 Phương pháp nghiên cứu 29
2.4 Hệ thống các chỉ tiêu nghiên cứu 32
Trang 6Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 32
3.1 Khái quát về điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội TP Thái Nguyên 33
3.1.1 Điều kiện tự nhiên 33
3.1.2 Khái quát thực trạng điều kiện kinh tế - xã hội TP Thái Nguyên 36
3.2 Thực trạng xây dựng nông thôn mới tại TP Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên 46
3.2.1 Chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước về việc xây dựng nông thôn mới 46
3.2.2 Chủ trương, chính sách của tỉnh Thái Nguyên 48
3.2.3 Việc triển khai thực hiện xây dựng nông thôn mới trên địa bàn TP Thái Nguyên 50
3.3 Thực trạng xây dựng nông thôn mới tại 02 xã nghiên cứu/địa bàn thành phố Thái Nguyên theo các tiêu chí trong bộ tiêu chí quốc gia về xây dựng nông thôn mới 51
3.3.1 Thực trạng quy hoạch và thực hiện quy hoạch của 02 xã nghiên cứu 51
3.3.2 Thực trạng cơ sở hạ tầng kinh tế, xã hội so với tiêu chí NTM 52
3.3.3 Thực trạng kinh tế và tổ chức sản xuất của 02 xã nghiên cứu trên địa bàn TP Thái Nguyên so với tiêu chí NTM 59
3.3.4 Người dân về vấn dề xây dựng NTM 65
3.3.5 Sự tham gia của người dân trong quá trình xây dựng nông thôn mới 66
3.3.6 Đánh giá việc thực hiện chương trình xây dựng Nông thôn mới trên địa bàn nghiên cứu 73
3.4 Những thuận lợi, khó khăn, cơ hội và thách thức liên quan đến quá trình xây dựng nông thôn mới tại thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên 74
3.4.1 Những thuận lợi 74
3.4.2 Khó khăn và thách thức 74
3.4.3 Cơ hội 76
3.4.4 Thách thức 76
Trang 73.5 Phương hướng và giải pháp đẩy mạnh quá trình hoàn thành chương
trình xây dựng nông thôn mới ở TP Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên 77
3.5.1 Mục tiêu xây dựng nông thôn mới của thành phố Thái Nguyên 77
3.5.2 Giải pháp đẩy mạnh hoàn thành chương trình xây dựng NTM tại thành phố Thái Nguyên 79
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 82
TÀI LIỆU THAM KHẢO 84
PHỤ LỤC 86
Trang 8DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
CN-TTCN : Công nghiệp - Tiểu thủ công nghiệp
CT NTM : Chương trình Nông thôn mới
GDP : Thu nhập bình quân đầu người GTVT : Giao thông vận tải
HĐND : Hội đồng nhân dân
PTNT : Phát triển nông thôn
TCXDVN : Tiêu chuẩn xây dựng Việt Nam THCN : Trung học chuyên nghiệp
Trang 9DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 3.1 Biến động đất đai TP Thái Nguyên thống kê 2013- 2015 34 Bảng 3.2 Cơ cấu kinh tế của các ngành trên địa bàn TP Thái
Nguyên 36 Bảng 3.3 Tình hình dân số và lao động của thành phố Thái Nguyên
năm 2013-2015 37 Bảng 3.4 Cơ sở hạ tầng ngành giáo dục thành phố Thái Nguyên năm
2012 - 2015 43 Bảng 3.5 Chiều dài các loại đường trong hệ thống giao thông thành
phố Thái Nguyên năm 2012 - 2015 45 Bảng 3.6 Cơ sở hạ tầng ngành y tế thành phố Thái Nguyên năm 2012-
2015 45 Bảng 3.7 Đánh giá của người dân về cách thức triển khai xây dựng
nông thôn mới 51 Bảng 3.8 Thực trạng quy hoạch và thực hiện quy hoạch so với tiêu chí
NTM 52 Bảng 3.9 Thực trạng cơ sở hạ tầng kinh tế xã hội so với tiêu chí
NTM 53 Bảng 3.10 Tình hình thực hiện tiêu chí thủy lợi (Tính đến tháng 12 năm
2015) 55 Bảng 3.11 Tình hình thực hiện tiêu chí về điện nông thôn (Tính đến
tháng 12 năm 2015) 56 Bảng 3.12 Hệ thống các trường học trên địa bàn TP Thái Nguyên 56 Bảng 3.13 Tình hình thực hiện tiêu chí cơ sở vật chất văn hóa (Tính đến
tháng 12 năm 2015) 57 Bảng 3.14 Tình hình thực hiện tiêu chí về bưu điện (Tính đến tháng 12
năm 2015) 58
Trang 10Bảng 3.15 Tình hình thực hiện tiêu chí nhà ở dân cư (Tính đến tháng 12
năm 2015) 58 Bảng 3.16 Thực trạng kinh tế và tổ chức sản xuất của 02 xã theo tiêu chí
NTM 59 Bảng 3.17 Tình hình thực hiện tiêu chí giáo dục tại 2 xã nghiên cứu 62 Bảng 3.18 Tình hình thực hiện tiêu chí môi trường tại 02 xã nghiên cứu
(tính đến tháng 12 năm 2015) 63 Bảng 3.19: Tình hình thực hiện tiêu chí hệ thống tổ chức chính trị 64 Bảng 3.20 Cơ cấu ngành nghề hộ gia đình năm 2016 65 Bảng 3.21 Kết quả huy động tiền của người dân trong xây dựng NTM
tại 2 xã nghiên cứu (tính đến tháng 6 năm 2016) 66 Bảng 3.22 Kết quả điều tra nguồn cung cấp thông tin cho người dân về
chương trình NTM) 67 Bảng 3.23 Kết quả điều tra sự hiểu biết của người dân về chương trình
NTM 69 Bảng 3.24 Kết quả điều tra các hoạt động tham gia ý kiến của người dân
vào chương trình NTM 70 Bảng 3.25 Kết quả điều tra cán bộ về những hoạt động xây dựng
NTM 72 Bảng 3.26 Số tiêu chí chưa hoàn thành của các xã địa bàn nghiên
cứu 74
Trang 12MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X đã khẳng định: “Trong giai đoạn hiện nay và nhiều năm tới, vấn đề nông nghiệp nông thôn là vấn đề chính có tầm chiến lược quan trọng, là vấn đề then chốt trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, là cơ sở ổn định chính trị và an ninh quốc phòng, là yếu tố hàng đầu đảm bảo sự phát triển bền vững của Đất nước trong quá trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá theo định hướng xã hội chủ nghĩa Như chúng ta đã thấy sự phát triển kinh tế một nước không chỉ phụ thuộc vào sự phát triển kinh tế của các vùng đô thị mà còn phụ thuộc rất nhiều vào sự phát triển của các vùng nông thôn”
Nông thôn nước ta luôn chiếm một vị trí quan trọng trong quá trình dựng nước và giữ nước Trong các cuộc chiến tranh chống lại xâm lược của ngoại bang, nông thôn là nơi cung cấp người và của để chiến thắng quân thù Trong thời kỳ nào Đảng ta cũng chăm lo đến phát triển kinh tế xã hội ở nông thôn
Sau năm 1986, đất nước ta bước vào công cuộc đổi mới, nền kinh tế được vận hành theo cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và ngày càng hội nhập sâu hơn với kinh tế thế giới Phát triển nông nghiệp nông thôn là một yêu cầu cũng như thách thức trong thời điểm hiện nay Nhận thức được vấn đề đó, ngày 5/8/2008 Ban chấp hành Trung ương Đảng đã ban hành Nghị quyết số 26-NQ/TƯ về nông nghiệp, nông dân nông thôn Mục tiêu của Nghị quyết đến năm 2020: “Giải quyết cơ bản việc làm, nâng cao thu nhập của dân cư nông thôn gấp trên 2,5 lần so với hiện nay Lao động nông nghiệp còn khoảng 30% lao động xã hội, tỉ lệ lao động nông thôn thông qua đào tạo đạt trên 50%, số xã đạt tiêu chuẩn nông thôn mới khoảng 50%; phát triển đồng bộ kết cấu hạ tầng kinh tế xã hội nông thôn”
Trang 13Để triển khai Nghị quyết số 26-NQ/TƯ, với chủ trương đưa nông thôn tiến kịp với thành thị, xây dựng mục tiêu hiện đại hoá nông thôn Việt Nam vào cuối năm 2020, ngày 16/4/2009, Thủ tướng chính phủ đã ra Quyết định số 491/QĐ-TTg về việc ban hành bộ tiêu chí quốc gia về xây dựng nông thôn mới Trên cơ sở bộ tiêu chí nông thôn mới này, các địa phương căn cứ để xây dựng, phát triển nông thôn Ngày 02/02/2010 Thủ tướng Chính phủ ra Quyết định số 193/QĐ-TTg phê duyệt rà soát quy hoạch xây dựng nông thôn mới Ngày 04/6/2010 Chính phủ ra quyết định số 800/QĐ-TTg về phê duyệt chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2010 - 2020, với mục tiêu đến năm 2015; 20% số xã dạt tiêu chuẩn nông thôn mới, đến năm 2020: 50%
số xã đạt tiêu chuẩn nông thôn mới Bộ nông nghiệp và phát triển nông thôn cũng ban hành thông tư số 54/2009/BNNPTNT ngày 20/8/2009 về hướng dẫn thực hiện Bộ tiêu chí quốc gia về nông thôn mới Xây dựng nông thôn mới được tất cả các tỉnh trên phạm vi toàn quốc quan tâm, là chủ đề của nhiều hội thảo, đề tài nghiên cứu nhằm thực hiện thắng lợi Nghị quyết của Đảng, Chính phủ
Thái Nguyên là một trong những tỉnh đã triển khai đồng bộ xây dựng nông thôn mới trên toàn địa bàn So với mặt bằng chung của cả nước và khu vực tỉnh Thái Nguyên; TP Thái Nguyên đi đầu trong việc thực hiện nhiệm vụ này Trong giai đoạn thực hiện xây dựng nông thôn mới, TP Thái Nguyên đã đạt được những kết quả nhất định, cải thiện rõ ràng đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân, tuy nhiên bên cạnh đó không thể phủ nhận vẫn tồn tại một
