1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Rèn luyện cho sinh viên đại học sư phạm ngành toán kĩ năng ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học ở trường phổ thông

170 528 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 170
Dung lượng 4,05 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

1 MỞ ĐẦU 1. Lí do chọn đề tài 1.1. Ngày nay công nghệ thông tin (CNTT) đã trở thành một yếu tố then chốt làm thay đổi các hoạt động (HĐ) kinh tế và xã hội, trong đó có giáo dục. Việc khai thác các phần mềm và truyền thông đa phƣơng tiện đang đƣợc ứng dụng rộng rãi trong quá trình dạy học ở nhiều nƣớc trên thế giới. Tăng cƣờng ứng dụng CNTT trong giáo dục sẽ tạo một bƣớc chuyển cơ bản trong quá trình cập nhật kịp thời và thƣờng xuyên các tiến bộ khoa học công nghệ vào nội dung chƣơng trình đào tạo, đổi mới phƣơng pháp giảng dạy để phát huy tính tích cực, chủ động của học sinh (HS), góp phần nâng cao chất lƣợng dạy học. Trong xu thế hội nhập quốc tế, một trong những đặc điểm nổi bật của xu hƣớng giáo dục hiện đại ở nƣớc ta hiện nay là sự thay đổi trong mô hình giáo dục với quan điểm lấy HS làm trung tâm, dạy học theo hƣớng tiếp cận năng lực, và nhƣ vậy mọi tài nguyên, nguồn lực trong mỗi trƣờng học cần tập trung vào việc tạo lập một môi trƣờng học tập cởi mở, sáng tạo cho HS. Một môi trƣờng giáo dục hiện đại sẽ cung cấp tối đa khả năng tự học, tìm kiếm thông tin cho mỗi HS. Khi đó, CNTT trở thành công cụ hữu hiệu, cần thiết, phục vụ hiệu quả các hoạt động trong trƣờng học. Đồng thời CNTT đƣợc ứng dụng trong dạy học để truyền tải kiến thức bằng kênh chữ, kênh tín hiệu, kênh hình tĩnh, hình động, âm thanh,... với khối lƣợng thông tin chọn lọc, phong phú và có chất lƣợng cao; giúp việc học tập của HS đƣợc diễn ra sinh động, hấp dẫn, dễ tiếp thu và giáo viên (GV) có điều kiện dạy học phân hóa, cá thể hóa nhằm nâng cao tính tích cực, chủ động và sáng tạo của mỗi HS; tạo điều kiện thuận lợi cho việc giảng dạy của GV và việc tìm hiểu, tự học phù hợp với nhu cầu, hứng thú, năng lực, sở thích của từng HS. Do đó, CNTT là phƣơng tiện quan trọng góp phần thực hiện đƣợc những đổi mới căn bản về nội dung, phƣơng pháp dạy học (PPDH) nhằm hình thành ở HS năng lực làm việc, học tập một cách độc lập, thích ứng với xã hội hiện đại. 2 Việc ứng dụng CNTT trong giáo dục đã đƣợc Đảng và Nhà nƣớc ta đặc biệt quan tâm và trở thành một chính sách quan trọng thể hiện qua Chỉ thị số 40/CT-TW ngày 15/06/2004 của Ban chấp hành Trung ƣơng Đảng về việc xây dựng, nâng cao chất lƣợng đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục đã nêu rõ: “Tích cực áp dụng một cách sáng tạo các phương pháp tiên tiến, hiện đại, ứng dụng CNTT vào hoạt động dạy và học”; Thực hiện việc đổi mới giáo dục, những năm gần đây, khi xác định nhiệm vụ của toàn ngành, Bộ Giáo dục và Đào tạo (GD&ĐT) đều nhấn mạnh việc tăng cƣờng ứng dụng CNTT trong các hoạt động của nhà trƣờng nhƣ: Ngày 1/8/2006, Bộ trƣởng Bộ GD&ĐT ban hành Chỉ thị số 32/2006/CT-BGDĐT nêu rõ: “Tiếp tục đổi mới mạnh mẽ PPDH; tăng cường ứng dụng CNTT vào các hoạt động của nhà trường, nhất là ứng dụng trong giảng dạy, học tập và quản lý giáo dục”; đến ngày 31/7/2007, Bộ trƣởng Bộ GD&ĐT tiếp tục ban hành Chỉ thị số 39/2007/CT-BGDĐT nhấn mạnh: “Xây dựng và đưa vào khai thác hệ thống các công cụ phục vụ đổi mới phương pháp dạy và học, đánh giá HS: ứng dụng tin học để thực hiện giáo án điện tử, xây dựng ngân hàng đề kiểm tra tất cả các môn, xây dựng bộ tài liệu hướng dẫn GV đổi mới PPDH, phát triển và ứng dụng các phần mềm mô phỏng phục vụ dạy học”; đặc biệt trong năm học 2008 - 2009, Bộ GD&ĐT phát động là “Năm học ứng dụng CNTT” và ban hành Chỉ thị số 47/2008/CTBGDĐT ngày 13/8/2008 xác định: “Đẩy mạnh một cách hợp lý việc triển khai ứng dụng CNTT trong đổi mới phương pháp dạy và học ở từng cấp học. Ở những nơi có điều kiện thiết bị tin học, từng bước đổi mới PPDH thông qua việc thực hiện bài giảng điện tử, xây dựng cơ sở dữ liệu điện tử cho học tập từng môn, ứng dụng các phần mềm mô phỏng thí nghiệm, xây dựng thư viện bài giảng điện tử, hướng tới triển khai công nghệ học điện tử (e-Learning)”. Từ đó đến nay, hàng năm Bộ GD&ĐT đều ban hành văn bản hƣớng dẫn thực hiện nhiệm vụ CNTT theo từng năm học, gần đây Bộ GD&ĐT ban hành hƣớng dẫn số 4622/BGDĐT-CNTT ngày 20/09/2016 về việc hƣớng dẫn thực hiện nhiệm vụ CNTT năm học 2016 - 2017 nêu rõ việc triển khai ứng dụng CNTT đổi mới nội dung, phƣơng pháp dạy và học: “Ứng dụng CNTT đổi mới phương pháp dạy và học theo hướng GV tự tích hợp

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI

LÊ MINH CƯỜNG

RÌN LUYÖN CHO SINH VI£N §¹I HäC S¦ PH¹M

NGµNH TO¸N KÜ N¡NG øNG DôNG C¤NG NGHÖ TH¤NG TIN

TRONG D¹Y HäC ë TR¦êNG PHæ TH¤NG

LUẬN ÁN TIẾN SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC

HÀ NỘI - 2017

Trang 2

MỤC LỤC

Trang

MỞ ĐẦU 1

1 Lí do chọn đề tài 1

2 Mục đích nghiên cứu 5

3 Khách thể và đối tượng nghiên cứu 5

4 Giả thuyết khoa học 5

5 Nhiệm vụ nghiên cứu 6

6 Phạm vi nghiên cứu 6

7 Phương pháp nghiên cứu 6

8 Những luận điểm đưa ra bảo vệ 7

9 Những đóng góp của luận án 7

10 Cấu trúc của luận án 8

Chương 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 9

1.1 Tổng quan lịch sử nghiên cứu vấn đề 9

1.1.1 Những kết quả nghiên cứu trên thế giới 9

1.1.2 Những kết quả nghiên cứu ở Việt Nam 16

1.2 Kĩ năng ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học 23

1.2.1 Kĩ năng dạy học 23

1.2.2 Phân loại kĩ năng ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học 27

1.3 Kĩ năng ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học Toán của giáo viên Toán ở trường Trung học phổ thông 32

1.3.1 Quan niệm về kĩ năng ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học Toán 32 1.3.2 Một số kĩ năng ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học của giáo viên Toán ở trường Trung học phổ thông 33

1.3.2.1 Kĩ năng 1: Kĩ năng sử dụng phần mềm Toán học để tính toán 34

1.3.2.2 Kĩ năng 2: Kĩ năng sử dụng phần mềm Toán học để mô tả bài toán 36

1.3.2.3 Kĩ năng 3: Kĩ năng tương tác với mô hình bài toán trên máy tính 39

Trang 3

1.3.2.4 Kĩ năng 4: Kĩ năng ứng dụng công nghệ thông tin để hỗ trợ việc vận

dụng lí luận dạy học vào dạy học Toán 44

1.3.2.5 Kĩ năng 5: Kĩ năng ứng dụng công nghệ thông tin để đánh giá kết quả học tập môn Toán của học sinh 48

1.4 Rèn luyện kĩ năng ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học cho sinh viên Đại học Sư phạm ngành Toán 50

1.4.1 Quá trình rèn luyện kĩ năng ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học cho sinh viên Đại học Sư phạm ngành Toán 50

1.4.2 Đánh giá kĩ năng ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học cho sinh viên Đại học Sư phạm ngành Toán 52

1.5 Thực trạng rèn luyện kĩ năng ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học cho sinh viên Đại học Sư phạm ngành Toán ở trường Đại học 54

1.5.1 Triển khai khảo sát 54

1.5.1.1 Mục đích khảo sát 54

1.5.1.2 Đối tượng và thời gian khảo sát 54

1.5.1.3 Nội dung khảo sát 56

1.5.1.4 Phương pháp khảo sát 56

1.5.2 Kết quả khảo sát 57

1.5.2.1 Thực trạng kĩ năng ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học của giáo viên Toán ở trường Trung học phổ thông 57

1.5.2.2 Kết quả khảo sát ý kiến giảng viên ở trường Đại học 64

1.5.2.3 Kết quả khảo sát kĩ năng ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học của sinh viên Đại học Sư phạm ngành Toán 66

1.6 Tiểu kết chương 1 68

Chương 2 MỘT SỐ BIỆN PHÁP RÈN LUYỆN KĨ NĂNG ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ THÔNG TIN TRONG DẠY HỌC Ở TRƯỜNG PHỔ THÔNG CHO SINH VIÊN ĐẠI HỌC SƯ PHẠM NGÀNH TOÁN 70 2.1 Định hướng đề xuất các biện pháp rèn luyện kĩ năng ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học ở trường phổ thông cho sinh viên Đại học Sư phạm ngành Toán 70

Trang 4

2.2 Các biện pháp rèn luyện kĩ năng ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học ở

trường phổ thông cho sinh viên Đại học Sư phạm ngành Toán 71

2.2.1 Biện pháp 1: Xây dựng và trang bị cho sinh viên các kiến thức về sử dụng một số phần mềm nhằm hỗ trợ dạy học Toán 71

2.2.1.1 Mục đích của biện pháp 71

2.2.1.2 Nội dung và tổ chức thực hiện biện pháp 71

2.2.2 Biện pháp 2: Rèn luyện kĩ năng ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học cho sinh viên thông qua quá trình dạy học lí luận và phương pháp dạy học bộ môn Toán 87

2.2.2.1 Mục đích của biện pháp 87

2.2.2.2 Nội dung và tổ chức thực hiện biện pháp 88

2.2.3 Biện pháp 3: Tập dượt cho sinh viên ứng dụng công nghệ thông tin vào dạy học những nội dung, bài học cụ thể 108

2.2.3.1 Mục đích của biện pháp 108

2.2.3.2 Nội dung và tổ chức thực hiện biện pháp 109

2.2.4 Biện pháp 4: Tổ chức rèn luyện kĩ năng ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học Toán cho sinh viên trong môi trường phổ thông 123

2.2.4.1 Mục đích của biện pháp 123

2.2.4.2 Nội dung và tổ chức thực hiện biện pháp 124

2.3 Tiểu kết chương 2 129

Chương 3 THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 131

3.1 Khái quát về quá trình thực nghiệm sư phạm 131

3.1.1 Mục đích, thời gian, địa điểm và đối tượng thực nghiệm sư phạm 131

3.1.2 Nội dung thực nghiệm sư phạm 131

3.1.3 Phương pháp thực nghiệm sư phạm 133

3.2 Kết quả thực nghiệm sư phạm 135

3.2.1 Kết quả thực nghiệm sư phạm đối với nhóm thực nghiệm sư phạm 1 135

3.2.2 Kết quả thực nghiệm sư phạm đối với nhóm thực nghiệm sư phạm 2 137

3.2.3 Kết quả thực nghiệm sư phạm đối với nhóm thực nghiệm sư phạm 3 139

Trang 5

3.2.4 Kết quả thực nghiệm sư phạm đối với nhóm thực nghiệm sư phạm 4 146

3.3 Phân tích kết quả kiểm chứng các biện pháp đã đề xuất về rèn luyện kĩ năng ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học của sinh viên Đại học Sư phạm ngành Toán 148

3.4 Tiểu kết chương 3 149

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 150

DANH MỤC CÔNG TRÌNH CỦA TÁC GIẢ 152

TÀI LIỆU THAM KHẢO 154

PHỤ LỤC PL 1

Phụ lục 1 PL 1

Phụ lục 2 PL 2

Phụ lục 3 PL 3

Phụ lục 4 PL 4

Phụ lục 5 PL 6

Phụ lục 6 PL 9

Phụ lục 7 PL 10

Phụ lục 8 PL 11

Phụ lục 9 PL 12

Phụ lục 10 PL 13

Phụ lục 11 PL 14

Phụ lục 12 PL 16

Phụ lục 13 PL 22

Phụ lục 14 PL 23

Phụ lục 15 PL 24

Phụ lục 16 PL 25

Phụ lục 17 PL 27

Phụ lục 18 PL 31

Phụ lục 19 PL 32

Trang 6

DANH MỤC CÁC KÍ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT

CNTT&TT Công nghệ thông tin và truyền thông

Trang 7

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 1.1: Thang phân loại về lĩnh vực công nghệ của Tomei 14

Bảng 1.2 Các trường hợp xác định dấu của f(x) 40

Bảng 1.3 Kết quả xác định các trường hợp dấu của f(x) 40

Bảng 1.4: Danh sách một số trường THPT có thăm dò ý kiến GV Toán 55

Bảng 1.5: Danh sách một số trường Đại học có thăm dò ý kiến giảng viên thuộc bộ môn PPDH Toán 55

Bảng 1.6: Danh sách một số trường Đại học có thăm dò ý kiến SV ngành Sư phạm Toán học 55

