Vỏ vi rút với bản chất protein có nguồn gốc từ màng tế bào mà vi rút đã gây nhiễm đã được đặc hiệu hóa để gắn protein màng của vi rút vào, bao gồm một số protein được glycosyl hóa glycop
Trang 1Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn
ĐỖ TIẾN ĐẠT
NGHIÊN CỨU MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM DỊCH TỄ
VÀ GIÁM SÁT VI RÚT CÚM A/H5N1 GÂY BỆNH
CÚM GIA CẦM TẠI TỈNH LẠNG SƠN
TỪ NĂM 2011 - 2016
LUẬN VĂN THẠC SĨ THÚ Y
THÁI NGUYÊN - 2016
Trang 2Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn
ĐỖ TIẾN ĐẠT
NGHIÊN CỨU MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM DỊCH TỄ
VÀ GIÁM SÁT VI RÚT CÚM A/H5N1 GÂY BỆNH
CÚM GIA CẦM TẠI TỈNH LẠNG SƠN
TỪ NĂM 2011 - 2016 Chuyên ngành: Thú y
Mã số: 60.64.01.01 LUẬN VĂN THẠC SĨ THÚ Y
Người hướng dẫn khoa học: TS Nguyễn Thị Ngân
THÁI NGUYÊN - 2016
Trang 3Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan rằng số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này
là trung thực và chưa hề được sử dụng để bảo vệ một học vị nào
Tôi xin cam đoan rằng mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này
đã được cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn đều đã được chỉ rõ nguồn gốc
Thái Nguyên, tháng 9 năm 2016
Tác giả luận văn
Đỗ Tiến Đạt
Trang 4Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn
LỜI CẢM ƠN
Trong thời gian thực tập và thực hiện đề tài này, tôi đã nhận được sự quan tâm, chỉ bảo, hướng dẫn, giúp đỡ tận tình của các thầy cô giáo, đồng nghiệp, bạn bè và sự động viên khích lệ của gia đình
Tôi xin được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới: TS Nguyễn Thị Ngân
- Người đã trực tiếp hướng dẫn, chỉ bảo tôi hết sức tận tình trong suốt quá trình nghiên cứu và hoàn thành Luận văn
Tôi xin trân trọng cảm ơn Ban Giám hiệu, Phòng Đào tạo, Ban chủ nhiệm khoa và các thầy cô giáo Khoa Chăn nuôi Thú y - Trường Đại học Nông lâm - Đại học Thái Nguyên đã tạo điều kiện và giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập
Tôi cũng xin trân trọng cảm ơn các hộ chăn nuôi, buôn bán gia cầm trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn và các đồng nghiệp trong ngành đã giúp tôi trong quá trình thực hiện đề tài
Cuối cùng tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc về sự ủng hộ, động viên, giúp đỡ của gia đình, bạn bè và đồng nghiệp trong suốt thời gian học tập, nghiên cứu và hoàn thành tốt luận văn này
Thái Nguyên, tháng 9 năm 2016
Tác giả luận văn
Đỗ Tiến Đạt
Trang 5Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn
MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC TỪ VÀ CỤM TỪ VIẾT TẮT vi
DANH MỤC BẢNG vii
DANH MỤC BIỂU ĐỒ, HÌNH viii
MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của để tài 1
2 Mục tiêu của đề tài 2
3 Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn của đề tài 2
Chương 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4
1.1 Đặc tính sinh học của vi rút cúm type A 4
1.1.1 Hình thái và cấu trúc 4
1.1.2 Đặc tính kháng nguyên của vi rút cúm type A 7
1.1.3 Thành phần hóa học 9
1.1.4 Quá trình nhân lên của vi rút 9
1.1.5 Độc lực của vi rút 10
1.1.6 Phân loại vi rút 12
1.1.7 Danh pháp 12
1.1.8 Nuôi cấy và lưu giữ vi rút 13
1.2 Giới thiệu chung về bệnh cúm gia cầm 13
1 3 Lịch sử bệnh cúm gia cầm 14
1.4 Dịch tễ học bệnh cúm gia cầm 15
1.4.1 Động vật cảm nhiễm 15
1.4.2 Động vật mang vi rút 16
1.4.3 Sự truyền lây 17
Trang 6Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn
1.4.4 Sức đề kháng của vi rút 18
1.4.5 Tuổi mắc bệnh 19
1.4.6 Mùa bệnh 19
1.4.7 Tỉ lệ mắc, tỷ lệ chết 19
1.5 Triệu chứng và bệnh tích của bệnh cúm gia cầm 19
1.5.1 Triệu chứng lâm sàng của bệnh cúm gia cầm 19
1.5.2 Bệnh tích bệnh cúm gia cầm 22
1.6 Miễn dịch chống bệnh của gia cầm 23
1.7 Các phương pháp chẩn đoán bệnh cúm gia cầm 27
1.7.1 Chẩn đoán dựa vào dịch tễ, triệu chứng và bệnh tích 27
1.7.2 Chẩn đoán trong phòng thí nghiệm 28
1.8 Một số nghiên cứu trong và ngoài nước về bệnh cúm gia cầm 28
1.8.1 Một số nghiên cứu trong nước về bệnh cúm gia cầm 28
1.8.2 Một số nghiên cứu trên thế giới về bệnh cúm gia cầm 29
Chương 2: NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 31
2.1 Đối tượng nghiên cứu 31
2.2 Địa điểm nghiên cứu 31
2.3 Thời gian nghiên cứu 31
2.4 Vật liệu dùng trong nghiên cứu 31
2.5 Nội dung nghiên cứu 31
2.6 Phương pháp nghiên cứu 32
2.6.1 Điều tra một số chỉ tiêu và tình hình dịch cúm gia cầm A/H5N1 từ năm 2011 - 2016 32
2.6.2 Phương pháp nghiên cứu dịch tễ 32
2.6.3 Phương cách giám sát vi rút cúm gia cầm A/H5N1 ở gia cầm tại tỉnh Lạng Sơn (Giám sát bằng hệ thống kỹ thuật) cụ thể như sau: 33
2.6.4 Phương pháp chẩn đoán bệnh 33
2.7 Phương pháp xử lý số liệu 35
Trang 7Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn
Chương 3: KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 36
3.1 Khái quát về điều kiện tự nhiên và tình hình chăn nuôi gia cầm 36
3.1.1 Về điều kiện tự nhiên 36
3.1.2 Tình hình chăn nuôi gia cầm tại Lạng Sơn từ năm 2011 đến nay 38
3.2 Diễn biến tình hình dịch cúm gia cầm từ năm 2011 đến nay 40
3.3 Một số đặc điểm dịch tễ học của bệnh cúm gia cầm từ năm 2011 đến nay 42
3.3.1 Tỷ lệ mắc bệnh cúm gia cầm theo mùa 42
3.3.2 Tỷ lệ bệnh cúm gia cầm theo loại gia cầm 45
3.3.3 Tỷ lệ mắc bệnh cúm gia cầm theo phương thức chăn nuôi 46
3.3.4 Tỷ lệ mắc bệnh cúm gia cầm theo quy mô đàn 49
3.4 Giám sát sự lưu hành vi rút cúm A/H5N1 trên gia cầm 51
3.4.1 Giám sát sự lưu hành vi rút cúm A/H5N1 tại các chợ trên địa bàn tỉnh 51
3.4.2 Giám sát cúm gia cầm A/H5N1 qua các ổ dịch nghi ngờ 61
3.5 Các giải pháp tăng cường công tác phòng chống bệnh cúm gia cầm 64
3.5.1 Giải pháp Quản lý nhà nước (QLNN) 64
3.5.2 Các giải pháp kỹ thuật 65
KẾT LUẬN - ĐỀ NGHỊ 65
1 Kết luận 68
2 Đề nghị 69
TÀI LIỆU THAM KHẢO 70
PHỤ LỤC 78
Trang 8Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn
DANH MỤC TỪ VÀ CỤM TỪ VIẾT TẮT
ARN Acid ribonucleic
HA Hemagglutination test - Phản ứng
ngưng kết hồng cầu
HI (Hemagglutination inhibitory test) -
Phản ứng ngăn trở ngưng kết hồng cầu
HPAI (High Pathogenicity Avian Influenza) -
Trang 9Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn
DANH MỤC BẢNG
Bảng 3.1: Chăn nuôi gia cầm tại Lạng Sơn giai đoạn từ năm 2011 - 2015 38
Bảng 3.2: Cơ cấu đàn gia cầm tỉnh Lạng Sơn qua các năm 2011-2016 39
Bảng 3.3: Tỷ lệ gia cầm mắc bệnh cúm giai đoạn từ năm 2011- 2016 40
Bảng 3.4: Tỷ lệ gia cầm mắc bệnh cúm theo mùa 43
Bảng 3.5: Tỷ lệ mắc bệnh cúm theo loại gia cầm 45
Bảng 3.6: Tỷ lệ mắc bệnh cúm gia cầm theo phương thức chăn nuôi 47
Bảng 3.7: Tỷ lệ mắc bệnh cúm theo quy mô đàn gia cầm 49
Bảng 3.8: Kết quả giám sát vi rút cúm A/H5N1 tại chợ năm 2011 51
Bảng 3.9: Kết quả giám sát vi rút cúm A/H5N1 tại chợ năm 2012 53
Bảng 3.10: Kết quả giám sát vi rút cúm A/H5N1 tại chợ năm 2013 54
Bảng 3.11: Kết quả giám sát vi rút cúm A/H5N1 tại chợ năm 2014 56
Bảng 3.12: Kết quả giám sát vi rút cúm A/H5N1 tại chợ năm 2015 58
