1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Giáo dục tình yêu biển, đảo cho HS THCS huyện tứ kỳ, tỉnh hải dương thông qua các hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp

131 306 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 131
Dung lượng 1,71 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Vào những năm 80 của thế kỉ XX trong các công trình: “Lịch sử Xô Viết” do G.N.Matixin chủ biên 1980; “Phương pháp giáo dục tình yêu đối với nước Nga Xô Viết” do N.X.Bôrixôp chủ biên 1

Trang 1

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM

HOÀNG VĂN HUYÊN

GIÁO DỤC TÌNH YÊU BIỂN, ĐẢO CHO HỌC SINH TRUNG HỌC CƠ SỞ HUYỆN TỨ KỲ, TỈNH HẢI DƯƠNG THÔNG QUA CÁC HOA ̣T ĐỘNG

GIÁO DỤC NGOÀI GIỜ LÊN LỚP

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC

THÁI NGUYÊN - 2016

Trang 2

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM

HOÀNG VĂN HUYÊN

GIÁO DỤC TÌNH YÊU BIỂN, ĐẢO CHO HỌC SINH TRUNG HỌC CƠ SỞ HUYỆN TỨ KỲ, TỈNH HẢI DƯƠNG THÔNG QUA CÁC HOA ̣T ĐỘNG

GIÁO DU ̣C NGOÀI GIỜ LÊN LỚP

Chuyên ngành: GIÁO DỤC HỌC

Mã số: 60.14.01.01

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC

Người hướng dẫn khoa học: TS DƯƠNG THI ̣ NGA

THÁI NGUYÊN - 2016

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các nguồn

số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này là trung thực, chưa được sử dụng để bảo vệ một học vị nào Các thông tin trích dẫn trong luận văn đều được ghi rõ nguồn gốc

Thái Nguyên, tháng 7 năm 2016

Tác giả luận văn

Hoàng Văn Huyên

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Tôi xin chân thành cảm ơn Ban Giám hiệu Trường Đại học Sư phạm - Đại học Thái Nguyên đã tạo mọi điều kiện tốt nhất để tôi được học tập nghiên cứu trong suốt khóa học Tôi xin trân trọng cảm ơn các thầy cô trong nhà trường đã truyền thụ cho tôi vốn kiến thức vô cùng quý báu để tôi có thể hoàn thành tốt đề tài và làm giàu thêm hành trang kiến thức trên con đường sự nghiệp của mình

Đặc biệt, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới TS Dương Thị Nga đã tận tình chỉ bảo, hướng dẫn và động viên tôi trong suốt quá trình thực hiện đề tài

Tôi xin gửi lời chân thành cảm ơn đến Ban lãnh đạo Phòng GD&ĐT, Ban Giám hiệu trường Trung học cơ sở trên địa bàn huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dương, cùng các thầy cô giáo tham gia cộng tác đã nhiệt tình tạo điều kiện, giúp đỡ tôi trong suốt thời gian thực hiện luận văn

Cuối cùng, tôi xin gửi lời cảm ơn tới các đồng nghiệp, bạn bè và gia đình

đã luôn tạo điều kiện, động viên và giúp đỡ tôi trong suốt thời gian học tập và thực hiện đề tài

Thái Nguyên, tháng 7 năm 2016

Tác giả luận văn

Hoàng Văn Huyên

Trang 5

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN i

LỜI CẢM ƠN ii

MỤC LỤC iii

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT iv

DANH MỤC BẢNG v

DANH MỤC HÌNH, SƠ ĐỒ vi

MỞ ĐẦU 1

1 Lí do chọn đề tài 1

2 Mục đích nghiên cứu 2

3 Khách thể và đối tượng nghiên cứu 3

4 Giả thuyết khoa học 3

5 Nhiệm vụ nghiên cứu 3

6 Giới hạn phạm vi nghiên cứu của đề tài 3

7 Phương pháp nghiên cứu 4

8 Cấu trúc luận văn 4

Chương 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ GIÁO DỤC TÌNH YÊU BIỂN, ĐẢO CHO HỌC SINH TRUNG HỌC CƠ SỞ THÔNG QUA CÁC HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC NGOÀI GIỜ LÊN LỚP 5

1.1 Tổng quan nghiên cứu vấn đề 5

1.1.1 Các nghiên cứu nước ngoài 5

1.1.2 Các nghiên cứu trong nước 7

1.2 Một số khái niệm cơ bản 9

1.2.1 Giáo du ̣c 9

1.2.2 Biển, đảo 10

1.2.3 Tình yêu biển, đảo 13

1.2.4 Giáo dục tình yêu biển, đảo 15

Trang 6

1.2.5 Hoạt đô ̣ng giáo du ̣c ngoài giờ lên lớp 17

1.2.6 Giáo dục tình yêu biển, đảo thông qua các hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp 18

1.3 Đặc điểm lứa tuổi của ho ̣c sinh Trung học cơ sở 19

1.3.1 Đặc điểm về sinh lí 19

1.3.2 Đặc điểm về nhận thức 20

1.3.3 Đặc điểm về ý thức 20

1.3.4 Đặc điểm về tình cảm 21

1.3.5 Đặc điểm về hoạt động học tập 21

1.4 Một số vấn đề lí luận về giáo du ̣c tình yêu biển, đảo cho ho ̣c sinh Trung học cơ sở thông qua tổ chức hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp 22

1.4.1 Yêu cầu giáo du ̣c trong nhà trường Trung học cơ sở 22

1.4.2 Tầm quan trọng của việc giáo du ̣c tình yêu biển, đảo cho ho ̣c sinh ở trường Trung học cơ sở 23

1.4.3 Ưu thế của hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp đối với giáo dục tình yêu biển, đảo cho ho ̣c sinh Trung học cơ sở 25

1.4.4 Mục tiêu giáo dục tình yêu biển, đảo cho ho ̣c sinh Trung học cơ sở thông qua tổ chức hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp 28

1.4.5 Nội dung giáo dục tình yêu biển, đảo cho ho ̣c sinh Trung học cơ sở thông qua tổ chức hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp 30

1.4.6 Phương pháp giáo dục tình yêu biển, đảo cho ho ̣c sinh Trung học cơ sở thông qua tổ chức hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp 31

1.4.7 Hình thức giáo dục tình yêu biển, đảo cho ho ̣c sinh Trung học cơ sở thông qua tổ chức hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp 34

1.4.8 Các yếu tố ảnh hưởng đến việc giáo dục tình yêu biển, đảo cho học sinh THCS thông qua tổ chức hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp 36

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 39

Trang 7

Chương 2: THỰC TRẠNG GIÁO DỤC TÌNH YÊU BIỂN, ĐẢO CHO HỌC SINH TRUNG HỌC CƠ SỞ HUYỆN TỨ KỲ, TỈNH HẢI DƯƠNG THÔNG QUA CÁC HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC NGOÀI

GIỜ LÊN LỚP 40

2.1 Khái quát về địa bàn, hoạt động khảo sát 40

2.1.1 Vài nét về địa bàn nghiên cứu 40

2.1.2 Mục đích khảo sát 41

2.1.3 Đối tượng khảo sát 41

2.1.4 Nội dung khảo sát 42

2.1.5 Phương pháp khảo sát 42

2.2 Thực trạng giáo dục tình yêu biển, đảo cho giáo dục tình yêu biển, đảo cho ho ̣c sinh Trung học cơ sở thông qua tổ chức hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp 43

2.2.1 Nhận thức về vai trò của việc giáo dục tình yêu biển, đảo giáo dục tình yêu biển, đảo cho ho ̣c sinh Trung học cơ sở thông qua tổ chức hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp 43

2.2.2 Thực trạng nội dung giáo dục tình yêu biển, đảo cho ho ̣c sinh Trung học cơ sở thông qua tổ chức hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp 46

2.2.3 Thực trạng phương pháp giáo dục tình yêu biển, đảo cho ho ̣c sinh Trung học cơ sở thông qua tổ chức hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp 50

2.2.4 Thực trạng hình thức giáo dục tình yêu biển, đảo cho học sinh Trung học cơ sở thông qua tổ chức hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp 53

2.2.5 Các yếu tố ảnh hưởng đến việc giáo dục tình yêu biển, đảo cho học sinh THCS thông qua tổ chức hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp 55

2.2.6 Nguyên nhân của thực trạng 58

2.3 Đánh giá chung về thực trạng giáo dục tình yêu biển, đảo cho ho ̣c sinh THCS thông qua tổ chức hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp 60

2.3.1 Mặt tích cực 60

Trang 8

2.3.2 Những hạn chế 62

KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 64

Chương 3: BIỆN PHÁP GIÁO DỤC TÌNH YÊU BIỂN, ĐẢO CHO HỌC SINH TRUNG HỌC CƠ SỞ HUYỆN TỨ KỲ, TỈNH HẢI DƯƠNG THÔNG QUA CÁC HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC NGOÀI GIỜ LÊN LỚP 65

3.1 Những nguyên tắc đề xuất biện pháp 65

3.1.1 Đảm bảo tính pháp lí 65

3.1.2 Đảm bảo tính toàn diện, tính khoa học 65

3.1.3 Đảm bảo tính sư phạm 66

3.1.4 Đảm bảo sự thống nhất giữa nội dung kiến thức biển, đảo với mục đích giáo dục của nhà trường 68

3.1.5 Đảm bảo tính thực tiễn 69

3.1.6 Đảm bảo tính khả thi 69

3.2 Biện pháp giáo dục tình yêu biển, đảo cho ho ̣c sinh Trung học cơ sở thông qua tổ chức hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp 70

3.2.1 Tổ chức các cuộc thi tìm hiểu về biển, đảo cho cho học sinh THCS 71

3.2.2 Tăng cường các hoạt động tham quan, trải nghiệm cho học sinh về chủ đề biển, đảo 74

3.2.3 Tổ chức cho học sinh tiến hành triển lãm sưu tầm tài liệu, hiện vật lịch sử gắn liền với chủ đề biển, đảo 77

3.2.4 Khai thác hình thức đọc sách, tài liệu chuyên đề về chủ đề biển, đảo cho cho ho ̣c sinh Trung học cơ sở 80

3.2.5 Kết hợp chă ̣t chẽ giữa các lực lượng giáo dục trong và ngoài nhà trường trong việc giáo dục tình yêu biển, đảo cho ho ̣c sinh THCS 82