Bảng 1.7: Kết quả dò ý kiến GV Toán ở trường THPT về sử dụng PMDH 57

Bảng 1.8: Kết quả thăm dò ý kiến GV ở trường THPT về các hình thức sử dụng PMDH 58

Bảng 1.9: Kết quả thăm dò ý kiến GV Toán ở trường THPT về “Ứng dụng CNTT vào dạy học Toán” 59

Bảng 1.10: Kết quả thăm dò ý kiến GV Toán ở trường THPT về mức độ cần thiết của các KN ứng dụng CNTT trong dạy học 60

Bảng 1.11: Kết quả thăm dò ý kiến GV Toán ở trường THPT về các cấp độ và biểu hiện của từng KN ứng dụng CNTT trong dạy học 62

Bảng 1.12: Kết quả thăm dò ý kiến GV Toán ở trường THPT về các tiêu chí đánh giá giờ dạy có ứng dụng CNTT 63

Bảng 1.13: Kết quả thăm dò ý kiến giảng viên về học phần “Ứng dụng CNTT trong dạy học Toán” trong chương trình đào tạo ngành Sư phạm Toán học 64

Bảng 1.14: Kết quả thăm dò ý kiến giảng viên về mức độ cần thiết của một số BP rèn luyện KN ứng dụng CNTT trong dạy học ở trường phổ thông cho SV ĐHSP ngành Toán 65

Bảng 1.15: Kết quả thăm dò ý kiến SV ĐHSP ngành Toán về sử dụng phần mềm 66

Bảng 1.16: Kết quả thăm dò ý kiến SV ĐHSP ngành Toán về hình thức tiếp cận với PMDH 67

Trang 8

Bảng 1.17: Kết quả thăm dò ý kiến SV ĐHSP ngành Toán tự đánh giá về cấp độ đạt

được với từng KN ứng dụng CNTT trong dạy học 68

Bảng 2.1: Bảng so sánh kết quả bài làm của hai lớp 120

Bảng 2.2: Bảng phân phối tần số và tần suất của bài kiểm tra trắc nghiệm 121

Bảng 2.3: Tốc độ (km/h) của 30 chiếc ô tô trên con đường A 127

Bảng 2.4: Tốc độ (km/h) của 30 chiếc ô tô trên con đường B 127

Bảng 3.1: Kết quả đánh giá cấp độ KN ứng dụng CNTT trong dạy học đối với nhóm TNSP 1 136

Bảng 3.2: Kết quả đánh giá cấp độ KN ứng dụng CNTT trong dạy học đối với nhóm TNSP 2 138

Bảng 3.3: Kết quả đánh giá cấp độ KN ứng dụng CNTT trong dạy học đối với nhóm TNSP 3 140

Bảng 3.4: Thông tin của 3 SV trong nghiên cứu trường hợp 141

Bảng 3.5: Kết quả điều tra SV về rèn luyện KN ứng dụng CNTT trong dạy học 144

Bảng 3.6: Kết quả theo dõi đối với SV Nguyễn Vĩnh Lộc 145

Bảng 3.7: Kết quả theo dõi đối với SV Đỗ Thanh Duy 145

Bảng 3.8: Kết quả theo dõi đối với SV Đoàn Thị Kiều Ngân 146

Bảng 3.9: Kết quả đánh giá cấp độ KN ứng dụng CNTT trong dạy học đối với nhóm TNSP 4 147

Bảng 3.10: Ý kiến của giảng viên về nội dung các BP đã đề xuất trong chương 2 của luận án 148

Trang 9

MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài

1.1 Ngày nay công nghệ thông tin (CNTT) đã trở thành một yếu tố then chốt làm thay đổi các hoạt động (HĐ) kinh tế và xã hội, trong đó có giáo dục Việc khai thác các phần mềm và truyền thông đa phương tiện đang được ứng dụng rộng rãi trong quá trình dạy học ở nhiều nước trên thế giới Tăng cường ứng dụng CNTT trong giáo dục sẽ tạo một bước chuyển cơ bản trong quá trình cập nhật kịp thời và thường xuyên các tiến bộ khoa học công nghệ vào nội dung chương trình đào tạo, đổi mới phương pháp giảng dạy để phát huy tính tích cực, chủ động của học sinh (HS), góp phần nâng cao chất lượng dạy học

Trong xu thế hội nhập quốc tế, một trong những đặc điểm nổi bật của xu hướng giáo dục hiện đại ở nước ta hiện nay là sự thay đổi trong mô hình giáo dục với quan điểm lấy HS làm trung tâm, dạy học theo hướng tiếp cận năng lực, và như vậy mọi tài nguyên, nguồn lực trong mỗi trường học cần tập trung vào việc tạo lập một môi trường học tập cởi mở, sáng tạo cho HS Một môi trường giáo dục hiện đại

sẽ cung cấp tối đa khả năng tự học, tìm kiếm thông tin cho mỗi HS Khi đó, CNTT trở thành công cụ hữu hiệu, cần thiết, phục vụ hiệu quả các hoạt động trong trường học

Đồng thời CNTT được ứng dụng trong dạy học để truyền tải kiến thức bằng kênh chữ, kênh tín hiệu, kênh hình tĩnh, hình động, âm thanh, với khối lượng thông tin chọn lọc, phong phú và có chất lượng cao; giúp việc học tập của HS được diễn ra sinh động, hấp dẫn, dễ tiếp thu và giáo viên (GV) có điều kiện dạy học phân hóa, cá thể hóa nhằm nâng cao tính tích cực, chủ động và sáng tạo của mỗi HS; tạo điều kiện thuận lợi cho việc giảng dạy của GV và việc tìm hiểu, tự học phù hợp với nhu cầu, hứng thú, năng lực, sở thích của từng HS Do đó, CNTT là phương tiện quan trọng góp phần thực hiện được những đổi mới căn bản về nội dung, phương pháp dạy học (PPDH) nhằm hình thành ở HS năng lực làm việc, học tập một cách độc lập, thích ứng với xã hội hiện đại

Trang 10

Việc ứng dụng CNTT trong giáo dục đã được Đảng và Nhà nước ta đặc biệt quan tâm và trở thành một chính sách quan trọng thể hiện qua Chỉ thị số 40/CT-TW ngày 15/06/2004 của Ban chấp hành Trung ương Đảng về việc xây dựng, nâng cao

chất lượng đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục đã nêu rõ: “Tích cực áp

dụng một cách sáng tạo các phương pháp tiên tiến, hiện đại, ứng dụng CNTT vào hoạt động dạy và học”; Thực hiện việc đổi mới giáo dục, những năm gần đây, khi

xác định nhiệm vụ của toàn ngành, Bộ Giáo dục và Đào tạo (GD&ĐT) đều nhấn mạnh việc tăng cường ứng dụng CNTT trong các hoạt động của nhà trường như: Ngày 1/8/2006, Bộ trưởng Bộ GD&ĐT ban hành Chỉ thị số 32/2006/CT-BGDĐT

nêu rõ: “Tiếp tục đổi mới mạnh mẽ PPDH; tăng cường ứng dụng CNTT vào các

hoạt động của nhà trường, nhất là ứng dụng trong giảng dạy, học tập và quản lý giáo dục”; đến ngày 31/7/2007, Bộ trưởng Bộ GD&ĐT tiếp tục ban hành Chỉ thị số

39/2007/CT-BGDĐT nhấn mạnh: “Xây dựng và đưa vào khai thác hệ thống các

công cụ phục vụ đổi mới phương pháp dạy và học, đánh giá HS: ứng dụng tin học

để thực hiện giáo án điện tử, xây dựng ngân hàng đề kiểm tra tất cả các môn, xây dựng bộ tài liệu hướng dẫn GV đổi mới PPDH, phát triển và ứng dụng các phần mềm mô phỏng phục vụ dạy học”; đặc biệt trong năm học 2008 - 2009, Bộ GD&ĐT

phát động là “Năm học ứng dụng CNTT” và ban hành Chỉ thị số BGDĐT ngày 13/8/2008 xác định: “Đẩy mạnh một cách hợp lý việc triển khai ứng

47/2008/CT-dụng CNTT trong đổi mới phương pháp dạy và học ở từng cấp học Ở những nơi có

điều kiện thiết bị tin học, từng bước đổi mới PPDH thông qua việc thực hiện bài giảng điện tử, xây dựng cơ sở dữ liệu điện tử cho học tập từng môn, ứng dụng các phần mềm mô phỏng thí nghiệm, xây dựng thư viện bài giảng điện tử, hướng tới triển khai công nghệ học điện tử (e-Learning)” Từ đó đến nay, hàng năm Bộ

GD&ĐT đều ban hành văn bản hướng dẫn thực hiện nhiệm vụ CNTT theo từng năm học, gần đây Bộ GD&ĐT ban hành hướng dẫn số 4622/BGDĐT-CNTT ngày 20/09/2016 về việc hướng dẫn thực hiện nhiệm vụ CNTT năm học 2016 - 2017 nêu

rõ việc triển khai ứng dụng CNTT đổi mới nội dung, phương pháp dạy và học:

“Ứng dụng CNTT đổi mới phương pháp dạy và học theo hướng GV tự tích hợp

Trang 11

CNTT vào từng môn học để nâng cao hiệu quả bài giảng GV sử dụng thành thạo phần mềm trình chiếu, kết hợp các phần mềm mô phỏng, thí nghiệm ảo và phần mềm dạy học (PMDH) Tránh lạm dụng CNTT trong dạy học hoặc ứng dụng một cách miễn cưỡng, lúng túng” Như vậy, CNTT đã được ứng dụng một cách sâu

rộng và có vai trò tích cực trong đổi mới giáo dục ở nước ta

1.2 Mục tiêu của giáo dục đại học được quy định trong Luật Giáo dục, tại

điều 39 có nội dung: “Đào tạo trình độ đại học giúp sinh viên (SV) nắm vững kiến

thức chuyên môn và có kĩ năng (KN) thực hành thành thạo, có khả năng làm việc độc lập, sáng tạo và giải quyết những vấn đề thuộc chuyên ngành được đào tạo”

[40]

Chuẩn nghề nghiệp GV trung học đã được Bộ GD&ĐT quy định theo Thông

tư số 30/2009/TT-BGDĐT ngày 22/10/2009 gồm 6 tiêu chuẩn với 25 tiêu chí cụ thể

về năng lực nghề nghiệp cần được bồi dưỡng cho người GV [5] Với sự phát triển của CNTT, những KN của GV Trung học phổ thông (THPT) trong thời đại mới đã thay đổi, điều này đòi hỏi Chuẩn nghề nghiệp của người GV cũng phải thay đổi HS cần KN công nghệ, dẫn đến GV cũng vừa cần được trang bị KN công nghệ, đồng thời vừa phải có khả năng hình thành, phát triển KN này cho HS Điều này có nghĩa bên cạnh những KN “truyền thống”, giờ đây GV cần được trang bị thêm KN mới:

KN ứng dụng CNTT trong dạy học Hiện nay, hạ tầng CNTT đã được quan tâm triển khai đến tất cả các cơ sở giáo dục trong cả nước, hoạt động ứng dụng CNTT trong đổi mới PPDH diễn ra sôi nổi với nhiều kết quả đáng ghi nhận, điều này đòi hỏi các trường Đại học phải quan tâm đến việc rèn luyện KN ứng dụng CNTT trong dạy học cho SV sư phạm để có khả năng thích ứng với các yêu cầu hoạt động chuyên môn ở trường phổ thông sau đào tạo

Chương trình phát triển ngành sư phạm và các trường Sư phạm giai đoạn

2011 - 2020 theo Quyết định số 6290/QĐ-BGDĐT ngày 13/12/2011 của Bộ trưởng

Bộ GD&ĐT đã xác định mục tiêu: Phát triển ngành sư phạm Việt Nam tiên tiến, hiện đại, đủ năng lực đáp ứng nhu cầu phát triển đội ngũ GV, cán bộ quản lý giáo dục của hệ thống giáo dục mầm non, giáo dục phổ thông, giáo dục thường xuyên và

Trang 12

trung cấp chuyên nghiệp giai đoạn 2011-2020 Xây dựng các trường Đại học Sư phạm (ĐHSP) trở thành các trung tâm sáng tạo, đổi mới căn bản và toàn diện của ngành sư phạm cả nước Tăng cường sự gắn kết giữa hệ thống các trường, khoa sư phạm với hệ thống giáo dục mầm non, giáo dục phổ thông và các cấp quản lý giáo dục để bảo đảm sự đồng bộ trong việc xây dựng và triển khai thực hiện chương trình giáo dục mầm non mới và chương trình giáo dục phổ thông sau năm 2015

1.3 Thực tiễn cho thấy chương trình đào tạo nghề cho SV sư phạm trong các trường Đại học hiện nay còn mang nặng tính lí luận, ít chú ý tới thực hành Do đó

SV ra trường thường lúng túng trong việc vận dụng lí luận vào thực tế giảng dạy ở trường phổ thông

Chương trình đào tạo nghiệp vụ sư phạm (NVSP) chủ yếu chỉ mới dừng lại ở việc hình thành các KN cơ bản như cách trình bày vấn đề, gợi mở vấn đề, sử dụng

hệ thống câu hỏi, trình bày bảng, xử lý tình huống sư phạm, Do đó, chương trình này tỏ ra không phù hợp với những biến đổi của khoa học, kỹ thuật và công nghệ Trong đó KN làm việc với sách giáo khoa (SGK), KN sử dụng phương tiện dạy học hiện đại, KN sử dụng phần mềm hỗ trợ dạy học, KN giao tiếp, KN tổ chức các hoạt động giáo dục, chưa được chú trọng

Trong những năm gần đây, một số trường Đại học đào tạo ngành sư phạm

bước đầu đưa nội dung “Ứng dụng CNTT trong dạy học” vào dạy cho SV trên cơ

sở một môn học hoặc một phần của một môn học Điều này giúp cho SV có những hiểu biết cơ bản về CNTT và khả năng ứng dụng vào dạy học Tuy nhiên, nội dung của học phần chủ yếu tập trung vào việc hướng dẫn sử dụng phần mềm phổ thông như PowerPoint, Violet, còn việc giới thiệu các phần mềm Toán học và phương pháp sử dụng chúng sao cho hiệu quả và việc rèn luyện các KN ứng dụng CNTT trong dạy học Toán chưa có nhiều nghiên cứu chuyên sâu Chính vì vậy việc nghiên

cứu đề xuất đưa ra nội dung của học phần “Ứng dụng CNTT trong dạy học Toán”

bám sát các hoạt động dạy học Toán và lồng ghép việc rèn luyện KN ứng dụng CNTT trong một số học phần như “PPDH môn Toán” và “Rèn luyện NVSP” trong việc đào tạo SV ngành Toán ở các trường Sư phạm là cần thiết