Bảng 3.13: Kết quả giám sát vi rút cúm A/H5N1 tại chợ năm 2016 59
Bảng 3.14: Kết quả giám sát vi rút cúm A/H5N1tại các ổ dịch nghi cúm gia cầm từ năm 2011 - 2016 61
Bảng 3.15: Tổng hợp giám sát cúm A/H5N1tại các ổ dịch nghi ngờ và ở chợ trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn 62
Trang 10Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn
DANH MỤC BIỂU ĐỒ, HÌNH
BIỂU ĐỒ
Hình 3.1 Biểu đồ tỷ lệ mắc bệnh cúm gia cầm từ năm 2011 - 2015 42 Hình 3.2 Biểu đồ tỷ lệ mắc bệnh cúm gia cầm theo mùa 44 Hình 3.3 Biểu đồ tỷ lệ mắc bệnh cúm gia cầm theo loại gia cầm 46 Hình 3.4 Biểu đồ tỷ lệ mắc bệnh cúm gia cầm theo phương thức chăn nuôi 49 Hình 3.5 Biểu đồ tỷ lệ mắc bệnh cúm gia cầm theo quy mô đàn 51
HÌNH
Hình 1.1: Cấu trúc kháng nguyên của vi rút cúm 7 Hình 1.2: Hình thái của vi rút cúm 14 Hình 1.3: Cấu tạo của vi rút cúm 14
Trang 11Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn
1 Tính cấp thiết của để tài
Bệnh cúm gia cầm đã từng được biết đến từ sau những vụ đại dịch xuất hiện tại Hồng Kông năm 1997 gây ra cho các đàn gia cầm ở nhiều nước trên thế giới Trong những năm gần đây, dịch cúm gia cầm chủng độc lực cao (HPAI - Highly Pathogenic Avian Influenza) xuất hiện và đã giết chết hàng chục triệu gia cầm trên thế giới, đồng thời khiến hàng tỷ gia cầm khác phải tiêu hủy bắt buộc
để tránh lây lan, gây thiệt hại nghiêm trọng cho ngành chăn nuôi và nền kinh tế các nước có dịch (Cục Thú y, 2004) [6]; (Tô Long Thành, 2004) [23]
Tại Việt Nam, dịch cúm gia cầm xuất hiện bất ngờ vào cuối năm
2003, trong khi đó ngành chăn nuôi gia cầm của nước ta chủ yếu theo phương thức nông hộ nhỏ lẻ nên quá trình kiểm soát và khống chế dịch bệnh cực kỳ khó khăn vì đây là một dịch bệnh mới, có khả năng lây lan rất nhanh Hiện nay, dịch cúm gia cầm đang là mối quan tâm lo ngại của toàn cầu, đã
có trên 50 nước trên thế giới xuất hiện dịch, và dịch bệnh có chiều hướng diễn biến khá phức tạp
Lạng Sơn là một tỉnh biên giới phía Bắc, có số lượng gia cầm gần 4 triệu con Tuy nhiên, vấn đề phòng bệnh chưa được quan tâm nên dịch bệnh cũng thường xuyên xảy ra, đặc biệt là bệnh cúm gia cầm Căn bệnh là các vi rút
thuộc họ Orthomyxoviridae, type A với nhiều phân type khác nhau gây nên Về
bản chất vi rút cúm là vi rút ARN với bộ gen gồm: 8 phân đoạn mã hóa cho 10 loại protein khác nhau (Alexander D J., 1996 [26]; Ito và cs, 1998 [26])
Chính sự truyền lây của mầm bệnh giữa động vật nuôi và người làm cho bệnh cúm trở lên nguy hiểm hơn Trước tình hình phức tạp của dịch bệnh, Ban chỉ đạo phòng chống dịch cúm Quốc gia đã phải đưa ra những giải pháp mạnh như tiêu huỷ gia cầm, cấm lưu thông và tiêu thụ gia cầm, sản phẩm gia
Trang 12Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn
cầm, nhưng đó chỉ là giải pháp tình thế Biện pháp lâu dài là chúng ta phải đi sâu nghiên cứu các đặc điểm của căn bệnh, đặc biệt là đặc điểm dịch tễ học để góp phần đưa những chiến lược phòng bệnh hiệu quả và tiến tới thanh toán dịch cúm gia cầm ở Việt Nam
Xuất phát từ yêu cầu của thực tế sản xuất, chúng tôi đã tiến hành nghiên
cứu đề tài: “Nghiên cứu một số đặc điểm dịch tễ và giám sát vi rút cúm
A/H5N1 gây bệnh cúm gia cầm tại tỉnh Lạng Sơn từ năm 2011 - 2016”
2 Mục tiêu của đề tài
- Nghiên cứu một số đặc điểm dịch tễ học của bệnh cúm gia cầm
A/H5N1 tại tỉnh Lạng Sơn từ năm 2011 - 2016
- Xác định sự lưu hành của vi rút cúm A/H5N1 trên đàn gia cầm nuôi
tại tỉnh Lạng Sơn từ năm 2011 - 2016
3 Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn của đề tài
3.1 Ý nghĩa khoa học
Kết quả của đề tài là những thông tin khoa học về đặc điểm dịch tễ học
và sự lưu hành của vi rút cúm A/H5N1 trên gia cầm
3.2 Ý nghĩa thực tiễn
Kết quả nghiên cứu có thể dùng tham khảo, bổ sung thêm số liệu vào công tác phòng chống, chẩn đoán bệnh cúm gia cầm ở Lạng Sơn cũng như ở Việt Nam
Trang 13Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn
Trang 14Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn
Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 Đặc tính sinh học của vi rút cúm type A
- Nhóm vi rút cúm B: chỉ gây bệnh cho người
- Nhóm vi rút cúm C: gây bệnh cho người, lợn
- Nhóm Thogotovirus
Vi rút thuộc họ Orthomyxoviridae có hệ gen là axit Ribonucleic (ARN)
sợi đơn, có cấu trúc sợi âm được ký hiệu là ss (-) ARN (Negative Single Stranded RNA) Sợi âm ARN của hệ gen có độ dài 10.000 - 15.000 nucleotit Hạt vi rút (virion) có dạng hình cầu, đôi khi có dạng hình sợi, đường kính khoảng 80 - 120 nm Phân tử lượng của một hạt virion vào khoảng 250 triệu Dalton Vỏ vi rút với bản chất protein có nguồn gốc từ màng tế bào mà vi rút
đã gây nhiễm đã được đặc hiệu hóa để gắn protein màng của vi rút vào, bao gồm một số protein được glycosyl hóa (glycoprotein) và một số protein dạng trần không được glycosyl hóa (non - glycosylated protein) Protein bề mặt có cấu trúc từ glycoprotein, bao gồm protein gây ngưng kết hồng cầu Haemagglutinin (HA), protein enzym cắt thụ thể Neuraminidase (NA) và protein đệm Matrix (MA), đó là những gai, mấu có độ dài 10 - 14 nm, đường kính 4 - 6 nm Vi rút cúm A có hệ gen gồm 8 phân đoạn kế tiếp nhau mã hóa
Trang 15Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn
cho 10 loại protein khác nhau của vi rút là HA, NA, NP, M1, M2, PB1, PB2,
PA, NS1, NS2 Tám phân đoạn của sợi ARN có thể tách và phân biệt rõ ràng
nhờ phương pháp điện di (Ito et al., 1998[26]; Conenello et al., 2007[26].) + Phân đoạn 1 - 3: mã hóa cho protein PB1, PB2 và PA là các protein có
chức năng là enzym polymerase tổng hợp axit Ribonucleic nguyên liệu cho hệ gen và các ARN thông tin tổng hợp protein của vi rút Trong đó PB1 có phân
tử lượng là 87 x 103 Dalton, PB2 có phân tử lượng là 84 x 103 Dalton và PA
có phân tử lượng là 83 x 103 Dalton (Subbarao, 2007[52]; Wasilenko et al., 2008[54]; Uiprasertkul et al., 2007[53]; Luong, Palese, 1992[43])
+ Phân đoạn 4: mã hóa cho protein Haemagglutinin (HA) là một protein
bề mặt cắm gốc vào bên trong, có chức năng bám dính vào thụ thể của tế bào,
có khả năng gây ngưng kết hồng cầu, có khả năng hợp nhất vỏ vi rút với màng tế bào nhiễm và tham gia vào phản ứng trung hòa vi rút Phân tử lượng của HA là 63 x 103 Dalton (nếu không được glycosyl hóa) và có phân tử lượng là 77 x 103 Dalton (nếu được glycosyl hóa) HA là polypeptit gồm 2 chuỗi HA1 và HA2 nối với nhau bằng đoạn oligopeptit ngắn đặc trưng cho các subtype H (H1 - H16) trong tái tổ hợp tạo nên biến chủng Chuỗi oligopeptit này chứa một số axit amin cơ bản làm khung, thay đổi đặc hiệu theo từng loại hình subtype H Sự thay đổi thành phần của chuỗi nối quyết định độc lực của vi rút thuộc biến chủng mới (Luong, Palese, 1992[43];
Keawcharoen et al., 2005[39])
+ Phân đoạn 5: mã hóa cho protein Nucleoprotein (NP) một loại
