Tóm lại, do phát triển của xã hội, kinh tế, văn hóa, công nghệ thông tin và giao lưu trong các dân tộc và quốc gia, vay mượn từ ngữ là hệ quả của sự ảnh hưởng lẫn nhau giữa các ngôn ngữ
Trang 1ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
ĐẶNG HÙNG NGUYỆT (Deng Xiong Yue)
MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM CỦA TỪ NGỮ TIẾNG ANH TRONG TIẾNG HÁN VÀ TIẾNG VIỆT HIỆN ĐẠI
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ VÀ VĂN HÓA VIỆT NAM
THÁI NGUYÊN - 2016
Trang 2ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
ĐẶNG HÙNG NGUYỆT (Deng Xiong Yue)
MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM CỦA TỪ NGỮ TIẾNG ANH TRONG TIẾNG HÁN VÀ TIẾNG VIỆT HIỆN ĐẠI
Chuyên ngành: Ngôn Ngữ Việt Nam
Mã số: 60.22.01.02
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ VÀ VĂN HÓA VIỆT NAM
Người hướng dẫn khoa học: GS.TS Nguyễn Văn Khang
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan dây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các kết quả đưa ra trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất cứ công trình nào
Thái Nguyên , ngày 14 tháng 04 năm 2016
Tác giả luận văn
Đặng Hùng Nguyệt
Trang 4Cảm ơn các cán bộ phòng thư viện Trường Đại Học Sư Phạm Thái Nguyên và thư viện Quảng tây Trung Quốc đã nhiệt tình cung cấp tư liệu cho việc thực hiện đề tài này
Cảm ơn người thân trong gia đình và bạn bè đã động viên, giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập cũng như hoàn thành khóa luận
Xin trân trọng cảm ơn!
Thái Nguyên, ngày 14 tháng 04 năm 2016
Tác giả luận văn
Đặng Hùng Nguyệt
Trang 5MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
MỞ ĐẦU 1
1 Lí do chọn đề tài 1
2 Lịch sử vấn đề 2
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 4
4 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 4
5 Các phương pháp nghiên cứu 5
6 Đóng góp của luận văn 5
7 Cấu trúc của luận văn 7
Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN 8
1.1 Tiếp xúc ngôn ngữ và vay mượn từ vựng 8
1.1.1 Một số vấn đề về tiếp xúc ngôn ngữ 8
1.1.2 Một số vấn đề về vay mượn từ vựng 13
1.1.3 Các cách vay mượn từ vựng 22
1.2 Khái quát về vay mượn từ ngữ trong tiếng Hán hiện đại và tiếng Việt hiện đại 23
1.2.1 Hiện tượng vay mượn từ ngữ trong tiếng Hán hiện đại 23
1.2.2 Hiện tượng vay mượn từ ngữ trong tiếng Việt hiện đại 27
1.3 Đặc điểm của tiếng Hán và tiếng Việt 32
1.4 Tiểu kết chương 1 33
Chương 2 ĐẶC ĐIỂM CỦA TỪ NGỮ TIẾNG ANH TRONG TIẾNG HÁN (ĐỐI CHIẾU VỚI TIẾNG VIỆT) 35
2.1 Bối cảnh ngôn ngữ-xã hội của việc xuất hiện từ mượn tiếng Anh trong tiếng Hán và tiếng Việt hiện đại 35
Trang 62.1.1 Sự thông dụng của tiếng Anh trên thế giới 35 2.1.2 Ảnh hưởng của tiếng Anh tại Trung Quốc và Việt Nam 39 2.1.3 Nhu cầu giữ gìn bản ngữ trong sự phát triển của tiếng Hán và tiếng Việt 43 2.1.4 Nhận xét 47 2.2 Đặc điểm Hán hóa và Việt hóa các từ mượn tiếng Anh 48 2.2.1 Nhận xét chung 48 2.2.2 Hán hóa từ ngữ tiếng Anh đối chiếu với Việt hóa từ ngữ tiếng Anh 49 2.3 Tiểu kết chương 2 62
Chương 3 ĐẶC ĐIỂM SỬ DỤNG TỪ NGỮ TIẾNG ANH TRONG TIẾNG HÁN VÀ TIẾNG VIỆT 64
3.1 Hiện trạng sử dụng từ mượn tiếng anh trong tiếng Hán và tiếng Việt hiện đại 64 3.1.1 Các lĩnh vực xuất hiện từ tiếng Anh trong tiếng Hán và tiếng Việt 64 3.1.2 Đối tượng sử dụng chính của từ mượn tiếng Anh trong tiếng Hán hiện đại và tiếng Việt hiện đại 69 3.2 Vai trò của từ mượn tiếng Anh trong tiếng hán và tiếng việt với việc chuẩn hóa tiếng hán và tiếng việt 70 3.2.1 Vai trò của từ mượn tiếng Anh trong tiếng Hán và tiếng Việt 70 3.2.2 Từ mượn tiếng Anh trong tiếng Hán và tiếng Việt với việc chuẩn hóa tiếng Hán và tiếng Việt 73 3.3 Tiểu kết chương 3 79
KẾT LUẬN 80
Trang 7MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
1.1 Trong xu thế hội nhập kinh tế toàn cầu ngày một phát triển, theo đó
việc giao lưu văn hóa giữa các nước cũng được mở rộng không ngừng Trong mấy năm gần đây, việc giao lưu văn hóa giữa phương Tây và phương Đông càng ngày càng mạnh Vì vậy sự giao lưu giữa các nền kinh
tế, văn hóa, công nghiệp vv rất cần có một công cụ làm cầu nối chung, và
đó chính là ngôn ngữ Trong lịch sử phát triển của loài người nói chung và ngôn ngữ học nói riêng, vay mượn từ vựng là hiện tượng ngôn ngữ đã xuất hiện từ xa xưa và có xu hướng phát triển mạnh mẽ trong giai đoạn hiện nay Các dân tộc và quốc gia dù có hay không có giáp ranh và địa lý nhưng
do giao lưu về kinh tế, xã hội, văn hóa nên ít nhiều có sự tiếp xúc với nhau dẫn đến sự giao thoa về ngôn ngữ Trong quá trình giao thoa đó ngôn ngữ của một dân tộc sẽ du nhập các yếu tố ngôn ngữ từ các ngôn ngữ của dân tộc khác để hoàn thiện thêm cho chính nó
1.2 Trong xu thế tất yếu đó, tiếng Hán và tiếng Việt cũng không thể
tự bằng lòng với chính nó mà phải chuyển mình để thay đổi Thực tế, sự tiếp xúc giữa tiếng Hán và tiếng Việt đã có lịch sử từ lâu đời Thông qua sử sách có thể thấy, từ tiếng Anh được thu nhận vào tiếng Việt từ thời Tiên Tần Ngay từ thời kỳ đó tiếng Hán đã bộc lộ nội lực mạnh mẽ khi không ngừng tiếp thu những từ ngữ nước ngoài, biến những từ ngữ đó thành một
bộ phận của tiếng Hán Chúng có thể mang đặc điểm của tiếng Hán để làm
Trang 8phong phú thêm cho chính nó Một thời gian dài, tiếng Việt ở một nửa đất nước Việt Nam là miền Nam có sự tiếp xúc trực tiếp với tiếng Anh làm nên
cả một Pidgin Anh trong lớp người làm việc cho Mĩ Nhưng lượng từ tiếng Anh vào tiếng Việt lại không đáng kể, phải đến ngững năm 90 của thế kỷ XX , sự xuất hiện các từ tiếng Anh trong tiếng Việt mới ngày càng gia tăng
1.3 Kết quả khảo sát cho thấy, tiếng Anh là ngôn ngữ quốc tế được sử
dụng thông dụng nhất có ảnh hưởng đến 80% - 85% lượng thông tin trên thế giới Tiếng Anh trở thành lingua franca và hình thành các biến thể tiếng Anh Như đã biết, nhiều từ tiếng Anh đều được sử dụng trong các ngôn ngữ nói chung, trong tiếng Việt và tiếng Hán nói riêng Trong những từ vay mượn nước ngoài của tiếng Hán hiện đại, từ vay mượn tiếng Anh chiếm số lượng lớn nhất và có vị trí đáng kể nhất
Vì những lý do trên, chúng tôi lựa chọn: “Một số đặc điểm của từ ngữ
tiếng Anh trong tiếng Hán và tiếng Việt hiện đại” làm đề tài luận văn thạc sĩ
2 Lịch sử vấn đề
1) Về từ vay mượn, các nhà ngôn ngữ học Trung Quốc và Việt Nam đều đưa ra sự phân tích cụ thể trong những công trình nghiên cứu quy mô, nhưng chủ yếu là nghiên cứu từ vay mượn khi đặt trong quan hệ với ngôn ngữ
Trang 9mình, và có mức độ khác nhau của các từ tiếng Hán Nói đúng ra, từ thực tế