3.3 Mối quan hệ giữa các biện pháp 84

3.4 Thực nghiệm sư phạm 85

3.4.1 Mục đích thực nghiệm 85

Trang 9

3.4.2 Đối tượng thực nghiệm 85

3.4.3 Nội dung thực nghiệm 86

3.4.4 Phương pháp thực nghiệm 86

3.4.5 Quy trình thực nghiệm 87

3.4.6 Các tham số đặc trưng 87

3.4.7 Kết quả thực nghiệm 88

KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 94

KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 95

1 Kết luận 95

2 Khuyến nghị 96

TÀI LIỆU THAM KHẢO 98 PHỤ LỤC

Trang 10

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

CNH - HĐH : Công nghiệp hóa - Hiện đại hóa

CNXH : Chủ nghĩa Xã hội

ĐC : Đố i chứ ng

ĐHQG : Đại học Quố c gia

GD&ĐT : Giáo dục và Đào tạo

GDNGLL : Giáo dục ngoài giờ lên lớp

Trang 11

DANH MỤC BẢNG

Bảng 2.1 Cơ cấu đối tượng khảo sát 41Bảng 2.2 Nhận thức của GV về vai trò của việc giáo dục giáo dục tình yêu

biển, đảo cho HS THCS thông qua hoạt động GDNGLL 43

Bảng 2.3 Thái độ của HS về việc tìm hiểu tìm hiểu, nghiên cứu các kiến

thức về biển, đảo 44Bảng 2.4 Nhận thức của HS về vai trò của việc giáo dục giáo dục tình yêu

biển, đảo cho HS THCS thông qua hoạt động GDNGLL 45

Bảng 2.5 Tần suất thực hiện các nội dung giáo dục tình yêu biển, đảo cho

HS THCS thông qua hoạt động GDNGLL 47Bảng 2.6 Thực trạng nội dung giáo dục tình yêu biển, đảo cho HS THCS

thông qua hoạt động GDNGLL 48Bảng 2.7 Đánh giá của GV về phương pháp giáo dục tình yêu biển, đảo

cho HS THCS thông qua hoạt động GDNGLL 51Bảng 2.8 Đánh giá của HS về các phương pháp của GV nhằm giáo dục

tình yêu biển, đảo cho HS THCS thông qua hoạt động GDNGLL 52Bảng 2.9 Thực trạng hình thức giáo dục tình yêu biển, đảo cho HS THCS

thông qua hoạt động GDNGLL 53Bảng 2.10 Thực trạng các yếu tố ảnh hưởng tới giáo dục tình yêu biển, đảo

cho HS THCS thông qua hoạt động GDNGLL 56Bảng 3.1 Bảng tần xuất điểm kiểm tra của lớp TN và ĐC 88Bảng 3.2 Bảng phân phối tần số, tần suất và tần suất lũy tích qua bài kiểm

tra của HS 89Bảng 3.3 Phân loại kết quả học tập của HS (%) bài kiểm tra 90Bảng 3.4 Bảng thống kê các tham số đặc trưng (giá trị trung bình cộng,

phương sai, độ lệch chuẩn, hệ số biến thiên, p độc lập của các lớp

TN và ĐC) 91

Trang 12

DANH MỤC HÌNH, SƠ ĐỒ

Hình 3.1 Đường lũy tích biểu diễn kết quả kiểm tra 90 Hình 3.2 Đồ thị cột biểu diễn kết quả kiểm tra giữa lớp TN và lớp ĐC 91

Trang 13

MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài

Giáo du ̣c có vai trò chủ đạo trong viê ̣c hình thành và phát triển nhân cách con người Mục tiêu của nền giáo dục Việt Nam được xác định rất rõ trong

Luật Giáo dục năm 2005 là: “Đào tạo con người Việt Nam phát triển toàn diện,

có đạo đức, tri thức, sức khoẻ, thẩm mĩ và nghề nghiệp; trung thành với lí tưởng độc lập dân tộc và CNXH; hình thành và bồi dưỡng nhân cách, phẩm chất và năng lực của công dân, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc” [21, tr.3]

Như vậy, nhiệm vụ của nhà trường không chỉ thể hiện ở giáo dục về trí tuệ, nhận thức mà còn chú trọng bồi dưỡng giáo dục cho thế hệ trẻ lòng yêu nước, ý thức dân tộc, và đặc biệt, trong giai đoạn có nhiều diễn biến chính trị phức tạp hiện nay, các trường phổ thông cần đề cao nhiệm vụ giáo dục ý thức

về chủ quyền biển, đảo cho HS… Việt Nam là một quốc gia có ba mặt giáp biển Biển Việt Nam có đầy đủ các yếu tố cấu thành theo Luật Biển quốc tế Các thế lực thù địch chưa bao giờ từ bỏ âm mưu can thiệp vào công việc nội

bộ, gây mất ổn định chính trị - xã hội, xâm phạm chủ quyền lãnh thổ, biên giới quốc gia, vấn đề bảo vệ chủ quyền quốc gia trên biển đang có nhiều diễn biến phức tạp Biển Đông có vị thế chiến lược, trở thành vị trí chính trị đặc biệt quan trọng trong bản đồ quân sự, bản đồ chính trị, là nơi đã và đang diễn ra những tranh chấp phức tạp, quyết liệt về chủ quyền giữa các quốc gia; tiềm ẩn những bất trắc khó lường, thách thức, đe dọa đến sự toàn vẹn chủ quyền lãnh thổ, biển, đảo, an ninh của nước ta Vì vậy việc giáo dục ý thức về chủ quyền biển, đảo cho thế hệ trẻ là nhiệm vụ trọng yếu và có ý nghĩa chiến lược Đẩy mạnh tuyên truyền, giáo du ̣c để nâng cao nhâ ̣n thức, xây dựng ý thức trách nhiê ̣m công dân vớ i tổ quốc, đă ̣c biê ̣t là về chủ quyền biển, đảo là mô ̣t yêu cầu cấp thiết của các trường phổ thông trong giai đoạn hiện nay

Trang 14

Trong thời gian qua, các trường phổ thông đã có nhiều hình thức tổ chức hoạt động nhằm giáo dục lòng yêu nước, ý thức dân tộc, ý thức về chủ quyền biển, đảo Trong đó, việc tổ chức các hoạt động GDNGLL giữ vai trò quan trọng và có những ưu thế nhất định trong giáo dục, rèn luyện những phẩm chất nhân cách tốt đẹp, bồi đắp lòng yêu nước, tinh thần tự hào dân tộc cho các em Hoạt động GDNGLL với tư cách là tổ chức các hoa ̣t đô ̣ng nhằm bổ trợ, củng cố

và mở rộng tri thức cho các môn học cơ bản, hình thành những phẩm chất nhân cách toàn diện cho HS trong thời đại mới Giáo du ̣c ý thức biển, đảo thông qua tổ chứ c hoa ̣t đô ̣ng GDNGLL có tác đô ̣ng sâu sắc vào nhâ ̣n thức của ho ̣c sinh,

có khả năng đưa các em vào những trải nghiệm thực tiễn hữu ích, làm thay đổi nhận thức, tình cảm và hành vi của các em

Hiện nay, viê ̣c tổ chức giáo du ̣c nâng cao ý thức về chủ quyền biển, đảo cho học sinh bậc THCS đã được chú tro ̣ng, kết quả đã có chuyển biến tích cực trong ý thức trách nhiê ̣m công dân về chủ quyền biển, đảo của ho ̣c sinh Tuy nhiên, nhà trường vẫn chưa tận dụng hết các hình thức tổ chức hoạt động với mục đích giáo dục ý thức về chủ quyền biển, đảo cho ho ̣c sinh, viê ̣c tổ chức giáo dục tập trung chủ yếu ở các hoạt động của bộ môn Lịch sử, mà chưa tận dụng hết các cơ hội trong hình thức tổ chức hoạt động GDNGLL để giáo dục cho các em Những hình thức, biện pháp tổ chức hoạt động GDNGLL với chủ

đề “Biển, đảo” còn nghèo nàn, kém hấp dẫn Vì vậy, nhận thức của các em về chủ quyền biển, đảo còn có những hạn chế nhất định, đặc biệt là các em HS vùng nông thôn, miền núi, dẫn tới các em chưa đi ̣nh hình rõ tình yêu biển, đảo

Xuất phát từ lí do đó, chúng tôi cho ̣n đề tài: “Giáo dục tình yêu biển, đảo cho HS THCS huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dương thông qua các hoạt động GDNGLL” để nghiên cứ u, nhằm giáo du ̣c tình yêu biển, đảo cho HS THCS nói chung và HS THCS huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dương nói riêng

2 Mục đích nghiên cứu

Trên cơ sở nghiên cứu lí luận và thực tiễn giáo dục tình yêu biển, đảo cho

HS THCS, đề xuất các biện pháp giáo dục tình yêu biển, đảo thông qua các hoạt

Trang 15

động GDNGLL cho HS THCS huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dương, góp phần nâng cao

chất lượng giáo dục ở trường THCS nói chung và tỉnh Hải Dương nói riêng

3 Khách thể và đối tượng nghiên cứu

3.1 Khách thể nghiên cứu

Quá trình giáo dục trong nhà trường THCS

3.2 Đối tượng nghiên cứu

Các biê ̣n pháp giáo dục tình yêu biển, đảo cho HS THCS huyện Tứ Kỳ,

tỉnh Hải Dương thông qua hoạt động GDNGLL

4 Giả thuyết khoa học

Hiện nay, nhận thức về chủ quyền biển, đảo của HS THCS huyện Tứ Kỳ tỉnh Hải Dương chưa cao, nội dung, phương pháp, hình thức giáo dục chủ quyền biển, đảo cho HS trong các trường trên địa bàn huyện còn có những hạn chế nhất định, dẫn tới thể hiện tình yêu biển đảo của ho ̣c sinh còn hạn chế Nếu

đề xuất được các biện pháp một cách khoa học, phù hợp và sáng tạo thì sẽ tạo

ra những tác động tích cực, từ đó nâng cao nhận thức và hiệu quả giáo du ̣c tình yêu biển, đảo cho HS THCS huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dương

5 Nhiệm vụ nghiên cứu

5.1 Nghiên cứu cơ sở lí luận về giáo dục tình yêu biển, đảo cho HS THCS thông qua hoạt động GDNGLL

5.2 Đánh giá thực trạng công tác giáo du ̣c tình yêu biển, đảo cho ho ̣c sinh THCS huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dương thông qua hoa ̣t đô ̣ng GDNGLL

5.3 Biện pháp giáo du ̣c tình yêu biển, đảo cho ho ̣c sinh THCS huyê ̣n Tứ

Kỳ, tỉnh Hải Dương

6 Giới hạn phạm vi nghiên cứu của đề tài

- Đề tài tập trung thiết kế một số hoạt động GDNGLL nhằm giáo du ̣c

tình yêu biển, đảo cho HS THCS huyê ̣n Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dương

- Khảo sát tại 6 trường THCS đại diê ̣n khu bắc, khu trung tâm, khu nam

củ a huyê ̣n

- Thử nghiệm tại trường THCS Minh Đứ c, huyê ̣n Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dương

Trang 16

7 Phương pháp nghiên cứu

7.1 Nhóm các phương pháp nghiên cứu lí luận

Chúng tôi sử dụng nhóm phương pháp lí thuyết để thu thập và xử lí các thông tin lí luận có liên quan đến vấn đề nghiên cứu:

- Nghiên cứ u, phân tích các tài liệu, giáo trình, các văn bản pháp quy, những quy định của ngành, … có liên quan đến đề tài Chọn lọc thông tin cần thiết để xây dựng cở sở nghiên cứu cho đề tài

- Khái quát hóa các nội dung về lí luận giáo du ̣c tình yêu biển, đảo cho

học sinh THCS thông qua hoa ̣t động GDNGLL

7.2 Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn

7.2.1 Phương pháp điều tra giáo dục: Sử dụng bảng hỏi dành cho GV,

HS của các nhà trường để thu thập thông tin cho đề tài nghiên cứu

7.2.2 Phương pháp phỏng vấn: Tiến hành phỏng vấn GV cốt cán, HS để

làm rõ thêm thực trạng tổ chức hoa ̣t đô ̣ng giáo du ̣c

7.2.3 Phương pháp chuyên gia: Xin ý kiến chuyên gia về tính cần thiết

và khả thi của các thiết kế hoạt động GDNGLL

7.3 Nhóm phương pháp hỗ trợ: Sử dụng các công thức toán thống kê để

xử lí số liệu thu được

8 Cấu trúc luận văn

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và khuyến nghị, Tài liệu tham khảo và Phụ lục, nội dung luận văn được cấu trúc trong 3 chương:

Chương 1: Cơ sở lí luận về giáo du ̣c tình yêu biển, đảo cho HS THCS

thông qua hoạt động GDNGLL

Chương 2: Thực trạng giáo du ̣c tình yêu biển, đảo cho ho ̣c sinh THCS

huyện Tứ Kỳ tỉnh Hải Dương

Chương 3: Biện pháp giáo dục tình yêu biển, đảo cho HS THCS huyê ̣n

Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dương thông qua tổ chức hoạt động GDNGLL

Trang 17

Chương 1

CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ GIÁO DỤC TÌNH YÊU BIỂN, ĐẢO

