Về thực tiễn Xây dựng được câu hỏi nêu vấn đề trong dạy học các tác phẩm truyện ngắn, gắn liền với đặc trưng của truyện ngắn 1930-1945, và có thể áp dụng cho các truyện ngắn hiện đại kh
Trang 1Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
-
DƯƠNG THỊ THU TRANG
VẬN DỤNG DẠY HỌC NÊU VẤN ĐỀ VỚI CÁC TÁC PHẨM TRUYỆN NGẮN 1930- 1945
TRONG CHƯƠNG TRÌNH NGỮ VĂN THPT
Chuyên ngành: Lý luận và phương pháp dạy học Văn- Tiếng Việt
Trang 2i
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả trong luận văn là trung thực và chưa ai công bố trong bất kì công trình nào khác
Tác giả luận văn
Dương Thị Thu Trang
Trang 3ii
LỜI CẢM ƠN
Thực hiện chủ trương của lãnh đạo nhà trường về việc không ngừng nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ cho cán bộ, giáo viên, thấy rõ trách nhiệm của bản thân; tôi đã theo học chương trình đào tạo Thạc sĩ khóa 22( 2014- 2016) chuyên ngành Lí luận và phương pháp dạy học Văn - Tiếng Việt của Trường Đại học Sư phạm- Đại học Thái Nguyên
Xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo trong khoa Ngữ Văn , Khoa Sau Đại Học, Ban giám hiệu trường Đại học Sư Phạm Thái Nguyên và Trường THPT Bãi Cháy đã tạo điều kiện cho tác giả trong quá trình nghiên cứu luận văn
Có được luận văn tốt nghiệp cuối khóa, cùng sự cố gắng của bản thân, tôi còn nhận được sự giúp đỡ đặc biệt của PGS.TS Vũ Nho- người đã trực tiếp hướng dẫn , dìu dắt và chỉ bảo góp ý cho tôi trong quá trình nghiên cứu và hoàn thiện luận văn
Xin chân thành cảm ơn!
Tác giả luận văn
Dương Thị Thu Trang
Trang 4iii
MỤC LỤC
Lời cam đoan i
Lời cảm ơn ii
Mục lục iii
Danh mục chữ viết tắt iv
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Lịch sử vấn đề 2
3 Mục đích nghiên cứu 4
4 Nhiệm vụ nghiên cứu 5
5 Phương pháp nghiên cứu 5
6 Giả thuyết khoa học 6
7 Đóng góp của luận văn 6
8 Cấu trúc luận văn 6
Chương 1: CƠ SỞ KHOA HỌC VẬN DỤNG DẠY HỌC NÊU VẤN ĐỀ VỚI TRUYỆN NGẮN 7
1.1 Dạy học nêu vấn đề và việc vận dụng vào việc dạy học 7
1.1.1 Dạy học nêu vấn đề dưới góc nhìn của lý luận dạy học hiện đại 7
1.1.2 Khả năng vận dụng dạy học nêu vấn đề 12
1.1.3 Thực tế việc vận dụng dạy học nêu vấn đề trong dạy học các tác phẩm truyện 1930- 1945 ở THPT 13
1.1.4 Học sinh THPT với việc giải quyết vấn đề trong học tập 18
1.2 Đặc trưng thể loại truyện ngắn 19
1.2.1 Thuật ngữ truyện ngắn 19
1.2.2 Nội dung của truyện ngắn 20
1.2.3 Hình thức của truyện ngắn 22
1.2.4.Một số đặc điểm quan trọng truyện ngắn cần lưu ý khi dạy học 25
Kết luận chương 1 30
Trang 5iv
Chương 2: VẬN DỤNG DẠY HỌC NÊU VẤN ĐỀ DẠY HỌC
TRUYỆN NGẮN 1930-1945 31
2.1 Quan niệm vấn đề và vấn đề trong các tác phẩm truyện ngắn 1930-1945 31
2.1.1 Quan niệm vấn đề 31
2.1.2 Vấn đề trong các tác phẩm truyện ngắn 1930-1945 32
2.2 Xây dựng câu hỏi nêu vấn đề cho việc dạy truyện ngắn 37
2.2.1 Xây dựng câu hỏi nêu vấn đề phải tạo ra tình huống có vấn đề - tình huống kích thích tính tích cực nhận thức ở học sinh 37
2.2.2 Xây dựng câu hỏi nêu vấn đề phải mang tính sáng tạo 39
2.2.3 Câu hỏi nêu vấn đề phải mang tính hệ thống 39
2.2.4 Câu hỏi nêu vấn đề phải phù hợp với các phương pháp trong khuôn khổ của giờ dạy tác phẩm truyện ngắn 40
2.3 Xây dựng tình huống có vấn đề khi dạy truyện ngắn 41
2.3.1 Dựa vào tình huống truyện và tính cách của nhân vật 41
2.3.2 Dựa vào đặc trưng sáng tạo trong kết cấu và nghệ thật trong tác phẩm truyện ngắn giai đoạn 1930- 1945 45
2.4 Những yêu cầu cơ bản sử dụng dạy học nêu vấn đề 49
2.4.1 Dạy học nêu vấn đề cần được phối hợp với các kiểu dạy học khác 49
2.4.2 Dạy học nêu vấn đề cần được sử dụng linh hoạt 50
2.4.3 Dạy học nêu vấn đề cần đảm bảo mức độ 50
Kết luận chương 2 51
Chương 3: THỰC NGHIỆM GIỜ DẠY NÊU VẤN ĐỀ TRONG DẠY HỌC TRUYỆN NGẮN GIAI ĐOẠN 1930- 1945 52
3.1 Những vấn đề chung của thực nghiệm 52
3.1.1 Mục đích của thực nghiệm 52
3.1.2 Nhiệm vụ của thực nghiệm 52
3.1.3 Địa bàn dạy thực nghiệm và đối tượng thực nghiệm 53
3.2 Thiết kế giáo án dạy thực nghiệm 53
Trang 6v
3.2.1 Giáo án về truyện ngắn Chí Phèo 53
Nội dung cần dạt 67
3.3 Đánh giá kết quả thực nghiệm 78
3.3.1 Kết quả điều tra bằng phiếu hỏi (về mặt định tính) 79
3.3.2 Kết quả qua bài kiểm tra (về mặt định lượng) 81
3.3.3 Nhận xét về kết quả kiểm tra 84
Kết luận chương 3 86
KẾT LUẬN 87
TÀI LIỆU THAM KHẢO 91
Trang 7- ĐHTN- ĐHSP : Đại học Thái Nguyên- Đại học sư phạm
- Nxb ĐHQGHN : Nhà xuất bản Đại học Quốc Gia Hà Nội
- Nxb CTQGHN : Nhà xuất bản chính trị Quốc Gia Hà Nội
- Nxb VH : Nhà xuất bản Văn Hóa
- SL : Số lượng
- KT : Kiểm tra
- % : Phần trăm
- TPVH : Tác phẩm văn học
Trang 8MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
1.1 Vấn đề đổi mới phương pháp dạy học đặt ra trong thực tế với hai hình thức: Thay đổi phương pháp có tính toàn diện, triệt để; và cải tiến, đổi mới phương pháp từng phần trong công việc hàng ngày Hiện nay, cùng với việc đổi mới, chương trình và sách giáo khoa, việc thay đổi phương pháp có tính chiến lược về cơ bản đã xong Nhưng việc cải tiến, đổi mới phương pháp từng phần vẫn luôn luôn đặt ra với mỗi giáo viên trong từng ngày lên lớp Đề tài luận văn theo hướng đổi mới phương pháp trong công việc hàng ngày của giáo viên, mà mục tiêu cơ bản là đổi mới, cải tiến việc dạy thể loại truyện ngắn, trong đó giới hạn trong truyện ngắn giai đoạn sau 1930 – 1945 của chương trình Ngữ văn THPT 1.2 Môn Ngữ văn với đặc thù vừa mang tính khoa học vừa mang tính nghệ thuật là một môn học rất hấp dẫn, lý thú, bổ ích, có khả năng giúp học sinh phát triển toàn diện về trí tuệ, nhân cách, tâm hồn Thế nhưng thực tế hiện nay nhiều học sinh không thích học, các em học với tâm thế bị cưỡng ép, mang tính bắt buộc, đối phó Vì vậy, việc đổi mới, cải tiến PPDH bộn môn có vai trò rất quan trọng, quyết định tới việc nâng cao chất lượng dạy học, giúp tạo hứng thú
cho học sinh trong học tập Chúng tôi cho rằng: “Vận dụng dạy học nêu vấn đề với các tác phẩm truyện ngắn 1930 – 1945 trong chương trình Ngữ văn THPT ” chính là một trong những giải pháp nhằm đổi mới PPDH
đáp ứng yêu cầu trên
1.3 Chương trình và SGK mới sau 2015 được xây dựng theo hướng tăng cường khả năng hoạt động của người học, phát triển các năng lực người học Vì vậy vận dụng dạy học nêu vấn đề để dạy học Ngữ văn là một hình thức dạy học tạo điều kiện giúp HS hình thành năng lực giải quyết vấn đề, phát huy vai trò chủ động, năng động sáng tạo, đáp ứng yêu cầu của một công dân trong thời kì hội nhập khu vực và thế giới của đất nước
Trang 91.4 Truyện ngắn 1930- 1945 là những truyện ngắn mở đầu cho một loạt các truyện ngắn hiện đại của Việt Nam và thế giới trong chương trình và SGK Ngữ văn THPT Nắm vững đặc điểm thể loại truyện ngắn sẽ giúp cho người dạy có
cơ sở lí thuyết cơ bản để vận dụng khi dạy các truyện ngắn khác như Vợ chồng
A Phủ, Vợ nhặt, Rừng xà nu, Chiếc thuyền ngoài xa, Một người Hà Nội, Thuốc,
Số phận con người…
Với các lí do trên, chúng tôi chọn đề tài :'' Vận dụng dạy học nêu vấn đề với các tác phẩm truyện ngắn 1930 – 1945 trong chương trình Ngữ văn THPT''
2 Lịch sử vấn đề
2.1 Về lý thuyết dạy học nêu vấn đề
Lí thuyết dạy học nêu vấn đề xuất hiện ở nước ngoài, chủ yếu là các nước châu Âu Sau khi các cuốn sách về dạy học nêu vấn đề được dịch và lưu hành ở Việt Nam, các nhà nghiên cứu về tâm lí học, giáo dục học và phương pháp dạy học bộ môn ở nước ta cũng đã tập trung nghiên cứu về vấn đề này Trong phạm vi đề tài, chúng tôi điểm tóm tắt những công trình chính
2.1.1 Ở nước ngoài
- Tác giả V Ôkôn ( Ba Lan) với cuốn sách “Những cơ sở của việc dạy
học nêu vấn đề” ( 1968) gồm 12 chương là cuốn sách đề cập toàn diện và đầy
đủ đến kiểu dạy học mới
- Tiếp theo là các tác giả Nga như I.Lecne, I Khaclamov Công trình của