từ ngoại lai đang được sử dụng ở Trung Quốc một thời gian dài, ngoại ngữ tương đối cố định vay mượn từ vựng"
Tác giả Trung Quốc Dương Tích Bành trong cuốn “Nghiên cứu từ ngoại lai trong tiếng Hán” tiếp cận từ vay mượn ở các khía cạnh tính chất, phạm vi và các cách tiếp nhận từ vay mượn
Tác giả Trung Quốc Trưng Cẩm Văn trong cuốn “Vấn đề phân loại từ mượn tiếng Hán” lại tiếp cận từ ngoại lai chủ yếu qua việc phân loại các từ mượn này và đặc điểm của từng cách phân loại đó
Ở Việt Nam, tác giả Việt Nam Đỗ Hồng Dương khảo sát các từ mượn tiếng Anh đang sử dụng trong tiếng Việt đời sống, trình bày nhiều vấn đề cụ thể về từ ngữ tiếng Anh trong tiếng Việt hiện đại
Tác giả Nguyễn Văn Khang trong cuốn “Từ ngoại lai trong tiếng Việt”
đã trình bày cụ thể nhiều vấn đề lý luận từ ngoại lai Theo ông cho biết, tôi không sử dụng “từ mượn” như “từ mượn tiếng Hán” hay “từ mượn tiếng Pháp” mà chỉ sử dụng “từ tiếng Anh được sử dụng trong tiếng Việt”
Tóm lại, do phát triển của xã hội, kinh tế, văn hóa, công nghệ thông tin
và giao lưu trong các dân tộc và quốc gia, vay mượn từ ngữ là hệ quả của sự ảnh hưởng lẫn nhau giữa các ngôn ngữ có nguyên nhân từ tiếp xúc ngôn ngữ Cho nên những nhà nghiên cứu Trung Quốc và Việt Nam đã nghiên cứu nhiều vấn đề về từ ngữ tiếng Anh trong tiếng Hán và từ ngữ tiếng Anh trong tiếng Việt Nhưng vẫn có việc nghiên cứu chưa hoàn thành, nhiều ý kiến về quy phạm hóa từ ngữ tiếng Anh trong tiếng Hán hiện đại và trong tiếng Việt hiện đại chưa đạt được thống nhất Ngoài ra, cũng có những việc nghiên cứu
về vấn đề này chưa hoàn thành
Trang 103 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn này là các từ ngữ tiếng Anh được
sử dụng trong tiếng Hán và tiếng Việt Luận vân chủ yếu nghiên cứu các từ ngữ tiếng Anh được sử dụng trong đời sống
3.2 Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi nghiên cứu của luận văn này là theo các từ ngữ tiếng Anh được sử dụng trong tiếng Hán hiện đại, nội dung luận văn này sẽ bao gồm khảo sát các từ ngữ tiếng Anh đang sử dụng trong tiếng Hán hiện nay và có liên hệ với các từ ngữ tiếng Anh đang sử dụng trong tiếng Việt
4 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
4.1 Mục đích nghiên cứu
Thông qua khảo sát các từ ngữ tiếng Anh được sử dụng trong tiếng Hán hiện đại có liên hệ với từ tiếng Anh trong tiếng Việt, luận văn tìm hiểu các cách tiếp nhận từ nước ngoài và tìm hiểu chuẩn hóa về việc từ ngữ tiếng Anh trong tiếng Hán và tiếng Việt hiện đại; góp phần vào việc nghiên cứu đặc điểm của từ ngữ tiếng Anh được sử dụng trong tiếng Hán
và tiếng Việt hiện đại
4.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục đích đề ra, luận văn xác định một số nhiệm vụ cụ thể sau đây:
- Hệ thống hóa một số cơ sở lý thuyết liên quan được dùng làm căn cứ
lí luận cho đề tài, trong đó tập trung vào lý thuyết về tiếp xúc ngôn ngữ và vay mượn từ vựng
Trang 11- Khảo sát các đặc điểm của từ ngữ tiếng Anh trong tiếng hán hiện đại
và tiếng Việt hiện đại
- Liên hệ với các từ tiếng Anh trong tiếng Việt hiện đại để chỉ ra sự giống và khác nhau giữa chúng
5 Các phương pháp nghiên cứu
Nhằm nghiên cứu hoàn thiện đề tài này, luận văn sẽ sử dụng bốn phương pháp nghiên cứu chủ yếu sau đây:
- Phương pháp hệ thống;
- Phương pháp thống kê, phân loại;
- Phương pháp phân tích, tổng hợp;
- Phương pháp so sánh, đối chiếu
6 Đóng góp của luận văn
6.1.Về mặt lí luận
Thông qua đề tài, luận văn muốn lý giải sự xuất hiện của từ mượn tiếng Anh trong tiếng Hán hiện đại và tiếng Việt hiện đại, sự đối chiếu từ mượn tiếng Anh trong hai ngôn ngữ đó, tìm ra đặc điểm, chức năng, vai trò, ảnh hưởng cũng như hoạt động của từ mượn tiếng Anh trong hai ngôn ngữ đó Luận văn sẽ vận dụng những lí thuyết liên quan với ngôn ngữ học và những lí thuyết về từ vay mượn trong ngôn ngữ vv… để phân tích hiện tượng từ mượn tiếng Anh trong tiếng Hán và tiếng Việt, giải thích tình hình từ tiếng Anh được sử dụng trong tiếng Hán và tiếng Việt Những lí thuyết được để tìm ra những vấn đề chưa hoàn thiện Khảo sát các loại hình cấu thành từ mượn tiếng Anh, khảo sát từ mượn tiếng Anh về hình thức, chức năng xã hội, văn hóa, ngữ nghĩa , khảo sát từ mượn tiếng Anh, phân tích so sánh ảnh hưởng
Trang 12của từ mượn tiếng Anh đến tiếng Hán và tiếng Việt Nếu đạt được mục tiêu đề
ra, luận văn sẽ góp phần củng cố lý thuyết từ tiếng Anh trong tiếng Hán và tiếng Việt Góp phần tìm ra hướng xử lý từ tiếng Anh trong tiếng Hán và tiếng Việt nhằm tránh hiện tượng nhầm lẫn, sai lệch
6.2 Về mặt thực tiễn
Đề tài này sẽ thông qua nghiêu cứu các lĩnh vực trong đời sống để đạt được mục tiêu đề ra, từ trong lĩnh vực khoa học, kỹ thuật, kinh tế, thương mại, thể thao, thông tin, văn hóa tất cả mọi lĩnh vực trong đời sống xã hội, từ tiếng Anh được sử dụng để dịch thuật và được xem như một ngôn ngữ được sử dụng giao tiếp Từ thuật ngữ tiếng Anh được sử dụng rộng rãi trong tiếng Hán và tiếng Việt, ảnh hưởng tiếng Hán và tiếng Việt rất nhiều Với sự phân tích hiện trạng từ ngoại lai trong tiếng Hán và tiếng Việt làm gợi ý, khóa luận đưa ra một vài ý kiến về tình trạng chuẩn hóa ngôn ngữ trong tiếng Hán, tiếng Việt Tiếng Việt cũng giống như tiếng Hán hiện đại, từ vựng của tiếng Việt đang ngày càng mở rộng trên nhiều phương diện do sự tham gia của các từ ngoại lai, từ mượn tiếng Anh cũng đóng vai trò quan trọng trong từ ngữ tiếng Việt Tiếp nhận tự ngoại lai một cách hợp lý và sáng tạo chính là một trong những cách bảo vệ và giữ gìn sự trong sáng của tiếng Hán và tiếng Việt Sự đối chiếu từ ngữ tiếng Anh trong tiếng Hán hiện đại và tiếng Việt hiện đại, có thể hiểu biết
từ thuật ngữ trong các lĩnh vực, góp phần to lớn hơn nữa cho người Trung Quốc và người Việt Nam sử dụng từ tiếng Anh trong đời sống Luận văn
có thể làm tài liệu tham khảo cho những người nghiên cứu tiếng Anh được sử dụng trong tiếng Hán, tiếng Việt ,và giúp người học hiểu biết từ tiếng Anh trong tiếng Hán và tiếng Việt
Trang 137 Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Thư mục tài liệu tham khảo, luận
văn gồm ba chương:
Chương 1: Cơ sở lí luận
Chương 2: Đặc điểm của từ ngữ tiếng Anh trong tiếng Hán hiện đại có
liên hệ với tiếng Việt
Chương 3: Đặc điểm sử dụng từ ngữ tiếng Anh trong tiếng Hán hiện
đại có liên hệ với tiếng Việt
Trang 141/Truyền thống ngôn ngữ học xác định, tiếp xúc ngôn ngữ về bản chất
là học ngôn ngữ (theo cách nói quen thuộc là học tiếng) Con người muốn biết
