ĐẶT VẤN ĐỀ Sự biến đổi khí hậu cũng như tình trạng ô nhiễm môi trường ngày một gia tăng là nguyên nhân cơ bản khiến bệnh viêm mũi dị ứng ngày càng phát triển, đặc biệt ở những nước đang phát triển, công nghiệp hóa như Việt Nam. Đây là bệnh được khá nhiều người quan tâm và được coi như là chứng bệnh gây tốn kém cho xã hội về thời gian điều trị, tiền bạc cũng như ảnh hưởng tới sức lao động, chất lượng cuộc sống của con người. Pseudoephedrin là một chất có tác dụng co mạch làm giảm sung huyết hữu hiệu, loratadin là một thuốc kháng histamin thế hệ hai có tác dụng làm giảm bớt triệu chứng của viêm mũi dị ứng do giải phóng histamin [2], [9]. Việc kết hợp 2 dược chất này trong một dạng bào chế sẽ tạo nên chế phẩm thuốc tác dụng chữa viêm mũi dị ứng hiệu quả [43], [69], [70], [132]. Tuy nhiên, loratadin là một chất rất ít tan trong nước, có thời gian bán thải dài (khoảng 17-19 giờ) trong khi pseudoephedrin thường dùng dạng muối sulfat hoặc hydroclorid, dễ tan trong nước, có thời gian bán thải ngắn (khoảng 5-8 giờ) [2], [78], nếu bào chế kết hợp pseudoephedrin và loratadin trong cùng một chế phẩm giải phóng có kiểm soát phải giải quyết được sự khác biệt về độ tan và thời gian bán thải giữa hai dược chất. Hơn thế, viêc bao chê dang thuôc giai phong có kiểm soát ưng dung trong công nghê dươc phâm ngay cang trơ nên phô biên vi cac ưu điêm cua no như: cai thiên kha năng tuân thu cua ngươi bênh, giam tông liêu điêu tri, giam thiêu tac dung không mong muốn cua thuôc, nâng cao được hiêu qua điêu tri. Vì vậy, việc nghiên cứu bào chế dạng thuốc giải phóng dược chất có kiểm soát chứa hai dược chất pseudoephedrin và loratadin có khả năng ứng dụng vào thực tiễn sản xuất là vấn đề cần thiết, có ý nghĩa quan trọng góp phần tạo ra một chế phẩm thuốc mới nhằm phát triển công nghiệp bào chế dược phẩm trong nước. Xuất phát từ thực tế trên, chúng tôi tiến hành thực hiện đề tài “Nghiên cứu bào chế viên giải phóng có kiểm soát Pseudoephedrin - Loratadin” với các mục tiêu sau: 1. Bào chế được viên giải phóng có kiểm soát Pseudoephedrin 120 mg - Loratadin 5 mg có mô hình giải phóng dược chất tương đương với viên đối chiếu Clarinase Repetabs (Schering Plough). 2. Bước đầu đánh giá được sinh khả dụng của viên bào chế được trên chó thí nghiệm.
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ Y TẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC DƯỢC HÀ NỘI
ĐINH THỊ HẢI BÌNH
NGHIÊN CỨU BÀO CHẾ VIÊN GIẢI PHÓNG CÓ KIỂM SOÁT PSEUDOEPHEDRIN - LORATADIN
LUẬN ÁN TIẾN SĨ DƯỢC HỌC
HÀ NỘI, NĂM 2017
Trang 2MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN
LỜI CẢM ƠN
MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC KÍ HIỆU, CHỮ VIẾT TẮT
DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ, ĐỒ THỊ
DANH MỤC CÁC BẢNG, BIỂU
ĐẶT VẤN ĐỀ 1
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN 3
1.1 TỔNG QUAN VỀ PSEUDOEPHEDRIN VÀ LORATADIN 3
1.1.1 Pseudoephedrin 3
1.1.2 Loratadin 5
1.2 MỘT SỐ NÉT VỀ BÀO CHẾ PSEUDOEPHEDRIN DƯỚI DẠNG GIẢI PHÓNG KÉO DÀI 7
1.2.1 Hệ màng bao khuếch tán dược chất có kiểm soát 7
1.2.2 Một số kết quả nghiên cứu bào chế pseudoephedrin giải phóng kéo dài 13
1.3 TỔNG QUAN VỀ BÀO CHẾ KẾT HỢP PSEUDOEPHEDRIN VÀ LORATADIN GIẢI PHÓNG CÓ KIỂM SOÁT 21
1.3.1 Một số chế phẩm kết hợp hai dược chất pseudoephedrin và loratadin lưu hành trên thị trường 21
1.3.2 Một số kết quả nghiên cứu bào chế kết hợp pseudoephedrin và loratadin giải phóng có kiểm soát 22
1.3.3 Định lượng đồng thời pseudoephedrin và loratadin trong chế phẩm bào chế 26 1.4 NGHIÊN CỨU SINH KHẢ DỤNG VIÊN PHỐI HỢP HAI DƯỢC CHẤT PSEUDOEPHEDRIN VÀ LORATADIN 29
1.4.1 Định lượng pseudoephedrin và loratadin trong dịch sinh học 29
1.4.2 Một số kết quả nghiên cứu sinh khả dụng đường uống của pseudoephedrin và loratadin 31
CHƯƠNG 2 NGUYÊN LIỆU, TRANG THIẾT BỊ VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 35
2.1 NGUYÊN LIỆU, TRANG THIẾT BỊ VÀ ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU 35
2.1.1 Nguyên liệu 35
Trang 32.1.2 Trang thiết bị 37
2.1.3 Đối tượng nghiên cứu 38
2.2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 39
2.2.1 Phương pháp bào chế 39
2.2.2 Phương pháp đánh giá các đặc tính hóa lý 42
2.2.3 Phương pháp đánh giá độ ổn định 49
2.2.4 Phương pháp đánh giá sinh khả dụng in vivo 50
2.2.5 Công cụ tính toán số liệu, thiết kế thí nghiệm và tối ưu hóa 53
CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 54
3.1 KẾT QUẢ KHẢO SÁT XÂY DỰNG PHƯƠNG PHÁP ĐỊNH LƯỢNG DƯỢC CHẤT TRONG CHẾ PHẨM BÀO CHẾ 54
3.1.1 Kết quả khảo sát xây dựng phương pháp định lượng đồng thời pseudoephedrin và loratadin bằng quang phổ đạo hàm bậc nhất 54
3.1.2 Kết quả khảo sát xây dựng phương pháp định lượng đồng thời pseudoephedrin và loratadin bằng HPLC 56
3.2 KẾT QUẢ KHẢO SÁT QUÁ TRÌNH GIẢI PHÓNG DƯỢC CHẤT CỦA VIÊN ĐỐI CHIẾU 61
3.2.1 Khảo sát viên đối chiếu Clarinase và xây dựng mô hình bào chế cho viên nghiên cứu 61
3.2.2 Khảo sát quá trình giải phóng dược chất của phần lõi viên đối chiếu và xây dựng tiêu chuẩn hòa tan dự kiến cho viên pseudoephedrin 60 mg giải phóng kéo dài 62
3.3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU BÀO CHẾ VIÊN GIẢI PHÓNG CÓ KIỂM SOÁT PSEUDOEPHEDRIN - LORATADIN 64
3.3.1 Nghiên cứu bào chế viên pseudoephedrin 60 mg giải phóng kéo dài 64
3.3.2 Nghiên cứu bào chế viên giải phóng có kiểm soát Pseudoephedrin 120 mg – Loratadin 5 mg 82
3.3.3 Công thức và qui trình bào chế viên giải phóng có kiểm soát Pseudoephedrin 120 mg - Loratadin 5 mg 89
3.3.4 Xây dựng qui trình bào chế ở qui mô 4000 viên và đề xuất tiêu chuẩn chất lượng viên giải phóng có kiểm soát Pseudoephedrin 120 mg - Loratadin 5 mg 91
3.3.5 Đánh giá độ ổn định viên giải phóng có kiểm soát Pseudoephedrin 120 mg – Loratadin 5 mg 102
Trang 43.4 NGHIÊN CỨU ĐÁNH GIÁ SINH KHẢ DỤNG 105
3.4.1 Đánh giá sinh khả dụng in vitro 105
3.4.2 Nghiên cứu đánh giá sinh khả dụng in vivo 107
CHƯƠNG 4 BÀN LUẬN 126
4.1 VỀ LỰA CHỌN MÔ HÌNH BÀO CHẾ VIÊN GIẢI PHÓNG CÓ KIỂM SOÁT PSEUDOEPHEDRIN - LORATADIN 126
4.2 VỀ NGHIÊN CỨU BÀO CHẾ VIÊN PSEUDOEPHEDRIN 60 mg GIẢI PHÓNG KÉO DÀI 127
4.2.1 Về phương pháp bào chế viên giải phóng dược chất kéo dài theo cơ chế màng bao 127
4.2.2 Về công thức bao viên pseudoephedrin 60 mg giải phóng kéo dài 129
4.2.3 Về thiết kế thí nghiệm và tối ưu hóa công thức 131
4.3 VỀ NGHIÊN CỨU BÀO CHẾ LỚP MÀNG GIẢI PHÓNG NGAY CHỨA HAI DƯỢC CHẤT PSEUDOEPHEDRIN VÀ LORATADIN 132
4.3.1 Về phương pháp và công thức bào chế lớp giải phóng ngay chứa hai dược chất 132
4.3.2 Về biện pháp đảm bảo độ hòa tan cho loratadin 134
4.4 VỀ XÂY DỰNG PHƯƠNG PHÁP KIỂM NGHIỆM, TIÊU CHUẨN CHẤT LƯỢNG VÀ ĐÁNH GIÁ ĐỘ ỔN ĐỊNH 135
4.4.1 Về xây dựng phương pháp định lượng đồng thời pseudoephedrin và loratadin trong chế phẩm bào chế 135
4.4.2 Về xây dựng tiêu chuẩn chất lượng 139
4.5 VỀ NGHIÊN CỨU ĐÁNH GIÁ SINH KHẢ DỤNG 141
4.5.1 Về đánh giá sinh khả dụng in vitro 141
4.5.2 Về nghiên cứu đánh giá sinh khả dụng in vivo 141
4.6 NHỮNG ĐÓNG GÓP MỚI CỦA LUẬN ÁN 147
KẾT LUẬN VÀ ĐỀ XUẤT 149 DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH ĐÃ CÔNG BỐ
TÀI LIỆU THAM KHẢO
TIẾNG VIỆT
TIẾNG ANH
Trang 5DANH MỤC CÁC KÍ HIỆU, CHỮ VIẾT TẮT
ACN Acetonitril
AHP Amoni dihydrophosphat
ANN Mạng thần kinh nhân tạo (Artificial Neuron Networks)
AUC Diện tích dưới đường cong (Area under the curve)
CHD Chất hóa dẻo
CMC Carboxymethyl cellulose
Cmax Nồng độ thuốc tối đa
CPOP Bơm thẩm thấu tự tạo lỗ xốp (Controlled porosity osmotics pumps)
CV Hệ số biến thiên (Coefficient of variation)
EOP Bơm thẩm thấu quy ước (Elementary osmotic pumps)
GPCKS Giải phóng có kiểm soát
GPKD Giải phóng kéo dài
GPN Giải phóng ngay
HESI Chế độ ion hóa tiêu chuẩn: ion hóa gia nhiệt bằng tia lửa
điện (Heated electrospray ionization)
HLB Cân bằng dầu- nước (Hydrophilic - lipophilic balance )
HMH Cốt lõi thân dầu được bao ngoài bằng hai lớp thân nước (Hydrophilic
Matrix Hydrophilic)
HML Cốt lõi thân dầu được bao ngoài bằng một lớp thân dầu và một lớp
thân nước (Hydrophilic Matrix Lipophilic)
Trang 6HPLC Sắc ký lỏng hiệu năng cao (High performance liquid chomatography)
HPMC Hydroxy propyl methyl cellulose
HQC Mẫu kiểm chứng khoảng nồng độ cao (High quality control )
IRMT Viên nén mini giải phóng ngay (Immediate release minitablets)
IS Chất chuẩn nội (Internal Standard)
LC-MS Sắc ký lỏng ghép nối khối phổ (Liquid chomatography - mass
spectrometry)
LC-MS/MS Sắc ký lỏng khối phổ hai lần
LLOQ Giới hạn định lượng dưới (Lower Limit of Quantification)
LML Cốt lõi thân dầu được bao ngoài bằng hai lớp thân dầu (Lipophilic
Matrix Lipophilic)
LOR Loratadin
LQC Mẫu kiểm chứng khoảng nồng độ thấp (Low quality control)
lb Cân Anh (Pound)
m/z Khối lượng/điện tích
MCC Cellulose vi tinh thể (Microcrystalline cellulose)
MeOH Methanol
MOS Hệ thẩm thấu đồng nhất (Monolithic osmotic system)
MQC Mẫu kiểm chứng khoảng nồng độ trung bình (Medium quality
control)
MS Khối phổ (Mass spectrometry)
NTN Người tình nguyện
o/w Dầu/Nước (Oil/warter)
PEG Polyethylen glycol
Trang 7PVP Polyvinyl pyrolidon
QC Mẫu kiểm tra (Quality Control Sample)
RSD Độ lệch chuẩn tương đối (Relative Standard Deviation)
SCOP Bơm thẩm thấu đơn thành phần (Single–composition osmotic pumps)
SD Độ lệch chuẩn (Standard deviation)
SKD Sinh khả dụng
SKĐ Sắc ký đồ