số hạn chế trong công cuộc hoàn thành chương trình xây dựng nông thôn mới
Xuất phát từ những yêu cầu về phát triển nông thôn mới và tình hình
trên, tôi thấy cần thiết phải tiến hành nghiên cứu đề tài: “Giải pháp thúc đẩy
hoàn thành quá trình xây dựng nông thôn mới tại thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên”
Trang 142 Mục tiêu nghiên cứu
+ Đánh giá thực trạng về xây dựng nông thôn mới trên địa bàn thành phố Thái Nguyên;
+ Kết hợp giữa lý luận và thực tiễn nhằm xác định các yếu tố ảnh hưởng,
ưu điểm, hạn chế trong quá trình thực hiện xây dựng nông thôn mới của TP Thái Nguyên
+ Đề xuất một số giải pháp chủ yếu để thúc đẩy quá trình hoàn thành xây dựng nông thôn mới của TP Thái Nguyên
3 Ý nghĩa của nghiên cứu
- Kết quả nghiên cứu của đề tài bám sát mục tiêu, nhận diện được những thành công, bất cập trong quá trình triển khai thực hiện “Chương trình mục tiêu quốc gia về xây dựng nông thôn mới”, đề xuất các giải pháp có tính khả thi góp phần thúc đẩy hoàn thành quá trình xây dựng nông thôn mới ở thành phố Thái Nguyên trong năm 2016 Vì vậy, đây là luận cứ khoa học phục vụ cho sự lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành quản lý của thành phố Thái Nguyên và trong việc thực hiện “Chương trình mục tiêu quốc gia về xây dựng nông thôn mới” của Đảng
và Nhà nước
- Đề tài góp phần quan trọng trong việc đánh giá quá trình xây dựng nông thôn mới và đề xuất các giải pháp có cơ sở khoa học, sẽ góp phần thúc đẩy quá trình hoàn thành chương trình xây dựng Nông thôn mới ở thành phố Thái Nguyên đảm bảo nhanh và bền vững
Trang 15Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ XÂY DỰNG
NÔNG THÔN MỚI 1.1 Cơ sở lý luận về xây dựng nông thôn mới
1.1.1 Lý luận về nông thôn
1.1.1.1 Khái niệm về nông thôn
Theo từ điển tiếng Việt: Nông thôn là danh từ chỉ khu vực dân cư tập trung chủ yếu làm nghề nông; phân biệt với thành thị
Bộ nông nghiệp và phát triển nông thôn tại thông tư BNNPTNT thì nông thôn được khái niệm: Nông thôn là phần lãnh thổ không thuộc nội thành, nội thị, các thành phố, thị xã, thị trấn được quản lý bởi cấp hành chính cơ sở là uỷ ban nhân dân xã
54/2009/TT-Như vậy, nông thôn là vùng sinh sống của tập hợp dân cư, trong đó tập trung chủ yếu là nông dân, nghề nghiệp chủ yếu là sản xuất nông nghiệp Tập hợp này tham gia vào các hoạt động kinh tế, văn hoá, xã hội và môi trường trong một thể chế chính trị nhất định và chịu sự quản lý hành chính cơ sở là UBND xã
1.1.1.2 Đặc điểm của nông thôn Việt Nam trong giai đoạn đổi mới
- Ở vùng nông thôn, các cư dân chủ yếu là nông dân, lao động và GDP nông nghiệp chiếm tỷ lệ cao trong kinh tế nông thôn Nông thôn Việt Nam sau những năm đổi mới đến nay đã có nhiều biến đổi theo xu hướng tích cực Tuy nhiên, lực lượng dân cư chủ yếu vẫn là nông dân, ngành nghề và nguồn thu nhập của hộ vẫn chủ yếu là nông nghiệp Công nghiệp và dịch vụ đã có sự phát triển, nhưng còn chiếm tỷ lệ nhỏ, và chủ yếu phát triển dựa trên sự phát triển của nông thôn và phục vụ cho sự phát triển nông nghiệp và đời sống người nông dân là chính
Trang 16- Nông thôn có điều kiện tự nhiên, môi trường sinh thái đa dạng bao gồm các tài nguyên đất, nước, khí hậu, rừng, sông, suối, ao hồ, khoáng sản, hệ động thực vật Đây là điều kiện thuận lợi để phát triển nông nghiệp, nông thôn, nhưng đồng thời cũng là thách thức trong quá trình phát triển bền vững của khu vực nông thôn nói riêng và cả nước nói chung
- Dân cư nông thôn có mối quan hệ họ tộc và gia đình khá chặt chẽ với những quy định cụ thể của từng họ tộc và gia đình Những người ngoài họ tộc cùng chung sống luôn có tinh thần đoàn kết giúp đỡ nhau tạo nên tình làng nghĩa xóm lâu bền
- Nông thôn lưu giữ và bảo tồn nhiều di sản văn hoá quốc gia như phong tục tập quán cổ truyền về đời sống, lễ hội, sản xuất nông nghiệp và ngành nghề truyền thống, các di tích lịch sử, văn hoá, các danh lam thắng cảnh… Đây chính
là nơi chứa đựng kho tàng văn hoá dân tộc, đồng thời là khu vực giải trí và du lịch sinh thái phong phú và hấp dẫn đối với mọi người
1.1.1.3 Vai trò của nông thôn trong phát triển kinh tế xã hội
- Nông thôn là nơi cung cấp lương thực, thực phẩm cho đời sống nhân dân
- Cung cấp nguyên vật liệu cho công nghiệp
- Cung cấp hàng hoá cho xuất khẩu
- Cung cấp lao động cho công nghiệp và thành thị
- Là thị trường rộng lớn tiêu thụ những sản phẩm công nghiệp và dịch vụ
- Phát triển nông thôn tạo điều kiện phát triển ổn định về kinh tế - chính trị - xã hội
1.1.2 Lý luận về xây dựng nông thôn mới
1.1.2.1 Khái niệm nông thôn mới
Cuộc cách mạng và cuộc vận động lớn để cộng đồng dân cư ở nông thôn đồng lòng xây dựng thôn, xã, gia đình mình khang trang, sạch đẹp; phát triển sản xuất toàn diện (nông nghiệp, công nghiệp, dịch vụ); có nếp sống văn hoá, môi trường và an ninh nông thôn được đảm bảo; thu nhập, đời sống vật chất,
Trang 17tinh thần của người dân được nâng cao; sự nghiệp cách mạng của toàn Đảng, toàn dân, của cả hệ thống chính trị Nông thôn mới không chỉ là vấn đề kinh tế
- xã hội, mà là vấn đề kinh tế - chính trị tổng hợp; giúp cho nông dân có niềm tin, trở nên tích cực, chăm chỉ, đoàn kết, giúp đỡ nhau xây dựng nông thôn phát triển giàu đẹp, dân chủ, văn minh (Hải Bình, 2015)[5]
Trong quyết định số 800/QĐ-TTg đưa ra mục tiêu chung về xây dựng
mô hình nông thôn mới: “Xây dựng nông thôn mới có kết cấu hạ tầng kinh tế -
xã hội từng bước hiện đại; cơ cấu kinh tế và các hình thức tổ chức sản xuất hợp
lý, gắn nông nghiệp với phát triển nhanh công nghiệp, dịch vụ; gắn phát triển nông thôn với đô thị theo quy hoạch; xã hội nông thôn dân chủ, ổn định, giàu bản sắc văn hóa dân tộc; môi trường sinh thái được bảo vệ; an ninh trật tự được giữ vững; đời sống vật chất và tinh thần của người dân ngày càng được nâng cao; theo định hướng xã hội chủ nghĩa”
Như vậy, nông thôn mới là nông thôn có kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội hiện đại, cơ cấu kinh tế và các hình thức tổ chức sản xuất hợp lý, xã hội dân chủ, ổn định, giàu bản sắc văn hoá dân tộc, đời sống vật chất, tinh thần được nâng cao, môi trường sinh thái được bảo vệ, an ninh trật tự được giữ vững
1.1.2.2 Xây dựng nông thôn mới
Xây dựng nông thôn mới là nông thôn được xây dựng đạt được những tiêu chí quy định và được công nhận của cấp có thẩm quyền
Trong Nghị quyết số 26-NQ/TW đưa ra mục tiêu: “Xây dựng nông thôn mới có kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội hiện đại, cơ cấu kinh tế và các hình thức
tổ chức sản xuất hợp lý, gắn nông nghiệp với phát triển nhanh công nghiệp, dịch vụ, đô thị theo quy hoạch; xã hội nông thôn ổn định, giàu bản sắc văn hoá dân tộc; dân trí được nâng cao, môi trường sinh thái được bảo vệ; hệ thống chính trị ở nông thôn dưới sự lãnh đạo của Đảng được tăng cường”
Các nội dung, tiêu chí quy định tại Quyết định số 491/QĐ-TTg ngày 16/4/2009 của Thủ tướng chính phủ; Quyết định số 800/QĐ-TTg ngày 4/6/2010;
Trang 18theo đó, chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới có 11 nội dung cần thực hiện, bao hàm 19 tiêu chí và được chia thành 5 nhóm tiêu chí;
cụ thể như sau:
(1) Quy hoạch xây dựng nông thôn mới
(2) Phát triển hạ tầng kinh tế - xã hội (tiêu chí số 2;3;4;5;6;7;8;9 trong
bộ tiêu chí)
(3) Chuyển dịch cơ cấu, phát triển kinh tế, nâng cao thu nhập (tiêu chí
số 10,12 trong bộ tiêu chí)
(4) Giảm nghèo và an sinh xã hội (tiêu chí 11 của bộ tiêu chí)
(5) Đổi mới và phát triển các hình thức tổ chức sản xuất có hiệu quả ở nông thôn (tiêu chí số 13 của bộ tiêu chí quốc gia)
(6) Phát triển giáo dục - đào tạo ở nông thôn (tiêu chí số 5 và 14 của bộ tiêu chí)
(7) Phát triển y tế, chăm sóc sức khoẻ dân cư nông thôn (tiêu chí số 5 và