từ hai ngôn ngữ trở lên thì phải học Bởi ngôn ngữ tồn tại trong bộ não của con người, do đó khi hai hoặc hơn hai ngôn ngữ cùng tồn tại trong bộ não của một người thì sẽ tạo ra sự tiếp xúc Vì thế, sự tiếp xúc ngôn ngữ bắt đầu từ học tập
Tuy nhiên, ở những cá nhân không học thêm ngôn ngữ khác, nhưng họ lại có thể sử dụng các yêu tố của ngôn ngữ khác Trường hợp này sẽ được giải thích như thế nào? Có thể coi đây là kết quả của quá trình khuếch tán ngôn
Trang 15ngữ Tiếp xúc ngôn ngữ trước hết xảy ra ở một bộ phận thành viên xã hội, kết quả tiếp xúc sẽ được các thành viên xã hội mở rộng ra toàn xã hội Tiếp xúc dựa vào việc học tập ngôn ngữ của một bộ phận thành viên xã hội mà không phải đòi hỏi tất cả mọi người tham gia học một ngôn ngữ khác mới coi là tiếp xúc ngôn ngữ
2/ Khi nói đến tiếp xúc ngôn ngữ cũng là nhắc đến hai hàm ý như sau:
a Sự tiếp xúc ở mặt cấu trúc hay còn gọi là sự tiếp xúc trong nội bộ ngôn ngữ Đây chính là mối quan hệ tương tác, sự tác động lẫn nhau và ảnh hưởng lẫn nhau giữa hai hoặc hơn hai ngôn ngữ trong bộ óc của một người
Sự tiếp xúc này làm nảy sinh ảnh hưởng về mặt cấu trúc Hệ quả của sự tiếp xúc nay là sự vay mượn hay sự thẩm thấu các thành phần cũng như các phương thức, thậm chí làm thay đổi các quy tắc, thay đổi hệ thống và cấu trúc, đến mức có thể gây nên sự pha trộn giữa hai ngôn ngữ làm nảy sinh ra một ngôn ngữ mới
b Sự tiếp xúc bên ngoài của ngôn ngữ, hay còn gọi là sự tiếp xúc ở mặt ứng dụng Đó là việc một người sử dụng hai hoặc hơn hai ngôn ngữ, làm nên hiện tượng đa ngữ trong sử dụng
3/ Khi nói đến tiếp xúc ngôn ngữ cũng là nói đến tính định hướng của
nó, hay nói cách khác là “hướng tác động”, “hướng ảnh hưởng” giữa các ngôn ngữ, có thể đó là sự ảnh hưởng của ngôn ngữ đang sử dụng tới ngôn ngữ tiếp thu hoặc ngược lại, có khi lại là sự tác động tương hỗ Tính phương hướng này được quyết định ở hàng loạt các nhân tố như tính mục đích của việc học tập, tần số ứng dụng, mức độ thuần thục, bối cảnh ngôn ngữ, bối cảnh văn hóa, Ví dụ, trong một vùng đa ngữ, các ngôn ngữ tuy là bình đẳng nhau
Trang 16nhưng có một ngôn ngữ nổi lên có quyền lực như một “ngôn ngữ vùng” thì hướng tác động trong tiếp xúc sẽ thiên về đơn hướng: ngôn ngữ vùng kia sẽ ảnh hưởng tới các ngôn ngữ khác mạnh hơn là sự ảnh hưởng ngược lại hoặc
là sự ảnh hưởng giữa các ngôn ngữ còn lại
4/ Trong quá trình tiếp xúc ngôn ngữ, do có sự tác động, mối quan hệ và ảnh hưởng lẫn nhau giữa các ngôn ngữ thì có thể nảy sinh ra một trạng thái biến thể, đó là hình thức interlanguage Thông thường, đây là hình thức biến thể do ảnh hưởng từ ngôn ngữ cơ sở đến ngôn ngữ đích và do vậy, nền tảng của interlanguage là hệ thống ngôn ngữ của ngôn ngữ đích Nói cách khác, đó là hình thức biến thể của ngôn ngữ đích và chịu ảnh hưởng của ngôn ngữ cơ sở Cũng có khi hình thức biến thể là ngôn ngữ cơ sở và chịu ảnh hưởng của ngôn ngữ đích Tuy nhiên, nếu nhìn nhận từ góc độ hình thành biến thể thì giữa chúng có những khác biệt Biến thể interguage (ngôn ngữ trung gian) được hình thành từ sự ảnh hưởng của ngôn ngữ cơ sở tới ngôn ngữ đích Đây là quá trình động của việc học tập, tiếp thu ngôn ngữ và thường không ổn định do phụ thuộc vào quá trình học tập và sử dụng ngôn ngữ đích Hình thức ảnh hưởng và thẩm thấu có thể bị triệt tiêu khi mà người học đạt đến trình độ tiếp cận hoàn toàn với ngôn ngữ đích Về mặt kết quả, rất có thể interlanguage được “ổn định hóa” tạo ra biến thể hoặc hình thức biến thể cho ngôn ngữ đích Ví dụ, tiếng Hán của người Hoa ở hải ngoại; tiếng Việt của dân tộc Kinh ở Trung Quốc; tiếng Việt ở vùng Uđontani của cộng đồng người Việt ở Thái Lan
5/ Như trên đã nêu, cội nguồn của tiếp xúc ngôn ngữ bắt đầu từ việc học thêm ngôn ngữ khác Nhìn từ góc độ tiếp xúc, nếu có sự ảnh hưởng từ ngôn ngữ cơ sở sang ngôn ngữ đích thì cái gọi là interlanguage sẽ được
Trang 17khuếch tán, sự khuếch tán này được quyết định ở cấu trúc ngôn ngữ, tâm lí ngôn ngữ và thái độ ngôn ngữ Ngôn ngữ học nhìn nhận tiếp xúc ngôn ngữ là
sự tiếp xúc xã hội mang tính chỉnh thể chứ không phải là sự tiếp xúc thiểu số càng không thể là tiếp xúc mang tính cá thể hoặc cá nhân Điều này cũng là để nhấn mạnh rằng, kết quả của sự tiếp xúc ngôn ngữ chỉ được thực hiện nhờ mở rộng hoặc khuếch tán
Chuyển từ cách nhìn “sự nghiên cứu lần lượt hai hoặc hơn hai ngôn ngữ qua cùng một số người” sang cách nhìn “sự nghiên cứu sử dụng ngôn ngữ của cả cộng đồng giao tiếp”, ngôn ngữ học xã hội coi tiếp xúc ngôn ngữ
là một hiện tượng xã hội, tức là mang tính xã hội Vì thế, khi nói đến tiếp xúc ngôn ngữ không thể không nhắc đến các nhân tố xã hội - ngôn ngữ
- Nói đến nhân tố xã hội tức là nói đến tính cộng đồng xã hội Chẳng hạn, khi hai dân tộc nói hai ngôn ngữ khác nhau mà tiếp xúc với nhau thì xu hướng chung là như sau:
- Ngôn ngữ của dân tộc có sức mạnh về kinh tế, chính trị cao hơn sẽ ảnh hưởng đến ngôn ngữ của dân tộc có sức mạnh về kinh tế, chính trị thấp hơn
- Ngôn ngữ của dân tộc có trình độ văn hóa cao hơn sẽ ảnh hưởng đến ngôn ngữ của dân tộc có trình độ văn hóa thấp hơn (thường thông qua các kênh giáo dục, văn hóa nghệ thuật, văn học, )
- Ngôn ngữ của dân tộc có số lượng người nói đông hơn sẽ ảnh hưởng tới ngôn ngữ có số lượng người nói ít hơn
- Quan hệ dân tộc cũng có tác dụng khống chế, điều tiết đối với quá trình tiếp xúc giữa các ngôn ngữ Mức độ quan hệ và tính mật thiết của các mối quan hệ này sẽ có tác dụng làm tăng hay giảm tốc độ tiếp xúc và ảnh
Trang 18hưởng lẫn nhau giữa các ngôn ngữ Ví dụ, mối gắn kết ở trong một quốc gia thống nhất đa dân tộc, đa ngôn ngữ sẽ làm cho ngôn ngữ mà với tư cách là ngôn ngữ quốc gia có ảnh hưởng mạnh đến các ngôn ngữ còn lại
- Quan hệ về tôn giáo giữa các dân tộc cũng sẽ kéo theo sự tiếp xúc và ảnh hưởng giữa các ngôn ngữ Ví dụ, trong các ngôn ngữ dân tộc theo đạo Tslam có rất nhiều từ ngữ của tiếng A-rập
Khi nói dến nhân tố xã hội cũng là muốn nói nhân tố chính trị xã hội để tạo nên hai xu hướng chính trong tiếp xúc ngôn ngữ: tiếp xúc tự giác và tiếp xúc cưỡng bức Nói đến nhân tố ngôn ngữ tức là nói đến bản thân ngôn ngữ, bao gồm sức thẩm thấu ngôn ngữ, mức độ quan hệ thân thuộc giữa các ngôn ngữ, giữa các ngôn ngữ có chữ viết, giữa các ngôn ngữ không có chữ viết, giữa ngôn ngữ có chữ viết và ngôn ngữ không có chữ viết, Chẳng hạn, khi các ngôn ngữ tiếp xúc với nhau thì:
- Ngôn ngữ có sức thẩm thấu mạnh thường dễ dàng tiếp thu ảnh hưởng của ngôn ngữ khác