họ đã được dịch ra tiếng Việt trong hai năm 1977 và 1978 Các tác giả này tiếp thu và mở rộng vấn đề của V Ôkôn
- Gần nhất là Z Rez trong cuốn “Phương pháp luận dạy học văn”( Bản dịch của Phan Thiều, Nxb GD- HN, 1983)
Trong công trình nghiên cứu tác giả đã trình bày khái niệm dạy học nêu vấn đề và câu hỏi nêu vấn đề trong dạy học tác phẩm văn chương Tác giả cũng chỉ rõ: Câu hỏi nêu vấn đề là nhân tố tạo tình huống có vấn đề Câu hỏi
Trang 10phải đảm bảo tiêu chí: ''có mâu thuẫn" , " phát hiện được bình diện thứ hai của sự kiện", "phù hợp với bản chất của tác phẩm nghệ thuật và được học sinh quan tâm"
2.1.2 Ở Việt Nam
- Những người tiếp xúc với lí thuyết dạy học nêu vấn đề đầu tiên chính là các nhà nghiên cứu kiêm dịch giả như Phạm Hoàng Gia, Phan Tất Đắc, Đỗ Thị Trang, Nguyễn Ngọc Quang, Phan Thiều Chính họ đã dịch và giới thiệu các tác giả nước ngoài
- GS Phan Trọng Luận là người là người nhiệt tình cổ vũ cho việc phân tích nêu vấn đề Trong cuốn "Cảm thụ văn học - Giảng dạy văn học" ( Nxb GD- 1983),
Giáo sư đã trình bày và làm rõ khái niệm " dạy học nêu vấn đề ", ''tình huống có vấn đề'' Đồng thời, Giáo sư cũng đưa ra một số đặc điểm của câu hỏi nêu vấn đề Đặc biệt, tác giả cũng đã xây dựng được một số tiêu chí của câu hỏi nêu vấn đề Câu hỏi có hệ thống và sát hợp với tác phẩm, khêu gợi được hứng thú của học sinh
- GS Đặng Vũ Hoạt, người nghiên cứu giáo dục học cũng có bài báo quan trọng
“Một số vấn đề về dạy học nêu vấn đề” ( Tạp chí Thông tin khoa học giáo dục, số 45 năm 1994) Trong bài báo này, GS đã tập trung làm rõ ba vấn
đề quan trọng:
- Bản chất và chức năng dạy học nêu vấn đề
- Tình huống có vấn đề và các mức độ của dạy học nêu vấn đề
- Các bước dạy học nêu vấn đề
- PGS TS Vũ Nho công bố cuốn sách mỏng '' Vận dụng dạy học nêu vấn
đề trong giảng văn ở trường THCS " ( Nxb GD, 1999)
Trong tài liệu này, Phó Giáo sư tiếp tục khẳng định sự cần thiết ứng dụng dạy học nêu vấn đề vào giờ giảng văn ở THCS Tác giả đã tiếp thu có chọn lọc tất cả các lí thuyết về dạy học nêu vấn đề để xây dựng khá hoàn chỉnh về dạy
Trang 11học nêu vấn đề của Việt Nam Lần đầu tiên, tác giả đã gắn dạy học nêu vấn đề với những bài giảng văn cụ thể, bằng câu hỏi cụ thể
- Sau này GS Phan Trọng Luận hướng dẫn nghiên cứu sinh Nguyễn Thị Ngân bảo vệ thành công luận án tiến sĩ về sử dụng câu hỏi nêu vấn đề; GS TS Nguyễn Thanh Hùng hướng dẫn nghiên cứu sinh Lê Trung Thành nghiên cứu “ Mối quan hệ qua lại giữa phương pháp nêu vấn đề với phương pháp nghiên cứu và phương pháp gợi mở trong việc dạy học tác phẩm văn chương ở phổ thông trung học “ Đó là hai công trình nghiên cứu kĩ về dạy học nêu vấn đề ở Việt Nam
2.2 Về các tác phẩm truyện ngắn 1930 – 1945 trong chương trình và sách Ngữ văn THPT
Các tác phẩm truyện ngắn 1930 -1945 được học trong SGK ngữ văn lớp
11 cả bộ nâng cao và không nâng cao Đề cập đến các tác phẩm Hai đứa trẻ, Chữ người tử tù, Chí Phèo gồm có các tài liệu sau:
- Sách giáo viên Ngữ văn lớp 11- tập 1( Nxb GD, 2007)
- Thiết kế bài giảng Ngữ văn lớp 11- tập 1(Nxb GD, 2006)
- Phân tích tác phẩm Ngữ văn 11( Nxb GD VN, 2010 ) tác giả Trần Nho Thìn
- Chuẩn kiến thức kĩ năng Ngữ văn 11 Nxb GD Việt Nam, 2010
- Thiết kế bài học tác phẩm văn chương ở trường phổ thông Tập 1 Tác giả Phan Trọng Luận ( Nxb GD - 1997)
Nói chung khi nói về dạy học nêu vấn đề và câu hỏi nêu vấn đề, các tài liệu và cuốn sách trên ít nhiều lấy ví dụ từ các tác phẩm truyện ngắn lớp 11
Tuy nhiên chưa có tác giả nào tập trung nghiên cứu'' Vận dụng dạy học nêu vấn đề với các tác phẩm truyện ngắn 1930 – 1945 trong chương trình Ngữ văn THPT'' như đề tài của chúng tôi
3 Mục đích nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu bản chất của dạy học nêu vấn đề, các đặc trưng của truyện ngắn giai đoạn 1930-1945; từ đó vận dụng dạy học nêu vấn đề vào việc
Trang 12dạy học các truyện ngắn trong sách giáo khoa lớp 11 THPT nhằm nâng cao chất lượng giảng dạy tác phẩm truyện ngắn nói riêng và dạy học phân môn văn nói chung
4 Nhiệm vụ nghiên cứu
4.1 Tập hợp tư liệu, nghiên cứu lý luận, tìm hiểu thực tế để làm tiền đề cho việc tiến hành thực hiện đề tài luận văn
4.2 Đề xuất cách thức đặt câu hỏi nêu vấn đề và áp dụng trong dạy học tác phẩm văn học lớp 11 nhằm mục đích nâng cao hiệu quả
4.3 Thiết kế bài giảng thực nghiệm theo ý tưởng của tác giả luận văn, phù hợp với mục đích, nhiệm vụ đã đặt ra
4.4 Tiến hành thực nghiêm sư phạm để kiểm chứng kết quả nghiên cứu
5 Phương pháp nghiên cứu
Chúng tôi sử dụng các phương pháp nghiên cứu phổ biến, quen thuộc đối với việc nghiên cứu đề tài thuộc khoa học phương pháp
5.1 Phương pháp nghiên cứu lý luận
Nghiên cứu các công trình lý luận về kiểu dạy học nêu vấn đề, trong đó
có câu hỏi nêu vấn đề Nghiên cứu các chuyên luận về đổi mới phương pháp dạy học văn
5.2 Phương pháp khảo sát
Khảo sát tình hình vận dụng câu hỏi nêu vấn đề của giáo viên THPT
trong giờ dạy học tác phẩm truyện ngắn lớp 11 Từ đó tìm ra những ưu điểm, hạn chế của việc vận dụng câu hỏi nêu vấn đề trong dạy học truyện ngắn những năm qua
5.3 Phương pháp thực nghiệm
Thực nghiệm để kiểm chứng khả năng ứng dụng câu hỏi nêu vấn đề trong giờ dạy học truyện ngắn lớp 11 Kết quả thực nghiệm là cơ sở để đánh giá hướng đi đúng đắn của đề tài, đồng thời khẳng định tính khả thi của những biện pháp và cách thức do tác giả luận văn đề xuất
Trang 135.4 Phương pháp thống kê, phân tích
Thống kê kết quả khảo sát và kết quả thực nghiệm trong tiến trình
nghiên cứu của đề tài
6 Giả thuyết khoa học
Nếu vận dụng lí luận dạy học nêu vấn đề trong giờ dạy các tác phẩm truyện ngắn giai đoạn 1930-1945 một cách hợp lí và sáng tạo, sẽ góp phần nâng cao chất lượng những giờ dạy học thể loại truyện ngắn nói riêng và chất lượng dạy học Văn nói chung
7 Đóng góp của luận văn
7.1 Về lý luận
Luận văn lý giải một cách khoa học, có hệ thống về khả năng vận dụng dạy học nêu vấn đề trong dạy học truyện ngắn giai đoạn 1930-1945 ở THPT, xây hệ thống các câu hỏi nhằm hướng tới phát huy tính tích cực, chủ động sáng tạo của học sinh, góp phần hoàn thiện bổ sung lý luận về phương pháp dạy học văn ở trường THPT
7.2 Về thực tiễn
Xây dựng được câu hỏi nêu vấn đề trong dạy học các tác phẩm truyện ngắn, gắn liền với đặc trưng của truyện ngắn 1930-1945, và có thể áp dụng cho các truyện ngắn hiện đại khác của Việt Nam và nước ngoài trong chương trình Ngữ văn THPT Giúp học sinh phát huy được tính tích cực, chủ động, sáng tạo trong hoạt động tiếp nhận các tác phẩm truyện ngắn THPT
8 Cấu trúc luận văn
Ngoài phần Mở đầu, phần Kết luận, Tài liệu tham khảo, Luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Cơ sở khoa học vận dụng dạy học nêu vấn đề với truyện ngắn Chương 2: Cách thức vận dụng câu hỏi nêu vấn đề trong dạy học truyện
ngắn 1930-1945
Chương 3: Thiết kế giáo án và thực nghiệm
Trang 14Chương 1
CƠ SỞ KHOA HỌC VẬN DỤNG DẠY HỌC NÊU VẤN ĐỀ VỚI
TRUYỆN NGẮN 1.1 Dạy học nêu vấn đề và việc vận dụng vào việc dạy học
1.1.1 Dạy học nêu vấn đề dưới góc nhìn của lý luận dạy học hiện đại
1.1.1.1 Khái niệm dạy học nêu vấn đề
V.ÔKon cho rằng : '' Chúng tôi hiểu dạy dạy học nêu vấn đề dưới dạng chung nhất là toàn bộ các hành động như tổ chức các tình huống có vấn đề, biểu đạt ( nêu ra) các vấn đề (tập cho học sinh quen dần để tự làm lấy công việc này), chú ý giúp đỡ học sinh những điều cần thiết để giải quyết vấn đề, kiểm tra cách giải quyết đó và cuối cùng lãnh đạo quá trình hệ thống hóa và củng cổ các kiến thức đã tiếp thu được''.[51, tr.103]
Theo I.Ia Lecne: '' Dạy học nêu vấn đề là phương pháp dạy học, trong đó học sinh tham gia một cách có hệ thống vào quá trình giải quyết các vấn đề và bài toán có vấn đề được xây dựng theo nội dung tài liệu học".[24, tr 108 ].