CHO HỌC SINH TRUNG HỌC CƠ SỞ THÔNG QUA

CÁC HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC NGOÀI GIỜ LÊN LỚP

1.1 Tổng quan nghiên cứu vấn đề

1.1.1 Các nghiên cứu nước ngoài

Ở nhiều nước, nhất là các nước có nền giáo dục phát triển, công tác nghiên cứu về lịch sử biển, đảo, để thông qua đó giáo dục tình yêu quê hương, biển, đảo rất được chú trọng

Ở Nga, sau cách mạng Tháng Mười, theo chỉ thị của V.I.Lênin, văn kiện giáo dục đầu tiên của Liên bang Xô Viết (1918), đã nêu rõ nội dung, hình thức, phương pháp giáo dục tình yêu quê hương, đất nước, yêu biển cả ở trường phổ thông Việc giáo dục tình yêu đối với quê hương, đất nước, với đồng ruộng, biển cả được tiến hành trong bài nội khóa và hoạt động ngoại khóa với khẩu

hiệu: “Sống, làm việc ở làng, thành phố, vùng quê hương và đại dương Xô

Viết” Vào những năm 80 của thế kỉ XX trong các công trình: “Lịch sử Xô Viết”

do G.N.Matixin chủ biên (1980); “Phương pháp giáo dục tình yêu đối với nước

Nga Xô Viết” do N.X.Bôrixôp chủ biên (1982), các tác giả đã chỉ rõ phương

pháp nghiên cứu, biên soạn, giáo dục ý thức và tình cảm đối với đất nước, biển

cả của nước Nga và đặc biệt “phải làm cho HS hứng thú, say mê thể hiện tình

yêu với chủ quyền đất nước, chủ quyền đại dương của nước Nga, có như vậy các em mới yêu mảnh đất quê hương, mới giáo dục được truyền thống của quê hương” [35, tr.8]

Ở Liên Hiệp Anh vốn là một quốc gia quần đảo, thì việc giáo dục thế

hệ trẻ về tình yêu biển, đảo được đặc biệt quan tâm Điều đó liên quan tới việc giáo dục chủ quyền, giáo dục lịch sử và giáo dục truyền thống ở đất nước này Qua các công trình nghiên cứu và những chia sẻ trên những diễn đàn giáo dục như: www.balh.co.uk (website của Hiệp hội lịch sử ở Anh);

Trang 18

www.le.ac.uk (website của Đại học Leicester, một trung tâm nghiên cứu địa

lí, lịch sử ở Anh)… có thể thấy việc giáo dục truyền thống, giáo dục tình yêu quê hương, tình yêu biển, đảo rất được coi trọng Ngoài hình thức giáo dục trên lớp, GV còn tổ chức giáo dục, học tập, nghiên cứu về đất nước, biển, đảo tại các di tích, bảo tàng, hướng dẫn HS trải nghiệm cuộc sống của những ngư dân, tiếp xúc trò chuyện và phỏng vấn nhân chứng và người dân địa phương đã từng đi biển.[7]

Ở Mĩ và Canada cũng là các quốc gia biển, việc giáo dục tình yêu quê hương đất nước, trong đó có tình yêu biển, đảo đặc biệt được chú trọng, HS ngay từ tiểu học đã được học về lịch sử, địa lí của bang, của quốc gia mình đang sống Trong chương trình giáo dục ngoại khóa được được đưa vào khá sớm và được quy định rõ ràng trong chương trình giáo dục chuẩn chung cho toàn bang đối với Mĩ và chuẩn quốc gia đối với Canada Ngay từ mẫu giáo, những kiến thức lịch sử, địa lí biển, đảo của quốc gia đã được lồng ghép trong các bài dạy của GV, nhất là các bang có tiếp giáp biển hoặc các bang là quần đảo như: Hawai, Califonia, Maiami, Quebec, HS mẫu giáo ở các bang này được làm quen với những kiến thức sơ đẳng về lịch sử và địa lí của bang, về mối quan hệ giữa quá khứ và hiện tại thông qua các câu chuyện, nhân vật, địa danh lịch sử gắn liền với biển, đảo ở địa phương mình đang sống Đối với HS tiểu học, bước đầu cho các em làm quen với những nhân vật lịch sử, những tấm gương yêu nước thông qua những câu chuyện lịch sử, truyền thuyết dân gian

Từ đó xây dựng cho HS niềm tin vào tính cách, bản lĩnh của những nhân vật lịch sử, những con người có thật trong lịch sử Đồng thời cho các em thấy những tác động, ảnh hưởng của họ đối với lịch sử phát triển của dân tộc, của bang và của biển, đảo quê hương họ Chính từ những nhân vật đó mà hình thành tình cảm yêu mến, kính trọng đối với những anh hùng đã xả thân cho Tổ quốc, với biển và đảo quê hương các em Để các em thêm yêu và tự hào về quê hương, đất nước mình [7]

Trang 19

Ở Singapo, Malaixia, Indonexia là những quốc đảo ở Đông Nam Á thì việc giáo dục tình yêu biển, đảo, ý thức môi trường biển, đảo đặc biệt được các nhà chức trách quan tâm Trong chương trình bắt buộc của chuyên đề giáo dục

về biển, đảo xuất hiện các bậc ở trường THCS và THPT, mỗi học kì ít nhất có một tiết dạy bằng phương pháp thực tế về biển, đảo, tài nguyên biển bảo, giáo dục về tình yêu và ý thức biển, đảo Kiến thức về biển, đảo quốc gia còn được đưa vào trong nội dung kiểm tra, đánh giá Điều này phát huy được giá trị lớn trong việc giáo dục tình yêu quê hương nơi HS theo học [7]

1.1.2 Các nghiên cứu trong nước

Giáo dục tình yêu biển, đảo cho HS không phải là một đề tài mới, thường được gói chung trong nội dung giáo dục tình yêu quê hương đất nước cho HS ở

các cấp học và đã được đề cập đến trong nhiều tài liệu

Trong tác phẩm “Gia ́ trị truyền thống của dân tộc Viê ̣t Nam” của GS

Trần Văn Giàu (chủ biên), NXB Khoa học xã hội (1980), khi nói đến chức năng và nhiệm vụ của nhà trường trong việc giáo dục tình yêu quê hương đất

nước cho thế hệ trẻ đã khẳng định “Cung cấp cho thế hệ trẻ những hiểu biết

sâu sắc về tự nhiên, xã hội và con người của quê hương, đất nước, từ lòng yêu đất liền, hải đảo, yêu những thứ thân thuộc xung quanh đến lòng yêu nước, yêu CNXH, họ đã được chuẩn bị để bảo vệ Tổ quốc và xây dựng CNXH ngay

trên vùng đất, vùng biển quê hương” [12, tr.56]

Trong tài liệu “Một số chuyên đề phương pháp giáo dục lịch sử truyền

thống” của GS Phan Ngọc Liên, PGS Trịnh Đình Tùng, GS Nguyễn Thị Côi,

TS Trần Vĩnh Tường đồng chủ biên, NXB ĐHQG Hà Nội, (2002) có chuyên

đề “Giáo dục cho HS về truyền thống lịch sử nước nhà” gồm nhiều bài viết của

các tác giả có ý nghĩa lí luận và thực tiễn trong công tác giáo dục tình yêu quê hương, vùng trời, vùng biển của đất nước cho HS Các bài viết đã khẳng định

sự cần thiết của việc giáo dục tình yêu quê hương đất nước, trong đó có tình

yêu biển, đảo đảo Đặc biệt là bài: “Khai thác nội dung tình yêu nước qua hoạt

Trang 20

động ngoại khóa để giáo dục cho HS phổ thông” của tác giả Trần Vĩnh Tường

đã nêu rõ giáo dục tình yêu nước là ưu thế của các ngoại khóa và khẳng định:

“Mỗi quốc gia, dân tộc đều có cương vực lãnh thổ, chủ quyền vùng trời, vùng

biển riêng, đều gắn liền với những yếu tố địa lí, khí hậu, thời tiết,…Người dân nào cũng có tình yêu quê hương đất nước, biểu hiện cao nhất của tình yêu ấy là tinh thần đấu tranh bảo vệ đất nước, bảo vệ Tổ quốc, bảo vệ chủ quyền đất liền, hải đảo, vùng trời của Tổ quốc” Bài viết còn đề cập đến một số biện pháp

cụ thể nhằm giáo dục truyền thống yêu nước cho HS.[19, tr.7]

Ngoài ra, trong một số sách tham khảo khác như quyển “Giáo dục

truyền thống” của Lê Văn Tám, NXB Thanh Niên (1978) [25], hay quyển

“Truyền thống yêu nước trong lịch sử Việt Nam” của Cao Minh, NXB Thanh Niên, (1999) [22], quyển “Tìm hiểu hoạt động giáo dục tình yêu nước bảo về

tổ quốc qua lịch sử dân tộc từ thế kỉ X đến 1930” của tác giả Trương Hữu

Quýnh, Nguyễn Thị Côi, Nguyễn Thái Hoàng, NXB Quân đội (1994) [26] đều

đề cập đến nội dung giáo dục tình yêu quê hương, đất nước, yêu biển, đảo của

Tổ quốc ở nhiều góc độ, khía cạnh khác nhau Tuy nhiên chưa có cuốn tài liệu nào đề cập một cách toàn diện và cụ thể các hình thức cũng như biện pháp để giáo dục tình yêu quê hương, đất nước cho HS ở trường THCS thông qua các hoạt động GDNGLL

Bên cạnh các tác phẩm còn có nhiều bài viết trên các tạp chí cũng đề cập

đến vấn đề này Bài “Mấy biện pháp nâng cao tính giáo dục qua một hoạt động

GDNGLL” của PGS Trịnh Đình Tùng, Tạp chí Nghiên cứu Giáo dục, số 5

(1988) [30], đã đề ra cách tổ chức các hoạt động GDNGLL nhằm phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của HS trong quá trình nhận thức, tăng cường hiệu quả giáo dục của giờ học đặc biệt là các nội dung giáo dục với chủ đề về tình

yêu quê hương, đất nước nước Bài “Giáo dục tình yêu biển, đảo quê hương

qua những hoạt động trải nghiệm thực tế” của tác giả Mai Thị Tình, Tạp chí

Nghiên cứu li ̣ch sử, số 2 (2013) [1], đã khẳng định giá trị to lớn của việc giáo

Trang 21

dục tình yêu biển, đảo cho HS hiện nay Bài “Giáo dục tình yêu quê hương cho

HS phổ thông qua hoạt động GDNGLL” của tác giả Lê Thị Hồng, tác giả đã

nhấn mạnh đến tác dụng của hoạt động GDNGLL để giáo dục tình yêu quê hương, đất nước cho HS phổ thông, đưa ra một số nguyên tắc và hình thức để tiến hành giáo dục tình yêu quê hương, đất nước cho HS phổ thông qua hoạt

động GDNGLL [15]

Ngoài ra, chúng tôi cũng tiếp cận và tham khảo các Luận án, Luận văn của nghiên cứu sinh, học viên cao học ở nhiều trường trong nước như Luận văn

thạc sĩ “Giáo dục truyền thống yêu quê hương, đất nước cho HS ở trường

THCS tỉnh Ninh Bình” của tác giả Phạm Thị Hiền (2004) [15] Luận văn thạc sĩ

“Giáo dục chủ nghĩa yêu nước cho HS ở trường THPT thành phố Hà Nội hiện

nay”, của tác giả Trần Văn Năng (2014) [1] Luận văn thạc sĩ “Giáo dục tình yêu quê hương, đất nước cho HS THCS huyện Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang” của

Nguyễn Thị Định (1999) [1] Nhìn chung, những luận văn trên đều nhấn mạnh đến tầm quan trọng của việc giáo dục tình yêu quê hương đất nước, trong đó có