- Những ngôn ngữ có quan hệ thân thuộc hoặc cùng, gần nhau về loại hình thì dẽ chịu ảnh hưởng của nhau và vay mượn lẫn nhau
- Ngôn ngữ không có chữ viết rất dễ chịu ảnh hưởng và tiếp thu các yếu
tố của ngôn ngữ có chữ viết
Tuy nhiên cũng cần nói thêm rằng, sự tác động của nhân tố xã hội - Ngôn ngữ thường không chỉ là một mà là sự tổng hợp của nhiều nhân tố dưới hình thức “nhân tố nọ kéo theo nhân tố kia” Một số những nhân tố vừa nêu trên chỉ là mang tính xu hướng, mang tính phổ biến, chứ chưa phải là tất cả hay hoàn toàn như vậy Chẳng hạn, đối với nhân tố xã hội về nhân khẩu - dân
Trang 19số, nhiều khi lại xảy ra theo quá trình ngược lại: ngôn ngữ của dân tộc có dân
số ít hơn lại tác động đến ngôn ngữ của dân tộc có dân số đông hơn, về loại hình giữa các ngôn ngữ thì nhiều khi giữa các ngôn ngữ không có quan hệ thân thuộc, không cùng loại hình lại có ảnh hưởng mạnh mẽ đến nhau như ảnh hưởng của tiếng Hán (thuộc loại hình ngôn ngữ đơn lập) đối với tiếng Nhật, tiếng Triều Tiên là một điển hình cho quan hệ này
Về con đường tiếp xúc (bao gồm cả trực tiếp và gián tiếp) dẫn tới ảnh hưởng ngôn ngữ, có thể chia làm ba loại:
Thứ nhất, ảnh hưởng của khẩu ngữ, thông qua tiếp xúc thường xuyên
giữa thành viên của các dân tộc nói các ngôn ngữ khác nhau Có hai điều kiện cho phép xảy ra: (a) hai dân tộc có quan hệ mật thiết với nhau trong đời sống hằng ngày, thông qua sự tiếp xúc trực tiếp làm nảy sinh ảnh hưởng giữa các ngôn ngữ, và (b) ngôn ngữ chịu ảnh hưởng mạnh hơn, thường là ngôn ngữ không có chữ viết
Thứ hai, ảnh hưởng của sách vở Đó là ảnh hưởng từ trong sách vở sau
đó mới ảnh hưởng ra ngoài đời sống Một trong những con đường ảnh hưởng của sách vở là thông qua dịch thuật Tất nhiên, điều kiện tiên quyết để cho có
sự ảnh hưởng này là các ngôn ngữ đó phải có chữ viết
Thứ ba, ảnh hưởng của cả khẩu ngữ và sách vở Sự ảnh hưởng này chỉ
xảy ra giữa các ngôn ngữ có đủ các điều kiện của cả ảnh hưởng khẩu ngữ và ảnh hưởng của sách vở
1.1.2 Một số vấn đề về vay mượn từ vựng
1.1.2.1 Hiện tượng vay mượn từ vựng
a Bất kì ngôn ngữ nào, trong quá trình hình thành và phát triển của
mình cũng thu hút nhiều yếu tố của các ngôn ngữ khác, do đó có nhiều từ ngữ
Trang 20giống hoặc tương tự với các từ ngữ của các ngôn ngữ khác Nói cách khác, trong một ngôn ngữ sự xuất hiện của các từ nước ngoài là điều không thể tránh khỏi Bởi “nhu cầu giao lưu đã khiến cho những người nói một ngôn ngữ nào đó tiếp xúc trực tiếp hay gián tiếp với những người nói những ngôn ngữ lân cận hay có ưu thế về mặt văn hóa” [4,tr.237] Vì thế, vay mượn từ vựng là hiện tượng phổ biến của mọi ngôn ngữ
b Vay mượn từ vựng là hệ quả của sự ảnh hưởng lẫn nhau giữa các
ngôn ngữ có nguyên nhân từ tiếp xúc ngôn ngữ Tiếp xúc ngôn ngữ đã được
đề cập đến từ rất lâu nhưng mãi đến những năm 60 mới trở thành một vấn đề được nhiều người chấp nhận Sự tiếp xúc ngôn ngữ là có thực vì một ngôn ngữ A trong khi giao lưu với một ngôn ngữ B không thể tránh khỏi những ảnh hưởng nhất định và thực tế đã chứng minh ở một số ngôn ngữ có những sự thay đổi về cấu trúc do quá trình tiếp xúc với một ngôn ngữ khác Đây là hiện tượng chung của ngôn ngữ loài người, mặc dù cách biểu hiện ở mỗi ngôn ngữ
cụ thể là khác nhau Sự khác nhau này là do loại hình ngôn ngữ quy định
Cho đến những năm 60, cách tiếp cận của ngôn ngữ học nói chung là cách tiếp cận đơn ngữ luận Theo cách tiếp cận này, cấu trúc của một ngôn ngữ dù là cấu trúc ngữ âm, ngữ pháp hay ngữ nghĩa, đều khép kín ở bản thân
nó, do những quan hệ nội tại quy định Vì thế, sự tiếp xúc ngôn ngữ thu hẹp vào sự vay mượn từ, những cách diễn đạt mà không tác động gì tới sự phát triển của cái cơ chế vận hành của nó
Sau này, theo quan điểm song ngữ luận, một ngôn ngữ là một thể thống nhất biện chứng giữa cái cấu trúc nội tại đã có với những khả năng phát triển
do một cấu trúc khác đưa lại Ngôn ngữ A dù có vay mượn một số lượng lớn
từ của ngôn ngữ B nhưng các từ này khi chuyển sang A đều phải biến đổi
Trang 21theo hình thức ngữ âm của A, theo quy tắc cấu tạo từ của A và khi được sử dụng ở trong câu phải tuân theo cấu trúc ngữ pháp của A Như vậy, việc tiếp xúc chỉ đóng vai trò là áp lực đẩy nhanh sự chuyển biến của cấu trúc chứ không phải là sự sao chép đơn thuần
Phan Ngọc nhận xét rằng: “Nói đến tiếp xúc ngôn ngữ là nói đến
những thay đổi rất sâu sắc diễn ra ngay trong cấu trúc của ngôn ngữ A
do ngôn ngữ B đưa đến Hay nói khác đi, nếu trong quá trình lịch sử, A không tiếp xúc với B thì tự nó không có cái diện mạo ngày nay, hay muốn
có phải chờ đợi một thời gian lâu dài hơn nhiều và kết quả cũng không thể hệt như ngày nay được.” [8, tr 46] Điều này cho thấy rằng hệ thống
ngôn ngữ là một hệ thống mở, không chấp nhận sự khép kín nên không ngừng chịu sự giao thoa Và sự vay mượn là một nhu cầu nội tại, tự thân của chính ngôn ngữ đi vay chứ không phải do bất cứ sự cưỡng ép nào Chính quá trình tiếp xúc đã tạo điều kiện cho mỗi hệ thống ngôn ngữ bộc
lộ những chỗ hổng của mình và sao phỏng được coi là sự lựa chọn tối ưu
để các ngôn ngữ có thể sử dụng những vật liệu vốn có của mình lấp đầy những chỗ hổng đó Chính vì mỗi ngôn ngữ có những ưu khuyết điểm và đặc điểm khác nhau nên hiện tượng vay mượn từ vựng diễn ra khác nhau giữa các ngôn ngữ và khác nhau giữa các thời kỳ trong bản thân một ngôn ngữ
Từ những điều trình bày trên, có thể nhận thấy quá trình tiếp xúc ngôn ngữ và ảnh hưởng của nó đối với một ngôn ngữ cụ thể thường được đề cập đến dưới hai góc độ:
1 Xu hướng bảo tồn ngôn ngữ bằng việc chống lại các yếu tố ngoại lai
Trang 222 Xu hướng du nhập các yếu tố bên ngoài vào cấu trúc nội tại của ngôn ngữ
Thực ra đây chính là hai mặt có tính chất tương hỗ của tiếp xúc ngôn ngữ Các yếu tố mới du nhập vào một ngôn ngữ nào đó không chỉ quốc gia, chính sách ngôn ngữ là chất xúc tác quyết định sự tồn tại hay không của yếu
tố ngoại lai đó
c Vay mượn từ vựng là một trong những phương thức quan trọng để
bổ sung cho vốn từ vựng của một ngôn ngữ
Vay mượn từ vựng là một trong những cách thường thấy nhất để tạo ra