Trang 13

1.4 Vấn đề CNTT nói chung và ứng dụng CNTT vào dạy học nói riêng đã được nhiều nhà khoa học quan tâm nghiên cứu, đề cập hầu hết trong các tài liệu về PPDH, tài liệu chuyên khảo như: Nguyễn Bá Kim, Thái Duy Tuyên, Bùi Văn Nghị, Đào Thái Lai, Phạm Xuân Quế, Lê Công Triêm, Trần Vui, Trịnh Thanh Hải, Trần Trung, Đặng Thị Thu Thủy, Gần đây có luận án Tiến sĩ của Nguyễn Văn Hiền

(2009) nghiên cứu đề tài “Hình thành cho SV KN sử dụng CNTT để tổ chức bài dạy

sinh học”, luận án Tiến sĩ của Nguyễn Thị Chim Lang (2009) nghiên cứu đề tài

“Rèn luyện KN sử dụng CNTT - truyền thông nhằm phát triển KN học tập của HS cuối cấp tiểu học” Tuy nhiên, vấn đề ở trường Đại học cần chuẩn bị những gì và

với biện pháp (BP) nào để SV ĐHSP ngành Toán sau khi tốt nghiệp đáp ứng được Chuẩn nghề nghiệp GV trung học về lĩnh vực ứng dụng CNTT trong dạy học chưa được nghiên cứu một cách toàn diện

Từ những lí do trên chúng tôi chọn đề tài nghiên cứu của luận án là: “Rèn luyện cho sinh viên ĐHSP ngành Toán kĩ năng ứng dụng CNTT trong dạy học ở trường phổ thông”

2 Mục đích nghiên cứu

Nghiên cứu, xác định các KN ứng dụng CNTT trong dạy học của GV Toán ở trường THPT và đề xuất các BP sư phạm nhằm rèn luyện những KN này cho SV ĐHSP ngành Toán góp phần nâng cao KN dạy học cho SV

3 Khách thể và đối tượng nghiên cứu

3.1 Khách thể nghiên cứu

Quá trình rèn luyện KN dạy học cho SV ĐHSP ngành Toán ở trường Đại học

3.2 Đối tượng nghiên cứu

Quá trình rèn luyện KN ứng dụng CNTT trong dạy học ở trường phổ thông cho SV ĐHSP ngành Toán

4 Giả thuyết khoa học

Nếu xác định được các KN ứng dụng CNTT trong dạy học của GV Toán ở trường THPT và xây dựng được các BP sư phạm phù hợp thì sẽ rèn luyện được các

Trang 14

KN này cho SV Sư phạm ngành Toán trong quá trình đào tạo ở trường Đại học

5 Nhiệm vụ nghiên cứu

5.4 Đề xuất một số BP sư phạm nhằm rèn luyện các KN ứng dụng CNTT trong dạy học cho SV ĐHSP ngành Toán

5.5 Thực nghiệm sư phạm (TNSP) để kiểm tra tính cần thiết và khả thi của các BP sư phạm đã đề xuất trong luận án

6 Phạm vi nghiên cứu

Do điều kiện về thời gian và vấn đề ứng dụng CNTT trong dạy học Toán là rất rộng nên đề tài chỉ tập trung nghiên cứu việc rèn luyện KN ứng dụng CNTT trong dạy học Toán ở trường THPT cho SV ĐHSP ngành Toán thông qua quá trình giảng dạy các học phần “Ứng dụng CNTT trong dạy học Toán”, “PPDH môn Toán”, “Rèn luyện NVSP” và hoạt động kiến tập, thực tập sư phạm (TTSP)

7 Phương pháp nghiên cứu

7.1 Phương pháp nghiên cứu lí luận: Nghiên cứu tài liệu về ứng dụng

CNTT trong dạy học nói chung và KN ứng dụng CNTT trong dạy học Toán nói riêng Nghiên cứu tài liệu về chương trình đào tạo nghề và rèn luyện NVSP cho SV ĐHSP hiện nay

7.2 Phương pháp điều tra và quan sát: Sử dụng phiếu điều tra để tìm hiểu

về sự quan tâm của SV ĐHSP ngành Toán tới CNTT và việc rèn luyện KN ứng dụng CNTT vào dạy học Trao đổi với các chuyên gia, GV ở trường THPT và dự một số giờ dạy ở trường Đại học, trường THPT để tìm hiểu thực tế ứng dụng CNTT

Trang 15

trong dạy học Toán hiện nay

7.3 Phương pháp chuyên gia: Trao đổi, xin ý kiến đóng góp của GV Toán ở

trường THPT về hệ thống KN ứng dụng CNTT trong dạy học Đồng thời xin ý kiến của giảng viên ở một số trường Đại học về học phần Ứng dụng CNTT trong dạy học Toán, về đánh giá và tổ chức TNSP

7.4 Phương pháp TNSP: Tổ chức TNSP để xem xét tính cần thiết, khả thi

của các BP sư phạm được đề xuất và kiểm nghiệm giả thuyết khoa học Xử lý kết quả TNSP bằng phương pháp thống kê Toán học trong khoa học giáo dục

7.5 Phương pháp nghiên cứu trường hợp (case-study): Lựa chọn một số

trường hợp SV ĐHSP ngành Toán để theo dõi diễn biến quá trình rèn luyện, từ đó phân tích và có tác động sư phạm phù hợp để nâng cao KN ứng dụng CNTT trong dạy học cho SV

8 Những luận điểm đưa ra bảo vệ

8.1 Hệ thống KN ứng dụng CNTT trong dạy học ở trường phổ thông cho SV ĐHSP ngành Toán được xác định là có cơ sở khoa học cả về lí luận và thực tiễn, phù hợp với Chuẩn nghề nghiệp GV trung học

8.2 Kết quả nghiên cứu của đề tài hoàn toàn sử dụng trong việc rèn luyện

KN ứng dụng CNTT trong dạy học ở trường phổ thông cho SV ngành Toán ở các trường Đại học

9 Những đóng góp của luận án

9.1 Làm rõ quan niệm về KN ứng dụng CNTT trong dạy học Toán

9.2 Làm rõ một số KN ứng dụng CNTT trong dạy học của GV Toán ở trường THPT thông qua một hệ thống các tình huống và hoạt động trong dạy học Toán ở THPT

9.3 Phân tích rõ thực trạng KN ứng dụng CNTT trong dạy học Toán ở trường phổ thông và hoạt động rèn luyện các KN này cho SV Sư phạm ngành Toán

ở một số trường Đại học hiện nay

9.4 Đề xuất một số BP sư phạm nhằm rèn luyện KN ứng dụng CNTT trong dạy học cho SV Sư phạm ngành Toán theo hướng gắn với các hoạt động trong dạy

Trang 16

học Toán ở trường THPT

9.5 Hệ thống tài liệu hướng dẫn gồm có: Tài liệu hướng dẫn sử dụng phần mềm và tích hợp việc sử dụng phần mềm với một số PPDH tích cực, có thể sử dụng làm tài liệu tham khảo trong đào tạo và bồi dưỡng GV

10 Cấu trúc của luận án

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và kiến nghị, Danh mục công trình của tác giả, Tài liệu tham khảo và Phụ lục, nội dung của Luận án gồm có 3 chương:

Chương 1 Cơ sở lí luận và thực tiễn

Chương 2 Một số BP rèn luyện KN ứng dụng CNTT trong dạy học ở trường phổ thông cho SV ĐHSP ngành Toán

Chương 3 Thực nghiệm sư phạm

Trang 17

Chương 1

CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 1.1 Tổng quan lịch sử nghiên cứu vấn đề

1.1.1 Những kết quả nghiên cứu trên thế giới

Qua quá trình nghiên cứu, chúng tôi nhận thấy những nghiên cứu về ứng dụng CNTT nói chung và ứng dụng CNTT trong dạy học nói riêng là rất nhiều Các nghiên cứu ở nước ngoài liên quan đến việc đào tạo GV ứng dụng CNTT trong dạy học gồm ba hướng sau đây:

- Hướng thứ nhất: Nghiên cứu về các trở ngại (barriers) đối với việc đưa CNTT vào trường học

Để tăng cường và cải thiện việc tích hợp CNTT trong dạy học, việc xác định các rào cản đối với quá trình này là cần thiết, để làm cơ sở cho các giải pháp vượt qua Các nghiên cứu đã khẳng định, có 2 rào cản lớn nhất đối với việc ứng dụng CNTT trong dạy học đó là năng lực của GV (yếu tố chủ quan) và thiếu trang thiết bị (yếu tố khách quan) (Guha, 2003; Pelgrum, 2001) [90], [97]

Vấn đề thiết bị có thể giải quyết được từ nhiều nguồn hỗ trợ khác nhau, nhưng trước khi đầu tư thiết bị thì người GV phải được đào tạo về ứng dụng CNTT trong dạy học Người ta nhận ra rằng chiếc máy vi tính (MVT) để nơi góc lớp sẽ mãi nằm im nếu GV không biết cách sử dụng chúng trong dạy học như thế nào (Guillermo E Pedroni, 1996) [91] Hỗ trợ GV phải là bước đầu tiên trong quá trình đưa CNTT vào nhà trường Yếu tố GV ở đây gồm cả cán bộ quản lý và GV bộ môn

(Snoeyink R & Ertmer P., 2001) [100] “Tất cả thiết bị công nghệ đang có trong

trường học ngày nay sẽ chẳng có giá trị gì nếu GV không biết sử dụng chúng một cách có hiệu quả Chính các GV mới đem lại sự kỳ diệu, chứ không phải là chiếc MVT” (Craig Barrett, Nguyên Tổng Giám đốc tập đoàn Intel) Nghiên cứu của

Ertmer (1999) [87] đã chỉ ra, sự tin tưởng của GV về sự phù hợp giữa CNTT với môn họ dạy có thể làm tăng lên hoặc giảm đi rất nhiều những yếu tố trở ngại khác

Có những nghiên cứu chỉ ra rằng thậm chí có những GV vẫn quan niệm rằng công nghệ không làm tăng hiệu quả học tập (Yuen A & Ma, W., 2002) [105] Sự thiếu

Trang 18

thốn về thiết bị chỉ là cái cớ để che đi những cản trở có nguồn gốc chủ quan từ chính GV Quan niệm MVT là rất khó sử dụng đã gây cho GV sự thiếu tự tin và điều này còn gây khó khăn hơn rất nhiều so với việc thiếu phần cứng hay phần mềm (Snoeyink R & Ertmer P.) [100] Rõ ràng là thái độ đã ảnh hưởng đến việc ứng dụng CNTT của GV (Guha, 2003) [90] Nhưng có nghiên cứu cũng nêu rõ, kinh nghiệm từng sử dụng MVT sẽ có ảnh hưởng tích cực đến thái độ của GV Những kinh nghiệm tiêu cực (nagative) sẽ ảnh hưởng đến quan niệm về mức độ dễ sử dụng

và mức độ tương thích của CNTT trong dạy học Lo lắng về CNTT và ngại thay đổi

là yếu tố chính hạn chế GV ứng dụng CNTT trong dạy học Hay như Simonson và cộng sự đã khẳng định (dẫn theo J.J Hirschbuhl) [94]: thái độ tích cực và không lo

sợ đối với MVT là yêu cầu cần thiết đầu tiên cho việc học tập CNTT

Cho nên việc đào tạo GV về tích hợp CNTT trong dạy học là một giải pháp

cơ bản để giúp họ vượt qua rào cản có yếu tố chủ quan nêu trên Việc đào tạo giúp

GV có hiểu biết, có KN tốt hơn và như vậy giúp họ có thái độ và tinh thần tốt hơn Fabry D & Higgs, J (1997) [88] đã khẳng định chính vì thiếu đào tạo (cả chính quy

và tự đào tạo) là một nguyên nhân làm GV trở thành trở ngại của chính mình trong việc ứng dụng CNTT trong dạy học Tuy nhiên, trong khi thiếu sự đào tạo là một trong những nguyên nhân chính ảnh hưởng đến GV (Guha, 2003) [90], nghiên cứu cũng chỉ ra rằng có nhiều điểm yếu trong việc thiết kế và thực hiện các khóa đào tạo

GV về lĩnh vực này Bằng việc chỉ tập trung vào các KN CNTT đơn thuần, các khóa đào tạo đã không đạt được yêu cầu là tăng khả năng tích hợp CNTT vào dạy học cho GV (VanFossen, 1999) [103] Nhiều nghiên cứu về tích hợp CNTT vào dạy học cũng đã khẳng định cụ thể hơn về tính hiệu quả của học KN công nghệ Đó là việc đào tạo KN công nghệ theo hướng tích hợp với kiến thức chuyên môn của GV thì có hiệu quả cao hơn là chỉ tập huấn KN tin học đơn thuần cho họ Nghiên cứu khảo sát toàn quốc Hoa Kỳ đăng trên Tuần báo Giáo dục ngày 23/9/1999 về việc sử dụng công nghệ của GV, do tổ chức Nghiên cứu Thị trường Giáo dục tiến hành trên 15.000 GV cho thấy: chỉ có 25% GV được tập huấn KN CNTT đơn thuần là đủ tự tin ứng dụng vào giảng dạy và tỉ lệ này cũng đúng bằng với số GV chưa hề qua tập

Trang 19

huấn Ngược lại, có đến 37% GV được tập huấn theo dạng tích hợp công nghệ với chuyên môn của họ lại ứng dụng vào giảng dạy Một phân tích khác nữa cho thấy: 51% GV qua tập huấn KN tin học đơn thuần cảm thấy tự tin hơn khi soạn bài, trong khi có đến 65% số GV được tập huấn KN CNTT theo cách tích hợp với chuyên môn cảm thấy việc soạn bài đạt được hiệu quả cao hơn Bên cạnh đó, theo báo cáo của Hội đồng phát triển nhân lực quốc gia Hoa Kỳ thì bất cứ khóa tập huấn nào cho