đề cập tới giáo dục tình yêu biển, đảo cho HS trong nhà trường Song cho đến nay, vẫn chưa có công trình khoa học, một luận văn, luận án nào nghiên cứu sâu về giáo dục tình yêu biển, đảo cho HS trường THCS thông qua hoạt động GDNGLL Đây cũng là mong muốn của chúng tôi được giải quyết trong phạm

vi đề tài này

1.2 Một số khái niệm cơ bản

1.2.1 Gia ́ o dục

Giáo dục là hiện tượng xã hội đặc biệt, bản chất của nó là sự truyền đạt

và lĩnh hội kinh nghiệm lịch sử - xã hội của các thế hệ loài người Giáo dục là một hoạt động có ý thức của con người nhằm vào mục đích phát triển con người và phát triển xã hội [36]

Trong nhà trường với tư cách là một tổ chức chuyên trách thực hiện giáo dục thế hệ trẻ thì giáo dục được hiểu là hoạt động hay quá trình được tổ chức

Trang 22

một cách có hệ thống có mục đích với nội dung, phương pháp, phương tiện nhằm tác động đến sự phát triển tinh thần, thể chất của nhóm đối tượng nào đó, làm cho họ dần dần có được những phẩm chất và năng lực như yêu cầu đề ra Các hoạt động giáo dục được thông qua những môn học trên trường, lớp cũng như qua những hoạt động như báo cáo thời sự, biểu diễn văn nghệ, cắm trại, thăm quan,… được tổ chức ngoài giờ lên lớp, sẽ tạo ra những ảnh hưởng tích cực đến sự hình thành và phát triển nhân cách của người được giáo dục, dưới tác động của GV, của nhà giáo dục

Bên cạnh đó, giáo dục theo nghĩa hẹp là một trong hai quá trình bộ phận tạo nên quá trình sư phạm tổng thể Theo cách hiểu này thì hoạt động giáo dục tác động trực tiếp đến hệ thống giá trị, tư tưởng, tình cảm, đạo đức của đối tượng giáo dục.[36]

Như vậy, từ những phân tích trên có thể hiểu rằng: Giáo dục là hoạt

động hướng tới con người thông qua một hệ thống các biện pháp của nhà giáo dục tác động nhằm truyền thụ những tri thức và kinh nghiệm, rèn luyện kĩ năng

và lối sống, bồi dưỡng tư tưởng, tình cảm và đạo đức cần thiết cho đối tượng được giáo dục, giúp hình thành và phát triển năng lực, phẩm chất, nhân cách phù hợp với mục đích, mục tiêu chuẩn bị cho đối tượng được giáo dục tham gia lao động sản xuất và đời sống xã hội

1.2.2 Biển, đảo

* Biển:

Theo Từ điển Tiếng Việt thì: “Biển là một vùng nước mặn rộng lớn nói

chung trên bề mặt trái đất Là phần của đại dương ở ven lục địa ít nhiều bị ngăn ra bởi đất liền hoặc bởi những đảo” [32, tr.127]

Theo Công ước Liên hợp quốc về Luật biển năm 1982 định nghĩa: “Biển

là phần đại dương ít nhiều bị ngăn cách bởi lục địa, các đảo hoặc vùng cao của đáy, có chế độ thủy văn riêng biệt” [7]

Trang 23

Cũng theo Công ước này thì tùy theo mức độ ngăn cách với đại dương và đặc điểm chế độ thủy văn mà biển có thể phân thành 3 nhóm: Biển nội địa (còn gọi là biển kín), biển ven bờ và biển được bao quanh bởi các đảo Biển nội địa

có chế độ thủy văn khác nhiều so với đại dương; biển ven bờ có chế độ thủy văn khác rất ít so với đại dương Biển Đông là biển ven bờ

Nước ta là quốc gia ven biển nằm bên bờ Tây của Biển Đông, với bờ biển dài trên 3.260 km trải dài từ Bắc xuống Nam, đứng thứ 27 trong số 157 quốc gia ven biển, các quốc đảo và các lãnh thổ trên thế giới Chỉ số chiều dài

bờ biển trên diện tích đất liền của nước ta là xấp xỉ 0,01 (nghĩa là cứ 100 km2

đất liền có 1 km bờ biển) đứng đầu các nước Đông Dương, trên Thái Lan và xấp xỉ Malaysia Trong 63 tỉnh, thành phố của cả nước thì 28 tỉnh, thành phố có biển và gần một nửa dân số sinh sống tại các tỉnh, thành ven biển Theo Công ước của Liên Hiệp Quốc về Luật Biển năm 1982 thì nước ta có diện tích biển khoảng trên 1 triệu km2, gấp 3 lần diện tích đất liền, chiếm gần 30% diện tích Biển Đông (cả Biển Đông gần 3,5 triệu km2)

* Đảo:

Theo Từ điển tiếng Việt thì: “Đảo là khoảng đất lớn có nước bao quanh,

ở sông hồ, biển hoặc đại dương” “Đảo” hay “hòn đảo” là phần đất được bao

quanh hoàn toàn bởi nước nhưng không phải là một lục địa; tuy vậy, không có một kích thước chuẩn nào để phân biệt giữa đảo và lục địa [32, tr.253]

Theo điều 121 của Công ước Liên hợp quốc về Luật Biển năm 1982 đưa

ra định nghĩa về “đảo” như sau: “1 Đảo là một vùng đất hình thành một cách

tự nhiên có nước bao bọc, khi thuỷ triều lên vùng đất này vẫn ở trên mặt nước

2 Với điều kiện phải tuân thủ khoản 3, lãnh hải, vùng tiếp giáp, vùng đặc quyền về kinh tế và thềm lục địa của một hòn đảo được xác định theo đúng các quy định của Công ước áp dụng cho các lãnh thổ đất liền khác 3 Những đảo

đá nào không thích hợp cho con người đến ở hoặc cho một đời sống kinh tế riêng thì không có vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa.” [7]

Trang 24

Bên cạnh khái niệm “đảo” khái niệm “quần đảo” cũng quan trọng Theo điều 46 của Công ước Liên Hiệp Quốc về Luật biển 1982 thì “quần đảo” được định nghĩa như sau: “Quần đảo là một tổng thể các đảo, kể cả các bộ

phận của các đảo, các vùng nước tiếp liền và các thành phần tự nhiên khác có liên quan với nhau đến mức tạo thành về thực chất một thể thống nhất về địa lí, kinh tế và chính trị, hay được coi như thế về mặt lịch sử.”[7]

Hiện nay, nước ta có khoảng 3.000 hòn đảo lớn, nhỏ và 2 quần đảo xa bờ

là Hoàng Sa và Trường Sa được phân bố khá đều theo chiều dài bờ biển của đất nước, có vị trí đặc biệt quan trọng như một tuyến phòng thủ tiền tiêu để bảo vệ sườn phía Đông đất nước; một số đảo ven bờ còn có vị trí quan trọng được sử dụng làm các điểm mốc quốc gia trên biển để thiết lập đường cơ sở ven bờ lục địa Việt Nam, từ đó xác định vùng nội thủy, lãnh hải, vùng tiếp giáp lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa, làm cơ sở pháp lí để bảo vệ chủ quyền quốc gia trên các vùng biển

* Tầm quan trọng của biển, đảo đối với đất nước:

Với đặc điểm biển, đảo như trên mà nước ta có địa chính trị và địa kinh

tế rất quan trọng, không phải bất kỳ quốc gia nào cũng có

Về kinh tế - xã hội: Biển, đảo nước ta nằm án ngữ trên con đường hàng

hải và hàng không huyết mạch thông thương giữa Ấn Độ Dương và Thái Bình Dương, giữa châu Âu, Trung Cận Đông với Trung Quốc, Nhật Bản và các nước trong khu vực Ngoài ra sự hình thành mạng lưới cảng biển cùng các tuyến đường bộ, đường sắt dọc ven biển và nối với các vùng sâu trong nội địa (đặc biệt là các tuyến đường xuyên Á) sẽ cho phép vùng biển và ven biển nước ta có khả năng chuyển tải hàng hóa nhập khẩu tới mọi miền của Tổ quốc một cách nhanh chóng và thuận lợi Vùng biển, đảo nước ta có tiềm năng tài nguyên phong phú, đặc biệt là dầu mỏ khí đốt Hiện nay, chúng ta đã phát hiện hàng chục mỏ dầu khí có trữ lượng khai thác công nghiệp, trong đó đã đưa vào khai thác gần một chục mỏ, hàng năm cung cấp hàng chục triệu tấn dầu và hàng tỉ

Trang 25

mét khối khí phục vụ cho phát triển kinh tế và dân sinh Nguồn lợi hải sản nước

ta được đánh giá vào loại phong phú trong khu vực

Về an ninh - quốc phòng: Biển, đảo nước ta được ví như mặt tiền, sân

trước, cửa ngõ quốc gia; biển, đảo, thềm lục địa và đất liền hình thành phên dậu, chiến lũy nhiều lớp, nhiều tầng, bố trí thành tuyến phòng thủ liên hoàn bảo

vệ Tổ quốc Lịch sử dân tộc đã ghi nhận có tới 2/3 cuộc chiến tranh kẻ thù đã

sử dụng đường biển để tiến công xâm lược nước ta Những chiến công hiển hách của cha ông ta trên chiến trường sông biển đã minh chứng: ba lần đại thắng quân thù trên sông Bạch Đằng (năm 938, 981 và 1288); chiến thắng Rạch Gầm - Xoài Mút năm 1785 và những chiến công vang dội của quân và dân ta trên chiến trường biển, đảo trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và

đế quốc Mĩ là những minh chứng ghi đậm dấu ấn không bao giờ mờ phai trong lịch sử dân tộc

Ngày nay trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, biển, đảo Việt Nam có vai trò quan trọng, là một phần lãnh thổ trọng yếu của đất nước Việc tuyên truyền, giáo dục tình yêu quê hương, tình yêu biển, đảo cho các thế hệ, đặc biệt là thế hệ trẻ là việc làm rất quan trọng

1.2.3 Tình yêu biển, đa ̉ o

* Tình yêu:

Tình yêu là một khái niệm đa nghĩa trong cách diễn đạt và cách hiểu của mọi người Hiện nay, có nhiều tác giả ở các lĩnh vực khác nhau định nghĩa về tình yêu, dựa trên nhiều khía cạnh, góc nhìn của khoa học đó Theo nghĩa

chung nhất được nhiều tác giả chấp nhận đó là: “Tình yêu là trạng thái tình

cảm tích cực của chủ thể này đối với một chủ thể khác ở mức cao hơn sự thích thú và phải nảy sinh ý muốn được gắn kết với chủ thể đó ở một khía cạnh hay mức độ nhất định Tình yêu được cho là loại cảm xúc mạnh mẽ nhất, đẹp đẽ nhất nhưng cũng khó nắm bắt, định nghĩa nhất, ngay cả khi đem ra so sánh với các loại cảm xúc khác” [37, tr.1247]

Trang 26

Tình yêu như một biểu hiện chung của tâm lí tích cực Chủ thể của tình yêu, ngoại trừ một số trường hợp được nhân cách hóa, còn lại đều là con người Còn chủ thể tác động của tình yêu thì rất đa dạng, phong phú, có thể là bất kì thứ gì, từ đơn giản đến phức tạp, từ nhỏ bé đến vĩ đại, từ hữu hình đến vô hình, Vì thế có nhiều loại hình tình yêu như: tình yêu nam - nữ; tình yêu công việc; tình yêu thiên nhiên, tình yêu quê hương, đất nước; tình yêu gia đình, tình yêu đồng loại,

* Tình yêu quê hương, đất nước:

Theo Từ điển Bách khoa Việt Nam thì: “Tình yêu quê hương, đất nước là

nguyên tắc đạo đức về chính trị mà nội dung là tình cảm, lòng trung thành, ý thức phục vụ Tổ quốc Xã hội nguyên thủy đã có mầm mống của tình yêu quê hương, đất nước, dựa trên tình cảm máu mủ giữa các thành viên của thị tộc hay

bộ lạc Từ khi xã hội nguyên thủy tan rã, tình cảm tự nhiên gắn bó với quê hương, tiếng mẹ đẻ, các truyền thống, … kết hợp với nhận thức về nghĩa vụ của người dân đối với cả cộng đồng xã hội đã được thiết lập Cùng với sự hình thành dân tộc và nhà nước dân tộc, tình yêu quê hương đất nước nước từ chỗ chủ yếu

là một yếu tố trong tâm lí xã hội của cá nhân, đã trở thành chủ nghĩa yêu nước của một dân tộc quốc gia Nó trở thành lực lượng tinh thần vô cùng mạnh mẽ, động viên mọi người đứng lên bảo vệ tổ quốc chống lại mọi cuộc xâm lược Tình yêu quê hương, đất nước chân chính thể hiện ở lòng trung thành với tổ quốc vì lợi ích của dân tộc, của nhân dân, bảo vệ sự sinh tồn của dân tộc và đấu tranh cho sự phồn vinh của đất nước”.[33, tr.874] Trong tình yêu quê hương, đất nước

thì tình yêu biển, đảo quê hương là một biểu hiện điển hình

* Tình yêu biển, đảo:

Từ những phân tích trên có thể hiểu: Tình yêu biển, đảo là tình cảm tích

cực của một cá nhân hay tập thể đối với phần lãnh thổ trên biển, đảo của đất nước Đó là thứ tình cảm tự nhiên của con người nhưng không phải ngay từ khi sinh ra đã có, mà nó được hình thành trong học tập, lao động sản xuất, trong chiến đấu chống giặc ngoại xâm, bảo vệ vùng biển, hải đảo của đất nước

Trang 27

Tình yêu biển, đảo là một phần của tình yêu quê hương đất nước, tình yêu biển, đảo không chỉ là tình cảm mà còn là trách nhiệm, nghĩa vụ đối với biển, đảo quê hương trong mọi hoàn cảnh Trong thời đại ngày nay, tình yêu biển, đảo còn được biểu hiện là ý thức phấn đấu vì sự hùng cường của một quốc gia có biển, thoát khỏi tình trạng của nước nghèo, kém phát triển, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Tình yêu biểu, đảo là ra sức học tập, lao động, làm việc với chất lượng, hiệu quả cao nhất, thiết thực nhất, là ý thức bảo vệ môi trường biển, đảo Tình yêu biển, đảo là phấn đấu vì mục tiêu: dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh Tình yêu biển, đảo là sẵn sàng chiến đấu, hi sinh vì độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn vùng biển, đảo của Tổ quốc

1.2.4 Giáo dục tình yêu biển, đa ̉ o

Giáo dục là một hiện tượng xã hội đặc biệt, vì bản chất của nó là sự truyền đạt, lĩnh hội kinh nghiệm lịch sử - xã hội của các thế hệ loài người Giáo dục luôn gắn bó với loài người, có tác dụng định hướng và dẫn dắt sự phát triển của mỗi thế hệ con người Nhờ có giáo dục mà tinh hóa văn hóa dân tộc và nhân loại được kế thừa, bổ sung và phát triển Công tác giáo dục góp phần đắc

lực vào sự “Nâng cao dân trí, bồi dưỡng nhân tài hình thành đội ngũ lao động

có tay nghề, có năng lực thực hành, tự chủ, năng động và sáng tạo, có đạo đức cách mạng, tinh thần yêu nước, yêu CNXH”.[31,tr.25]

Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng xác định:

“Tăng cường tuyên truyền, giáo dục tinh thần yêu nước, ý thức dân tộc, trách

nhiệm và nghĩa vụ bảo vệ chủ quyền, lợi ích quốc gia Theo đó, đẩy mạnh tuyên truyền, giáo dục, nâng cao ý thức, trách nhiệm và tình yêu biển, đảo, góp phần bảo vệ vững chắc chủ quyền thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc là nhiệm vụ quan trọng, thường xuyên của hệ thống chính trị các cấp và lực lượng quần chúng nhân dân.”.[10,tr.90] Như vậy, chúng ta thấy tính nhất quán trong

quan điểm giáo dục của Đảng và Nhà nước là luôn coi trọng giáo dục lí tưởng

Trang 28

đạo đức cách mạng, bồi dưỡng tình yêu gia đình, tình yêu quê hương, đất nước, tình yêu biển, đảo quê hương

Trong nhà trường, giáo dục tình yêu biển, đảo cho HS được diễn ra trong toàn bộ quá trình giáo dục ở nhà trường phổ thông, ở đó có những tác động làm biến đổi về tâm lí, ý thức, tình cảm để hình thành phẩm chất nhân cách của HS Những tác động từ phía các lực lượng giáo dục, từ môi trường giáo dục đến HS

sẽ được họ tiếp nhận, chuyển hóa những yêu cầu, quy định mang tính khách quan của hoạt động học tập thành ý thức, thái độ, tình cảm và hành vi tích cực của cá nhân đối với biển, đảo quê hương

Việc tổ chức các hoạt động giáo dục tình yêu biển, đảo cho HS cần được bắt đầu từ việc cung cấp cho HS những hiểu biết về biển, đảo, trên cơ sở sự hiểu biết sâu sắc quyền, nghĩa vụ và trách nhiệm với biển, đảo quê hương ở họ xuất hiện xúc cảm, tình cảm tích cực với vùng lãnh thổ này của đất nước Từ đó

họ có nhu cầu về sự hiểu biểu thông qua học tập kiến thức biển, đảo, ý thức trải nghiệm tình yêu biển, đảo và có nhu cầu thể hiện tình yêu với biển, đảo một cách tự nguyện, tự giác trong mọi tình huống, môi trường khác nhau Khi đó, tình yêu biển, đảo sẽ trở thành tình cảm tự nhiên của chính cá nhân HS

Từ phân tích ở trên có thể xác định: Giáo dục tình yêu biển, đảo cho HS

là quá trình tác động có mục đích, có hệ thống của nhà giáo dục đến HS, thông qua việc tổ chức hợp lí các hoạt động học tập, trải nghiệm và hoạt động ngoài giờ lên lớp để hình thành tình yêu biển, đảo cho họ

Tình yêu biển, đảo không phải tự nhiên có mà được hun đúc từ chính lịch sử đau thương mà hào hùng của dân tộc Vì vậy việc giáo dục tình yêu cho

HS là vô cùng quan trọng Phải giáo dục thái độ đúng đắn, tinh thần lao động

và sự cống hiến hết mình để xây dựng biển, đảo quê hương Đối với nhà trường phổ thông hôm nay, thực hiện tốt nhiệm vụ này sẽ góp phần không nhỏ vào việc hoàn thành mục tiêu đào tạo con người mới XHCN có lòng yêu nước và tinh thần quốc tế

Trang 29

1.2.5 Hoa ̣t động giáo dục ngoài giờ lên lớp

Hoạt động GDNGLL chính là những hoạt động giáo dục được nhà trường tổ chức nhằm góp phần giáo dục toàn diện nhân cách cho HS Các hoạt động giáo dục này được thực hiện ngoài các giờ học chính khóa trên lớp, do nhà trường và đội ngũ GV chủ nhiệm trực tiếp tổ chức, có sự phối hợp với các

tổ chức Đoàn, Đội và gia đình, xã hội cùng tham gia

Theo tác giả Đặng Vũ Hoạt: “Hoạt động GDNGLL là việc tổ chức giáo

dục thông qua hoạt động thực tiễn của HS về khoa học kĩ thuật, lao động công ích, hoạt động xã hội, hoạt động nhân văn, văn hoá nghệ thuật, thẩm mĩ, thể dục thể thao, vui chơi giải trí, …để giúp các em hình thành và phát triển nhân cách” [27,tr.37]

Tác giả Phạm Thị Minh Hạnh quan niệm: “Hoạt động GDNGLL là

những hoạt động được tổ chức ngoài giờ học các môn ở trên lớp, diễn ra trong hay ngoài nhà trường, được tổ chức nhằm giáo dục HS theo mục tiêu giáo dục

đề ra, là sự nối tiếp hoạt động giáo dục trên lớp, là con đường gắn lí thuyết với thực tiễn, tạo nên sự thống nhất giữa nhận thức và hành động ở HS” [28, tr.37]

Các tác giả khác như Nguyễn Dục Quang, Bùi Sỹ Tụng, Nguyễn Ngọc Quỳnh Giao, …[13] mặc dù không đưa ra khái niệm về hoạt động GDNGLL song đều thống nhất quan điểm khi nói về hoạt động GDNGLL bao gồm: hoạt động GDNGLL gắn bó mật thiết với hoạt động dạy học, là sự tiếp nối của hoạt động dạy học nhằm củng cố và vận dụng những tri thức đã học vào thực tế cuộc sống Hoạt động GDNGLL góp phần tích cực trong việc hình thành những kĩ năng cơ bản của con người mới đáp ứng yêu cầu của xã hội trong giai đoạn công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước

Như vậy có thể hiểu: Hoạt động GDNGLL là những hoạt động giáo dục

được tổ chức ngoài giờ học các môn học nhằm góp phần hình thành và phát triển toàn diện nhân cách HS đáp ứng mục tiêu giáo dục đề ra

Hiện nay hoạt động GDNGLL bao gồm các hoạt động ngoại khoá về khoa học, văn học, nghệ thuật, thể dục thể thao, an toàn giao thông, phòng

Trang 30

chống tệ nạn xã hội, giáo dục giới tính, giáo dục pháp luật, giáo dục hướng nghiệp, giáo dục kĩ năng sống nhằm phát triển toàn diện và bồi dưỡng năng khiếu; các hoạt động vui chơi, tham quan, du lịch, giao lưu văn hoá, giáo dục môi trường; hoạt động từ thiện và các hoạt động xã hội khác phù hợp với đặc điểm tâm sinh lí lứa tuổi HS

1.2.6 Giáo dục tình yêu biển, đảo thông qua các hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp

Ở trường phổ thông, mỗi hoạt động giáo dục hay dạy học với chức năng

và nhiệm vụ khác nhau là sự cụ thể hóa mục tiêu chung thành mục tiêu riêng

Ví như, hoạt động dạy học các môn học như Địa lí, Lịch sử giúp cho HS hiểu

rõ đất nước mình, hiểu vùng biển, hải đảo của đất nước, hiểu được lịch sử khai

phá tài nguyên thiên nhiên “rừng vàng biển bạc” để tăng thêm tình yêu Tổ

quốc, yêu quê hương, yêu biển, đảo, nâng cao trách nhiệm bảo vệ thiên nhiên Trên cơ sở đó giáo dục tình yêu biển, đảo, tự hào dân tộc, lí tưởng độc lập dân tộc gắn với CNXH, rèn luyện các năng lực tư duy, năng lực thực hành, khả năng vận dụng kiến thức vào cuộc sống

Việc giáo dục tình yêu quê hương, đất nước, đặc biệt là tình yêu biển, đảo thông qua các hoạt động GDNGLL là rất quan trọng đối với HS Bằng việc

tổ chức các hoạt động GDNGLL nhà giáo dục sẽ cung cấp kiến thức lịch sử và truyền thống khai thác biển, đảo của ông cha ta giúp các em có cái nhìn sâu sắc

về biển, đảo quê hương mình Thông qua các việc tổ chức các hoạt động GDNGLL với các chủ đề về biển, đảo sẽ hình thành cho HS ý thức công dân, là phương tiện để giúp ta dung dưỡng tình yêu biển, đảo, tinh thần yêu nước, yêu lịch sử cha ông, văn hóa dân tộc, truyền cho người học tình cảm, nhiệt huyết với lịch sử dân tộc, yêu biển, đảo Tổ quốc và trách nhiệm của mình với việc bảo vệ chủ quyền, tài nguyên biển, đảo trong cuộc sống hiện đại

