Nghiên cứu tình nhiễm sán lá gan ở trâu bò tại 03 huyện, thành phố của tỉnh Lạng Sơn .... Nghiên cứu tình nhiễm sán lá gan ở trâu bò tại 03 huyện, thành phố của tỉnh Lạng Sơn .... Tình h
Trang 1ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
Trang 2ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
LUẬN VĂN THẠC SĨ THÚ Y
Người hướng dẫn khoa học: TS ĐỖ QUỐC TUẤN
THÁI NGUYÊN - 2016
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác
Tôi xin cam đoan rằng các thông tin trích dẫn trong luận văn đều đã được chỉ rõ nguồn gốc và mọi sự giúp đỡ đã được cảm ơn
Tác giả luận văn
Đặng Minh Viễn
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Với lòng biết ơn sâu sắc, tôi xin bày tỏ lời cảm ơn chân thành tới
TS Đỗ Quốc Tuấn người đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ tôi trong quá
trình thực hiện và hoàn thành luận văn này
Tôi xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ của các thầy, cô giáo trong bộ môn Ký Sinh Trùng - Khoa Chăn nuôi - Thú y; các thầy, cô giáo trong Phòng Đào tạo - Trường Đại Học Nông Lâm Thái nguyên và các thầy, cô giáo đã giảng dạy tôi trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu khoa học vừa qua
Xin chân thành cảm ơn gia đình, bạn bè và đồng nghiệp đã giúp đỡ, động viên tôi trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu để hoàn thành luận văn này
Tác giả luận văn
Đặng Minh Viễn
Trang 5MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT vi
DANH MỤC CÁC BẢNG vii
DANH MỤC CÁC HÌNH viii
MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Mục tiêu của đề tài 2
3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn 2
Chương 1 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 3
1.1 Cơ sở khoa học của đề tài 3
1.1.1 Vị trí của sán lá gan trong hệ thống phân loại động vật học 3
1.1.2 Đặc điểm hình thái của sán lá gan 3
1.1.3 Vòng đời của sán lá gan 4
1.1.4 Đặc điểm dịch tễ bệnh sán lá gan 7
1.1.5 Bệnh lý và triệu chứng bệnh sán lá gan ở trâu, bò 8
1.1.6 Chẩn đoán bệnh do sán lá gan gây ra 11
1.1.7 Phòng và trị bệnh 12
1.2 Tình hình nghiên cứu trong nước và nước ngoài 13
1.2.1 Tình hình nghiên cứu trong nước 13
1.2.2 Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài 16
Chương 2 ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 18
2.1 Đối tượng và địa điểm nghiên cứu 18
2.1.1 Đối tượng nghiên cứu 18
2.1.2 Địa điểm nghiên cứu 18
2.1.3 Thời gian nghiên cứu: Từ tháng 8 /2015 đến tháng 8 /2016 18
Trang 62.2 Vật liệu nghiên cứu 18
2.2.1 Mẫu vật nghiên cứu 18
2.2.2 Dụng cụ và hoá chất 18
2.3 Nội dung nghiên cứu 19
2.3.1 Điều tra về điều kiện tự nhiên, xã hội và tình hình phát triển chăn nuôi trâu, bò ở tỉnh Lạng Sơn trong 5 năm gần đây 19
2.3.2 Điều tra các yếu tố ảnh hưởng đến sự lưu tồn và phát triển của sán lá gan ở các địa điểm nghiên cứu 19
2.3.3 Nghiên cứu tình nhiễm sán lá gan ở trâu bò tại 03 huyện, thành phố của tỉnh Lạng Sơn 19
2.3.4 Tỷ lệ, cường độ nhiễm sán lá gan ở trâu, bò tại 03 huyện, thành phố của tỉnh Lạng Sơn 19
2.3.5 Nghiên cứu vật chủ trung gian của sán lá gan 19
2.3.6 Nghiên cứu các biện pháp phòng trừ 19
2.4 Phương pháp nghiên cứu 20
2.4.1 Điều tra về điều kiện tự nhiên, xã hội và tình hình phát triển chăn nuôi trâu, bò ở tỉnh Lạng Sơn trong 5 năm gần đây 20
2.4.2 Điều tra các yếu tố ảnh hưởng đến sự lưu tồn và phát triển của sán lá gan ở các địa điểm nghiên cứu 20
2.4.3 Nghiên cứu tình nhiễm sán lá gan ở trâu bò tại 03 huyện, thành phố của tỉnh Lạng Sơn 21
2.4.4 Tình hình nhiễm sán lá gan ở trâu, bò một số huyện, thành phố thuộc tỉnh Lạng Sơn (Qua xét nghiệm phân) 22
2.4.5 Nghiên cứu tình hình nhiễm ấu trùng sán lá gan ở ốc Limnaea 23
2.4.6 Biện pháp phòng và trị Sán lá gan cho trâu, bò 24
2.4.7 Phương pháp xử lý số liệu 25
Trang 7Chương 3 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 26
3.1 Điều tra về điều kiện tự nhiên, xã hội và tình hình phát triển chăn nuôi trâu, bò ở tỉnh Lạng Sơn 26
3.1.1 Điều kiện tự nhiên 26
3.1.2 Tình hình phát triển chăn nuôi trâu, bò của tỉnh Lạng Sơn 27
3.2 Điều tra các yếu tố ảnh hưởng đến sự tồn tại và phát triển sán lá gan và bệnh do chúng gây ra 29
3.2.1 Các yếu tố xã hội 29
3.2.2 Các yếu tố tự nhiên 33
3.3 Nghiên cứu tình hình nhiễm sán lá gan ở trâu bò tại 03 địa điểm nghiên cứu 34
3.3.1 Tỷ lệ và cường độ nhiễm sán lá gan ở trâu, bò (Qua mổ khám) 34
3.3.2 Tỷ lệ và cường độ nhiễm sán lá gan ở trâu, bò tại 03 địa điểm nghiên cứu (Qua xét nghiệm phân) 35
3.4 Nghiên cứu vật chủ trung gian của sán lá gan 43
3.4.1.Thành phần loài của 2 loài ốc giống Limnaea 43
3.4.2 Kết quả xét nghiệm ốc Limnaea tìm ấu trùng sán lá gan 43
3.5 Nghiên cứu biện pháp phòng trừ bệnh sán lá gan 45
3.5.1 Thử nghiệm xác định hiệu lực của một số thuốc tẩy sán lá gan cho trâu, bò 45
3.5.2 Xác định độ an toàn của thuốc tẩy sán lá gan cho trâu, bò 48
3.5.3 Đề xuất biện pháp phòng trị sán lá gan cho trâu, bò 50
KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 52
TÀI LIỆU THAM KHẢO 54
Trang 9DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 3.1 Phân chia các huyện, thành phố của tỉnh Lạng Sơn theo vùng
sinh thái chăn nuôi 27
Bảng 3.2 Số lượng trâu, bò của tỉnh Lạng Sơn năm 2011 - 2015 28
Bảng 3.3 Phương thức chăn nuôi trâu, bò tại các địa điểm nghiên cứu 29
Bảng 3.4 Thực trạng vệ sinh thú y đối với trâu, bò tại địa điểm nghiên cứu 30
Bảng 3.5 Hiện trạng xử lý và sử dụng phân trâu, bò 31
Bảng 3.6 Thực trạng vấn đề tẩy sán lá gan định kỳ cho trâu bò 32
Bảng 3.7 Tỷ lệ và cường độ nhiễm sán lá gan ở trâu, bò 34
Bảng 3.8 Tỷ lệ và cường độ nhiễm sán lá gan theo tuổi trâu 36
Bảng 3.9 Tỷ lệ và cường độ nhiễm sán lá gan theo tuổi bò 36
Bảng 3.10 Tỷ lệ nhiễm sán lá gan ở trâu, bò theo vùng 38
Bảng 3.11 Tỷ lệ và cường độ nhiễm sán lá gan trâu bò theo phương thức chăn nuôi 40
Bảng 3.12 Tỷ lệ và cường độ nhiễm sán lá gan theo mùa vụ 41