SOTS Bơm thẩm thấu kép kiểu sandwich (Sandwiched osmotic tablets)
SRMT Viên nén mini giải phóng kéo dài (Sustained release mini-tablets)
STT Số thứ tự
TB Trung bình
TĐSH Tương đương sinh học
TEC Triethyl citrat
Tmax Thời gian đạt nồng độ thuốc tối đa
tR Thời gian lưu
v/v Thể tích/thể tích
Trang 8DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ, ĐỒ THỊ
Hình 1.1 Mô hình hệ màng bao khuếch tán “bình chứa” 8
Hình 3.1 Phổ hấp thụ của (a) dung dịch LOR (18 µg/ml); (b) dung dịch PSE
Hình 3.5 Đồ thị giải phóng PSE theo thời gian của các mẫu viên bao theo các công
thức dịch bao zein khảo sát 68
Hình 3.6 Đồ thị giải phóng dược chất theo thời gian từ viên bao GPKD theo công
Hình 3.15 Sơ đồ các giai đoạn của quy trình bào chế viên giải phóng có kiểm soát
PSE 120 mg - LOR 5 mg 90
Trang 9Hình 3.16 Đồ thị thể hiện mối quan hệ giữa tốc độ phun dịch và hiệu suất bao 95
Hình 3.17 Đồ thị giải phóng dược chất của viên thử (T) và viên đối chiếu (R) ở pH
1,2; pH 4,5 ; pH 6,8 107
Hình 3.18 Đồ thị biểu diễn mối tương quan nồng độ PSE trong huyết tương (ng/ml)
với tỉ lệ diện tích PSE/IS 111
Hình 3.19 Đồ thị biểu diễn mối tương quan nồng độ LOR trong huyết tương
(ng/ml) với tỉ lệ diện tích LOR/IS 112
Hình 3.20 Đường cong nồng độ PSE của 12 chó theo thời gian (TB SD) 120
Hình 3.21 Đường cong nồng độ LOR của 12 chó theo thời gian (TB SD) 120
Trang 10DANH MỤC CÁC BẢNG, BIỂU
Bảng 1.7 Thông số dược động học của LOR và PES trung bình của 20 người tình
nguyện châu Á sau khi uống viên Claritin D 12 giờ 33
Bảng 2.1 Các nguyên liệu sử dụng trong nghiên cứu 35
Bảng 2.2 Các thiết bị sử dụng trong nghiên cứu 37
Bảng 2.3 Yêu cầu về độ hòa tan của viên GPCKS PSE 120 mg - LOR 5 mg [63] 48 Bảng 2.4 Điều kiện, thời gian bảo quản và chu kỳ lấy mẫu kiểm tra 50
Bảng 2.5 Bố trí thí nghiệm cho động vật uống thuốc 50
Bảng 3.1 Khảo sát khoảng tuyến tính của phổ đạo hàm bậc nhất của dung dịch PSE hydroclorid và LOR 55
Bảng 3.2 Chương trình tốc độ dòng 57
Bảng 3.3 Kết quả khảo sát độ tuyến tính của PSE và LOR (n=9) 58
Bảng 3.4 Kết quả thẩm định độ chính xác của phương pháp (n=6) 59
Bảng 3.5 Kết quả thẩm định độ đúng của PSE và LOR (n=9) 59
Bảng 3.6 Kết quả khảo sát tính tương thích của hệ thống sắc ký (n=6) 60
Bảng 3.7 % Dược chất giải phóng từ viên đối chiếu theo thời gian ở các môi trường hòa tan (n=3) 61
Bảng 3.8 % PSE giải phóng từ phần lõi viên Clarinase theo thời gian (n=6) 63
Bảng 3.9 Tiêu chuẩn hòa tan dự kiến cho viên PSE 60 mg GPKD 63
Bảng 3.10 Một số đặc tính của viên nhân PSE 60 mg (n = 3) 65
Bảng 3.11 Một số đặc tính của hạt trước khi dập viên (n = 3) 66
Bảng 3.12 Đặc tính của viên nhân PSE 60 mg ở qui mô 2000 viên (n =3) 66
Bảng 3.13 Một số công thức dịch bao khảo sát thành phần màng bao 67
Bảng 3.14 Tỷ lệ màng bao và tỷ lệ zein của các viên bao tương ứng theo các công thức dịch bao 67
Bảng 3.15 % PSE giải phóng của viên bao GPKD theo công thức dịch bao CT5 (n=6) 69
Bảng 3.16 Các công thức dịch bao khảo sát tỷ lệ zein và chất hóa dẻo 70
Trang 11Bảng 3.17 % PSE giải phóng theo thời gian của các viên F2a, F2b, F2c (n=3) 71
Bảng 3.18 Bảng kết quả khảo sát tỷ lệ chất hóa dẻo 72
Bảng 3.19 Kí hiệu và các mức của biến độc lập định lượng 73
Bảng 3.20 Các biến phụ thuộc và yêu cầu 73
Bảng 3.21 Các công thức thí nghiệm 74
Bảng 3.22 Kết quả thử hòa tan của các công thức thiết kế (TB ± SD, n = 3) 75
Bảng 3.24 Dự đoán % PSE giải phóng theo thời gian của viên PSE 60 mg GPKD bao theo công thức màng bao tối ưu 79
Bảng 3.25 Quá trình giải phóng PSE từ viên F3 (TB ± SD, n = 3) 80
Bảng 3.26 Giá trị AIC tính theo các mô hình động học giải phóng PSE của viên PSE 60 mg GPKD và phần lõi viên đối chiếu Clarinase 81
Bảng 3.27 Tiêu chuẩn đề xuất cho viên PSE 60 mg GPKD 82
Bảng 3.29 Đặc tính màng bao sử dụng các tỷ lệ HPMC E6 khác nhau 84
Bảng 3.31 Đặc tính viên bao sử dụng tỷ lệ PEG 4000 khác nhau 85
Bảng 3.34 Độ đồng đều hàm lượng PSE của khối bột (n=3) 92
Bảng 3.35 Đặc tính của hạt trước khi dập viên (n = 3) 93
Bảng 3.36 Đặc tính của viên tại các thời điểm dập viên (n = 3) 93
Bảng 3.37 Đặc tính của viên nhân PSE 60 mg ở qui mô 4000 viên (n =3) 94
Bảng 3.38 Kết quả hiệu suất bao khi thay đổi tốc độ phun dịch 94
Bảng 3.39 Kết quả hiệu suất bao khi thay đổi tốc độ quay nồi bao 95
Bảng 3.40 Kết quả hiệu suất bao khi thay đổi nhiệt độ khí thổi vào 96
Bảng 3.41 Kết quả hiệu suất LOR bao khi thay đổi lưu lượng khí thổi vào 96
Bảng 3.42 Đặc tính viên PSE 60 mg GPKD qui mô 4000 viên/lô (n = 3) 97
Bảng 3.43 Ảnh hưởng của một số thông số thiết bị bao đến hàm lượng dược chất ở lớp giải phóng ngay (% dược chất theo lý thuyết ± SD) 98
Bảng 3.44 Kết quả định lượng PSE và LOR trong viên Clatadin B (n= 3) 99
Bảng 3.45 Kết quả thử độ hòa tan của chế phẩm Clatadin B (n = 6) 100
Bảng 3.46 Đề xuất tiêu chuẩn chất lượng của chế phẩm Clatadin B 101
Bảng 3.47 Tuổi thọ dự đoán theo hàm lượng dược chất của viên Clatadin B 103
Bảng 3.48 Tuổi thọ dự đoán theo độ hòa tan của viên Clatadin B 104
Trang 12Bảng 3.50 Kết quả đánh giá hệ số tương đồng f2 107
Bảng 3.51 Kết quả độ chọn lọc - đặc hiệu của phương pháp 110
Bảng 3.52 Kết quả xác định khoảng nồng độ tuyến tính 111
Bảng 3.53 Kết quả xác định giá trị LLOQ 112
Bảng 3.54 Kết quả khảo sát độ ổn định của mẫu (n = 6) 113
Bảng 3.55 Tóm tắt kết quả thẩm định phương pháp 114
Bảng 3.56 Nồng độ pseudoephedrin (ng/ml) trong huyết tương chó sau khi uống chế phẩm đối chiếu (Viên Clarinase) 116
Bảng 3.57 Nồng độ pseudoephedrin (ng/ml) trong huyết tương chó sau khi uống chế phẩm thử (Viên Clatadin B) 117
Bảng 3.58 Nồng độ loratadin (ng/ml) trong huyết tương chó sau khi uống chế phẩm đối chiếu (Viên Clarinase) 118
Bảng 3.59 Nồng độ loratadin (ng/ml) trong huyết tương chó sau khi uống chế phẩm thử (Viên Clatadin B) 119
Bảng 3.60 Thông số DĐH của PSE sau khi dùng thuốc Thử và thuốc Chứng (n=12) 121
Bảng 3.61 Thông số DĐH của LOR sau khi dùng thuốc Thử và thuốc Chứng (n=12) 122
Bảng 3.62 Các thông số DĐH của pseudoephedrin và loratadin trên chó uống viên Clatadin B và viên Clarinase 125
Bảng 3.63 Khoảng tin cậy 90% của tỉ lệ giá trị trung bình thuốc Thử so với thuốc Chứng 125
Trang 131
ĐẶT VẤN ĐỀ
Sự biến đổi khí hậu cũng như tình trạng ô nhiễm môi trường ngày một gia tăng
là nguyên nhân cơ bản khiến bệnh viêm mũi dị ứng ngày càng phát triển, đặc biệt ở những nước đang phát triển, công nghiệp hóa như Việt Nam Đây là bệnh được khá nhiều người quan tâm và được coi như là chứng bệnh gây tốn kém cho xã hội về thời gian điều trị, tiền bạc cũng như ảnh hưởng tới sức lao động, chất lượng cuộc sống của con người
Pseudoephedrin là một chất có tác dụng co mạch làm giảm sung huyết hữu hiệu, loratadin là một thuốc kháng histamin thế hệ hai có tác dụng làm giảm bớt triệu chứng của viêm mũi dị ứng do giải phóng histamin [2], [9] Việc kết hợp 2 dược chất này trong một dạng bào chế sẽ tạo nên chế phẩm thuốc tác dụng chữa viêm mũi dị ứng hiệu quả [43], [69], [70], [132]
Tuy nhiên, loratadin là một chất rất ít tan trong nước, có thời gian bán thải dài (khoảng 17-19 giờ) trong khi pseudoephedrin thường dùng dạng muối sulfat hoặc hydroclorid, dễ tan trong nước, có thời gian bán thải ngắn (khoảng 5-8 giờ) [2], [78], nếu bào chế kết hợp pseudoephedrin và loratadin trong cùng một chế phẩm giải phóng có kiểm soát phải giải quyết được sự khác biệt về độ tan và thời gian bán thải giữa hai dược chất Hơn thế, viê ̣c bào chế da ̣ng thuốc giải phóng có kiểm soát ứng du ̣ng trong công nghê ̣ dược phẩm ngày càng trở nên phổ biến vì các ưu điểm của nó như: cải thiê ̣n khả năng tuân thủ của người bê ̣nh, giảm tổng liều điều tri ̣, giảm thiểu tác du ̣ng không mong muốn của thuốc, nâng cao được hiê ̣u quả điều tri ̣
Vì vậy, việc nghiên cứu bào chế dạng thuốc giải phóng dược chất có kiểm soát chứa hai dược chất pseudoephedrin và loratadin có khả năng ứng dụng vào thực tiễn sản xuất là vấn đề cần thiết, có ý nghĩa quan trọng góp phần tạo ra một chế phẩm thuốc mới nhằm phát triển công nghiệp bào chế dược phẩm trong nước
Xuất phát từ thực tế trên, chúng tôi tiến hành thực hiện đề tài “Nghiên cứu bào chế viên giải phóng có kiểm soát Pseudoephedrin - Loratadin” với các mục tiêu sau:
1 Bào chế được viên giải phóng có kiểm soát Pseudoephedrin 120 mg - Loratadin 5 mg có mô hình giải phóng dược chất tương đương với viên đối chiếu Clarinase Repetabs (Schering Plough)
2 Bước đầu đánh giá được sinh khả dụng của viên bào chế được trên chó thí nghiệm
Trang 142
Để thực hiện được các mục tiêu trên, luận án đã được tiến hành với các nội
dung nghiên cứu sau:
- Xây dựng công thức và qui trình bào chế viên pseudoephedrin 60 mg giải phóng kéo dài 12 giờ
- Xây dựng công thức và qui trình bào chế viên giải phóng có kiểm soát Pseudoephedrin 120 mg - Loratadin 5 mg và đề xuất tiêu chuẩn chất lượng cho chế phẩm
- Đánh giá độ ổn định của viên giải phóng có kiểm soát Pseudoephedrin 120
mg - Loratadin 5 mg bào chế được
- Đánh giá sinh khả dụng của viên giải phóng có kiểm soát Pseudoephedrin
120 mg - Loratadin 5 mg bào chế được trên chó thí nghiệm
Trang 153
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN
1.1 TỔNG QUAN VỀ PSEUDOEPHEDRIN VÀ LORATADIN
1.1.1 Pseudoephedrin
- Cấu tạo phân tử: C10H15NO = 165,2
- Tên khoa học: (+) – (1S,2S) –2– (methylamino) –1– phenylpropan –1– ol