15 của bộ tiêu chí)
(8) Xây dựng đời sống văn hoá, thông tin và truyền thông nông thôn (tiêu chí số 6 và 16 của bộ tiêu chí)
(9) Cấp nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn
(10) Nâng cao chất lượng tổ chức Đảng, chính quyền, đoàn thể chính trị
- xã hội trên địa bàn
(11) Giữ vững an ninh trật tự xã hội nông thôn
1.2 Kinh nghiệm thực tiễn về xây dựng nông thôn mới
1.2.1 Tình hình nghiên cứu về xây dựng mô hình PTNT trên thế giới
Phát triển nông thôn là một quá trình lâu dài Một số nước đang phát triển thậm chí phải tốn cả nửa thế kỷ để hồi phục những giá trị đã bị phá vỡ trong quá trình phát triển
Xây dựng mô hình phát triển nông thôn là một quá trình hết sức khó khăn
và phức tạp vì nó liên quan đến nhiều ngành nghề, nhiều hoạt động liên quan trực tiếp và gián tiếp tới khu vực nông thôn và đời sống của người dân nông
Trang 19thôn Mô hình phát triển nông thôn liên quan đến nhiều nhóm đối tượng người dân, nhiều tổ chức cơ quan đoàn thể Người dân được coi là trọng tâm của phát triển nông thôn, vì vậy các mô hình phát triển nông thôn cần tập trung vào việc cải thiện đời sống cho người dân vùng nông thôn
Trên thế giới vấn đề xây dựng mô hình nông thôn đã luôn là chủ đề nóng hổi qua mọi thời đại Trong thời kỳ hội nhập kinh tế thế giới nhiều nước trên thế giới đẩy mạnh các giải pháp kinh tế và công nghiệp hóa nông thôn Ở Mỹ, Nhật Bản, Hàn Quốc và Thái Lan chú trọng đến việc thúc đẩy nông nghiệp nông thôn phát triển toàn diện nhằm tăng thu nhập cho nông dân, điều chỉnh mạnh cơ cấu, bố cục khu vực nông nghiệp và kinh doanh chuyên môn hóa nông nghiệp, phát triển chăn nuôi, thủy sản; xây dựng thể chế an ninh an toàn chất lượng nông sản và hệ thống dịch vụ xã hội hóa nông nghiệp Các nước đang phát triển thì lại tập trung mạnh vào công nghiệp hóa nông thôn
* Kinh nghiệm xây dựng nông thôn mới tại Mỹ
Mỹ là nước có điều kiện tự nhiên cực kỳ thuận lợi để phát triển nông nghiệp Vùng Trung Tây của nước này có đất đai màu mỡ nhất thế giới Lượng mưa vừa đủ cho hầu hết các vùng của đất nước; nước sông và nước ngầm cho phép tưới rộng khắp cho những nơi thiếu mưa
Bên cạnh đó, các khoản vốn đầu tư lớn và việc tăng cường sử dụng lao động có trình độ cao cũng góp phần vào thành công của ngành nông nghiệp
Mỹ Điều kiện làm việc của người nông dân làm việc trên cánh đồng rất thuận lợi: máy kéo với các ca bin lắp điều hòa nhiệt độ, gắn kèm theo những máy cày, máy xới và máy gặt có tốc độ nhanh và đắt tiền Công nghệ sinh học giúp phát triển những loại giống chống được bệnh và chịu hạn Phân hóa học và thuốc trừ sâu được sử dụng phổ biến, thậm chí, theo các nhà môi trường, quá phổ biến Công nghệ vũ trụ được sử dụng để giúp tìm ra những nơi tốt nhất cho việc gieo trồng và thâm canh mùa màng Định kỳ, các nhà nghiên cứu lại giới thiệu các sản phẩm thực phẩm mới và những phương pháp mới phục vụ việc nuôi trồng thủy, hải sản, chẳng hạn như tạo các hồ nhân tạo để nuôi cá
Trang 20Ngành nông nghiệp Mỹ đã phát triển thành một ngành “Kinh doanh nông nghiệp”, một khái niệm được đặt ra để phản ánh bản chất tập đoàn lớn của nhiều doanh nghiệp nông nghiệp trong nền kinh tế Mỹ hiện đại Kinh doanh nông nghiệp bao gồm rất nhiều doanh nghiệp nông nghiệp và các cơ cấu trang trại
đa dạng, từ các doanh nghiệp nhỏ một hộ gia đình cho đến các tổ hợp rất lớn hoặc các công ty đa quốc gia sở hữu những vùng đất đai lớn hoặc sản xuất hàng hóa và nguyên vật liệu cho nông dân sử dụng Cũng giống như một doanh nghiệp công nghiệp tìm cách nâng cao lợi nhuận bằng việc tạo ra quy mô lớn hơn và hiệu quả hơn, nhiều nông trại Mỹ cũng ngày càng có quy mô lớn hơn
và củng cố hoạt động của mình sao cho linh hoạt hơn
Sự ra đời ngành kinh doanh nông nghiệp vào cuối thế kỷ XX đã tạo ra ít trang trại hơn, nhưng quy mô các trang trại thì lớn hơn nhiều Đôi khi được sở hữu bởi những cổ đông vắng mặt, các trang trại mang tính tập đoàn này sử dụng nhiều máy móc hơn và ít bàn tay của nông dân hơn Vào năm 1940, Mỹ có 6 triệu trang trại và trung bình mỗi trang trại có diện tích khoảng 67 ha, đến cuối thập niên 90 của thế kỷ XX, số trang trại chỉ còn 2,2 triệu nhưng trung bình mỗi trang trại có diện tích 190 ha Cũng chính trong khoảng giai đoạn này, số lao động nông nghiệp giảm rất mạnh - từ 12,5 triệu người năm 1930 xuống còn 1,2 triệu người vào cuối thập niên 90 của thế kỷ trước - dù cho dân số của Mỹ tăng hơn gấp đôi Và gần 60% trong số nông dân còn lại đó đến cuối thế kỷ này chỉ làm việc một phần thời gian trên trang trại; thời gian còn lại họ làm những việc khác không thuộc trang trại để bù đắp thêm thu nhập cho mình
Hiện nay, trong cuộc sống hiện đại ồn ào, đầy sức ép, người Mỹ ở vùng
đô thị hay ven đô hướng về những ngôi nhà thô sơ, ngăn nắp và những cánh đồng, phong cảnh miền quê truyền thống, yên tĩnh Tuy nhiên, để duy trì “trang trại gia đình” và phong cảnh làng quê đó thực sự là một thách thức
* Kinh nghiệm xây dựng Nông thôn mới tại Nhật Bản
Trang 21Từ thập niên 70 của thế kỷ trước, ở tỉnh Oita (miền tây nam Nhật Bản)
đã hình thành và phát triển phong trào “Mỗi làng một sản phẩm”, với mục tiêu phát triển vùng nông thôn của khu vực này một cách tương xứng với sự phát triển chung của cả nước Nhật Bản Trải qua gần 30 năm hình thành và phát triển, Phong trào “Mỗi làng một sản phẩm” ở đây đã thu được nhiều thắng lợi rực rỡ Sự thành công của phong trào này đã lôi cuốn sự quan tâm không chỉ của nhiều địa phương trên đất nước Nhật Bản mà còn rất nhiều khu vực, quốc gia khác trên thế giới Một số quốc gia, nhất là những quốc gia trong khu vực Đông Nam Á đã thu được những thành công nhất định trong phát triển nông thôn của đất nước mình nhờ áp dụng kinh nghiệm phong trào “Mỗi làng một sản phẩm”
Những kinh nghiệm của phong trào “Mỗi làng một sản phẩm” được những người sáng lập, các nhà nghiên cứu đúc rút để ngày càng có nhiều người, nhiều khu vực và quốc gia có thể áp dụng trong chiến lược phát triển nông thôn, nhất là phát triển nông thôn trong quá trình công nghiệp hóa đất nước mình
* Kinh nghiệm xây dựng nông thôn mới tại Hàn Quốc
Cuối thập niên 60 của thế kỷ XX, GDP bình quân đầu người của Hàn Quốc chỉ có 85 USD; phần lớn người dân không đủ ăn; 80% dân nông thôn không có điện thắp sáng và phải dùng đèn dầu, sống trong những căn nhà lợp bằng lá Là nước nông nghiệp trong khi lũ lụt và hạn hán lại xảy ra thường xuyên, mối lo lớn nhất của chính phủ khi đó là làm sao đưa đất nước thoát khỏi đói, nghèo
Phong trào Làng mới (SU) ra đời với 3 tiêu chí: cần cù (chăm chỉ), tự lực vượt khó, và, hợp tác (hiệp lực cộng đồng) Năm 1970, sau những dự án thí điểm đầu tư cho nông thôn có hiệu quả, Chính phủ Hàn Quốc đã chính thức phát động phong trào SU và được nông dân hưởng ứng mạnh mẽ Họ thi đua cải tạo nhà mái lá bằng mái ngói, đường giao thông trong làng, xã được mở rộng, nâng cấp; các công trình phúc lợi công cộng được đầu tư xây dựng
Trang 22Phương thức canh tác được đổi mới, chẳng hạn, áp dụng canh tác tổng hợp với nhiều mặt hàng mũi nhọn như nấm và cây thuốc lá để tăng giá trị xuất khẩu Chính phủ khuyến khích và hỗ trợ xây dựng nhiều nhà máy ở nông thôn, tạo việc làm và cải thiện thu nhập cho nông dân
Bộ mặt nông thôn Hàn Quốc đã có những thay đổi hết sức kỳ diệu Chỉ sau 8 năm, các dự án phát triển kết cấu hạ tầng nông thôn cơ bản được hoàn thành Trong 8 năm từ 1971-1978, Hàn Quốc đã cứng hóa được 43.631km đường làng nối với đường của xã, trung bình mỗi làng nâng cấp được 1.322m đường; cứng hóa đường ngõ xóm 42.220km, trung bình mỗi làng là 1.280m; xây dựng được 68.797 cầu (Hàn Quốc là đất nước có nhiều sông suối), kiên cố hóa 7.839km đê, kè, xây 24.140 hồ chứa nước và 98% hộ có điện thắp sáng Đặc biệt, vì không có quỹ bồi thường đất và các tài sản khác nên việc hiến đất, tháo dỡ công trình, cây cối, đều do dân tự giác bàn bạc, thỏa thuận, ghi công lao đóng góp và hy sinh của các hộ cho phong trào
