Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM LÊ ĐỨC DŨNG NGHIÊN CỨU THÀNH PHẦN LOÀI VÀ SỰ PHÂN BỐ CỦA LƯỠNG CƯ, BÒ SÁT TRON
Trang 1Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
LÊ ĐỨC DŨNG
NGHIÊN CỨU THÀNH PHẦN LOÀI VÀ SỰ PHÂN BỐ CỦA LƯỠNG CƯ, BÒ SÁT TRONG MỘT SỐ SINH CẢNH TẠI XÃ Y TÝ, HUYỆN BÁT XÁT, TỈNH LÀO CAI
LUẬN VĂN THẠC SĨ SINH HỌC
THÁI NGUYÊN - 2016
Trang 2Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
LÊ ĐỨC DŨNG
NGHIÊN CỨU THÀNH PHẦN LOÀI VÀ SỰ PHÂN BỐ CỦA LƯỠNG CƯ, BÒ SÁT TRONG MỘT SỐ SINH CẢNH TẠI XÃ Y TÝ, HUYỆN BÁT XÁT, TỈNH LÀO CAI
Chuyên ngành: SINH THÁI HỌC
Mã số: 60.42.01.20
LUẬN VĂN THẠC SĨ SINH HỌC
Người hướng dẫn khoa học: TS HOÀNG VĂN NGỌC
THÁI NGUYÊN - 2016
Trang 3Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN i http://www.lrc.tnu.edu.vn
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả của luận văn là hoàn toàn trung thực, do tôi thu thập và xử lí Đồng thời, luận văn này chưa từng được bảo vệ trước bất kỳ một hội đồng nào trước đây
Thái Nguyên, tháng 6 năm 2016
Tác giả luận văn
Lê Đức Dũng
Trang 4Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN ii http://www.lrc.tnu.edu.vn
LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình thực hiện đề tài, tôi đã nhận được sự hướng dẫn khoa học rất tận tình của TS Hoàng Văn Ngọc Xin được gửi đến thầy những tình cảm thiêng liêng và lòng biết ơn sâu sắc nhất
Ngoài nỗ lực của bản thân, tôi đã nhận được sự giúp đỡ và tạo điều kiện thuận lợi của các thầy cô trong khoa Sinh học, phòng Đào tạo- Trường Đại học
Sư phạm Thái Nguyên; Ban quản lí và cán bộ Chi cục kiểm lâm, Đảng ủy, Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân xã Y Tý, huyện Bát Xát, tỉnh Lào Cai cũng như nhân dân địa phương trong quá trình thu thập tài liệu và thực địa Tôi xin trân trọng cảm ơn về sự giúp đỡ quý báu đó
Trong quá trình nghiên cứu và phân tích số liệu, tôi cũng nhận được sự giúp đỡ tận tình về chuyên môn của của TS Nguyễn Thiên Tạo (Bảo tàng Thiên nhiên Việt Nam, Viện Hàn lâm KH & CN Việt Nam) Xin được trân trọng cảm
ơn thầy
Xin được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới gia đình, thủ trưởng đơn vị và các anh chị em đồng nghiệp đã hết lòng giúp đỡ, động viên tôi vượt qua khó khăn để hoàn thành luận văn này
Một lần nữa, tôi xin trân trọng cảm ơn!
Thái Nguyên, tháng 6 năm 2016
Tác giả luận văn
Lê Đức Dũng
Trang 5Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN iii http://www.lrc.tnu.edu.vn
MỤC LỤC
Trang
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC CÁC KÍ HIỆU VIẾT TẮT iv
DANH LỤC CÁC BẢNG, BIỂU ĐỒ v
DANH LỤC CÁC HÌNH vi
MỞ ĐẦU 1
1 Lí do chọn đề tài 1
2 Mục tiêu của đề tài 2
3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 2
4 Nội dung nghiên cứu 3
5 Đóng góp của đề tài 3
Chương 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 4
1.1 Lịch sử nghiên cứu LCBS ở các tỉnh miền núi phía Bắc 4
1.2 Lịch sử nghiên cứu LCBS ở tỉnh Lào Cai 11
Chương 2 ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, KINH TẾ - XÃ HỘI VÙNG NGHIÊN CỨU 13
2.1 Điều kiện tự nhiên 13
2.1.1 Vị trí địa lí 13
2.1.2 Địa hình 13
2.1.3 Khí hậu - thủy văn 14
2.1.4 Tài nguyên 15
2.2 Đặc điểm kinh tế - xã hội 17
2.2.1 Dân cư, dân tộc 17
2.2.2 Thực trạng kinh tế - xã hội 18
Trang 6Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN iv http://www.lrc.tnu.edu.vn
Chương 3 MỤC ĐÍCH, ĐỐI TƯỢNG, ĐỊA ĐIỂM, THỜI GIAN,
THIẾT BỊ VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 24
3.1 Mục đích nghiên cứu 24
3.2 Đối tượng nghiên cứu 24
3.3 Địa điểm nghiên cứu 24
3.4 Thời gian nghiên cứu 24
3.5 Thiết bị nghiên cứu và phương pháp nghiên cứu 24
3.5.1 Thiết bị nghiên cứu 24
3.5.2 Phương pháp nghiên cứu 25
Chương 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 33
4.1 Thành phần loài LCBS ở xã Y Tý, huyện Bát Xát, tỉnh Lào Cai 33
4.2 Nhận xét về thành phần loài LCBS ở KVNC 35
4.2.1 Sự đa dạng về thành phần phân loại học 35
4.2.2 So sánh sự tương đồng về thành phần loài LCBS của KVNC với một số khu vực khác 37
4.2.3 Mô tả đặc điểm hình thái, sinh thái của các loài LCBS bổ sung cho tỉnh Lào Cai 38
4.3 Sự phân bố LCBS ở xã Y Tý, huyện Bát Xát, tỉnh Lào Cai 40
4.3.1 Phân bố theo sinh cảnh 40
4.3.2 Phân bố theo nơi ở 44
4.3.3 Phân bố theo độ cao 48
4.4 Các loài LCBS quý hiếm ở khu vực nghiên cứu 50
4.5 Các nhân tố đe dọa khu hệ LCBS và đề xuất hướng bảo tồn 51
4.5.1 Các nhân tố đe dọa LCBS ở KVNC 51
4.5.2 Đề xuất hướng bảo tồn LCB Sở KVNC 52
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 55
TÀI LIỆU THAM KHẢO 57
Trang 7Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN iv http://www.lrc.tnu.edu.vn