Bảng 3.13 Tỷ lệ và cường độ nhiễm ấu trùng sán lá gan của ốc Limnaea tại các địa điểm nghiên cứu 44
Bảng 3.14 Hiệu lực của thuốc tẩy sán lá gan trên trâu 46
Bảng 3.15 Hiệu lực của thuốc tẩy sán lá gan trên bò 47
Bảng 3.16 Độ an toàn của một số thuốc tẩy sán lá gan trên trâu 48
Bảng 3.17 Độ an toàn của một số thuốc tẩy sán lá gan trên bò 49
Trang 10DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình 1.1 Sơ đồ Chu trình vòng đời của sán lá gan 5
Hình 3.1 Biểu đồ tình hình chăn nuôi trâu, bò ở tỉnh Lạng Sơn từ năm 2011 đến năm 2015 28
Hình 3.2 Biểu đồ tỷ lệ nhiễm sán lá gan lớn ở trâu bò mổ khám 34
Hình 3.3 Biểu đồ tỷ lệ nhiễm sán lá gan lớn ở trâu, bò theo tuổi 37
Hình 3.4 Biểu đồ tỷ lệ nhiễm sán lá gan lớn theo mùa vụ ở trâu 42
Hình 3.5 Biểu đồ tỷ lệ nhiễm sán lá gan lớn theo mùa vụ ở bò 43
Trang 11MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Trong những năm gần đây, ngành chăn nuôi ở Việt Nam đã có nhiều thay đổi theo hướng tích cực cả về tốc độ phát triển, phương thức chăn nuôi cũng như địa bàn phân bố Ở Việt Nam, chăn nuôi giữ vai trò quan trọng trong nền nông nghiệp, cung cấp thực phẩm cho xã hội Chăn nuôi trâu, bò có một vị trí quan trọng trong ngành nông nghiệp Trâu, bò ở nước ta không những cung cấp một khối lượng lớn thực phẩm mà còn cung cấp sức kéo và phân bón cho thâm canh cây trồng
Trong những năm gần đây, nhờ việc áp dụng những tiến bộ kỹ thuật mới và thực hiện một số chính sách mới về phát triển trâu, bò nên số lượng đàn trâu, bò ở nước ta đã tăng lên rõ rệt Tuy nhiên, vẫn còn một số trở ngại cho việc phát triển chăn nuôi trâu, bò, trong đó có bệnh ký sinh trùng, đặc biệt là bệnh sán lá gan Bệnh sán lá gan do các loài sán lá thuộc giống Fasciola gây nên Các loài sán này ký sinh chủ yếu ở trâu, bò và một số động vật ăn cỏ khác như dê, cừu, ngựa, thỏ Ngoài ra, sán lá gan còn ký sinh và gây bệnh cho người
Bệnh sán lá gan là một trong những bệnh ký sinh trùng nguy hiểm,
nó có thể lây nhiễm từ động vật sang người, có thể gây tử vong khi động vật hoặc người nhiễm với tỷ lệ sán cao Người bị nhiễm bệnh sán lá gan là
do ăn phải rau sống, rau tái có nhiễm Aldolescaria (hoặc gan trâu, bò tái,
trong đó có sán non)
Lạng Sơn là một tỉnh miền núi, được đánh giá có tiềm năng phát triển chăn nuôi trâu, bò Tuy nhiên, các bệnh ký sinh trùng ở trâu, bò chưa được các nhà quản lý và người chăn nuôi quan tâm đúng mức Trong những năm qua, việc nghiên cứu về bệnh sán lá gan trên đàn trâu, bò ở tỉnh Lạng Sơn còn chưa được thực hiện một cách đầy đủ, vì vậy việc phòng trừ bệnh sán lá gan trên trâu, bò ở tỉnh Lạng Sơn cũng chưa được chú ý
Trang 12Để góp phần phòng chống bệnh sán lá gan cho đàn trâu, bò ở Lạng Sơn
có hiệu quả chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Nghiên cứu một số đặc
điểm dịch tễ bệnh sán lá gan ở trâu, bò nuôi tại tỉnh Lạng Sơn và đề xuất biện pháp phòng trị”
2 Mục tiêu của đề tài
Xác định được đặc điểm dịch tễ học của bệnh sán lá gan ở trâu, bò tại tỉnh Lạng Sơn và đề xuất quy trình phòng trị bệnh sán lá gan cho trâu, bò có hiệu quả, khuyến cáo và áp dụng rộng rãi tại các nông hộ, trang trại chăn nuôi trâu, bò tập thể và gia đình
3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn
3.1 Ý nghĩa khoa học
Kết quả của đề tài là những thông tin khoa học có giá trị về đặc điểm dịch tễ, về quy trình phòng chống bệnh sán lá gan trâu, bò, có một số đóng góp mới cho khoa học
Trang 13Chương 1 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU
1.1 Cơ sở khoa học của đề tài
1.1.1 Vị trí của sán lá gan trong hệ thống phân loại động vật học
Theo Nguyễn Thị Lê và cs (1996) [21], sán lá gan ký sinh và gây bệnh cho gia súc nhai lại được xếp trong hệ thống phân loại động vật như sau:
Ngành Plathelminthes Schneider, 1873
Phân ngành Platodes Leuckart, 1854
Lớp Trematoda Rudolphi, 1808 Phân lớp Prosostomadidea Skrjabin và Guschanskaja, 1962
Bộ Fasciolida Skrjabin et Schulz, 1937 Phân bộ Fasciolata Skrjabin et Schulz, 1937
1.1.2 Đặc điểm hình thái của sán lá gan
Cũng như nhiều loài sán lá khác, sán lá gan lưỡng tính, có thể thụ tinh chéo hoặc tự thụ tinh Sán có giác miệng và giác bụng, giác bụng không nối với cơ quan tiêu hoá Sán không có hệ hô hấp, tuần hoàn và cơ quan thị giác (ở giai đoạn mao ấu có dấu vết sắc tố mắt) Hệ sinh dục rất phát triển với cả
bộ phận sinh dục đực và cái trong cùng một sán Tử cung sán chứa đầy trứng
Có thể phân biệt hai loài sán lá gan thuộc giống Fasciola như sau:
F gigantica: Có chiều dài thân gấp 3 lần chiều rộng, “vai” không có
hoặc nhìn không rõ rệt, nhánh ruột chia toả ra nhiều nhánh ngang F
Trang 14gigantica (nghĩa là sán lá “khổng lồ”) dài 25 - 75 mm, rộng 3 - 12 mm, u lồi
hình nón của đầu là phần tiếp theo của thân, vì vậy nó không có “vai” như loài khác của giống Gan Hai rìa bên thân sán song song với nhau, đầu cuối của thân tù Giác bụng tròn lồi ra Ruột, tuyến noãn hoàng, buồng trứng và tinh hoàn đều phân nhánh Trứng hình bầu dục, màu vàng nâu, phôi bào to đều và xếp kín vỏ Kích thước trứng: 0,125 - 0,170 x 0,06 - 0,10 mm
F hepatica: Trái với loài trên, loài này thân rộng, đầu lồi và nhô ra phía trước làm cho sán có “vai”, nhánh ruột chia ít nhánh ngang hơn F hepatica
(nghĩa là sán lá ở gan) dài 18 - 51 mm, rộng 4 - 13 mm, phần trước thân nhô ra, tạo cho sán có vai bè ra hai bên Hai rìa bên thân sán không song song với nhau mà phình ra ở chỗ vai rồi thót lại ở đoạn cuối thân Những ống dẫn tuyến noãn hoàng chạy ngang, chia vùng giữa của sán thành phần trước
và phần sau thân Phần sau thân có tinh hoàn và bộ phận sinh dục đực Tinh hoàn phân nhiều nhánh xếp phía sau thân Tử cung ở giữa phần thân trước tạo nên một mạng lưới dày đă ̣c Buồng trứng phân nhánh nằm ở sau tử
cung Trứng sán có hình thái, màu sắc tương tự trứng của loài F gigantica,