T.V.Cudriasep cũng có định nghĩa như sau:''Dạy học nêu vấn đề bao gồm việc tạo ra trước học sinh những tình huống có vấn đề, làm cho các em ý thức được, thừa nhận và giải quyết những tình huống này trong quá trình hoạt động chung của học sinh và giáo viên với tính tự lực cao nhất của học sinh và với sự chỉ đạo chung của giáo viên'' [Dẫn theo 49, tr 52]
Theo Z Rez định nghĩa dạy học nêu vấn đề được diễn đạt như sau: ''Dạy học nêu vấn đề là một hệ thống các tình huống có vấn đề để liên kết với nhau
và phức tạp dần lên mà qua giải quyết các tình huống đó, học sinh dưới sự giúp
đỡ và chỉ bảo của thầy cô giáo sẽ nắm được nội dung của môn học, cách thức môn học đó, phát triển cho mình những đức tính cần thiết để sáng tạo trong khoa học và cuộc sống Mức độ của tình huống có vấn đề và tính chất của câu hỏi mang vấn đề tùy thuộc vào trình độ phát triển và năng lực văn học của học sinh, do mục đích sư phạm của việc dạy học quy định''.[55, tr.135]
Trang 15Còn theo Phó Giáo sư Tiến sĩ Vũ Nho về kiểu dạy học nêu vấn đề thì:'' Đó
là kiểu dạy học tổng kết những thành tựu dạy học trong những năm 60-70 của thế kỉ XX", là '' Kiểu dạy học hiện đại, không chỉ dạy học sinh tri thức mà còn dạy cách làm ra tri thức; không chỉ dạy học sinh tiếp nhận tri thức , ghi nhớ thông tin mà còn dạy học sinh chủ động lựa chọn thông tin, xử lý thông tin hiệu quả''.[34, tr.3, tr.21 ]
Tuy giữa các tài liệu nghiên cứu dạy học nêu vấn đề còn có sự chưa thống nhất về mặt thuật ngữ, tên gọi ( kiểu, hướng, phương pháp, nêu vấn đề hay giải quyết vấn đề) hoặc có sự phân loại, xếp loại khác nhau về một nội dung cụ thể của dạy học nêu vấn đề, nhưng tất cả các công trình khoa học trên đều nhấn mạnh ưu thế cũng như ảnh hưởng quan trọng của việc dạy học nêu vấn đề đối
với việc dạy và học trong nhà trường '' Đó là một kiểu , một phương pháp dạy học không thể không sử dụng trong hoạt động dạy và học của nhà trường nếu như chúng ta muốn phát huy tốt tính chủ động tích cực, sáng tạo của học sinh trong học tập''
Nhìn chung, các định nghĩa trên đều có nét chung nhất là đề cập vấn đề, tình huống có vấn đề và câu hỏi nêu vấn đề Dưới đây, chúng tôi tìm hiểu và
làm rõ các thuật ngữ quan trọng, then chốt đó
1.1.1.2 Thuật ngữ trong dạy học nêu vấn đề
Vấn đề là gì?
Các nhà nghiên cứu coi vấn đề là điều kiện hiển nhiên được thừa nhận, nên đi thẳng vào tình huống có vấn đề Tuy nhiên có thể tìm thấy quan niệm '' vấn đề'' trong dạy học nêu vấn đề
'' Vấn đề nhận thức được định nghĩa như là mâu thuẫn giữa sự hiểu biết
và không hiểu biết, nó chỉ được giải quyết bằng con đường tìm kiếm lời giải đáp cho những câu hỏi đã nẩy sinh ra'' E.V.Iliencop nhận xét rằng ''Một câu hỏi thật sự có nghĩa là vấn đề đòi hỏi phải được giải quyết thông qua việc nghiên cứu tiếp tục những sự kiện thì bao giờ cũng có dạng mâu thuẫn logic
Trang 16Vì vậy chỉ ở chỗ nào mà trong thành phần của kiến thức đột nhiên xuất hiện mâu thuẫn (người nói thế này, người nói thế khác) thì chính ở đó mới xuất hiện nhu cầu phải nghiên cứu đối tượng sâu hơn''.[dẫn theo 34,tr 55]
Theo V.Okon thu hẹp định nghĩa về vấn đề trong học tập (cũng là một kiểu nhận thức có tổ chức, hướng dẫn trong nhà trường)
''Vấn đề trong học tập hình thành từ một khó khăn về lý luận hay thực tiễn mà việc giải quyết khó khăn đó là kết quả của tính tích cực nghiên cứu của bản thân học sinh Tình huống được tổ chức hợp lý thường là nền tảng của khó khăn này, trong tình huống đó, học sinh được những nhu cầu nhất định hướng dẫn, ra sức khắc phục khó khăn và do đó đạt tới những kiến thức mới và kinh nghiệm mới'' [51, tr 101]
Theo V.Ô kon, mỗi vấn đề phải có cái gì chưa biết, đồng thời phải có cái gì
đã biết, đã cho Vấn đề được giải quyết thông qua hoạt động tư duy của học
sinh '' Vấn đề là những mâu thuẫn giữa tri thức và văn học, phương thức phân tích, cắt nghĩa, bình giá tác phẩm đã có ở học sinh với các giá trị nội dung tư tưởng và giá trị thẩm mĩ cần tìm của tác phẩm Mâu thuẫn này chỉ được giải quyết bằng những nỗ lực hoạt động sáng tạo và cảm xúc thẩm mỹ của học sinh'' [51, tr.13]
hợp lý của Đặng Vũ Hoạt và Giáo sư Phan Trọng Luận: Tình huống có vấn đề
là tình huống có chủ thể nhận thức có trạng thái tâm lý đặc biệt: cảm thấy có cái '' khó'' trong nhận thức , hay nói cách khác, có mâu thuẫn nhận thức giữa
Trang 17cái đã biết và cái chưa biết, đồng thời chủ thể có phương thức hành động mới
để đạt được hiểu biết mới [15, tr.14]
Như vậy trong tình huống có vấn đề phải có cái chưa biết Cái chưa biết
đó phải khơi gợi mong muốn biết được hay là sự chiếm lĩnh của chủ thể và cái chưa biết đó phải vừa với tầm hiểu biết của chủ thể, nghĩa là chủ thể đó có thể dựa vào tri thức đã biết để tìm ra và xét về cấu trúc tâm lý của tình huống có vấn đề chúng có ba thành tố liên quan chặt chẽ: Cái chưa biết, nhu cầu nhận thức và khả năng có thể chiếm lĩnh cái chưa biết của chủ thể
Cái chưa biết là yếu tố trung tâm của tình huống có vấn đề Đó là những tri thức mới, những cách thức hoạt động mới mà chủ thể nhận thức cần '' phát hiện'' và chiếm lĩnh
Cái chưa biết phải kích thích được chủ thể nhận thức , làm cho chủ thể
đó có nhu cầu nhận thức thì mới tạo ra được động lực thúc đẩy hoạt động nhận thức Cái chưa biết được đặt ra trước chủ thể phải phù hợp với sức của chủ thể Nghĩa là chủ thể phải chiếm lĩnh được cái chưa biết bằng tri thức và cách thức đã có sẵn, giải quyết được vấn đề đặt ra trong tình huống có vấn đề
Thiếu một trong ba yếu tố thành phần trên thì sẽ không có tình huống có vấn đề
Câu hỏi nêu vấn đề được quan niệm như thế nào?
Có thể thấy rằng câu hỏi nêu vấn đề liên quan chặt chẽ đến vấn đề và tình huống có vấn đề Trong nhiều trường hợp khi đã xác định được vấn đề, nhờ câu hỏi (hoặc hệ thống câu hỏi, tùy thuộc vào vấn đề đơn giản hay phức tạp) mà giáo viên tạo được tình huống có vấn đề, tức là xác định được cái chưa biết, cuốn hút được sự quan tâm của học sinh, và tiên lượng trước khả năng giải quyết vấn đề của các em
Câu hỏi nêu vấn đề là một câu hỏi, cho nên bản thân nó có hình thức gần gũi với các loại câu hỏi thường gặp khi phân tích tác phẩm văn chương Tuy nhiên chỉ có những câu hỏi nhằm xác định rõ vấn đề và tạo ra tình huống
Trang 18có vấn đề mới là câu hỏi nêu vấn đề.“Câu hỏi nêu vấn đề đặt ra từ “vấn đề” của tác phẩm Là câu hỏi chứa đựng mâu thuẫn (giữa cái đã biết và cái chưa biết) nhằm tạo được tình huống có vấn đề, kích thích được tính tích cực, chủ động
và sáng tạo trong cảm thụ văn học của học sinh Câu hỏi phù hợp với tầm đón nhận của học sinh và được các em tiếp nhận một cách có ý thức”[43, tr 3]
Câu hỏi nêu vấn đề có đặc trưng là nhằm xác định rõ vấn đề và tạo ra tình huống có vấn đề đòi hỏi học sinh phải giải quyết.Câu hỏi nêu vấn đề có
liên quan chặt chẽ đến “vấn đề” và “tình huống có vấn đề”
1.1.1.3 Mối quan hệ của vấn đề, tình huống có vấn đề và câu hỏi nêu vấn đề
Về mặt hình thức thì cả ba đều chứa đựng yếu tố “vấn đề” “Vấn đề” trong tác phẩm văn chương nào cũng có Nếu hiểu như định nghĩa đã được chấp nhận thì khi tìm hiểu một tác phẩm văn chương sẽ có thể có nhiều vấn đề
Có vấn đề lớn bao gồm những vấn đề trung bình, và mỗi vấn đề trung bình lại gồm một số vấn đề nhỏ hơn, giản đơn hơn Trong dạy học, phát triển vấn đề đòi hỏi ở giáo viên một trình độ cao của sự phát triển trí tuệ và sự thành thục của kĩ năng Từ chỗ tìm được vấn đề đến chỗ xây dựng được tình huống có vấn đề lại
là một yêu cầu cao về nghệ thuật sư phạm
Như vậy, câu hỏi nêu vấn đề là cơ sở hình thành và xuất hiện tình huống
có vấn đề Có vấn đề và câu hỏi nêu vấn đề, mới có tình huống có vấn đề Câu hỏi nêu vấn đề chính là phương tiện quan trọng để người giáo viên đưa vấn đề vào tình huống có vấn đề Và như thế câu hỏi nêu vấn đề là sản phẩm nghệ thuật sư phạm của người giáo viên Xét trong mối quan hệ của dạy học nêu vấn
đề, thì câu hỏi nêu vấn đề là một thủ pháp của kiểu dạy học nêu vấn đề Làm thế nào để tạo ra được những câu hỏi nêu vấn đề? Đây chính là khâu thử thách bản lĩnh, kinh nghiệm sư phạm của người thầy
1.1.1.4 So sánh sự khác biệt giữa câu hỏi nêu vấn đề và câu hỏi tái hiện