- Dạng bột hoặc tinh thể màu trắng Nhiệt độ nóng chảy: 117 - 118oC (dạng muối sulfat 174 - 179oC, dạng muối clorid 182 - 186oC)
- Góc quay cực riêng: 56,0 ± 59,00 (pseudoephedrin hydroclorid); 61,0 ± 62,50
- Hệ số phân bố dầu nước: logP (o/w) = 1,05
- Độ ổn định và bảo quản: pseudoephedrin hydrochlorid cần bảo quản ở 15 –
30oC, tránh ánh sáng Pseudoephedrin sulfat dạng viên giải phóng kéo dài nên bảo quản ở 2 – 25oC và tránh ánh sáng [3]
Trang 16do kích thích thụ thể β2 adrenergic, tuy nhiên tác dụng này ít xảy ra khi uống
PSE được dùng dưới dạng muối hydroclorid hay sulfat, dùng đơn độc hoặc phối hợp với một số thuốc khác như acetaminophen, clorpheniramin, loratadin để làm giảm bớt các triệu chứng ngạt mũi, chảy nước mũi, hắt hơi do dị ứng hay không do
dị ứng Trong lâm sàng, uống 60 mg PSE có hiệu quả làm đỡ ngạt mũi Không giống các thuốc tại chỗ chống ngạt mũi, PSE không gây hoặc ít gây hiện tượng ngạt mũi nặng trở lại khi ngừng thuốc [3], [16]
b Dược động học
- Hấp thu: PSE được hấp thu dễ dàng và gần như hoàn toàn qua đường tiêu hóa Dung dịch uống với liều 60 mg hoặc 120 mg cho nồng độ đỉnh trong huyết tương khoảng 180-300 ng/ml đạt được sau khi uống 1,39 - 2 giờ hoặc 397 - 422 ng/ml sau 1,84 - 1,97 giờ Dạng bào chế giải phóng kéo dài hấp thu chậm hơn và đạt nồng độ đỉnh trong huyết tương sau 3,8 - 6,1 giờ Thức ăn làm chậm hấp thu nếu thuốc ở dạng dung dịch nhưng không ảnh hưởng đến hấp thu ở dạng giải phóng kéo dài
- Phân bố: PSE có thể tích phân bố VD là 2 - 3 l/kg Thể tích phân bố ở trạng thái ổn định 2,4 - 2,6 l/kg (với liều 30 - 60 mg uống ở trẻ em 6 - 12 tuổi) PSE được cho là có khả năng đi qua nhau thai và có khả năng vào sữa mẹ (khoảng 0,5% liều uống sau 24 giờ)
- Thải trừ: PSE được chuyển hóa không hoàn toàn (< 1%) qua gan bởi demethyl hóa tạo thành chất không còn hoạt tính PSE và chất chuyển hóa được đào thải qua nước tiểu, 55 - 96% liều dùng được dào thải dưới dạng chưa chuyển hóa
N-pH nước tiểu có thể ảnh hưởng tới thải trừ của PSE T1/2 thay đổi từ 3 - 6 giờ hoặc 6
- 9 giờ khi pH nước tiểu là 5 hoặc 8 tương ứng [3], [16]
Trang 175
c Chỉ định, liều dùng
PSE làm giảm các triệu chứng đi kèm với viêm mũi dị ứng và chứng cảm lạnh thông thường bao gồm nghẹt mũi, ngứa, chảy nước mũi, chảy nước mắt, hắt hơi Liều dùng thông thường của PSE cho người lớn và trẻ em từ 12 tuổi trở lên là
60 mg mỗi 4 - 6 giờ với tối đa 240 mg mỗi ngày Với dạng giải phóng kéo dài dùng liều 120 mg mỗi 12 giờ hoặc 240 mg cho 24 giờ [3], [16]
1.1.1.3 Định lượng
- Pseudoephedrin nguyên liê ̣u: Định lượng pseudoephedrin hydroclorid bằng
phương pháp chuẩn độ acid – base trong môi trường khan với dung dịch acid percloric 0,1 M [28], [120]
- Pseudoephedrin trong chê ́ phẩm bào chế: Đi ̣nh lượng bằng phương pháp quang
phổ tử ngoa ̣i [11] hoă ̣c sắc ký lỏng hiê ̣u năng cao với detector thích hợp [15], [17]
1.1.2 Loratadin
- Cấu tạo phân tử: C22H23ClN2O2 = 382,9
- Tên khoa học: Ethyl 4 - (8 - chloro - 5,6 - dihydro - 11H - benzo [5,6]
cyclohepta [1,2-b] pyridin -11- yliden) piperidin -1- carboxylat
Trang 18có tác dụng an thần, ngược với tác dụng phụ an thần của các thuốc kháng histamin thế hệ thứ nhất Ðể điều trị viêm mũi dị ứng và mày đay, LOR có tác dụng nhanh hơn astemizol và có tác dụng như azatadin, cetirizin, clopheniramin, clemastin và mequitazin… LOR có tần suất tác dụng phụ, đặc biệt đối với hệ thần kinh trung ương thấp hơn những thuốc kháng histamin thuộc thế hệ thứ hai khác LOR chỉ cần dùng 1 lần/ngày, tác dụng nhanh, đặc biệt không có tác dụng an thần nên là thuốc lựa chọn đầu tiên để điều trị viêm mũi dị ứng hoặc mày đay dị ứng
b Dược động học
- Hấp thu: LOR hấp thu nhanh sau khi uống Nồng độ đỉnh trung bình trong huyết tương của LOR và chất chuyển hóa có hoạt tính descarboethoxy loratadin (DCL) tương ứng là 4 ng/ml và 4,7 ng/ml đạt lần lượt tại 1,5 và 3,7 giờ Sau khi uống LOR, tác dụng kháng histamin của thuốc xuất hiện trong vòng 1 - 4 giờ, đạt tối đa sau 8 - 12 giờ, và kéo dài hơn 24 giờ Nồng độ của LOR và DCL đạt trạng thái ổn định ở phần lớn người bệnh vào khoảng ngày thứ năm dùng thuốc Nồng độ thuốc trong huyết tương dao động từ 2,5 - 100 ng/ml (với liều đơn 10 mg)
- Phân bố: 97% - 99% loratadin và 73 - 77% chất chuyển hóa liên kết với protein huyết tương Ở liều điều trị thuốc không qua hàng rào máu não nên không phân bố vào não Thể tích phân bố của thuốc là 80 - 120 l/kg
- Chuyển hóa: LOR chuyển hóa nhiều khi qua gan lần đầu bởi hệ enzym microsom cytochrom P450; LOR chủ yếu chuyển hóa thành DCL là chất chuyển hóa có tác dụng dược lý Độ thanh thải của thuốc là 57 – 142 ml/phút/kg
- Thải trừ: Khoảng 80% tổng liều của LOR bài tiết dưới dạng chuyển hoá ra nước tiểu và phân trong vòng 10 ngày Thời gian bán thải của loratadin là 18,2 giờ (6,7 giờ - 37 giờ) và của DCL là 17,5 giờ (11 giờ - 38 giờ), biến đổi nhiều giữa các
cá thể, tăng cao hơn ở người cao tuổi và người xơ gan [3], [16]
Trang 197
1.1.2.3 Định lượng
- Loratadin nguyên liê ̣u: Định lượng bằng phương pháp chuẩn độ acid-base
trong môi trường khan với dung dịch acid percloric 0,1 M [28], [120]
- Loratadin trong chê ́ phẩm bào chế: Đi ̣nh lượng bằng phương pháp cực phổ
[112], điện di mao quản [80], hoă ̣c bằng phương pháp sắc ký lỏng hiê ̣u năng cao với detector thích hợp [28], [120]
1.2 MỘT SỐ NÉT VỀ BÀO CHẾ PSEUDOEPHEDRIN DƯỚI DẠNG GIẢI PHÓNG KÉO DÀI
Pseudoephedrin là dược chất kém tan, tuy nhiên khi dùng dưới dạng muối hydroclorid hoặc sulfat thì tan tốt trong nước nhưng thời gian bán thải cũng ngắn hơn (khoảng 5-8 giờ) nên ở các da ̣ng bào chế qui ước hiệu quả điều trị không cao, ít được dùng [78], [103] Hiện nay, pseudoephedrin đã được nghiên cứu bào chế dưới dạng thuốc tác dụng kéo dài với mục tiêu giảm số lần dùng thuốc trong ngày cho người bệnh, giảm tác dụng không mong muốn, qua đó nâng cao được hiệu quả điều trị [7], [54]
Các chế phẩm pseudoephedrin tác dụng kéo dài dùng đường uống có cấu tạo và
mô hình giải phóng dược chất theo cơ chế hệ khuếch tán, hòa tan hay áp suất thẩm thấu [99], [71] Hệ giải phóng dược chất của viên PSE GPKD theo cơ chế khuếch tán hay hòa tan có thể được bào chế dưới dạng bao [74], [77] hay tạo cốt [55], [68]
Về lý thuyết, do dễ tan trong nước nên mô hình giải phóng kéo dài thích hợp nhất với các muối pseudoephedrin là hệ màng bao khuếch tán hay còn gọi là “bình” (reservoir), trong đó dược chất từ nhân viên được khuếch tán từ từ qua màng kiểm soát kéo dài giải phóng Các kết quả nghiên cứu cũng cho thấy, bào chế dược chất PSE GPKD theo cơ chế màng bao khuếch tán khắc phục được các nhược điểm của dạng cốt và dễ đạt được sự giải phóng dược chất theo động học bậc 0 hơn dạng cốt [7], [15] Dưới đây trình bày một số đặc điểm của hệ màng bao khuếch tán (được áp
dụng trong phần thực nghiệm)
1.2.1 Hệ màng bao khuếch tán dược chất có kiểm soát
1.2.1.1 Cấu tạo và cơ chế giải phóng dược chất
Nguyên tắc cấu tạo của hệ: Dược chất có thể được phân tán hay tạo cốt với tá
dược thân nước, sau đó được bao bởi một màng polyme không tan trong dịch tiêu hóa, đóng vai trò là hàng rào khuếch tán kiểm soát tốc độ giải phóng dược chất
Trang 208
Hệ này thường được gọi là “bình chứa”, màng bao có thể không tan trong đường tiêu hóa (màng khuếch tán, màng bán thấm) hoặc bị hòa tan hay ăn mòn dần trong đường tiêu hóa Cơ chế khuếch tán là do polyme trương nở tạo các kênh dẫn nước vào hòa tan dần dược chất
Hình 1.1 Mô hình hệ màng bao khuếch tán “bình chứa”
Tốc độ giải phóng dược chất của hệ màng bao khuếch tán phụ thuộc vào tính chất màng bao, chiều dày màng bao và dạng cốt dược chất bên trong màng bao Động học bậc 0 có thể đạt được vì kích thước của lỗ mao quản có thể khống chế được Tuy nhiên thuốc giải phóng từ hệ này thường có thời gian tiềm tàng (lag time) dài do phải có thời gian để màng bao trương nở tạo mao quản, thời gian để dược chất hòa tan trước khi giải phóng
Tốc độ giải phóng của dược chất ra khỏi hệ phụ thuộc vào hệ số khuếch tán của dược chất trong màng, tức là phụ thuộc vào bản chất của dược chất và bản chất của màng Bản chất của polyme dùng để bao màng, các chất phụ gia của màng như chất làm dẻo, chất làm tăng độ thấm là những yếu tố quyết định tốc độ giải phóng dược chất ra khỏi màng Thành phần màng bao khác nhau sẽ tạo nên khả năng trương nở
và hòa tan khác nhau, do đó sẽ tạo nên mật độ và kích thước kênh khuếch tán khác nhau, làm thay đổi khả năng khuếch tán dược chất qua màng
Hệ màng bao khuếch tán có ưu điểm là dễ đạt được sự giải phóng dược chất hằng định theo động học bậc 0 để duy trì nồng độ máu trong vùng điều trị Tốc độ giải phóng dược chất có thể thay đổi tùy theo trường hợp bằng cách thay đổi thành phần và độ dày màng bao Tuy nhiên, đây là dạng thuốc đòi hỏi kỹ thuật bào chế cao, bất cứ sai sót nào dẫn đến khiếm khuyết về màng bao, làm cho màng bị thủng rách đều dẫn đến sự giải phóng nhanh dược chất, làm thay đổi thiết kế ban đầu
Trang 219