kích thước 0,13 - 0,145 x 0,07 - 0,09 mm
Bệnh sán lá gan ở trâu, bò do hai loài sán lá ký sinh ở ống dẫn mật và
gan gây ra (Fasciola hepatica và Fasciola gigantica) Ngoài trâu, bò, hai loài
sán này còn gây bệnh cho các động vật nhai lại khác, đôi khi thấy cả ở người
1.1.3 Vòng đời của sán lá gan
Trong vòng đời phát triển, sán lá gan cần trải qua 5 giai đoạn để trở
thành sán trưởng thành Sán lá gan trưởng thành ký sinh trong ống dẫn mật
của trâu, bò Sau khi thụ tinh, mỗi sán đẻ hàng chục vạn trứng Những trứng này cùng dịch mật vào ruột, sau đó theo phân ra ngoài Nếu gă ̣p điều kiện thuận lợi (được nước mưa cuốn trôi xuống các vũng nước, hồ, ao, suối, ruộng nước nhiệt độ 15 - 300C, pH = 5 - 7,7, có ánh sáng thích hợp) sau 10
- 25 ngày trứng nở thành Miracidium bơi tự do trong nước Nếu thiếu ánh
Trang 15sáng Miracidium không có khả năng thoát vỏ nhưng vẫn tồn tại đến 8 tháng trong vỏ, Miracidium có hình tam giác, xung quanh thân có lông và di chuyển được trong nước Khi gă ̣p vật chủ trung gian thích hợp (ốc Lymnaea), Miracidium xâm nhập cơ thể ốc và phát triển thành bào ấu (Sporocyst) Những Miracidium không gặp vật chủ trung gian thì rụng lông, rữa dần và chết
Hình 1.1 Sơ đồ Chu trình vòng đời của sán lá gan
Bào ấu (Sporocyst) hình túi, màu sáng, được bao bọc bởi lớp màng mỏng, các tế bào ngọn lửa hoạt động hình thành hầu, ống ruột và các đám phôi Trong 1 ốc có thể có 1 - 2 ấu trùng Khoảng 3 - 7 ngày, bào ấu sinh sản
vô tính cho ra nhiều Redia (lôi ấu) Một bào ấu sinh ra 5 - 15 lôi ấu Redia
hình suốt chỉ, ít hoạt động, có miệng, hầu, ruột, hình túi đơn giản, có hai
hệ: Redia thế hệ I và Redia thế hệ II cùng phát triển trong ốc - vật chủ trung
gian Ở nhiệt độ phù hợp (20 - 300C), sau 29 - 35 ngày, lôi ấu biến thành vĩ
ấu (Cercaria) Một Redia có thể sinh ra 12 - 20 Cercaria
Trang 16Cercaria (vĩ ấu) là ấu trùng ở pha sống tự do của sán lá gan, có cấu tạo
thân hình tròn lệch, đuôi dài hơn thân giúp vĩ ấu vận chuyển được dễ dàng trong nước Cấu tạo của vĩ ấu gồm giác miệng, giác bụng, hầu, thực quản và
ruột phân thành hai nhánh Từ khi Miracidium chui vào ốc đến khi phát triển thành Cercaria cần khoảng 50 - 80 ngày
Dreyfuss G và Rondelaud D (1994) [37] cho biết, trong một lần gây
nhiễm, Cercaria thoát ra khỏi ốc có thể tới 15 đợt (thường là 3 đợt hoặc có
thể ít hơn)
Sau khi thành thục, Cercaria thoát khỏi ốc, ra môi trường ngoài, bơi tự
do trong nước, có kích thước 0,28 - 0,30 mm chiều dài và 0,23 mm chiều rộng
Sau vài giờ bơi trong nước, Cercaria rụng đuôi, tiết chất nhầy xung quanh
thân, chất nhầy gặp không khí khô rất nhanh Lúc này Cercaria đã biến thành Adolescaria
Adolescaria hình khối tròn, bên trong chứa phôi hoạt động Phôi có giác miệng, giác bụng, ruột phân nhánh và tú i bài tiết Adolescaria thường ở
trong nước hoặc bám vào cây cỏ thuỷ sinh Theo Phạm Ngọc Doanh (2010) [3], kết quả xét nghiệm mẫu rau thủy sinh phổ biến ở tại 9 tỉnh nghiên cứu chưa thu được nang sán lá gan Tuy nhiên, kiểm tra cỏ ở ruộng lúa có ốc nhiễm ấu trùng sán lá gan đã phát hiện nang sán ở cỏ với số lượng 10,5 nang sán/ kg cỏ
Nếu trâu, bò, dê nuốt phải Adolescaria, vào đến dạ dày và ruột, lớp
vỏ ngoài bị phân huỷ, ấu trùng được giải phóng và di chuyển đến ống mật bằng 3 con đường:
Một số ấu trùng dùng tuyến xuyên chui qua niêm mạc ruột, vào tĩnh mạch ruột, qua tĩnh mạch cửa vào gan, xuyên qua nhu mô vào ống mật
Một số ấu trùng khác cũng dùng tuyến xuyên chui qua thành ruột vào xoang bụng, đến gan, xuyên qua vỏ gan vào ống mật
Trang 17Một số ấu trùng từ tá tràng ngược dòng dịch mật để lên ống dẫn mật Sau khi vào ống dẫn mật, ấu trùng ký sinh ở đó và phát triển thành sán
lá gan trưởng thành, thời gian hoàn thành vòng đời là 92 - 117 ngày Sán lá
gan trưởng thành có thể ký sinh trong ống dẫn mật của sú c vật nhai lại 3 - 5 năm, có khi tới 11 năm
1.1.4 Đặc điểm dịch tễ bệnh sán lá gan
Bệnh sán lá gan phổ biến ở khắp các châu lục và nhiều nước trên thế giới Ở Việt Nam, bệnh thấy ở khắp các tỉnh thành trong cả nước
Trịnh Văn Thịnh (1963) [30] cho biết, trâu trưởng thành mắc bệnh sán
lá gan do F gigantica, tỷ lệ nhiễm tới 50 - 70% Theo Phan Địch Lân (1985)
[18] mổ khám 1.043 trâu ở Thái Nguyên, số trâu nhiễm sán lá gan là 57%, trong đó có nhiều gan phải huỷ bỏ do số lượng sán quá nhiều Kết quả điều tra ở huyện Bình Lục - Nam Hà, tỷ lệ nhiễm sán lá gan ở trâu là 51,2 - 57,5%
Đoàn Văn Phúc (1980) [25] đã kiểm tra 64 bò tại trại bò sữa Hà Nội,
thấy tỷ lệ nhiễm sán lá gan là 73,43% Tác giả còn cho biết, bệnh sán lá
gan đã ảnh hưởng rõ rệt đến sức khoẻ và sản lượng sữa của đàn bò
Đoàn Văn Phúc và cs (1995) [26] cho biết, trâu bò thuộc khu vực Hà Nội nhiễm sán lá gan tỷ lệ 53,41% Kết quả kiểm tra trâu, bò ở một số địa phương xung quanh Hà Nội, Bắc Giang, Thái Nguyên, Hoà Bình, tỷ lệ nhiễm sán lá gan là 44,53% Trong đó, trâu nhiễm 33,92%, bò nhiễm 54,21%
Nguyễn Thị Kim Lan và cs (2012) [16] cho biết, gia súc nhai lại nhiễm
sán lá Fasciola nhiều hơn vào mùa vật chủ trung gian phát triển Những năm
mưa nhiều, tỷ lệ nhiễm sán lá gan tăng lên so với những năm nắng ráo và khô hạn Mùa vụ gắn liền với sự thay đổi thời tiết khí hậu Mùa Hè và đầu mùa Thu, số gia súc bị nhiễm sán lá gan tăng cao hơn các mùa khác trong năm
Tỷ lệ và cường độ nhiễm sán lá gan ở gia súc nhai lại phụ thuộc vào những yếu tố sau:
Trang 18- Yếu tố thời tiết, khí hậu và mùa vụ
- Yếu tố vùng và địa hình
- Yếu tố loài và tuổi vật chủ cuối cùng
- Vật chủ trung gian của sán lá gan
- Sức đề kháng của trứng và ấu trùng sán lá gan
1.1.5 Bệnh lý và triệu chứng bệnh sán lá gan ở trâu, bò
1.1.5.1 Bệnh lý của bệnh sán lá gan ở trâu, bò
Theo các nhà ký sinh trùng học, sán lá gan gây bệnh ở vật chủ bằng các tác động cơ học, tác động của độc tố, sự chiếm đoạt dinh dưỡng và tác động mang trùng Khi súc vật mới nhiễm bệnh, sán non di hành trong cơ thể làm tổn thương ở ruột, thành mạch máu, nhu mô gan Một số ấu trùng có thể theo máu di chuyển “lạc chỗ” đến phổi, lách, cơ hoành, tuyến tuỵ gây tổn thương