Câu hỏi nêu vấn đề khác với câu hỏi tái hiện ở tính mục đích
Câu hỏi tái hiện nhằm yêu cầu học sinh diễn đạt lại những kiến thức đã nắm bắt được hoặc vận dụng những phương thức hành động cũ, những kinh
Trang 19nghiệm có sẵn ở học sinh mà không cần sáng tạo trong hoàn cảnh mới Câu hỏi nêu vấn đề nhằm yêu cầu học sinh phải phát huy những tư duy sáng tạo, làm rõ vấn đề hoặc đặt ra được vấn đề trong tác phẩm Câu hỏi nêu vấn đề vì thế yêu cầu học sinh phải có khả năng tổng hợp, khả năng bao quát tri thức từ nhiều nguồn kiến thức, từ nhiều nguồn tài liệu để trả lời
Câu hỏi nêu vấn đề khác với câu hỏi tái hiện ở tính hệ thống
Câu hỏi tái hiện thường vụn vặt, thiếu tính hệ thống Câu hỏi nêu vấn đề nằm trong một hệ thống (không chỉ riêng hệ thống của những câu hỏi có vấn đề) có quan hệ chặt chẽ và như một tất yếu của mối quan hệ nguyên nhân – hệ quả được nảy sinh trong quá trình dạy học
“Câu hỏi nêu vấn đề mang tính tổng hợp, có hệ thống, phức tạp về nội dung,…” [47] “Câu hỏi nêu vấn đề chứa đựng xâu chuỗi các vấn đề, chi tiết,
sự kiện trong tác phẩm”[22]
Câu hỏi nêu vấn đề khác câu hỏi tái hiện ở trạng huống tâm lý tích cực
Câu hỏi nêu vấn đề đặt học sinh vào một trạng huống, một quá trình vận động tâm lý, ý thức tích cực Câu hỏi tái hiện không đặt học sinh vào trạng huống tâm lý này
Tóm lại: Câu hỏi nêu vấn đề là m ột khâu quan trọng để thực hiện kiểu
dạy học nêu vấn đề Muốn vận dụng dạy học nêu vấn đề vào tác phẩm văn chương nói chung, tác phẩm truyện ngắn giai đoạn 1930- 1945 trong chương trình THPT nói riêng, đòi hỏi phải nghiên cứu kỹ, nắm bắt sâu sắc tác phẩm, và
có thể đặt ra các loại câu hỏi nêu vấn đề
Với yêu cầu phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của học sinh trong dạy văn học nói chung, trong dạy học tác phẩm truyện ngắn giai đoạn 1930-
1945 thuộc chương trình THPT nói riêng, sử dụng câu hỏi nêu vấn đề, hoàn toàn có khả năng dễ được học sinh tiếp nhận
1.1.2 Khả năng vận dụng dạy học nêu vấn đề
Khi ở nước ngoài dạy học nêu vấn đề được nghiên cứu và áp dụng khá phổ biến thì ở Việt Nam, nó được coi là khá mới mẻ Cho đến bây giờ thì dạy
Trang 20học nêu vấn đề đã có hơn ba chục năm cọ xát với thực tế, nó đã chẳng có tính chất mới lạ như thủa ban đầu Khi V.Okon gắn liền với dạy học nêu vấn đề với việc dạy học theo nhóm là dạy học chương trình hóa và dạy học theo đội Lúc đó các phương tiện kĩ thuật ghi âm, truền hình, vi tính còn chưa phát triển mạnh mẽ như bây giờ Và vì vậy, dạy học nêu vấn đề được tiếp nhận cũng khác với hiện nay, khi khoa học sư phạm của thế giới đã đi chặng đường ba mươi năm và khoa học sư phạm Việt Nam cũng không quá tụt hậu
về phương diện lý thuyết
Mặc dù có nhiều biến động và thay đổi nhưng có thể khẳng định những điều cơ bản sau đây:
- Dạy học nêu vấn đề là kiểu dạy học hiện đại, đáp ứng được nhiệm vụ dạy học trong thời kì bùng nổ thông tin và phát triền của khoa học kĩ thuật - đó không chỉ là dạy học sinh tri thức, mà còn dạy cách làm ra tri thức, không chỉ dạy học sinh tiếp nhận ghi nhớ thông tin mà còn dạy học sinh chủ động lựa chọn thông tin, xử lý thông tin hiệu quả
- Dạy học nêu vấn đề phù hợp với xu hướng của giáo dục thế giới mà Unesco đã tổng kết với bốn mục tiêu: học để biết, học để làm, học để sống và học để sống với chất lượng cao
- Dạy học nêu vấn đề dù được nói đến ở nước ngoài hơn ba chục năm nay nhưng khoa học giáo dục có những tư tưởng mà hạt nhân hợp lý của nó có giá trị lâu dài hàng mấy thế kỷ Vì thế nghiên cứu dạy học nêu vấn đề và áp dụng vào công việc của giáo viên vẫn là việc làm cần thiết
- Dạy học nêu vấn đề sẽ tiếp thu thông qua kinh nghiệm và thực tiễn Việt Nam Chúng ta sẽ không áp dụng một cách máy móc (và không thể làm như thế) và cũng sẽ không cực đoan đối lập với các phương pháp, các kiểu dạy học đã có sẵn ở nhà trường hiện nay
1.1.3 Thực tế việc vận dụng dạy học nêu vấn đề trong dạy học các tác phẩm truyện 1930- 1945 ở THPT
Trước hết, chúng ta thấy rằng việc vận dụng dạy học nêu vấn đề trong dạy học tác phẩm truyện ngắn giai đoạn 1930- 1945 đòi hỏi ở người giáo viên một nghệ thuật sư phạm tổng hợp
Trang 21Như ta đã biết, mỗi tác phẩm truyện 1930-1945 ở THPT đều chứa đựng
nhiều “vấn đề” Mỗi vấn đề lại có nhiều vấn đề nhỏ hơn Các vấn đề nhỏ hơn
có mối quan hệ gắn bó với nhau theo một lôgic nhất định Dẫn dắt, khơi gợi học sinh và duy trì hứng thú, sự tìm tòi liên tục quả thật không đơn giản Có chỗ giáo viên phải đọc, rồi gợi ý Nếu các em chưa tập trung hay chưa hiểu thì phải giảng giải, hoặc phải nêu thêm câu hỏi phụ Cứ như thế cho đến khi vấn đề được giải quyết xong Rõ ràng, quá trình vận dụng câu hỏi nêu vấn đề, người giáo viên đã phải thể hiện một nghệ thuật sư phạm tổng hợp
Ai cũng biết rằng chỉ khi nào học sinh hứng thú, chủ động tham gia vào giải quyết vấn đề, việc vận dụng dạy học nêu vấn đề trong bài giảng mới đạt kếtquả
Thực tế, trước khi nêu câu hỏi có vấn đề trên lớp, giáo viên phải xây dựng được tình huống có vấn đề, thể hiện trong giáo án hay thiết kế bài giảng Triển khai tình huống này trong giờ học, yêu cầu học sinh phải có tâm thế thoải mái, hứng thú và sẵn sàng hợp tác để đi vào tìm hiểu, phân tích tác phẩm Chỉ khi nào học sinh hứng thú, chủ động, tích cực tham gia vào giải quyết vấn đề nêu ra trong câu hỏi, khi ấy, vấn đề mới thực sự được giải quyết Sự hứng thú của học sinh là một yếu tố quan trọng để triển khai việc vận dụng câu hỏi nêu vấn đề
Hiện nay, trong vận dụng câu hỏi nêu vấn đề vào giảng dạy tác phẩm truyện 1930-1945 ở THPT đang diễn ra như thế nào? Người viết đã khảo sát hiện trạng này ở hai trường THPT Bãi Cháy, THPT Hòn Gai đều thuộc tỉnh Quảng Ninh Thời gian khảo sát là năm học 2014 – 2015 và năm học 2015 -
2016 Kết quả thu được chúng tôi sẽ trình bày dưới đây
1.1.3.1 Thuận lợi
Thứ nhất, sách giáo khoa Ngữ văn nói chung, phần truyện ngắn giai đoạn 1930- 1945 nói riêng, cụ thể hơn nữa là trong chương trình lớp 11 đã hướng học sinh tìm hiểu vấn đề bằng câu hỏi nêu vấn đề từ phần hướng dẫn
học sinh học bài
Trang 22Thứ hai, giáo viên dạy văn chủ yếu còn trẻ, đa phần có trình độ đại học, được đào tạo bài bản về kiểu dạy học nêu vấn đề Giáo viên cũng được tham gia thường xuyên vào các chu kỳ bồi dưỡng; được tham dự sinh hoạt ở các chuyên đề đổi mới phương pháp dạy học của sở GD – ĐT, của cụm các nhà trường tổ chức Trong quá trình giảng dạy, giáo viên cũng được đảm bảo các điều kiện về dự giờ và rút kinh nghiệm Vận dụng câu hỏi nêu vấn đề vào giảng dạy tác phẩm văn học nói chung, tác phẩm truyện ngắn nói riêng là một nội dung trong sinh hoạt chuyên môn của tổ chuyên môn Ngữ văn ở mỗi nhà trường
Hai điều kiện thuận lợi cơ bản để giáo viên có định hướng vận dụng câu hỏi nêu vấn đề vào dạy học tác phẩm Đồng thời, đây cũng là môi trường tốt
để giáo viên thử nghiệm, thực hành ứng dụng vận dụng câu hỏi nêu vấn đề vào bài dạy tác phẩm truyện ngắn của cá nhân mình
1.1.3.2 Khó khăn
Thứ nhất, trình độ giáo viên không đồng đều, nên mức độ vận dụng câu hỏi nêu vấn đề vào giảng dạy tác phẩm truyện ngắn hoàn toàn khác nhau Có những giáo viên còn chưa hiểu thấu đáo lý thuyết vận dụng câu hỏi nêu vấn đề, thậm chí, họ còn chưa phân biệt được câu hỏi nêu vấn đề với câu hỏi tái hiện, câu hỏi tổng hợp
Thứ hai, ở mỗi trường, qua khảo sát, chúng tôi thấy còn một số giáo viên ngại khó, tránh dùng câu hỏi nêu vấn đề, hoặc chỉ cố gắng vận dụng câu hỏi nêu vấn đề trong những giờ giảng mẫu, những tiết thao giảng – dự giờ Bên cạnh những giáo viên này, đã có một số giáo viên có ý thức vận dụng câu hỏi nêu vấn đề trong dạy học tác phẩm truyện ngắn, thể hiện được điều đó trong giáo án, tuy nhiên, khi thực hiện lại lúng túng, không tạo được tâm lý hào hứng trong tiếp nhận của học sinh Câu hỏi nêu vấn đề trong các trường hợp này vẫn chưa phát huy được tác dụng
Mặt khác, một khó khăn lớn trong vận dụng câu hỏi nêu vấn đề vào giảng dạy tác phẩm truyện ngắn là vốn kiến thức, hiểu biết về văn học hiện đại