Do đó, các dược chất tác dụng mạnh, vùng điều trị hẹp, dược chất có phân tử lượng lớn, dược chất ít tan thường không được bào chế dưới dạng màng bao khuếch tán Bào chế hệ màng bao khuếch tán có thể sử dụng kỹ thuật vi nang hóa hoặc bao màng mỏng (bao phim) Nguyên liệu tạo màng là các polyme không tan trong nước như: ethyl cellulose, polyvinyl acetate, hỗn hợp Eudragit Có thể cho thêm các chất hóa dẻo (PEG, glycerin, acid stearic, dibutyl sebacate ) để màng không bị rách vỡ Khi cần điều chỉnh tốc độ khuếch tán của dược chất, có thể cho vào màng các chất tan trong nước (PVP, CMC, bột đường, natri clorid) để khi các chất này hòa tan sẽ tạo ra các kênh khuếch tán mới Một số chất diện hoạt (natri lauryl sulfat, Tween ) cũng có thể được cho vào màng để tăng khả năng thấm nước của màng [6], [7]
1.2.1.2 Thành phần màng bao
a Polyme tạo màng
Polyme là thành phần chính và có ảnh hưởng quyết định đến tính chất màng bao Có nhiều nhóm hóa chất được sử dụng làm chất tạo màng, mỗi nhóm lại gồm nhiều loại khác nhau bởi độ nhớt và khối lượng phân tử, khi lựa chọn polyme cần chú ý đến khối lượng phân tử vì nó ảnh hưởng trực tiếp đến tính chất và độ bền cơ học của màng bao [6], [7]
Hầu hết các polyme sử dụng đều có dạng vô định hình, tính chất cơ nhiệt quan trọng của các polyme này là nhiệt độ chuyển hóa thủy tinh (Tg) Tg ảnh hưởng đến nhiều tính chất cơ lý của polyme như độ dẻo, độ bám dính, độ nhớt, khả năng giải phóng dược chất và tính thấm Đánh giá ảnh hưởng của thành phần chất hóa dẻo lên nhiệt độ chuyển hóa thủy tinh (Tg) của màng bao bằng thiết bị máy phân tích nhiệt Mettler Toledo dựa trên nguyên tắc tính tương hợp của chất hóa dẻo với polyme, tính tương hợp này thường được đánh giá thông qua mức độ giảm nhiệt độ chuyển hóa thủy tinh (Tg) của màng bao [6], [7]
Dựa vào tính chất và đặc điểm của phim có thể chia ra là ba loại chính: polyme dùng để bao bảo vệ (bao màng quy ước); polyme dùng để bao tan ở ruột; polyme dùng để bao kiểm soát giải phóng dược chất
Polyme tạo màng kiểm soát giải phóng có nhiều loại, trong đó được sử dụng phổ biến hơn cả là các polyme tổng hợp (EC, Eudragit…) do có khả năng giải phóng dược chất dễ đoán trước và ổn định hơn so với các polyme tự nhiên Tuy nhiên, quá trình sản xuất và sử dụng các polyme tổng hợp tiềm ẩn nhiều nguy cơ gây ô nhiễm môi trường, ảnh hưởng đến sức khỏe con người Các polyme tự nhiên (zein, collagen, gelatin ) tuy không bền vững như các polyme tổng hợp, khá nhạy
Trang 2210
cảm với nhiệt độ, dễ tương tác với các hóa chất khác nhưng lại thân thiện với môi trường, giá rẻ, dễ chiết xuất và sử dụng Do vậy, xu hướng hiện nay quan tâm nhiều đến việc nghiên cứu điều chế và ứng dụng các loại nguyên liệu này Một số polyme thường dùng bao màng kiểm soát giải phóng dược chất như sau:
Ethyl cellulose
Ethyl cellulose (EC) là dẫn chất của cellulose được sản xuất trên phản ứng của ethyl clorid với cellulose và là một trong các polyme được dùng phổ biến để bao màng kiểm soát giải phóng dược chất EC không tan trong nước, khi bao thường dùng một số dung môi hữu cơ để hòa tan Có thể dùng riêng EC hoặc phối hợp với polyme khác như HPMC hoặc PEG để tăng sự dẻo dai cho màng bao EC còn được chế dưới dạng hỗn dịch nước để bao với tên thương mại là Aquacoat ECD (FMC Corp) và Surelease / Opadry II (Colorcon) [6], [7]
Zein
Zein là một protein được tìm thấy trong ngô, hạt kê, gạo và một số loại cây trồng khác và có nhiều ứng dụng trong công nghiệp thực phẩm, dược phẩm Do là một loại nguyên liệu có nguồn gốc tự nhiên và an toàn, vì thế zein ngày càng được nghiên cứu và sử dụng nhiều ở các nước phát triển
Về cấu tạo, zein là một protein không lysin và tryptophan, có khối lượng phân
tử khoảng 38000 [97] Về mặt cấu trúc, zein có thể được chia thành 4 loại khác nhau: α, β, γ và δ [107] Trong đó, α-zein là phổ biến nhất chiếm ~ 70%, tiếp theo là γ-zein chiếm ~ 20% của tổng số Trong số đó, α-zein có thể được chiết xuất bằng cách sử dụng dung môi cồn, các zein khác cần thêm một tác nhân khử vào trong dung môi thì mới chiết được [119] α-zein có thể được chiết xuất bằng cách sử dụng dung môi ethanol, trong khi các zein khác cần thêm một tác nhân khử trong dung môi thì mới chiết được Zein thương mại được tạo thành từ α-zein, α-zein hòa tan được trong cồn 95% hoặc isopropanol 85% [73] Trong khi đó β-zein hòa tan trong
Trang 2311
cồn 60% (Mckinnery 1958) Chỉ α-zein phù hợp cho sử dụng thương mại vì β-zein
dễ bị gel hóa (Pomes 1971)
Về tính chất vật lý, zein có thể ở dạng bột màu vàng rơm hoặc vàng nhạt, dạng
vô định hình hoặc là các mảnh nhỏ, có mùi đặc trưng và vị nhạt; Tỷ trọng: 1,23 g/cm3; Điểm nóng chảy: khi đun nóng zein khô lên 200oC không thấy sự phân hủy; Phân bố kích thước tiểu phân: 100% kích thước nhỏ hơn 840 µm; Độ hòa tan: thực
tế zein không tan trong aceton, ethanol, nước; tan trong hỗn hợp dung môi alcol và nước, aceton và nước (nồng độ 60 - 80% (tt/tt)), glycol, dung dịch kiềm trong nước
có pH 11,5 [97]
Do zein không tan trong nước và có độ tan khác nhau trong các môi trường pH khác nhau nên được ứng dụng để bao màng bao kiểm soát giải phóng dược chất cho viên nén (Oshlack và cộng sự, 1994), hoặc dùng che giấu mùi vị của các dạng thuốc dùng đường uống (Meyer và Mazer, 1997) Ngày nay zein được sử dụng rộng rãi trong các công thức màng bao phim (Park và Chinnan, 1995) Cơ chế kiểm soát giải phóng dược chất của màng bao zein có thể là do chúng hình thành các cấu trúc lỗ xốp trên bề mặt màng bao và qua đó dược chất được khuếch tán ra môi trường hòa tan [73] Một số nghiên cứu ứng dụng zein làm tá dược kiểm soát giải phóng dược chất được tóm tắt như sau:
Guo H X và cộng sự [57] trong một nghiên cứu đã thiết kế được mô hình giải phóng bậc 0 cho viên 5 - fluorouracil sử dụng zein (dưới dạng bột tinh khiết, dạng hạt và hỗn hợp) làm nguyên liệu bao khô với tỷ lệ khác nhau Cơ chế kiểm soát giải phóng của zein: zein nhanh chóng tạo thành mạng lưới dạng keo, cho phép dược chất khuếch tán từ từ qua màng Quá trình giải phóng dược chất gồm các giai đoạn: dung môi thâm nhập vào trong viên, hòa tan và khuếch tán thuốc ra bên ngoài qua 1 đỉnh ở chính giữa mặt viên Đỉnh này hoạt động như 1 hệ thống thấm lọc và giải phóng dược chất theo mô hình bậc 0
Mastromatteo M và cộng sự [79] đã bào chế viên bao thymol giải phóng kéo dài và so sánh hệ màng bao phim zein đơn và đa lớp, 35% (kl/kl) thymol và tinh bột
mì Tốc độ giải phóng thymol giảm khi tăng độ dày màng bao hoặc giảm lượng tinh bột trong cả hai hệ đơn hay đa lớp Kết quả: hệ đơn lớp và tỷ lệ tinh bột cao nhất thì giải phóng nhanh nhất, hệ đa lớp và không có tinh bột thì giải phóng chậm nhất O’Donnell P.B và cộng sự [87] đã nghiên cứu sử dụng phối hợp zein và Eudragit L30 D-55 để bao màng kiểm soát giải phóng cho dược chất paracetamol Zein dạng pseudolatex với tỷ lệ zein 6% (kl/tt) được dùng bao phim cho viên nén và
Trang 2412
pellet paracetamol Kết quả thử độ hòa tan của viên: sau 12 giờ, chỉ có 35% paracetamol giải phóng trong môi trường nước khi bao màng có tỷ lệ zein là 5% (kl/kl) so với nhân Viên nén và pellet được hòa tan trong các môi trường: dung dịch giả dạ dày, dung dịch HCl 0,1N, đệm phosphat pH 6,0, 6,8 và 7,4 Kết quả cũng cho thấy: có sự liên quan giữa pH và tính thấm của màng zein Ngoài ra, môi trường giả
dạ dày có pepsin làm thuốc giải phóng nhanh nhất do pepsin phân hủy zein Như vậy, nếu bào chế viên bao tan ở ruột cần bao thêm lớp Eudragit L30 D-55 để bảo vệ zein Phép phân tích nhiệt lượng và nhiễu xạ tia X cho thấy các paraben là chất hóa dẻo thích hợp cho màng zein
Beck M I và cộng sự [25] trong một nghiên cứu sử dụng zein làm polyme màng bao phim và so sánh với EC cho kết quả: thể tích, tính thấm nước và tính ngăn khí của màng zein tương đương màng EC với hệ số thay thế 1,1-1,4 Tg của màng zein thấp và phụ thuộc nhiều vào độ ẩm môi trường Các chất hóa dẻo tương hợp với zein cần có độ phân cực phù hợp, tạo liên kết hydro với zein Những chất hóa dẻo có kích thước phân tử lớn khó trộn lẫn với zein nên chỉ được sử dụng ở tỷ
lệ giới hạn Nếu chọn chất hóa dẻo là ester của acid tartaric và lactic thì chúng lại di trú hoặc bay hơi khỏi màng bao So với các polyme bản chất polyacrylat, màng zein kiểm soát giải phóng tốt hơn
Như vậy qua các nghiên cứu có thể thấy, zein là một polyme có nguồn gốc thiên nhiên, biểu hiện nhiều đặc tính hóa lý thuận lợi cho quá trình bao màng phim Các đặc điểm về thể tích, độ hấp thụ nước và khả năng ngăn khí tương tự như ethyl cellulose Màng bao zein còn có tính thấm kém đối với oxy và carbon dioxyd [25] Tính thấm oxy của màng zein thấp hơn so với polyethylen và polyvinyl clorid Mặt khác, zein còn thể hiện một số tính chất ưu việt hơn như nhiệt độ chuyển hóa thủy tinh của zein thấp hơn ethyl cellulose cùng điều kiện, do vậy mà màng bao zein dẻo dai hơn màng bao ethyl cellulose [73]
b Chất hóa dẻo
Chất hóa dẻo làm giảm nhiệt độ chuyển hóa thủy tinh, tăng tính mềm dẻo của màng, giảm hiện tượng nứt vỡ và cải thiện khả năng bám dính của màng vào nhân bao Chất hóa dẻo có khối lượng phân tử thấp, có khả năng làm thay đổi tính chất vật lý của polyme, nhằm cải thiện độ mềm mại và dẻo dai của màng bao
Thường phối hợp các chất hóa dẻo và polyme tương đối giống nhau về mặt hóa học Một số chất hóa dẻo hay dùng có thể là: các alcol đa chức (như glycerin, propylen glycol, PEG 200 – 6000 ); một số ester (như diethyl phthalat, dibutyl
Trang 2513
phthalat, dibutyl sebacat…); các loại dầu và glycerid (như dầu thầu dầu,
monoglycerid acetyl hóa, dầu dừa cất phân đoạn…)