DANH MỤC CÁC KÍ HIỆU VIẾT TẮT
Trang 8Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN v http://www.lrc.tnu.edu.vn
DANH LỤC CÁC BẢNG, BIỂU ĐỒ
Trang
Bảng 2.1 Tọa độ, độ cao, thời gian khảo sát trên các tuyến 26
Bảng 4.1 Danh sách thành phần loài LCBS ở KVNC 33
Bảng 4.2 Đa dạng bậc phân loại LC ở KVNC 35
Bảng 4.3 Đa dạng bậc phân loại BS ở KVNC 36
Bảng 4.4 Chỉ số tương đồng (Sorensen-Dice index) về đa dạng loài giữa KVNC với một số khu vực khác 37
Bảng 4.5 Sự phân bố các bậc phân loại của LCBS theo sinh cảnh 41
Bảng 4.6 Sự phân bố các bậc phân loại của LCBS theo nơi ở 44
Bảng 4.7 Danh sách các loài LCBS quý hiếm ở KVNC 50
Biểu đồ 4.1 Tỉ lệ số loài LCBS phân bố trong từng sinh cảnh ở KVNC (%) 42
Biểu đồ 4.2 Tỉ lệ số loài LCBS phân bố trong từng nơi ở tại KVNC (%) 45
Biểu đồ 4.3 Tỉ lệ số loài LCBS phân bố theo độ cao tại KVNC (%) 49
Trang 9Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN vi http://www.lrc.tnu.edu.vn
DANH LỤC CÁC HÌNH
Trang
tỉnh Lào Cai 23
Hình 3.1 Bàn chân lưỡng cư không đuôi 28
Hình 3.2 Số đo lưỡng cư không đuôi 29
Hình 3.3 Tấm đầu của rắn 29
Hình 3.4 Các loại vảy lưng ở rắn 30
Hình 3.5 Cách đếm số hàng vảy thân 30
Hình 3.6 Vảy bụng, vảy dưới đuôi và tấm hậu môn 30
Hình 3.7 Các tấm trên đầu ở thằn lằn (Mabuya) 31
Hình 3.8 Lỗ tai thằn lằn (theo Bourret, 1943) 31
Hình 3.9 Mắt thằn lằn (theo Bourret, 1943) 31
Hình 4.1 Sự tương đồng về đa dạng loài tập hợp theo nhóm giữa KVNC với các khu vực khác 38
Trang 10MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
Lưỡng cư, bò sát (LCBS) là những mắt xích quan trọng trong lưới thức
ăn của các quần xã sinh vật Với số lượng loài rất phong phú và đa dạng, LCBS
là tài sản vô giá đối với cộng đồng, là nền tảng trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội, bảo vệ môi trường đồng thời có ý nghĩa cực kỳ quan trọng đối với nông nghiệp và góp phần vào việc cân bằng sinh thái trong hệ tự nhiên
và hệ nhân văn
Ngoài giá trị khoa học, LCBS từ lâu đã được con người sử dụng làm thực phẩm, dược liệu, vật trang trí - động vật cảnh, trong kỹ nghệ da, và là thiên địch của rất nhiều loài sâu bọ phá hoại mùa màng, kể cả một số loài gặm nhấm gây hại cho con người như chuột Mặt khác, ở một mức độ nhất định, chúng cũng
là động vật gây hại: các loài rắn độc đe dọa sức khỏe, tính mạng con người và vật nuôi; là những vật chủ trung gian truyền bệnh của nhiều loài kí sinh; hay có thể xâm hại ngành thủy sản do các loài cá cũng là con mồi tự nhiên của nhiều LCBS…
Nghiên cứu khu hệ LCBS ở Việt Nam nhìn chung mới chỉ được thực hiện
ở các khu bảo tồn (KBT), vườn quốc gia (VQG) và một số tỉnh trên diện rộng
Ở Lào Cai chỉ có một số nghiên cứu được thực hiện ở VQG Hoàng Liên huyện
Sa Pa, khu bảo tồn thiên nhiên (KBTTN) Hoàng Liên huyện Văn Bàn, còn những khu rừng già thuộc các huyện khác chưa có công trình nghiên cứu cụ thể nào về LCBS
Y Tý thuộc huyện Bát Xát, tỉnh Lào Cai, là một xã vùng cao biên giới đặc biệt khó khăn, với độ cao trung bình 2.000 m so với mặt nước biển, có đường biên giới dài 17 km tiếp giáp với nước Trung Quốc Toàn xã có tổng diện tích đất tự nhiên là 8.654 ha, với 15 thôn bản gồm4 dân tộc chính cùng sinh sống (Hà
Trang 11Nhì, Mông, Dao, Kinh) Nằm trên Cao nguyên Y Tý, khu rừng già Y Tý rộng hơn 1.000 ha, địa hình phức tạp, bị chia cắt bởi các dãy núi cao, xung quanh là các khe nước, suối hẹp là điều kiện thuận lợi cho nhiều loài LCBS sinh sống Do
đó, việc nghiên cứu khu hệ LCBS ở xã Y Tý, huyện Bát Xát, tỉnh Lào Cai là hết sức cần thiết, nhằm đánh giá tính đa dạng sinh học của khu vực này, làm cơ sở cho người dân biết tầm quan trọng để bảo vệ và phát triển các loài động vật, đặc biệt là LCBS
Xuất phát từ những lý do trên, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài:
“Nghiên cứu thành phần loài và sự phân bố của Lưỡng cư, Bò sát trong một
số sinh cảnh tại xã Y Tý, huyện Bát Xát, tỉnh Lào Cai”
2 Mục tiêu của đề tài
- Xác định đa dạng thành phần loài LCBS ở khu vực nghiên cứu (KVNC)
- Xác định sự phân bố của LCBS theo sinh cảnh (SC) ở xã Y Tý, huyện Bát Xát, tỉnh Lào Cai
- Đề xuất các biện pháp quản lý và bảo tồn LCBS ở xã Y Tý, huyện Bát Xát, tỉnh Lào Cai
3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
- Ý nghĩa khoa học: Kết quả nghiên cứu của đề tài cung cấp những dẫn liệu khoa học cập nhật về hiện trạng khu hệ LCBS của vùng nghiên cứu Mô tả được sự đa dạng về thành phần loài và các loài quý hiếm, đồng thời xác định được sự phân bố của LCBS theo sinh cảnh, nơi ở và độ cao Mô tả được đặc điểm hình thái, sinh thái của những loài quý hiếm