GV sẽ đạt được hiệu quả hơn khi có các tính chất như: tính chất gắn vào công việc; liên quan chặt chẽ với chuyên môn; tính lâu dài và liên tục; tập trung vào các hoạt động trong lớp học và có môi trường cộng tác tốt để có nhiều cơ hội cho việc học tập lẫn nhau

- Hướng thứ hai: Nghiên cứu về đào tạo CNTT cho SV sư phạm (pre-service teacher)

Đối với đào tạo giáo sinh ở các trường Sư phạm thì vấn đề cơ sở hạ tầng cũng là khó khăn (Murphy & Greenwood, 1998) [95] Nhưng có lẽ khó khăn lớn hơn là các giảng viên hướng dẫn họ lại có ít kinh nghiệm sử dụng CNTT trong dạy học để có thể thực hiện các chương trình đào tạo (Simpson và cộng sự 1999) [99]

Và như một hậu quả, các giáo sinh thiếu đi các mô hình mẫu cho họ về việc tích hợp CNTT trong dạy học, đưa đến một mâu thuẫn giữa những mong đợi đối với họ với thực tế hoạt động Việc sử dụng CNTT trong quá trình dạy học của các giảng viên là yếu tố quan trọng đóng góp cho việc hình thành khả năng ứng dụng CNTT cho SV sư phạm Hay nói theo Mehlinger and Powers (2002) (dẫn theo Engin

Kursun) [86], “GV sẽ dạy theo cách mà họ đã được dạy” Điều này cũng đúng với

nghiên cứu của Cuckle và cộng sự 2000 [84] khi nghiên cứu ảnh hưởng của đào tạo phổ thông tới khả năng sử dụng CNTT của giáo sinh sau này Nghiên cứu cho thấy nếu SV sư phạm đã bị “vỡ mộng” (disillusioned) về việc sử dụng CNTT của GV khi ở phổ thông thì điều này có thể ảnh hưởng lâu dài tới thái độ tiêu cực của họ Một giải pháp khác cũng được đưa ra trong việc phát triển cho GV tương lai năng lực công nghệ đó là trang bị máy tính xách tay cho SV Một nghiên cứu ở Hoa Kỳ

đã cho thấy những SV được trang bị thì nhận thức của họ về PMDH, về khả năng

Trang 20

tích hợp CNTT trong dạy học và sự chia sẻ kinh nghiệm giữa các SV tăng lên Song

rõ ràng giải pháp này không phải ở đâu cũng làm được Nghiên cứu của Cher Ping Lim (2006) [83] cũng chỉ rõ việc đào tạo các giáo sinh cũng không thể kỳ vọng họ

có đầy đủ năng lực ứng dụng CNTT trong dạy học ngay, sự đào tạo nối tiếp sau tốt nghiệp (khi họ là GV phổ thông) là cần thiết Về những nguyên tắc đào tạo KN CNTT cho giáo sinh, Hiệp hội CNTT và đào tạo GV (The Society for Information Technology and Teacher Education - SITE - 2002) (Dẫn theo UNESCO) [102] đã khẳng định, đó là: công nghệ cần được hòa trộn (infused) hoàn toàn vào chương trình đào tạo; công nghệ cần được giới thiệu trong bối cảnh; SV cần được trải nghiệm môi trường học tập đổi mới với sự hỗ trợ của công nghệ trong chương trình đào tạo của họ

- Hướng thứ ba: Nghiên cứu về đào tạo CNTT cho GV phổ thông (in-service teacher)

Đối với GV phổ thông các nghiên cứu cho thấy ngoài ảnh hưởng của thiết bị thì người quản lý (hiệu trưởng) có ảnh hưởng mạnh đến sự tiến bộ của GV (Ofsted, 2002) [96] Nghiên cứu cũng nhấn mạnh tầm quan trọng của việc hỗ trợ, chia sẻ ngang hàng (peer support) giữa các đồng nghiệp đối với việc sử dụng CNTT của họ Những mối quan hệ đồng nghiệp giữa các GV rất có giá trị đối với việc phát triển chuyên môn Trong nghiên cứu của Granger (2002) [89] cho thấy, các GV đã nhận được rất nhiều trong việc học tập không chính thống này Các thảo luận trong công việc, sự hợp tác với đồng nghiệp thì hữu ích hơn rất nhiều so với các khóa đào tạo chính thống Các mối quan hệ hợp tác giữa các GV có thể phát triển thành một cộng đồng chuyên môn có tính hỗ trợ cao đối với GV khi sử dụng công nghệ trong dạy học Có một mối quan hệ hai chiều giữa việc sử dụng CNTT hiệu quả với các cộng đồng chuyên môn này (Dexter, 2002) [85]: công nghệ làm cho việc hợp tác được dễ hơn và sự hợp tác khuyến khích việc ứng dụng CNTT vào dạy học Hơn nữa việc chia sẻ giữa các đồng nghiệp này chính là thực hiện mô hình học tập “kịp thời” (“Just in time” learning) và nó hiệu quả hơn so với mô hình “phòng khi” (“Just in case” learning) Mô hình “phòng khi” nghĩa là trang bị cho học viên KN mà có thể

Trang 21

họ cần dùng sau này (xong cũng có thể không cần dùng), còn mô hình “kịp thời” là chỉ trang bị KN khi họ có nhu cầu sử dụng KN đó Song, trong nghiên cứu của Granger (2002) [89] cũng đã khẳng định nếu chỉ sử dụng mô hình chia sẻ đồng nghiệp không thôi thì không đủ GV cần phải có các cơ hội được đào tạo chính thống và có thời gian để họ tự khám phá những gì họ đã được học Anne (1998) (dẫn theo J.J Hirschbuhl) [94] đã nghiên cứu và đưa ra 6 giai đoạn để đào tạo KN CNTT cho GV, đó là: Giai đoạn 1: nhận thức (người học biết về đối tượng học); Giai đoạn 2: học tập quá trình (làm quen sử dụng); Giai đoạn 3: hiểu và vận dụng quá trình; Giai đoạn 4: quen thuộc và tự tin; Giai đoạn 5: vận dụng trong bối cảnh khác; Giai đoạn 6: vận dụng sáng tạo trong bối cảnh mới Các cơ hội đào tạo phải định hướng theo các đòi hỏi cụ thể của từng môn học (Ofsted, 2002) [96] và nội dung phải tập trung vào các KN sử dụng PPDH trong bối cảnh của môn học (Selinger, 1998) [98]

Theo Hiệp hội Quốc tế về công nghệ trong giáo dục của Hoa Kỳ (International Society for Technology in Education - ISTE) [93], có 6 chuẩn công nghệ của GV như sau:

(1) GV phải thể hiện được sự hiểu biết về khái niệm và vận hành công nghệ (2) GV biết lập kế hoạch và thiết kế môi trường học tập hiệu quả và trải nghiệm những sự hỗ trợ của công nghệ (biết thiết kế các cơ hội học tập thích hợp, linh động mà có ứng dụng các PPDH với sự hỗ trợ của công nghệ để hỗ trợ những nhu cầu đa dạng của người học; biết tìm và xác định các nguồn tài nguyên công nghệ và đánh giá về tính chính xác của các nguồn tài nguyên này; biết lập kế hoạch quản lý việc học tập của HS trong môi trường giàu công nghệ; )

(3) GV thực hiện thành thạo các kế hoạch của chương trình bao gồm các cách tiếp cận và phương pháp để ứng dụng công nghệ nhằm tối ưu hóa việc học tập của HS

(4) GV biết vận dụng công nghệ để thực hiện nhiều BP, phương pháp kiểm tra đánh giá HS một cách hiệu quả

(5) GV biết sử dụng công nghệ để nâng cao nghiệp vụ và khả năng chuyên

Trang 22

môn (GV sử dụng các nguồn tài nguyên công nghệ để giúp rèn luyện chuyên môn

và năng lực học tập suốt đời; sử dụng công nghệ để trao đổi và hợp tác với đồng nghiệp, phụ huynh và cả cộng đồng để khuyến khích HS học tập; )

(6) GV phải có hiểu biết về các vấn đề xã hội, đạo đức, pháp luật và nhân văn liên quan đến việc sử dụng công nghệ trong dạy học và vận dụng chúng trong thực tiễn giảng dạy

Đặc biệt, để đánh giá về mức độ hiểu biết và sử dụng công nghệ của GV và

HS, Tomei (2005) [101] đã nghiên cứu và đưa ra thang phân loại về lĩnh vực công

nghệ (The Taxonomy for the Technology Domain) và được trình bày ở bảng 1.1

Bảng 1.1: Thang phân loại về lĩnh vực công nghệ của Tomei

Mức 1: Có kiến thức

(Hiểu về công nghệ)

Mức độ hiểu biết tối thiểu cần phải có với GV và HS

về công nghệ, MVT, các PMDH, bộ phần mềm Office, Internet và biết được giá trị của các công cụ này đối với dạy học

(Dạy với công nghệ)

Tạo ra được tài liệu hoàn toàn mới dựa trên công nghệ, kết hợp được nhiều công nghệ khác nhau để dạy

Mức 6: Nghiên cứu về

công nghệ (Technology)

Khả năng đánh giá được những tác động nhiều mặt, những giá trị chung và những ảnh hưởng xã hội của việc sử dụng công nghệ và những ảnh hưởng của nó tới dạy

Trang 23

Như vậy, các nghiên cứu trên thế giới liên quan đến việc đào tạo KN sử dụng CNTT cho GV đã được đề cập theo nhiều góc độ khác nhau Các nghiên cứu đều khẳng định việc trang bị KN sử dụng CNTT cho GV là cần thiết và quan trọng Đối với đào tạo SV sư phạm, việc làm mẫu của giảng viên có ảnh hưởng lớn tới SV Đối với GV phổ thông, học tập “kịp thời”, chia sẻ đồng nghiệp là mô hình mang lại hiệu quả cao đối với việc thúc đẩy họ ứng dụng CNTT trong dạy học Đào tạo giáo sinh

và GV phổ thông là hai giai đoạn thống nhất, có tác dụng tương hỗ lẫn nhau Các nghiên cứu khẳng định mô hình đào tạo GV bộ môn nếu chỉ tập trung vào hình thành các KN CNTT thì không cho hiệu quả cao mà cần tích hợp với PPDH theo đặc thù từng môn học Trong một phân tích của UNESCO về bài học kinh nghiệm khi thiết kế nội dung tập huấn CNTT cho GV (bài học của Thái Lan) cũng đã viết:

“Không có khóa học nào trong số này là cụ thể cho bất cứ môn học nào Nhiều GV

không thể ứng dụng những gì họ đã được học vào thực tế giảng dạy của họ” [102]

Và thực tế, cũng chưa có nghiên cứu nào đề cập sâu đến nội dung, giải pháp hình thành KN CNTT cho GV theo từng chuyên ngành nói chung và cho GV ngành Toán học nói riêng

Bên cạnh đó (dẫn theo [20]), trong quá trình nghiên cứu về sử dụng máy tính điện tử để dạy học Toán, việc khai thác đồ họa trên máy tính điện tử được đặc biệt quan tâm vì đây là công cụ rất hữu ích trong việc biểu diễn các mô hình Toán học David Tall đã sử dụng môi trường đồ họa máy tính để dạy học Toán từ năm 1980 Kenneth Ruthven bắt đầu lựa chọn, nghiên cứu, phát triển sử dụng đồ họa của máy tính vào dạy học Toán từ năm 1986 Theo xu hướng này, Morgan Jones, McLeay (1996), Crawford, Morrison (1998) đã ứng dụng đồ họa trong dạy học Toán Về vai trò của đồ họa trong dạy học Toán cho HS từ 11 đến 16 tuổi cũng đã được Arter (1993), Ruthven (1992), Graham, Galpin (1998) khẳng định Theo Colette Laborde, máy tính điện tử có khả năng tạo ra môi trường kích thích HS hoạt động tìm tòi khám phá và từ đó hình thành kiến thức mới

John Mason đã khẳng định rằng các PMDH Toán với một hệ thống công cụ

có khả năng giải toán và giúp HS nghiên cứu các đối tượng để tìm ra các tính chất

Trang 24

Toán học Rosamund Sutherland khi nghiên cứu dạy học Toán với phần mềm Logo

đã đúc kết rằng: Điều quan trọng nhất là khi HS sử dụng ngôn ngữ, kí hiệu máy tính thì sẽ phát triển khả năng khái quát hóa Toán học Wan Fatimah Bt Wan Ahmad, Halimah Badioze Zaman cho rằng bằng việc sử dụng máy tính điện tử trong dạy học Toán có thể cung cấp nhiều cách học khác nhau, đặc biệt là tổ chức học nhóm

và PMDH đã giúp cho khả năng suy luận Toán học của HS đạt hiệu quả rất cao Nhóm tác giả còn dẫn lời của Niess (1994) cho rằng, khi sử dụng máy tính mô phỏng các vấn đề và điều kiện trong thế giới thực thì HS có thể học rất nhiều tri thức mới, củng cố kiến thức và nhận thấy được tầm quan trọng của kiến thức đó Tringa (1923) khẳng định, những kiến thức hình học mà HS đạt được khi sử dụng máy tính điện tử sẽ cao hơn so với PPDH thông thường Nguyên nhân chính của sự tiến bộ là nhờ việc HS sử dụng các phần mềm Toán học

1.1.2 Những kết quả nghiên cứu ở Việt Nam

Bên cạnh việc ban hành Chuẩn nghề nghiệp GV trung học thì Bộ nội vụ cũng ban hành Thông tư liên tịch 23/2015/TTLT-BGDĐT-BNV ngày 16 tháng 09 năm

2015 về việc quy định mã số, tiêu chuẩn chức danh nghề nghiệp GV THPT công lập [7] Thông tư quy định GV THPT hạng I, II, III đều phải có trình độ tin học đạt chuẩn KN sử dụng CNTT cơ bản theo quy định tại Thông tư số 03/2014/TT-BTTTT ngày 11 tháng 3 năm 2014 của Bộ Thông tin và Truyền thông quy định Chuẩn KN sử dụng CNTT [8] Thông tư này quy định chuẩn KN sử dụng CNTT bao gồm 06 mô đun về chuẩn KN sử dụng CNTT cơ bản và 09 mô đun về chuẩn