và xuất huyết nă ̣ng hoă ̣c nhẹ Sán non xuyên qua các nhu mô gan, làm tổ chức gan bị phá hoại, tạo ra những đường di hành đầy máu và mảnh tổ chức gan bị phá huỷ Gan bị viêm từ nhẹ đến nặng tuỳ theo số lượng ấu trùng nhiễm vào
cơ thể Súc vật bị thiếu máu do xuất huyết, có thể chết do mất máu
Trong quá trình ký sinh sán thường tiết độc tố Độc tố tác động vào thành ống dẫn mật và mô gan, gây biến đổi đại thể và vi thể, làm tăng quá trình viêm Đồng thời, độc tố của sán còn hấp thu vào máu, gây hiện tượng trúng độc toàn thân, gây huỷ hoại máu, làm biến chất protein trong máu, làm Albumin giảm, globulin tăng Độc tố của sán còn làm tăng nhiệt độ cơ thể, tăng bạch cầu (đă ̣c biệt là bạch cầu ái toan) Độc tố của sán còn tác động vào thần kinh, làm cho con vật có triệu chứng thần kinh (run rẩy, đi xiêu vẹo…) Độc tố của sán lá gan tác động vào thành mạch máu, làm tăng tính thấm của thành mạch, gây hiện tượng thuỷ thũng, làm cho máu đă ̣c lại Cũng do tác động của độc tố nên giữa những tiểu thuỳ gan có hiện tượng thấm nhiễm huyết thanh và tế bào, hình thành nên các mô liên kết mới dọc theo các vách ngăn của tiểu thuỳ gan và
Trang 19quanh ống mật, vì vậy những ống mật này cũng dày lên Quá trình viêm kéo dài làm cho các tế bào tổ chức tăng sinh, thay thế những tế bào nhu mô gan, gây hiện tượng xơ gan và teo gan Khi súc vật nhiễm sán lá gan nă ̣ng, hiện tượng xơ gan chiếm diện tích lớn của gan, làm cho chức năng của gan bị phá huỷ Từ đó dẫn đến hàng loạt rối loạn khác như: rối loạn cơ năng dạ dày - ruột, thiếu máu, suy nhược, gầy dần, cổ chướng, xoang phúc mạc tích nước
Một tác động quan trọng của sán lá gan khi ký sinh ở vật chủ là
chiếm đoạt dinh dưỡng Dinh dưỡng của sán lá gan là máu súc vật mà nó
ký sinh Bằng phương pháp phóng xạ người ta đã thấy mỗi sán ký sinh ở ống dẫn mật lấy 0,2 ml máu mỗi ngày Như vậy, nếu súc vật nhiễm ít sán thì vai trò chiếm đoạt chất dinh dưỡng không rõ, nhưng nếu súc vật có hàng trăm, hàng nghìn sán ký sinh thì lượng máu mất đi rất nhiều
Ngoài các tác động gây bệnh trên, trong khi di hành, sán non còn mang theo các loại vi trùng từ bên ngoài vào máu, gan và những cơ quan khác, gây những bọc mủ hoă ̣c gây bệnh truyền nhiễm khác
1.1.5.2 Triệu chứng bệnh sán lá gan ở trâu, bò
Triệu chứng lâm sàng là biểu hiện ra bên ngoài bởi các tác động gây bệnh của sán lá gan Triệu chứng ở trâu, bò biểu hiện nă ̣ng hay nhẹ còn phụ thuộc vào cường độ nhiễm sán, tình trạng sức khoẻ và tuổi của súc vật, tình trạng chăm sóc quản lý…
Thể cấp tính thường gă ̣p ở trâu, bò 1,5 - 2 năm tuổi (Phạm Văn Khuê
và cs, 1996) [11] trong giai đoạn sán non di hành hoặc khi nuôi dưỡng, chăm sóc kém
Sú c vật biểu hiện: Ăn uống sút kém, suy nhược, chướng bụng, ỉa chảy, miệng hôi, sốt, gan sưng to và đau, thiếu máu, vàng da, đôi khi có triệu chứng thần kinh (lảo đảo, xiêu vẹo) Súc vật có thể chết do xuất huyết nă ̣ng, trúng độc và suy nhược cơ thể
Trang 20Thể mãn tính thấy phổ biến ở trâu, bò trưởng thành, khi súc vật được nuôi dưỡng tốt và sán đã ở giai đoạn trưởng thành, ký sinh trong ống dẫn mật với số lượng ít Thể mãn tính thường xuất hiện sau thể cấp tính 1 - 2 tháng
Sú c vật biểu hiện: Ăn uống kém, suy nhược, niêm mạc nhợt nhạt, lông
xù và dễ rụng (nhất là lông ở vùng dọc hai bên sườn và dọc xương ức) Xuất hiện thuỷ thũng ở mí mắt, yếm, ngực, bộ phận sinh dục Thuỷ thũng ban đầu
lú c thấy, lúc không, về sau thấy liên tục Con vật nhai lại yếu, khát nước, ỉa chảy xen kẽ táo bón , gày yếu dần Giai đoạn sau đi tháo nhiều hơn và gầ y rất nhanh Kiểm tra lâm sàng thấy gan sưng to và đau Có thể thấy hiện tượng sảy thai ở bò cái bị bệnh, lượng sữa có thể giảm 30 - 50% Triệu chứng thần kinh cũng có thể gă ̣p song rất hiếm Bệnh kéo dài nhiều tháng, con vật có thể chết do suy nhược toàn thân
Nhìn chung, khi súc vật bị bệnh sán lá gan kéo dài, cơ thể suy nhược
nặng, nếu không được điều trị kịp thời thì súc vật thường chết
1.1.5.3 Bệnh tích của trâu, bò mắc bệnh sán lá gan
Tuỳ theo mức độ nhiễm sán mà bệnh tích có sự khác nhau
Đối với trâu bò nhiễm sán nặng, bệnh tích thấy rõ là viêm gan cấp tính, gan sưng to, màu nâu sẫm, sung huyết Trên mặt gan có thể thấy những đường di hành của sán non tạo thành những vệt đỏ thẫm, dài 2 - 4
mm, trong có sán non với số lượng nhiều Lớp thanh mạc xuất huyết nhẹ, đôi khi có tơ huyết Khi nhiễm nặng thấy viêm phúc mạc, gan xuất huyết nhiều, niêm mạc mắ t nhợt nhạt
Ở những súc vật nhiễm sán lá gan đã lâu, gan viêm mãn tính, những chỗ mô gan bị phá huỷ có sẹo mầu vàng xám Gan xơ cứng, niêm mạc ống dẫn mật dầy, có hiện tượng canxi hoá mă ̣t trong thành ống Lòng ống dẫn mật giãn rộng, chứa đầy dịch màu nâu và sán lá gan Khi ống mật bị canxi hoá nhiều, sán ở chỗ đó thường bị chết hoă ̣c chuyển đến chỗ ít biến đổi hơn
Trang 21Ngoài gan và ống mật, đôi khi còn thấy sán ở phổi trâu, bò Trường hợp này sán ở trong những bọc bằng quả trứng gà hoặc nhỏ hơn, trong chứa dịch màu nâu Quan sát biến đổi vi thể dưới kính hiển vi thấy: Nhu mô gan mất màu, liên bào ống mật thoái hoá, niêm mạc tăng sinh thành những u, trong u chứa nhiều bạch cầu, lâm ba cầu, bạch cầu ái toan, đại thực bào chứa đầy sắc
tố mật và máu Quá trình viêm tăng sinh lan xuống lớp sâu hơn của ống mật:
Tổ chức liên kết tăng sinh, lan vào các thuỳ gan làm tan biến tổ chức gan, Phạm Văn Khuê và cs (1996) [11]
1.1.6 Chẩn đoán bệnh do sán lá gan gây ra
Việc chẩn đoán có thể tiến hành trên súc vật còn sống hoă ̣c đã chết Tuỳ điều kiện thực tế mà áp dụng biện pháp phù hợp
- Đối với súc vật còn sống:
Để chẩn đoán bệnh do sán lá gan gây ra, thường áp dụng các biện