Yêu cầu cơ bản của chất hóa dẻo là tính ổn định (permanence) và tính tương hợp (compatibility) Việc lựa chọn chất hóa dẻo phải căn cứ vào tính chất của polyme, tính chất của chất hóa dẻo và tỷ lệ dùng Độ nhớt của chất hóa dẻo rất quan trọng, nó ảnh hưởng đến tính thấm của màng bao, độ dính, độ tan, độ bền của màng bao Tỷ lệ chất hóa dẻo có thể thay đổi từ 1 – 50% so với khối lượng các chất rắn trong công thức bao Chất hóa dẻo cũng có thể làm thay đổi tốc độ giải phóng dược chất khi bao màng kiểm soát giải phóng [6], [7]
c Dung môi
Dung môi dùng để hòa tan hoặc phân tán các chất bao và là phương tiện vận
chuyển chúng tới bề mặt nhân bao Một dung môi lý tưởng phải thỏa mãn các yêu cầu sau: hòa tan hoặc phân tán được polyme và các thành phần khác; dịch bao tạo ra không được có độ nhớt quá lớn; không màu, không mùi vị, trơ, không độc và không
dễ cháy; tốc độ bay hơi nhanh; không gây ô nhiễm môi trường Các dung môi thường dùng như: nước, alcol (methanol, ethanol, isopropanol…), este (ethyl acetat, ethyl lactat…), ceton (aceton, methylethyl ceton…), một số dẫn xuất chloro của hydrocarbon (methylen chlorid, trichloethan…) [6], [7]
d Các chất khác trong thành phần màng bao
- Chất rắn vô cơ không tan: cải thiện màu sắc của màng bao, chống dính và tăng độ dày màng bao, giúp phân tán polyme tạo màng liên tục Các chất rắn hay được dùng là: talc, magnesi stearat, titan dioxyd, kaolin, silica…
- Các chất khác: Chất màu, chất diện hoạt, chất chống oxy hóa, làm ổn định màng bao…[6], [7]
1.2.2 Một số kết quả nghiên cứu bào chế pseudoephedrin giải phóng kéo dài
1.2.2.1 Bào chế pseudoephedrin giải phóng kéo dài dạng màng bao
a Viên nén pseudophedrin bao màng giải phóng kéo dài
Waterman KC và cộng sự [123] đã sử dụng màng bao có độ dày 100 µm bao gồm Eudragit RL, polyethylen glycol (PEG) và triethyl citrat (TEC) với tỷ lệ 5 : 3 : 1,2 bao lên viên nén hai lớp để bào chế thành công viên bao có tốc độ giải phóng thuốc tương đương với viên giải phóng kéo dài với thời gian tiềm tàng ban đầu 2 giờ Nghiên cứu đã khắc phục được nhược điểm về độ dính của màng bao viên giải phóng kéo dài và cung cấp thêm một kỹ thuật mới trong việc kết hợp dạng bào chế
Trang 2614
giải phóng ngay và giải phóng kéo dài, trong đó thành phần giải phóng ngay không cần thiết phải ở dạng dung dịch
b Pellet pseudoephedrin bao màng giải phóng kéo dài
Phương pháp này dựa trên nguyên tắc bao một hoặc nhiều lớp dược chất trên nhân trơ theo phương pháp bồi dần để tạo pellet, sau đó bao một lớp polyme kiểm soát giải phóng thuốc Nhân trơ có thể là hạt đường, hạt tinh bột hoặc hỗn hợp các
tá dược trơ có kích thước từ 0,3 – 0,7 mm Dược chất thường được bao thành 2 lớp với sự hỗ trợ của các tá dược dính như HPMC, HPC, MC, PVP Lớp trong cùng thường có thêm chất diện hoạt để đảm bảo giải phóng dược chất tối đa Pellet có dược chất có thể được bào chế bằng phương pháp khác như đùn - tạo cầu, sau đó bao màng GPKD cho pellet Màng bao kiểm soát giải phóng thường dùng các polyme như EC, Eudragit RL, RS, NE hoặc hỗn hợp các polyme Sau khi bao xong các pellet thường được ủ để ổn định tính chất màng bao Sự giải phóng thuốc được kiểm soát qua từng pellet và phụ thuộc vào tỷ lệ các tá dược được dùng, tỷ lệ dược chất so với khối lượng pellet trơ
Zi Yi Yang và cộng sự [133] nghiên cứu phương pháp bao giải phóng kéo dài pellet: PSE hydroclorid được trộn với các tá dược (MCC, octadecanol), nhào ẩm và tạo thành pellet, sau đó pellet được bao thêm lớp phụ với acid stearic trong nồi bao truyền thống rồi mới bao tầng sôi bằng dung dịch polyme Eudragit ® NE30D Lớp bao phụ không chỉ giúp tiết kiệm hơn về thời gian bao, lượng polyme và dung môi hữu cơ mà còn cải thiện đáng kể khả năng giải phóng kéo dài của viên so với khi chỉ dùng polyme Vì PSE hydroclorid rất dễ tan trong nước, mà bản thân dung dịch polyme đã chứa một lượng lớn nước, dược chất khuếch tán ra ngoài qua các lỗ trên màng polyme trong suốt quá trình bao, làm dược chất đọng lại trên màng và dễ giải phóng sớm khi tiếp xúc với môi trường Với mức độ bao 3% và 5% polyme thì pellet không thể kiểm soát giải phóng dược chất; 7% không đáp ứng với yêu cầu dược điển; khi sử dụng 10% polyme, viê ̣c giải phóng kéo dài có thể đạt được song giai đoạn cuối quá trình của giải phóng, dược chất hầu như không hòa tan vào môi trường Việc sử dụng lớp bao phụ sơ nước như acid stearic có thể khắc phục tất cả các nhược điểm này, 10% lớp bao nóng chảy, lượng polyme bao chỉ cần dùng một nửa (5%) đã có thể đạt các yêu cầu kiểm soát giải phóng như khi sử dụng polyme 10%, ngoài ra, từ thời điểm 12 giờ trở đi, việc giải phóng hiệu quả hơn khi chỉ sử dụng mình polyme Tuy nhiên nếu lớp bao nóng chảy quá dày, cụ thể là khi sử dụng
ở mức bao 15%, giai đoạn cuối giải phóng dược chất hầu như không thể hòa tan
Trang 2715
c Vi nang pseudoephedrin giải phóng kéo dài
Aziz HA và cộng sự [24] chế tạo vi nang PSE hydroclorid bằng cách cho dược chất PSE đồng kết tủa cùng với một chất mang thân nước như PVP, HPC, HPMC sau đó hệ được bao thành các vi nang bằng kỹ thuật vi nhũ tương và bốc hơi dung môi sử dụng ovalbumin và gelatin làm vỏ nang Tốc độ giải phóng dược chất từ vi nang có thể được kiểm soát bằng cách thay đổi tỷ lệ polyme tạo vỏ vi nang Tỷ lệ tối ưu của thuốc/ovalbumin/gelatin là 1 : 1 : 2 Đối với dạng bào chế hai thành phần paracetamol và PSE HCl, tỷ lệ tối ưu là 2 : 3 : 5 Các tiểu phân vi nang đạt được hiệu suất bào chế cao, mang thuốc tốt, hiệu quả tạo nang cao và giải phóng dược chất có kiểm soát
d Viên bao mini pseudoephedrin giải phóng kéo dài
Makoto Ishidavà cộng sự [77] đã nghiên cứu đưa ra một phương pháp mới để duy trì sự giải phóng PSE từ dạng thuốc rắn bằng màng bao từ một polymer không tan trong nước là ethyl cellulose (EC) Các tác giả bào chế viên nang PSE hydrochlorid giải phóng có kiểm soát với lõi gồm 2 viên bao mini giải phóng ngay (immediate-release mini-tablets – IRMT) và 3 viên bao mini giải phóng kéo dài (sustained-release mini-tablets – SRMT) Nhân viên mini giải phóng ngay là viên nén chứa 11,8% PSE về khối lượng được bào chế bằng phương pháp xát hạt ướt với
tá dược rã là hydroxypropyl cellulose, sau đó được bao màng ngay bao gồm HPMC, talc, chất hóa dẻo, alcol ethylic và nước Nhân viên mini giải phóng kéo dài cũng chứa 11,8% PSE về khối lượng, được bào chế tương tự như nhân viên giải phóng ngay tuy nhiên thành phần không có hydroxypropyl cellulose Hỗn dịch bao viên mini GPKD gồm HPMC, ethyl cellulose, magnesi stearat, alcol ethylic và nước Kết quả, viên nén IRMT, 100% PSE được giải phóng trong vòng 60 phút đầu và thành phần của hydroxypropyl cellulose có trong viên không làm ảnh hưởng nhiều đến quá trình giải phóng pseudoephedrin trong khi sử dụng HPMC trong màng bao ảnh hưởng đáng kể đến quá trình giải phóng dược chất Về ảnh hưởng của ethyl cellulose lên sự giải phóng PSE từ viên nén SRMT, thành phần của ethyl cellulose càng cao, thời gian tiềm tàng càng được kéo dài; tốc độ giải phóng của thuốc bị ảnh hưởng trực tiếp bởi nồng độ ethylcellulose có trong màng bao Tỷ lệ ethyl cellulose: HPMC là 80 : 20 hoặc 75 : 25 phù hợp để giải phóng 80 % thuốc trong 8 giờ và 100% trong 10 giờ để cho phép chế độ liều dùng 2 lần/ngày Một yếu tố khác cũng ảnh hưởng lớn đến sự giải phóng PSE là khối lượng màng bao, khối lượng màng bao càng lớn, dược chất được giải phóng càng chậm Các tác giả cũng đã khảo sát
Trang 2816
và thu được kết quả là tỷ lệ ethyl cellulose đạt 75% trong màng bao màng mỏng và khối lượng màng bao đạt 6,4% khối lượng viên là 2 thông số phù hợp nhất để bào chế viên GPKD PSE
Các kết quả nghiên cứu trên cho thấy, hầu hết các nghiên cứu bào chế PSE giải phóng kéo dài theo cơ chế màng bao sử dụng các loại polyme tổng hợp không tan trong nước như EC, Eudragit RL, RS, NE hoặc hỗn hợp các polyme để kiểm soát
sự giải phóng của dược chất Tùy theo mục đích thiết kế, có thế tạo ra các đồ thị giải phóng PSE mong muốn bằng cách sử dụng tỉ lệ polyme khác nhau Tỉ lệ polyme sử dụng cùng với bề dầy lớp bao là những yếu tố quan trọng quyết định tốc độ giải phóng dược chất Tuy nhiên, để đạt tốc độ giải phóng dược chất mong muốn, các nghiên cứu phải phối hợp ít nhất hai loại polyme khác nhau trong một hay nhiều lớp bao, quá trình bao tốn kém và phức tạp Trong khi đó, nếu sử dụng polyme tự nhiên
là zein sẽ có khả năng khắc phục được các hạn chế này Với các đặc tính của zein cho thấy đây là một polyme có thể được sử dụng phù hợp cho mục tiêu bào chế PSE dưới dạng thuốc tác dụng kéo dài theo cơ chế màng bao khuếch tán
1.2.2.2 Bào chế pseudoephedrin giải phóng kéo dài dạng khác
a Bào chế pseudoephedrin giải phóng kéo dài dạng cốt
Hệ giải phóng dược chất của viên PSE GPKD theo cơ chế khuếch tán hay hòa tan hay có thể được bào chế dưới dạng bao hay tạo cốt Cho đến nay đã có nhiều nghiên cứu bào chế PSE GPKD dưới dạng cốt [30], [34], [55], [64], [68], [76] Dược chất được phân tán trong polyme thân nước có khả năng tạo gel như CMC, HPC, HPMC… Các polyme gặp nước sẽ trương nở tạo lớp gel như rào chắn làm chậm sự khuếch tán dược chất Cơ chế giải phóng thuốc của hệ cốt thường phức tạp, phụ thuộc vào cả hai quá trình động học hòa tan và khuếch tán Tốc độ giải phóng thuốc chủ yếu phụ thuộc vào khả năng trương nở của polyme (loại polyme, tỷ lệ polyme) Ngoài ra còn phụ thuộc vào các tá dược khác đưa vào để tạo cốt [7], [15] Các nghiên cứu cho thấy có thể tạo cốt giải phóng kéo dài PSE bằng nhiều phương pháp khác nhau như sau:
Cốt viên dược chất dễ tan như PSE hydoclorid có thể được bào chế theo phương pháp dập thẳng với các tá dược độn khác nhau
Katikaneni P.R [68] sử dụng tá dược ethyl cellulose và magnesi stearat bào chế viên nén PSE GPKD theo phương pháp dập thẳng Vì ethyl cellulose có độ nhớt thấp sẽ làm tăng độ nén của hỗn hợp bột dập viên, do vậy làm tăng độ cứng của
Trang 2917
viên và cho đồ thị GPKD Nghiên cứu cũng chỉ rõ, khi dùng các loại ethyl cellulose
có kích thước tiểu phân trong khoảng 250-420 µm và 177-250 µm thì hệ giải phóng 80% PSE trong 10 giờ tuân theo phương trình động học Higuchi
Rahmouni M [95] lại sử dụng tá dược dập thẳng là HPMC hoặc tinh bột biến tính được tạo hạt một mình hoặc được trộn với HPMC trước khi tạo hạt Vì vai trò HPMC làm giảm quá trình giáng hóa cốt tinh bột biến tính do enzym, nên HPMC với
tỷ lệ 10% cải thiện đáng kể độ trơn chảy mà không làm ảnh hưởng đến tính chịu nén của khối bột Nồng độ HPMC cũng ảnh hưởng tới sự trương nở và hòa tan của cốt Khi viên nén được ủ ấm trong đệm phosphat (50 mM, pH 6,8) ở 370C trong 6, 12 và
24 giờ , quá trình trương nở và hòa tan của viên nén tăng theo thời gian ủ ấm và nồng
độ HPMC Nếu chỉ dùng một mình tinh bột biến tính, trạng thái cân bằng sẽ đạt sau 6 giờ Nhưng khi có thêm HPMC hấp thụ một lượng lớn nước và tiếp tục trương nở, hòa tan trong 24 giờ Trong suốt qua trình hòa tan, viên nén chỉ dùng tinh bột biến tính duy trì hình dạng tốt với một độ cứng thích hợp trong khi viên nén có HPMC có hình tròn Sự có mặt của HPMC trong cốt tinh bột biến tính làm giảm trương lực gel
do ảnh hưởng đến cấu trúc liên kết của tinh bột Về độ hòa tan cho thấy, 90% PSE được giải phóng từ hạt sử dụng tinh bột biến tính, hạt sử dụngtinh bột biến tính kết hợp HPMC (9 : 1) và viên nén sử dụng tinh bột biến tính/HPMC (9 : 1) trong 6 giờ với dịch hòa tan có α-amylase (9000 UI/l) và trong 8 giờ khi không có α-amylase Giá trị f2 của các công thức trong khoảng 51 - 82% chứng tỏ động học giải phóng dược chất của viên xát hạt ướt tương tự như viên dập thẳng không qua tạo hạt
Tạo cốt pseudoephedrin giải phóng kéo dài bằng phương pháp tạo hạt khô
Irwin và các cô ̣ng sự [64] đã nghiên cứu bào chế viên nén chứa PSE hydroclorid giải phóng kéo dài với sự phối hợp của HPMC và cellulose vi tinh thể được bào chế thành viên nén theo phương pháp ta ̣o ha ̣t khô
Madishetty Vamshi Krishna [76] cũng sử dụng HPMC (loại K100M), nhưng phối hợp với ethocel và các tá dược độn như: calci phosphat khan, calciphosphat dihydrat, lactose khan và dicalci phosphat (DCP) - 15 Các tá dược này đã làm ảnh hưởng đến tốc độ và mức độ giải phóng kéo dài PSE hydroclorid Các tá dược độn không tan đặc biệt là calci phosphat làm cho dược chất giải phóng với tốc độ chậm
và ở mức độ thấp hơn so với các tá dược độn tan (lactose) dicalci phosphat khan làm cho tỷ lệ giải phóng chậm lại do độ ẩm của dicalci phosphat khác nhau nên khả năng hút nước khác nhau ảnh hưởng đến giải phóng Các hệ số tương quan cho thấy
Trang 3018
mô hình giải phóng tuân theo động học bậc 1, Higuchi Cơ chế giải phóng thuốc chính là trương nở và kiểm soát giải phóng
Các nghiên cứu cải tiến khả năng kiểm soát giải phóng PSE bằng cách tạo cốt 3 lớp Hệ giải phóng kéo dài với cốt 3 lớp khắc phục được nhược điểm chính giải phóng không tuyến tính của cốt kiểm soát giải phóng dược chất dựa trên khuếch tán thông thường bằng việc cung cấp thêm thời gian để thuốc giải phóng, bù trừ cho tốc
độ giải phóng giảm Các hệ tác dụng kéo dài được bào chế có giá thành thấp do đó
có thể áp dụng tốt ở quy mô sản xuất lớn
Chidambaram N và cộng sự [30] đã nghiên cứu bào chế cốt 3 lớp giải phóng kéo dài Lớp giữa thân dầu dược chất được bao ở ngoài bằng 2 lớp thân nước và/hoặc thân dầu Ba lớp cốt được thiết kế bao gồm cốt lõi thân dầu được bao ngoài bằng hai lớp thân nước (HMH), cốt lõi thân dầu được bao ngoài bằng một lớp thân dầu và một lớp thân nước (HML) và cốt lõi thân dầu được bao ngoài bằng hai lớp thân dầu (LML) Đối với cốt HMH, các yếu tố bao gồm nồng độ HPMC trong lớp bao ngoài, độ dày 2 lớp bao ngoài và mức độ nhớt của loại HPMC sử dụng ảnh hưởng đáng kể tới tốc độ giải phóng dược chất Nồng độ cao hay độ nhớt lớn của HPMC và độ dày lớn của 2 lớp bao ngoài làm giảm tốc độ giải phóng Ảnh hưởng của khối lượng 2 lớp bao ngoài chỉ được quan sát thấy ở nồng độ HPMC thấp (khoảng 40%) Để nghiên cứu ảnh hưởng của các tá dược khác có trong lớp bao tới
sự giải phóng thuốc, 30% HPMC được thay bằng Avicel PH101 (tá dược có thể trương nở) hoặc dicalci phosphat (tá dược không thể trương nở), hoặc hỗn hợp hai
tá dược này Đối với cốt LML, các yếu tố như nồng độ của sáp trong cả 2 lớp, khối lượng 2 lớp bao ngoài và tương quan giữa hai yếu tố này ảnh hưởng đáng kể tới sự giải phóng dược chất Đối với cốt HML, các yếu tố độ dày của lớp thân dầu và tỷ số giữa độ dày của lớp thân nước/thân dầu ảnh hưởng lớn tới tốc độ giải phóng thuốc Lớp thân dầu càng dày hoặc tỷ số trên càng nhỏ, thuốc được giải phóng càng chậm Trong khi đó, Qiu Y và cộng sự [94] lại có nghiên cứu cấu trúc 3 lớp khác: lớp
ở giữa dược chất được trộn đều và thêm vào sáp nóng chảy ở khoảng 950C và được trộn kỹ, sau đó để đông đặc ở nhiệt độ phòng trước khi rây qua rây 30, rồi đem nén
ở 4500 lb trong 2 giây Viên 3 lớp được các tác giả bào chế theo các bước như sau: Lớp đầu tiên được đặt vào khuôn và được nén ở áp lực 300 lb, sau đó lớp dược chất được cho vào và được nén lại dưới áp lực 300 lb, cuối cùng lớp bao ngoài được thêm vào và nén dưới áp lực 4500 lb trong 2 giây Đối với cốt lõi thân dầu được bao
Trang 31Có thể thấy trong các nghiên cứu trên các tá dược tạo cốt thường dùng để kiểm soát giải phóng dược chất là các loại HPMC với độ nhớt khác nhau Đặc biệt, kết quả mô ̣t số nghiên cứu cho thấy hệ giải phóng kéo dài với cốt 3 lớp khắc phục được nhược điểm chính giải phóng không tuyến tính của cốt kiểm soát giải phóng dược chất dựa trên khuếch tán thông thường bằng việc cung cấp thêm thời gian để thuốc giải phóng, bù trừ cho tốc độ giải phóng giảm Các hệ giải phóng kéo dài dạng cốt có nhiều ưu điểm như: đơn giản và dễ bào chế, có giá thành thấp nên có thể áp dụng
ở quy mô sản xuất lớn Tuy nhiên có quá nhiều yếu tố ảnh hưởng đến tốc độ giải phóng dược chất từ hệ cốt như khả năng hòa tan của dược chất, khả năng trương nở của polyme, ăn mòn polyme, đặc tính hòa tan hoặc khuếch tán hoặc phân bố của dược chất vào cốt polyme, tỷ lệ các thành phần và hình dạng của hệ Độ nhớt và tính đàn hồi của polyme cũng ảnh hưởng đến việc giải phóng dược chất trong hệ cốt
b Hệ thẩm thấu pseudoephedrin giải phóng kéo dài
Hệ thẩm thấu được chế tạo bằng cách bao nhân thuốc có tá dược tạo áp suất thẩm thấu (ví dụ: NaCl, KCl … hoặc các polyme như PEG) Màng bao là màng bán thấm bằng polyme tương thích sinh ho ̣c như: cellulose acetat, poly vinyl acetat, poly vinyl cellulose, ethyl cellulose… Trên màng có khoan một lỗ bằng tia laser (đường kính khoảng 0,25 mm) Màng bán thấm cho phép nước từ đường tiêu hóa thấm qua
để hòa tan chất tạo áp suất, tạo nên sự chênh lệch áp lực hai bên màng, đẩy thuốc đã hòa tan qua lỗ theo tốc độ xác định [31]
Hệ thống thẩm thấu cơ bản áp dụng cho PSE được chế tạo thành viên nén 2 lớp: một lớp dược chất, một lớp chất tạo áp suất thẩm thấu, hai lớp được ngăn cách bởi vách ngăn động Viên được bao bởi một màng bán thấm Ngăn chất tạo áp suất sẽ hút nước từ đường tiêu hóa tạo ra áp lực đẩy vách ngăn di chuyển lên trên làm giảm thể tích của ngăn thuốc, đẩy thuốc ra khỏi lỗ khoan laser, hệ này gọi là hệ đẩy kéo (push – pull osmotics pumps – PPOP) [31] Hiện nay hệ thẩm thấu giải phóng dược
Trang 3220
chất kéo dài dùng đường uống áp dụng cho PSE được phát triển theo nhiều hướng khác nhau Một số kết quả nghiên cứu bào chế PSE GPKD dưới dạng viên thẩm thấu được tóm tắt như sau:
Sapna N và cộng sự [99] đã nghiên cứu bào chế hệ kiểm soát giải phóng PSE hydrochlorid theo cơ chế thẩm thấu kéo đẩy Bơm thẩm thấu (osmotic pump) gồm
có một lõi xốp dược chất, được bao bởi một màng bán thấm từ cellulose acetat và chất tạo áp suất thẩm thấu là natri bicarbonat với các tá dược tạo kênh khác nhau gồm diethylphthalat (DEP), dibutylphthalat, dibutylsebacat, polyethylen glycol (PEG) 400 Viên được bào chế bằng phương pháp xát hạt ướt sau đó được bao bằng dịch bao gồm cellulose acetat, tá dược tạo kênh, talc, titan dioxid trong hỗn hợp aceton và isopropanol Các tác giả đã khảo sát ảnh hưởng của nhiều tỷ lệ thuốc/tá dược tạo áp suất thẩm thấu khác nhau cũng như pH lên quá trình giải phóng dược chất in vitro trong nước và các hệ đệm khác nhau Kết quả cho thấy tốc
độ giải phóng dược chất tăng tuyến tính với khối lượng tăng của tá dược tạo áp suất thẩm thấu Các kênh tạo áp suất thẩm thấu được sử dụng để kiểm soát quá trình giải phóng dược chất Thời gian tiềm tàng (lag time) của viên bao khi sử dụng DEP được rút ngắn khi sử dụng các chất hóa dẻo thân nước như PEG 400 kết hợp với DEP Kết quả cũng cho thấy không có sự khác biệt về tốc đô ̣ giải phóng dược chất giữa các công thức bào chế trong hệ đệm phosphat pH 7,2, do đó có thể kết luận các dịch đường tiêu hóa gần như không ảnh hưởng đến sự giải phóng của các hệ thẩm thấu Như vậy, một hệ giải phóng kéo dài PSE dựa trên áp suất thẩm thấu có thể thu được bằng việc tối ưu hóa tỷ lệ thuốc/tá dược thẩm thấu, nồng độ polyme và nồng