protein được phosphoryl hóa, có biểu hiện tính kháng nguyên đặc hiệu theo nhóm (Group - Specific), chúng tồn tại trong hạt virion trong dạng liên kết với mỗi phân đoạn ARN nên loại NP còn được gọi là Ribonucleo
Trang 16Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn
protein Phân tử lượng là 56 x 103 Dalton (Luong, Palese, 1992[43]; Murphy, Webster, 1996[44];Salzberg, 2007[48])
+ Phân đoạn 6: mã hóa cho protein enzym Neuraminidase (NA), có
chức năng là một enzym phân cắt HA sau khi vi rút vào bên trong tế bào nhiễm (Castrucci và Kawaoka, 1993) [28] Phân tử lượng là 50 x 103 Dalton (Castrucci, Kawaoka, 1993[28]; Lê Thanh Hòa, 2006 [41];
Keawcharoen et al., 2005[39])
+ Phân đoạn 7: mã hóa cho 2 tiểu phần protein đệm M1 và M2, là
protein màng không được glycosyl hóa, có vai trò làm đệm bao bọc lấy ARN M2 là một tetramer có chức năng tạo khe H+ giúp cởi bỏ vi rút sau khi xâm nhập vào tế bào cảm nhiễm M1 có chức năng tham gia vào quá trình tổng hợp và nẩy mầm của vi rút (Holsingger và cộng sự, 1994) [33] Phân tử lượng của M1 là 28 x 103 Dalton, M2 là 11 x 103 Dalton
(Scholtissek et al., 2002 [49])
+ Phân đoạn 8: có độ dài ổn định (890 nucleotit) mã hóa 2 tiểu phần
protein không cấu trúc là NS1 và NS2 (non - structural protein) có chức năng chuyển ARN từ nhân ra kết hợp với M1, kích thích phiên mã, chống lại hiện tượng interferon Phân tử lượng của NS1 là 27 x 103 Dalton, NS2 là 14 x 103 Dalton Nghiên cứu cấu trúc không gian ba chiều của protein H5 của vi rút cúm A ở gà, H9 ở lợn và H5 của vi rút thích ứng gây bệnh trên người đã cho thấy: vi rút cúm gà thích hợp với loại tế bào có thụ thể HA chứa axit sialic liên kết với đường Galactose, góc quay alpha - 2,3 tại vị trí Gln - 226; trong khi
ở lợn và người vi rút thích hợp với thụ thể có góc quay alpha - 2,6 với nhóm hydroxyl (4 - OH) của đường Galactose (glycosyl hóa) tại vị trí Leu - 226 (cúm người) Lợn có các loại tế bào tồn tại với thụ thể HA bề mặt có cả hai loại cấu
Trang 17Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn
trúc trên, điều đó giải thích vi rút cúm gia cầm trung gian qua lợn để tiến hóa
tạo góc quay phù hợp thích ứng sang người (Sekellick et al., 2000 [50]; Zhu et al., 2008 [58])
Hình 1.1: Cấu trúc kháng nguyên của vi rút cúm 1.1.2 Đặc tính kháng nguyên của vi rút cúm type A
Các loại kháng nguyên được nghiên cứu nhiều nhất là protein nhân (NP), protein đệm (M), protein gây ngưng kết hồng cầu (HA) và protein enzym cắt thụ thể (NA) Protein NP và M1 thuộc loại hình kháng nguyên đặc hiệu nhóm (genus specific antigen), ký hiệu là gs kháng nguyên; HA và NA là protein thuộc loại hình kháng nguyên đặc hiệu type và dưới type (type - specific antigen), ký hiệu là ts kháng nguyên Một đặc tính quan trọng là vi rút cúm có khả năng gây ngưng kết hồng cầu của nhiều loài động vật Đó là
sự kết hợp giữa mấu lồi kháng nguyên HA trên bề mặt của vi rút cúm với thụ thể có trên bề mặt hồng cầu, làm cho hồng cầu ngưng kết với nhau tạo thành mạng ngưng kết thông qua cầu nối vi rút, gọi là phản ứng ngưng kết hồng cầu
HA (Haemagglutination test)
Trang 18Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn
Kháng thể đặc hiệu của kháng nguyên HA có khả năng trung hòa các loại vi rút tương ứng, chúng là kháng thể trung hòa có khả năng triệt tiêu vi rút gây bệnh Nó có thể phong tỏa sự ngưng kết bằng cách kết hợp với kháng nguyên HA Do vậy thụ thể của hồng cầu không bám vào được để liên kết tạo thành mạng ngưng kết Người ta gọi phản ứng đặc hiệu kháng nguyên kháng thể có hồng cầu tham gia là phản ứng ngăn cản ngưng kết hồng cầu HI (Haemagglutination inhibition test) Phản ứng ngưng kết hồng cầu HA và phản ứng ngăn cản ngưng kết hồng cầu HI được sử dụng trong chẩn đoán cúm gia cầm
Theo Ito và Kawaoka (1998) [37], vấn đề phức tạp của kháng nguyên
vi rút cúm là sự biến đổi và trao đổi trong nội bộ gen dẫn đến sự biến đổi liên tục về tính kháng nguyên Có 2 cách biến đổi kháng nguyên của vi rút cúm:
- Đột biến điểm (đột biến ngẫu nhiên hay hiện tượng trôi trượt, lệch lạc
về kháng nguyên - Antigenic drift) Đây là kiểu đột biến xảy ra liên tục thường xuyên trong quá trình tồn tại của vi rút mà bản chất là do có sự thay đổi nhỏ về trình tự nucleotit của gen mã hóa, đặc biệt đối với kháng nguyên H
và kháng nguyên N Kết quả là tạo ra các phân type cúm hoàn toàn mới có tính thích ứng loài vật chủ khác nhau và mức độ độc lực gây bệnh khác nhau Chính nhờ sự biến đổi này mà vi rút cúm A tạo nên 16 biến thể gen HA (H1 - H16) và 9 biến thể NA (N1 - N9)
- Đột biến tái tổ hợp di truyền (hiện tượng thay ca - Antigenic shift): hiện tượng tái tổ hợp gen ít xảy ra hơn so với hiện tượng đột biến điểm, nó chỉ xảy ra khi 2 hoặc nhiều loại vi rút cúm khác nhau cùng nhiễm vào một tế bào chủ do sự trộn lẫn 2 bộ gen của vi rút Điều này tạo nên sự sai khác cơ bản về
bộ gen của vi rút cúm đời con so với vi rút bố mẹ Khi hiện tượng tái tổ hợp gen xuất hiện có thể sẽ gây ra các vụ dịch lớn cho người và động vật với mức
độ nguy hiểm không thể lường trước được
Trang 19Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn
Theo Lê Văn Năm (2004) [16], do hạt vi rút cúm A có cấu trúc là 8 đoạn gen nên về lý thuyết từ 2 vi rút có thể tạo 256 kiểu tổ hợp của vi rút thế
hệ sau Khi nghiên cứu về đặc tính kháng nguyên của vi rút cúm gia cầm cho thấy giữa các biến thể tái tổ hợp và biến chủng subtype về huyết thanh học cho thấy không hoặc rất ít có phản ứng chéo Đây là điểm trở ngại lớn cho việc nghiên cứu nhằm tạo ra vắc xin cúm để phòng bệnh cho người và động vật Khi xâm nhiễm vào cơ thể động vật, vi rút cúm A kích thích cơ thể sản sinh ra kháng thể đặc hiệu, trong đó quan trọng hơn cả là kháng thể kháng
HA, chỉ có kháng thể này mới có vai trò trung hòa vi rút nhưng thông thường động vật và người chết rất nhanh trước khi hệ miễn dịch sản sinh kháng thể Một số kháng thể khác có tác dụng kìm hãm sự nhân lên của vi rút, ví dụ kháng thể kháng NA có tác dụng ngăn cản vi rút giải phóng, kháng thể kháng M2 không cho quá trình bao gói vi rút xảy ra
1.1.3 Thành phần hóa học
Nhân ARN của vi rút chiếm 0,8 - 1,1%; protein chiếm 70 - 75%; lipit chiếm 20 - 24%; hydratcarbon chiếm 5 - 8% khối lượng hạt vi rút Lipit tập trung ở màng vi rút chủ yếu có gốc phospho Số còn lại là cholesterol, glucolipit và một ít hydrocarbon gồm các loại đường galactose, ribose, fructose, glucose Protein của vi rút chủ yếu là glycoprotein
1.1.4 Quá trình nhân lên của vi rút
Fener và cộng sự mô tả quá trình nhân lên của vi rút cúm A được tóm tắt như sau: Vi rút xâm nhập vào tế bào nhờ chức năng của protein HA thông qua hiện tượng ẩm bào (endocytosis) qua cơ chế trung gian tiếp hợp thụ thể Thụ thể liên kết tế bào của vi rút cúm có bản chất là axit sialic cắm sâu vào glycoprotein hay glycolipit của vỏ vi rút Trong khoang ẩm bào, khi nồng độ
pH được điều hòa để giảm xuống mức thấp sẽ xảy ra quá trình hợp nhất màng
tế bào và vi rút, sự hợp nhất này phụ thuộc vào sự cắt rời protein HA nhờ enzym peptidase và enzym protease của tế bào Lúc này nucleocapsid của vi