- Ý nghĩa thực tiễn: Kết quả nghiên cứu của đề tài bổ sung số liệu góp phần xây dựng cơ sở khoa học cho công tác quản lý, xây dựng KBTTT Bát Xát theo Quyết định số 3049/QĐ-UBND, ngày 05/01/2013 của Ủy ban nhân dân tỉnh Lào Cai Đồng thời bổ sung mẫu LCBS cho phòng Bảo tàng khoa Sinh học trường ĐHSP Thái Nguyên
Trang 124 Nội dung nghiên cứu
- Phân chia các môi trường sống của LCBS ở xã Y Tý, huyện Bát Xát, tỉnh Lào Cai
- Điều tra thành phần loài Nghiên cứu đặc điểm sinh học, sinh thái học của các loài LCBS ở KVNC
- Nghiên cứu sự phân bố theo độ cao, SC và nơi ở của các loài LCBS
- Lập danh sách các loài quý hiếm theo các mức độ ở KVNC
- Cung cấp tư liệu về phân bố, sinh học, sinh thái học và đánh giá sự đa dạng loài với các vùng địa lí lân cận, góp phần bổ sung vào đa dạng khu vực phân bố LCBS của tỉnh Lào Cai
- Xác định các nguyên nhân ảnh hưởng đến nguồn tài nguyên và đề xuất một số giải pháp bảo tồn LCBS ở xã Y Tý, huyện Bát Xát, tỉnh Lào Cai
Trang 13Chương 1
TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1 Lịch sử nghiên cứu LCBS ở các tỉnh miền núi phía Bắc
Việt Nam nằm ở khu vực khí hậu nhiệt đới gió mùa, địa hình phức tạp và sinh cảnh tự nhiên đa dạng nên khu hệ động vật có tính đa dạng cao [88] Đây là nơi giao lưu, hội tụ của các luồng thực vật, động vật từ In-đô-nê-xi-a, Ma-lai-xi-
a ở phía Nam lên, Ấn Độ, Hi-ma-lay-a, Mi-an-ma, Hoa Nam từ phía Bắc xuống,
là một trong 16 nước có tiềm năng đa dạng sinh học cao của Châu Á và là một trong 34 điểm nóng về đa dạng sinh học của thế giới [9].Từ thế kỷ XX đến nay,
số lượng loài LCBS ghi nhận ở Việt Nam ngày càng tăng, việc nghiên cứu về LCBS đã được thực hiện bởi các nhà nghiên cứu trong và ngoài nước Theo thời gian, vấn đề này ngày càng được quan tâm nhiều hơn và mở rộng ra nhiều vùng khác nhau với nhiều hướng mới
Các công trình nghiên cứu về LCBS ở Việt Nam đã được công bố bắt đầu
từ những năm 30 của thế kỷ XX Từ năm 1933 đến 1944,Bourret đã viết 4 cuốn
chuyên khảo về LCBS Đông Dương (Việt Nam, Lào và Campuchia), gồm Les Serpents de l’Indochine (Tome I, II) (1936) mô tả 105 loài rắn ở miền Bắc Việt Nam, Les Tortues de l’Indochine (1941) mô tả 17 loài và phân loài rùa ở miền Bắc Việt Nam, Les Batraciens de l’Indochine (1942) mô tả 59 loài và phân loài
LC vàLes Lézards de l'Indochine (được xuất bản chính thức năm 2009) mô tả
177 loài và phân loài thằn lằn [30] Đây được coi là những tài liệu đầy đủ nhất
về LCBS ở giai đoạn trước 1954 của Đông Dương Địa điểm khảo sát trong các nghiên cứu của ông tập trung ở miền Nam, trong khi vùng Đông Bắc chủ yếu ở các khu nghỉ mát (Mẫu Sơn, Tam Đảo ), các khu đồn trú của lính Pháp (Ngân Sơn ) Các nghiên cứu LCBS ngay sau đó bị đình trệ khi cuộc kháng chiến chống Pháp nổ ra ở Việt Nam
Trang 14Năm 1962, Đào Văn Tiến đã có những ghi nhận đầu tiên về loài trăn đất
(Python molurus) và ba ba gai (Palea steindachneri) ở Đình Cả (Võ Nhai, Thái
Nguyên)[12] Tiếp theo đó là các đợt khảo sát và thu mẫu của Nguyễn Văn Sáng (1967), Nguyễn Quốc Thắng (1968), Đỗ Tước (1969), Kim Ngọc Sơn (1970), và một số chuyến hướng dẫn thực địa sinh viên của trường ĐH Tổng hợp Hà Nội Theo Trần Kiên (1981), xác định tổng cộng 34 loài LC và 74 loài BS ở Bắc Thái
cũ (nay gồm Thái Nguyên và Bắc Kạn)[12]
Từ năm 1977 đến 1982, Đào Văn Tiến đã liên tiếp công bố 5 bài báo tổng hợp và xây dựng khóa định loại cho 87 loài LC(1977) [45], 32 loài rùa và 2 loài
cá sấu (1978) [46], 77 loài thằn lằn (1979) [47], 165 loài rắn (1981 [48],1982[49])
ở Việt Nam Khóa định loại này đã góp phần đáng kể vào việc xác định tên loài LCBS sau đó
Cuối thế kỷ XX, một loạt những công bố của các nhà khoa học đã thống kê
và bổ sung rất nhiều loài mới cho danh lục LCBS Việt Nam Trước tiên phải kể đến công bố về thành phần loài rắn ở miền Bắc Việt Nam của Nguyễn Văn Sáng và đtg (1981) Đến năm 1995, Lê Nguyên Ngật và đtg đã thống kê có 32 loài ếch nhái ở rừng Tam Đảo [16] Năm 1998, Lathrop và đtg mô tả loài mới phát hiện ở Tam
Đảo(Lepolalax sungi) và ở Tuyên Quang (Leptolalax nahangensis) [68] Tiếp theo
đó, Nguyễn Văn Sáng (2000) đã thống kê được: Ở vùng núi Yên Tử (Bắc Giang)
có 19 loài LC và 36 loài BS trong đó có 3 loài LC và 2 loài BS đặc hữu Việt Nam,
2 loài LC và 12 loài BS quý hiếm [37]; ở Hữu Liên (Lạng Sơn) có 20 loài LC và 28 loài BS [36] Hồ Thu Cúc và đtg (2000) [6] mô tả một vài đặc điểm hình thái, tập
tính và phân bố của 10 loài Rhacophorus trong đó có các loài ở vùng Đông Bắc: Rhacophorus calcaneus, Rhacophorus rainwardtii
Sang thế kỷ XXI, việc nghiên cứu về LCBS đã được mở rộng ra tại nhiều khu vực, những công bố và ghi nhận về các loài mới của các tác giả trong và ngoài nước đã nâng tổng số loài LCBS tại Việt Nam lên khá nhiều