từ mới mà người nói mọi ngôn ngữ đều sử dụng Cũng như các nền văn hóa, các ngôn ngữ ít khi tự chúng đã đầy đủ Hơn nữa khi một ngôn ngữ có khả năng đáp ứng đầy đủ nhu cầu về ngữ pháp hay từ vựng của xã hội đang sử dụng nó đi nữa thì điều kiện tự nhiên, đặc điểm của nền sản xuất cũng như trình độ phát triển của các xã hội, cái đứng sau sự phát triển của ngôn ngữ, cũng không bao giờ giống nhau tuyệt đối Cho nên trong quá trình tiếp xúc giữa các cộng đồng người, nhu cầu học hỏi ngôn ngữ lẫn nhau để bổ sung cho những khái niệm mà trước đây mình chưa có là nhu cầu không thể thiếu Một ngôn ngữ có thể hấp thu từ ngôn ngữ khác tất cả các đơn vị từ vựng bao gồm: các đơn vị dưới từ (các yếu tố cấu tạo từ), từ và các cụm từ, các mô hình cấu tạo từ, các nghĩa hoặc nét nghĩa mới Ví dụ, hệ thống từ vựng của tiếng Hán
đã thu nhận các đơn vị từ vựng của tiếng Anh, bao gồm:
- Sự xuất hiện các yếu tố cấu tạo từ: các phụ tố với tiền tố và hậu tố dịch các phụ tố (tiền tố, hậu tố) của tiếng Anh: ism: 主义(chủ nghĩa ), -ty, -ship, -hood, -ness: 性(tính,ist, -or, -eer: 家,手, 师,者,员(gia, thủ, sư , giả, viên), anti-: 反(phản)
Trang 231.1.2.2 Thuật ngữ “từ vay mượn”
Vay mượn: Vay (nói khái quát)
Từ mượn hay từ vay mượn là các từ được vay mượn từ một ngôn ngữ khác do quá trình tiếp xúc ngôn ngữ Con đường vay mượn có thể là theo cách đi từ khẩu ngữ (lặp lại tương tự vỏ âm thanh của từ được vay mượn) hoặc theo cách đi từ văn tự, qua sách vở (lặp lại dạng văn tự - chuyển tự, không nhất thiết từ được phát âm tương tự với từ ở ngôn ngữ được vay mượn) (Bách khoa toàn thư Việt Nam)
b Xung quanh việc sử dụng thuật ngữ “từ vay mượn” còn tồn tại các tên gọi khác nhau và vì thế còn có các ý kiến khác nhau
Trong tiếng Anh những thuật ngữ chỉ từ vay mượn thường được dùng nhiều nhất là loan word, alien word, foreign word, borrowing, alienism, hybird word Các từ này có một số khác biệt nhất định,ví dụ:
- Loan chỉ đơn vị từ vựng đến từ ngôn ngữ hay phương ngữ khác, được ngôn ngữ đi vay sử dụng Tiếng Hán tương đương : 外来词,借词 Tiếng Việt tương đương: từ mượn, từ vay mượn, từ ngoại lai
Trang 24- Loan word chỉ các đơn vị từ vựng đến từ ngôn ngữ hay phương ngữ khác, được ngôn ngữ đi vay sử dụng thông qua thủ thuật dịch âm, phỏng dịch Tiếng Hán tương đương: 外来词 Tiếng Việt tương đương: từ ngoại lai
- Loan blends chỉ các đơn vị từ vựng được mượn từ ngôn ngữ hay phương ngữ khác bằng phương thức pha tạp giữa một phần ngữ âm mượn và một phần ngữ âm của ngôn ngữ đi vay Tiếng Hán tương đương: 外来混合词,混合借词 Tiếng Việt tương đương : từ hỗn hợp ngoại lai
- Ailen word chỉ các từ vựng đến từ ngôn ngữ khác nói chung Ailen nghĩa là ngoại quốc, nên ailen word để chỉ “từ nước ngoài” nói chung Tiếng Hán tương đương: 外来词 Tiếng Việt tương đương: từ ngoại quốc, từ nước ngoài
- Borrowed, borowing (word) chỉ các đơn vị từ vựng được mượn từ ngôn ngữ khác bất kể là đã đồng hóa hay chưa đồng hóa về hình thức hay nội dung (tức là còn nguyên dạng hay đã thay đổi ít nhiều) Tiếng Hán tương đương: 外来词,借词 Tiếng Việt tương đương: từ mượn, từ vay mượn, từ ngoại lai
Cách dùng thông dụng hiện nay vẫn là borowed word, loan word
Tương ứng trong tiếng Hán đang sử dụng hai cách gọi: 外来词,借词,và tiếng Việt đang sử dụng ba cách gọi: từ mượn, từ vay mượn, từ ngoại lai Những cách dùng này đã được dùng quen đến mức “tìm cách thay đổi nó đi là chuyện vô nghĩa”
c Phân loại từ mượn
Nếu căn cứ vào mối liên hệ với sự vật và khái niệm, có thể chia từ mượn thành hai loại như sau:
Trang 25Những từ mượn biểu thị những sự vật và khái niệm mới xuất hiện, trong bản ngữ chưa có từ biểu thị Các từ xô viết, công xô môn, đồng chí, hợp tác xã, may ô, xà phòng v.v trong tiếng Việt là như vậy
Những từ biểu thị những sự vật và khái niệm đã có từ trước trong bản ngữ đã có từ biểu thị rồi Trong trường hợp này, từ mượn đồng nghĩa với từ bản ngữ tiếng Việt tiếp nhận từ ngữ tiếng Hán một cách hệ thống, vì vậy có hàng loạt từ gốc Hán đồng nghĩa với các từ thuần Việt, Ví dụ: thiên - trời, địa
- đất, cử - cất, tồn - còn, tử - con, tôn - cháu
Nếu xét về thành ngoại lai, có thể chia từ mượn thành từ phiên âm và từ sao phỏng
Phiên âm là phương thức vay mượn từ vựng bằng cách dựa trên (Phỏng theo) âm đọc của từ ngữ cho vay để ghi lại từ ngữ đó bằng cách đọc cách viết của ngôn ngữ đi vay Đó là tiếp nhận cả hình thức lẫn nội dung của từ của ngôn ngữ khác Hình thức ngữ âm của các từ của ngoại ngữ có thể thay đổi ít niều cho phù hợp với quy luật ngữ âm của bản ngữ Ví dụ:
Trang 26Sao phỏng cấu tạo từ là trường hợp dùng chất liệu của bản ngữ để cấu tạo một từ nào đó dựa theo mẫu về kết cấu của các từ tương ứng trong ngôn ngữ khác Thực chất của loại này là dịch từng yếu tố có hình thái học của các
từ của ngôn ngữ khác Như vậy, nó chỉ tiếp nhận mẫu cấu tạo từ trong ngôn ngữ khác mà thôi Ví dụ: từ tiếng Nga побраэбепенце là sao phỏng cấu tạo từ của từ tiếng Pháp subdivision (sự chia nhỏ) Nó được thực hiện bằng cách dịch tiền tố sub- bằng tiền tố поб, chính tố -divis- bằng –раэбел và hậu tố -ion bằng -енце Trong tiếng Việt, các đơn vị từ vựng như chắn bùn, chắn xích, chiến tranh lạnh Cũng là sao phỏng cấu tạo từ của các đơn vị tương ứng trong tiếng Pháp là garde boue, garde chain, guerre froide Ngoài hiện tượng sao phỏng cấu tạo từ hoàn toàn Những từ sao phỏng kiểu này một phần
là dịch các yếu tố tương đương của ngoại ngữ, phần còn lại là tiếp nhận nguyên si của ngôn ngữ đó Chẳng hạn từ цбололвуфенце của tiếng Nga bắt nguồn từ tiếng Hi Lạp là từ eidololatreia (sự thờ thần tượng), trong đó, chính
tố цболо- được tiếp nhận, còn chính tố latr- và phụ tố -eoa được dịch ra tiếng Nga là слуф- và -енце Từ мелевцбенце (vô tuyến truyền hình) bắt nguồn từ
từ televisia trong đó chính tố меле có nguồn gốc Hi Lạp, còn chính tố -vis- và phụ tố -ia (gốc Latin) được dịch ra tiếng Nga là -вцб và -енце
Sao phỏng ngữ nghĩa là hiện tượng các từ tiếp nhận thêm ý nghĩa của các từ tương ứng trong ngôn ngữ khác Các đơn vị từ vựng nước ngoài có thể được mang vào trong ngôn ngữ đi vay nội dung ngữ nghĩa ở các mức độ khác nhau tùy theo nhu cầu vay mượn của ngôn ngữ đó
Trang 27- Mượn toàn bộ nội dung ngữ nghĩa của từ mượn đó Trường hợp này thường xảy ra ở từ đơn nghĩa hay các thuật ngữ khoa học
- Mượn một nghĩa hoặc một vài nghĩa của từ đa nghĩa Thí dụ, từ banc trong tiếng Pháp có tới 6 nghĩa 1/ ghế dài, 2/ ghế, 3/bãi, 4/lớp, vỉa, 5/đàn (cá, ), nhưng tiếng Việt chỉ mượn nghĩa đầu
- Mượn và có những thay đổi nhất định nội dung nghĩa vốn có Thí dụ,
từ 走 vốn trong tiếng Hán có nghĩa là “nhạy” (nghĩa cổ) và “đi” ( nghĩa hiện dùng) được tiếng Việt mượn với nghĩa là “đi khỏi một các lén lút”
- Mượn và trên cơ sở nghĩa mượn để phát triển nghĩa mới Ví dụ: a-lô vốn là thá từ dùng để gợi sự chú ý, được phát triển thêm nghĩa “gợi, báo tin” (có tin gì nhớ a-lô cho mọi người cùng biết!)