Trang 23của một số giáo viên còn hạn chế Đây là giai đoạn phát triển của văn học hiện thực phê phán 1930- 1945 Đời sống xã hội và các nhân vật được phản ánh trong tác phẩm dã cách nay hơn nửa thế kỉ Giáo viên xa lạ, học sinh càng xa lạ với những cảnh và người trong tá phẩm Điều đó gây khó khăn cho một số giáo viên trong việc chuyển tải các giá trị văn học cũng là điều dễ hiểu
Hơn thế nữa, sự thiếu thốn về tài liệu tham khảo, thiết bị dạy học và sự chưa đồng bộ trong dạy học đã gây ra nhiều “ngõ cụt” cho giáo viên và học sinh Sự thiếu hụt này, đã làm ảnh hưởng không nhỏ trong việc vận dụng câu hỏi nêu vấn đề vào giảng dạy của giáo viên
Cuối cùng, đó là nội dung và chương trình sách giáo khoa Sách giáo khoa đã có những gợi mở mang tính nêu vấn đề, song chưa có yêu cầu thực hiện và chỉ đạo thực hiện một cách triệt để Điều này đã làm cho học sinh
“được chăng hay chớ” trong giải quyết vấn đề
Cũng còn một bộ phận giáo viên “cực đoan” với việc vận dụng câu hỏi nêu vấn đề vào giảng dạy tác phẩm truyện ngắn Việc vận dụng có khi còn mang tính đối phó, chưa trở thành ý thức, trách nhiệm của người giáo viên dạy văn Sau đó, còn phải kể đến trình độ giáo viên đang không đồng đều ở mọi mặt: kiến thức , phương pháp,…
Vấn đề đặt ra là giáo viên dạy văn ở THPT phải nhận thức đúng về vai trò, hiệu quả của vận dụng câu hỏi nêu vấn đề vào giảng dạy tác phẩm truyện ngắn ở lớp 11 THPT Giáo viên phải sẵn sàng trang bị cho mình vốn kiến thức
về vận dụng câu hỏi nêu vấn đề, sẵn sàng vận dụng ở mọi tiết, mọi bài để việc vận dụng ngày một đạt kết quả tốt hơn
Dưới đây là bảng kết qủa khảo sát của chúng tôi với giáo viên hai trường THPT Bãi Cháy và THPT Hòn Gai của tỉnh Quảng Ninh
Trang 24Bảng tổng hợp kết quả phiếu điều tra
Câu hỏi về việc sử dụng dạy học nêu vấn đề
Thường xuyên Thỉnh thoảng Không sử dụng
Câu 1 6 /19 Tỉ lệ : 31,6% 11 /19 Tỉ lệ : 57,9% 2 /19 Tỉ lệ : 10,5%
Các câu hỏi quan niệm về dạy học nêu vấn đề
Quan niệm đúng Quan niệm đúng một phần Quan niệm sai Câu 2 5 /19 Tỉ lệ : 26,3% 9 /19 Tỉ lệ : 47,4% 5 /19 Tỉ lệ : 26,3% Câu 3 2 /19 Tỉ lệ : 10,5% 10 /19 Tỉ lệ : 52,7% 7 /19 Tỉ lệ : 36,8% Câu 4 6 /19 Tỉ lệ : 31,6% 11 /19 Tỉ lệ : 57,9% 2 /19 Tỉ lệ : 10,5%
Các ví dụ về dạy học nêu vấn đề
Ví dụ đúng Ví dụ đúng một phần Ví dụ sai Câu 2 5 /19 Tỉ lệ : 26,3% 11 /19 Tỉ lệ : 57,9% 3 /19 Tỉ lệ : 15,8% Câu 3 5 /19 Tỉ lệ : 26,3% 10 /19 Tỉ lệ : 52,6% 4 /19 Tỉ lệ : 21,1% Câu 4 6 /19 Tỉ lệ : 31,6% 11 /19 Tỉ lệ : 57,9% 2 /19 Tỉ lệ : 10,5%
Từ những số liệu trên, có thể nêu lên các kết luận sơ bộ sau đây: Chú ng tôi đă ̣t ra mô ̣t số câu hỏi ngắn cho giáo viên đánh giá về việc sử dụng '' vấn đề , tạo tình huống '' trong giờ ho ̣c tác phẩm văn chương
Chúng tôi có thể kết luận rằng không phải thầy cô nào cũng áp dụng các câu hỏi nêu vấn đề, câu hỏi tạo tình huống khi dạy học các tác phẩm truyện ngắn giai đoạn 1930- 1945 nói riêng và dạy học tác phẩm văn chương nói chung Các giáo viên đôi khi sử dụng câu hỏi nêu vấn đề còn vụng về Chúng
tôi xin được trích dẫn ví dụ như sau: ''Họ quan niệm vấn đề là một chủ đề hay nội dung , một yếu tố nào đó trong tác phẩm đề cập đến trong đời sống của con người'' Khi được hỏi về một ví dụ cụ thể là thầy/ cô có sử dụng việc dạy học
nêu vấn đề hay không? tỉ lệ không sử dụng và thỉnh thoảng mới dùng đến là chủ yếu Chính vì thế mà chúng tôi cho rằng đề tài mà chúng tôi đang nghiên cứu mang tính cấp thiết, thời sự, rất cần cho GV khi dạy học
Trang 251.1.4 Học sinh THPT với việc giải quyết vấn đề trong học tập
Thuận lợi cơ bản nhất trong việc vận dụng câu hỏi nêu vấn đề đối với sinh hiện nay là câu hỏi nêu vấn đề đã được đặt ra từ sách giáo khoa của chương trình Hơn thế nữa, ở các giờ học, các môn học khác, các em cũng thường xuyên phải tiếp xúc với câu hỏi nêu vấn đề Tâm lý sẵn sàng tham gia giải quyết các tình huống có vấn đề của các em là cơ sở nền tảng để thầy,
cô đặt câu hỏi nêu vấn đề Đây là thuận lợi số một, thuận lợi cơ bản nhất của học sinh với việc giải quyết vấn đề trong học tập
Song, trong việc vận dụng câu hỏi nêu vấn đề vào học tác phẩm truyện ngắn ở học sinh THPT cũng đang gặp những khó khăn cơ bản Cụ thể, học sinh còn thụ động, do giáo viên không đặt học sinh vào tình huống có vấn đề “Lối mòn” tiếp nhận kiến thức từ giáo viên, rồi ghi nhớ, rồi diễn đạt lại, thậm chí còn ăn sâu ở một số em Thực tế này đã khiến các em trở thành người “không biểu cảm” khi giáo viên phát vấn bằng câu hỏi nêu vấn đề
Một thực tế khác, học sinh còn thích học thơ hơn truyện ngắn vì truyện ngắn khô khan Việc thiếu tài liệu tham khảo bổ trợ cũng làm cho các em khó được tiếp xúc mở rộng với tác phẩm được học Các em chỉ được học truyện ngắn , chỉ được nghe qua lời giới thiệu của giáo viên nên
sẽ giảm bớt sự hứng thú
Lối sống vô cảm, tâm lý không thích học văn hiện nay của một số ít học sinh cũng là trở ngại lớn trong việc vận dụng câu hỏi nêu vấn đề vào học tác phẩm Với những học sinh này, giáo viên có dạy cái gì, đưa nội dung gì vào bài giảng thì các em cũng thấy không cần thiết và không cần biết
Thực tế cuối cùng là học sinh còn yếu trong kỹ năng phân tích và trình bày Khả năng diễn đạt, tư duy lôgic của một số em còn bộc lộ những hạn chế
cơ bản Chủ yếu các em mới dựa vào sách “Để học tốt” để tìm kiếm và viết lại những câu hỏi mà sách giáo khoa yêu cầu tìm hiểu Nếu tự trình bày thì lại lủng
Trang 26củng, hoặc nôm na, thiếu luận điểm
Những khó khăn trên đang là những cản trở lớn để học sinh vận dụng câu hỏi nêu vấn đề vào tìm tòi, chiếm lĩnh tác phẩm truyện ngắn Khắc phục những khó khăn này, đòi hỏi các em phải tự thoát ra khỏi lối học tập thụ động, phải tự xây dựng cho mình lối sống đậm tình người, giàu tình thương, lòng trắc ẩn Việc giải quyết câu hỏi nêu vấn đề trong dạy học tác phẩm truyện ngắn lớp 11
sẽ phần nào đáp ứng được yêu cầu này
1.2 Đặc trưng thể loại truyện ngắn
Các tác phẩm truyện ngắn giai đoạn 1930- 1945 ở lớp 11 THPT gồm ba
truyện : Chữ người tử tù của Nguyễn Tuân, Hai đứa trẻ của Thạch Lam và Chí Phèo của Nam Cao Muốn dạy tốt các tác phẩm này, nhất thiết giáo viên cần
nắm vững thể loại và những đặc điểm quan trọng nhất của nó Để có cơ sở vận dụng dạy học nêu vấn đề đối với các tác phẩm này, chúng tôi cho rằng cần tìm hiểu thấu đáo về thể loại và những đặc trưng cơ bản của nó
1.2.1 Thuật ngữ truyện ngắn
- Định nghĩa của truyện ngắn cũng đa dạng và phong phú Thuật ngữ truyện có nhiều nghĩa Với nguồn gốc chữ Hán, truyện ban đầu có nghĩa là giải thích kinh nghĩa Nghĩa thứ hai là bài văn xuôi ghi chép sự tích một đời của một người nào đó Đây là thể loại của sử học Mở rộng ra trong tiếng Việt, thuật ngữ truyện chỉ tác phẩm văn học là một bản kể có miêu tả, nhân vật, diễn biến sự kiện như truyện cổ tích, truyện thần thoại, truyện cười, truyện truyền kì, truyện Nôm, truyện thơ, truyện dài, truyện vừa, truyện ngắn, truyện rất ngắn
Trong phạm vi đề tài nghiên cứu này, chúng tôi hiểu truyện ngắn theo
định nghĩa của Từ điển Văn học trong mục từ Truyện ngắn:
“ Hình thức tự sự loại nhỏ Truyện ngắn khác với truyện vừa ở dung lượng nhỏ hơn, tập trung mô tả một mảnh của cuộc sống : một biến cố hay một vài biến cố xảy ra trong một giai đoạn nào đó của đời sống nhân vật, biểu hiện
Trang 27một mặt nào đó của tính cách nhân vật, thể hiện một khía cạnh nào đó của vấn
đề xã hội
Cốt truyện của truyện ngắn thường diễn ra trong một không gian và thời gian hạn chế Kết cấu của truyện ngắn cũng không chia ra nhiều tuyến phức tạp Truyện ngắn được viết ra để tiếp thu liền một mạch, đọc một hơi không nghỉ, nên đặc điểm của truyện ngắn là tính ngắn gọn Để thể hiện nổi bật tư tưởng chủ đề, khắc họa nét tính cách nhân vật đòi hỏi nhà văn viết truyện ngắn phải có trình độ điêu luyện, biết mạnh dạn gọt tỉa và dồn nén Do đó trong khuôn khổ ngắn gọn, những truyện ngắn thành công có thể biểu hiện được những vấn đề xã hội có tầm khái quát rộng lớn” (Từ điển văn học, tập 2, NXB
Khoa Học Xã Hội, H, 1984)
1.2.2 Nội dung của truyện ngắn