KN sử dụng CNTT nâng cao Cụ thể:

(1) Chuẩn KN sử dụng CNTT cơ bản gồm 06 mô đun sau:

a) Mô đun KN 01 (Mã IU01): Hiểu biết về CNTT cơ bản

b) Mô đun KN 02 (Mã IU02): Sử dụng máy tính cơ bản

c) Mô đun KN 03 (Mã IU03): Xử lý văn bản cơ bản

d) Mô đun KN 04 (Mã IU04): Sử dụng bảng tính cơ bản

đ) Mô đun KN 05 (Mã IU05): Sử dụng trình chiếu cơ bản

e) Mô đun KN 06 (Mã IU06): Sử dụng Internet cơ bản

Trang 25

(2) Chuẩn KN sử dụng CNTT nâng cao gồm 09 mô đun sau:

a) Mô đun KN 07 (Mã IU07): Xử lý văn bản nâng cao

b) Mô đun KN 08 (Mã IU08): Sử dụng bảng tính nâng cao

c) Mô đun KN 09 (Mã IU09): Sử dụng trình chiếu nâng cao

d) Mô đun KN 10 (Mã IU10): Sử dụng hệ quản trị cơ sở dữ liệu

đ) Mô đun KN 11 (Mã IU11): Thiết kế đồ họa hai chiều

e) Mô đun KN 12 (Mã IU12): Biên tập ảnh

g) Mô đun KN 13 (Mã IU13): Biên tập trang thông tin điện tử

h) Mô đun KN 14 (Mã IU14): An toàn, bảo mật thông tin

i) Mô đun KN 15 (Mã IU15): Sử dụng phần mềm kế hoạch dự án

Trong Báo cáo tổng kết đề tài “Biên soạn chương trình và chuẩn kiến thức,

KN về công nghệ thông tin và truyền thông (CNTT&TT) cho SV sư phạm” năm

2013 của Nguyễn Anh Dũng [14] đã công bố một số kết quả nghiên cứu sau: Nghiên cứu cơ sở lí luận về tiếp cận xây dựng chuẩn năng lực đầu ra về CNTT&TT của SV sư phạm, tổ chức nghiên cứu kinh nghiệm quốc tế về thiết kế chuẩn năng lực CNTT&TT trong dạy học của người GV; thực tiễn ứng dụng CNTT&TT của

GV phổ thông, thực tiễn đào tạo về CNTT&TT ở sư phạm, nhu cầu đào tạo, bồi dưỡng về CNTT&TT của SV sư phạm Đề xuất chuẩn đào tạo CNTT&TT cho SV

sư phạm, đề xuất chương trình khung đào tạo về CNTT&TT cho SV sư phạm Cụ thể:

- Chuẩn gồm các tiêu chí về Tin học cơ sở và chuẩn về ứng dụng CNTT&TT trong dạy học; bao gồm 10 tiêu chí, với mỗi tiêu chí đều xác định 3 mức thực hiện: mức 1 (tối thiểu), mức 2 (khá), mức 3 (tốt)

- Chương trình khung thiết kế theo các mô đun, mô đun có các phần cứng bắt buộc cho tất cả các chuyên ngành, từng khối ngành; có phần mềm dành cho từng chuyên ngành lựa chọn phù hợp; gồm khối Tin học cơ sở và Tin học chuyên ngành

Gần đây có đề án của Đại học Thái Nguyên [12] quy định “Chuẩn trình độ

CNTT cán bộ công chức, giảng viên và SV Đại học Thái Nguyên (giai đoạn 2015)” nhằm mục tiêu:

Trang 26

2013 Xây dựng và tổ chức thực hiện lộ trình chuẩn hóa về CNTT theo chuẩn quốc tế cho cán bộ, công chức và giảng viên của Đại học Thái Nguyên, nhằm nâng cao trình độ và KN khai thác, ứng dụng CNTT trong công tác quản lý, điều hành và đổi mới PPDH

- Đề xuất giải pháp, lộ trình áp chuẩn đầu ra môn tin học đại cương cho SV

các trường không đào tạo CNTT của Đại học Thái Nguyên, tiếp cận với chuẩn quốc

tế, nhằm đảm bảo cam kết chất lượng SV ra trường và đáp ứng đòi hỏi của các tổ

chức, đơn vị sử dụng lao động qua đào tạo

Bên cạnh những kết quả nghiên cứu trên thế giới, ở Việt Nam cũng có nhiều kết quả nghiên cứu về ứng dụng CNTT trong dạy học Phổ biến là hướng nghiên cứu khai thác, sử dụng các phần mềm ứng dụng trong giảng dạy các bộ môn Bên cạnh đó là các nghiên cứu thiết kế các phần mềm hỗ trợ kiểm tra đánh giá, thí nghiệm ảo,… Hướng nghiên cứu lí luận cũng chủ yếu bàn về các vấn đề chung, ứng dụng CNTT trong đổi mới dạy học như: Nguyễn Bá Kim [29], Đào Thái Lai [33], Nguyễn Tích Lăng (2000) [35], Thái Văn Thành (1999) [59], Lê Hồng Sơn (2002) [55], Nguyễn Sỹ Đức (2001) [13], Lê Công Triêm (2004) [64], Trịnh Thanh Hải (2006) [17], Trần Khánh (2007) [27], Trần Trung (2009) [67], Nguyễn Văn Hồng (2012) [25],

Năm 2006, Đào Thái Lai [33] đã thực hiện đề tài trọng điểm cấp Bộ: “Ứng

dụng CNTT trong dạy học ở trường phổ thông Việt Nam” đã đưa ra các tiêu chí

đánh giá PMDH, xác định yêu cầu về kịch bản sư phạm của PMDH, các bước tổ chức xây dựng PMDH Đề xuất các mức độ ứng dụng CNTT trong dạy học ở phổ thông Đề xuất tiêu chí đánh giá một giờ học có ứng dụng CNTT Đề xuất một mô hình ứng dụng CNTT tại cơ sở trường học phổ thông

Tiếp nối hướng nghiên cứu này trong chuyên ngành Lí luận và PPDH môn

Toán là luận án của Trịnh Thanh Hải (2006) [17] về đề tài “Ứng dụng CNTT vào

dạy học hình học lớp 7 theo hướng tích cực hóa hoạt động học tập của HS” nghiên

cứu việc sử dụng phần mềm Cabri Geometry trong dạy học hình học cho HS Trung học cơ sở với những tình huống dạy học cụ thể; luận án của Trần Trung (2009) [67]

Trang 27

về đề tài “Ứng dụng CNTT&TT hỗ trợ dạy học hình học theo hướng tích cực hóa

hoạt động nhận thức của HS dự bị đại học dân tộc” đã nghiên cứu ứng dụng

e-learning trong dạy học hình học cho HS; luận án của Nguyễn Văn Hồng (2012) [25]

về đề tài “Ứng dụng một số yếu tố của e-learning trong dạy học Toán lớp 12 góp

phần phát triển năng lực tự học cho HS” đã thiết kế một số khóa học phân nhánh

môn Toán lớp 12 để hỗ trợ HS tự học,…

Bên cạnh đó, cũng có một số nghiên cứu bàn về tầm quan trọng của việc đào tạo KN CNTT cho GV Trần Khánh (2007) [27], cũng đã nêu: Nhìn chung, hiệu quả của việc ứng dụng CNTT trong giáo dục không chỉ phụ thuộc vào điều kiện cơ sở vật chất hiện có của cơ sở đào tạo mà còn dựa trên KN cần thiết của người sử dụng – trong trường hợp này là GV Việc định hướng nội dung đào tạo, bồi dưỡng năng lực sử dụng, ứng dụng CNTT vào dạy học cho GV tiểu học cũng đã được Ngô Quang Sơn và cộng sự (2005) [56] đề cập đến Các tác giả đã đề xuất nội dung đào tạo về CNTT cho GV tiểu học ở trường Sư phạm với 4 đơn vị học trình, gồm: giới thiệu và hướng dẫn sử dụng trang thiết bị công nghệ; hướng dẫn khai thác một số phần mềm liên quan đến chuyên ngành Tác giả Hoàng Mai Lê (2005) [36] cũng bàn đến thực trạng và việc bồi dưỡng GV tiểu học về ứng dụng CNTT trong dạy học Tác giả Mai Văn Trinh (2003) [66], cũng đã bàn đến việc ứng dụng CNTT đổi mới PPDH và đào tạo GV Vật lí Tác giả cũng đã đề xuất đưa vào chương trình đào tạo GV Vật lí một số học phần liên quan đến CNTT Theo tác giả, ngoài phần Tin học đại cương đã học thì cần đưa vào thêm một số học phần như: Tin học ứng dụng trong Vật lí (60 tiết); Phát triển PPDH Vật lí với MVT (45 tiết); Tin học văn phòng (60 tiết) Kết hợp với thay đổi chương trình thì tác giả cũng đề nghị phải xây dựng phòng học đa phương tiện

Trong đào tạo GV dạy học môn Toán, vấn đề khai thác ứng dụng của phần mềm Toán học cũng được nhóm tác giả Trịnh Thanh Hải và cộng sự [20] công bố

giáo trình “Giáo trình ứng dụng tin học trong dạy học Toán” Nội dung của giáo

trình tập trung vào việc hướng dẫn sử dụng và khai thác một số phần mềm trong dạy học Toán ở bậc Đại học và THPT Nhóm tác giả Hoàng Trọng Thái và cộng sự

Trang 28

[57] đã công bố giáo trình “Giáo trình sử dụng phần mềm Toán học” giới thiệu một

số ứng dụng máy tính cùng các thiết bị tin học - điện tử vào dạy học, đồng thời giới thiệu một số phần mềm thông dụng được dùng trong việc nghiên cứu Toán học và biên soạn bài giảng như: Maple, Mathcad, Sketchpad dùng trong Đại số, Giải tích

và Hình học; PowerPoint trong biên soạn bài giảng, Nhóm tác giả Trần Trung và cộng sự [69] cũng chỉ ra khả năng ứng dụng CNTT vào dạy học môn Toán ở trường phổ thông gồm: Đổi mới PPDH, vận dụng Toán học vào thực tiễn, tạo môi trường dạy học mới giàu thông tin, đổi mới kiểm tra đánh giá kết quả học tập môn Toán của HS Bên cạnh đó, nhóm tác giả Trần Vui và các cộng sự đã xuất bản bộ tài liệu (có kèm CD) về thiết kế các mô hình toán tích cực với phần mềm Geometer’s Sketchpad [77], [78], [79], [80], [81]

Trong đào tạo GV Vật lí, Phạm Xuân Quế (2007) [47] cũng đã viết giáo trình

“Giáo trình Tin học trong dạy học Vật lí” Giáo trình gồm 2 chương, chương 1: Căn bản về phần mềm PowerPoint và các ứng dụng của nó trong dạy học Vật lí; chương 2: Các ứng dụng của MVT và phần mềm trong dạy học Vật lí Sau mỗi chương đều

có bài tập ôn tập lí thuyết và thực hành Theo hướng sử dụng Tin học trong dạy học Vật lí tác giả Lê Công Triêm [64] cũng đã viết một tài liệu tham khảo năm 2004

Nguyễn Trọng Thọ (2002) [61], cũng đã biên soạn cuốn sách “Ứng dụng tin học

trong giảng dạy hóa học” Cuốn sách gồm các chương: chương 1: Công nghệ giáo

dục (đề cập một cách khái quát về quan hệ giữa giáo dục-công nghệ và ảnh hưởng của CNTT trong dạy và học); các chương 2, 3, 4, 5 giới thiệu về các phần mềm hỗ trợ dạy và học Hóa học (phần mềm viết công thức hóa học, phần mềm biểu diễn phân tử…); chương 6 bàn về khả năng phát triển ứng dụng công nghệ trong dạy học Như vậy, ở nước ta vấn đề đào tạo GV các KN sử dụng CNTT cũng đã được quan tâm trong dạy học một số chuyên ngành Nhìn chung, các đề xuất đều mong muốn dành một phần thời luợng đáng kể trong khung chương trình đào tạo GV để đào tạo KN ứng dụng CNTT trong dạy học bộ môn

Như vậy: Việc xác định các KN ứng dụng CNTT trong dạy học đã được

nhiều chuyên gia trong nước quan tâm đề cập, tuy nhiên chưa có tác giả đề cập một

Trang 29

cách chi tiết, làm rõ từng biểu hiện của KN ứng dụng CNTT trong dạy học Toán ở trường THPT

Vấn đề rèn luyện năng lực sư phạm cho SV ngành Toán đã được nghiên cứu

trong một số đề tài luận án như của Nguyễn Dương Hoàng (2009) [24] về đề tài “Tổ

chức hoạt động dạy học bộ môn PPDH Toán theo định hướng tăng cường rèn luyện

kĩ năng dạy học cho SV” đã làm rõ khái niệm kĩ năng dạy học, KN dạy học Toán và

đề xuất hệ thống KN dạy học Toán ở THPT; tác giả đã đề xuất các nội dung tổ chức hoạt động dạy học bộ môn PPDH Toán theo định hướng tăng cường rèn luyện kĩ năng dạy học cho SV Luận án đề ra 5 giải pháp nhằm góp phần tổ chức có hiệu quả hoạt động dạy học bộ môn PPDH Toán theo định hướng tăng cường rèn luyện kĩ năng dạy học cho SV

Luận án của Hoàng Ngọc Anh (2011) với đề tài “Sử dụng đa phương tiện

trong môn PPDH Toán ở trường ĐHSP” đã tổng quan về những tác động của đa

phương tiện trong dạy học và đề xuất một số BP sử dụng đa phương tiện nâng cao hiệu quả dạy học môn PPDH Toán ở trường ĐHSP [3]