Từ những phân tích như trên có thể hiểu rằng: Giáo dục tình yêu biển,

đảo thông qua tổ chức hoạt động GDNGLL là việc tổ chức các hoạt động

Trang 31

GDNGLL với các nội dung cụ thể gắn với kiến thức về biển, đảo, với các hình thức hoạt động để giáo dục ý thức và tình yêu biển, đảo cho HS

Quá trình giáo dục tình yêu biển, đảo thông qua tổ chức hoạt động GDNGLL bao gồm các thành tố: mục tiêu giáo dục, nội dung giáo dục, phương pháp giáo dục, hình thức, phương tiện, con đường giáo dục, các lực lượng giáo dục và kết quả giáo dục tình yêu biển, đảo cho HS

1.3 Đặc điểm lứa tuổi của ho ̣c sinh Trung học cơ sở

Giáo dục nói chung và giáo dục tình yêu biển, đảo chỉ phát huy hiệu quả tích cực khi phù hợp với đối tượng giáo dục Đối tượng giáo dục vừa là khách thể mà giáo dục hướng tới, nó quy định nội dung, phương pháp, con đường và phương tiện, đặt ra yêu cầu đối với chủ thể làm công tác giáo dục Việc giáo dục tình yêu biển, đảo cho HS THCS thông qua hoạt động GDNGLL cần nắm vững đặc điểm về sinh lí, tâm lí, nhận thức và xã hội của HS với tư cách đối tượng của giáo dục tình yêu biển, đảo

HS trường THCS có độ tuổi từ 11 - 15 tuổi (từ lớp 6 - 9), giai đoạn phát triển này của trẻ được gọi là tuổi thiếu niên Lứa tuổi này có một vị trí đặc biệt

và tầm quan trọng trong thời kỳ phát triển của trẻ em, vì nó là thời kỳ chuyển tiếp từ tuổi thơ sang tuổi trưởng thành và được phản ánh bằng những tên gọi

khác nhau như: “thời kỳ quá độ“, “tuổi khủng hoảng” [4]

Trang 32

cần đi sâu vào thế giới nội tâm của các em, hiểu rõ nhu cầu đặc điểm tâm sinh

lí để có những biện pháp kịp thời điều chỉnh và lôi cuốn HS vào các loại hoạt

động phát huy tính tích cực độc lập sáng tạo của HS “Sự thay đổi về thể chất

của lứa tuổi HS THCS đã làm cho các em có những đặc điểm nhân cách khác với các em ở lứa tuổi trước Lứa tuổi này là lứa tuổi có nghị lực dồi dào, có tính tích cực cao, có nhiều dự định lớn lao” [4,tr.23]

1.3.2 Đặc điểm về nhận thức

Lứa tuổi này, tư duy trừu tượng của các em đã phát triển, các em thích học hỏi, tìm tòi, khám phá những điều mới lạ, đặc biệt rất thích được trải nghiệm trong những hoạt động mới lạ Khi tri giác các sự vật, hiện tượng HS THCS có khả năng phân tích, tổng hợp Khối lượng tri giác tăng lên, tri giác có trình tự, có kế hoạch, và hoàn thiện hơn Chú ý của HS THCS diễn ra rất phức tạp Sự thay đổi mối quan hệ giữa tư duy hình tượng cụ thể sang tư duy trừu tượng, khái quát mà sự chiếm ưu thế của tư duy trừu tượng là đặc tính cơ bản

về hoạt động tư duy của lứa tuổi HS THCS

1.3.3 Đặc điểm về ý thức

Lứa tuổi HS THCS đã xuất hiện nhu cầu tự đánh giá, nhu cầu so sánh mình với người khác, bắt đầu xem xét mình, vạch cho mình một nhân cách tương lai, muốn hiểu biết mặt mạnh, mặt yếu trong nhân cách của mình Sự tự

ý thức của lứa tuổi này được bắt đầu từ sự tự nhận thức hành vi của mình Để phát triển tự ý thức cho lứa tuổi này thì yếu tố quyết định nhất là cuộc sống tập thể của các em, nơi có nhiều mối quan hệ giá trị đúng đắn, hình thành ở các em lòng tự tin vào sự tự đánh giá của mình và những yêu cầu ngày càng cao đối với hành vi hoạt động của các em giúp cho sự phát triển tự ý thức của các em

Như vậy, trên cơ sở phát triển tự ý thức và thái độ nhận thức thực tế, trên

cơ sở yêu cầu ngày càng cao đối với chúng, vị trí mới của các em trong tập thể,

đã làm nảy sinh khát vọng tu dưỡng nhằm mục đích phát triển cho bản thân những nét tính cách tốt, khắc phục những nét tính cách lạc hậu, những khuyết điểm sai lầm của mình

Trang 33

1.3.4 Đặc điểm về tình cảm

Đặc điểm nổi bật của lứa tuổi này là dễ xúc động, dễ bị kích động, buồn vui chuyển hóa dễ dàng, tình cảm còn mang tính bồng bột hăng say Khi tham gia các hoạt động vui chơi, học tập, lao động, các em đều thể hiện những cảm xúc rất đa dạng Do vốn kinh nghiệm trong cuộc sống của các em ngày càng phong phú, do thực tế tiếp xúc hoạt động trong tập thể, trong xã hội mà tính bột phát trong tình cảm của các em dần dần bị mất đi nhường chỗ cho tình cảm có

ý thức phát triển Tình cảm của lứa tuổi này bị chi phối bởi hoàn cảnh, nó được hình thành trên cơ sở cùng học tập, cùng sinh hoạt, cùng hứng thú sở thích như nhau Tình cảm bạn bè, tính tập thể được phát triển mạnh ở lứa tuổi này Các

em đối với nhau rất chân thành, cởi mở, sẵn sàng giúp đỡ lẫn nhau khi gặp khó khăn Tóm lại, đời sống tình cảm của HS THCS hình thành, phát triển phong phú sâu sắc hơn lứa tuổi HS tiểu học

1.3.5 Đặc điểm về hoạt động học tập

Có thể nói quãng thời gian học phổ thông thì những năm tháng học tập ở THCS là rất quan trọng đối với tương lai của các em So với HS tiểu học thì HS THCS tính năng động và tính độc lập cao hơn, kinh nghiệm sống, sự hiểu biết phong phú hơn, các em dần đang đứng trước ngưỡng cửa cuộc đời Do vậy, thái độ và ý thức động cơ của các em đối với học tập rõ nét hơn Thái độ của

HS đối với các hoạt động giáo dục có sự lựa chọn nhiều hơn Ở các em có hứng thú học tập dần có khuynh hướng chọn ngành, nghề nhiều hơn, do đó ý thức học tập ở một số em bắt đầu xuất hiện nhược điểm là tập trung một số hoạt động học tập mà các em cho là quan trọng đối với ngành, nghề tương lai, mà bỏ qua, xem nhẹ, hoặc ít tham gia các hoạt động giáo dục khác do nhà trường tổ chức Chính điều này là một cản trở rất lớn trong việc giáo dục cho các em về tình yêu quê hương đất nước nói chung và tình yêu biển, đảo nói riêng

Tóm lại, sự khác biệt ở lứa tuổi HS THCS với các lứa tuổi khác là sự phát triển mạnh mẽ về mặt tâm lí và sinh lí nhưng thiếu cân đối về mọi mặt Do

Trang 34

vậy, lứa tuổi này được gọi là lứa tuổi “khủng hoảng”, lứa tuổi “trung gian”,

“chuyển tiếp”… Những tên gọi đó nói lên tính phức tạp và tầm quan trọng của

lứa tuổi này trong quá trình phát triển của trẻ em

1.4 Một số vấn đề lí luận về gia ́ o du ̣c tình yêu biển, đảo cho ho ̣c sinh Trung học cơ sở thông qua tổ chức hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp

1.4.1 Yêu cầu gia ́ o dục trong nhà trường Trung học cơ sở

Việc tổ chức hoạt động giáo dục và học tập dành cho HS cấp THCS được thực hiện theo hướng tập trung hơn so với bậc tiểu học, quy mô số lớp/trường và số HS/lớp lớn hơn để đáp ứng được hoạt động dạy học và giáo dục ở cấp học này Đó là một số yêu cầu có tính đặc trưng đối với cấp học, như:

GV được chuyên môn hóa, thường chỉ dạy một môn học ở một số lớp trong cùng một khối lớp, hoặc dạy một môn học ở các khối lớp khác nhau Trong trường cần có phòng chức năng, phòng bộ môn riêng HS THCS không phải chỉ học trong phòng học dành riêng cho lớp mình mà nhiều bài học, tiết học phải được thực hiện trong phòng thí nghiệm, phòng học bộ môn hoặc trên hiện trường như khu thí nghiệm thực hành về sinh học, khu di tích lịch sử, bảo tàng lịch sử, sinh học, Những bài học này rất có ích cả về kiến thức khoa học và kĩ năng thực hành, kĩ năng giao tiếp và hoạt động nhóm Trong quá trình học tập

để lĩnh hội tri thức, kĩ năng, hình thành thái độ tương ứng, HS luôn cần sự hướng dẫn giảng giải của GV khi thì trực tiếp (trực diện trên lớp), cũng có khi gián tiếp qua sách, tài liệu và các phương tiện thu nhận thông tin và dạy học gián tiếp (thầy trực tiếp) Đến trình độ này, HS có thể làm việc cá nhân hoặc làm việc theo nhóm theo sự chỉ dẫn của GV và sự hướng dẫn trong sách hoặc trong các tài liệu tham khảo hữu ích Hoạt động học của HS THCS được GV tổ chức hướng dẫn theo các phương pháp có thể là khá phong phú đa dạng, tuỳ thuộc vào nội dung và điều kiện và có thể gọi bằng tên chung là phương pháp

“Thầy tổ chức - Trò hoạt động”

Bên cạnh đó, đối với HS THCS, ngoài hoạt động học các em còn có nhu cầu lớn về các hoạt động khác với nội dung phong phú, đa dạng Các hoạt động

Trang 35

giáo dục đó tạo điều kiện để mỗi HS phát triển thể lực, phong phú về tâm hồn, đặc biệt là hình thành ở các em định hướng giá trị - điều mà các em nhận thức, tìm kiếm, thể hiện, nhìn nhận về mình, về người khác và về xã hội, trước hết là các giá trị, như: Giá trị có được từ học tập: đó là những kiến thức cơ bản, những kĩ năng cơ bản, phương pháp học tập khoa học Giá trị về sự trưởng thành của bản thân: đó là sự hình thành tư duy khoa học (tư duy lí luận), là những phẩm chất nhân cách chân chính Giá trị về sự ứng xử trong các mối quan hệ: đó là cách ứng xử với tự nhiên, với xã hội theo cách thức khoa học đã học được, là tình cảm đẹp với con người, trước hết là những người thân, như sự cảm thông chia sẻ, là sự quan tâm chăm sóc người thân, là sự quan tâm giúp đỡ người khác khi cần thiết trong hoàn cảnh có thể Và đặc biệt là các giá trị về sự nhận thức và tình cảm của mình với gia đình và xã hội, với quê hương đất nước Đó là nền tảng để nhà giáo dục tiến hành tổ chức các hoạt động GDNGLL nhằm giáo dục tình yêu biển, đảo cho các em