Nhờ phát triển giao thông nông thôn nên các hộ có điều kiện mua sắm phương tiện sản xuất Cụ thể là, năm 1971, cứ 3 làng mới có 1 máy cày, thì đến năm 1975, trung bình mỗi làng đã có 2,6 máy cày, rồi nâng lên 20 máy vào năm
1980 Từ đó, tạo phong trào cơ khí hóa trong sản xuất nông nghiệp, áp dụng công nghệ cao, giống mới lai tạo đột biến, công nghệ nhà lưới, nhà kính trồng rau, hoa quả đã thúc đẩy năng suất, giá trị sản phẩm nông nghiệp, tăng nhanh Năm 1979, Hàn Quốc đã có 98% số làng tự chủ về kinh tế (Phan Đình Hà, 2011)[6]
* Kinh nghiệm xây dựng nông thôn mới tại Thái Lan
Thái Lan vốn là một nước nông nghiệp truyền thống với dân số nông thôn chiếm khoảng 80% dân số cả nước Để thúc đẩy sự phát triển bền vững nền nông nghiệp, Thái Lan đã áp dụng một số chiến lược như: Tăng cường vai trò của cá nhân và các tổ chức hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp; đẩy mạnh phong trào học tập, nâng cao trình độ của từng cá nhân và tập thể bằng cách
Trang 23mở các lớp học và các hoạt động chuyên môn trong lĩnh vực nông nghiệp và nông thôn; tăng cường công tác bảo hiểm xã hội cho nông dân, giải quyết tốt vấn đề nợ trong nông nghiệp; giảm nguy cơ rủi ro và thiết lập hệ thống bảo hiểm rủi ro cho nông dân
Đối với các sản phẩm nông nghiệp, Nhà nước đã hỗ trợ để tăng sức cạnh tranh với các hình thức, như tổ chức hội chợ triển lãm hàng nông nghiệp, đẩy mạnh công tác tiếp thị; phân bổ khai thác tài nguyên thiên nhiên một cách khoa học và hợp lư, từ đó góp phần ngăn chặn tình trạng khai thác tài nguyên bừa bãi và kịp thời phục hồi những khu vực mà tài nguyên đã bị suy thoái; giải quyết những mâu thuẫn có liên quan đến việc sử dụng tài nguyên lâm, thủy hải sản, đất đai, đa dạng sinh học, phân bổ đất canh tác Trong xây dựng kết cấu hạ tầng, Nhà nước đã có chiến lược trong xây dựng và phân bố hợp lý các công trình thủy lợi lớn phục vụ cho nông nghiệp Hệ thống thủy lợi bảo đảm tưới tiêu cho hầu hết đất canh tác trên toàn quốc, góp phần nâng cao năng suất lúa
và các loại cây trồng khác trong sản xuất nông nghiệp Chương trình điện khắ hóa nông thôn với việc xây dựng các trạm thủy điện vừa và nhỏ được triển khai rộng khắp cả nước
Về lĩnh vực công nghiệp phục vụ nông nghiệp, chắnh phủ Thái Lan đã tập trung vào các nội dung sau: Cơ cấu lại ngành nghề phục vụ phát triển công nghiệp nông thôn, đồng thời cũng xem xét đến các nguồn tài nguyên, những kỹ năng truyền thống, nội lực, tiềm năng trong lĩnh vực sản xuất và tiếp thị song song với việc cân đối nhu cầu tiêu dùng trong nước và nhập khẩu
Thái Lan đã tập trung phát triển các ngành mũi nhọn như sản xuất hàng nông nghiệp, thủy, hải sản phục vụ xuất khẩu, thúc đẩy mạnh mẽ công nghiệp chế biến nông sản cho tiêu dùng trong nước và xuất khẩu, nhất là các nước công nghiệp phát triển Ngành công nghiệp chế biến thực phẩm ở Thái Lan phát triển rất mạnh nhờ một số chắnh sách sau:
Trang 24- Chính sách phát triển nông nghiệp: Một trong những nội dung quan trọng nhất của kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội thời kỳ 2000-2005 là kế hoạch cơ cấu lại mặt hàng nông sản của Bộ Nông nghiệp Thái Lan, nhằm mục đích nâng cao chất lượng và sản lượng của 12 mặt hàng nông sản, trong đó có các mặt hàng: gạo, dứa, tôm sú, gà và cà phê Chính phủ Thái Lan cho rằng, càng có nhiều nguyên liệu cho chế biến thì ngành công nghiệp chế biến lương thực thực phẩm mới phát triển và càng thu được nhiều ngoại tệ cho đất nước Nhiều sáng kiến làm gia tăng giá trị cho nông sản được khuyến khích trong chương trình Mỗi làng một sản phẩm và chương trình Quỹ làng
- Chính sách bảo đảm vệ sinh an toàn thực phẩm: Chính phủ Thái Lan thường xuyên thực hiện chương trình quảng bá vệ sinh an toàn thực phẩm Năm
2004, Thái Lan phát động chương trình “Năm an toàn thực phẩm và Thái Lan là bếp ăn của thế giới” Mục đích chương trình này là khuyến khích các nhà chế biến
và nông dân có hành động kiểm soát chất lượng vệ sinh thực phẩm để bảo đảm an toàn cho người tiêu dùng trong nước và xuất khẩu Bên cạnh đó, Chính phủ thường xuyên hỗ trợ cho doanh nghiệp cải thiện chất lượng vệ sinh an toàn thực phẩm
Do đó, ngày nay, thực phẩm chế biến của Thái Lan được người tiêu dùng ở các thị trường khó tính, như Hoa Kỳ, Nhật Bản và EU, chấp nhận
- Mở cửa thị trường khi thích hợp: Chính phủ Thái Lan đã xúc tiến đầu tư, thu hút mạnh các nhà đầu tư nước ngoài vào liên doanh với các nhà sản xuất trong nước để phát triển ngành công nghiệp chế biến thực phẩm, thông qua việc mở cửa cho các quốc gia dù lớn hay nhỏ vào đầu tư kinh doanh Trong tiếp cận thị trường xuất khẩu, Chính phủ Thái Lan là người đại diện thương lượng với chính phủ các nước để các doanh nghiệp đạt được lợi thế cạnh tranh trong xuất khẩu thực phẩm chế biến Bên cạnh đó, Chính phủ Thái Lan có chính sách trợ cấp ban đầu cho các nhà máy chế biến và đầu tư trực tiếp vào kết cấu hạ tầng như: Cảng kho lạnh, sàn đấu giá và đầu tư vào nghiên cứu và phát triển; xúc tiến công nghiệp và phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ Xúc tiến công nghiệp là trách nhiệm chính của Cục Xúc
Trang 25tiến công nghiệp thuộc Bộ Công nghiệp, nhưng việc xúc tiến và phát triển công nghiệp chế biến thực phẩm ở Thái Lan do nhiều cơ quan cùng thực hiện Chẳng hạn, trong Bộ Nông nghiệp và Hợp tác xã, cùng với Cục Xúc tiến nông nghiệp, Cục Hợp tác xã giúp nông dân xây dựng hợp tác xã để thực hiện các hoạt động, trong đó có chế biến thực phẩm; Cục Thủy sản giúp đỡ nông dân từ nuôi trồng, đánh bắt đến chế biến thủy sản Cơ quan Tiêu chuẩn sản phẩm công nghiệp thuộc
Bộ Công nghiệp xúc tiến tiêu chuẩn hoá và hệ thống chất lượng; Cơ quan Phát triển công nghệ và khoa học quốc gia xúc tiến việc áp dụng khoa học và công nghệ cho chế biến; Bộ Đầu tư xúc tiến đầu tư vào vùng nông thôn
Một số kinh nghiệm trong phát triển nông nghiệp, nông thôn nêu trên cho thấy, những ý tưởng sáng tạo, khâu đột phá và sự trợ giúp hiệu quả của nhà nước trên cơ sở phát huy tính tự chủ, năng động, trách nhiệm của người dân để phát triển khu vực này, có ý nghĩa và vai trò hết sức quan trọng đối với việc công nghiệp hóa, hiện đại hóa thành công nông nghiệp - tạo nền tảng thúc đẩy quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước
1.2.2 Thực trạng xây dựng nông thôn mới ở Việt Nam
1.2.2.1 Thành tựu của quá trình phát triển nông thôn
Toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế Quốc tế là trọng tâm của chiến lược phát triển kinh tế Việt Nam Trở thành thành viên chính thức của tổ chức thương mại thế giới đã mang lại nhiều cơ hội cũng như thách thức cho ngành nông nghiệp Việt Nam nói chung và người dân nông thôn nói riêng
Thực tế cho thấy, các chính sách và các hoạt động về lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn trong tiến trình hội nhập kinh tế Quốc tế luôn là lĩnh vực quan trọng và thu hút rất nhiều sự quan tâm, nghiên cứu của các nhà khoa học, các nhà hoạch định chính sách cũng như sự quan tâm của người dân nông thôn Phát triển nông thôn là một trong những chiến lược phát triển kinh tế trong công cuộc đổi mới của đất nước cùng với sự phát triển của các ngành công nghiệp, dịch vụ Phát triển nông thôn nước ta đi sau các nước phát triển một bước, đó
Trang 26là một hạn chế, song cũng có thuận lợi vì đây là những kinh nghiệm quý báu