Trang 15Năm 2001, Hồ Thu Cúc và đtg đã tái phát hiện, bổ sung khu phân bố và
mô tả một số loài của giống Ếch cây sần Theloderma: T gordoni, T asperumở Tam Đảo, đổi tên Rhacophorus leprosus corticalis từng phát hiện ở Mẫu Sơn (Lạng Sơn) thành T corticalephát hiện lại ở núi Tam Đảo [7] Năm 2004, Lê
Nguyên Ngật và đtg đã công bố thành phần loài ở Hồ Núi Cốc gồm 18 loài LC,
44 loài BS trong đó có 13 loài ghi trong Sách Đỏ Việt Nam 2000, 3 loài trong Danh lục Đỏ IUCN 2000 [18] Cũng trong năm này, Đặng Huy Phương và đtg (2004) đã thống kê ở khu vực núi Tây Côn Lĩnh(Hà Giang) có 33 loài LC, 18 loài BS [34] Sau đó, Bain và đtg(2004) đã công bố36 loài LC, 16 loài BS, bổ sung cho nghiên cứu của Đặng Huy Phương tại Hà Giang, trong đó có mô tả 2
loài mới Rana iriodes và Rana tabaca, ghi nhận vùng phân bố mới của 8 loài và
7 phân loài [59] Trong thời điểm đó, Phạm Nhật và đtg cũng đã thống kê được
69 loài ở Ba Bể- Na Hang (dự án PARC) [32], đồng thời Lê Trọng Trải và đtg cũng đã thống kê được 34 loài LCBS tại khu vực Bản Thi, Xuân Lạc- Chợ Đồn (Bắc Kạn) [50]
Từ năm 2005 đến 2009, liên tiếp những ghi nhận mới của nhiều tác giả được công bố tại nhiều KVNC, như:
Lê Nguyên Ngật và đtg (2005) đã ghi nhận có 22 loài LC, 49 loài BS, xác định được 22 loài quý hiếm, đồng thời xác định 31 loài ở khu vực Thần Sa- Phượng Hoàng, bổ sung 16 loài cho danh sách LCBS ở Thái Nguyên, tổng kết danh sách này có 80 loài [19] Năm 2007, Lê Nguyên Ngật và đtg thống kê được ở 3 huyện Chiêm Hóa, Na Hang, Sơn Dương (Tuyên Quang) có 97 loài LCBS (gồm 43 loài
LC thuộc 8 họ, 3 bộ và 54 loài BS thuộc 14 họ, 2 bộ) với 22 loài quý hiếm; và đã
bổ sung 48 loài so với danh lục 2005 [21]; thống kê ở Hà Giang có 86 loài (gồm
49 loài LC, 37 loài BS), bổ sung 8 loài LC, 23 loài BS cho Hà Giang so với danh lục 2005 [22] Năm 2008, tác giả này tiếp tục bổ sung ghi nhận khu phân bố của
thằn lằn cá sấu Shinisaurus crocodilusus ở vùng núi Tây Yên Tử- Sơn Động (Bắc
Giang) [25]; thống kê ở KBTTN Xuân Nha có 25 loài LC và 48 loài BS, trong đó
Trang 16ghi nhận bổ sung cho khu hệ LCBS tỉnh Sơn La 71 loài [24] Đến năm 2009, Lê Nguyên Ngật và đtg đã tổng kết được số loài LCBS ở vùng Đông Bắc là 278 loài (chiếm 51,01% số loài LCBS ở Việt Nam), trong đó có 109 loài LC thuộc 36 giống, 10 họ, 3 bộ và 169 loài BS thuộc 86 giống, 22 họ, 3 bộ Vùng Đông Bắc có
đủ 6 bộ LCBS và đặc biệt có đủ 5 loài thuộc bộ LC Có đuôi (Urodela) của Việt Nam [26] Năm 2011, Lê Nguyên Ngật và đtg đã tổng hợp và lập danh sách các loài LCBS ở 4 tỉnh: Lai Châu, Điện Biên, Sơn La và Hòa Bình, đã thống kê được
59 loài LC và 98 loài BS [27]
Cùng thời gian đó, Böhme và đtg (2005) đã mô tả một loài cá cóc mới
cho khoa học Tylototritonvietnamensis ở vùng đất thấp Lục Nam (Bắc Giang),
Cao Bằng, Nghệ An [62].Cũng tại Bắc Giang, Trần Thanh Tùng và đtg (2006) thống kê ở vùng núi Yên Tửcó 101 loài LCBS (41 loài LC, 60 loài BS) [54]; sau đó tác giả này đã lần lượt đưa ra các danh sách loài LCBS khác nhau ở khu vực núi Yên Tử theo các năm: 2007 với 123 loài, kèm sự phân bố theo sinh cảnh và độ cao [23]; 2008 với 133 loài, trong đó có 37 loài đặc hữu và quý hiếm [55]
Tiếp đến là những công bố mới của Nguyễn Quảng Trường và đtg đã ghi nhận 67 loài LCBS (trong đó có 35 loài LC thuộc 7 họ, 2 bộ và 32 loài BS thuộc
10 họ, 2 bộ), bổ sung 4 loài LC, 6 loài BS so với trước đó; trong đó có 15 loài
LC và BS quý hiếm ở Hà Giang, ghi nhận một số loài hiếm gặp như:
Paramesotriton deloustali ở Đá Đin (huyện Xín Mần), Tylototriton asperrimus, Bombina microdeladigitora, Amolops chapaensis, Rhacophorus hoanglienensis
và Ophisaurus harti ở Tây Côn Lĩnh (2006) [52]; ghi nhận vùng phân bố mới cho loài Ateuchosaurus chinensis ở Vị Xuyên (Hà Giang) (2008) [71];Orlov và đtgphát hiện và mô tả loài mới cho khoa học Goniurosaurus huulienensis ở Lạng
Sơn (2008) [82] Cuối năm 2009, Đặng Huy Phương đã xác định ở Hà Giang có
73 loài LCBS, trong đó có 41 loài LC và 32 loài BS [35]
Trang 17Tại khu vực Thái Nguyên, Lê Xuân Cảnh và đtg (2007) xác định có 47 loài (gồm 17 loài LC và 30 loài BS), trong đó 1 loài LC, 14 loài BS quý hiếm và đề xuất các khu bảo vệ cấp quốc gia ở Định Hóa và Võ Nhai [3] Cùng năm đó, ở Bắc Kạn, Trương Văn Lã và đtg bước đầu đã thống kê được 244 loài động vật rừng bao gồm 47 loài thú, 186 loài chim, 25 loài BS và 16 loài LC tại khu vực Tam Tao - Chợ Đồn (Bắc Kạn) [13]; tại tỉnh Lai Châu, Orlov và đtg (2007) mô tả
2 loài mới ở huyện Tam Đường: Amolops splendissimus và A minutus [81]
Ở Phú Thọ, Trần Minh Hợi và đtg (2008) đã đưa ra danh lục LCBS ở VQG Xuân Sơn (Phú Thọ) gồm 27 loài LC và 44 loài BS (theo Nguyễn Lân Hùng Sơn,