1.4.2 Tầm quan trọng của việc giáo du ̣c tình yêu biển, đảo cho học sinh ở trường Trung học cơ sở

Công tác giáo dục tình yêu biển, đảo cho HS THCS là cực kì quan trọng,

có ý nghĩa chiến lược trong sự nghiệp giáo dục chủ nghĩa yêu nước, tinh thần sẵn sàng hi sinh vì độc lập dân tộc, bảo vệ chủ quyền toàn vẹn lãnh thổ Đã có nhiều đợt sinh hoạt chính trị sâu rộng trong trường học nhân dịp các ngày lễ kỉ niệm lớn của Đảng, đất nước, dân tộc được triển khai, thực hiện có hiệu quả, được đoàn viên thanh niên tích cực hưởng ứng, được các cấp, các ngành và nhân dân đánh giá cao Tình yêu biển, đảo luôn là một trong những biểu hiện tiêu biểu cho giá trị bền vững trong hệ các giá trị yêu nước truyền thống và được coi là tiêu chí của đạo lí, phẩm giá dân tộc và con người Việt Nam

Tình yêu biển, đảo là góp phần vào xây dựng chủ nghĩa yêu nước vốn là truyền thống cao nhất của dân tộc ta Đây là cơ sở ban đầu rất tự nhiên, bình dị nhưng sâu sắc, lắng đọng với những hình ảnh, tình cảm sẽ đi theo suốt cuộc đời

Trang 36

mỗi con người khi còn là HS trên ghế nhà trường Vì vậy phải giáo dục cho HS biết quý trọng tài nguyên biển, đảo của đất nước, yêu công việc và con người gắn với biển, đảo quê hương, giáo dục cho HS ý thức môi trường và hành vi thể hiện tình yêu với biển, đảo

Hiện nay đất nước ta đang mở cửa hội nhập với thế giới, đang đẩy mạnh quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Nhưng cũng đối mặt không ít thách thức mang tính chất “sống còn” của vận mệnh dân tộc Vì vậy phải giáo dục cho HS thấy rõ sức mạnh dân tộc trước hết là sức mạnh của tình yêu quê hương đất nước, yêu biển, đảo, tinh thần đoàn kết toàn dân, ý chí đấu tranh anh dũng, bất khuất vì độc lập của Tổ quốc và tự do hạnh phúc của nhân dân Đó còn là sức mạnh của văn hóa, lịch sử, truyền thống, các nhân tố tinh thần gắn liền với biển, đảo quê hương làm nên sức mạnh nội lực của dân tộc Bởi lẽ sức mạnh dân tộc được thể hiện qua mỗi con người, vì vậy con người với toàn bộ thể chất và tinh thần bao giờ cũng là nhân tố quyết định sự phát triển bền vững của quê hương đất nước

Ngày nay, trong khi thế giới đang bước vào thế kỉ XXI - “Thế kỉ của Đại

dương” cũng là lúc chúng ta đang đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện

đại hóa đất nước, thực hiện đường lối phát triển kinh tế nhiều thành phần vận hành theo cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa nên việc chủ động hội nhập càng trở thành vấn đề quan trọng và cần thiết nhằm tranh thủ vốn, công nghệ cao và trình độ quản lí tiên tiến, Nhưng muốn tiến hành hội nhập hiệu quả mà không đánh mất mình thì chúng ta cần tuyên truyền, giáo dục cho HS nắm vững nguyên tắc độc lập, tự chủ, tự cường, bảo đảm giữ vững chủ quyền biển, đảo, và bản sắc văn hóa dân tộc Như vậy, việc giáo dục tình yêu biển, đảo cho HS THCS hiện nay là một việc rất quan trọng trong tình hình hiện nay Đây là một nội dung cần được các nhà trường, gia đình và xã hội quan tâm hơn nữa nhằm đáp ứng yêu cầu mới trong giai đoạn hội nhập và phát triển

Tóm lại, tình yêu biển, đảo nằm trong tình yêu quê hương, đất nước là một truyền thống quý báu của dân tộc ta, là tài sản vô giá mà cha ông ta để lại

Trang 37

cho thế hệ sau Nhưng tất cả những tình cảm được coi là truyền thống đó không phải là thứ tình cảm có sẵn, ngay từ khi sinh ra đã có, mà có chăng đó chỉ là hạt giống của một loại cây quý, muốn mọc thành cây xanh tốt cần phải được chăm sóc, uốn nắn thường xuyên Việc giáo dục tình yêu biển, đảo cho HS nói chung

và HS THCS nói riêng cũng thế, cần phải được nuôi dưỡng, giáo dục thường xuyên, liên tục Nhận thức được đầy đủ và sâu sắc vai trò của việc giáo dục trên, chúng ta càng thấy được sự cần thiết phải tiến hành nghiên cứu, tổ chức các hoạt động GDNGLL với chủ đề biển, đảo qua đó giáo dục tình yêu biển, đảo cho HS THCS trong nhà trường hôm nay

1.4.3 Ưu thế của hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp đối với giáo dục tình yêu biển, đảo cho học sinh Trung học cơ sở

Đối với giáo dục phổ thông nói chung, giáo dục bậc THCS nói riêng bằng cả việc dạy học trên lớp và các hoạt động GDNGLL phải đạt được đến kết quả là làm cho người học biết mình sống trong một quốc gia, một dân tộc như thế nào và mình phải làm gì để cống hiến xứng đáng với nhân dân, đất nước Nhà giáo dục một mặt phải trang bị kiến thức, kĩ năng cho các em, mặt khác phải chú ý đến việc giáo dục tình yêu biển, đảo quê hương Từ đó hun đúc trong các em tình cảm, ý chí, nghị lực, sự hăng hái, nhiệt tình, say mê trong lao động sản xuất lẫn trong chiến đấu để xây dựng, bảo vệ biển, đảo của quê hương ngày càng giàu đẹp Giáo dục tình yêu biển, đảo cho HS THCS được thực hiện thông qua mọi hoạt động của nhà trường, đặc biệt việc tổ chức các hoạt động GDNGLL có nhiều khả năng và ưu thế hơn cả

Thông qua hoạt động GDNGLL trong giáo dục tình yêu biển, đảo cho học sinh mà người GV thiết lập được cho học sinh các hoạt động và sự giao lưu

về cả tri thức và tình cảm Từ đó góp phần giúp HS được tiếp cận được các tri thức về biển, đảo một cách tích cực và chủ động HS còn xây dựng được các quan hệ bè bạn thân thiết, trải nghiệm thực tế, nhờ vậy mà GV có thể dựa vào

nguyên tắc “giáo dục trong tập thể và bằng tập thể” để tác động tới tư tưởng,

Trang 38

tình cảm của HS Qua đó, HS không chỉ phát huy được những năng lực của mình mà còn có cơ hội vận dụng những điều đã học về tri thức biển, đảo vào thực tiễn cuộc sống hằng ngày ở những mức độ nhất định Đó là thế mạnh nổi bật của hoạt động GDNGLL so với các hoạt động giáo dục khác trong nhà trường THCS

Tổ chức hoạt động GDNGLL còn có ưu thế trong việc góp phần thỏa mãn các nhu cầu đa dạng của HS Đặc biệt đối với HS THCS, nhu cầu hoạt động và giao lưu của các em phát triển rất đa dạng và phong phú Hoạt động GDNGLL với các hoạt động phong phú và đa dạng đã giúp HS lấy lại sự cân bằng về mặt tâm lí, thỏa mãn các nhu cầu tinh thần để phát triển các thái độ tình cảm phù hợp với đặc điểm lứa tuổi THCS Chính vì vậy trong giáo dục tình yêu biển, đảo cho học sinh THCS thông qua hoạt động GDNGLL về bản chất là còn là giúp thỏa mãn nhu cầu tinh thần của các em trong việc thể hiện tình yêu quê hương, đất nước

Hoạt động GDNGLL ở trường THCS với đặc điểm là luôn được thiết kế với chương trình mang tính mềm dẻo, linh hoạt Tính mềm dẻo thể hiện từ việc lựa chọn nội dung, hình thức hoạt động sao cho phù hợp với nhu cầu, khả năng của HS, với điều kiện của trường, lớp, địa phương, Đồng thời hoạt động GDNGLL luôn có sự linh hoạt trong việc sử dụng quỹ thời gian thực hiện chương trình sao cho đạt hiệu quả cao nhất Nhờ đó kết quả giáo dục HS nói chung và giáo dục tình yêu biển, đảo cho học sinh sẽ đáp ứng được các yêu cầu giáo dục đề ra

Tổ chức có hiệu quả chương trình hoạt động GDNGLL có tiềm năng to lớn trong việc giáo dục toàn diện nhân cách cho HS Bằng các hoạt động phong phú, đa dạng mà nhà giáo dục sẽ cung cấp cho HS những hiểu biết về biển, đảo; hiểu biết về lịch sử khai phá, chinh phục biển cả gắn liền với lịch sử đấu tranh, bảo vệ Tổ quốc của nhân dân; bên cạnh đó, còn tăng cường hiểu biết cho HS về những di tích lịch sử liên quan tới biển, đảo làm cho các em có nhận thức đúng

Trang 39

đắn về cuộc sống của con người và biển cả trong quá khứ và hiện tại Từ đó bồi dưỡng các em niềm tự hào về biển, đảo của quê hương đất nước, tự hào về những phong cảnh biển, đảo bình dị, nên thơ; tự hào về những truyền thống lao động cần cù trên biển, đảo Trên cơ sở những niềm tự hào đó làm cho các em thể hiện được tình yêu gắn bó với biển, đảo của quê hương, có ý thức giữ gìn và phát huy những truyền thống yêu nước, yêu biển, đảo một cách tự nguyện

Hay khi tham gia hoạt động GDNGLL về “Giới thiệu di tích mái đình -

làng biển của người Việt” sẽ trang bị cho HS những dấu ấn về chặng đường

lịch sử của người dân từ thời Việt cổ khai thác biển, đảo qua tiếp cận và khai thác nội dung các di tích lịch sử văn hóa như khu di tích cửa biển, cửa sông Bạch Đằng, làng chài Cửa Vạn nhằm giáo dục tình yêu đối với những chiến tích của dân tộc trên biển và những con người lao động trên biển, đảo quê hương Từ đó, khơi gợi cho các em ý thức trân trọng, giữ gìn, bảo vệ và phát huy các giá trị của lòng yêu biển, đảo quê hương trong thời đại mới

Hoặc, khi tham gia hoạt động GDNGLL với chủ đề “Làng nghề cá

truyền thống trên đất nước Việt Nam”, HS hiểu được lịch sử hình thành và

phát triển của một số làng nghề cá truyền thống trên đất nước Việt Nam, những giá trị kinh tế, kĩ thuật và thẩm mĩ của các sản phẩm của làng nghề

cá Thông qua những kiến thức đó, giáo dục HS tình cảm yêu mến, kính trọng, tự hào đối với những ngư dân tài hoa, có tinh thần cần mẫn tìm tòi, sáng tạo, giáo dục tình yêu lao động, biết trân trọng những thành quả lao động của cha ông Từ đó, các em thấy mình có ý thức bảo vệ môi trường, giữ gìn lịch sử của văn hóa làng nghề cá truyền thống của quê hương, góp phần xây dựng đất nước giàu đẹp, văn minh

Bên cạnh đó, để tổ chức hiệu quả hoạt động giáo dục tình yêu biển, đảo cho HS THCS thông qua hoạt động GDNGLL, nhà trường cần huy động, phối hợp với gia đình HS và các lực lượng xã hội khác nhau cùng tham gia hỗ trợ cơ

sở vật chất, quản lí, đánh giá và giám sát các hoạt động học tập và hình thành

Trang 40

tình cảm, thái độ đối với biển, đảo của HS Như vậy, nhờ ưu thế này mà hoạt động GDNGLL thể hiện rõ được vai trò của các lực lượng giáo dục để tạo nên môi trường giáo dục thống nhất, thuận lợi cho sự phát triển của HS

Ví dụ, khi tham gia hoạt động GDNGLL với chủ đề “Tìm hiểu biển Việt

nhân dân ta, HS THCS sẽ “hiểu” về những giá trị về cảnh quan, giá trị lịch sử -

nhân văn mà biển mang lại cho đất nước, cũng như phẩm chất tốt đẹp của những người dân lao động trên biển Để từ đó tự hào về biển quê hương và sống có trách nhiệm hơn