Truyện ngắn là hình thức tự sự cỡ nhỏ, nó gắn với tiểu thuyết hơn cả bởi hình thức tự sự tái hiện cuộc sống đương thời Nội dung thể loại truyện ngắn có thể rất khác nhau: Đời tư, thế sự, hay sử thi, nhưng cái độc đáo của nó lại là ngắn Truyện ngắn có thể kể cả một cuộc đời hay đoạn đời, một sự kiện hay một chốc lát trong cuộc sống nhân vật, nhưng cái chính của truyện ngắn không phải ở hệ thống sự kiện, mà ở cái nhìn tự sự đối với cuộc đời… Truyện ngắn nói chung không phải vì truyện của nó ngắn, mà vì cách nắm bắt cuộc sống của thể loại Tác giả truyện ngắn thường hướng tới khắc họa một hiện tượng, phát hiện một nét bản chất trong quan niệm nhân sinh hay đời sống tâm hồn con người Chính vì vậy trong truyện ngắn thường rất ít nhân vật, ít sự kiện phức tạp Chỗ khác biệt quan trọng giữa tiểu thuyết và truyện ngắn là một, nếu nhân vật chính của tiểu thuyết thường là một thế giới, thì nhân vật truyện ngắn là một mảnh nhỏ của thế giới Truyện ngắn không nhằm tới việc khắc họa những tính cách điển hình có cá tính đầy đặn và nhiều mặt trong tương quan với hoàn cảnh Nhân vật truyện ngắn thường hiện thân cho một trạng thái quan hệ xã hội,
ý thức xã hội hoặc trạng thái tồn tại của con người Mặt khác, do đó, truyện ngắn lại có thể mở rộng diện tích nắm bắt các kiểu loại nhân vật đa dạng trong
Trang 28cuộc sống, chẳng hạn như chức nghiệp, xuất thân, gia hệ, bạn bè… những kiểu loại mà trong tiểu thuyết thường hiện ra thấp thoáng trong các nhân vật phụ
Trên đây là những đặc trưng chung nhất về mặt nội dung của thể loại truyển ngắn Chúng tôi muốn đi sâu vào một khía cạnh làm nên đặc điểm thể loại của truyện ngắn, đó là chất thơ trong truyện ngắn Thông thường, người ta chỉ chú ý đến tính chất tự sự (kể chuyện) của truyện ngắn, tệ hơn là coi truyện ngắn như là một thứ văn xuôi nôm na Đó là một quan niệm sai lầm Truyện ngắn đích thực không bao giờ là những chuyện vặt vãnh mà mỗi chi tiết dù nhỏ
bé cũng tiềm ẩn hơi thở của thời đại, nỗi đau, niềm vui của nhân thế…
Những cách tân, sáng tạo của các nhà văn bậc thầy về truyện ngắn đã khẳng định rằng, truyện ngắn, về tạng chất của nó rất gần với thơ, thậm chí có thể nói một cách không đến nỗi quá đáng rằng, truyện ngắn là một dạng cấu trúc đặc biệt của thơ Có thể lấy những truyện ngắn của K.Pauxtôpxki là sự chứng minh rõ ràng ý đặc trưng này: được cảm hứng trữ tình sâu lắng dẫn dắt, những câu truyện rất giản dị mà Pauxtôpxki kể ra đã mất đi cái chất nôm na ngày thường của nó mà lấp lánh cái cấu trúc kỳ ảo của những tứ thơ thể hiện những nỗi niềm ưu tư, trắc ẩn về số phận con người, thời đại… Chất thơ trong truyện ngắn “Hai đứa trẻ” của Thạch Lam trước tiên tỏa ra từ cảnh vật quê
hương được khắc họa bằng ngòi bút miêu tả tài hoa của tác giả : “…Khi tiếng trống thu không gọi buổi chiều, phương Tây đỏ rực như lửa cháy, tre làng cắt hình rõ rệt lên nền trời…” Chất thơ còn tỏa ra trong cách tác giả miêu tả hồn
người, tinh tế trong việc nắm bắt những rung cảm tinh tế nơi tâm hồn nhân vật, tác giả dường như hóa thân vào nhân vật Liên, cảm nhận được những tác động rất nhẹ nhàng của cảnh vật vào tâm trạng Có thể nỏi Hai đứa trẻ là một bài thơ trữ tình trọn vẹn mang trong mình sự trìu mến đối với cảnh vật và long thương cảm đối với những kiếp người bình thường, nhỏ bé của Thạch Lam Người ta nói truyện ngắn của Nguyễn Tuân thường bao gồm những cảnh miêu tả hào hùng xen lẫn những giấc mơ vời vợi Truyện ngắn'' Chữ người tử tù'' có cái chất thơ mênh mang của bong dáng người khởi nghĩa, làm nền cho hành tung,
Trang 29hoạt động dữ dội của đám người hảo hán, những tay giang hồ phóng khoáng, những khách ngang tàng
Cần lưu ý rằng, chất thơ được nói đến ở đây phải được hiểu là chất trữ tình sâu lắng của những trạng huống, của những tâm trạng nhân vật trong truyện ngắn ( chứ không phải là những sự cầu kỳ trong câu văn, sự lòe loẹt trong tả cảnh…), là sự cao đẹp của tư tưởng thẩm mỹ khả dĩ có sức mạnh chắp cánh và nâng cao tâm hồn người đọc thoát khỏi sự níu kéo của cái trần tục ở đời thường, đặng vươn tới những ý tưởng đầy nhân văn và sáng tạo Với ý nghĩa đó, chất thơ của truyện ngắn chính là cái tâm trong sáng mà đầy nặng sự
ưu thời mẫn thế của nhà văn
1.2.3 Hình thức của truyện ngắn
Cốt truyện của truyện ngắn có thể là nổi bật, hấp dẫn, nhưng chức năng của nó nói chung là để nhận ra một điều gì Cái chính của truyện ngắn là gây một ấn tượng sâu đậm về tình người và cuộc đời Kết cấu của truyện ngắn thường là một sự tương phản, liên tưởng Bút pháp trần thuật thường là chấm phá Yếu tố có ý nghĩa quan trọng bậc nhất của truyện ngắn là chi tiết có dung lượng lớn và hành văn mang ẩn ý, tạo cho tác phẩm những chiều sâu chưa nói hết Ngoài ra, giọng điệu, cái nhìn cũng hết sức quan trọng, làm nên cái hay của truyện ngắn Truyện ngắn là một thể loại dân chủ, gần gũi với cuộc sống hàng ngày, lại súc tích, dễ đọc, gắn liền với hoạt động báo chí, có tác dụng ảnh hưởng kịp thời trong đời sống
Về mặt đặc trưng hình thức này, tôi cũng muốn đi sâu nghiên cứu một khóa cạnh thường được nhắc đến của thể loại : Truyện ngắn phải ngắn Chính đặc trưng này đòi hỏi truyện ngắn phải cô đọng đến mức cao nhất Điều này
cũng được X Antônốp đặc biệt nhấn mạnh : Trước mắt nhà văn viết truyện ngắn là vấn đề rất phức tạp Mọi câu chuyện càng phức tạp hơn, bởi lẽ truyện ngắn phải … ngắn Chính việc truyện ngắn phải ngắn khiến nó tự phân biệt một cách dứt khoát và rành rọt bên cạnh truyện vừa và tiểu thuyết
Trang 30Không ai máy móc qui định truyện ngắn phải bao nhiêu chữ, nhưng khuôn khổ báo chí đã hình thành nên một diện mạo tương đối định hình đối với truyện ngắn : Từ ba đến năm ngàn chữ Điều cần chú ý ở đây là : Cái vỏ hình thức bên ngoài khá định hình của thể loại truyện ngắn đã buộc nó phải tạo nên
sự biến đổi của cấu trúc nội tại, đó là sự vận động phát triển đi từ cái cá biệt đến cái chung, từ cụ thể hóa đến khái quát hóa, tức là quá trình điển hình hóa của nghệ thuật văn chương Đó chính là sự cách tân, đổi mới, sáng tạo của thể loại truyện ngắn Sự khác biệt của truyện ngắn đối với truyện dài, tiểu thuyết không phải chỉ ở độ dài ngắn Có người chú ý đến phẩm chất đặc biệt của truyện ngắn do môi trường báo chí đòi hỏi, đó là yếu tố mới lạ Song, cần lưu ý rằng, yếu tố mới lạ đó không phải là tính thời sự sát sạt, càng không phải là chuyện là đó đây của môi trường báo chí Yếu tố mới lạ của truyện ngắn là phải tạo nên được sự cuốn hút đối mới người đọc vào những sự kiện đang diễn ra một cách đầy biến động của cả đời thường và những chuyện lớn lao của thời đại Điều cấn nhấn mạnh là, yếu tố mới lạ đó là sự xâu chuỗi cái đời thường và những cái lớn lao thành một cấu trúc nghệ thuật hoàn chỉnh đặc biệt ngắn gọn,
cô đọng của truyện ngắn khiến cho cái cụ thể và cái trừu tượng, cái cá biệt và cái điển hình ở truyện ngắn khác hẳn tiểu thuyết: nó hòa vào nhau và dường như là một để tạo nên sức cuốn hút mạnh mẽ ở người đọc – đọc liền một mạch Chính ở cách đọc truyện ngắn này, một lần nữa cho ta thấy cái phẩm chất gắn
bó với thơ của nó
Ngắn ở truyện ngắn đồng nghĩa với cô đọng, tinh chất – nhìn vào đó có thể thấy cuộc sống hiện ra với đầy đủ sắc màu của nó Sự thách đố ở đây là ai
viết được ngắn gọn nhất ! Lep Tonxtoi nói : “Tôi không có thời gian để viết ngắn” Còn A Tsekhop nói : “Để có một truyện ngắn tốt, trong truyện đó, không có cái gì được thừa, cũng y như trên boong tàu quân sự, ở đó tất cả đâu vào đấy, không có gì được thừa, truyện ngắn cũng vậy Nghệ thuật viết, nói cho đúng ra, không phải ở chỗ viết như thế nào, mà là nghệ thuật vứt bỏ đi những
Trang 31gì dở kém như thế nào…” Ta sẽ dễ dàng tìm thấy không ít những ý kiến về đặc trưng của thể loại truyện ngắn gần với quan niệm này Chẳng hạn như : Trong các thể loại văn chương, truyện ngắn đóng vai trò “ hổ báo” trong đại gia đình các loại vật Ở loài thú dữ này, không được có chút mỡ thừa dính vào mọi cơ bắp, nếu không chúng không thể săn mồi được Ngắn gọn là qui luật cảu việc cấu tạo truyện ngắn, Nhờ đó khả năng phản ánh hàn hđộng một cách ngắn gọn, truyện ngắn có khi còn có thể đạt tới trình độ anh hung ca và đó là cả một