2013 [43]); trong công trình của Nguyễn Văn Sáng (2009) cập nhật cho VQG này có 29 loài LC (8 họ, 3 bộ) và 48 loài BS (14 họ, 2 bộ) [41]
Trong năm 2009, Hoàng Văn Ngọc và đtg đã bổ sung Na Hang (Tuyên
Quang) vào khu phân bố của thằn lằn tốt mã bốn vạch Plestiodon quadrilineatus
và Vị Xuyên (Hà Giang) vào khu phân bố của thằn lằn tốt mã tam đảo Plestiodon tamdaoensis [29]; ghi nhận vùng phân bố mới của thạch sùng đuôi dẹp Hemidactylus garnotii ở Hà Giang, Tuyên Quang và Chợ Đồn (Bắc Kạn) [28]
Đỗ Thành Trung và Lê Nguyên Ngật (2009) đã nghiên cứu khu hệ LCBS của huyện Tủa Chùa, tỉnh Điện Biên từ năm 2007 đến 2008 và thống kê được 16 loài LC và 23 loài BS [51]
Orlov và đtg (2009) đã ghi nhận sự phân bố loài Protobothrops trungkhanhensis, mẫu thu ở KBTTN Trùng Khánh (Cao Bằng)[83]
Kể từ năm 2009 đến nay, nhiều đề tài được thực hiện theo những hướng nghiên cứu mới tại nhiều khu vực đã bổ sung những ghi nhận mới về thành phần loài cho Danh lục LCBS Việt Nam
Năm 2010, Nguyễn Văn Sáng và đtg thống kê ở KBTTN Xuân Nha có 50 loài BS và 28 loài LC, trong đó ghi nhận bổ sung cho danh sách LCBS Sơn La 4 loài [42]
Trang 18Herbert và đtg (2010)mô tả loài mới Gekko canhi ở Hữu Liên (Lạng Sơn)[66]; ghi nhận vùng phân bố mới của loài Scincella monticola ở Mẫu Sơn (Lạng Sơn); công bố loài Scincella apraefrontalis được thu thập tại vườn quốc gia Hữu Liên - Hữu Lũng (Lạng Sơn) [73]; công bố loài thằn lằn mới Scincella darevskii dựa trên mẫu vật thu được tại huyện Tuần Giáo (Điện Biên) [72] Sau
đó, David và đtg (2012)công bố loài mới Oligodon nagao ở Lạng Sơn, Cao Bằng,
Quảng Tây (Trung Quốc) và Trung Lào [63]; Nguyễn Quảng Trường và đtg
(2013) công bố 1 loài mới thuộc nhóm Gekko japonicus ở Cao Bằng và Quảng Tây (Trung Quốc)[78]; công bố loài thằn lằn mới Hemiphyllodactylus zugi
(Reptilia: Gekkonidae) ở Hạ Lang (Cao Bằng) dựa trên kết quả phân tích phân
tử và so sánh hình thái (2013) [76]
Năm 2013, Lê Xuân Cảnh đã thu thập cơ sở dữ liệu các loài động vật có nguy cơ bị đe dọa ở Việt Nam, trong đó có 169 loài BS (gấp 3,84 lần so với 44 loài năm 2007) và 72 loài LC (gấp 5,54 lần so với 13 loài năm 2007), báo động về
đa dạng sinh học LCBS ở nước ta nói chung và vùng Đông Bắc nói riêng [4]
Nguyễn Lân Hùng Sơn và đtg (2013) tiếp tục thu thập mẫu của 32 loài LCBS để cung cấp cho Bảo tàng thiên nhiên VQG Xuân Sơn, trong đó có 19 loài
LC (thuộc 5 họ, 1 bộ) và 13 loài BS (thuộc 5 họ, 1 bộ), bổ sung cho các kết quả trước đó 11 loài LC và 6 loài BS, nâng tổng số loài LCBS lên 94 loài (40 loài
LC, 54 loài BS) [43] Nghiên cứu này cũng mở rộng vùng phân bố của loài cóc
mày Leptolalax firthi lần đầu tiên được phát hiện trong rừng thường xanh trên
núi ở Kon Tum và Quảng Nam năm 2012 của Rowley và đtg [87]
Orlov và đtg(2013) đã mô tả loài mới loài Azemiops kharini ở Tam Đảo (Vĩnh Phúc) và bàn luận về lịch sử tự nhiên của giống Azemiops [85]
Vũ Tiến Thịnh (2013) xác định được 11 loài BS quý hiếm ở KBT Nam Xuân Lạc (Bắc Kạn)[44]
Đặng Huy Huỳnh, Nguyễn Hữu Thắng (2013) đã khảo sát và tổng hợp tài liệu, xác định ở khu vực Phia Oắc- Phia Đén (Cao Bằng) có 32 loài LC và 49 loài BS, trong đó có 14 loài LCBS quý hiếm [10]
Trang 19Hecht và đtg(2013) đã công bố 30 loài LCBS lần đầu tiên ghi nhận ở KBTTN Tây Yến Tử (Bắc Giang) Nghiên cứu này đã nâng tổng số loài LCBS
ở đây này lên 76 loài, trong đó có 1 loài thuộc bộ Không chân, 1 loài thuộc bộ
Có đuôi, 34 loài thuộc bộ Không đuôi, 18 loài thằn lằn và 22 loài rắn [65]
Năm 2014, Ziegler dựa trên các cuộc khảo sát tiến hành giữa tháng 12 năm
2006 và tháng 5 năm 2008 trong rừng Tùng Vải- Quản Bạ(Hà Giang) đã ghi nhận được 8 loài LCvà 12 loài BS cho tỉnh Hà Giang, đồng thời nâng tổng số danh sách loài LCBS của Hà Giang lên tới 102 loài, trong đó có 50 loài LC và 52 loài
BS [91]
Mới đây nhất, Đặng Huy Huỳnh và đtg (2015) đã tiến hành khảo sát đa dạng động vật rừng (thú, chim, bò sát, ếch nhái) tỉnh Cao Bằng [11] Theo Phạm Thị Kim Dung và đtg (2015) [8] đã ghi nhận bổ sung 6 loài LC thuộc 3 họ (Họ Cóc mày Megophryidae, Họ Ếch nhái Ranidae, Họ Ếch cây Rhacophoridae) ở
tỉnh Bắc Kạn Mcleod và đtg (2015) đã công bố thêm 1 loài mới Limnonectes nguyenorum với mẫu vật thu ở tỉnh Hà Giang [69]
Tại Thái Nguyên, Hoàng Văn Ngọc, Phạm Đình Khánh (2015) đã bổ sung
16 loài LCBS(thuộc 5 họ, 2 bộ) cho danh lục LCBS tỉnh Thái Nguyên, nghiên cứu này được ghi nhận ở KBTTN Thần Sa-Phượng Hoàng [31]
Cùng năm 2015, theo nghiên cứu của Ma Ngọc Linh, Hoàng Văn Ngọc [15] cũng đã ghi nhận bổ sung 7 loài cho danh lục LCBS ở tỉnh Bắc Kạn; trong