Từ phỏng từ là từ này có thể tiếp thu thêm ý nghĩa của từ tương ứng trong ngôn ngữ khác là ý nghĩa định danh trực tiếp của chúng phải giống nhau Từ này chỉ tiếp nhận thêm ý nghĩa “gây xúc động” là nhờ sao phỏng
ý nghĩa của từ toucher trong tiếng Pháp Cơ sở của sự sao phỏng này là cả hai từ đều có ý nghĩa trực tiếp là “sờ mó” Ý nghĩa “tầm thường, vô vị” của từ плоскцы cũng là do sao phỏng ý nghĩa của từ tiếng Pháp plat mà
có Cả hai từ này đều có ý nghĩa trực tiếp là “bằng phẳng” Từ “ngựa” trong tiếng Việt và từ “cheval” trong tiếng Pháp cùng chỉ một loài động vật, nhưng từ cheval còn chỉ một đơn vị sức kéo, do đó, từ ngựa đã có thêm cả ý nghĩa này (máy 15 ngựa) Nếu hiện tượng sao phỏng cấu tạo từ dẫn đến sự xuất hiện trong ngôn ngữ những từ mới thì hiện tượng sao phỏng ngữ nghĩa chỉ dẫn đến sự xuất hiện những từ đồng âm hoặc những
ý nghĩa mới của từ đã có
Trang 28Về sách lược tiếp nhận từ mượn, có hai loại ý kiến đối nghịch đồng thời cũng là hai loại sách lược đối lập:Di hóa (foreginization) và quy hóa (domesticatio) Ý kiến thứ nhất chủ trương nên lấy nguyên ngữ hoặc nguyên văn tác giả làm nơi quy tụ, điều này không thỏa hiệp đối với người đọc, yêu cầu người đọc phải tiếp thu sự khác biệt đặc thù của văn hóa nước ngoài; ý kiến thứ hai chủ trương nên lấy mục đích hoặc dịch theo văn ngôn của người đọc làm điểm quy tụ, văn dịch quy hóa cho nên khiến cho văn ngôn của người đọc nghe xong thuận mắt Quá trình tiếp nhận từ mượn tiếng Anh cũng chủ yếu là áp dụng hai loại sách lược này
Trang 293 Chuyển tự: phương thức này được thực hiện do giữa các ngôn ngữ không cùng hệ văn tự Chẳng hạn như sự vay mượn giữa tiếng Anh (thuộc hệ chữ La- tinh) với tiếng Nga (ngôn ngữ thuộc hệ chữ Ki-rin), ví dụ: perestroika:nересmройка, glasnost: глсност.
4 Và mượn nguyên dạng của nguyên ngữ Cách vay mượn này thể hiện
ở hình thức chữ viết: sử dụng nguyên cách viết chính tả đơn vị từ vựng của ngôn ngữ đi vay Còn cách đọc thì cố gắng đọc sát với cách đọc của nguyên ngữ Ví dụ: stress, heroin, marketing, computer, pressing, Một số ít các từ ngữ Hán cũng đã bắt đầu xuất hiện trong văn bản tiếng Việt dưới dạng nguyên dạng phiên âm La-tinh (gonfu, wushu)
1.2 Khái quát về vay mượn từ ngữ trong tiếng Hán hiện đại và tiếng Việt hiện đại
1.2.1 Hiện tượng vay mượn từ ngữ trong tiếng Hán hiện đại
1.2.1.1 Sự hình thành của từ mượn trong tiếng Hán
Trong lịch sử phát triển hơn 5000 năm, giữa các dân tộc Trung Hoa luôn có sự xung đột và giao lưu văn hóa, sự xung đột và giao lưu ấy không thể không dẫn đến sự hình thành của từ mượn Từ mượn trong tiếng Hán nếu dựa theo nguồn gốc có thể phân thành hai loại: từ mượn trong nước và từ mượn nước ngoài
1.2.1.2 Từ mượn nước ngoài
Đối với các yếu tố ngoại lai đến từ tiếng nước ngoài, cho đến nay tiếng Hán đã có ba đợt du nhập quy mô lớn những yếu tố trong tiếng nước ngoài vào tiếng bản ngữ
a Đợt đầu tiên theo dự đoán vào thời Tần Hán giao tranh, khi những
yếu tố ngoại lai từ Tây Vực theo phật giáo du nhập vào tiếng Hán Phật giáo
Trang 30bắt đầu truyền bá vào Trung Quốc từ thời Hán Vũ Đế và vô cùng thịnh vượng vào đời Đường đã mang đến không ít những yếu tố vay mượn du nhập vào tiếng Hán
Quá trình du nhập này lại chia thành ba giai đoạn như sau:
1: Giai đoạn đầu là thông qua ngôn ngữ Tây Vực;
2: Giai đoạn hai là thông qua các nhà tu hành (tăng nhân) Ấn Độ, Tây Tạng nhập vào Trung Nguyên;
3: Giai đoạn cuối cùng là đời Đường
Dưới đây là những từ mượn được sử dụng nhiều: Phật/bụt (Buddha),
A Di Đa phật (amitàbha), A la hán (arhàn/ arhat), tăng (samgha), Bồ tát (Bodhisattva), kệ (gàthà), thiền (dhyana), niết bàn (Nibbana), nam vô/ nam
mô (namo; Bali), quan thế âm (Avalkitesvara), quỷ (mà ra)
Quá trình vay mượn này diễn ra rất phức tạp, một từ mượn phải trải qua nhiều dạng biến đổi rồi mới được định hình
b Bắt đầu từ thời Minh Thanh, cùng với sự đổ bộ của các nước phương
Tây vào trung Quốc, các yếu tố của tiếng Tây Âu cũng bắt đầu du nhập vào tiếng Hán Chiến tranh thuốc phiện kết thúc đồng thời mở ra một thời kỳ lịch
sử mới ở Trung Quốc Trên phương diện ngôn ngữ nó đánh dấu thời kỳ tiếng Hán cận đại Thời kỳ này đế quốc phong kiến triều Thanh bước vào con đường diệt vong, những thành phần yêu nước mới và những giai cấp mới đã bước lên vũ đài chính trị Dưới tác động của nhiều nguồn ngoại lực, cả đất nước Trung Quốc chuyển từ thế bị động sang thế chủ động trở thành một xã hội hiện đại Nguồn ngoại lực đó chính là các nước phương Tây với một hệ tư tưởng khác Cuộc tiếp xúc này đem đến sự thay đổi lớn cho xã hội Trung
Trang 31Quốc trên tất cả các phương diện: chính trị, xã hội, kinh tế Và đặc biệt là sự xung đột giữa văn hóa truyền thống Trung Quốc với tư tưởng xã hội hiện đại cận phương Tây Chính sự xung đột này đã thúc đẩy sự biến đổi của tiếng Hán Từ mượn cũng là một phương diện của sự biến đổi này Đáng chú ý là văn hóa Nhật Bản - nền văn hóa vốn tiếp thu nhiều tinh hoa của văn hóa Hán sau đó lại chịu ảnh hưởng sâu sắc những tác động của làn gió Tây phương (chủ yếu đến từ Mỹ) cũng ảnh hưởng trở lại một cách mạnh mẽ đến văn hóa Trung Quốc Con đường vay mượn vòng vo ấy được thể hiện rõ ràng trong sự phát triển của tiếng Hán: Thoạt đầu tiếng Nhật mượn chữ Hán, sau đó lại sử dụng chính những từ mượn đó để ghi lại các khái niệm mượn từ tiếng Anh Đến lượt mình, tiếng Hán lại mượn chính những từ đó bằng nguyên chữ Hán
và đọc theo âm Hán Cách mượn này được gọi là “hình tá pháp” (cách mượn dạng chữ)
c Cuộc tiếp xúc văn hóa ngôn ngữ giữa Trung Quốc và các nước
phương Tây kéo dài từ đó cho đến nay Đặc biệt là khoảng hai mươi năm trở lại đây, cùng với sự phát triển và biến đổi sâu sắc chưa từng có của toàn thế giới nói chung và tốc độ hội nhập của Trung Quốc nói riêng, tiếng Hán lại thêm một lần nữa tiếp nhận thêm những yếu tố ngoại lai mới Trải qua những lần tiếp xúc như vậy, từ mượn đã trở thành một bộ phận của tiếng Hán và ngày càng được sử dụng rộng rãi
1.2.1.3 Phân loại từ mượn trong tiếng Hán hiện đại
Không thể thống kê cụ thể số lượng từ mượn trong tiếng Hán hiện đại bởi sự xuất hiện đặc biệt nhiều và sự gia tăng không ngừng của nó, chỉ tính riêng trong hơn 30 năm cải cách, số lượng từ mượn trong tiếng Hán hiện đại
Trang 32đã tăng lên vài nghìn từ Có nhiều cách phân loại từ mượn, dưới đây là những cách phân loại chủ yếu:
Về dạng tồn tại, cũng giống như ở các ngôn ngữ khác, từ mượn trong tiếng Hán trên thực tế gồm hai bộ phận: một là được viết thành chữ hai là chỉ dừng lại ở lời nói (do sự phát triển của ngôn ngữ cần dựa vào cả hai con đường: truyền miệng và chữ viết)