để chúng ta tham khảo và vận dụng Liên tục trong nhiều năm nông nghiệp đạt mức tăng trưởng khá cả về giá trị, sản lượng Vì vậy, từ chỗ là một nước thường xuyên thiếu lương thực, hàng năm phải nhập hàng triệu tấn lương thực của nước ngoài, hơn thập niên qua Việt Nam đã trở thành nước xuất khẩu gạo lớn (hiện đứng thứ 2 trên thế giới, năm 2015, số lượng gạo xuất khẩu đạt 6,568 triệu tấn, trị giá FOB đạt 2,68 tỷ USD, trị giá CIF đạt 2,78 tỷ USD Giá xuất khẩu bình quân đạt 407,97 USD/tấn FOB.đồng thời bảo đảm an ninh lương thực quốc gia Ngoài gạo, Việt Nam còn chiếm vị thế cao trong số các nước xuất khẩu về cà phê, cao su, hạt điều Giá trị xuất khẩu những mặt hàng nông sản khác như thủy sản, chế biến gỗ cũng ngày càng cao và trở thành các sản phẩm chủ lực trong
cơ cấu xuất khẩu của đất nước Cơ cấu nông nghiệp cũng chuyển dịch theo hướng tích cực, gia tăng sản phẩm có giá trị kinh tế, có lợi thế cạnh tranh Trong nông nghiệp đã hình thành được một số vùng sản xuất tập trung quy mô lớn Bên cạnh đó, kết cấu hạ tầng trong nông nghiệp và nông thôn được tăng cường Chẳng hạn, công tác thủy lợi hóa đã được thực hiện hết sức mạnh mẽ, đến nay 94% diện tích lúa, 41% diện tích hoa màu trong cả nước được tưới tiêu Việc
áp dụng cơ giới hóa trong sản xuất nông nghiệp triển khai khá rộng rãi (70% diện tích lúa được sử dụng máy móc) Công nghệ tiên tiến, nhất là công nghệ sinh học được ứng dụng góp phần tăng chất lượng, hiệu quả sản xuất nông nghiệp Nông nghiệp nước ta hiện nay tuy có tỷ trọng giảm đi trong cơ cấu kinh
tế của đất nước, song giá trị tuyệt đối ngày càng tăng và đóng góp được 26%
GDP cho đất nước Sự phát triển trong nông nghiệp thực sự là cơ sở quan
trọng tạo tiền đề vật chất để nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho đại bộ phận nông dân, góp phần xóa đói giảm nghèo (Việt Nam được thế giới công nhận là điểm sáng trong thực hiện công tác xóa đói giảm nghèo) và làm thay đổi bộ mặt nông thôn theo hướng ngày càng văn minh, hiện đại hơn
Năm 2015, tổng giá trị sản xuất nông, lâm nghiệp và thuỷ sản năm 2015 theo giá so sánh 2010 ước tính đạt 858,4 nghìn tỷ đồng, tăng 2,62% so với năm
Trang 272014, thấp hơn so với mức tăng các năm gần đây (năm 2014 tăng 4%, năm
2013 tăng 3,6%, năm 2012 tăng 3%)
Trong đó lĩnh vực nông nghiệp đạt 637,4 nghìn tỷ đồng, tăng 2,28%; lâm nghiệp đạt 26,6 nghìn tỷ đồng, tăng 7,92%; thuỷ sản đạt 194,4 nghìn tỷ đồng, tăng 3,06% Lĩnh vực lâm nghiệp tiếp tục đạt mức tăng trưởng cao nhưng do ngành lâm nghiệp chiếm tỷ trọng thấp (3,1%) trong giá trị sản xuất toàn ngành nên không tác động nhiều đến tốc độ tăng trưởng của toàn ngành (Tổng cục thống kê năm, 2015)
Những nét mới của năm 2015 là cơ cấu sản lượng lương thực đã chuyển dịch theo hướng tích cực như vừa đa dạng hóa, vừa tăng chất lượng sản phẩm
để đáp ứng tốt hơn yêu cầu thị trường trong nước và xuất khẩu
Ngành chăn nuôi năm 2015 đã có những bước chuyển dịch rõ ràng, từ chăn nuôi nhỏ lẻ, phân tán sang chăn nuôi tập trung theo mô hình trang trại, gia trại, ứng dụng công nghệ khoa học kỹ thuật, tăng hiệu quả kinh tế Giá thức ăn chăn nuôi trong năm có xu hướng giảm nhưng chưa nhiều
Giá trị sản xuất ngành chăn nuôi có mức tăng khá đạt 4,3% so với cùng
2 kỳ năm 2014 Mức tăng này là do đàn bò sữa tăng mạnh (tăng 20,9%) sản lượng sữa bò tươi tăng cao đạt khoảng 120% so với cùng kỳ năm trước Chăn nuôi lợn phát triển khá thuận lợi do dịch lợn tai xanh không xảy ra và giá bán lợn hơi ở mức có lợi cho người chăn nuôi Đàn lợn của cả nước tại thời điểm kiểm tra 1/10 có 27,7 triệu con, tăng 3,7%; Đàn gia cầm có 341,9 triệu con, tăng 4,3%
Đáng chú ý, về sản xuất lâm nghiệp vẫn duy được tăng trưởng khá với mức tăng 7,9% so với các năm trước do thị trường tiêu thụ cả trong nước và xuất khẩu đều tăng trưởng mạnh nên đã khuyến khích khai thác và trồng rừng sản xuất Tại nhiều địa phương đã thực hiện cơ chế liên doanh, liên kết đầu tư trồng rừng phát triển nguồn nguyên liệu với các hộ gia đình nhằm bao tiêu sản phẩm của hộ Bên cạnh đó gỗ nguyên liệu dùng xuất khẩu năm nay được đánh giá chất lượng tốt tại
Trang 28ba thị trường tiêu thụ mạnh là Hoa Kỳ, Nhật Bản và Trung Quốc do đó thúc đẩy hoạt động trồng rừng trong nhân dân Sản lượng gỗ khai thác sơ bộ năm 2015 ước đạt 8.309 nghìn m3, tăng 11,9% so với cùng kỳ năm ngoái Diện tích rừng trồng mới tập trung đạt 244,8 ngàn ha, tăng 10,8% so với cùng kỳ năm trước, trong đó: Trồng mới rừng phòng hộ, đặc dụng đạt 24,9 ngàn ha, tăng 14,6%; Trồng mới rừng sản xuất đạt 220 ngàn ha, tăng 10,4%
Ngành thuỷ sản đang vươn lên thành ngành mũi nhọn trong nông lâm thuỷ sản Sản xuất thủy sản năm 2015 đạt tốc độ tăng trưởng đạt 3,06%, Các loại thủy sản trọng điểm như cá tra, tôm sú, tôm thẻ chân trắng, người nuôi cũng hướng tới nuôi các loại thủy sản có tính ổn định hoặc có giá trị kinh tế cao như ba ba, cá hồi, cá bống tượng, cá chép lai, cá rô phi đơn tính, cá nheo, cá chình, cá lăng, nuôi tôm càng xanh…Sản lượng nuôi trồng thủy sản năm 2015 ước đạt 3.516 ngàn tấn, tăng 3,0 % so với cùng kỳ, trong đó: Sản lượng tôm sú ước đạt 249.200 tấn, tăng 3,2% Sản lượng tôm thẻ chân trắng ước đạt 344.600 tấn, giảm 3,7%
Kim ngạch xuất khẩu nông lâm thuỷ sản tháng 12 năm 2015 ước đạt 2,65
tỷ USD, đưa giá trị xuất khẩu của ngành năm 2015 lên 30,14 tỷ USD Trong
đó, giá trị xuất khẩu các mặt hàng nông sản chính ước đạt 13,95 tỷ USD, giảm 2,6%, Trong quá trình phát triển, các hoạt động khai thác, nuôi trồng và chế biến thuỷ sản đã gắn kết chặt chẽ Các khâu trọng yếu về hạ tầng kỹ thuật phục
vụ nuôi trồng, khai thác, chế biến đã được đầu tư, từng bước hiện đại hoá (Tổng cục thống kê, 2016)[4]
Do kinh tế tăng trưởng cao, thị trường giá cả ổn định nên đời sống vật chất và tinh thần của các tầng lớp dân cư được cải thiện giảm tỷ lệ hộ đói nghèo
từ 11% năm 2004 xuống còn 4,5% năm 2015 hệ số chênh lệch về thu nhập giữa các bộ phận dân cư có hướng thu hẹp, công bằng xã hội được đảm bảo Tiếp tục hoàn thiện và tích cực thực hiện chế độ, chính sách người có công, đẩy nhanh tiến độ xét duyệt hồ sơ tồn đọng Cơ bản hoàn thành tổng rà soát việc
Trang 29thực hiện chính sách ưu đãi người có công đối với gần 2,1 triệu người; hỗ trợ
về nhà ở cho trên 72 nghìn hộ Công tác đền ơn đáp nghĩa, hỗ trợ các đối tượng chính sách giúp đỡ người nghèo, vùng bị thiên tai, vùng đồng bào các dân tộc thiểu số, vùng sâu, vùng cao được Nhà nước và các đoàn thể xã hội và nhân dân trợ giúp các tỉnh bị hạn hán lũ lụt nặng để nhân dân vùng này sớm ổn định sản xuất và đời sống
Hệ thống đường giao thông nông thôn được nâng cấp, phong trào kiên
cố hóa kênh mương thủy lợi phát triển rộng khắp, nhiều trường học, trạm y tế được xây dựng mới theo phương châm nhà nước và nhân dân cùng làm
1.2.2.2 Tình hình xây dựng mô hình phát triển nông thôn mới ở Việt Nam
Ở Việt Nam, trong những năm qua, các tỉnh, thành đều quan tâm đến tái
cơ cấu nông nghiệp gắn với nâng cao thu nhập của người dân như: Hà nội, Hà Tĩnh, vĩnh Phúc, An Giang, Đồng Tháp Nhiều địa phương cũng xúc tiến công tác dồn điền đổi thửa gắn với quy hoạch vùng sản xuất hàng hoá; mô hình
“Cánh đồng lớn” triển khai rộng tại 43 tỉnh, thành phố với khoảng 100.000 ha hay mô hình “cơ giới hoá sản xuất nông nghiệp” Các xã điểm đã triển khai hoạt động xây dựng mô hình đạt nhiều kết quả trên nhiều lĩnh vực phát triển sản xuất, phát triển kinh tế, thực hiện chuyển dịch cấu nông nghiệp, cơ cấu kinh tế địa phương, củng cố quan hệ sản xuất, xây dựng cơ sở hạ tầng giao thông, thủy lợi, tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, phát huy dân chủ cơ sở, thực hiện nếp sống văn minh nơi thôn xóm Trong sản xuất nông nghiệp, cùng với việc chuyển đổi cơ cấu cây trồng vật nuôi, các xã điểm không chỉ đưa các loại giống cây lương thực và rau màu có năng suất cao, chất lượng tốt vào sản xuất, nhiều
xã còn thực hiện quy hoạch, cải tạo diện tích vườn tạp, đưa giống mới vào sản xuất, nâng cao thu nhập cho người dân Nhiều xã điểm đã cải thiện được tình hình chăn nuôi đàn gia súc, gia cầm tại địa phương, tăng dần tỷ trọng chăn nuôi trong nông nghiệp và đưa chăn nuôi trở thành bộ phận quan trọng Hiệu quả trong chăn nuôi không ngừng được nâng lên qua các chương trình cải tạo giống