độ cũng như bản chất tá dược tạo kênh trên màng bao Khi sử dụng tá dược tạo kênh
là diethylphthalat kết hợp với chất hóa dẻo PEG 400, sẽ tạo ra đồ thị giải phóng PSE 12 giờ tuân theo động học bậc 0 Hệ này được bào chế đơn giản, không cần tạo miệng giải phóng dược chất như hệ bơm thẩm thấu thông thường
Yakubu R và cộng sự [129] đã nghiên cứu chế tạo viên nén PSE giải phóng kéo dài sử dụng polyvinyl pyrolidon (PVP) làm tá dược dính đồng thời cùng với dextrose monohydrat là tá dược tạo áp suất thẩm thấu Viên PSE GPKD bào chế được giải phóng dược chất nhanh trong giai đoạn đầu (80% trong 6 giờ), do tốc độ hòa tan nhanh của PSE hydroclorid trong nước (0,5 g/ml) so với tốc độ hòa tan của PVP K-30 (1,0 g/ml), ở giai đoạn sau PVP K-30 hòa tan tạo thành dung dịch nhớt giúp cho việc kéo dài giải phóng dược chất trong giai đoạn sau PVP K-30 giúp viên kéo dài giải phóng PSE lên tới 18 giờ
Trang 3321
c Viên nang psedoephedrin giải phóng kéo dài
Peep Veski và cộng sự [91] trong một nghiên cứu đã đánh giá sự giải phóng chậm của PSE ra khỏi dạng thuốc bằng thử nghiệm hoà tan chế phẩm đóng trong nang cứng phối hợp PSE hydrochlorid với 4 dạng natri alginat có mức độ nhớt khác nhau là: Manugel DPB (500 mPa s), Manugel GHB (75 mPa s), Manucol DM (250 mPa s) và Manucol LD (9 mPa s) Viên nang bào chế được đánh giá khả năng giải phóng dược chất ở 3 môi trường pH 1,2; pH 4,4; pH 7,2 và nghiên cứu về sinh khả dụng trên 8 người theo phương pháp chéo đôi Kết quả là 4 công thức đều có tốc độ giải phóng dược chất như nhau ở môi trường pH 1,2 tuy nhiên tốc độ giải phóng dược chất tăng dần khi tăng pH đối với công thức sử dụng Manucol LD còn giảm dần đối với 3 công thức còn lại Khi nghiên cứu sinh khả dụng, AUC, Cmax không khác nhau đáng kể giữa 4 công thức nhưng công thức sử dụng natri alginat có độ nhớt thấp nhất Manucol LD thì Tmax là 4,5 giờ trong khi 3 công thức còn lại, Tmax là 6,5 giờ Nghiên cứu cũng đã chỉ ra rằng độ hấp thu dược chất trong đường tiêu hóa tương quan với độ nhớt của loại natri alginat sử dụng Kết quả nghiên cứu đã đặt nền móng cho việc tạo ra dạng thuốc tác dụng kéo dài của PSE
1.3 TỔNG QUAN VỀ BÀO CHẾ KẾT HỢP PSEUDOEPHEDRIN VÀ LORATADIN GIẢI PHÓNG CÓ KIỂM SOÁT
1.3.1 Một số chế phẩm kết hợp hai dược chất pseudoephedrin và loratadin lưu hành trên thị trường
Trên thế giới, việc bào chế phối hợp hai dược chất PSE và LOR trong cùng một chế phẩm cũng như bào chế dược chất PSE dưới dạng giải phóng kéo dài đã được nghiên cứu tương đối nhiều và đã có chế phẩm đưa ra thị trường Tuy nhiên, trên thị trường thuốc Việt Nam trong những năm trước đây đến nay, cũng có rất ít chế phẩm phối hợp hai dược chất PSE và LOR được lưu hành Một trong những chế phẩm đó
là biệt dược Claritin D - 24h, Claritin D - 12h (Schering Plough) bào chế dưới dạng thuốc TDKD Sau đó biệt dược này được hãng dược phẩm Schering Plough thay thế bằng biệt dược Clarinase Sau năm 2010, biệt dược này không tiếp tục lưu hành tại thị trường thuốc Việt Nam nữa
Như vậy, trên thị trường thuốc Việt Nam hiện nay chỉ có một chế phẩm phối hợp hai dược chất PSE và LOR dưới dạng viên nén qui ước là biệt dược Colocol flu
2 Tech (Sao Kim) và đến thời điểm này chưa có chế phẩm phối hợp hai dược chất PSE và LOR dưới dạng TDKD nào được lưu hành
Trang 34đã được nghiên cứu trên thế giới và đã có chế phẩm đưa ra thị trường Tuy nhiên, cho đến thời điểm hiện tại, ở Việt Nam chưa có nghiên cứu nào báo cáo về dạng bào chế này Một số nghiên cứu về bào chế dạng giải phóng dược chất có kiểm soát kết hợp hai dược chất PSE và LOR được tóm tắt như sau:
Kim H-S [72] và cộng sự đã nghiên cứu về dạng pellet giải phóng kéo dài kết hợp hai dược chất PSE và LOR đóng trong nang cứng Hai loại pellet được nghiên cứu là pellet giải phóng ngay có chứa LOR và PSE sulfat và pellet giải phóng kéo dài chứa PSE sulfat Pellet giải phóng ngay được bào chế bằng phương pháp bồi dần sử dụng các tá dược cellulose vi tinh thể, hydroxypropyl cellulose trọng lượng phân tử thấp, crosspovidon, silicon dioxid, polyvinyl pyrrolidon Pellet giải phóng kéo dài cũng được bào chế bằng phương pháp bồi dần, sau đó được bao bằng hỗn dịch ethyl cellulose, Eudragid RS, diethyl phthalat, magnesi stearat, talc trong hỗn hợp của aceton và isopropyl alcol Kết quả thử hòa tan cho thấy LOR trong viên nang đã bào chế được giải phóng và nhanh chóng đạt nồng độ cao hơn so với viên nén quy ước Hơn nữa, PSE sulfat có thời gian bán thải ngắn hơn LOR được hòa tan ban đầu từ pellet giải phóng ngay và sau đó là từ pellet giải phóng kéo dài Đặc biệt, lớp vỏ bao có tác nhân chống thấm (magnesi stearat, talc) có khả năng duy trì quá trình giải phóng kéo dài của PSE sulfat Do đó viên nang bào chế được có tác dụng kéo dài sau khi uống không phụ thuộc vào các yếu tố khác trong đường tiêu hóa Henry K K và cộng sự [58] đã nghiên cứu bào chế dạng viên bao LOR và PSE sulfat giải phóng kéo dài 24 giờ Viên nhân 240 mg PSE sulfat với các tá dược tạo cốt là HPMC 100K và ethyl cellulose và các tá dược calci phosphat dibasic, povidon, silicon dioxid, megnesi stearat, và được bào chế bằng phương pháp xát hạt ướt Viên nhân được bao bằng hỗn dịch 10 mg loratadin dạng micronized, HPMC 6 cps, PEG 400, PEG 3350, chất màu Với công thức đã đưa ra, loratadin được giải
Trang 3523
phóng trong vòng một giờ đầu tiên để duy trì hiệu lực điều trị trong 24 giờ, trong khi PSE sulfat từ cốt giải phóng kéo dài trong khoảng thời gian từ 12 đến 16 giờ Sznitowska M và cộng sự [115] đã nghiên cứu bào chế dạng thuốc hai thành phần LOR và PSE sulfat dưới dạng viên bao, viên nén 2 lớp và pellet Viên bao được bao từ viên nhân là 1 cốt giải phóng kéo dài chứa 60 mg PSE sulfat sử dụng hypromelose methocel K100M làm tá dược kiểm soát giải phóng cùng với các tá dược Avicel PH 102, Aerosil, magnesi stearat được bào chế bằng phương pháp dập thẳng Cốt này sẽ được bao bằng hỗn dịch của LOR 5 mg và PSE sulfat 60 mg trong hỗn hợp bao Opadry II HP Viên nén 2 lớp gồm lớp giải phóng ngay chứa 5 mg LOR và 40 mg PSE sulfat trong 1 cốt rã ngay được bào chế với các tá dược Starch
1500, Tablettose 80, Avicel PH 102, Ac-Di-Sol, Aerosil 200, magnesi stearat và chất màu và lớp giải phóng kéo dài chứa 80 mg PSE sulfat trong cốt hypromelose methocel K100 Dạng pellet, các tác giả bào chế 3 loại pellet khác nhau: pellet LOR, pellet PSE sulfat giải phóng ngay và pellet PSE sulfat giải phóng kéo dài Cả
3 loại pellet trên đều được bào chế theo phương pháp đùn – tạo cầu với các tá dược Tablettose, Aerosil, Avicel PH 101, Starch 1500, polyvinyl pyrrolidon K30 và Macrogol 300 Pellet PSE sulfat giải phóng kéo dài được tạo ra bằng cách bao pellet PSE sulfat giải phóng ngay với ethyl cellulose và dibutyl sebacat Tỉ lệ giữa PSE sulfat giải phóng kéo dài và pellet giải phóng ngay là 1:1,4 Pellet được đóng trong nang cứng, mỗi nang chứa 450 mg pellet PSE sulfat và 50 mg pellet LOR Kết quả thử hòa tan trong môi trường pH 1,2 và pH 6,8 cho thấy: viên nang chứa pellet giải phóng 90% LOR trong vòng 30 phút trong môi trường pH 1,2 và PSE sulfat giải phóng kéo dài trong 8 giờ; sau 30 phút, toàn bộ LOR và 40 - 52% PSE sulfat được giải phóng; lượng PSE sulfat còn lại được giải phóng hết sau 7 giờ
Kwan H K và cộng sự [70] nghiên cứu bào chế dạng viên bao hai thành phần LOR và PSE sulfat Viên nhân chứa 240 mg PSE sulfat trong cốt trơ khuếch tán, bao bằng hỗn dịch của 10 mg LOR dưới dạng bột siêu mịn với HPMC cùng các chất hóa dẻo Kết quả cho thấy LOR giải phóng hoàn toàn trong 1 giờ đầu, còn PSE sulfat giải phóng kéo dài trong 12-16 giờ Độ tan của LOR được cải thiện khi ở dạng bột siêu mịn và tạo hệ phân tán rắn với HPMC trong màng bao
Cho và cộng sự [32] trong một nghiên cứu đã bào chế viên nén bao phim có ba thành phần là LOR, ibuprofen và PSE Trong đó, ibuprofen và PSE được bào chế thành viên nén theo cơ chế cốt GPKD cùng với polyme thân nước có khả năng trương nở, sau đó viên được bao lớp màng bao gồm LOR và polyme thân nước Khi
Trang 3624
viên thuốc ở môi trường dạ dày hoặc trong dung dịch nước, lớp bao hòa tan giải phóng ngay LOR và nước thấm làm cho polyme trương nở giải phóng từ từ ibuprofen và PSE theo cơ khuếch tán
Felix Joe V và cộng sự [43] đã bào chế hai dược chất LOR và PSE dưới dạng viên nén bao phim gồm cốt thân nước của PSE hydroclorid với các tá dược HPMC,
Na CMC và lớp bao giải phóng ngay dược chất LOR Kết quả LOR giải phóng ngay
và PSE giải phóng kéo dài theo 2 cơ chế là hòa tan và ăn mòn bề mặt trong 12 giờ Zeeshan F1 và Bukhari NI [131] đã bào chế viên nang gelatin hoặc viên nén từ pellet PSE và LOR giải phóng ngay với các tá dược Avicel, KG – Ceolus 801 và pellet PSE giải phóng kéo dài với lớp màng bao Kollicoat SR- 30D, TEC Pellet không bao giải phóng ngay PSE (có hoặc không LOR) Pellet bao giải phóng chậm chỉ chứa PSE Hỗn hợp 2 loại pellet trên được đóng nang hoặc dập viên khi có thêm Ceolus KG-801 Kết quả, viên nang và viên nén bào chế từ hai loại pellet giải phóng LOR hoàn toàn sau 2 giờ, 10% PSE giải phóng ngay, còn lại giải phóng kéo dài trong 12 giờ Ở cả viên nén và viên nang, kết quả thử hòa tan tương đương nhau LOR giải phóng hoàn toàn trong 2 giờ, PSE trong pellet không bao giải phóng hoàn toàn sau 10 phút Viên nén được dập từ hỗn hợp 2 loại pellet trên theo mô hình lựa chọn với PSE trong pellet bao GPKD đến 12 giờ theo động học bậc 0