pháp như: chẩn đoán lâm sàng, kết hợp đặc điểm dịch tễ học, xét nghiệm phân con vật nghi bệnh và chẩn đoán miễn dịch học
Triệu chứng lâm sàng của bệnh sán lá gan thường thấy nhất là: Kiệt sức, suy nhược, rụng lông, phù thũng ở ngực, ức Tuy nhiên, các biểu hiện
trên không chỉ thấy ở bệnh do sán lá gan gây nên Vì vậy, triệu chứng lâm sàng không phải là căn cứ duy nhất để kết luận bệnh
Những dẫn liệu dịch tễ học của bệnh cần xem xét là: Yếu tố mùa vụ, vùng và tuổi sú c vật bệnh Song, những dẫn liệu này cũng chỉ là những thông tin cần xem xét trong chẩn đoán chứ không phải là sở cứ quan trọng nhất để kết luận về bệnh
Việc xét nghiệm phân tìm trứng sán lá gan là biện pháp có tính quyết định trong chẩn đoán Thường dùng phương pháp gạn rửa nhiều lần Theo Phạm Văn Khuê và cs (1996) [11], phương pháp này phổ biến nhưng chưa phát hiện được tất cả mọi gia sú c nhiễm sán lá gan, nhất là ở những
Trang 22sú c vật nhiễm ít hoă ̣c ở giai đoạn sán còn non Khi xét nghiệm phân, cần
phân biệt trứng sán lá gan với trứng Paramphistomum ký sinh ở dạ cỏ (phân
biệt về màu sắc, hình dạng, tế bào noãn hoàng và kích thước)
- Đối với súc vật chết:
Khi sú c vật chết, mổ khám tìm sán lá gan ở giai đoạn ấu trùng và
trưởng thành trong ống dẫn mật, gan, xoang bụng Phương pháp này chính xác hơn cả, vì tìm thấy cả sán non ở giai đoạn di hành
+ Định kỳ tẩy sán lá gan cho súc vật nhai lại
+ Ủ phân theo phương pháp sinh học, lợi dụng quá trình lên men sinh nhiệt các chất hữu cơ trong phân của hệ vi sinh vật để tiêu diệt trứng sán lá gan trong phân sú c vật nhai lại Biện pháp này có hiệu quả và đơn giản nhất
để phòng bệnh do sán lá gan gây ra
+ Xử lý các cơ quan có sán ký sinh
+ Diệt vật chủ trung gian của sán lá gan
+ Tăng cường vệ sinh thức ăn, nước uống Không chăn thả súc vật nhai lại ở những bãi chăn lầy lội, ẩm thấp Nếu khó khăn về bãi chăn thả thì chỉ chăn ở bãi chăn lầy lội, ẩm ướt 1,5 - 2 tháng, rồi phải chuyển sang chăn ở bãi khác Nếu lấy cỏ ở những chỗ ẩm ướt thì phải cắt cao hơn mặt nước để tránh
Adolescaria, sau đó phơi khô, bảo quản trong 6 tháng rồi cho gia sú c ăn
Nguồn nước uống phải sạch, không có vật chủ trung gian và Adolescaria
+ Không nhập súc vật nhai lại từ vùng có bệnh, khi chưa kiểm tra và điều trị triệt để
Trang 23- Thuốc Fasciolid (tên khác: Fasciolidum): Thuốc được bào chế dưới dạng dung dịch màu vàng nâu, chứa 25% hoạt chất là Nitroxinil Fasciolid
có tác dụng tẩy sán lá gan dạng trưởng thành, được chỉ định tẩy sán lá gan cho gia súc nhai lại Liều lượng: 0,04 ml/ kgTT (1 ml/ 25 kg TT, tương đương 1
mg hoạt chất/ kg TT), tiêm dưới da Khi tẩy sán lá gan, nên dùng thuốc 2 - 3 lần, cách nhau 25 - 30 ngày để có hiệu quả điều trị triệt để
- Thuốc Fasinex (chế phẩm của Triclabendazol): Thuốc có tác dụng diệt cả sán non và sán trưởng thành ký sinh ở ống dẫn mật hoă ̣c đang di hành trong các nhu mô gan Thuốc Fasinex được chỉ định dùng điều trị bệnh sán lá gan cho gia súc nhai lại Liều lượng: 10 - 12 mg/ kg TT Cho uống một lần duy nhất Thuốc có hiệu lực cao và an toàn cho gia sú c dùng thuốc
Ngoài ra các thuốc Albendazol, Bithionol, Closantel cũng có tác dụng tẩy sán lá gan ở gia súc nhai lại
1.2 Tình hình nghiên cứu trong nước và nước ngoài
1.2.1 Tình hình nghiên cứu trong nước
Bệnh sán lá gan ở trâu, bò phổ biến tại nhiều nước trên thế giới Ở Việt Nam, bệnh có ở khắp các tỉnh, thành trong cả nước
Trịnh Văn Thịnh và Đỗ Dương Thái (1978) [31] cho biết, các chuyên gia người Pháp đã điều tra thấy trâu, bò, dê, cừu, thỏ ở miền Bắc Việt Nam
Trang 24đều nhiễm sán lá F gigantica theo tỷ lệ lần lượt là 64,7%; 23,5%; 37%; 52,94%; 14,28%; đặc biệt có 2 trường hợp người nhiễm sán
Phan Địch Lân (1985) [18] đã mổ khám 1.043 trâu ở Thái Nguyên, số trâu nhiễm sán lá gan là 57%, trong đó có nhiều trâu phải huỷ bỏ gan do số lượng sán quá nhiều Kết quả điều tra ở huyện Bình Lục - Hà Nam, tỷ lệ nhiễm sán lá gan ở trâu là 51,2 - 57,5%
Theo Nguyễn Trọng Kim (1997) [12] tỷ lệ nhiễm sán lá gan trâu, bò ở tỉnh Hà Bắc (cũ) là 49,95%; ở Nghệ An là 25,27 - 32,65%; tỷ lệ nhiễm sán lá Fasciola chung ở miền Bắc Việt Nam là 43,56%
Nguyễn Thị Kim Lan (1999) [14] đã nghiên cứu và cho biết, đàn dê địa phương nuôi ở các tỉnh Thái Nguyên, Bắc Kạn, Tuyên Quang và Cao Bằng nhiễm sán lá Fasciola biến động từ 5,3% đến 27,9% tuỳ theo địa phương
Phan Địch Lân (1985) [18] đã xét nghiệm phân của 2.570 trâu ở 5 tỉnh đồng bằng, kết quả thấy, tuổi trâu càng cao thì tỷ lệ nhiễm sán lá gan càng nặng (bình quân tỷ lệ nhiễm ở các độ tuổi như sau: trâu dưới 3 năm tuổi nhiễm 17,2 - 22%, trâu 3 - 5 năm tuổi nhiễm 31,2 - 40,2%, trâu trên 5 năm tuổi nhiễm 42,4 - 57,5%, trâu trên 8 năm tuổi nhiễm 56,8 - 66,3%, trâu ở độ tuổi loại thải nhiễm tới 84,6%)
Nguyễn Thị Lê và cs (1996) [20] đã xét nghiệm phân của đàn bò sữa nuôi ở Ba Vì, tỷ lệ nhiễm sán lá gan tới 46,23%
Phan Lục và cs (2001) [24] đã nghiên cứu Ký sinh trùng truyền lây giữa trâu, bò và người ở một số địa điểm ngoại thành Hà Nội cho thấy tỷ lệ nhiễm sán lá gan tới 40,12%
Geurden T và cs (2008) [39] thông báo, tỷ lệ nhiễm sán lá gan ở trâu,
bò 3 - 24 tháng tuổi ở khu vực xung quanh Hà Nội là 28%, tỷ lệ này là 39% ở trâu, bò trưởng thành
Trang 25Theo Giang Hoàng Hà và cs (2008) [5] tỷ lệ nhiễm sán lá gan ở bò sữa tại khu vực Hà Nội là 29,45%, trong đó, bê có tỷ lệ nhiễm là 22,03%, bò
tỷ lệ nhiễm là 34,48%
Vũ Đức Hạnh và Nguyễn Thị Kim Lan (2009) [6] đã xét nghiệm 1.170 mẫu phân trâu, bò ở một số xã của huyện Yên Sơn, tỉnh Tuyên Quang Kết quả thấy, có 641 trâu, bò nhiễm sán lá gan, chiếm tỷ lệ 54,79%
Nguyễn Hữu Hưng (2009) [9] đã kiểm tra 981 mẫu phân bò, kết hợp
mổ khám 309 bò tại 4 huyện của tỉnh Đồng Tháp Tác giả cho biết: bò nhiễm sán lá gan với tỷ lệ khá cao (53,31%), tỷ lệ nhiễm tăng dần theo lứa tuổi, nhiễm thấp nhất ở lứa tuổi dưới 1 năm tuổi (15,31%), cao nhất ở bò trên 2 năm tuổi (63,09%)