bí mật cảu nó (Hoan Bốtsơ), Truyện ngắn là một thứ giọt nước mà không có nó không thể có đại dương Theo tôi hiểu toàn bộ truyện ngắn là một tấm thảm lớn lao về cả thời đại Với những mảnh tường như rất nhỏ bé, nó góp phần tạo nên cả tấm chân dung hoàn chỉnh Truyện ngắn giống như tranh khắc gỗ, lao động nghệ thuật ở đây đòi hỏi chặt chẽ, cô đọng, các phương tiện phải được tính toán một cách tinh tế, nét vẽ phải chính xác Đây là một công việc vô cùng tinh tế Xoay sở trên một mảnh đất chật hẹp, chính nó là chỗ làm cho truyện ngắn phân biệt với các thể loại khác (TS Aitmatốp), v.v… Sêkhôp – Bậc thầy truyện ngắn cũng quan niệm rằng : “truyện ngắn là biết nói ngắn những truyện dài , lời chật ý rộng” Truyện ngắn “Người trong bao” của ông được đưa vào
giảng dạy ở chương tình phổ thong chính là tiêu biểu cho một truyện ngắn theo quan điểm này : Cô đọng, hàm súc, có sự lựa chọn chi tiết để có sức biểu hiện cao nhất, gợi mở nhiều nhất
A.Tônxtôi nhận định : “Truyện ngắn là một trong những thể tài văn học khó nhất Về nội dung cũng như về tư tưởng, nó không khác gì tiểu thuyết… chỉ có điều do ngắn nên khó hơn… Truyện ngắn đòi hỏi một công phu lao động lớn Đây là chỗ đánh dấu trình độ nghệ thuật một nền văn học
Có người ví truyện ngắn như một bức tranh đẹp nhất mà người chủ có óc thẩm mĩ biết lựa chọn bức tranh Dựa trên các yếu tố từ nội dung đến hình thức thì khi chúng ta vận dụng dạy học truyện ngắn nói chung và dạy học
Trang 32truyện ngắn giai đoạn 1930- 1945 đều phải chú ý đến những đặc điểm cơ bản của thể loại
1.2.4.Một số đặc điểm quan trọng truyện ngắn cần lưu ý khi dạy học
Trong truyện “Hai đứa trẻ”, Thạch Lam chú ý đến tình huống khác Ấy
là trời chiều và rất nhanh là giờ khắc của ngày tàn Bóng tối bao phủ, những ánh đèn leo lét Chính cái tình huống ấy làm cho việc thức đợi con tầu, thức đợi
ánh sáng từ “các toa đèn sáng trưng” càng có ý nghĩa Những con người phố
huyện sống quẩn quanh, cơ cực trong phố huyện nghèo, tăm tối
Tình huống truyện trong “Chữ người tử tù” là một tình huống đặc biệt
Viên quan coi ngục nhận được trát về việc nhận tử tù án chém Nhưng ông ta lại sai quét dọn lại cái buồng giam Và trò chuyện với thuộc cấp Từ đó, nhà
văn giới thiệu nhân vật Huấn Cao là người “văn võ đều có tài cả”
Trang 33Truyện ngắn thành công thường bao giờ cũng có được tình huống độc đáo Vì vậy khi dạy học tác phẩm truyện ngắn, giáo viên cần chú ý đúng mức đến việc khai thác tình huống truyện Có thể có các tình huống được phân chia như tình huống - kịch, tình huống – tâm trạng, tình huống - tượng trưng Một số nhà nghiên cứu còn đưa khái niệm tình huống - thắt nút, tình huống – tương phản, tình huống - luận đề…Tùy vào các truyện ngắn cụ thể Nhưng dù không nêu được tên gọi, dứt khoát phải chú ý nghiên cứu và khai thác tình huống
1.2.4.2.Cốt truyện
Một truyện ngắn hay là một truyện ngắn có cốt truyện hấp dẫn Nhà nghiên cứu Vương Trí Nhàn từng cho rằng : “ Nhà văn sống bằng cốt truyện, y như họa sĩ sống bằng màu và bút vẽ vậy” (Vương Trí Nhàn, Sổ tay truyện ngắn, NXB Tác phẩm mới, H, 1980, tr 149) Cốt truyện của truyện ngắn gồm các thành phần nào? “ Theo các nhà nghiên cứu, cốt truyện bao gồm : trình bày, khai đoạn (thắt nút), phát triển, đỉnh điểm (cao trào) và kết thúc (mở nút) […] Dẫu chia thành năm hay bốn thành phần thì cốt truyện vẫn có các thành phần chính như mở đầu, cao trào, kết thúc” [44, Sđd, tr 83-84 ]
Tuy nhiên, cần lưu ý rằng đó là với truyện ngắn cổ điển Với truyện ngắn hiện đại, không phải tất cả truyện ngắn đều cần phải có cốt truyện độc đáo Càng ngày, người ta càng nhận ra rằng có thể có những truyện ngắn hay
mà không có cốt truyện li kì, hấp dẫn, hoặc là không có “truyện” Truyện ngắn
“Hai đứa trẻ” của Thạch Lam là truyện ngắn như vậy Không có “truyện”,
nhưng truyện ngắn “Hai đứa trẻ” lại giàu chất thơ Khi dạy học truyện ngắn
này không thể bỏ qua đặc điểm riêng của nó
Vấn đề cốt truyện trong truyện ngắn, khi xây dựng truyện, các nhà văn
thường chú ý đến hai yếu tố, hai khâu quan trọng nhất là chi tiết và đoạn kết
Vì thế, khai thác dạy học truyện ngắn, chúng ta không thể bỏ qua chi tiết và đoạn kết
Chi tiết truyện ngắn
Trang 34Nhà văn Nguyễn Công Hoan đánh giá rất cao chi tiết trong truyện ngắn, Thậm chí ông coi chi tiết là điều quan trọng bậc nhất trong quan niệm của mình : “Truyện ngắn không phải là truyện mà là một vấn đề được xây dựng bằng chi tiết” [44, tr 85]
Chính tác giả Nguyễn Công Hoan trong một loạt truyện ngắn thành công đã đưa ra những chi tiết đặc sắc Trong “Đồng hào có ma” là chi tiết viên huyện Hinh khi xử kiện thò tay vào đĩa để vét tiền; chi tiết y giẫm chân lên đồng hào đôi Khi con mẹ Nuôi thất vọng ra về, viên quan thò tay lấy đồng tiền
“ thổi sạch cát rồi bỏ tọt vào túi”
Nam Cao trong truyện ngắn Chí Phèo cũng xây dựng nhiều chi tiết khó quên Chí Phèo là đứa con hoang được tìm thấy ở cái lò gạch bỏ không Khi Chí Phèo chết, Thị Nở nhìn trộm bà cô và nhìn nhanh xuống bụng Nhà văn đã lặp lại chi tiết lò gạch “Đột nhiên thị thấy thoáng hiện ra một cái lò gạch cũ bỏ không, xa nhà cửa, và vắng người lại qua…” Chi tiết ấy cho thấy một đứa con hoang lại sắp sửa xuất hiện ở cái lò gạch, một Chí Phèo mới đang chờ ra đời…
Trong truyện ngắn “Hai đứa trẻ” của Thạch Lam thì chi tiết ánh sáng là chi tiết quan trọng Nó đối lập với bóng tối, là nổi bật bóng tối Màn đêm bao
phủ cái thị trấn nghèo, “Đường phố và các con ngõ dần dần chứa đầy bóng tối” Ánh sáng chỉ lọt ra đường từ những nhà còn thức “cửa chỉ để hé ra một khe ánh sáng” Các nguồn sáng khác đều nhỏ, tù mù leo lét “Chỉ còn ngọn đèn con của chị Tí, và cả cái bếp lửa của bác Siêu, chiếu sáng một vùng đất cát; trong cửa hàng, ngọn đèn của Liên, ngọn đèn vặn nhỏ, thưa thớt từng hột sáng lọt qua phên nứa”
Trong truyện ngắn “Chữ người tử tù”, Nguyễn Tuân miêu tả chi tiết cảnh cho chữ, một cảnh “xưa nay chưa từng có” Việc cho chữ, một hành vi
văn hóa diễn ra trong “ một buồng tối chật hẹp, ẩm ướt, tường đầy mạng nhện, đất bừa bãi phân chuột và phân gián” Cuối cảnh đó là chi tiết viên cai ngục
Trang 35cảm động vái người tù một vái Đây không phải là quan vái kẻ tử tù Mà chính
là một tấm lòng, ngưỡng mộ một bậc tài hoa
Đoạn kết truyện ngắn
Với bất kì một loại thể nào của văn học, đoạn kết thúc của tác phẩm là một đoạn nhà văn dành cho nhiều tâm sức Bởi vì một đoạn kết ấn tượng sẽ nâng giá trị của tác phẩm, để lại dư ba trong tâm trí người đọc Tiểu thuyết hoặc truyện ngắn, bài thơ hoặc bài kí, đoạn kết đều rất quan trọng Seekhov, tác giả truyện ngắn nổi tiếng không chỉ của Nga mà của thế giới đã viết : “ Theo tôi, viết truyện ngắn, cốt nhất phải tô đậm cái mở đầu và cái kết luận” Nhà văn Nga hiện đại D Phuốcmanov nhận xét “ Sức mạnh của cú đấm (nghệ thuật) là thuộc về đoạn cuối” Chúng ta đều thấy mỗi tác giả có những cách kết thúc truyện riêng Có thể là kết thúc đóng, kết thúc mở, kết thúc bỏ lửng, kết thúc lặp lại mở đầu Nhưng điều quan trọng là kết thúc để lại ấn tượng Bạn đọc đều biết O.Henry kết thúc truyện ngắn “ Chiếc lá cuối cùng bằng việc” cô họa sĩ được cứu sống, trong khi người họa sĩ già lại chết vì sưng phổi khi vẽ kiệt tác
“chiếc lá” Những truyện ngắn 1930 -1945 cũng có những kết thúc giàu ý nghĩa Trong Chí Phèo, đó là chi tiết Thị Nở liếc nhìn cái bụng mình và nghĩ đến cái lò gạch bỏ không chúng tôi đã nói bên trên Trong “Chữ người tử tù” là cảnh cho chữ đặc biệt trong tù ngục Viên cai ngục vái người tử tù “chắp tay nói một câu mà dòng nước mắt rỉ vào kẽ miệng làm cho nghẹn ngào: “ Kẻ mê muội này xin bái lĩnh” Vì sao cai ngục lại trịnh trọng, khiêm tốn nhận mình là
mê muội, nhận lời khuyên của người tử tù như lĩnh hội một sắc chỉ của bề trên? Đó là điều có ý nghĩa to lớn đối với thể hiện chủ đề tư tưởng của truyện
Chúng tôi thấy rằng, trong khi tìm hiểu để dạy học các tác phẩm truyện ngắn không chỉ giai đoạn 1930 -1945 mà tất cả các truyện ngắn hiện đại trong chương trình Ngữ văn THPT, giáo viên cần quán triệt việc khai thác đoạn kết
Ở đây cũng là chỗ để có thể vận dụng dạy học nêu vấn đề một cách hiệu quả
1.2.4.3 Nhân vật truyện ngắn