Luận án của Nguyễn Chiến Thắng (2012) [58] về đề tài “Các BP rèn luyện

KN nghề nghiệp cho SV sư phạm ngành Toán thông qua việc dạy học các môn Toán

sơ cấp và PPDH Toán ở trường Đại học” đã hệ thống hóa được một số vấn đề về

đào tạo SV ngành Sư phạm Toán học ở bậc đại học; Đưa ra một quan niệm về KN nghề nghiệp cần hình thành cho SV ngành Sư phạm Toán học; Đề xuất được các thành phần cơ bản của KN nghề nghiệp cần rèn luyện cho SV ngành Sư phạm Toán học thông qua dạy học các môn Toán sơ cấp và PPDH Toán ở bậc đại học; Xây dựng được 6 BP sư phạm rèn luyện KN nghề nghiệp cho SV ngành Sư phạm Toán học thông qua dạy học các môn Toán sơ cấp và PPDH Toán ở bậc đại học Trong

đó có BP thứ 3 là: tăng cường giúp SV tiếp cận các phương tiện dạy học hiện đại, đặc biệt là học cách sử dụng khai thác các phần mềm tin học (Geometer’s Sketchpad, Cabri và Maple) và soạn giáo án điện tử trên PowerPoint nhằm hỗ trợ dạy học hiệu quả môn Toán ở trường phổ thông

Luận án của Đỗ Thị Trinh (2013) với đề tài “Phát triển năng lực dạy học

Trang 30

Toán cho SV các trường Sư phạm” đưa ra BP phát triển năng lực vận dụng

CNTT&TT trong dạy học thông qua tự học, thảo luận nhóm [65]

Trong nghiên cứu về rèn luyện KN sử dụng CNTT&TT có luận án của

Nguyễn Thị Chim Lang (2009) [34] “Rèn luyện KN sử dụng CNTT – truyền thông

nhằm phát triển KN học tập của HS cuối cấp tiểu học” đã làm rõ một số vấn đề sau:

Hệ thống hóa cơ sở lí luận việc hình thành KN học tập trong điều kiện ứng dụng CNTT&TT, làm rõ các khái niệm: KN, KN học tập, KN sử dụng CNTT&TT, rèn luyện KN học tập Xây dựng ba BP rèn luyện các KN sử dụng CNTT&TT cho HS cuối cấp tiểu học

Năm 2009, luận án của Nguyễn Văn Hiền [22] về đề tài “Hình thành cho SV

KN sử dụng CNTT để tổ chức bài dạy Sinh học” đã hệ thống hóa cơ sở lí luận việc

hình thành KN sử dụng CNTT, làm rõ các khái niệm: KN, KN dạy học, CNTT Xác

định được KN sử dụng CNTT để tổ chức bài dạy Sinh học gồm 2 nhóm: KN sử

dụng một số phần mềm công cụ cần thiết và KN thiết kế bài dạy Sinh học có sự hỗ trợ của CNTT Xây dựng và sử dụng quy trình hình thành KN sử dụng CNTT cho

SV để tổ chức bài dạy Sinh học gồm hai giai đoạn: giai đoạn xây dựng chương

trình tập huấn và giai đoạn sử dụng chương trình tập huấn Xây dựng được 5 dạng

bài tập hình thành KN sử dụng các phần mềm công cụ và 6 dạng bài tập hình thành các KN thiết kế bài dạy Sinh học có sự hỗ trợ của CNTT Xây dựng và thực hiện quy trình sử dụng bài tập hình thành KN sử dụng phần mềm công cụ gồm 5 bước Tác giả cũng đã đề xuất và thực hiện quy trình sử dụng bài tập hình thành KN thiết

kế bài dạy Sinh học có sự hỗ trợ của CNTT gồm 5 bước

Như vậy, việc rèn luyện các KN chung trong việc ứng dụng CNTT trong dạy

học đã được nghiên cứu, triển khai và đã đạt được một số kết quả tốt, tuy nhiên chưa có nhiều nghiên cứu sâu về BP rèn luyện KN ứng dụng CNTT trong dạy học Toán cho SV Sư phạm trong quá trình đào tạo ở trường Đại học

Nhận xét:

Từ phân tích tổng quan các kết quả nghiên cứu trên thế giới và ở Việt Nam trong thời gian qua cho thấy: Vai trò và hiệu quả của ứng dụng CNTT trong dạy học

Trang 31

đã được khẳng định và đã đưa ra nhiều mô hình, BP ứng dụng CNTT vào dạy học một cách hiệu quả như: khai thác phần mềm, e-learning, m-learning,…

Mặt khác, các kết quả nghiên cứu cũng chỉ ra một số yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả ứng dụng CNTT trong dạy học Toán, trong đó một trong các nguyên nhân chính là một bộ phận GV chưa có phương pháp sử dụng phần mềm hỗ trợ dạy học Toán một cách có hiệu quả Chương trình đào tạo nghề cho SV Sư phạm Toán trong các trường Đại học hiện nay còn mang nặng tính lí luận, ít chú ý tới rèn luyện KN ứng dụng CNTT trong dạy học, do đó khi SV ra trường thường lúng túng trong giảng dạy ở trường phổ thông

Theo chúng tôi, hiện nay cũng còn một số vấn đề nghiên cứu là mở, như: (1) Những mặt trái của việc ứng dụng CNTT trong dạy học Toán và cách thức thực hiện còn hạn chế

(2) Yêu cầu về năng lực của người GV và HS để triển khai dạy và học Toán trong môi trường CNTT

(3) Xác định rõ các KN ứng dụng CNTT trong dạy học của GV Toán ở trường THPT, từ đó xây dựng và phát triển chương trình đào tạo, đáp ứng yêu cầu đổi mới toàn diện giáo dục đại học hiện nay

1.2 Kĩ năng ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học

1.2.1 Kĩ năng dạy học

1.2.1.1 Quan niệm về kĩ năng

KN là một vấn đề được nhiều nhà nghiên cứu về tâm lí học và giáo dục học trên thế giới cũng như ở Việt Nam quan tâm nghiên cứu Theo đánh giá của nhiều nghiên cứu từ trước đến nay vẫn tồn tại nhiều quan niệm khác nhau về KN, tựu chung lại có hai hướng tiếp cận sau đây:

Hướng thứ nhất: Coi KN nghiêng về mặt kĩ thuật của hành động Tiếp cận theo hướng này có các tác giả như: A.A Xmiecnop, A.N Leonchev, X.I Rubinsten, B.M Chieplop (1975) [82], A.V Kruchetxki (1981) [31], A.V Pêtrôpxki (1982) [44], Trần Trọng Thủy (1992) [62], A.G Côvaliov (1994) [11], B.Ph Lomov (2000) [38], N.D Levitov (1971) [37], P.A Rudich (1980) [54], A.V

Trang 32

Kruchetxki (1981) [31], Hargie O.D.W (1986) [92], X.I Kixegof (1976) [30], Trần Hữu Luyến (2008) [41]

Hướng thứ hai: Coi KN nghiêng về biểu hiện năng lực của con người Đại

diện cho hướng này có các tác giả như: K.K Platônov, Xavier Roegiers (1996) [53], A.V Petrôpxki (1982) [44], I.F Kharlamop (1978) [28], Đặng Thành Hưng (2004) [26], Nguyễn Quang Uẩn (2005) [75], Vũ Dũng (2000) [15], Trần Quốc Thành (1992) [60], Hoàng Thị Anh (1992) [4]

Theo chúng tôi, các quan niệm về KN trong hai hướng trên không mâu thuẫn nhau, sự khác biệt là ở chỗ mở rộng hay thu hẹp thành phần cấu trúc của KN cũng như những đặc tính của chúng Mặt khác, ở con người khi KN của một hoạt động nào đó, đặc biệt là hoạt động nghề nghiệp bắt đầu hình thành, khi đó cần xem xét

KN ở mặt kỹ thuật của các thao tác của hành động hay hoạt động Còn khi KN đã hình thành ổn định, con người biết sử dụng nó một cách sáng tạo trong các hoàn cảnh khác nhau, khi đó KN được xem xét như một năng lực, một vốn quý của con người Vì vậy, nếu nghiên cứu sự hình thành và phát triển KN cần quan tâm đến cả mặt kỹ thuật cũng như kết quả của thao tác, hành động hay hoạt động

Từ những nghiên cứu về KN, chúng tôi hiểu một cách khái quát về KN như

sau: KN là khả năng thực hiện có kết quả một hành động hay một hoạt động nào đó,

bằng cách lựa chọn và vận dụng những tri thức, những kinh nghiệm đã có để hành động phù hợp với những mục tiêu và những điều kiện thực tế nhất định

Với định nghĩa này, chúng tôi nhận thấy việc hình thành và phát triển các

KN chỉ có thể đạt được thông qua các hoạt động rèn luyện có mục đích cụ thể, phù hợp với KN đó Việc hình thành và phát triển các KN là một quá trình chứ không phải là một số bước đơn lẻ; hình thành và phát triển KN bao gồm cả hướng dẫn cũng như cơ hội thực hành để vận dụng

1.2.1.2 Quan niệm về kĩ năng dạy học

Một trong những mục tiêu đào tạo của các trường Đại học có đào tạo SV sư phạm là đào tạo các SV này trở thành GV tương lai có năng lực chuyên môn vững vàng, năng lực sư phạm và KN sư phạm tốt KN dạy học là bộ phận của KN sư

Trang 33

phạm và nằm trong nhóm các KN chuyên biệt của người GV

Đã có nhiều nhà nghiên cứu đưa ra quan niệm về KN dạy học như Xavier Roegiers [53], Nguyễn Như An [2], Trần Anh Tuấn [72], Phan Thanh Long [39], nhưng các tác giả này đều thống nhất KN dạy học có các đặc điểm sau:

+ KN dạy học là tổ hợp các hành động giảng dạy đã được người dạy nắm vững Nó biểu hiện mặt kĩ thuật của hành động giảng dạy và mặt năng lực giảng dạy của mỗi người dạy Có KN dạy học nghĩa là có năng lực giảng dạy ở một mức độ nào đó

+ KN dạy học có mối quan hệ chặt chẽ với kết quả học tập Nó là yếu tố mang tính mục đích, luôn hướng tới mục đích của hoạt động giảng dạy và học tập

và có ảnh hưởng quan trọng đến kết quả học tập

+ KN dạy học là một hệ thống bao hàm trong nó những KN dạy học chuyên biệt KN dạy học là một hệ thống mở, mang tính phức tạp nhiều tầng bậc và mang tính phát triển Trong đó có những KN dạy học cơ bản

+ Đặc trưng của KN dạy học cơ bản là chúng có liên hệ mật thiết với chất lượng và kết quả dạy học; có những hình thái phát triển liên tục trong thời gian giảng dạy ở nhà trường; có tính khả thi, thiết thực đối với người dạy trong điều kiện dạy học hiện nay

Như vậy, để thực hiện tốt nhiệm vụ dạy học, người GV cần có những KN dạy học cơ bản Nhưng để hình thành được KN dạy học cần phải trải qua quá trình hình thành động cơ hoạt động dạy học đến tích lũy hệ thống tri thức và rèn luyện

KN trong các điều kiện hoàn cảnh khác nhau

Từ những phân tích trên, theo chúng tôi thì: KN dạy học là sự thực hiện

thành thạo hệ thống các thao tác phức tạp của hành động giảng dạy, bằng cách lựa chọn và vận dụng những kiến thức sư phạm, kinh nghiệm sư phạm đã có của người dạy nhằm thực hiện có hiệu quả các mục tiêu, nhiệm vụ dạy học

Chuẩn nghề nghiệp GV trung học [5] đã được Bộ GD&ĐT ban hành theo Thông tư số 30/2009/TT-BGDĐT ngày 22/10/2009 gồm 6 tiêu chuẩn (với 25 tiêu chí), trong mỗi tiêu chí có 4 mức điểm giúp GV tự đanh giá về phẩm chất và năng

Trang 34

lực nghề nghiệp của bản thân Trong tiêu chuẩn 3 đề cập về năng lực dạy học, tiêu

chuẩn này gồm các tiêu chí đánh giá từ tiêu chí 8 đến tiêu chí 15 cụ thể có: Tiêu chí

8 Xây dựng kế hoạch dạy học; Tiêu chí 9 Đảm bảo kiến thức môn học; Tiêu chí 10 Đảm bảo chương trình môn học; Tiêu chí 11 Vận dụng các PPDH; Tiêu chí 12 Sử dụng các phương tiện dạy học; Tiêu chí 13 Xây dựng môi trường học tập; Tiêu chí

14 Quản lý hồ sơ dạy học; Tiêu chí 15 Kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của HS

Tương ứng với mỗi tiêu chí lại xây dựng các mức điểm theo từng tiêu chí Trong đó, vấn đề về ứng dụng CNTT trong dạy học được cụ thể ở mức 4 điểm của

tiêu chí 11 như sau “4 điểm Phối hợp một cách thành thục, sáng tạo các PPDH

đặc thù của môn học, ứng dụng CNTT vào dạy học theo hướng phân hóa, phát huy tính tích cực nhận thức và phát triển KN tự học của HS” Để người GV có thể ứng

dụng CNTT vào dạy học thì đòi hỏi họ phải có các KN cơ bản như: KN sử dụng bộ phần mềm trợ giúp công việc văn phòng, các KN khai thác và sử dụng internet trong việc tổ chức dạy học, KN sử dụng và khai thác các PMDH trong việc tổ chức các hoạt động dạy học, biết ứng dụng CNTT khi giao tiếp chuyên môn và biết sử dụng các công cụ trợ giúp để tạo ra các bài giảng điện tử phục vụ cho việc dạy học Như vậy, KN ứng dụng CNTT trong dạy học là một trong các KN cốt lõi của Chuẩn nghề nghiệp của người GV

1.2.1.3 Quan niệm về kĩ năng ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học

Theo Từ điển Bách khoa Việt Nam [76], CNTT là thuật ngữ chỉ chung cho

tập hợp các ngành khoa học và công nghệ liên quan đến khái niệm thông tin và các quá trình xử lí thông tin Theo nghĩa đó, CNTT cung cấp cho chúng ta các quan điểm, phương pháp khoa học, các phương tiện, công cụ và giải pháp kĩ thuật hiện đại chủ yếu là các máy tính và phương tiện truyền thông nhằm tổ chức, khai thác và

sử dụng có hiệu quả các nguồn tài nguyên thông tin trong mọi lĩnh vực hoạt động kinh tế, xã hội, văn hóa của con người