Trang 20Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn
rút đi vào trong nguyên sinh chất rồi vào trong nhân tế bào, chuẩn bị thực hiện quá trình tổng hợp ARN nguyên liệu hệ gen cho các virion mới Hệ thống enzym sao chép của vi rút ngay lập tức tạo nên các ARN thông tin Các phân đoạn ARN hệ gen được mã hóa ở 10 - 13 nucleotit đầu 5’ với nguyên liệu mã hóa lấy từ ARN tế bào, nhờ vào hoạt tính enzym PB2 của vi rút ARN thông tin của vi rút sao chép trong nhân được vận chuyển ra nguyên sinh chất, được riboxom trợ giúp tổng hợp nên protein cấu trúc và protein nguyên liệu Protein H, N, M2, ở lại trong nguyên sinh chất, được vận chuyển xuyên qua
hệ thống võng mạc nội mô và bộ máy golgi sau đó được cắm lên màng tế bào nhiễm Protein NS1, NP, M1 được chuyển vận vào nhân để bao bọc đệm lấy nguyên liệu ARN hệ gen mới được tổng hợp
Song song với quá trình sao chép ARN thông tin và tổng hợp protein cấu trúc, protein nguyên liệu, vi rút tiến hành tổng hợp nguyên liệu di truyền là các sợi ARN mới Từ sợi ARN âm đơn của vi rút ban đầu, một sợi dương ARN toàn vẹn được tạo ra theo cơ chế bổ sung, sợi dương mới này lại làm khuôn để tổng hợp nên sợi âm ARN mới làm nguyên liệu Các sợi âm ARN mới, một số vừa làm nguyên liệu để lắp ráp virion mới, số khác lại làm khuôn để tổng hợp ARN theo cơ chế như với sợi ARN của vi rút đầu tiên Các sợi ARN hệ gen được tạo ra là một sợi hoàn chỉnh về độ dài và được các protein đệm (NS1, M1, NP) bao gói tạo nên ribonucleocapsid (nucleoriboprotein) ngay trong nhân tế bào nhiễm, sau đó được vận chuyển ra nguyên sinh chất rồi được đưa đến vị trí màng tế bào có sự biến đổi đặc hiệu với vi rút Sự kết hợp cuối cùng của tổ hợp nucleoriboprotein với các protein cấu trúc (HA, NA, M2) tạo nên các hạt vi rút hoàn chỉnh mới và được giải phóng ra khỏi tế bào nhiễm theo hình thức nảy
chồi (Webster, 1998 [55]; Uiprasertkul et al., 2007 [53])
1.1.5 Độc lực của vi rút
Độc lực của vi rút cúm gia cầm có sự dao động lớn, phụ thuộc vào nhiều yếu tố, trước hết là protein HA Có thể nói HA là một loại protein vừa
Trang 21Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn
quyết định tính kháng nguyên vừa quyết định tính độc lực của vi rút Các nghiên cứu ở mức độ phân tử cho thấy khả năng lây nhiễm của vi rút phụ thuộc vào tác động của enzym protease vật chủ đến sự phá vỡ của liên kết hóa học sau khi dịch mã của phân tử ngưng kết, thực chất là sự cắt rời protein HA thành 2 tiểu phần HA1 và HA2 Tính thụ cảm của ngưng kết tố và sự phá vỡ liên kết của men protease lại phụ thuộc vào số lượng các amino axit cơ bản tại điểm bắt đầu phá vỡ các liên kết Các enzym giống trypsin có khả năng phá
vỡ liên kết khi chỉ có một phân tử Arginin, trong khi đó các enzym protease khác lại cần nhiều amino axit cơ bản Để đánh giá độc lực của vi rút cúm một cách khoa học, các nhà khoa học sử dụng phương pháp gây bệnh cho gà 3 - 6 tuần tuổi bằng cách tiêm tĩnh mạch nước trứng đã được gây nhiễm vi rút Sau
đó đánh giá mức độ nhiễm bệnh của gà để cho điểm (chỉ số IVPI - Intravenous Pathogenicity Index) Điểm tối đa là 3 điểm và đó là vi rút có độc lực cao nhất (Alexander, 2007) [27]
Theo định nghĩa của OIE, vi rút cúm nào có chỉ số IVPI từ 1,2 trở lên thuộc loại có độc lực cao Bằng cách tiêm tĩnh mạch 0,2 ml nước trứng gà đã gây nhiễm vi rút được pha loãng ở nồng độ 1/10 cho gà mẫn cảm từ 3 - 6 tuần tuổi, các nhà khoa học đã thống nhất chia độc lực của vi rút ra 3 loại:
- Vi rút có độc lực cao: nếu sau khi tiêm tĩnh mạch 10 ngày làm chết 75
- 100% số gà thực nghiệm Vi rút gây bệnh cúm gà (có thể là type phụ) phải làm chết 20% số gà mẫn cảm thực địa và phát triển tốt trên tế bào xơ phôi trong môi trường nuôi cấy không có Trypsin
- Vi rút có độc lực trung bình: là những chủng vi rút gây dịch cúm gà với triệu chứng lâm sàng rõ rệt nhưng gây chết gà không quá 15% số gà bị nhiễm bệnh tự nhiên hoặc không gây quá 20% số gà mẫn cảm thực nghiệm
- Vi rút có độc lực thấp: là những vi rút phát triển tốt trong cơ thể gà, có thể gây ra dịch nhưng không có triệu chứng lâm sàng rõ rệt, không tạo ra bệnh tích đại thể và không làm chết gà
Trang 22Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn
Trong thực tế người ta chia vi rút cúm gà ra làm 2 loại: Loại vi rút có độc lực thấp (Low Pathogenic Avian Influenza - LPAI) và loại vi rút có độc lực cao (Highly Pathogennic Avian Influenza - HPAI) Theo Horimoto và Kawaoka (1994), chỉ có 2 biến chủng vi rút có cấu trúc kháng nguyên H5, H7 được coi là loại có độc lực cao gây bệnh ở gia cầm, nhưng không phải tất cả các chủng mang gen H5, H7 đều gây bệnh Thực tế chứng minh rằng các chủng có độc lực thấp trong quá trình lưu hành trong thiên nhiên và trong đàn thủy cầm có thể đột biến nội gen hoặc đột biến tái tổ hợp để trở thành các chủng có độc lực cao (Webster, 1998 [55]; Alexander, 2007 [27].)
1.1.6 Phân loại vi rút
Các chủng vi rút cúm khác nhau có thể phân biệt được bằng các kháng nguyên của chúng gồm haemagglutinin và neuraminidase bao phủ trên bề mặt của vi rút Có 16 kháng nguyên Haemagglutinin (ký hiệu từ H1 - H16) và 9 kháng nguyên Neuraminidase (ký hiệu từ N1 - N9) đã được phát hiện và mỗi phân type (subtype) vi rút được xác định bằng sự kết hợp cụ thể giữa 2 loại kháng nguyên của vi rút Năm 1980, tổ chức Y tế thế giới đã đưa ra một hệ thống phân loại mới cho các vi rút cúm type A
Trong mỗi phân type, dựa vào cấu trúc gen người ta lại chia thành các nhánh (clade) vi rút khác nhau để phân biệt Các nhánh vi rút này có cấu trúc gen, độc lực và khả năng gây bệnh khác nhau đối với động vật mẫn cảm Vi rút cúm A/H5N1 dựa vào sự khác biệt di truyền gen HA khác nhau được phân loại thành 10 nhánh từ 0 đến 9 như nhánh 1, nhánh 2.3.2, 2.3.4, nhánh 7, (Lê Thanh Hoà, 2004) [11]
1.1.7 Danh pháp
Để ký hiệu, lưu trữ một cách khoa học và đầy đủ các chủng vi rút cúm phân lập được, năm 1980 Tổ chức Y tế thế giới đã đưa ra hệ thống phân loại
Trang 23Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn
mới, được quy định cụ thể: chủng vi rút/loài vật chủ phân lập được vi rút/vị trí địa lý/quy ước chủng của phòng thí nghiệm/năm phân lập/loại subtype của vi rút Ví dụ vi rút cúm có ký hiệu A/Ck/Vietnam/HG4/2005/H5N1 được hiểu là
vi rút cúm nhóm A, được phân lập từ gà (Ck: Chicken), nơi phân lập là Việt Nam, quy ước chủng của phòng thí nghiệm là HG4 (HG: Hậu Giang), thời gian phân lập năm 2005, subtype H5N1 (WHO/OIE/FAO, 2008) [56]
1.1.8 Nuôi cấy và lưu giữ vi rút
Vi rút cúm phát triển tốt trên phôi gà 9 - 11 ngày tuổi, trong nước phôi gà tập trung khá nhiều vi rút và có thể lưu giữ vi rút được vài tuần ở điều kiện 40C Khả năng tồn tại và gây bệnh của vi rút rất cao nếu ta bảo quản nước phôi đó ở -