Võ Thị Hải Lê (2010) [22] đã xét nghiệm 269 mẫu phân trâu, bò (150 trâu, 119 bò) tại 2 huyện thuộc tỉnh Nghệ An, tỷ lệ nhiễm là 61,6 % ở trâu và 26,86% ở bò Mổ khám 150 trâu và 131 bò, kết quả cho thấy, tỷ lệ nhiễm ở trâu là 67,76%, ở bò là 30,68%
Phan Lục và cs (1993) [23] điều tra bò nuôi ở đồng bằng sông Hồng thấy tỷ lệ nhiễm sán lá gan là 62,2%
Kết quả nghiên cứu của Hoàng Văn Hiền và cs (2011) [7] cho thấy, tỷ
lệ nhiễm sán lá gan ở trâu, bò của cả 3 miền Bắc, Trung và Nam của Việt Nam là 35,0%, biến động từ 0 - 60% Tỷ lệ này giảm dần từ miền Bắc đến miền Nam (tỷ lệ nhiễm trung bình ở miền Bắc là 50,0%, dao động từ 36 đến 60%, ở miền Trung và Tây Nguyên là 38,7%, dao động từ 24 đến 56%, ở miền Nam là 7,0%, dao động từ 0 đến 28%)
Theo Nguyễn Hữu Hưng (2011) [10], tỷ lệ nhiễm sán lá gan qua xét nghiệm phân của đàn bò tại 3 tỉnh đồng bằng sông Cửu Long (Sóc Trăng, Đồng Tháp và An Giang) là 51,91%, tỷ lệ nhiễm tăng dần theo lứa tuổi bò (bò dưới 1 năm tuổi nhiễm 0,43%, bò trên 2 năm tuổi nhiễm tới 62,81%)
Trang 261.2.2 Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài
Theo Schenone H và Rojas A (1988) [46] tỷ lệ nhiễm sán lá gan của vật nuôi giết mổ tại các lò mổ ở Chi Lê từ năm 1977 đến 1986 là: bò 19,4 - 34,4%; dê 8,4 - 23,6%; cừu 3,2 - 5,7%; ngựa và lừa 1,8 - 9,3%
Nghiên cứu tỷ lệ nhiễm bệnh sán lá gan ở dê, cừu và bò ở thung lũng Kashmir - Ấn Độ, Dhar D N và cs (1988) [36] cho biết, tỷ lệ nhiễm qua
mổ khám biến động từ 0 đến 100 %, kiểm tra phân thấy tỷ lệ biến động từ 18,7 đến 55,6% Dê, cừu và bò đều bị nhiễm, bò nhiễm cao nhất rồi đến dê
và cừu Sau khi tẩy 2 - 8 tháng, kiểm tra phân cừu vẫn thấy 8,6 - 27,8%
nhiễm sán lá Fasciola Loài F gigantica là loài sán chủ yếu ký sinh ở gan
dê, cừu và bò ở Kashmir
Theo Shahlapour A và cs (1994) [47] ngiên cứu miền Bắc Iran để xác định tỷ lệ nhiễm sán lá gan Fasciola spp Kết quả cho thấy dê, cừu ở đó bị nhiễm sán lá gan với tỷ lệ 6,6%, trong đó tỷ lệ nhiễm trong mùa Xuân là cao nhất (8,3%), sau đó đến mùa Thu (8,1%), mùa Đông (5,9%) và thấp nhất là vào mùa Hè (4%)
Tembely S và cs (1995) [50] cho biết F gigantica phổ biến trên toàn thế giới, ký chủ trung gian của chúng là các loài ốc không dễ dàng phân biệt
về mă ̣t hình thái hoă ̣c sinh thái
Theo Gargili A và cs (1999) [38] sán lá F hepatica là loài sán thường
tìm thấy ở cừu và các gia súc nhai lại khác ở Thổ Nhĩ Kỳ
Theo Cringoli G và cs (2002) [35] có 9 trong số 81 (11,1%) số trang trại chăn nuôi bò và 8 trong số 197 (4,1%) số trang trại chăn nuôi cừu tại khu vực Apennines - miền Nam Italia bị nhiễm sán lá F hepatica
Pfukenyi D M và cs (2004) [44] cho biết, trong vòng 10 năm (1990 -
1999) nghiên cứu về sự lưu hành của F gigantica ở trâu, bò tại lò mổ
Zimbabwe, tác giả thấy, trong 2.474.232 trâu, bò giết mổ có 917.565 trâu, bò
Trang 27nhiễm F gigantica, chiếm tỷ lệ 37,10% Trâu, bò ở những vùng mưa nhiều có
tỷ lệ nhiễm F gigantica cao hơn trâu, bò nuôi ở những vùng khô hạn
Theo Molina E C và cs (2005) [42] xét nghiệm phân của 252 con bò tại Mindanao - Phipippin, có 173 con bị nhiễm sán lá gan F gigantica, chiếm tỷ lệ 68,65% Tỷ lệ bò nhiễm sán lá gan tăng dần theo tuổi: bò ở các lứa tuổi từ 5 tháng đến 2 năm tuổi, từ 2 - 4 năm tuổi và trên 4 năm tuổi nhiễm với tỷ lệ lần lượt là 53%, 78% và 82% Bò đực nhiễm sán với tỷ lệ 62%, tỷ lệ nhiễm ở bò cái là 72%
Soun S và cs (2006) [48] cho biết: qua xét nghiệm phân của 273 con trâu, bò nuôi tại hai tỉnh Kandal và Kompong Cham - Campuchia thấy: tỷ lệ
trâu, bò bị nhiễm sán lá gan F gigantica của tỉnh Kompong Cham là 7%, ở
tỉnh Kandal là 38%
Mungube E O và cs (2006) [43] đã nghiên cứu tình hình nhiễm sán lá
F gigantica của bò, dê và cừu tại các lò mổ ở khu vực Taveta (Kenya) trong
thời gian 16 năm, từ năm 1989 đến 2004 Kết quả cho thấy, tỷ lệ nhiễm sán lá
F gigantica ở bò, dê và cừu lần lượt là 26%, 6,6% và 5,2%
Menkir M Sissay và cs (2007) [41] đã mổ khám 655 con cừu và 632 con dê tại các lò mổ ở miền Đông Etiopia trong thời gian từ tháng 5 năm 2003 đến tháng 4 năm 2005 Kết quả cho thấy, cừu và dê ở khu vực này đều bị
nhiễm 2 loài sán lá F gigantica và F hepatica Trong đó, tỷ lệ nhiễm F hepatica của cừu là 26%, của dê là 3%; tỷ lệ nhiễm F gigantica của cừu là
20% và của dê là 10%
Jill Pleasance và cs (2011) [40] đã bố trí thí nghiệm so sánh tỷ lệ nhiễm
sán lá F gigantica và F hepatica của cừu tại Indonexia Kết quả cho thấy, trong
tất cả các thí nghiệm, tỷ lệ nhiễm sán lá F hepatica đều cao hơn và ảnh hưởng lớn tới các chỉ số sinh lý của cừu
Pierre Dorny và cs (2011) [45] đã nghiên cứu và cho biết, tỷ lệ nhiễm sán lá
Fasciola của trâu, bò tại hai tỉnh Pursat và Kompong Speu ở Campuchia là 5 - 20%
Trang 28Chương 2 ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Đối tượng và địa điểm nghiên cứu
2.1.1 Đối tượng nghiên cứu
- Sán lá gan
- Vật chủ trung gian của sán lá gan
- Các yếu tố tự nhiên, xã hội ảnh hưởng đến sự lưu tồn và phát triển của sán lá gan
2.1.2 Địa điểm nghiên cứu
- Địa điểm thu thập mẫu: Tại 03 huyện, thành phố của tỉnh Lạng Sơn (Thành phố Lạng Sơn, huyện Cao Lộc, huyện Bình Gia)
- Địa điểm xét nghiệm mẫu: Phò ng thí nghiê ̣m Khoa Chăn nuôi Thú y
- Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên, Phò ng thí nghiê ̣m Chi cu ̣c Thú y
Lạng Sơn
2.1.3 Thời gian nghiên cứu: Từ tháng 8 /2015 đến tháng 8 /2016
2.2 Vật liệu nghiên cứu
2.2.1 Mẫu vật nghiên cứu
- Trâu, bò các lứa tuổi (tìm sán lá gan trưởng thành)
- Mẫu phân trâu, bò (xác định tỷ lệ và cường độ nhiễm sán lá gan)
- Mẫu ốc nước ngọt sống ở các ao gần khu vực chuồng trâu, bò, ở trên bãi chăn trâu, bò (ao, kênh, mương)
Trang 292.3 Nội dung nghiên cứu
2.3.1 Điều tra về điều kiện tự nhiên, xã hội và tình hình phát triển chăn nuôi trâu, bò ở tỉnh Lạng Sơn trong 5 năm gần đây
2.3.1.1 Điều kiện tự nhiên