đó 2 loài thuộc họ Thằn lằn bóng (Scincidae), 3 loài thuộc họ Rắn nước (Colubridae) và 2 loài thuộc họ Rắn lục (Viperidae)
Năm 2016, Pham Văn Anh và đtg đã công bố một loài mới thuộc họ
Odorrana (Odorrana mutchmanni) tại Hạ Lang (Cao Bằng) [86]
Nói chung, những công trình nghiên cứu của các tác giả trong và ngoài nước tại vùng Đông Bắc Việt Nam chủ yếu tập trung vào vấn đề định loại, phân loại để phát hiện ra những loài mới, bổ sung cho danh lục LCBS Việt Nam, đồng thời đưa ra phương án quản lí và bảo tồn những giống loài quý hiếm
Trang 201.2 Lịch sử nghiên cứu LCBS ở tỉnh Lào Cai
Từ thời kì Pháp thuộc đến nay, Sa Pa (Lào Cai) được biết đến là một địa danh du lịch nổi tiếng Ngoài những công trình kiến trúc lớn như nhà nghỉ, đường xá… do thực dân Pháp xây dựng trong thế kỷ trước, thì những công bố khoa học tại đây cũng đã được biết đến như là những cột mốc lịch sử Đặc biệt là trong lĩnh vực phân loại và định loại LCBS Về thành phần loài LCBS ở vùng núi Sa
Pa từ năm 1934-1943, Bourret đã lập danh sách gồm 25 loài LC, 7 loài thằn lằn,
49 loài rắn và 2 loài rùa [94].Nghiên cứu của Ohler và đtg (2000) ghi nhận ở VQG Hoàng Liên có 42 loài LC trong đó có 6 loài đặc hữu [79]
Bước sang thế kỷ XXI, những vấn đề về LCBS tại Sa Pa tiếp tục được nghiên cứu, đồng thời mở rộng thêm toàn tỉnh Lào Cai
Năm 2001, Lê Nguyên Ngật và đtg ghi nhận 112 loài trong đó có 44 loài
LC và 68 loài BS ở vùng núi Sa Pa [17] Grosjean và đtg (2001) đã mô tả chi tiết
đặc điểm hình thái nòng nọc của loài Leptobrachium echinatum [96]
Hồ Thu Cúc và đtg (2001) tái phát hiện, bổ sung khu phân bố và mô tả
một số loài của giống Ếch cây sần Theloderma: T gordoni Fansipan (Lào Cai),T asperum,T bicolor ở Sa Pa [7]
Orlov và đtg(2001) đã công bố đa dạng họ Ếch cây Rhacophoridaeở vùng
núi Hoàng Liên (đỉnh Fansipan - Sa Pa) có tổng số 4 giống, 20 loài góp phần nâng tổng số loài ếch cây ở Việt Nam ở thời điểm này lên 5 giống, 40 loài [80] Toàn bộ số mẫu thu được ở đai độ cao từ 1.200-2.400 m, trong sinh cảnh rừng thường xanh lá rộng và lá kim Năm 2010, Orlov ghi nhận và mô tả lại hai loài
rắn Oligodon lacroixi ở độ cao 1.500 m và Maculophis bellus chapaensis ở độ
cao 1.900 m (Sa Pa, Lào Cai) [84]
Nghiên cứu của Tordoff và đtg (2002) tại KBTTN Văn Bàn (Lào Cai) đã ghi nhận 22 loài LC và 10 loài BS cho khu vực [89]
Nguyễn Văn Sáng và đtg đã: Thống kê LCBS ở Văn Bàn từ 73 loài (bao gồm 39 loài LC và 34 loài BS, trong đó có 16 loài quý hiếm), bổ sung khu phân
bố của rắn lục mũi hếch Deinakistrodon acutus, cóc mày phê Brachytarsophrys feae, ếch cây chân đỏ Rhacophorus bipunctatus, ếch vân nam Paa yunnanensis
Trang 21và loài rất hiếm gặp rắn đai má Liopeltis frenatus ở đây vào năm 2004 [38] lên
80 loài (42 loài LC, 38 loài BS) kèm theo phân chia theo dạng SC và độ cao trong năm 2005 [39] Tính đến năm 2009, theo Nguyễn Văn Sáng [70], tổng số loài LCBS ở Lào Cai là 175 (gồmcó 83 loài LC, 90 loài BS), trong đó số loài được biết đến ở Bát Xát là 20 (gồm 9 loài LC, 11 loài BS)
Năm 2006, Bain và đtg đã mô tả loài mới ghi nhận cho Lào Cai là Rana cucae Mẫu vật thu được ở 1 nhánh con sông Nậm Tha (Văn Bàn) trong rừng
xanh núi thấp, ở độ cao 640 m [60] Đến năm 2009, tác giả này lại tiếp tục ghi
nhận bổ sung khu vực phân bố cho loài Leptobrachium promustache trên đám lá
khô trong rừng ở độ cao 1.300-1.400 m (Văn Bàn) [61]
Năm 2009, Nguyễn Quảng Trường và đtg đã bổ sung các ghi nhận mới về vùng phân bố cũng như thông tin về sinh cảnh sống và sinh sản của các loài thuộc họ
Cá cóc Salamandridae ở Lào Cai Theo ông, loài cá cóc bụng hoa Paramesotriton deloustali thường sống ở các suối đá trong rừng thường xanh có độ cao từ 250-1.200 m; loài cá cóc sần Tylototriton asperrimus được tìm thấy ở vũng nước nhỏ trong rừng
thường xanh, ở độ cao 800 m tại Văn Bàn (Lào Cai) [53]
Năm 2010, Herbertvà đtg đã ghi nhận và mô tả loài mới Gekko canhi ở Sa
Pa [66]; Tropidophorus boehmei ở núi Fansipan - Sa Pa (mẫu thu được dọc suối
rừng Hoàng Liênở độ cao 1.200-1.300 m) và ở Văn Bàn [74]
Ziegler và đtg (2010) đã ghi nhận loài Boiga cyanea thu được ở rừng
thường xanh trên núi Fansipan (Sa Pa) [90]
Đến năm 2013, Nguyễn Quảng Trường đã tiếp tục mô tả và bổ sung một
loài mới cho giống Oreolalax (Anura: Megophryidae) là Oreolalax sterlingaethu
được ở độ cao 2.900 m trên núi Hoàng Liên (Sa Pa) [77]
Nhìn chung, các nhà khoa học trong và ngoài nước đã có nhiều công trình nghiên cứu tại Lào Cai, nhưng chủ yếu là tại khu vực VQG Hoàng Liên huyện Sa Pa, KBTTN Hoàng Liên huyện Văn Bàn Những công bố trên chủ yếu là lập danh sách loài, xác định những loài quý hiếm làm cơ sở cho việc xây dựng các KBTTN