700C hoặc cho đông khô Vi rút cúm gà cũng phát triển tốt trong tế bào xơ phôi gà (Chicken Embrio Fibroblast - CEF) và tế bào thận chó MDCK (Madin Darby Canine Kidney Cell) với điều kiện môi trường nuôi cấy tế bào không chứa trypsin
1.2 Giới thiệu chung về bệnh cúm gia cầm
Bệnh cúm ở gia cầm (Avian Influenza) thường gọi là bệnh cúm gia cầm hoặc bệnh cúm gà, là một bệnh truyền nhiễm gây ra bởi vi rút cúm type A
thuộc họ Orthomyxoviridae Bệnh thường xảy ra nặng ở gà, vịt, lợn, một số
động vật có vú khác và có thể lây sang người Biểu hiện của bệnh chủ yếu ở
đường tiêu hoá và đường hô hấp
Đây là bệnh rất nguy hiểm, có tốc độ lây lan nhanh với tỷ lệ chết rất cao trong đàn gia cầm bị nhiễm Vi rút gây bệnh cúm gia cầm chủ yếu là loại H5, H7, H9 và có thể trở thành đại dịch Vì thế, bệnh cúm gia cầm ngày càng trở lên nguy hiểm hơn bao giờ hết
Trang 24Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn
1.3 Lịch sử bệnh cúm gia cầm
Năm 412 trước Công nguyên, Hippocrates đã mô tả về bệnh giống như bệnh cúm Năm 1680, một vụ đại dịch cúm đã được mô tả kỹ và từ đó đến nay đã xảy ra 31 vụ đại dịch Trong hơn 100 năm qua đã xảy ra 4 vụ đại dịch vào các năm 1889, 1918, 1957 và 1968 Năm 1878 ở Italia đã xảy ra một bệnh gây tỷ lệ tử vong rất cao ở đàn gia cầm, sau đã được đặt tên là bệnh dịch hạch gia cầm Đến năm 1901, Centanni và Savunozzi đã đề cập đến ổ dịch này được gây ra bởi vi rút qua lọc Nhưng phải đến năm 1955 mới xác định được
vi rút đã chính là vi rút cúm type A (H7N1 và H7N7) gây chết nhiều gà, gà tây và các loài khác Những chủng vi rút đặc biệt này gây ra dịch cúm gia cầm
ở nhiều quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới trong cuối thế kỷ 19 và đầu thế
kỷ 20 như: Bắc Mỹ, Nam Mỹ, Nam Phi, Trung Đông, Viễn Đông, Châu Âu, Anh, Liên Xô cũ
Từ sau khi phát hiện ra vi rút cúm type A, các nhà khoa học đã tích cực nghiên cứu và nhận thấy vi rút cúm có nhiều ở loài chim hoang dã và gia cầm nuôi ở những vùng khác nhau trên thế giới và thấy rằng bệnh dịch nghiêm trọng nhất xảy ra đối với gia cầm là những chủng gây bệnh cao thuộc phân type H5 và H7, như ở Scotland năm 1959 là H5N1, ở Mỹ năm 1983-1984 là
Trang 25Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn
H5N2 Năm 1963, vi rút type A được phân lập từ gà tây ở Bắc Mỹ do lây từ loài thuỷ cầm di trú vào đàn gà
Cuối thập kỷ 60, phân type H1N1 thấy ở lợn và thấy có liên quan đến những ổ dịch gà tây với biểu hiện đặc trưng là những triệu chứng ở đường hô hấp và giảm đẻ Sự lây nhiễm từ chim hoang dã sang gia cầm đã có bằng chứng
từ trước năm 1970 nhưng chỉ được công nhận khi xác định tỷ lệ nhiễm vi rút cúm cao ở một số loài thuỷ cầm di trú Năm 1971, Beard đã mô tả khá kỹ vi rút gây bệnh và đặc điểm bệnh lý lâm sàng trong các ổ dịch cúm gà, gà tây khá lớn xảy ra ở Mỹ mà chủng gây bệnh là H7N1 Từ năm 1960 - 1979, bệnh được phát hiện ở Canada, Hồng Kông, Nhật Bản, các nước vùng Trung Cận Đông, các nước thuộc liên hiệp Anh và Liên Xô (Đào Yến Khanh, 2005) [12] Sự lây nhiễm từ chim hoang sang gia cầm đã có bằng chứng trước năm 1970 nhưng chỉ được công nhận khi xác định được tỷ lệ nhiễm vi rút cúm cao ở một số loài thủy cầm di trú (Cục Thú y, 2004) [6]
Như vậy, dịch cúm gia cầm đã xảy ra ở khắp các châu lục với mức độ ngày càng nguy hiểm hơn đối với các loài gia cầm và sức khỏe của cộng đồng
đã thôi thúc Hiệp hội các nhà chăn nuôi gia cầm lần đầu tiên tổ chức hội thảo chuyên đề về bệnh cúm gà Hội thảo lần đầu tiên tổ chức vào năm 1981, lần thứ 2 tại Ailen năm 1987, lần thứ 3 cũng tại Ailen vào năm 1992 Từ đó đến nay trong các hội nghị về dịch tễ trên thế giới, bệnh cúm gia cầm luôn là một trong những nội dung được coi trọng (Lê Văn Năm, 2004) [16]
1.4 Dịch tễ học bệnh cúm gia cầm
1.4.1 Động vật cảm nhiễm
Tất cả các loài gia cầm và chim hoang dã (đặc biệt là các loài thuỷ cầm di cư) đều mẫm cảm với vi rút cúm gia cầm Vi rút thường được các loài chim hoang dã lưu giữ ngoài tự nhiên, chỉ khi nhiễm cho gia cầm (gà, vịt, gà tây, chim cút…) thì mới bùng phát thành dịch Phần lớn các loài gia cầm non đều mẫn cảm
Trang 26Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn
với vi rút cúm type A Ngoài gây bệnh cho gia cầm, vi rút còn gây bệnh cho các
loài động vật như lợn và cả người (Bùi Quang Anh và cs, 2004) [2]
Trong quá trình nghiên cứu, người ta bất ngờ khi xác định được vi rút cúm type A có ở các loài sống dưới nước (cá voi, hải cẩu…) Lợn mắc bệnh cúm thường do phân type H1N1, H3N3 Vịt nuôi cũng nhiễm vi rút cúm, nhưng
ít phát hiện được do vịt có sức đề kháng với vi rút gây bệnh, kể cả chủng có độc lực cao gây bệnh nặng cho gà và gà tây
Tuy nhiên năm 1961, ở Nam Phi đã phân lập được vi rút cúm typ A serotype H5N1 gây bệnh cho cả gà và vịt Vụ dịch xảy ra ở các nước Châu
Á và một số nước Châu Âu thì vi rút cúm type A serotype H5N1 cũng gây bệnh cho gà, vịt, ngan, chim cút và một số loài chim hoang dã khác (Muphy, 1996 [444]; Lê Thanh Hòa, 2004) [11]
1.4.2 Động vật mang vi rút
Vi rút cúm đã phân lập được hầu hết các loài chim hoang dã khắp thế giới như vịt, thiên nga, hải âu, mòng biển, vẹt đuôi dài, vẹt mào, chim thuộc
họ chim sẻ, diều hâu
Từ các nghiên cứu trước đây cho thấy tần suất và số lượng vi rút phân lập được ở các loài thuỷ cầm (đặc biệt là vịt trời) đều cao hơn ở các loài khác Trong nghiên cứu, người ta chỉ ra rằng: Vịt từ khi nhiễm đến khi bài thải vi rút trong vòng 30 ngày Và cũng phát hiện thấy vi rút được duy trì trong số đông vịt trời cho tới mùa sinh sản tiếp theo lại truyền lại cho con non, theo đường tiêu hoá do vi rút bài thải theo phân gây ô nhiễm
ao hồ (Bùi Quang Anh và cs, 2002) [2]
Kết quả nghiên cứu ở Bắc Mỹ, thấy rằng trên 60% chim non bị nhiễm vi rút do tập hợp đàn trước khi di trú Trong 3 năm nghiên cứu quần thể chim hoang ở hồ Canada, người ta đã phân lập được 27 kiểu kết hợp giữa kháng nguyên H và N của vi rút cúm tạo ra những biến chủng vi rút
Trang 27Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn
mới Những vi rút này không gây độc đối với vật chủ, được nhân lên trong đường ruột của chim hoang dã và bài thải ra ngoài khiến cho các loài chim này vừa là vật mang vi rút vừa là nguồn gieo rắc vi rút cho các loài khác, đặc biệt là thuỷ cầm
1.4.3 Sự truyền lây
Khi gia cầm nhiễm vi rút cúm, vi rút được nhân lên trong đường hô hấp
và tiêu hóa Sự lây truyền bệnh được thực hiện theo hai phương thức là trực tiếp và gián tiếp (gián tiếp là chủ yếu)
Lây trực tiếp: do con vật mẫn cảm tiếp xúc với con vật mắc bệnh, thông qua các hạt khí dung được bài tiết từ đường hô hấp hoặc qua phân, thức ăn và nước uống bị nhiễm
Lây gián tiếp: qua các hạt khí dung qua không khí với khoảng cách gần những dụng cụ chứa vi rút do gia cầm mắc bệnh bài thải qua phân hoặc lây qua chim thú, thức ăn, nước uống, lồng nhốt, quần áo, xe vận chuyển, côn trùng…Đối với vi rút cúm chủng độc lực cao (HPAI) thì sự truyền lây chủ yếu qua phân và đường hô hấp
Đối với gia cầm nuôi, nguồn dịch đầu tiên thường thấy là:
- Từ các loài gia cầm nuôi khác nhau ở trong cùng một trang trại hoặc trang trại khác liền kề như vịt lây sang gà hoặc từ gà tây sang gà, gà Nhật hay lây sang gà lôi
- Từ gia cầm nhập khẩu có mang vi rút
- Từ chim di trú: Hiện nay, các nhà khoa học đã có bằng chứng về đường dẫn nhập vi rút cúm của chim di trú đặc biệt là thuỷ cầm và gia cầm nuôi Nhưng không có nghĩa là thuỷ cầm mang vi rút cúm truyền lây trực tiếp cho các loài chim khác, loài gia cầm khác mà vai trò của thuỷ cầm trong ổ dịch (Tô Long Thành, 2005) [244]
Trang 28Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn
+ Tỉ lệ lưu hành bệnh sẽ cao hơn đối với gia cầm nằm trên đường di trú của loài thuỷ cầm, như ở Minnesota của Mỹ hoặc Norfolk của Anh
+ Tỷ lệ lưu hành bệnh cao hơn đối với các gia cầm nuôi nhốt trong điều kiện phơi nhiễm như gà tây được nuôi trong các trang trại, vịt nuôi vỗ béo tại các cánh đồng gần trại
+ Các ổ dịch cúm ở các khu vực có nguy cơ cao thường xuất hiện theo mùa cùng lúc với các hoạt động di trú của thuỷ cầm
+ Phần lớn các ổ dịch đều ghi nhận có sự tiếp xúc với thuỷ cầm tại thời điểm phát dịch đầu tiên
Như vậy, thuỷ cầm được coi là đối tượng chính dẫn nhập vi rút vào quần thể gia cầm nuôi nhốt nhưng cũng cần quan tâm tới khả năng khác như
vi rút cúm H5N1 đã tồn tại trên lợn, người, gà tây và thông qua lợn những vi rút này xâm nhập vào gà tây
- Từ người và động vật có vú khác: Phần lớn các ổ dịch cúm gia cầm gần đây có sự lây lan thứ cấp thông qua con người Một số công trình nghiên cứu khác cho thấy vi rút có nguồn gốc từ lợn đã phân lập được từ gà tây(Bùi Quang Anh và cs, 2004) [2]; (Kash et al., 2006 [38].; de Wit,
Fouchier, 2008 [31])
1.4.4 Sức đề kháng của vi rút
Vi rút mất độc lực ở nhiệt độ 56 - 600 C trong vài phút, ở nhiệt độ 40
C vi rút tồn tại được 30 - 35 ngày, ở 200 C tồn tại được 7 ngày Tuy nhiên
vi rút tồn tại khá lâu trong các vật chất hữu cơ như phân gà ít nhất 3 tháng Trong thức ăn, nước uống bị ô nhiễm vi rút có khả năng tồn tại hàng tuần Đây chính là nguồn bệnh nguy hiểm và tiềm tàng để làm lây lan dịch bệnh (Lê Văn Năm, 2004) [16]
Trang 29Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn
Trong nước ao hồ vi rút vẫn có thể duy trì đặc tính gây bệnh tới 4 ngày ở nhiệt độ 220 C và trên 30 ngày ở nhiệt độ 00 C Do cấu trúc vỏ ngoài của vi rút là lipid nên chúng mẫn cảm với các chất dung môi và chất tẩy rửa như formalin, axit, ete, β - propiolacton; sau khi tẩy vỏ, các hóa chất như phenolic, NH4+, axit loãng, natrihypochlorit và hydroxylanine có thể phá hủy vi rút cúm gia cầm Người ta thường dùng các hóa chất này như các chất sát trùng hữu hiệu để tẩy uế chuồng trại, dụng cụ và các thiết bị chăn nuôi (Murphy, Webster, 1996 [44]; Webster, 1998 [55]; Lê Văn Năm, 2004 [17])
1.4.5 Tuổi mắc bệnh
Gia cầm mắc bệnh ở mọi lứa tuổi nhưng tập trung chủ yếu ở 4 - 6 tuần tuổi Gia cầm dễ mắc bệnh và có tỉ lệ chết cao nhất ở nơi bệnh phát ra lần đầu và trong tuổi sắp đẻ hoặc thời kỳ đẻ cao nhất Gia cầm có khả năng sản xuất càng cao thì càng mẫn cảm với cúm gia cầm Gia cầm non và gia cầm già mẫn cảm với mầm bệnh hơn gia cầm trưởng thành
1.4.6 Mùa bệnh
Bệnh cúm gia cầm xảy ra quanh năm nhưng thường tập trung vào lúc thời tiết lạnh, độ ẩm cao, hoặc khi chuyển mùa
1.4.7 Tỉ lệ mắc, tỷ lệ chết
Tỷ lệ mắc bệnh dao động lớn, có khi lên tới 100%
Gia cầm mắc bệnh ở thể cấp tính và quá cấp tính có tỷ lệ chết cao 70%
- 100% (Lê Văn Năm, 2004) [17]
1.5 Triệu chứng và bệnh tích của bệnh cúm gia cầm
1.5.1 Triệu chứng lâm sàng của bệnh cúm gia cầm
Theo Phạm Sỹ Lăng, 2004 [13]; Trần Hữu Cổn và công sự, 2004 [5]: Các biểu hiện triệu chứng lâm sàng của bệnh diễn biến rất đa dạng và phức tạp,
nó phụ thuộc vào nhiều yếu tố như độc lực, số lượng vi rút, loài nhiễm bệnh,
Trang 30Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn
mật độ chăn nuôi, tiểu khí hậu chuồng nuôi (độ bụi, amoniac, sulphua hidro ), chế độ dinh dưỡng, tình trạng miễn dịch của vật chủ trước khi nhiễm vi rút và
sự cộng nhiễm cùng với vi rút cúm gia cầm của các vi khuẩn, vi rút khác như
Ecoli, Mycoplasma, Newcastle
- Thời kì ủ bệnh rất ngắn từ vài giờ đến 3 ngày tuỳ theo lượng vi rút, đường nhiễm bệnh và loài cảm nhiễm vi rút gây bệnh
- Thời kỳ lây truyền thường từ 3 - 5 ngày, có khi đến 7 ngày kể từ khi
có triệu chứng bệnh
+ Thể quá cấp tính (hay gặp): xảy ra từ vài giờ đến 24 giờ
+ Thể cấp tính: từ 1 - 4 ngày
+ Thể á cấp tính (ít gặp): Có thể kéo dài trên 7 ngày
- Nhiều trường hợp gà bị nhiễm cúm gia cầm nhưng không có dấu hiệu lâm sàng, song cũng có nhiều trường hợp dịch nổ ra dữ dội với các triệu chứng điểm hình về đường hô hấp, tiêu hoá và thần kinh
Triệu chứng điển hình của bệnh cúm gia cầm truyền nhiễm thể độc lực cao (HPAI) là:
- Gia cầm chết đột ngột, tỷ lệ tử vong cao có khi lên đến 100% trong vài ngày
- Có các biểu hiện triệu chứng hô hấp khá điển hình như: khoẹc, lắc đầu, vẩy mỏ, chảy nước mũi, nước mắt, gà há mồm thở dốc
- Mí mắt bị viêm, sưng, sưng mọng, mặt phù nề và đầu sưng to Mào và tích bị dày lên do thuỷ thũng, có rất nhiều điểm xuất huyết, nhiều trường hợp thấy hoại tử
- Thịt gà bệnh bị thâm xám, xuất huyết dưới da vùng chân là những biểu hiện đặc trưng của bệnh cúm gia cầm
Trang 31Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn
- Các biểu hiện thần kinh: Gà đi lại không bình thường, chệnh choạng, run rẩy, mệt mỏi, nằm li bì hoặc đứng tụm đống với nhau, lông xù Gà giảm
đẻ rõ rệt
- Triệu chứng về tiêu hóa: gà bị tiêu chảy mạnh
Những dấu hiệu này dễ thấy ở gia cầm trước khi chết, có thể ít xuất hiện các triệu chứng hoặc xuất hiện kết hợp Trong một số trường hợp bệnh bùng phát nhanh trước khi gia cầm chết không có biểu hiện triệu chứng lâm sàng
- Vịt và các loài thuỷ cầm khác bị nhiễm ít biểu hiện triệu chứng ngay
cả với chủng gây bệnh HPAI ở gà, nhưng khi phát bệnh thì viêm xoang, viêm màng mắt, viêm đường hô hấp, tỉ lệ tử vong nhanh và rất cao
- Gia cầm bị nhiễm các chủng vi rút cúm có độc lực yếu hơn cũng có những triệu chứng tương tự nêu trên nhưng mức độ nhẹ hơn và tỉ lệ chết thấp hơn Nhưng khi có các vi khuẩn bội nhiễm với vi rút cúm hoặc gia cầm bị điều kiện bất lợi tác động thì tỷ lệ tử vong tới 60 - 70% của tổng đàn và các biểu hiện lâm sàng cũng nặng hơn (Lê Văn Năm, 2004) [16]
- Các loài chim hoang dã bị nhiễm vi rút cúm thường không có triệu chứng rõ ràng
- Một số chủng vi rút cúm không gây bệnh có thể cư trú trong các tế bào biểu mô ở đường hô hấp và trong ruột, thường tập trung nhiều trong phân gia cầm, mà không gây ra triệu chứng lâm sàng nhưng khi gặp các điều kiện bất lợi và nhiễm các mầm bệnh khác thì vi rút cúm không độc này lại có khả năng gây bệnh trầm trọng ở gà
Triệu chứng do bệnh cúm type A gây ra ở người:
+ Sốt cao liên tục, bệnh nhân có thể rét run
+ Ho khan, đau ngực, đau đầu và đau cơ
Trang 32Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn
+ Khó thở, tím tái, trường hợp nặng có thể suy hô hấp, có thể ỉa chảy, rối loạn ý thức, có thể có những biến chứng nguy hiểm gây tử vong nhanh (Phạm Sỹ Lăng, 2004) [13]
1.5.2 Bệnh tích bệnh cúm gia cầm
a Các biến đổi bệnh lý đại thể
Mức độ biến đổi các bệnh lý đại thể phụ thuộc rất nhiều vào độc lực của vi rút và quá trình diễn biến bệnh
* Thể á cấp tính
- Viêm mũi từ thể cata đến mủ và bị casein hoá gây tịt mũi, thối mí mắt Túi khí dầy lên và có nhiều fibrin bám dính
- Phúc mạc bị viêm nặng từ cata đến fibrin và nhiều khi trứng non dập
vỡ gây viêm dính các cơ quan nội tạng Vì thế, một số tác giả gọi hiện tượng này là “Viêm phúc mạc do lòng đỏ trứng”
- Buồng trứng bị xuất huyết, trứng non dập vỡ, ống dẫn trứng viêm
- Ruột bị viêm cata hoặc fibrin, nặng nhất là vùng giáp ruột non và ruột già
* Thể cấp tính
- Một số gà chết quá nhanh mà không để lại bệnh tích điển hình gì nhưng ở những gà khác thì các biến đổi đại thể lại thể hiện khá rõ
- Mào và tích thâm tím, sưng dày lên, phù nề, đầu sưng to
- Xuất huyết dưới da chân, xác gà khô, gầy, thịt thâm xám
- Miệng có nhiều dịch nhày, nhớt Lỗ huyệt bẩn, niêm mạc hậu môn bị phù nề xuất huyết
- Xoang mũi và xoang trán bị viêm cata đến viêm có mủ Khí quản viêm xuất huyết chứa nhiều đờm, đôi khi lẫn máu
- Phổi bị viêm nặng từ cata đến xuất huyết, hoại tử Túi khí dầy và có nhiều fibrin bám dính
Trang 33Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn
- Tim xuất huyết điểm nặng và viêm dính phúc mạc, xoang tim chứa nước màu vàng sánh, có khí đục Xuất huyết trên màng tim, mỡ vành tim và
cơ tim xuất huyết
- Dạ dày tuyến xuất huyết, có khi viêm loét
- Xuất huyết mỡ bụng, mỡ màng treo ruột, mỡ màng bao tim rất rõ, đây
là một trong những bệnh tích điển hình của cúm gia cầm
- Gan teo hoại tử, lách biến màu lốm đốm vàng và rắn chắc hơn bình thường
- Buồng trứng, ống dẫn chứng viêm xuất huyết
- Ruột xuất huyết đặc biệt ở vùng hậu môn và van hồi manh tràng
* Đối với ngan và vịt
- Các biến đổi bệnh lý của bệnh cúm gia cầm ở ngan và vịt về cơ bản giống như ở gà Tuy nhiên, tần suất biến đổi bệnh lý tập trung chủ yếu ở phổi, tim, buồng trứng và đường ruột
- Viêm xuất huyết phổi, xung huyết dưới màng xương lồng ngực được thấy thường xuyên và có thể đây là những biến đổi có tính đặc thù của bệnh cúm ở ngan và vịt (Lê văn Năm, 2004) [167]
b Bệnh tích vi thể
Bệnh tích vi thể của bệnh cúm do vi rút gây bệnh HPAI thường khác nhau tuỳ thuộc theo độc lực của vi rút và các loài mắc bệnh
1.6 Miễn dịch chống bệnh của gia cầm
Theo Vũ Triệu An (1998) [16]; Nguyễn Như Thanh (1997) [20], miễn dịch là trạng thái đặc biệt của cơ thể không mắc phải tác động có hại của yếu
tố gây bệnh, trong khi đó các cơ thể cùng loài hoặc khác loài lại bị tác động trong điều kiện sống như nhau Cũng như các động vật khác, miễn dịch chống
vi rút cúm của gia cầm có 2 loại là miễn dịch đặc hiệu và không đặc hiệu
Trang 34Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn
* Miễn dịch không đặc hiệu: Khi mầm bệnh xâm nhập vào cơ thể, gia cầm bảo vệ trước hết bằng miễn dịch không đặc hiệu nhằm ngăn cản hoặc giảm số lượng và khả năng gây bệnh của chúng Miễn dịch không đặc hiệu có vai trò quan trọng khi miễn dịch đặc hiệu chưa phát huy tác dụng Hệ thống miễn dịch không đặc hiệu của gia cầm rất phát triển bao gồm:
- Hàng rào vật lý: bao gồm da, niêm mạc và các dịch tiết có tác dụng bảo vệ cơ thể ngăn cản tác nhân gây bệnh xâm nhập vào cơ thể
- Hàng rào hóa học: khi mầm bệnh qua hàng rào da và niêm mạc nó sẽ gặp phải kháng thể dịch thể tự nhiên không đặc hiệu:
+ Bổ thể: bổ thể có tác dụng làm tan màng vi khuẩn, làm tăng khả năng thực bào của đại thực bào (opsonin hóa), ngoài ra bổ thể cũng có vai trò nhất định trong cơ chế đáp ứng miễn dịch đặc hiệu (nhiều trường hợp sự tương tác giữa kháng nguyên và kháng thể cần sự có mặt của bổ thể)
+ Interferon (IFN): do nhiều loại tế bào tiết ra nhưng nhiều nhất là tế bào diệt tự nhiên (NK) Khi Interferon được sản sinh ra, nó gắn vào tế bào bên cạnh và cảm ứng tế bào đó sản sinh ra protein AVP (antivirus protein), do đó khi vi rút xâm nhập vào tế bào nhưng không nhân lên được
- Hàng rào tế bào gồm:
+ Tiểu thực bào, quan trọng nhất là bạch cầu đa nhân trung tính chiếm
60 - 70% tổng số bạch cầu ở máu ngoại vi, nó thực bào những phân tử nhỏ và
vi khuẩn ngoài tế bào
+ Đại thực bào là các tế bào lớn có khả năng thực bào, khi được hoạt hóa nó sẽ nhận biết và loại bỏ các vật lạ, ngoài ra nó còn giữ vai trò quan trọng trong sự trình diện kháng nguyên tới tế bào lympho T và kích thích tế bào lympho T sản sinh ra Inter leukin (IL-1) Đại thực bào còn tiết ra interferon có hoạt tính kháng vi rút, lysozym và các yếu tố khác có tác dụng kích thích phản ứng viêm
Trang 35Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn
+ Các tế bào diệt tự nhiên là một quần thể tế bào lâm ba cầu có nhiều hạt với kích thước lớn Các tế bào này có khả năng tiêu diệt các tế bào đã bị nhiễm vi rút và các tế bào đích đã biến đổi, nó còn tiết ra interferon làm tăng khả năng thực bào của đại thực bào
* Miễn dịch đặc hiệu: Khi kháng nguyên xâm nhập vào cơ thể, cơ thể
sẽ sản sinh ra kháng thể đặc hiệu để loại trừ kháng nguyên đó Kháng thể đặc hiệu có thể là dịch thể hoặc có thể là tế bào, đó là các lympho T mẫn cảm Vì vậy người ta chia miễn dịch đặc hiệu ra miễn dịch dịch thể và miễn dịch tế bào
- Miễn dịch dịch thể: do tế bào lympho B đảm nhiệm, nó tiết ra các loại Immuno globulin (Ig) gồm có 3 lớp chính là IgM, IgG, IgA Ở gia cầm IgG được gọi là IgY Các lympho bào bắt nguồn từ tế bào nguồn ở tủy xương đi tới túi Fabricius, ở đây chúng được huấn luyện để trở thành các lympho B, sau đó di tản đến các cơ quan lympho ngoại biên, chúng khu trú ở các tâm điểm mầm, vùng tủy của lách và hạch bạch huyết Mỗi tế bào lympho B đều
có globulin miễn dịch khác nhau trên bề mặt của nó Kháng thể dịch thể chỉ
có tác dụng với vi rút khi nó còn ở ngoài tế bào, lớp IgM và IgG kết hợp với
vi rút với sự tham gia của bổ thể làm tiêu diệt vi rút, 2 lớp kháng thể này còn ngăn vi rút không cho kết hợp với Recepter của tế bào tương ứng, ngăn cản sự hòa màng giữa vỏ vi rút và màng tế bào Lớp IgA có trong niêm mạc, nó diệt
vi rút ngay trong hàng rào niêm mạc, không cho vi rút xâm nhập vào trong Khi vi rút xâm nhập kích thích sinh ra kháng thể thì kháng thể có tính đặc hiệu cao giúp ta định type vi rút gây bệnh bằng các phản ứng huyết thanh học Một số lympho B sau khi nhận biết kháng nguyên sẽ thành thục thành lympho
B nhớ, hiệu quả làm cho đáp ứng miễn dịch lần 2 đối với kháng nguyên nhanh hơn, mạnh hơn lần 1 và lớp kháng thể thường là IgG
- Miễn dịch đặc hiệu qua trung gian tế bào: quá trình đáp ứng miễn dịch đặc hiệu qua trung gian tế bào do tế bào lympho T đảm nhiệm Các lympho
Trang 36Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn
bào bắt nguồn từ tủy xương di chuyển đến tuyến ức, tại đó chúng được huấn luyện, biệt hóa thành tiền lympho T, lympho T chưa chín, rồi thành lympho T chín Từ tuyến ức chúng di tản đến các cơ quan lympho ngoại vi như các hạch lâm ba, các mảng Payer ở ruột hoặc tới lách Khi đại thực bào đưa thông tin đến các lympho T, chúng tiếp nhận, biệt hóa trở thành nguyên bào lympho T rồi thành tế bào mẫn cảm với kháng nguyên có chức năng như một kháng thể đặc hiệu và gọi là kháng thể tế bào
Các tế bào lympho T thực hiện 2 chức năng quan trọng:
- Chức năng hỗ trợ: do các lympho T có dấu ấn CD4 đảm nhiệm (TH) + Giúp đỡ các tế bào lympho B phát triển thành tương bào để sản xuất kháng thể
+ Giúp các tế bào lympho có dấu ấn CD8 trở thành tế bào TC gây độc
Tế bào TC được hoạt hóa và tiêu diệt tế bào đích
+ Thực hiện phản ứng quá mẫn muộn
+ Sản xuất ra các cytokine có tác dụng điều khiển sự phát triển của các dòng tế bào bạch cầu và các tế bào mầm của hệ thống tạo máu
+ Sản xuất các cytokine có tác dụng hoạt hóa các tế bào đại thực bào + Thúc đẩy quá trình sản xuất các phân tử glycoprotein MHC trên các
tế bào trình diện kháng nguyên Đa số các tế bào T hỗ trợ thể hiện dấu ấn CD4 nhận biết kháng nguyên được trình diện trên bề mặt của các tế bào trình diện kháng nguyên với các phân tử MHC lớp II Chức năng này do 2 tiểu quần thể TH đảm trách TH1 tham gia phản ứng quá mẫn muộn, sản xuất IL-2
và interferon γ, TH2 hỗ trợ tế bào B và sản xuất chủ yếu IL-4, IL-5
- Chức năng loại trừ kháng nguyên: do các lympho T mang dấu ấn CD8 đảm nhiệm, có 2 loại:
+ Lympho T gây độc (TC): chúng gây độc đối với tế bào bị nhiễm vi rút, tế bào ung thư và mảnh ghép dị loài Chúng có khả năng nhận biết các mảnh peptit kháng nguyên của tế bào đích gắn với các phân tử MHC lớp I
Trang 37Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn
+ Lympho T ức chế (TS): chúng triệt thoái quá trình sản xuất immuno globulin của tế bào B và triệt thoái hoặc ức chế các phản ứng quá mẫn muộn
và miễn dịch tế bào
* Những yếu tố ảnh hưởng đến sự hình thành kháng thể: Sự hình thành kháng thể và quá trình đáp ứng miễn dịch phụ thuộc rất nhiều yếu tố như trạng thái sức khoẻ của cơ thể, điều kiện ngoại cảnh, sự chăm sóc nuôi dưỡng, nhưng quan trọng hơn cả là phụ thuộc vào bản chất kháng nguyên
Một số yếu tố ảnh hưởng đến sự hình thành kháng thể như sau:
+ Bản chất kháng nguyên: kháng nguyên có bản chất là protein và có tính kháng nguyên cao sẽ kích thích sinh kháng thể tốt
+ Đường đưa kháng nguyên vào cơ thể: đưa kháng nguyên vào theo đường thích hợp thì lượng kháng thể sinh ra nhiều
+ Liều lượng kháng nguyên: lượng kháng nguyên đưa vào vừa đủ để kích thích cơ thể sản sinh miễn dịch ở mức tối đa mà không gây ức chế và tê liệt miễn dịch
+ Số lần đưa kháng nguyên vào cơ thể: tiêm nhắc lại vắc xin có tác dụng tốt, kháng thể sinh ra nhiều hơn và được duy trì trong thời gian lâu hơn
+ Chất bổ trợ: chất bổ trợ cho vào khi chế vắc xin với mục đích giữ kháng nguyên lâu trong cơ thể nhờ đó tạo kích thích liên tục, đều đặn các cơ quan có thẩm quyền miễn dịch tạo ra kháng thể ở mức cao và duy trì được lâu hơn Những chất bổ trợ thường dùng là keo phèn, nhũ tương, dầu khoáng, dầu thực vật, saponin
1.7 Các phương pháp chẩn đoán bệnh cúm gia cầm
1.7.1 Chẩn đoán dựa vào dịch tễ, triệu chứng và bệnh tích
Theo Lê Văn Năm (2004) [17] việc chẩn đoán bệnh cúm cần dựa vào dịch tễ, triệu chứng và bệnh tích như:
Trang 38Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn
- Gà bị bệnh ở mọi lứa tuổi nhưng thường gặp từ 4 tuần tuổi đến 6 tuần tuổi Bệnh nổ ra dồn dập và nhanh chóng trở thành dịch lớn
- Các triệu chứng gồm: Thở dốc, thở khó, viêm tịt mũi, phù nề mặt, sưng đầu, thuỷ thũng, xuất huyết và hoại tử mào tích, xuất huyết dưới da chân thành vệt đỏ, năng suất trứng giảm
- Bệnh lý đại thể: Cơ quan nội tạng bị teo, viêm xuất huyết và hoại tử ở tim, gan, lách, thận, phổi, tụy, thịt gà bệnh thâm xám, viêm phúc mạc Buồng trứng và ống dẫn trứng bị viêm, trứng non dập vỡ
1.7.2 Chẩn đoán trong phòng thí nghiệm
Theo OIE, 1992 [47] chẩn đoán bệnh cúm gia cầm trong phòng thí nghiệm gồm 2 phương pháp:
1.8 Một số nghiên cứu trong và ngoài nước về bệnh cúm gia cầm
1.8.1 Một số nghiên cứu trong nước về bệnh cúm gia cầm
Trang 39Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn
Vi rút cúm A/H5N1 được các cơ quan nghiên cứu của Việt Nam tiến hành ngay từ những tháng đầu tiên xảy ra dịch cúm gia cầm cuối năm 2003 Những chuỗi gen giúp xác định phân type H5, phân type N1 và các gen cấu trúc đã được Viện Công nghệ Sinh học, Viện Pasteur TP Hồ Chí Minh, Viện Vệ sinh dịch tễ Trung ương, Viện Thú y giải mã và công bố trên Ngân hàng gen (Le và cs, 2005 [4013]; Le Thanh Hoa và cs, 2006 [41]; Dung Nguyen và cs, 2008 [32]; Trương Văn Dung, 2008 [7]) Trên cơ sở phân tích trình tự gen kháng nguyên H5 và N1, các tác giả khẳng định nguồn gốc của vi rút cúm A gây bệnh trên gia cầm
và người tại Việt Nam cùng nhóm với vi rút H5N1 phân lập tại Trung Quốc (Nguyễn Tiến Dũng và cs, 2004 [13]; Lê Thanh Hòa và cs, 2006 [413];
Muramoto và cs, 2006 [45]; Nguyễn Thị Bích Nga 2012 [18])
1.8.2 Một số nghiên cứu trên thế giới về bệnh cúm gia cầm
Cúm A/H5N1 là một vi rút có độc lực cao, và gây bệnh trên người trong các vụ dịch cúm gà những năm 1996 - 2008, đặc biệt ác liệt là do vi rút cúm A/H5N1 thể độc lực cao (HPAI, highly pathogenic avian influenza) gây
ra kể từ năm 2003 cho đến nay và phát sinh nhiều dưới dòng (sublineage) và nhóm/phân nhóm (clade) có độc lực rất cao (Horimoto, Kawaoka, 2001 [34]; Nicholson và cs, 2003 [46]) Chủng vi rút cúm A/H5N1 được phát hiện lần đầu tiên gây bệnh dịch trên gà tại Scotland vào năm 1959 Có thể gọi cúm A/H5N1 phân lập năm 1959 tại Scotland là vi rút cúm A/H5N1 cổ điển (danh pháp: A-Ck-Scotland-(59)(H5N1) (số đăng ký: X07869) Từ đó cho đến nay, H5 và N1 đã có thay đổi lớn xét về cấu trúc thành phần gen và kháng nguyên miễn dịch (Horimoto, Kawaoka, 2006) [35] Sau gần 40 năm không phát hiện, cúm A/H5N1 xuất hiện tại Quảng Đông (1996), và Hồng Kông (1997) với biến đổi sâu sắc, không những gây chết gia cầm mà còn thích ứng và gây chết người bệnh Có thể coi dòng vi rút cúm A/H5N1 từ 1996 đến nay là cúm A/H5N1 hiện đại mới xuất hiện (de Jong, Hien, 2006) [30] Đặc biệt, từ 2003 đến nay, vi rút H5N1 gây ra dịch cúm trên gia cầm tại Hồng Kông, Trung
Trang 40Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn
Quốc và lây lan sang hàng chục quốc gia trên thế giới ở châu Á, châu Âu và châu Phi Cúm A/H5N1 giai đoạn 2003 đến nay, cơ bản về cấu trúc vẫn như trước đó, nhưng xét về độc lực (tính gây bệnh), loài vật chủ nhiễm bệnh, tính kháng nguyên - miễn dịch và mức độ truyền lây có nhiều nét đặc trưng hơn và khác với nhiều biến chủng H5N1 trước đây (Hulse-Post và cs, 2005 [36]; Subbarao, Luke, 2007 [52]; Zhao và cs, 2008 [57]Nguyễn Tiến Dũng et al.,
2004 [8]; 2004 [9]; Li et al., 2004 [42]; Smith et al., 2006 [51])