Một số nghiên cứu bào chế tương tự trong đó kết hợp PSE dưới dạng GPKD với một số các dược chất khác cũng được tìm hiểu như sau:
Gu X và cộng sự [55] bào chế viên nén giải phóng kéo dài acrivastin và pseudoephedrin Sử dụng các polyme thân nước: Methocel K100M (hydroxypropyl methylcellulose), Polyox WSR301 (polyethylen oxyd); hoặc acrylic resin không tan trong nước Eudragit RS (acid esters methacrylic), tá dược thân lipid, không tan trong nước Compritol 888ATO (glyceryl behenat) và Precirol ATO5 (glyceryl palmitostearat) Các viên nén đều thỏa mãn các chỉ số về cơ học Do tính tan trong nước của PSE và mức liều thấp, quá trình giải phóng dược chất để đạt tới mức liều
sử dụng mong muốn 2 lần/ngày Tuy nhiên, sự kết hợp của 2 tá dược giảm đáng kể tốc độ hòa tan của cả 2 dược chất Sự kết hợp giữa Compritol thân lipid và polyme thân nước Methocel giúp kiểm soát giải phóng dược chất tối ưu trên 8 giờ cho cả acrivastin và PSE
Trong một nghiên cứu khác, Choi HG và cộng sự [34] đã nghiên cứu chế tạo viên bao 2 lớp gồm lớp ngoài giải phóng ngay và lớp trong giải phóng kéo dài của terfenadin và PSE Lớp giải phóng ngay được bào chế qua tạo hạt ướt trong khi lớp
Trang 3725
giải phóng kéo dài được tạo thành bằng phương pháp dập thẳng, hai lớp sau đó được dập thành viên nén và được bao với dung dịch 5% HPMC trong nước Kết quả nghiên cứu cho thấy, thành phần natri carbonat và natri lauryl sulfat không ảnh hưởng tới tốc độ rã của lớp giải phóng nhanh trong khi cellulose vi tinh thể và natri glycolat tinh bột cải thiện đáng kể tốc độ rã Với thành phần công thức bao gồm terfenadin, PSE, lactose, tinh bột ngô, natri bicarbonat, HPC, natri lauryl sulfat, cellulose vi tinh thể, magnesi stearat với tỷ lệ 60 : 10 : 90 : 30 : 20 : 1 : 40 : 1 : 293 :
5 mg, lớp giải phóng ngay rã hoàn toàn trong 3 phút và giúp hòa tan tối đa dược chất Đối với lớp giải phóng kéo dài, tỷ lệ ethyl cellulose : HPMC càng nhỏ, lượng PSE được hòa tan càng tăng Tỷ lệ PSE : ethyl cellulose : HPMC (110 : 30 : 155
mg) giúp giải phóng dược chất tối ưu Các test thử hòa tan in vitro còn cho thấy,
không có sự khác biệt đáng kể về lượng PSE hòa tan từ dạng bào chế ở các pH 1,2; 4,0 và 6,8 chứng tỏ quá trình hòa tan dược chất không bị ảnh hưởng bởi pH dịch đường tiêu hóa
Các nhà khoa ho ̣c Ấn đô ̣ [102] đã nghiên cứu viên giải phóng kéo dài hai dược chất PSE và desloratadin cấu tạo gồm hai lớp: lớp đầu tiên chứa desloratadin giải phóng ngay, một lớp thứ hai chứa PSE giải phóng kéo dài Có thể bảo vê ̣ desloratadin không bi ̣ đổi màu và phân hủy trong môi trường acid bằng cách sử
du ̣ng tá dược muối calci, magnesi hoặc muối nhôm hoă ̣c chất chống oxy hóa
Như vậy có thể thấy, cho đến nay chưa có nhiều nghiên cứu bào chế kết hợp hai dược chất PSE và LOR trong cùng một chế phẩm nhất là chế phẩm giải phóng dược chất có kiểm soát Các nghiên cứu bào chế kết hợp PSE với LOR hoặc một dược chất khác trong chế phẩm giải phóng dược chất có kiểm soát có thể là viên bao, viên nén hoặc viên nang cứng nhưng hầu hết đều có cấu tạo gồ m hai phần: phần đầu tiên chứa LOR giải phóng ngay, phần thứ hai chứa PSE giải phóng kéo dài theo các cơ chế khác nhau như tạo cốt, màng bao GPKD Phần giải phóng ngay LOR có thể được bào chế dưới dạng pellet nhưng phổ biến là dưới dạng màng bao, trong đó có kết hợp các biện pháp tăng độ tan của LOR để cải thiện độ tan trên cơ sở đó cải thiện SKD cho dược chất ít tan này Do LOR và PSE có tính chất khác biệt, mục tiêu bào chế với hai dược chất này là khác và trái ngược nhau, việc bào chế riêng hai phần giải phóng ngay và giải phóng kéo dài cho hai dược chất LOR và PSE sẽ hạn chế ảnh hưởng của việc sử dụng các biện pháp tăng độ tan cho LOR đến quá trình giải phóng kéo dài của PSE Đây cũng là một định hướng quan trọng cho quá trình xây dựng công thức và qui trình bào chế của đề tài luận án
Trang 3826
1.3.3 Định lượng đồng thời pseudoephedrin và loratadin trong chế phẩm
Quá trình thực hiện đề tài luận án đòi hỏi phải tiến hành định lượng đồng thời pseudoephedrin và loratadin trong bán thành phẩm và thành phẩm nhiều lần trong suốt quá trình nghiên cứu xây dựng công thức và qui trình bào chế Hơn nữa dạng bào chế giải phóng có kiểm soát hai dược chất pseudoephedrin và loratadin lần đầu tiên được nghiên cứu bào chế ở Việt Nam, chính vì thế việc xây dựng một quy trình định lượng đồng thời hai dược chất trong chế phẩm đa thành phần này là một yêu cầu bắt buộc, góp phần tiêu chuẩn hóa chế phẩm Để định lượng đồng thời hai dược chất PSE và LOR trong chế phẩm bào chế, có khá nhiều phương pháp đã được các tác giả nghiên cứu như: đo quang ở nhiều bước sóng [111], quang phổ đạo hàm [11], [74], quang phổ đạo hàm tỷ đối [45] hay phương pháp HPLC [12], [19], [111]
1.3.3.1 Phương pháp sắc ký lỏng hiệu năng cao
Một số nghiên cứu định lượng đồng thời PSE và LOR trong chế phẩm bào chế bằng phương pháp HPLC được trình bày tóm tắt ở bảng sau:
Bảng 1.5 Một số nghiên cứu định lượng đồng thời PSE và LOR trong chế
- Detector UV-VIS : λ = 250 nm
-Tốc độ dòng: 1,5 ml/phút
- Khoảng tuyến tính: 0,1-100 μg/ml (LOR) và 10-600 μg/ml (PSE)
Viên giải phóng kéo dài
Trang 39Các nghiên cứu định lượng đồng thời PSE và LOR bằng HPLC trên thế giới và
ở Việt Nam có quy trình phân tích tương đối phức tạp Nghiên cứu của Mabrouk M
M và cộng sự [74] sử dụng cột BondaPak C18 (300 × 3,9 mm, 10 µm) là loại cột ít gặp ở Việt Nam; nghiên cứu của Ali Abu-Lathou và Imad I.Hamdan sử dụng phương pháp ghép 2 cột Hypersil C8 (150 x 4,6mm, 5 µm) và cột Tracer Extrasil
CN (150 x 4,6 mm, 5 µm)) nên phương pháp khá phức tạp, áp suất cao [19] Trong khi đó phương pháp của Singhvi I [111] có khoảng nồng độ tuyến tính là 10-50 μg/ml đối với LOR và 200-1000 μg/ml đối với PSE hay phương pháp của Lê Thị Thu Hiền [12] có khoảng nồng độ tuyến tính là 10-150 μg/ml đối với LOR và 120-
1200 μg/ml đối với PSE Đây đều là những khoảng nồng độ có biên độ dưới quá cao, chỉ thích hợp trong định lượng hàm lượng viên nén mà không thể sử dụng
trong nghiên cứu giải phóng dược chất in vitro Lý do khi nghiên cứu sinh khả dụng
in vitro với thể tích môi trường 900 ml, nồng độ dược chất khi giải phóng hết ra môi trường chỉ khoảng 5,5 μg/ml đối với LOR và 133 μg/ml đối với PSE, trong khi cần theo dõi khoảng nồng độ ở mức 5% lượng dược chất giải phóng Mặt khác, đối tượng của các nghiên cứu trên là viên nén thông thường, nếu đối tượng nghiên cứu
là viên giải phóng dược chất có kiểm soát, nền mẫu sẽ có sự khác nhau, do vậy luận
án cần phải có quá trình khảo sát lựa chọn và thẩm định được phương pháp định lượng phù hợp nhất
Trang 4028
1.3.3.2 Các phương pháp khác
Bên cạnh phương pháp HPLC, M.M Mabrouk và cộng sự [74] cũng tiến hành định lượng các chế phẩm đồng thời LOR và PSE bằng phương pháp quang phổ đạo hàm Khoảng nồng độ tuyến tính là 5-25 μg/ml đối với LOR và 240-720 μg/ml đối với PSE sulfat
Tương tự, Singhvi I và Bhatia N [111] đã nghiên cứu định lượng đồng thời PSE và LOR bằng phương pháp đo quang tại nhiều bước sóng (257 nm và 283 nm)
và phương pháp quang phổ đạo hàm bậc nhất
Feyyaz Onur và cộng sự [147] đã tiến hành định lượng đồng thời PSE sulfat, LOR và dexbrompheniramin maleat trong viên nén theo phương pháp quang phổ đạo hàm và quang phổ đạo hàm tỷ đối Khoảng nồng độ tuyến tính trong cả hai phương pháp là 5 - 40 μg/ml đối với LOR và 192 - 1152 μg/ml đối với PSE
Lê Minh Trí và cộng sự [11] đã xây dựng phương pháp quang phổ đạo hàm để định lượng PSE sulfat và LOR trong viên nén Khoảng tuyến tính khảo sát với LOR
là 15 - 35 μg/ml và của PSE sulfat là 36 - 84 μg/ml
Qua các nghiên cứu có thể thấy, để định lượng đồng thời hai dược chất PSE và LOR trong các chế phẩm bào chế có thể sử dụng các phương pháp như quang phổ đạo hàm tỉ đối và quang phổ đạo hàm bậc một, phương pháp sắc ký lớp mỏng kết hợp đo mật độ quang hay phương pháp HPLC Quang phổ đạo hàm là phương pháp
đã được một số nghiên cứu nước ngoài sử dụng để định lượng đồng thời PSE và LOR trong chế phẩm bào chế Phương pháp này đơn giản, tuy nhiên chỉ phù hợp
trong định lượng chế phẩm, khó áp dụng trong nghiên cứu sinh khả dụng in vitro vì khoảng nồng độ định lượng khá cao, trong khi yêu cầu của nghiên cứu in vitro là
cần đánh giá ở nhiều thời điểm khi thuốc mới hòa tan vào môi trường Trong đó, HPLC là phương pháp có nhiều ưu điểm về độ đặc hiệu, độ nhạy, kết quả chính xác,
có thể phân tích trên mẫu hỗn hợp mà không cần chiết tách, có thể tự động hóa để phân tích lượng mẫu lớn Phương pháp này cho phép vừa tách, định tính, định lượng đồng thời chất phân tích trong cùng một phép thử với độ chọn lọc và chính
xác cao, thuận lợi cho việc đánh giá độ hòa tan và GPDC in vitro viên hai thành
phần PSE và LOR Các nghiên cứu định lượng đồng thời PSE và LOR bằng HPLC cũng cho thấy quy trình phân tích khá phức tạp, nhất là với đối tượng nghiên cứu là viên GPDC có kiểm soát, vì vậy quá trình tiến hành đề tài cần phải khảo sát bằng thực nghiệm để có điều kiện sắc ký phù hợp