Trang 30và phát triển đàn gia súc, gia cầm Các xã luôn quan tâm đổi mới tổ chức quản
lý sản xuất, củng cố hợp tác xã (HTX) phát triển nhiều loại hình như kinh tế trang trại, các công ty liên doanh, liên kết, HTX nông nghiệp, các tổ hợp tác, tổ nghề hay nhóm nghề đồng thời tập trung quy hoạch lại đồng ruộng, tuyên truyền vận động nhân dân "dồn điền, đổi thửa" chống manh mún, tạo điều kiện
áp dụng cơ giới hóa vào sản xuất Khuyến khích và hỗ trợ hộ dân hình thành các trang trại sản xuất hàng hóa, lồng ghép chương trình khuyến nông, khuyến công, cho vay vốn ưu đãi Quy hoạch khu dân cư và các khu sản xuất công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp phù hợp với phát triển của xã
Phần lớn các xã điểm đều quan tâm đầu tư phát triển hệ thống các công trình thủy lợi phục vụ tưới tiêu, phòng chống lũ bằng nhiều nguồn vốn khác nhau như tự huy động trong dân, vay vốn, vốn của xã và HTX, vốn hỗ trợ của huyện, tỉnh, tài trợ nước ngoài Đến cuối năm 2003, các xã điểm đã đầu tư xây dựng, tu sửa và nạo vét được hơn 73,2 km kênh mương với giá trị hơn 22 tỷ đồng, trong đó nhân dân đóng góp từ 30% đến 60% tổng vốn đầu tư Các xã được ngân sách tỉnh hỗ trợ xây dựng hơn 15 km đường tỉnh lộ đi qua địa bàn
xã, huy động nhân dân đóng góp xây dựng 45 km đường liên xã, liên thôn, đường đi lại nội bộ thôn xóm với tổng trị giá là 14,5 tỷ đồng Hệ thống điện, thông tin liên lạc, cấp nước sinh hoạt và vệ sinh môi trường, giáo dục đào tạo, văn hóa nông thôn không ngừng được đầu tư phát triển, góp phần làm thay đổi rõ nét bộ mặt nông thôn Tính đến cuối năm 2015, cả nước đạt 1.298 xã đạt
19 tiêu chí, chiếm tỷ lệ 14,5% so với tổng số xã; số tiêu chí đạt chuẩn bình quân
cả nước tăng từ 4,7 tiêu chí/xã năm 2010 lên 12,9 tiêu chí/xã năm 2015 (tăng 8,2 tiêu chí); 183 xã có khó khăn đã nỗ lực vươn lên (từ xuất phát điểm dưới 3 tiêu chí, nay đã đạt được 10 tiêu chí trở lên); đã có 11 đơn vị cấp huyện được công nhân đạt chuẩn nông thôn mới và có 8 huyện, thị xã đang đề nghị Ban chỉ đạo Trung ương thẩm định, công nhận đạt chuẩn nông thôn mới năm 2015 Trong quá trình triển khai thực hiện xây dựng nông thôn mới, đã xuất hiện
Trang 31nhiều mô hình, cách dạy hay, kinh nghiệm tốt Cụ thể có tới 22.000 mô hình sản xuất nông nghiệp tiên tiến, hiệu quả; thu nhập của người dân đạt 24,4 triệu đồng/năm
Mục tiêu chủ yếu của mô hình phát triển nông thôn mới là thắ điểm cơ chế, chắnh sách để phát triển nhanh hơn, đạt hiệu quả cao hơn trong thời gian tới Qua 3 năm thực hiện mô hình đã xuất hiện những hạn chế, vướng mắc Một
số xã đã quá chú trọng đến đầu tư xây dựng cơ bản và chờ đợi sự trợ giúp từ bên ngoài là chưa đúng với chủ trương xây dựng mô hình Có mô hình còn nặng vào công nghiệp mà chýa quan tâm thỏa đáng vào phát triển ngành nghề, công nghiệp nông thôn, dịch vụ và các vấn đề vãn hóa xã hội, nội dung dân chủ hóa chýa đýợc thể hiện rõ trong các dự án, một số dự án chưa gắn với sự phát triển của tỉnh, huyện Đa số dự án còn dàn trải chưa làm nổi bật các trọng tâm
để tập trung triển khai thực hiện, nhiều xã còn thiếu giải pháp tổ chức thực hiện
có hiệu quả các mô hình Phần lớn các xã điểm chưa có sự phối hợp giữa các ngành, các cấp nên chỉ hướng vào nông nghiệp; có xã đưa cán bộ tư vấn làm thay địa phương nên tắnh thuyết phục của các giải pháp đưa ra trong dự án bị hạn chế, làm giảm tắnh bền vững của dự ánẦ
Để đẩy mạnh hơn nữa việc xây dựng mô hình nông thôn mới cấp xã tại các địa phương, năm 2008, Ban Chỉ đạo Trung ương triển khai việc thực hiện đề
án về chương trình xây dựng thắ điểm mô hình nông thôn mới theo chủ trương của Nghị quyết số 26 - NQ/T.Ư về " nông nghiệp, nông dân, nông thôn" Đề án
đã lựa chọn 11 xã có mức phát triển trung bình khá thuộc 11 tỉnh, thành phố, đại diện cho các vùng khác nhau của đất nước, với mục tiêu là xây dựng 11 xã trở thành các mô hình điểm về nông thôn mới thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa theo 5 nội dung lớn thể hiện 5 đặc trưng về nông thôn mới theo định hướng xã hội chủ nghĩa được Nghị quyết 26 - NQ/T.Ư của Ban Chấp hành Trung
ương (khóa X) đề ra và được cụ thể hóa thành bộ tiêu chắ quốc gia về nông thôn
mới bao gồm 19 tiêu chắ do thủ tướng chắnh phủ ban hành kèm theo quyết định
Trang 32số 491/ QĐ- TTg ngày 16/4/2009 Sau khi được Ban Chỉ đạo Trung ương thẩm định, góp ý, đã được Ban Chỉ đạo xây dựng nông thôn mới các tỉnh, thành phố phê duyệt và đang được tích cực triển khai thực hiện để rút ra những kinh nghiệm thiết thực, phục vụ việc triển khai thực hiện Chương trình xây dựng nông thôn mới trong phạm vi cả nước
* Tóm lại: Qua nghiên cứu kinh nghiệm của một số nước về tiến trình xây
dựng mô hình phát triển nông thôn mới và nghiên cứu tình hình phát triển nông thôn của nước ta trong những năm qua cho thấy xây dựng mô hình nông thôn mới là sự nghiệp mang tính chiến lược, việc xây dựng mô hình nông thôn ở mỗi vùng có những kết quả khác nhau, nhưng có thể khái quát thành những kinh nghiệm trong quá trình xây dựng mô hình nông thôn mới cho miền núi như đẩy nhanh quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn theo hướng tăng nhanh tỷ trọng công nghiệp và dịch vụ, phát triển nông, lâm nghiệp phù hợp điều kiện cụ thể từng nơi, phát triển trang trại với quy mô hợp lý, phát triển sản xuất liên ngành nông, lâm - công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp - dịch vụ Phát triển nhanh kết cấu hạ tầng nông thôn như giao thông, điện thuỷ lợi, thông tin liên lạc, các chợ nông thôn Tăng cường ứng dụng các thành tựu mới của khoa học kỹ thuật vào trong sản xuất Mở rộng và phát triển thị trường tiêu thụ sản phẩm Phát triển giáo dục, y tế, xây dựng các cộng đồng văn hóa mới, nhân rộng các mô hình xã hội nông thôn, giải quyết căn bản các tệ nạn xã hội Định canh, định cư, phát triển các vùng sâu, vùng xa, vùng cao gắn với xóa đói, giảm nghèo Coi trọng các chính sách phát triển kinh tế nông thôn Phát triển hài hòa giữa kinh tế nông thôn và môi trường
Chương trình Mục tiêu quốc gia xây dựng NTM là một chủ trương lớn của Đảng và nhà nước ta Đây là chương trình tổng thể về phát triển kinh tế, văn hoá, xã hội, an ninh quốc phòng, nhằm phấn đấu đến năm 2020 đưa nước ta cơ bản trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại; nhằm phát triển nông thôn toàn diện, bao gồm nhiều nội dung liên quan đến hầu hết các lĩnh vực: Kinh
Trang 33tế, văn hoá, xã hội, môi trường, hệ thống chính trị cơ sở Các nội dung tiêu chí
có những yêu cầu riêng đối với từng vùng sinh thái, vùng kinh tế - xã hội khác nhau Mục tiêu nhằm nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của cư dân nông thôn; phát triển nông thôn theo quy hoạch, có kết cầu hạ tầng kinh tế, xã hội hiện đại; môi trường sinh thái được bảo vệ; dân trí được nâng cao, bản sắc văn hoá dân tộc được giữ gìn và phát huy; an ninh chính trị ổn định, quản lý dân chủ; chất lượng hệ thống chính trị cơ sở ngày được nâng cao
- Xây dựng và phát triển mô hình nông thôn mới là sự nghiệp to lớn của đất nước xây dựng mô hình nông thôn mới vừa trực tiếp nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của đa số người dân đang sống ở nông thôn, vừa tạo tiền
đề để thực hiện thành công sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, góp phần ổn định chính trị xã hội, bảo vệ môi trường Tuy vậy đây là vấn đề rất rộng lớn và phức tạp Có nhiều nhân tố ảnh hưởng tới sự phát triển đó, nên cần có các chỉ tiêu rất cụ thể để đánh giá