Tóm lại, hoạt động GDNGLL có vị trí quan trọng và ưu thế trong giáo dục tình yêu biển, đảo cho HS THCS hiện nay

1.4.4 Mục tiêu giáo dục tình yêu biển, đảo cho ho ̣c sinh Trung học cơ sở thông qua tổ chức hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp

Trong Luật Giáo dục được Quốc hội nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa

Việt Nam khóa XI, thông qua ngày 14/6/2005 đã nêu “Mục tiêu của giáo dục

phổ thông là giúp cho HS phát triển toàn diện về đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mĩ và các kĩ năng cơ bản nhằm hình thành nhân cách con người Việt Nam xã hội chủ nghĩa, xây dựng tư cách và trách nhiệm công dân, chuẩn bị cho HS tiếp tục học lên hoặc đi vào cuộc sống lao động, tham gia xây dựng

và bảo vệ Tổ quốc” [21, tr.4] Như vâ ̣y, giáo dục tình yêu biển, đảo cho HS

THCS thực chất là góp phần thực hiện mục tiêu giáo dục của giáo dục phổ thông như trên

Bên cạnh đó, hoạt động GDNGLL ở trường phổ thông là một trong những hoạt động giáo dục nhằm hướng đến mục tiêu giáo dục phát triển toàn diện con người Việt Nam, đáp ứng yêu cầu CNH - HĐH đất nước Hoạt động GDNGLL là cầu nối giữa nhà trường với thực tiễn xã hội, tạo điều kiện để HS phát triển các kĩ năng cơ bản phù hợp với lứa tuổi, là một con đường để phát triển toàn diện nhân cách cho HS

Ngày đăng: 25/06/2017, 17:39

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
18. Hội đồng khoa học các cơ quan Đảng Trung ương (2014), Báo cáo kết quả nghiên cứu đề tài: “Định hướng nội dung giáo dục chủ quyền biển, đảo cho HS phổ thông” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Định hướng nội dung giáo dục chủ quyền biển, đảo cho HS phổ thông
Tác giả: Hội đồng khoa học các cơ quan Đảng Trung ương
Năm: 2014
20. Phan Ngọc Liên (2005), “Về chủ nghĩa yêu nước và giáo dục truyền thống cho thế hệ trẻ”, Tạp chí Nghiên cứu giáo dục lí luận, số 1, tr.8 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về chủ nghĩa yêu nước và giáo dục truyền thống cho thế hệ trẻ
Tác giả: Phan Ngọc Liên
Năm: 2005
29. Trần Quốc Tuấn (1986), “Giáo dục lòng yêu quê hương cho HS THPT qua dạy học lịch sử địa phương (tỉnh Nghĩa Bình)”, Luận văn thạc sĩ, trường Đại học Sư phạm Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo dục lòng yêu quê hương cho HS THPT qua dạy học lịch sử địa phương (tỉnh Nghĩa Bình)
Tác giả: Trần Quốc Tuấn
Năm: 1986
1. Trần Vân Anh (2014), Nâng cao chất lượng dạy học lịch sử địa phương ở trường THPT tỉnh Phú Thọ, Luận án tiến sĩ, Đại học Sư phạm Hà Nội Khác
2. Ban Khoa giáo Trung ương (2002), GD&ĐT thời kỳ đổi mới - chủ trương và thực hiện, đánh giá, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội Khác
3. Ban Tuyên giáo Trung ương, Trung tâm thông tin công tác tư tưởng phối hợp với Cục chính trị Quân chủng hải quân (2007), Biển và hải đảo Việt Nam. NXB Hà Nội Khác
4. Nguyễn Ngọc Bảo (2009), Tâm lí học lứa tuổi và tâm lí học sư phạm. NXB Đại học Quốc Gia Hà Nội Khác
5. Bộ GD&ĐT (2007), Những vấn đề chung về đổi mới giáo dục THCS, NXB Giáo dục, Hà Nội Khác
6. Bộ GD&ĐT (2011), Tài liệu hướng dẫn dạy học nội dung giáo dục về tài nguyên và môi trường biển, đảo cho học sinh THPT. NXB Giáo dục, Hà Nội Khác
7. Bộ GD&ĐT (1994), Biển - đảo Việt Nam. NXB Giáo dục, Hà Nội Khác
8. Bộ ngoại giao nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, Vụ Thông Tin và Báo chí, Hà Nội, ngày 7/8/1979 Khác
9. C. Mác và Ph. Ăng ghen (1995), Toàn tâ ̣p, Tập 2, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội Khác
10. Đảng Cộng sản Việt Nam (2013), Văn kiện Đại hội Đảng thời kì đổi mới và hội nhập, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội Khác
11. Phạm Văn Đồng (1993), Hồ Chí Minh và con người Viê ̣t Nam trên con đường dân giàu, nước mạnh, NXB Chính trị quốc gia, Hà nội Khác
12. Trần Văn Giàu (1980), Giá trị tinh thần truyền thống của dân tộc Việt Nam, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội Khác
13. Nguyễn Ngọc Quỳnh Giao, Nguyễn Tuấn Phương, Chu Thị Minh Tâm (2006), Thực hành tổ chức các hoạt động gíao dục ngoài giờ lên lớp, NXB Giáo dục, Hà Nội Khác
14. Phạm Minh Hạc (chủ biên) (2001), Về phát triển toàn diện con người thời kỳ công nghiê ̣p hoá, hiện đại hoá, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội Khác
15. Phan Thị Hiến (2012), Giáo dục truyền thống yêu quê hương, đất nước cho HS trong dạy học lịch sử địa phương ở trường THPT tỉnh Bắc Giang, Luận văn Thạc sĩ, trường Đại học Sư phạm Hà Nội Khác
16. Hội đồng chỉ đạo biên soạn Từ điển bách khoa Việt Nam: Từ điển bách khoa Viê ̣t Nam, Tập 1, NXB Từ điển bách khoa, Hà Nội.2005 Khác
17. Hội đồng chỉ đạo biên soạn Từ điển bách khoa Việt Nam: Từ điển bách khoa Viê ̣t Nam, Tâ ̣p 4, NXB Từ điển bách khoa, Hà Nội.2005 Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2.1. Cơ cấu đối tượng khảo sát - Giáo dục tình yêu biển, đảo cho HS THCS huyện tứ kỳ, tỉnh hải dương thông qua các hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp
Bảng 2.1. Cơ cấu đối tượng khảo sát (Trang 53)
Bảng 2.2. Nhận thức của GV về vai trò của việc giáo dục giáo dục tình yêu - Giáo dục tình yêu biển, đảo cho HS THCS huyện tứ kỳ, tỉnh hải dương thông qua các hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp
Bảng 2.2. Nhận thức của GV về vai trò của việc giáo dục giáo dục tình yêu (Trang 55)
Bảng 2.3. Thái độ của HS về việc tìm hiểu tìm hiểu, nghiên cứu - Giáo dục tình yêu biển, đảo cho HS THCS huyện tứ kỳ, tỉnh hải dương thông qua các hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp
Bảng 2.3. Thái độ của HS về việc tìm hiểu tìm hiểu, nghiên cứu (Trang 56)
Bảng 2.4. Nhận thức của HS về vai trò của việc giáo dục giáo dục tình yêu - Giáo dục tình yêu biển, đảo cho HS THCS huyện tứ kỳ, tỉnh hải dương thông qua các hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp
Bảng 2.4. Nhận thức của HS về vai trò của việc giáo dục giáo dục tình yêu (Trang 57)
Bảng 2.5. Tần suất thực hiện các nội dung giáo dục tình yêu biển, - Giáo dục tình yêu biển, đảo cho HS THCS huyện tứ kỳ, tỉnh hải dương thông qua các hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp
Bảng 2.5. Tần suất thực hiện các nội dung giáo dục tình yêu biển, (Trang 59)
Bảng 2.6. Thực trạng nội dung giáo dục tình yêu biển, đảo cho HS THCS - Giáo dục tình yêu biển, đảo cho HS THCS huyện tứ kỳ, tỉnh hải dương thông qua các hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp
Bảng 2.6. Thực trạng nội dung giáo dục tình yêu biển, đảo cho HS THCS (Trang 60)
Bảng 2.7. Đánh giá của GV về phương pháp giáo dục tình yêu biển, đảo - Giáo dục tình yêu biển, đảo cho HS THCS huyện tứ kỳ, tỉnh hải dương thông qua các hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp
Bảng 2.7. Đánh giá của GV về phương pháp giáo dục tình yêu biển, đảo (Trang 63)
Bảng 2.8. Đánh giá của HS về các phương pháp của GV nhằm giáo dục  tình yêu biển, đảo cho HS THCS thông qua hoạt động GDNGLL - Giáo dục tình yêu biển, đảo cho HS THCS huyện tứ kỳ, tỉnh hải dương thông qua các hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp
Bảng 2.8. Đánh giá của HS về các phương pháp của GV nhằm giáo dục tình yêu biển, đảo cho HS THCS thông qua hoạt động GDNGLL (Trang 64)
Bảng 2.9. Thực trạng hình thức giáo dục tình yêu biển, đảo cho HS THCS - Giáo dục tình yêu biển, đảo cho HS THCS huyện tứ kỳ, tỉnh hải dương thông qua các hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp
Bảng 2.9. Thực trạng hình thức giáo dục tình yêu biển, đảo cho HS THCS (Trang 65)
Bảng 2.10. Thực trạng các yếu tố ảnh hưởng tới giáo dục tình yêu biển, - Giáo dục tình yêu biển, đảo cho HS THCS huyện tứ kỳ, tỉnh hải dương thông qua các hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp
Bảng 2.10. Thực trạng các yếu tố ảnh hưởng tới giáo dục tình yêu biển, (Trang 68)
Bảng 3.1. Bảng tần xuất điểm kiểm tra của lớp TN và ĐC - Giáo dục tình yêu biển, đảo cho HS THCS huyện tứ kỳ, tỉnh hải dương thông qua các hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp
Bảng 3.1. Bảng tần xuất điểm kiểm tra của lớp TN và ĐC (Trang 100)
Bảng 3.2. Bảng phân phối tần số, tần suất và tần suất lũy tích qua bài kiểm - Giáo dục tình yêu biển, đảo cho HS THCS huyện tứ kỳ, tỉnh hải dương thông qua các hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp
Bảng 3.2. Bảng phân phối tần số, tần suất và tần suất lũy tích qua bài kiểm (Trang 101)
Bảng 3.3. Phân loại kết quả học tập của HS (%) bài kiểm tra - Giáo dục tình yêu biển, đảo cho HS THCS huyện tứ kỳ, tỉnh hải dương thông qua các hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp
Bảng 3.3. Phân loại kết quả học tập của HS (%) bài kiểm tra (Trang 102)
Hình 3.2. Đồ thị cột biểu diễn kết quả kiểm tra giữa lớp TN và lớp ĐC - Giáo dục tình yêu biển, đảo cho HS THCS huyện tứ kỳ, tỉnh hải dương thông qua các hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp
Hình 3.2. Đồ thị cột biểu diễn kết quả kiểm tra giữa lớp TN và lớp ĐC (Trang 103)
Bảng 3.4. Bảng thống kê các tham số đặc trưng (giá trị trung bình cộng,  phương sai, độ lệch chuẩn, hệ số biến thiên, p độc lập của các lớp TN và ĐC) - Giáo dục tình yêu biển, đảo cho HS THCS huyện tứ kỳ, tỉnh hải dương thông qua các hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp
Bảng 3.4. Bảng thống kê các tham số đặc trưng (giá trị trung bình cộng, phương sai, độ lệch chuẩn, hệ số biến thiên, p độc lập của các lớp TN và ĐC) (Trang 103)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w