Về nguồn gốc, trong tiếng Hán hiện đại từ mượn tiếng Anh chiếm số lượng chủ yếu Từ mượn tiếng Nhật cũng chiếm số lượng đáng kể Bên cạnh
đó là các từ mượn được du nhập vào từ các khu vực trực thuộc như Đài Loan, Hồng Kông, Ma Cao, và các từ mượn tiếng Nga, tiếng Pháp, tiếng Ý Tuy nhiên, từ “nguồn gốc” ở đây cũng chỉ được dùng với nghĩa tương đối - để tạm chỉ những từ ngữ được mượn trực tiếp từ một ngôn ngữ cụ thể, bởi biệc truy nguyên nguồn gốc ban đầu của nó là một công việc cực kỳ phức tạp
Về phạm vi ứng dụng, từ mượn xuất hiện để gọi tên tất cả các phương diện của cuộc sống do đó nó xuất hiện trong tất cả các lĩnh vực: kinh tế, chính trị, văn hóa, giáo dục, sinh hoạt Nếu như từ thời phong kiến trở về trước, từ mượn chủ yếu là những từ thuộc lĩnh vực tôn giáo, chính trị, văn hóa thì đến thời kỳ cận đại và hiện đại, tiếng Hán tiếp nhận thêm nhiều từ ngoại lai trên những lĩnh vực mới mẻ và đa dạng hơn hẳn Từ giữa thế kỷ XIX Trung Quốc bắt đầu dịch và giới thiệu văn hóa khoa học kỹ thuật phương Tây, đến cuối thế kỷ XIX phát triển dịch và giới thiệu các tác phẩm văn học, khoa học, tư tưởng phương Tây, khiến cho một lượng lớn các từ vựng mới du nhập vào tiếng Hán để gọi tên những sản phẩm khoa học kỹ thuật hiện đại, các thành tựu văn hóa tư tưởng mới Cuối thế kỷ XX, cùng với sự tăng nhanh của toàn
Trang 33cầu hóa kinh tế thế giới, từ vay mượn trong các lĩnh vực thông tin, kỹ thuật máy tính, trong ngôn ngữ truyền thống và ngôn ngữ giới trẻ gia tăng với tốc
độ chóng mặt
Về phương thức tiếp nhận: đến nay vẫn còn nhiều tranh luận về tên gọi
và cách phân loại những phương thức tiếp nhận từ mượn Tuy nhiên phần lớn các học giả thường chia từ mượn thành hai loại: Từ cấu tạo theo dịch âm và từ cấu tạo theo dịch nghĩa Chi tiết về hai cách tiếp nhận này sẽ được đề cập đến trong chương sau
Ngoài ra còn có thể phân loại từ mượn từ góc độ sử dụng, từ bình diện
hệ thống cấu trúc, từ góc độ “bảo lưu” hay “thay đổi” Tất cả cho thấy bức tranh từ mượn trong tiếng Hán vô cùng đa dạng và phức tạp Trong khuôn khổ luận văn này tôi hy vọng tập trung làm sáng tỏ những đặc điểm của một
bộ phận chiếm số lượng chủ yếu nhưng vẫn còn khá mới mẻ của tiếng Hán: từ mượn tiếng Anh
1.2.2 Hiện tượng vay mượn từ ngữ trong tiếng Việt hiện đại
1.2.2.1 Khái quát về từ vay mượn trong tiếng Việt
Nhìn từ góc độ vay mượn từ vựng, vốn từ vựng của một ngôn ngữ, về
lý thuyết, sẽ được phân làm hai: những từ bản ngữ và những từ vay mượn Thuật ngữ từ vay mượn, cũng vì thế, thường được dùng trong sự đối lập với
từ bản ngữ Với cách nhìn này, về mặt lý thuyết, có thể hình dung hệ thống từ vựng tiếng Việt sẽ được lưỡng phân một bên là từ thuần Việt và một bên là từ vay mượn hay từ ngoại lai
a Mặc nhiên, khi nói đến “từ thuần Việt” cũng là nhằm đối lập với từ
không thuần Việt - tức là những từ không phải gốc tiếng Việt Tuy nhiên, đấy
Trang 34chỉ là lý thuyết, theo đó, cách dùng “thuần Việt” hay một cách khiêm tốn
“Việt” (bớt đi chữ “thuần”) cũng chỉ là mang tính tương đối Chẳng hạn,
ở góc nhìn này, vào thời điểm này thì có thể cho các từ này là “thuần, bản ngữ”, nhưng nếu đứng ở góc nhìn khác hoặc lùi về quá khứ một chút thì lại chưa chắc
b Quá trình hình thành, chia tách dân tộc, ngôn ngữ cũng như quá trình
hình thành, tiếp xúc giữa các ngôn ngữ với hàng loạt tác động của các nhân tố như thời gian, không gian, xã hội đã làm cho khó mà có thể tách ra được một cách rạch ròi các từ bản ngữ với không bản ngữ Nếu lần ngược về lịch sử thì ngay trong những từ ngữ được gọi là thuần Việt/ Việt hiện nay cũng còn cả là một vấn đề “Các nhà ngôn ngữ học ngày càng ngả về xu thế cho rằng tiếng Việt là một ngôn ngữ đa nguồn Vốn từ vựng của nó được hình thành từ một
cơ tằng bản địa ban dầu, về sau do tiếp xúc với các ngôn ngữ láng giềng mà ngày càng được bổ sung và phong phú dần lên Đến nay trong vốn từ vựng tiếng Việt hiện đại đã bao gồm nhiều từ thuộc các nguồn khác nhau” Chẳng hạn, các từ ngữ gốc Môn - Khmer như rú (rừng rú), ruột, cháo, ác tay, tai, mắt, măng, răng, mệ (mẹ), sấm, chớp, đăm (phải,chiêu (trái), ngái (xa), trai, Điều này giúp cho chúng ta giải thích một số yếu tố được gọi là “mất nghĩa” trong các từ song tiết tiếng Việt
c Khái niệm “từ gốc ngoại” hay “từ Việt gốc ngoại” là muốn nói đến
các đơn vị từ vựng của tiếng nước ngoài nhập tịch vào tiếng Việt (như từ nguồn từ vựng của tiếng Hán, tiếng Pháp, tiếng Anh và một lượng ít ỏi các đơn vị từ ngữ tiếng Nga, )
Trang 35Xét về mức độ ( bao gồm cả về số lượng cũng như chất lượng), trong tiếng Việt số lượng đơn vị từ vựng mượn từ tiếng Hán nhiều hơn cả, chiếm tới trên 65% và được đồng hóa rất cao; tiếp đến là các đơn vị từ vựng mượn từ tiếng Pháp (khoảng gần 3000 đơn vị), sau đó đến các đơn vị từ vựng mượn từ tiếng Anh Sở dĩ có sự khác nhau về mức độ như vậy là do các nguyên nhân
từ ngôn ngữ và nguyên nhân từ xã hội Chẳng hạn, xuất phát từ loại hình học ngôn ngữ cho thấy, rõ ràng các từ ngữ Hán với cách đọc Hán Việt thuận lợi hơn nhiều so với các từ ngữ của các ngôn ngữ Âu Mĩ như tiếng Anh, tiếng Pháp, Lí do là vì, hệ thống ngữ âm tiếng Việt đã gần như bao trọn vẹn hệ thống cách đọc Hán Việt, mà về lý thuyết, tất cả các từ Hán đều có thể đọc lên bằng âm Hán Việt, do đó mọi từ Hán đều có tiềm năng trở thành yếu tố Hán Việt Trong khi đó, các từ Ấu Âu muốn nhập vào tiếng Việt thì trước hết phải thay đổi hình thức ngữ âm cho phù hợp với đặc điểm âm tiết của tiếng Việt Nói cách khác, đặc điểm cùng loại hình đã giúp cho việc nhập tịch của các từ Hán vào trong tiếng Việt thuận lợi hơn nhiều so với các từ Ấu Âu
Xuất phát từ lí do bổ sung khái niệm, có thể nhận thấy, các từ ngữ Hán Việt sở dĩ xuất hiện ồ ạt là vì ở vào giai đoạn đó vốn từ cơ bản tiếng Việt chưa hoàn chỉnh, cần bổ sung Sau này, khi nhập vào tiếng Việt chủ yếu là thuật ngữ Đối với các từ mượn tiếng Anh trong tiếng Việt là một vấn đề ngôn ngữ học xã hội lí thú: một thời gian dài, tiếng Việt ở một nửa đất nước Việt Nam (miền Nam) có sự tiếp xúc trực tiếp với tiếng Anh (làm nên cả một Pidgin Anh trong lớp người làm việc cho Mĩ) Nhưng lượng từ Anh vào tiếng Việt lại không đáng kể Phải đến những năm 90 của thể kỉ XX, sự xuất hiện các từ Anh trong tiếng Việt mới ngày càng gia tăng Tình hình này không chỉ
Trang 36xảy ra ở riêng tiếng Việt mà còn xảy ra ở các ngôn ngữ khác Đó là do tác động của sự mở cửa, hội nhập, xu thế toàn cầu hóa với sự trợ giúp của cuộc