Theo Nghị quyết số 49/CP của Chính phủ ban hành ngày 04 tháng 08 năm

1993 thì “CNTT là tập hợp các phương pháp khoa học, các phương tiện và công cụ

kĩ thuật hiện đại - chủ yếu là kĩ thuật máy tính và viễn thông nhằm tổ chức, khai

Trang 35

thác và sử dụng có hiệu quả các nguồn tài nguyên thông tin rất phong phú và tiềm tàng trong mọi lĩnh vực hoạt động của con người và xã hội”

Luật CNTT [48] giải thích: CNTT là tập hợp các phương pháp khoa học,

công nghệ và công cụ kĩ thuật hiện đại để sản xuất, truyền đưa, thu thập, xử lý, lưu trữ và trao đổi thông tin số; Ứng dụng CNTT là việc sử dụng CNTT vào các hoạt động thuộc lĩnh vực kinh tế - xã hội, đối ngoại, quốc phòng, an ninh và các hoạt động khác nhằm nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả của các hoạt động này

Thuật ngữ CNTT còn bao hàm nội dung truyền thông trong đó, vì vậy trong nghiên cứu này chúng tôi sử dụng thuật ngữ CNTT thay cho cả thuật ngữ CNTT&TT

Tóm lại, ứng dụng CNTT trong dạy học là việc sử dụng các phương pháp

khoa học, công nghệ và công cụ kĩ thuật hiện đại nhằm tổ chức, khai thác và sử dụng có hiệu quả các nguồn tài nguyên thông tin trong dạy học với mục đích nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động dạy học

Kết hợp quan niệm KN và quan niệm ứng dụng CNTT trong dạy học ta có

quan niệm: KN ứng dụng CNTT trong dạy học là khả năng thực hiện có kết quả một

hành động hay một hoạt động nào đó đến mức độ thành thạo việc sử dụng các phương pháp khoa học, công nghệ và công cụ kĩ thuật hiện đại nhằm tổ chức, khai thác và sử dụng có hiệu quả các nguồn tài nguyên trong dạy học, đảm bảo cho hoạt động dạy học đạt kết quả cao

1.2.2 Phân loại kĩ năng ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học

CNTT được ứng dụng trong quá trình dạy học giúp việc học tập của HS được diễn ra sinh động, hấp dẫn, dễ tiếp thu và GV có điều kiện dạy học phân hóa,

cá thể hóa nhằm nâng cao tính tích cực, chủ động và sáng tạo của mỗi HS; tạo điều kiện thuận lợi cho việc giảng dạy của GV và việc tìm hiểu, tự học phù hợp với nhu cầu, hứng thú, năng lực, sở thích của từng HS Do đó, KN ứng dụng CNTT trong dạy học của GV THPT là một trong những KN dạy học cần được xác định và rèn luyện góp phần đổi mới về nội dung, PPDH nhằm hình thành ở HS năng lực làm việc, học tập một cách độc lập, thích ứng với xã hội hiện đại Theo [68], có thể phân loại KN ứng dụng CNTT của GV THPT thành ba nhóm như sau:

Trang 36

a Nhóm KN sử dụng máy tính và thiết bị ngoại vi

Muốn ứng dụng được CNTT trong công việc của mình, trước hết người GV cần có những kiến thức cơ bản về tin học, các KN sử dụng máy tính và một số thiết

bị CNTT thông dụng nhất:

- KN sử dụng phần cứng và thiết bị ngoại vi: GV cần biết sơ bộ về cấu tạo

máy tính, cách lắp đặt và cài đặt phần mềm điều khiển thiết bị ngoại vi (như máy in, máy scanner, máy chiếu projector, máy ảnh kỹ thuật số, ) GV cũng có thể mô tả hiện tượng lỗi hoặc tự sửa chữa được những hư hỏng thông dụng trong quá trình khai thác và sử dụng các thiết bị phần cứng

- KN sử dụng hệ điều hành và phần mềm tiện ích: GV cần có kiến thức cơ

bản về tin học như: khái niệm về hệ điều hành, tập tin, thư mục, đường dẫn, ổ đĩa,

và KN sử dụng các lệnh của một hệ điều hành cụ thể (như hệ điều hành Windows chẳng hạn) để điều khiển máy tính phục vụ công việc của mình: các lệnh xem thư mục, tạo lập thư mục mới, chép và xóa tệp, chép và xóa thư mục, lệnh duyệt đĩa, lệnh định dạng đĩa, Các KN sử dụng một vài phần mềm tiện ích trợ giúp xử lý đĩa

và các thông tin trên đĩa, biết sử dụng các chương trình chống Virus để bảo vệ máy tính

- KN sử dụng phần mềm công cụ: Máy tính sẽ thực sự là một người trợ giúp

hoàn hảo, nếu người GV biết sử dụng nó để thực hiện một số công việc thường nhật như tính toán, thống kê số liệu, soạn thảo văn bản, lập kế hoạch và kiểm soát kết quả thực hiện kế hoạch, Muốn vậy, GV cần có KN sử dụng các phần mềm cơ bản như: soạn thảo văn bản, phần mềm trình diễn PowerPoint, bảng tính điện tử, phần mềm quản lý công việc,… Trong thế giới hiện đại, Internet đã trở nên một công cụ không thể thiếu trong hoạt động nghề nghiệp của người GV Các KN sử dụng Internet sẽ giúp người GV trong tìm kiếm thông tin, trong trao đổi với HS, đồng nghiệp,… Người GV cần am hiểu các quy định về đạo đức, luật pháp trong quá trình ứng dụng CNTT nói chung như sở hữu trí tuệ, luật bản quyền,

b Nhóm KN sử dụng PMDH

Ngoài những phần mềm được cài đặt trong các MVT (hệ điều hành, ứng

Trang 37

dụng, tiện tích, ) còn có những phần mềm được GV sử dụng, khai thác nhằm nâng

cao hiệu quả quá trình dạy học, gọi là PMDH: như phần mềm soạn bài giảng điện

tử, phần mềm thí nghiệm, phần mềm toán học, phần mềm thi trắc nghiệm, PMDH

có thể chia thành hai loại: PMDH dùng chung và PMDH theo môn học GV THPT cần có những KN sử dụng PMDH như sau:

- KN sử dụng PMDH dùng chung tạo ra các sản phẩm tích hợp dạng đa phương tiện: Các tài liệu văn bản và các sản phẩm khác như đồ thị, hình ảnh, đoạn

phim, âm thanh thường được tích hợp trong một tài liệu hoặc bài giảng điện tử Các sản phẩm này thường là kết quả nghiên cứu trong quá trình dạy học hoặc trong các sinh hoạt nhóm chuyên môn Như vậy, ngoài khả năng tạo ra văn bản, GV cần biết cách thu thập các dữ liệu cần thiết như các đoạn phim Video, các đoạn âm thanh, hình ảnh và tích hợp nó trong một sản phẩm trình diễn GV cũng cần biết kết hợp tối ưu các thiết bị dạy học truyền thống với CNTT trong dạy học, khả năng sử dụng CNTT để đánh giá kết quả học tập của HS

- KN sử dụng các PMDH theo môn học: PMDH tạo ra môi trường học tập

mới cho HS, giúp HS khám phá, giải quyết vấn đề (GQVĐ), sáng tạo Có nhiều PMDH khác nhau được bán trên thị trường, người GV cần biết được PMDH nào là tốt, cần thiết cho môn học của mình Mặt khác, GV cần biết cách thức tổ chức hoạt động học tập cho HS trong môi trường CNTT GV từng môn học cũng cần có KN

sử dụng CNTT trong các tình huống sư phạm điển hình của môn học Chẳng hạn với môn Toán, do đặc thù riêng của mình có các tình huống điển hình cần quan tâm như: sử dụng PMDH để dạy học khái niệm Toán, sử dụng PMDH để dạy học định lí Toán, sử dụng PMDH để dạy học giải Toán Với các môn như Vật lí học và Hóa học, cần lưu ý đến tình huống sử dụng các phần mềm mô phỏng, sử dụng các thí nghiệm ảo trong dạy học,

- KN sử dụng các công cụ trợ giúp để tạo ra các sản phẩm PMDH cá nhân:

Các PMDH dù có chất lượng cao đến đâu cũng không thể thích ứng hết với mọi trường hợp riêng lẻ của quá trình dạy học Trong môi trường dạy học đa dạng, với các đối tượng HS rất khác nhau, GV có thể tự tạo ra các PMDH của riêng mình

Trang 38

Hiện nay, có nhiều phần mềm công cụ dành riêng cho GV nhằm hỗ trợ tạo ra các PMDH cá nhân (như phần mềm Macromedia Flash, MicroSoft FrontPage, ) Các phần mềm công cụ này dễ sử dụng vì thế chỉ cần một vài ngày tự học hoặc được hướng dẫn, GV có thể làm chủ được công cụ đó trong công tác chuyên môn GV cần có KN sử dụng một phần mềm công cụ nào đó và có khả năng tạo ra các PMDH

cá nhân phục vụ việc dạy học một số chương, bài thuộc bộ môn mình phụ trách

c Nhóm KN tổ chức dạy học có ứng dụng CNTT

Mặc dù CNTT có nhiều thuận lợi để ứng dụng nhằm nâng cao hiệu quả dạy học, tuy nhiên còn phụ thuộc phần lớn vào khả năng sư phạm của người GV Có tiết học sử dụng CNTT rất hấp dẫn nhưng tác dụng không cao, HS chỉ theo dõi các hình ảnh chiếu trên màn hình, chưa kết hợp ghi chép vở, và tất nhiên không có các hoạt động học tập cá nhân Vì vậy, khác với dạy học truyền thống, GV cần có những KN

tổ chức dạy học trong môi trường CNTT:

- KN diễn đạt ý tưởng bằng công cụ CNTT: Năng lực trình bày, diễn đạt tư

tưởng là hết sức quan trọng Muốn giao tiếp với bạn bè, đồng nghiệp, bạn cần biết cách diễn đạt dễ hiểu, hấp dẫn, biết trình bày ý tưởng của mình một cách rõ ràng và thuyết phục Trong thời kỳ hiện đại, không những chỉ diễn đạt bằng lời, mà còn phải trình bày, diễn đạt ý tưởng bằng công cụ CNTT Vì thế GV cần có các KN trình bày

ý tưởng dưới dạng một tài liệu điện tử, một tài liệu tích hợp các thành phần khác

nhau: văn bản, ảnh đồ họa, âm thanh, đoạn phim,

- KN lựa chọn chủ đề để ứng dụng CNTT: Trong toàn bộ chương trình,

không phải bất cứ chủ đề nào cũng phải ứng dụng CNTT Trong trường hợp chủ đề dạy học chỉ cần tới các thiết bị truyền thống thì dứt khoát không sử dụng CNTT Việc sử dụng CNTT sẽ không chỉ tốn kém mà có khả năng làm giảm chất lượng tiết dạy học Tiết học được lựa chọn phải có tình huống dạy học trong đó việc ứng dụng CNTT đem lại hiệu quả hơn hẳn truyền thống

- KN lựa chọn PMDH: Khi đã xác định chủ đề cần ứng dụng CNTT, sẽ có

nhiều PMDH có thể sử dụng phục vụ tiết dạy học này GV cần căn cứ vào ưu nhược điểm của từng PMDH và đối chiếu với các yêu cầu của tiết học cụ thể mà quyết

Trang 39

định lựa chọn PMDH tốt nhất hiện có Việc chọn PMDH chưa thích hợp cũng ảnh hưởng lớn tới chất lượng dạy học Mỗi PMDH yêu cầu KN sử dụng riêng, chúng có

hệ thống giao diện, hệ thống các menu và có thư viện dữ liệu tương ứng GV cần nắm vững các thao tác sử dụng chính PMDH này Không những thế, GV cần hiểu

rõ những tình huống sư phạm sử dụng PMDH này

Với từng PMDH, GV cần biết lựa chọn tình huống sử dụng phần mềm để dạy học có hiệu quả Hiện nay, nhiều PMDH bị lạm dụng quá nhiều do GV chưa am hiểu về các yêu cầu sư phạm đối với việc ứng dụng CNTT trong dạy học

- KN tổ chức hoạt động học tập của HS: Trong các tình huống dạy học có sử

dụng CNTT, GV phải có KN tổ chức hoạt động học tập cho HS: tổ chức học tập đồng loạt, học tập theo nhóm hoặc học tập cá nhân một cách phù hợp Biết sử dụng CNTT trong việc đổi mới PPDH Đặc biệt lưu ý đến các PPDH mới nhằm tích cực hóa hoạt động của HS CNTT cần được sử dụng đúng lúc, đúng chỗ, đúng cường

độ, trong trường hợp chỉ cần các phương tiện dạy học rẻ tiền hơn thì không lạm dụng CNTT

- KN ứng dụng CNTT khi giao tiếp trong chuyên môn: Người GV cần có thói

quen làm việc với đồng nghiệp thông qua các trang Web Nhiều chủ đề dạy học khó, các PPDH mới có thể được thảo luận trên diễn đàn điện tử GV cần biết cách tạo ra các tài liệu trao đổi với nội dung, hình thức phù hợp trong đó có thể tích hợp các yếu tố văn bản, âm thanh, hình ảnh, vào một sản phẩm thông tin đăng tải trên các diễn đàn dạy học GV cần có ý thức và cách thức làm việc với HS thông qua các hộp thư điện tử: ra bài tập về nhà, nhắc nhở công việc, giải đáp các thắc mắc cá nhân, Ngoài ra, GV cũng cần sử dụng được Internet trong hoạt động giao tiếp với các đối tác quan trọng khác như phụ huynh HS, các nhà quản lý giáo dục và các lực lượng xã hội có liên quan khác Hiện nay đã có một số GV sử dụng trang Web của truờng hoặc tự tạo ra trang Web riêng để trao đổi với đồng nghiệp, với HS và phụ huynh Những yêu cầu đặt ra về CNTT với người GV không nhiều, bước đầu nên đặt ra các yêu cầu tối thiểu, sau đó từng bước bổ sung, nâng cao yêu cầu