Trang 36Dù truyện ngắn chỉ phản ánh một lát cắt của cuộc sống, nó không tham vọng xây dựng những nhân vật điển hình như trong tiểu thuyết, nhưng nhân vật của truyện ngắn vẫn là một vấn đề mà nhà văn quan tâm, xây dựng Ở các truyện ngắn thành công, nhân vật thường cũng được miêu tả đầy ấn tượng Nhân vật găm vào trí nhớ bạn đọc những ấn tượng sâu sắc về tính cách Chí Phèo (truyện ngắn Chí Phèo), lão Hạc (truyện ngắn lão Hạc) của Nam Cao; Huyện Hinh (truyện ngắn Đồng hào có ma) của Nguyễn Công Hoan; Huấn Cao, viên quản ngục (truyện ngắn Chữ người tử tù) của Nguyễn Tuân; Tràng,
bà cụ Tứ, thị -vợ Tràng (truyện Vợ nhặt) của Kim Lân; A Phủ, Mị (truyện Vợ chồng A Phủ) của Tô Hoài…là những nhân vật truyện ngắn thành công
Nhân vật truyện ngắn tuy không được theo dõi, mô tả tỉ mỉ, chi tiết như nhân vật tiểu thuyết, nhưng nhân vật là nơi thể hiện nhưng mong muốn mà tác giả gửi đến người đọc Hầu hết các giờ học truyện ngắn, giáo viên thường phân tích các nhân vật để là nổi bật chủ đề tư tưởng của tác phẩm Dạy tác phẩm
“Chí Phèo”, không thể không phân tích nhân vật Chí với ngoại hình, với tình trạng say triền miên, với hành động gây sự, ăn vạ được coi như là “con quỷ dữ” của làng Vũ Đại Một chi tiết mở đầu “ hắn vừa đi vừa chửi” cũng cho thấy Chí Phèo là người thế nào Tại sao lại vừa đi vừa chửi chứ không đứng một chỗ? Phải là kẻ không sợ ai, mới “chửi cả làng” Phải là kẻ say, điên rồ mới “ chửi đứa chết mẹ nào đã đẻ ra thân hắn, đẻ ra cái thằng Chí Phèo”…Con người tưởng như không biết sợ đó, bất cần đời đó, vẫn khao khát trở lại làm người lương thiện Nhưng Chí Phèo đã không thể làm lành với mọi người…Đó chính
là bi kịch của nhân vật
Tìm hiểu truyện “Chữ người tử tù”, không thể không phân tích nhân vật Huấn Cao, người tử tù tài hoa, văn võ đều giỏi, đồng thời phân tích nhân vật quản ngục, một người ở nơi tù ngục, nhưng lại có sở thích thanh cao, tôn thờ cái đẹp…
Dù là truyện ngắn cổ điển hay hiện đại, phần lớn khi tìm hiểu nhân vật
Trang 37của truyện đều có khả năng giúp giáo viên và học sinh tiếp cận được với tư tưởng chủ đề của tác phẩm
Không phải nhất thiết khi dạy học truyện ngắn nào cũng phải tìm hiểu đầy đủ tình thuống, cốt truyện, nhân vật, các chi tiết, đoạn mở đầu và đoạn kết Tùy mỗi truyện ngắn mà linh hoạt vận dụng Chúng tôi nêu lên những điểm cơ bản trên để trước hết tự mình nhận thức rõ thể loại truyện ngắn, có ý thức và có cách tiếp cận tác phẩm khác nhau, tùy theo phong cách của mỗi tác giả
Kết luận chương 1
Chúng tôi đã tìm hiểu việc dạy học nêu vấn đề và khả năng vận dụng vào việc dạy học tác phẩm văn chương, cụ thể là vận dụng vào việc dạy học truyện ngắn ở chương trình lớp 11 Đồng thời chúng tôi cũng nghiên cứu những đặc điểm thể loại truyện ngắn mà ở đó có cơ hội vận dụng dạy học nêu vấn đề
Từ thực tế dạy học của giáo viên và khả năng học tập của học sinh, có thể kết luận hoàn toàn có cơ sở khoa học và thực tiễn để dạy học truyện ngắn theo hướng dạy học nêu vấn đề
Trang 38Chương 2 VẬN DỤNG DẠY HỌC NÊU VẤN ĐỀ DẠY HỌC
TRUYỆN NGẮN 1930-1945 2.1 Quan niệm vấn đề và vấn đề trong các tác phẩm truyện ngắn 1930-1945
2.1.1 Quan niệm vấn đề
Các nhà nghiên cứu coi như vấn đề là điều hiển nhiên được thừa nhận, nên đi thẳng vào tình huống có vấn đề Tuy nhiên cần xác định rõ quan niệm vấn đề trong dạy học nêu vấn đề
Theo V.Ô kon, mỗi vấn đề phải có cái gì chưa biết , đồng thời phải có cái
gì đã biết, đã cho Vấn đề được giải quyết thông qua hoạt động tư duy của học sinh Cần phải phân biệt rõ vấn đề có liên quan đến câu hỏi nêu vấn đề Các câu hỏi dạng sau đây:
“Hai đứa trẻ” của Thạch Lam in trong tập truyện nào? Thạch Lam sáng tác bao nhiêu tập truyện?
Đây không phải là vấn đề theo quan điểm dạy học nêu vấn đề Bởi vì thao tác tư duy được thể hiện một cách đúng đắn nhất cũng không giúp cho học sinh tìm thấy câu trả lời cho câu hỏi trên Nhưng các em có thể tìm thấy câu trả lời trong các sách giáo khoa và tài liệu tham khảo Cần phải lưu ý một điều rằng ''Tính chất có vấn đề không phải là độc quyền của kiểu phân tích vấn đề,
mà là nguyên lý dạy học chung trong nhà trường hiện đại'' Về đại thể mà xét, mỗi bài học trong chương trình văn học đều ẩn tàng trong đó một vài vấn đề có thể vận dụng dạy học nêu vấn đề một cách hiệu quả
Người giáo viên muốn áp dụng dạy học nêu vấn đề trước hết phải phát hiện ''vấn đề'' tiềm tàng trong tác phẩm văn học Từ đó tạo ra tình huống có vấn
đề để thu hút sự chú ý và ảnh hưởng của học sinh, chuẩn bị cho các hoạt động tiếp theo của quá trình dạy học nêu vấn đề
Trang 392.1.2 Vấn đề trong các tác phẩm truyện ngắn 1930-1945
Trong thời đại ngày nay, nhà trường cần giáo dục và đào tạo học sinh trở thành những người lao động có tiềm lực sáng tạo trong mọi lĩnh vực của cuộc sống Phát triển năng lực sáng tạo cho học sinh là điều hết sức cần thiết bởi sự phát triển như vũ bão theo '' luật hàm số mũ của khoa học kỹ thuật'', hiện tượng '' bùng nổ thông tin'' xuất hiện và nhịp độ khẩn trương của cuộc sống xã hội ngày nay, đòi hỏi mỗi người phải có óc phê phán, năng lực nhìn thấy, đặt ra và giải quyết vấn đề của khoa học, xã hội và cuộc sống
Thực ra, từ một khái niệm vấn đề đến một vấn đề cụ thể đặt ra trong tác phẩm truyện ngắn cũng cần phải được thống nhất cách hiểu thì mới tránh được những phân vân hay lúng túng cho giáo viên trực tiếp đứng lớp Ngay cả một
số phương pháp khi nói về vấn đề trong tác phẩm truyện ngắn cũng có những cách hiểu khác nhau Chẳng hạn có người cho rằng trong tác phẩm truyện ngắn
có vấn đề xã hội và những vấn đề văn học Vậy người ta cũng cũng có thể nói rằng trong tác phẩm truyện ngắn có vấn đề lịch sử, vấn đề triết học, có vấn đề nội dung, có vấn đề hình thức, có vấn đề tư tưởng và có vấn đề nghệ thuật Như vậy vấn đề đã thành ra cách nói thông thường chứ không phải là một thuật ngữ của dạy học nêu vấn đề Bởi vậy khi nói về vấn đề trong tác
phẩm truyện ngắn, chúng ta cần bám sát khái niệm '' Vấn đề là mâu thuẫn giữa những tri thức đã biết với những tri thức chưa biết về tác phẩm Mâu thuẫn này chỉ được giải quyết nhờ những nỗ lực hoạt động sáng tạo và cảm giác thẩm mỹ'' Mặt khác phải hiểu rõ có những vấn đề đơn giản một khâu dễ giải quyết,
có những vấn đề phức tạp nhiều khâu giải quyết không đơn giản, mà phải lần lượt giải quyết từng khâu theo trình tự logic nội tại của vấn đề đó Tức là một vấn đề lớn lao bao gồm một số hay nhiều vấn đề trung bình, những vấn đề này lại bao gồm một hay một vài vấn đề nhỏ
Như vậy tác phẩm có thể có rất nhiều vấn đề, liên quan đến xã hội, đạo đức, kinh tế, văn hóa, văn học Nhưng theo cách hiểu vấn đề của chúng ta thì
Trang 40chỉ có hai loại vấn đề nội dung và vấn đề nghệ thuật Vấn đề nội dung liên quan đến phương diện nào thì chúng ta đặt ra những phương diện ấy( tuy nhiên không được quên tính chất vừa sức với các em cả về tính phức tạp của vấn đề lẫn mức độ của nó) Vấn đề nghệ thuật của tác phẩm sẽ liên quan tới nghệ thuật
sử dụng từ ngữ, các biện pháp tu từ, các đặc trưng thể loại, sự tiếp thu và cách tân, sáng tạo Tóm lại, sẽ có vấn đề lớn và trung bình, hoặc nhỏ, sẽ có vấn đề
về nội dung, sẽ có vấn đề về nghệ thuật, sẽ có vấn đề kết hợp cả nội dung và nghệ thuật Khi đã thống nhất chúng ta sẽ dễ dàng đồng ý với nhau về một số vấn đề như các ví dụ sau:
Ví dụ 1: Vì sao huyện Hinh được Nguyễn Công Hoan coi là một viên quan ăn bẩn? Những chi tiết nào trong tác phẩm chứng tỏ huyện Hinh là người theo đúng phép vệ sinh? Ăn tiền là một đặc điểm của tất cả các quan và đều công khai ( cả mẹ nuôi cũng rõ lệ trình đơn phải có một đồng cho quan), vậy huyện Hinh ăn
'' bẩn'' ở chỗ nào?
Ví dụ 2: Trong tác phẩm ''Chí phèo'' của Nam Cao, chi tiết '' Hắn vừa đi vừa chửi'' Nam Cao đã xây dựng lên chân dung nhân vật chính của mình như thế nào? Dự cảm điều gì cho số phận của nhân vật?
Ví dụ 3: Chi tiết '' Thị Nở nhìn nhanh xuống bụng và nghĩ ngay đến cái
lò gạch cũ'' cho chúng ta thấy điều gì?
Ví dụ 4: Nhân vật viên quản ngục có một phẩm chất gì mà khiến cho Huấn Cao cảm kích coi là “ một tấm lòng trong thiên hạ”, còn tác giả Nguyễn Tuân coi đó là “ một thanh âm trong trẻo chen vào giữa một bản đàn mà nhạc luật đều hỗn loạn xô bồ”?
Ví dụ 5: Vì sao hai chị em Liên cố thức đợi tàu? Thạch Lam muốn gửi gắm tư tưởng gì ?
Chúng tôi đã nêu ra 5 ví dụ về vấn đề đặt ra với một số tác phẩm truyện ngắn khác nhau trong giai đoạn văn học 1930- 1945, có những vấn đề đơn giản