cụ chủ yếu, đã tạo ra một “lớp từ vựng quốc tế” Tuy nhiên, những từ mượn trong tiếng Việt mà đa phần là từ tiếng Anh hiện nay lại xuất hiện dưới dạng chữ Anh với các biến thể của cách đọc cố gắng phỏng theo cách đọc tiếng Anh Cùng với xu thế đó, một số từ mượn từ tiếng Hán cũng có xu hướng để nguyên cách viết phiên âm La-tinh tiếng Hán Vì thế, trong nhiều trường hợp rất khó phân biệt đâu là từ mượn đã nhập tịch và đâu là từ nước ngoài Giờ đây, các khái niệm như “đồng hóa”, “nhập tịch” dường như đang bị lung lay
1.2.2.2 Phân loại từ ngoại lai trong tiếng Việt
Nhìn từ góc độ vay mượn từ vựng, vốn từ vựng của một ngôn ngữ, về
lý thuyết, tiếng Việt sẽ được phân hai loại: những từ bản ngữ và những từ vay mượn Thuật ngữ từ vay mượn, thường được dùng trong sự đối lập với từ bản ngữ Về lý thuyết, có thể hình dung hệ thống từ vựng tiếng Việt sẽ được lưỡng phân một bên là từ thuần Việt và một bên là tư vay mượn hay từ ngoại lai Nội dung của hai khái niệm từ thuần Việt và từ vay mượn không có ranh giới rõ ràng vì từ vựng có xu hướng biển đổi, phát triển qua nhiều giai đoạn Cho nên người ta chỉ có thể xác định ranh giới một cách tương đối chắc chắc nếu xét chúng trong những giai đoạn lịch sử cụ thể, những từ mượn trong giai đoạn này có thể được coi là từ thuần Việt trong giai đoạn tiếp theo Tiếng Việt trong giai đoạn hiện nay chứa đựng nhiều từ ngữ giống hoặc tương tự với các
từ ngữ trong nhiều thứ tiếng khác như: tiếng Thái, tiếng Bana, tiếng Gialai, tiếng Hán, tiếng Pháp, tiếng Nga , và đặc biệt trong thời gian gần đây là tiếng Anh, tiếng Việt mượn khá nhiều từ tiếng Anh trong ẩm thực, công nghệ
Trang 37thông tin và giải trí Dù nhiều từ đã có từ thuần Việt nhưng mọi người vẫn quen sử dụng từ mượn tiếng Anh
Nói đến từ ngoại lai, có thể tìm hiểu về các đơn vị từ vựng của tiếng nước ngoài nhập tịch vào tiếng Việt, nên có khái niệm “từ gốc ngoại” hay “từ Việt gốc ngoại” Xét về mức độ (bao gồm cả về số lượng cũng như chất lượng), trong tiếng Việt số lượng đơn vị từ vựng mượn trong các tiếng nước ngoài nhiều, vì thế, từ vay mượn trong tiếng Việt có thể phân loại như sau:
1 Từ mượn tiếng Hán Trong tiếng Việt số lượng đơn vị từ vựng mượn
từ tiếng Hán nhiều hơn cả, chiếm tới trên 65% , bao gồm cả những từ còn ít nhiều mang cái vỏ vay mượn và cả nhưng từ đã được Việt hóa rất cao, kể cả các từ mượn theo lối can- ke ngữ nghĩa
2 Từ mượn tiếng Pháp Nhìn về quá khứ lịch sử, đất nước Việt Nam trước kia vẫn là thuộc địa của nước Pháp Nên trong chính trị, kinh tế, lịch sử, văn hóa dều bị ảnh hưởng của nước Pháp Bởi vì bối cảnh lịch sử phát triển của Việt Nam, từ vay mượn trong tiếng Việt cũng có một lớp từ ngữ mượn từ tiếng Pháp (khoảng gần 3000 đơn vị)
3 Từ mượn tiếng Anh Tiếng Anh là ngôn ngữ thông dụng phố biến nhất trên thế giới, nó cũng là ngôn ngữ quốc tế thông dụng (ICE) Tiếng Anh
đã vay mượn từ ngữ của hơn 350 ngôn ngữ khác nhau Việt Nam và nước Anh giao lưu về mặt công nghệ thông tin, kinh tế, văn hóa, lịch sử, giải trí rất nhiều, nên từ mượn tiếng Anh được sử dụng trong tiếng Viết rất phố biến
4 Từ mượn tiếng Nga Trong tiếng Việt, cũng có một số từ mượn từ nước Nga, quá trình phát triển của hai nướcc, từ xưa đến nay, hai nước giao lưu văn hóa, chính trị, kinh tế rất nhiều, sự ảnh hưởng của song phương rõ
Trang 38ràng, xu hướng đi lưu học nước Nga của người Việt Nam càng ngày càng mạnh, trong tiếng Việt cũng có một lớp từ vay mượn là từ mượn tiếng Nga
1.3 Đặc điểm của tiếng Hán và tiếng Việt
Tại vì luận văn này chủ yếu nghiên cứu về từ mượn tiếng Anh trong tiếng Hán và tiếng Việt, vậy nói đến đặc điểm tiếng Hán và tiếng Việt, đây chủ yếu suy nghĩa đặc điểm của hai tiếng kết hợp với từ vay mượn Việt Nam
và Trung Quốc là hai nước giáp giới nhau Chính trị, văn hóa, kinh tế , các lĩnh vực trong đời sống có giống nhau nhiều Đặc biệt ngôn ngữ của hai nước, đặc điểm của hai ngôn ngữ rất rõ ràng
Về mặt chữ của hai nước: Tiếng Việt thuộcchữ La - Tinh, Việt Nam gọi
nó là “chữ quốc ngữ” Tiếng Hán cũng là chữ phép âm, chữ tiếng Hán là chữ tượng hình, nhưng tiếng Hán cũng dùng hai mươi sáu chữ cái La- Tinh để ghi
âm chữ Tiếng Anh là chữ La - Tinh, nên các từ mượn tiếng Anh trong hai ngôn ngữ đó, khi dịch âm, chuyển mã, đổi âm giữa hai ngôn ngữ dễ hơn Tiếng Hán và tiếng Việt đều có thanh điệu, tiếng Hán có bốn thanh chính và một thanh nhẹ, tiếng Việt có sáu thanh Tuy nhiên, tiếng Anh không có thanh điệu, nhưng từ mượn tiếng Anh có thể dịch âm theo tiếng Hán và tiếng Việt Đây cũng là cách tiếp nhận từ vay mượn và Hán hóa, Việt hóa
Về mặt cách tiếp nhận từ vay mượn: Trong tiếng Hán và tiếng Việt đều
có nhiều từ ngoại lai trong các lĩnh vực Ẩm thực, trang phục, công nghệ thông tin, giải trí , vậy cách tiếp nhận từ ngoại lai thể hiện rất đa dạng, nói chung cách tiếp nhận từ ngoại lai có bốn cách: dịch nghĩa, phiên âm, chuyển
tự và mượn nguyên dạng của nguyên ngữ Đây là bốn cách tiếp nhận từ vay mượn nói chung Mà trong tiếng Hán còn có cách tiếp nhận từ vay mượn khác
Trang 39với tiếng Việt Chẳng hạn, trong tiếng Hán, có cách kết hợp âm và nghĩa, thêm từ để định danh Ví dụ từ 可口可乐,từ Anh là coca cola, từ 吉普车,từ Anh là Jeep Khi tiếng Hán mượn chữ này thì thêm chữ 车 để
biểu thị là một loại xe
Về mặt Hán hóa và Việt hóa: Tiếng Hán và tiếng Việt hai ngôn ngữ, không những chỉ có bản ngữ của nó, còn có nhiều từ ngoại lai Các từ ngoại lai nhập vào tiếng Hán và tiếng Việt, đa số cần quá trình Hán hóa và Việt hóa Bởi vì hai bản ngữ khác nhau, nên cách Hán hóa và Việt hóa cũng khác nhau
Từ mượn tiếng Anh quá trình Hán hóa và Việt hóa, có đặc điểm từ ngoại lai cũng có đặc sắc bản ngữ
1.4 Tiểu kết chương 1
Tóm lại, từ vay mượn hay từ ngoại lai không những là hiện tượng phổ biến của mọi ngôn ngữ, mà còn là một hiện tượng ngôn ngữ không tránh khỏi trong giao lưu văn hóa ngôn ngữ Nó có tác dụng to lớn trong các lĩnh vực của đời sống Từ mượn mang tính đa dạng, phong phú, linh hoạt bổ sung cho các bản ngữ và cung cấp cho con người những nội dung thông tin mới Nhu cầu giao lưu đã khiến cho những người nói một ngôn ngữ nào đó tiếp xúc trực tiếp hay gián tiếp với văn hóa Sự giao lưu có thể có tính chất hữu nghị hay thù địch Nó có thể diễn ra trên bình diện bình thường của những quan hệ kinh doanh hay buôn bán, hoặc có thể là một sự vay mượn hay trao đổi những giá trị tinh thần, nghệ thuật, khoa học, tôn giáo vv Nên từ vay mượn được xem là ngôn ngữ phố biến trên thế giới và được dung hòa trở
Trang 40thành một bộ phận tố thành hữu cơ trong văn hóa ngôn ngữ Tiếng Hán và tiếng Việt không tách khỏi quy luật chung này Từ ngoại lai là nguồn bổ sung quan trọng cho vốn từ tiếng Hán và tiếng Việt cả về số lượng lẫn chất lượng Tuy nhiên, chúng ta không thể nào không chú ý đến yếu tố
“đặc sắc Trung Hoa” và “bảo vệ và phát triển tiếng Việt” trong cách tiếp
nhận các từ mượn trong hai tiếng