Thực trạng phát triển nông thôn đã đạt được những kết quả đáng kể, song với mục tiêu cần đạt và so với nông thôn của các nước phát triển, nông thôn Việt Nam vẫn còn lạc hậu, vẫn còn quá nhiều khó khăn, thách thức Vì vậy xây dựng mô hình nông thôn mới là cần thiết, là sự nghiệp hết sức to lớn và đặc biệt quan trọng đối với cả nước nói chung và thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên nói riêng
1.2.2.3 Tình hình xây dựng nông thôn mới tỉnh Thái Nguyên
Thái Nguyên là tỉnh thuộc vùng trung du miền núi phía Bắc, liền kề phía Bắc thủ đô Hà Nội, có tổng diện tích tự nhiên 3.541 Km2, dân số khoảng 1,2 triệu người, trong đó trên 70% dân số sống ở khu vực nông thôn; có 9 đơn vị hành chính gồm 6 huyện, 02 thành phố và 01 thị xã; 180 xã, phường, thị trấn
Chương trình mục tiêu quốc gia (MTQG) xây dựng nông thôn mới (NTM) là chương trình trọng tâm, xuyên suốt của Nghị quyết số 26-NQ-TW ngày 5/8/2008 hội nghị lần thứ 7, Ban chấp hành trung ương Đảng (khoá X)
Trang 34“về nông nghiệp, nông dân, nông thôn”, với mục tiêu: Xây dựng NTM có kết cấu hạ tầng kinh tế, xã hội từng bước hiện đại, cơ cấu kinh tế và các hình thức
tổ chức sản xuất hợp lý, gắn nông nghiệp với phát triển nhanh công nghiệp, dịch vụ gắn phát triển nông thôn mới đô thị theo quy hoạch; xã hội nông thôn dân chủ, ổn định, giàu bản sắc văn hoá dân tộc; môi trường sinh thái được bảo vệ; an ninh trật tự được giữ vững; đời sống vật chất và tinh thần của người dân ngày được nâng cao
Trong thời gian đầu thực hiện chương trình, với sự tích cực, chủ động của các cấp, các ngành, nhân dân, nhưng do thực trạng nông thôn các xã trong tỉnh ở mức thấp (nhất là tiêu chí hạ tầng nông thôn, tổ chức sản xuất, môi trường…), hệ thống văn bản chỉ đạo Trung ương ban hành chậm, thiếu đồng bộ; nhận thức của một số bộ phận cán bộ và nhân dân chưa đầy đủ, thống nhất…, nên việc triển khai chương trình còn nhiều lúng túng Trước khi thực hiện chương trình, bình quân tiêu chí trên còn lúng túng Trước khi thực hiện chương trình, bình quân tiêu chí trên toàn tỉnh đạt 4,8 tiêu chí/xã; thu nhập bình quân đầu người 14,28 triệu đồng/người/năm, đời sống vật chất và tinh thần của người dân nông thôn còn thấp;
tỷ lệ hộ nghèo (17,74%), nhất là trong vùng đồng bào dân tộc thiểu số, vùng sâu, vùng xa; sản xuất nông nghiệp nhỏ lẻ, manh mún, kết cấu hạ tầng kinh tế xã hội còn khó khăn, nông thôn chậm phát triển,…
Thực hiện chủ trương của Đảng, chỉ đạo điều hành của chính phủ và các ngành trung ương và với quyết tâm cao của cả hệ thống chính trị, tỉnh Thái Nguyên đã ban hành nhiều văn bản chỉ đạo; xác định xây dựng NTM là nhiệm
vụ trung tâm bao trùm; bằng nỗ lực quyết tâm phấn đấu, điều hành quyết liệt, năng động của Đảng bộ, chính quyền và nhân dân trong tỉnh triển khai đồng thời 143 xã/180 xã, phường, thị trấn Sau 05 năm thực hiện chương trình đã đạt được kết quả bước đầu quan trọng, cụ thể: đã công nhận 29 xã đạt chuẩn (20,3%), không còn xã dưới 6 tiêu chí, bình quân đạt 13,5 tiêu chí/xã (tăng 8,7
Trang 35tiêu chí/xã so với năm 2011) ; tỷ lệ hộ nghèo đói giảm còn 10,66% (giảm 7,08%
so với năm 2010),…
Xây dựng phong trào NTM trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên đã thực sự là phong trào sôi động ở nông thôn, được cán bộ, đảng viên và nhân dân tích cực hưởng ứng và thực hiện Phong trào đã tác động trên tất cả các mặt của đời sống
xã hội, từ học tập tới đưa tiến bộ kỹ thuật vào sản xuất, xây dựng cơ sở hạ tầng, công tác đảm bảo an ninh quốc phòng, xây dựng tình làng nghĩa xóm….làm cho cuộc sống ở nông thôn văn minh hơn, trách nhiệm hơn Đặc biệt là thu nhập của người dân được tăng lên rõ rệt nhiều mặt tích cực được phát huy như phong trào hiến đất xây dựng hạ tầng nông thôn, sự chung tay của cộng đồng trong xoá đói, giảm nghèo được phát huy…
Tỉnh Thái Nguyên chỉ đạo thực hiện nghiêm túc và đầy đủ về tổ chức bộ máy quản lý, thực hiện Chương trình thường xuyên được kiện toàn theo yêu cầu nhiệm vụ, công tác cán bộ
Thành lập Ban chỉ đạo thực hiện Nghị quyết Trung ương 7 (khoá X) về nông nghiệp, nông dân, nông thôn do đồng chí phó bí thư thường trực tỉnh uỷ làm trưởng ban, Ban chỉ đạo chương trình xây dựng NTM do đồng chí Chủ tịch UBND tỉnh làm trưởng ban
Sau hơn 5 năm triển khai thực hiện Chương trình mục tiêu Quốc Gia xây dựng nông thôn mới việc xây dựng mô hình nông thôn mới tại tỉnh Thái Nguyên đang từng bước được triển khai rộng rãi và đạt được nhiều kết quả tích cực, góp phần đưa Thái Nguyên trở thành một trong số các địa phương
đi đầu trong việc thực hiện xây dựng mô hình này, song vẫn còn đó những khó khăn, thách thức, những bài học kinh nghiệm được rút ra trong quá trình thực hiện
Sự chỉ đạo và hướng dẫn thực hiện của Ban chỉ đạo Chương trình xây dựng nông thôn mới các cấp của tỉnh Thái Nguyên đã có sự chủ động, đổi mới
Trang 36Có kế hoạch phân công cho các ngành và địa phương đồng thời bố trí nguồn lực từ ngân sách và lồng ghép các nguồn lực một cách hợp lý để thực hiện chương trình
Về Đề án xây dựng nông thôn mới và Đề án phát triển sản xuất đến nay
đã quy hoạch được 32.222 ha đất để xây dựng kết cấu hạ tầng nông thôn, 220.752 ha đất phục vụ sản xuất tập trung, trong đó trồng trọt là 47.226 ha, chăn nuôi 4.444 ha, thủy sản 3.380 ha, lâm nghiệp 147.333 ha, công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp 5.703 ha và làng nghề là 12.662 ha
Cùng với đó, nhờ làm tốt công tác thông tin tuyên truyền nên phong trào xây dựng nông thôn mới đã nhận được sự hưởng ứng nhiệt tình của hệ thống chính trị và nhân dân trong tỉnh Vì vậy, công tác xây dựng nông thôn mới ngày càng có những chuyển biến tích cực và từng bước được xã hội hóa Việc xây dựng kết cấu hạ tầng giao thông đã nhận được nhiều đóng góp của nhân dân và doanh nghiệp Đã tuyên truyền, vận động nhân dân hiến được 128,7ha đất, đầu tư xây dựng mới và cải tạo nâng cấp được 1.509 km đường giao thông nông thôn, 70,5km kênh mương thủy lợi, 71 trạm điện, hơn 200
km đường điện, 3 điểm bưu điện văn hóa xã, 97 trường học, 17 trạm y tế xã,
06 trụ sở xã
Tuy nhiên, bên cạnh đó, việc triển khai Chương trình vẫn còn một số hạn chế như nhận thức và trách nhiệm của cấp ủy, chính quyền và Ban chỉ đạo ở một số địa phương còn chưa đồng đều Một số các sở, ban, ngành, địa phương còn chưa chủ động rút kinh nghiệm qua thực tế chỉ đạo Sự phối hợp hoạt động
và tham mưu còn thiếu chặt chẽ, tâm huyết Một số địa phương chưa đánh giá đúng hiệu quả vốn đầu tư phát triển sản xuất, đầu tư còn dàn trải, chưa có trọng tâm
Với mục tiêu đến năm 2020, 100% số xã đạt NTM, Thái Nguyên cần tiếp tục hoàn thiện các phần việc của giai đoạn trước, những việc gối đầu giai đoạn
Trang 372013- 2015 và cuối cùng là về đích Vì vậy, nhiệm vụ trước mắt của Thái Nguyên khá nặng nề, trước hết vẫn là công tác lãnh đạo, chỉ đạo của các cấp phải sát sao và kịp thời, nhất là công tác tập huấn, cập nhật kiến thức và tuyên truyền XDNTM cho từng xã về chủ trương, chính sách của Trung ương, cơ chế, chương trình của tỉnh, thành phố để bà con nắm rõ tình hình, tiến độ thực hiện của địa phương mình Đặc biệt, đây là giai đoạn về đích nên giải pháp về nguồn vốn là hết sức quan trọng; vì vậy phải biết tận dụng, đan xen nguồn vốn hỗ trợ của Nhà nước và huy động nguồn vốn tín dụng, vốn đóng góp của doanh nghiệp, nhân dân một cách linh hoạt Mặt khác, tăng cường đấu giá quyền sử dụng đất, đẩy nhanh tiến độ xây dựng đất dịch vụ để tăng nguồn thu Ngoài ra, còn phải vận động bà con đóng góp ngày công và hiến đất tiếp tục đẩy mạnh công tác tuyên truyền, đào tạo, tập huấn phổ biến các nội dung thuộc lĩnh vực phát triển nông nghiệp, nông thôn; Lập quy hoạch chi tiết khu trung tâm xã, khu dân cư, khu phát triển sản xuất tập trung; Tham gia với các trường đại học, trung tâm nghiên cứu đề xuất ứng dụng, nhân rộng các hình thức quản lý, tổ chức sản xuất có hiệu quả kinh tế cao; Khuyến khích đưa khoa học công nghệ cao trong xây dựng nông thôn mới.