Do đó, xã Y Tý (Bát Xát) đã trở thành một khu vực nghiên cứu hoàn toàn mới đối với các nhà khoa học trong và ngoài nước Đặc biệt kể từ quyết định
thành lập KBTTN Bát Xát (2013) [56]
Trang 22Chương 2
ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, KINH TẾ - XÃ HỘI VÙNG NGHIÊN CỨU
2.1 Điều kiện tự nhiên
2.1.1 Vị trí địa lí
Xã Y Tý nằm cách trung tâm huyện lị Bát Xát khoảng 82 km về phía Tây Bắc dọc theo tuyến đường liên xã từ thị trấn Bát Xát- Mường Hum- Y Tý, có tọa
độ địa lí là: từ 22o34'44'' đến 22o40'17'' vĩ độ Bắc và từ 103o31'51'' đến 103o40'51'' kinh độ Đông [33], [56]
- Phía Đông giáp xã Trịnh Tường (Bát Xát)
- Phía Nam giáp xã Dền Sáng, Sàng Ma Sáo(Bát Xát - Lào Cai) và xã Sin Suối Hồ (Phong Thổ - Lai Châu)
- Phía Tây giáp Trung Quốc với 17 km đường biên giới chạy dọc theo con suối Lũng Pô
- Phía Bắc giáp xã Ngải Thầu (Bát Xát)
Xã Y Tý có 15 thôn bản bao gồm: Phìn Hồ, Trung Chải, Phan Cán Sử, Mò Phú Chải, Ngải Trồ, Tả Gì Thàng, Choản Thèn, Lao Chải I, Lao Chải II, Lao Chải III, Sín Chải I, Sín Chải II, Sim San I, Sim San IIvà Hồng Ngài
Xã Y Tý có đủ điều kiện thuận lợi cho phát triển thành khu trung tâm cụm kinh tế quốc phòng trong tương lai Tuy nhiên do vị trí cách xa trung tâm huyện nên gặp không ít khó khăn trong giao lưu kinh tế, văn hoá- xã hội, xây dựng cơ
sở hạ tầng
2.1.2 Địa hình
Địa hình xã Y Tý tương đối phức tạp, với các dãy núi cao, khe sâu tạo ra
độ chia cắt mạnh, địa hình thấp dần về 2 phía Đông Nam và Tây Bắc Điểm cao nhất là 2.900 m thuộc đỉnh núi Nhìu Cồ San nằm trên ranh giới tiếp giáp với xã Sàng Ma Sáo và xã Dền Sáng Điểm thấp nhất là 844,6 m cạnh suối Lũng Pô giáp xã Ngải Thầu, độ cao trung bình từ 1.000-1.800 m [33]
Trang 23- Độ dốc > 25o có diện tích 6.442 ha chiếm 74,44% diện tích tự nhiên (DTTN)
Theo kết quả quan trắc do trạm khí tượng Sa Pa và Lào Cai cho thấy:
nhất 14,3oC
- Lượng mưa trung bình năm từ 1.800-3.838 mm
- Nắng trung bình cả năm là 1.344 giờ, năm cao nhất lên đến 1.600 giờ
- Độ ẩm không khí bình quân hàng năm dao động từ 82-87%, tháng thấp nhất 74%, cao nhất trong năm 95%
- Chế độ gió: do nằm ở vùng núi cao nên không có bão lớn xảy ra nhưng thường xuyên chịu ảnh hưởng của gió núi
- Hiện tượng mưa đá về mùa hè từ 2-4 lần/năm, vào mùa đông thường xảy
ra sương muối 5-6 ngày/năm, hiện tượng sương mù xảy ra khá phổ biến trong tất
cả các mùa trong năm gây ảnh hưởng không nhỏ tới sản xuất nông, lâm nghiệp
và đời sống con người
2.1.3.2 Thủy văn
Hệ thống suối, khe khá dày phân bố đều trên lãnh thổ, do ảnh hưởng của kiến tạo địa hình nên về mùa mưa thường gây ra lũ ống, lũ quét gây ảnh hưởng lớn tới sản xuất và đời sống dân sinh
Trang 24- Suối chính chảy qua xã là suối Lũng Pô bắt nguồn từ sườn đông dãy núi Hoàng Liên Sơn giáp ranh giới với tỉnh Lai Châu và Trung Quốc chảy qua địa phận với chiều dài khoảng 17 km theo hướng Tây - Tây Bắc, đồng thời cũng là đường Biên giới quốc gia với Trung Quốc
- Suối Sim San bắt nguồn từ phía Nam dãy núi Nhìu Cồ San, chảy theo hướng Tây Bắc Nằm trong lưu vực của suối Lũng Pô, nguồn nước chảy mạnh vào mùa mưa, qua địa phận các thôn Sim San I, Sim San II
- Suối Sín Chải bắt nguồn từ dãy núi cao thuộc khu vực thôn Phan Cán
Sử, Mò Phú Chải Nằm trong lưu vực suối Lũng Pô chảy theo hướng Tây Bắc với chiều dài khoảng 6 km qua địa phận các thôn Lao Chải I, II và thôn Sín Chải
- Suối Lủng Pặc là nhánh nhỏ của suối Lũng Pô bắt nguồn từ dãy núi Ma Cheo Va, là ranh giới với xã Ngải Thầu Chảy ra khu vực cầu Thiên Sinh, lưu lượng nước hạn chế nên thường cạn kiệt về mùa khô
- Suối Tùng Sáng chảy trong địa phận xã khoảng 6,5 km theo hướng Đông Bắc, chảy qua địa phận các thôn: Tả Gì Thàng, Phìn Hồ Do khu vực đầu nguồn
có độ dốc lớn, lưu vực nhỏ nên lượng nước không ổn định
Ngoài ra là các khe suối nhỏ khác tạo nên mạng lưới thủy văn khá dày phân bố đều trên địa bàn xã
2.1.4 Tài nguyên
2.1.4.1 Tài nguyên đất
Kết quả điều tra xây dựng bản đồ thổ nhưỡng Lào Cai năm 1972, báo cáo
khoa học (Đất Lào Cai) do trung tâm khoa học tự nhiên và công nghệ Quốc gia
thuộc Viện địa lý xây dựng năm 1994 cho thấy xã Y Tý có các nhóm đất chính sau [33]:
- Nhóm đất mùn Alít trên núi cao: Diện tích 1.007,92 ha chiếm 11,65% DTTN, phân bố chủ yếu ở độ cao từ 1.800-2.900 m, khu vực phía Tây - Tây Nam
và phía Đông Nam của xã
Trang 25- Nhóm đất mùn vàng đỏ trên núi cao: Diện tích 7.078,52 ha chiếm 81,79% DTTN, phân bố chủ yếu ở độ cao từ 900-1.800 m, gồm các loại đất sau:
+ Đất mùn đỏ vàng trên đá sét (HFs) diện tích 2.561,00 ha
+ Đất mùn vàng đỏ trên đá biến chất (HFj) diện tích 4.517,51 ha