Trang 40

Như vậy, các KN được trình bày ở trên là những KN chung về ứng dụng CNTT trong dạy học Khi đi vào dạy học các môn học cụ thể thì các KN chung này

sẽ được cụ thể hóa, đồng thời cần bổ sung thêm những KN gắn với các hoạt động dạy học của bộ môn đó

1.3 Kĩ năng ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học Toán của giáo viên Toán ở trường Trung học phổ thông

1.3.1 Quan niệm về kĩ năng ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học Toán

Trong luận án, chúng tôi quan niệm về phần mềm, PMDH, phần mềm Toán học theo các tác giả Đào Thái Lai [33], Trần Trung [68], cụ thể:

- Phần mềm (software) là phần ra lệnh cho phần cứng (hardware) của MVT những điều cần làm, để giúp cho từng cá nhân khai thác lợi ích của máy tính Phần mềm được chia thành các nhóm như: Phần mềm ứng dụng, phần mềm công cụ, phần mềm hệ thống, phần mềm tiện ích

- PMDH thuộc lớp các phần mềm công cụ, có những chức năng có thể khai thác để hỗ trợ cho quá trình dạy học Ví dụ như phần mềm PowerPoint, Violet, TestPro, Excel,…

- Phần mềm Toán học là những phần mềm ứng dụng có những chức năng, công cụ có thể khai thác để hỗ trợ cho quá trình dạy học Toán (phần mềm Toán học cũng là PMDH) Ví dụ như phần mềm Maple, Mathematica, Cabri 3D, Geometer’s Sketchpad, GeoGebra,…

Trên cơ sở kết quả nghiên cứu, trong phạm vi nghiên cứu của đề tài luận án,

chúng tôi quan niệm KN ứng dụng CNTT trong dạy học Toán là khả năng thực hiện

có kết quả việc sử dụng và khai thác các PMDH đến mức độ thành thạo trong việc

tổ chức các hoạt động dạy học môn Toán, đảm bảo cho hoạt động dạy học đạt kết quả cao

Trên cơ sở nghiên cứu các KN chung về ứng dụng CNTT trong dạy học, quan niệm về KN ứng dụng CNTT trong dạy học Toán và nghiên cứu các hoạt động dạy học môn Toán ở trường THPT theo định hướng đổi mới PPDH môn Toán, chúng tôi đề xuất 5 KN ứng dụng CNTT trong dạy học Toán của GV Toán ở trường

Ngày đăng: 26/06/2017, 09:44

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Nguyễn Nhƣ An (1991), “Về qui trình rèn luyện KN dạy học cho SV sƣ phạm”, Nghiên cứu giáo dục, (2), tr.11 và 28 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về qui trình rèn luyện KN dạy học cho SV sƣ phạm”, "Nghiên cứu giáo dục
Tác giả: Nguyễn Nhƣ An
Năm: 1991
2. Nguyễn Nhƣ An (1993), Hệ thống KN giảng dạy trên lớp về môn giáo dục học và quy trình rèn luyện hệ thống KN đó cho SV khoa Tâm lý - Giáo dục, Luận án Tiến sĩ khoa học Sư phạm – Tâm lý, Trường ĐHSP Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hệ thống KN giảng dạy trên lớp về môn giáo dục học và quy trình rèn luyện hệ thống KN đó cho SV khoa Tâm lý - Giáo dục
Tác giả: Nguyễn Nhƣ An
Năm: 1993
3. Hoàng Ngọc Anh (2011), Sử dụng đa phương tiện trong môn Phương pháp dạy học Toán ở trường Đại học, Luận án Tiến sĩ Giáo dục học, Trường ĐHSP Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sử dụng đa phương tiện trong môn Phương pháp dạy học Toán ở trường Đại học
Tác giả: Hoàng Ngọc Anh
Năm: 2011
4. Hoàng Thị Anh (1992), KN giao tiếp sư phạm của SV, Luận án Phó tiến sĩ, Trường ĐHSP Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: KN giao tiếp sư phạm của SV
Tác giả: Hoàng Thị Anh
Năm: 1992
9. Trần Đình Châu, Đặng Thị Thu Thủy (2011), Ứng dụng CNTT trong dạy học môn Toán ở trường phổ thông, NXB Giáo dục Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ứng dụng CNTT trong dạy học môn Toán ở trường phổ thông
Tác giả: Trần Đình Châu, Đặng Thị Thu Thủy
Nhà XB: NXB Giáo dục Việt Nam
Năm: 2011
10. Trần Đình Châu, Đặng Thu Thủy, Phan Thị Luyến (2013), Tài liệu bồi dưỡng phát triển năng lực nghề nghiệp GV - Tăng cường năng lực dạy học của GV (Module THPT 18. PPDH tích cực), NXB Giáo dục Việt Nam và NXB ĐHSP Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tài liệu bồi dưỡng phát triển năng lực nghề nghiệp GV - Tăng cường năng lực dạy học của GV (Module THPT 18. PPDH tích cực)
Tác giả: Trần Đình Châu, Đặng Thu Thủy, Phan Thị Luyến
Nhà XB: NXB Giáo dục Việt Nam và NXB ĐHSP
Năm: 2013
11. A.G. Côvaliov (1994), Tâm lí học cá nhân, NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tâm lí học cá nhân
Tác giả: A.G. Côvaliov
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 1994
13. Nguyễn Sỹ Đức (2001), Xây dựng và sử dụng phần mềm hỗ trợ dạy học môn Toán ở tiểu học, Luận án Tiến sĩ Giáo dục học, Viện Khoa học Giáo dục Việt Nam, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xây dựng và sử dụng phần mềm hỗ trợ dạy học môn Toán ở tiểu học
Tác giả: Nguyễn Sỹ Đức
Năm: 2001
14. Nguyễn Anh Dũng (2013), Biên soạn chương trình và chuẩn kiến thức, KN về CNTT cho SV sư phạm, NXB ĐHQG Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Biên soạn chương trình và chuẩn kiến thức, KN về CNTT cho SV sư phạm
Tác giả: Nguyễn Anh Dũng
Nhà XB: NXB ĐHQG Hà Nội
Năm: 2013
15. Vũ Dũng (Chủ biên) (2000), Tâm lí học xã hội, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tâm lí học xã hội
Tác giả: Vũ Dũng (Chủ biên)
Nhà XB: NXB Khoa học xã hội
Năm: 2000
16. Phan Đức Duy (1999), Sử dụng bài tập tình huống sư phạm để rèn luyện cho SV KN dạy học Sinh học, Luận án Tiến sĩ Giáo dục học, Trường ĐHSP Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sử dụng bài tập tình huống sư phạm để rèn luyện cho SV KN dạy học Sinh học
Tác giả: Phan Đức Duy
Năm: 1999
17. Trịnh Thanh Hải (2006), Ứng dụng CNTT vào dạy học hình học lớp 7 theo hướng tích cực hóa hoạt động học tập của HS, Luận án Tiến sĩ giáo dục học, Trường ĐHSP Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ứng dụng CNTT vào dạy học hình học lớp 7 theo hướng tích cực hóa hoạt động học tập của HS
Tác giả: Trịnh Thanh Hải
Năm: 2006
18. Trịnh Thanh Hải (2006), Ứng dụng CNTT&TT trong dạy học môn Toán, NXB Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ứng dụng CNTT&TT trong dạy học môn Toán
Tác giả: Trịnh Thanh Hải
Nhà XB: NXB Hà Nội
Năm: 2006
19. Trịnh Thanh Hải (2010), Sử dụng phần mềm hỗ trợ dạy học Toán, NXB Đại học Quốc gia Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sử dụng phần mềm hỗ trợ dạy học Toán
Tác giả: Trịnh Thanh Hải
Nhà XB: NXB Đại học Quốc gia
Năm: 2010
20. Trịnh Thanh Hải, Trần Việt Cường, Trịnh Thị Phương Thảo (2013), Ứng dụng tin học trong dạy học Toán (Giáo trình đại học), NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ứng dụng tin học trong dạy học Toán (Giáo trình đại học)
Tác giả: Trịnh Thanh Hải, Trần Việt Cường, Trịnh Thị Phương Thảo
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2013
21. Trần Văn Hạo (Tổng chủ biên) , Nguyễn Mộng Hy (Chủ biên), Nguyễn Văn Đoành, Trần Đức Huyên (2012), Hình học 10, NXB Giáo dục Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hình học 10
Tác giả: Trần Văn Hạo (Tổng chủ biên) , Nguyễn Mộng Hy (Chủ biên), Nguyễn Văn Đoành, Trần Đức Huyên
Nhà XB: NXB Giáo dục Việt Nam
Năm: 2012
22. Nguyễn Văn Hiền (2009), Hình thành cho SV KN sử dụng CNTT để tổ chức bài dạy Sinh học, Luận án Tiến sĩ giáo dục học, Trường ĐHSP Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hình thành cho SV KN sử dụng CNTT để tổ chức bài dạy Sinh học
Tác giả: Nguyễn Văn Hiền
Năm: 2009
23. Ngô Văn Hoan (2003), “KN và hình thành KN nghề điện tử dân dụng”, Tạp chí Khoa học trường ĐHSP Hà Nội, (3), tr.39-44 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “KN và hình thành KN nghề điện tử dân dụng”
Tác giả: Ngô Văn Hoan
Năm: 2003
24. Nguyễn Dương Hoàng (2009), Tổ chức hoạt động dạy học bộ môn PPDH Toán theo định hướng tăng cường rèn luyện KN dạy học cho SV, Luận án Tiến sĩ Giáo dục học, Trường Đại học Vinh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tổ chức hoạt động dạy học bộ môn PPDH Toán theo định hướng tăng cường rèn luyện KN dạy học cho SV
Tác giả: Nguyễn Dương Hoàng
Năm: 2009
25. Nguyễn Văn Hồng (2012), Ứng dụng E-learning trong dạy học môn Toán lớp 12 nhằm phát triển năng lực tự học cho HS THPT, Luận án Tiến sĩ Giáo dục học, Viện Khoa học Giáo dục Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ứng dụng E-learning trong dạy học môn Toán lớp 12 nhằm phát triển năng lực tự học cho HS THPT
Tác giả: Nguyễn Văn Hồng
Năm: 2012

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1.10: Hình minh họa 4 slides bài giảng được thiết kế trên PowerPoint - Rèn luyện cho sinh viên đại học sư phạm ngành toán kĩ năng ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học ở trường phổ thông
Hình 1.10 Hình minh họa 4 slides bài giảng được thiết kế trên PowerPoint (Trang 53)
Hình 1.14: Giao diện thiết kế câu hỏi trắc nghiệm trên Violet - Rèn luyện cho sinh viên đại học sư phạm ngành toán kĩ năng ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học ở trường phổ thông
Hình 1.14 Giao diện thiết kế câu hỏi trắc nghiệm trên Violet (Trang 56)
Hình 1.15: Giao diện chính - Rèn luyện cho sinh viên đại học sư phạm ngành toán kĩ năng ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học ở trường phổ thông
Hình 1.15 Giao diện chính (Trang 57)
Bảng 1.10: Kết quả thăm dò ý kiến GV Toán ở trường THPT - Rèn luyện cho sinh viên đại học sư phạm ngành toán kĩ năng ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học ở trường phổ thông
Bảng 1.10 Kết quả thăm dò ý kiến GV Toán ở trường THPT (Trang 68)
Bảng 1.15: Kết quả thăm dò ý kiến SV ĐHSP ngành Toán về sử dụng phần mềm - Rèn luyện cho sinh viên đại học sư phạm ngành toán kĩ năng ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học ở trường phổ thông
Bảng 1.15 Kết quả thăm dò ý kiến SV ĐHSP ngành Toán về sử dụng phần mềm (Trang 74)
Hình 2.11  Hình 2.12 - Rèn luyện cho sinh viên đại học sư phạm ngành toán kĩ năng ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học ở trường phổ thông
Hình 2.11 Hình 2.12 (Trang 95)
Hình 2.16: Dàn trang dạng giả web  Hình 2.17: Dàn trang dạng mục lục - Rèn luyện cho sinh viên đại học sư phạm ngành toán kĩ năng ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học ở trường phổ thông
Hình 2.16 Dàn trang dạng giả web Hình 2.17: Dàn trang dạng mục lục (Trang 100)
Hình 2.19: Giao diện 4 trang thiết kế bài giảng trên Violet - Rèn luyện cho sinh viên đại học sư phạm ngành toán kĩ năng ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học ở trường phổ thông
Hình 2.19 Giao diện 4 trang thiết kế bài giảng trên Violet (Trang 102)
Hình 2.20: Bản đồ tư duy hệ thống hóa kiến thức - Rèn luyện cho sinh viên đại học sư phạm ngành toán kĩ năng ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học ở trường phổ thông
Hình 2.20 Bản đồ tư duy hệ thống hóa kiến thức (Trang 103)
Hình 2.23  Hình 2.24 - Rèn luyện cho sinh viên đại học sư phạm ngành toán kĩ năng ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học ở trường phổ thông
Hình 2.23 Hình 2.24 (Trang 109)
Hình 2.25  Hình 2.26 - Rèn luyện cho sinh viên đại học sư phạm ngành toán kĩ năng ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học ở trường phổ thông
Hình 2.25 Hình 2.26 (Trang 110)
Hình 2.28  Hình 2.29 - Rèn luyện cho sinh viên đại học sư phạm ngành toán kĩ năng ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học ở trường phổ thông
Hình 2.28 Hình 2.29 (Trang 112)
Đồ thị có sử dụng phần mềm Toán học. - Rèn luyện cho sinh viên đại học sư phạm ngành toán kĩ năng ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học ở trường phổ thông
th ị có sử dụng phần mềm Toán học (Trang 124)
Hình 2.38: Minh họa thao tác nhập và lưu ngân hàng câu hỏi - Rèn luyện cho sinh viên đại học sư phạm ngành toán kĩ năng ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học ở trường phổ thông
Hình 2.38 Minh họa thao tác nhập và lưu ngân hàng câu hỏi (Trang 127)
Bảng 3.6: Kết quả theo dõi đối với SV Nguyễn Vĩnh Lộc - Rèn luyện cho sinh viên đại học sư phạm ngành toán kĩ năng ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học ở trường phổ thông
Bảng 3.6 Kết quả theo dõi đối với SV Nguyễn Vĩnh Lộc (Trang 153)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w