2.3.1.2 Tình hình phát triển chăn nuôi trâu, bò ở tỉnh Lạng Sơn
2.3.2 Điều tra các yếu tố ảnh hưởng đến sự lưu tồn và phát triển của sán lá gan ở các địa điểm nghiên cứu
2.3.2.1 Các yếu tố xã hội
2.3.2.2 Các yếu tố tự nhiên
2.3.3 Nghiên cứu tình nhiễm sán lá gan ở trâu bò tại 03 huyện, thành phố của tỉnh Lạng Sơn
Tỷ lệ và cường độ nhiễm sán lá gan lớn ở trâu bò (Qua mổ khám)
2.3.4 Tỷ lệ, cường độ nhiễm sán lá gan ở trâu, bò tại 03 huyện, thành phố của tỉnh Lạng Sơn
- Tỷ lệ và cường độ nhiễm sán lá gan ở trâu, bò theo tuổi
- Tỷ lệ nhiễm sán lá gan ở trâu bò theo vùng
- Tỷ lệ và cường độ nhiễm sán lá gan theo phương thức chăn nuôi
- Tỷ lệ và cường độ nhiễm sán lá gan theo mùa vụ
2.3.5 Nghiên cứu vật chủ trung gian của sán lá gan
- Thành phần loài của 2 loài ốc giống Limnaea
- Kết quả xét nghiệm ốc Limnaea tìm ấu trùng sán lá gan
2.3.6 Nghiên cứu các biện pháp phòng trừ
- Thử nghiệm xác định hiệu lực của một số thuốc tẩy sán lá gan cho trâu, bò
- Xác định độ an toàn của thuốc tẩy sán lá gan cho trâu, bò
- Đề xuất biện pháp phòng trị sán lá gan cho trâu, bò
Trang 302.4 Phương pháp nghiên cứu
2.4.1 Điều tra về điều kiện tự nhiên, xã hội và tình hình phát triển chăn nuôi trâu, bò ở tỉnh Lạng Sơn trong 5 năm gần đây
2.4.1.1 Điều kiện tự nhiên
Sử dụng niên giám thống kê của Cục thống kê tỉnh Lạng Sơn và số liệu của Trung tâm dự báo khí tượng thủy văn
2.4.1.2 Tình hình phát triển chăn nuôi trâu, bò của tỉnh Lạng Sơn từ năm 2011-2015
Sử dụng các niên giám thống kê của tỉnh trong 5 năm gần đây của Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Cục Thống kê tỉnh
2.4.2 Điều tra các yếu tố ảnh hưởng đến sự lưu tồn và phát triển của sán lá gan ở các địa điểm nghiên cứu
2.4.2.1 Các yếu tố xã hội
Phương thức chăn nuôi, trồng trọt, tập quán, vệ sinh thú ý, vệ sinh chăn nuôi Chúng tôi tiến hành điều tra phỏng vấn theo bộ câu hỏi tới từng
hộ chăn nuôi trâu, bò tại các địa điểm nghiên cứu
Xây dựng mẫu phiếu điều tra:
+ Phương thức chăn nuôi trâu, bò tại các địa điểm nghiên cứu
+ Tình hình sử dụng bãi chăn thả trâu, bò ở các địa điểm nghiên cứu + Hiện trạng vệ sinh chăn nuôi thú y đối với trâu, bò tại các địa điểm nghiên cứu
+ Hiện trạng xử lý và sử dụng phân trâu, bò
+ Tẩy sán lá gan định kỳ
2.4.2.2 Các yếu tố tự nhiên
- Sử dụng niên giám thống kê của Cục thống kê tỉnh Lạng Sơn và số liệu của trung tâm dự báo khí tượng thủy văn
Trang 31- Yếu tố nhiệt độ, lượng mưa, địa hình, đặc điểm thủy vực ảnh hưởng
đến sự tồn tại và phát triển của ốc Limnae
- Yếu tố nhiệt độ, lượng mưa, địa hình, đặc điểm thủy vực ảnh hưởng đến sự phát triển của thực vật thủy sinh
2.4.3 Nghiên cứu tình nhiễm sán lá gan ở trâu bò tại 03 huyện, thành phố của tỉnh Lạng Sơn
2.4.3.1 Phương pháp thu thập mẫu sán lá gan trưởng thành
Phương pháp mổ khám không toàn diện: Là phương pháp mổ khám
để phát hiện sán lá gan trưởng thành ở gan, ống mật trong cơ thể trâu, bò Khi phát hiện được sán lá gan ta dùng bút lông hay panh nhẹ nhàng tách sán
lá gan rồi để chúng chết tự nhiên trong dung dịch muối sinh lý 0,9%
2.4.3.2 Phương pháp xử lý và bảo quản tạm thời mẫu sán lá gan
Mẫu sán lá trưởng thành thu được, sau khi chết được bảo quản trong cồn 700 Tất cả được ghi chép rò ràng và đầy đủ bao gồm: Loài gia súc, tuổi,
số lượng sán lá gan, địa điểm và ngày, tháng mổ khám Mẫu được đựng trong các lọ nút nhám 50 ml hoặc 100 ml Trường hợp số lượng mẫu sán lá gan nhiều (trên 20 mẫu) thì phải thay cồn liên tục 2 - 3 lần, mỗi lần cách nhau 3 - 4 ngày (để đảm bảo độ cồn bảo quản vẫn đạt 700)
2.4.3.3 Định loại loài sán lá gan gây bệnh ở trâu, bò
Để đánh giá một cách đầy đủ hơn thành phần loài của sán lá gan gây bệnh, chúng tôi tiến hành mổ khám trâu bò tại các lò mổ ở các địa điểm nghiên cứu Sau khi thu được mẫu sán chúng tôi làm tiêu bản cố định, đo, vẽ dưới kính hiển vi thông thường, định loại sán lá gan theo hình thái dựa vào tài liệu của Nguyễn Thị Lê, Phan Văn Lực, Hà Duy Ngọ, Nguyễn Văn Đức, Nguyễn Thị Minh (1996) [21]
Trang 322.4.4 Tình hình nhiễm sán lá gan ở trâu, bò một số huyện, thành phố thuộc tỉnh Lạng Sơn (Qua xét nghiệm phân)
2.4.4.1 Phương pháp lấy mẫu phân
Lấy ngẫu nhiên phân trâu, bò nuôi ở nông hộ và gia đình theo phương pháp lấy mẫu chùm nhiều bậc Lấy phân trực tiếp từ trực tràng trâu, bò
Để riêng mỗi mẫu phân vào một túi nilon nhỏ, mỗi túi đều có nhãn ghi: loại gia súc (trâu, bò), tuổi, địa điểm, trạng thái phân, thời gian lấy mẫu và các biểu hiện lâm sàng của trâu, bò (nếu có)
2.4.4.2 Phương pháp xét nghiệm phân
Xác định bằng phương pháp lắng cặn Benedek (1943): Cho từng mẫu phân vào cốc thủy tinh, thêm 5 - 10 lần nước, khuấy tan, lọc qua lưới lọc bỏ cặn bã thô Nước lọc được để yên 15 - 20 phút cho lắng xuống, gạn nước trên
đi, lại cho nước vào, rửa đi rửa lại nhiều lần cho đến khi nước trong suốt, cho cặn vào phiến kính, soi kính hiển vi để tìm trứng sán lá gan Những mẫu phân
tìm thấy trứng sán lá gan được xác định là có nhiễm, ngược lại là không nhiễm
2.4.4.3 Phương pháp xác định cường độ nhiễm
Theo Nguyễn Thị Kim Lan (1999) [14] cường độ nhiễm (hay mức độ nhiễm) sán lá gan qua xét nghiệm phân được xác định bằng phương pháp đếm trứng sán lá gan trên một vi trường kính hiển vi, quy định như sau:
1 - 3 trứng/ vi trường là nhiễm nhẹ (ký hiệu +)
4 - 6 trứng/ vi trường là nhiễm trung bình (ký hiệu + +)
7 - 9 trứng/ vi trường là nhiễm nặng (ký hiệu + + +)
Trên 9 trứng/ vi trường là nhiễm rất nặng (ký hiệu + + + +)
Cường độ nhiễm sán lá gan qua mổ khám được xác định bằng cách đếm
số lượng sán lá gan ký sinh ở mỗi trâu bò trong quá trình mổ khám và định loại
Trang 33+ Tình hình nhiễm sán lá gan theo mùa vụ:
Mùa vụ trong năm được theo dõi gồm:
Vụ Đông - Xuân: từ tháng 10 - tháng 3 năm sau
Vụ Hè - Thu: từ tháng 4 - tháng 9
+ Tình hình nhiễm sán lá gan theo vùng sinh thái:
Nghiên cứu tình hình nhiễm sán lá gan ở trâu bò qua xét nghiệm phân Nội dung nghiên cứu tại huyện Bình Gia, huyện Cao Lộc, thành phố Lạng Sơn thuộc 2 vùng sinh thái:
Vùng I: Là vùng có bãi chăn thả hẹp, không có hoặc rất ít ao, ruộng, mương ngòi, suối nhỏ Thành phố Lạng Sơn thuộc vùng sinh thái này
Vùng II: Có nhiều ruộng nước, ao, mương, ngòi và khe, suối nhỏ Huyện Bình Gia và Cao Lộc thuộc vùng sinh thái này
2.4.5 Nghiên cứu tình hình nhiễm ấu trùng sán lá gan ở ốc Limnaea
2.4.5.1 Phương pháp lấy mẫu
Bắt ốc bằng tay ở ruộng lúa, các khe nước nhỏ, vũng nước nhỏ ở vùng hay chăn thả trâu, bò Ốc thu được để trong túi nilon, có nhãn ghi địa điểm và thời gian thu thập mẫu rồi chuyển về Phòng thí nghiệm để xét nghiệm
2.4.5.2 Phương pháp định loại ốc
Phân loại ốc theo phương pháp phân loại hình thái của Đặng Ngọc Thanh, Thái Trần Bái, Phạm Văn Miên (1980) [27]
2.4.5.3 Phương pháp ép ốc xét nghiệm mẫu
Sử dụng hai lam kính sạch có kích thước 10 x 3,5cm Đặt ốc vào giữa
2 lam kính, dùng tay ép nhẹ đến khi vỏ ốc vỡ và ốc nát ra Cuối cùng đưa lam kính kiểm tra dưới kính hiển vi để phát hiện các dạng ấu trùng
Trang 34Sau đó so sánh hình thái, kích thước các ấu trùng thu được định loại chúng theo tài liệu của Phạm Ngọc Doanh và Nguyễn Thị Lê (2005) [4] để phát hiện ấu trùng sán lá gan lớn
2.4.6 Biện pháp phòng và trị Sán lá gan cho trâu, bò
Sau khi xét nghiệm phân, phát hiện được những trâu, bò bị nhiễm sán
lá gan lớn, chúng tôi sử dụng thuốc Dertil B, Fasciolide, để tẩy sán cho trâu,
bò Xác định khối lượng để tính liều thuốc dùng cho trâu, bò
* Phương pháp xác định trọng lượng trâu, bò
Chúng tôi tiến hành xác định trọng lượng trâu, bò áp dụng theo công thức tính trọng lượng của Nguyễn Văn Thiện (Viện Chăn nuôi, 1974)
- Đối với trâu: P = 88,4 x VN² x DTC
Công thức cho phép sai số 5%
Để đánh giá độ an toàn và hiệu lực của thuốc tẩy chúng tôi tiến hành như sau:
* Trước khi tẩy:
Chúng tôi tiến hành để xác định tỷ lệ và cường độ nhiễm sán lá gan
Fasciola spp của trâu, bò Chọn 10 con trâu và 10 con bò nhiễm sán lá gan Fasciola spp
Kiểm tra các chỉ tiêu sinh lý: nhịp tim, nhịp thở, thân nhiệt, trạng thái phân, chỉ tiến hành thử nghiệm với những trâu, bò có chỉ tiêu sinh lý bình thường
Trang 35* Sau khi tẩy:
- Sau khi tẩy 6 giờ tiến hành kiểm tra các chỉ tiêu sinh lý: nhịp tim, nhịp thở, thân nhiệt và trạng thái phân
- Sau 24 giờ, tiến hành kiểm tra tìm xác sán thải theo phân
- Sau khi tẩy 15 ngày, bằng phương pháp xét nghiệm lại phân trâu, bò tìm trứng sán để đánh giá hiệu lực của thuốc tẩy
* Để đánh giá độ an toàn của thuốc, chúng tôi xác định một số chỉ tiêu sinh lý trước và sau khi dùng thuốc 1 giờ (Theo Cao Văn và cs, 2003 [34])
2.4.7 Phương pháp xử lý số liệu
Số liệu thu được được xử lý bằng phương pháp thống kê sinh học (theo tài liệu của Nguyễn Văn Thiện (2008) [29] Và trên phần mềm Excel 2010
Trang 36Chương 3 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 3.1 Điều tra về điều kiện tự nhiên, xã hội và tình hình phát triển chăn nuôi trâu, bò ở tỉnh Lạng Sơn
3.1.1 Điều kiện tự nhiên
3.1.1.1 Vị trí địa lý
Lạng sơn là tỉnh miền núi thuộc vùng Đông Bắc Việt Nam, có đường quốc lộ 1A, 1B, 4A, 4B và đường 279 đi qua, là điểm nút của sự giao lưu kinh tế với các tỉnh phía Tây như: Cao Bằng, Thái Nguyên, Bắc Cạn, phía Đông như tỉnh Quảng Ninh, phía Nam như Bắc giang, Bắc Ninh, Thủ đô
Hà nội và phía Bắc tiếp giáp với Trung Quốc với hai cửa khẩu quốc gia và
7 cặp chợ biên giới Mặt khác có đường sắt liên vận quốc tế, là điều kiện rất thuận lợi cho việc giao lưu kinh tế, khoa học - công nghệ với các tỉnh phía Nam trong cả nước, với Trung Quốc và qua đó sang các vùng châu Á, châu Âu và các nước khác
3.1.1.2 Đặc điểm địa hình
Địa hình ở Lạng Sơn chủ yếu là đồi, núi thấp, độ cao trung bình là 252m so với mực nước biển, nơi thấp nhất là 20m, cao nhất là đỉnh Phia Mè thuộc núi Mẫu Sơn 1.541m Địa hình được chia thành 3 tiều vùng, vùng núi phía Bắc (gồm các núi đất xen núi đã chia cắt phức tạp tạo niên miền mái núi
có độ dốc trên 35 độ) vùng núi đá vôi (thuộc cánh cung Bắc Sơn - Văn Quan - Chi Lăng - Hữu Lũng, có nhiều hang động, sườn dốc đứng và có nhiều đỉnh cao trên 550m) vùng đồi núi thấp phía Nam và Đông Nam bao gồm hệ thống đồi núi thấp xen kẽ các dạng đồi bát úp, độ dốc trung bình 10 - 250,
3.1.1.3 Khí hậu
Miền nhiệt không quá cao là nét đặc trung của khí hậu Lạng sơn Mùa Đông tương đối dài và khá lạnh, lượng mưa trung bình hàng năm là 1.400-
Trang 371.500mm, với số ngày mưa là 135 ngày trong năm Nền địa hình cao trung bình là 251m Do vậy, tuy nằm ở khu vực nhiệt đới gió mùa nhưng khí hậu ở Lạng Sơn có nét đặc thù của khí hậu á nhiệt đới Độ ẩm cao trên (82%) và phân bố tương đối đều trong năm Sự phân bố khí hậu này đã cho phép Lạng Sơn có thể phát triển đa dạng, phong phú các loại cây trồng ôn đới, á nhiệt đới
và nhiệt đới Đặc biệt là các loại cây trồng dài ngày như hồi, trám, quýt, hồng, đào, lê, thông, cà phê, chè, và các cây lấy gỗ
Bảng 3.1 Phân chia các huyện, thành phố của tỉnh Lạng Sơn
theo vùng sinh thái chăn nuôi
Kết quả bảng 3.1 cho thấy:
Vùng I: Là vùng có trung bình hay ít ruộng nước, thủy vực nhỏ, bãi cỏ rộng; có ít hoặc rất ít ao, ruộng, mương ngòi, suối nhỏ Thành phố Lạng Sơn thuộc vùng này
Vùng II: Có nhiều ruộng nước, thủy vực nhỏ, ao, mương, ngòi và khe, suối nhỏ Các huyện: Cao Lộc, Bình Gia thuộc vùng này
Vì thời gian thực hiện đề tài có hạn nên chúng tôi chỉ chọn 3 địa điểm nghiên cứu đại diện cho tỉnh Lạng Sơn: đại diện cho vùng I là thành phố Lạng Sơn, đại diện cho vùng II là huyện Cao Lộc và huyện Bình Gia
3.1.2 Tình hình phát triển chăn nuôi trâu, bò của tỉnh Lạng Sơn
Lạng Sơn là một tỉnh miền núi có diện tích rộng và có điều kiện tự nhiên thuận lợi cho sự phát triển ngành chăn nuôi nói chung và chăn nuôi trâu, bò nói riêng