Song song với việc xây dựng NTM, Thái Nguyên còn cần triển khai một loạt các biện pháp khác để hỗ trợ và rút ngắn quá trình xây dựng NTM như: Đẩy mạnh phát triển sản xuất theo hướng hàng hóa, triển khai và nhân rộng các
mô hình sản xuất đem lại năng suất, chất lượng, hiệu quả kinh tế cao; tăng cường áp dụng tiến bộ kỹ thuật vào sản xuất nông nghiệp; đẩy mạnh chăn nuôi theo hướng trang trại, gia trại đáp ứng nhu cầu thị trường quanh khu vực và khu công nghiệp; kiện toàn các hợp tác xã nông nghiệp, khuyến khích các hợp tác
xã phát triển theo hướng đa dạng hóa các loại hình dịch vụ, sản xuất kinh doanh tổng hợp để có hiệu quả cao; chú trọng công tác tuyên truyền, quản lý nhà nước
về giữ gìn bảo vệ môi trường Cùng với đó, tỉnh Thái Nguyên cần thường xuyên
Trang 38tăng cường kiểm tra đôn đốc, bám sát cơ sở, kịp thời tháo gỡ những khó khăn, vướng mắc trong quá trình thực hiện
1.2.2.4 Bài học trong việc xây dựng nông thôn mới tại TP Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên
Từ kinh nghiệm xây dựng Nông thôn mới tại Mỹ, Hàn Quốc, Nhật Bản, Thái Lan cho thấy dù các Quốc gia đi trước trong vấn đề Công nghiệp hoá, hiện đại hoá nhưng họ vẫn rất chú trọng vào công cuộc xây dựng và phát triển nông thôn, đồng thời họ coi quá trình này là cách tích luỹ kinh nghiệm phong phú và cải tiến trong các hoạt động về sau Bất luận tiến trình đô thị hoá và công nghiệp hoá được thúc đẩy thể nào thì các nước đều có đa phần dân số làm nghề nông
vì vậy họ phải chấp nhận một thực tế vài chục năm nữa hay thậm chí hàng trăm năm nữa số dân tiếp tục dựa vào nông nghiệp để mưu sinh, bởi vậy xây dựng nông thôn mới không phải là một quy hoạch kinh tế ngắn hạn mà là một quốc sách lâu dài
Để có thể xây dựng nông thôn mới đạt được hiệu quả, chúng ta cần phát huy tối đa vai trò chỉ đạo của Nhà nước Mục tiêu cuối cùng của công cuộc xây dựng Nông thôn mới là rút ngắn khoảng cách giữa thành thị và nông thôn, xây dựng bộ mặt nông thôn hiện đại, đem lại lợi ích cho đông đảo nông dân Chính phủ là người tổ chức và thúc đẩy công cuộc xây dựng nông thôn mới Do đó, cần chú ý phát huy vai trò chủ đạo của Chính phủ trong các phương diện hoạch định chính sách, phân bổ nguồn tài nguyên, đầu tư xây dựng, để công cuộc xây dựng nông thôn mới được tiến hành một cách thuận lợi trong môi trường chính sách phù hợp
Khác với bài học thực tiễn từ quá trình xây dựng Nông thôn mới ở các quốc gia trên thế giới, đối với việc xây dựng nông thôn mới ở các tỉnh, thành
và cụ thể hơn là với các Thành phố thì bài học được rút ra từ thực tiễn đó là:
Cần làm tốt công tác tuyên truyền, vận động giáo dục, thuyết phục để đội ngũ cán bộ đảng viên và nhân dân nhận thức rõ và thấy được tầm quan trọng của
Trang 39quá trình xây dựng Nông thôn mới, đây là một chương trình lớn mang tính tổng thể về kinh tế, văn hoá xã hội, an ninh quốc phòng, do đó đòi hỏi phải có sự vào cuộc đồng bộ, quyết tâm cao của cả hệ thống chính trị Từ đó hiểu rõ nội dung, cách làm, nghĩa vụ và trách nhiệm của từng tổ chức và cá nhân trong xây dựng Nông thôn mới Để xoá bỏ tư tưởng trông chờ Nhà nước, cần có sự phân công đăng ký nhiệm vụ đối với từng tổ chức, từng ngành, tăng cường kiểm tra, đôn đốc, đánh giá phân loại và thi đua khen thưởng
Thực hiện nghiêm túc các hướng dẫn của cấp trên, đúng chức năng nhiệm
vụ, quyền hạn của Ban chỉ đạo, Ban quản lý từ xã tới xóm Xây dựng nội quy, quy chế hoạt động, phân công rõ trách nhiệm cho từng bộ phận, từng thành viên, phân cấp, quản lý, cụ thể, rõ ràng, không để tình trạng né tránh, tập trung lãnh đạo với phương châm “Dễ làm trước, khó làm sau” không nóng vội, vàng không để mất cơ hội
Thực hiện trước chủ trương xã hội hoá, huy động các nguồn lực trong cộng đồng dân cư, con em thành đạt xa quê và các doanh nghiệp có tiềm lực và tâm huyết với nông thôn, khai thác các nguồn thu tại địa phương “Lấy sức của dân để lo cho dân” tạo nguồn vốn đầu tư cơ sở hạ tầng và các công trình phúc lợi công cộng thuộc nhóm không có hỗ trợ của nhà nước
Phát huy tốt quy chế dân chủ công khai, minh bạch, thực hiện tốt công tác kiểm tra giám sát, kịp thời chấn chỉnh, điều chỉnh, uốn nắn những lệch lạc tạo niềm tin cho quần chúng nhân dân
Chương 2 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Trang 402.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
2.1.1 Đối tượng nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu là quá trình xây dựng nông thôn mới
- Khách thể nghiên cứu là các đối tượng tham gia quá trình xây dựng nông thôn mới bao gồm các hộ nông dân, cán bộ các cấp, các tổ chức của thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên
2.1.2 Phạm vi nghiên cứu
- Địa bàn nghiên cứu: Ở thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên
- Thời gian nghiên cứu:
+ Số liệu thứ cấp: Từ năm 2012 - 2015
+ Số liệu sơ cấp: Năm 2016
2.2 Nội dung nghiên cứu
- Đặc điểm về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên
- Thực trạng về quá trình xây dựng nông thôn mới tại thành phố Thái Nguyên
- Phân tích những thuận lợi khó khăn, cơ hội và thách thức liên quan đến việc thúc đẩy quá trình hoàn thành chương trình xây dựng nông thôn mới tại thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên
- Xây dựng một số giải pháp đẩy mạnh hoàn thành quá trình xây dựng nông thôn mới tại thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên trong năm 2016:
2.3 Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp thu thập số liệu thứ cấp:
+ Thu thập thông tin từ những số liệu đã công bố chính thức của cơ quan Nhà nước, trung ương, tỉnh, thành phố về việc xây dựng nông thôn mới, các báo chí chuyên ngành và những báo cáo khoa học đã được công bố, các tài liệu thống kê do các cơ quan của tỉnh Thái Nguyên, của thành phố và các xã thuộc thành phố Thái Nguyên cung cấp; những số liệu này thu thập chủ yếu ở các phòng: Chi cục thống kê, phòng Kinh tế, Ban điều phối xây dựng nông thôn mới, phòng Tài nguyên và Môi trường, phòng Tài chính - kế hoạch, phòng giáo