- Nhóm đất đỏ vàng: Diện tích 26,00 ha chiếm 0,3% DTTN, phân bố ở độ cao dưới 900 m, chủ yếu là loại đất nâu vàng trên phù xa cổ và lũ tích
- Đất thung lũng dốc tụ (DI): Diện tích 33,00 ha chiếm 0,38% Đây là loại đất thứ sinh được hình thành và phát triển trên sản phẩm rửa trôi và bồi tụ của các loại đất ở chân sườn hoặc khe dốc Loại đất này có độ phì phụ thuộc vào các loại đất vùng lân cận, tầng đất dầy, thành phần cơ giới thịt trung bình, đất chua (độ pH từ 5-5,5), phân bố rải rác trên địa bàn xã
- Đất phù sa ngòi, suối (Py): Diện tích 2,00 ha chiếm 0,02% DTTN Loại đất này được hình thành qua quá trình lắng đọng, bồi tụ lâu đời, hoặc sự chuyển rời dòng chảy kết hợp với quá trình canh tác lâu đời làm biến đổi cơ, lý, hóa tính của đất Đặc điểm loại đất này có độ phì khá, ít chua, tầng dày của đất trung bình
từ 50-70 cm, có khả năng thâm canh cao các loại cây trồng nông nghiệp
- Núi đá: Diện tích 506,56 ha chiếm khoảng 5,86% tổng DTTN Phân bố chủ yếu ở các dãy núi phía Bắc và phía Tây Nam xã
2.1.4.2 Tài nguyên nước
- Nước mặt: Xã Y Tý có nguồn nước mặt dồi dào nhất là vào mùa mưa.Suối Tùng Sáng, Sim San, Sín Chải, Lũng Pặc và hệ thống khe suối nhỏ phân bố đều trên lãnh thổ là nguồn nước mặt khá phong phú, nếu có phương pháp khai thác sử dụng hợp lý sẽ là nguồn nước đảm bảo đáp ứng được nhu cầu phát triển các ngành kinh tế và phục vụ đời sống sinh hoạt của nhân dân
- Nước ngầm: Nằm ở khu vực có địa hình núi cao chia cắt mạnh do đó dù
có nguồn nước mặt phong phú, phân bố tương đối đều trên địa bàn xã nhưng nguồn nước ngầm có những thay đổi theo mùa Vào mùa mưa mực nước ngầm cao, lộ trên mặt đất khả năng khai thác tiện lợi, mùa khô mực nước ngầm rất hạn
Trang 26chế Đây là yếu tố gây ra những khó khăn về nước ngầm nhất là vào mùa khô, vì vậy để đảm bảo nhu cầu nước sinh hoạt, sản xuất cho nhân dân trong xã cần có những giải pháp để lưu giữ nguồn nước ngầm như gìn giữ và phát triển rừng đầu nguồn
Nhìn chung tài nguyên nước xã Y Tý phong phú cả nước mặt lẫn nước ngầm, mức độ ô nhiễm không đáng kể Tuy nhiên phụ thuộc theo mùa Vì vậy phải có biện pháp khai thác thích hợp để đáp ứng đủ nhu cầu nước phục vụ đời sống, sản xuất, giữ gìn nguồn nước luôn trong sạch cho trước mắt cũng như lâu dài [33]
2.1.4.3 Tài nguyên rừng
Nguồn tài nguyên rừng tuy phong phú về chủng loại nhưng chất lượng rừng còn hạn chế, do hậu quả của quá trình canh tác lạc hậu, khai thác rừng Theo kết quả điều tra năm 2006, hiện trạng rừng của xã có 2.512,00 ha đất có rừng tự nhiên phòng hộ chiếm 29,20% tổng DTTN Thực vật rừng chủ yếu là các loại gỗ de, dẻ
đá, tống quá sủ, sa mộc,… Động vật rừng gồm có rùa, rắn, cầy hương, Đến năm
2010 đất có rừng là 3.789,10 ha, chiếm 43,78% DTTN [33]
2.2 Đặc điểm kinh tế - xã hội
2.2.1 Dân cư, dân tộc
2.2.1.1 Dân cư
Xã Y Tý có 15 thôn với 864 hộ dân và 4.808 nhân khẩu trong đó có 382
hộ nghèo chiếm 44,7 % (tính đến năm 2015) [57]
Dân cư ở đây sống tập trung thành các bản, các hộ trên cao nằm rải rác cũng đã chuyển xuống sống cùng với bản làng
2.2.1.2 Dân tộc
Xã có 4 dân tộc anh em cùng định cư, sinh sống lâu đời là: Hà Nhì (426
hộ chiếm 49,31%), Mông (291 hộ chiếm 33,68%), Dao (123 hộ chiếm 14,24%)
và Kinh (20 hộ chiếm 2,31%) Tính đến thời điểm đầu năm 2016, xã có bổ sung thêm 2 dân tộc là: Giáy (2 hộ), Tày (2 hộ) (chiếm khoảng 0,46%)
Trang 272.2.2 Thực trạng kinh tế - xã hội
2.2.2.1 Thực trạng kinh tế
Trong kỳ quy hoạch xã có mức tăng trưởng kinh tế là 10,5% chuyển dịch
cơ cấu kinh tế tăng dần giữa cơ cấu nông lâm nghiệp
có những bước chuyển biến tích cực và hiệu quả Đến đầu năm 2015, diện tích đất cho sản xuất nông nghiệp là 928,45 ha Trong đó, lúa mùa (chiếm 288,70 ha), ngô (250,0 ha), thảo quả (435,6 ha), xuyên khung (50 ha),… [57]
Ngoài ra diện tích một số các loại cây hàng năm khác đang được phát triển trên diện rộng (như: sa mộc, thông mã vĩ, các giống cây ăn quả: đào, mận, lê, táo mèo,…)
- Chăn nuôi - thủy sản:
Thời kỳ từ năm 2006 trở về đây công việc chăn nuôi tại địa phương đã được người dân chú ý quan tâm như: Đưa một số biện pháp khoa học, kỹ thuật vào chăn nuôi, chọn giống; phòng chống dịch bệnh cho gia súc, gia cầm; bảo đảm cơ cấu đàn, tăng cường sức cầy kéo cho sản xuất và tạo nguồn thực phẩm tại chỗ phục vụ đời sống thường ngày của người dân
Tổng đàn gia súc, gia cầm toàn xã năm 2015 gồm có:Đàn trâu: 1.240 con; đàn bò: 28 con; đàn lợn: 4.107 con; đàn ngựa: 69 con; tổng đàn gia cầm (gà, vịt, ngan ):20.590 con Hiện đã tổ chức tiêm phòng cho gia súc, trong đó: tụ huyết trùng trâu bò: 735 liều; long móng lở mồm trâu bò: 735 liều; chó dại: 200 liều;
tụ huyết trùng lợn: 780 liều
Trang 28Diện tích nuôi trồng thủy sản (cá hồi, cá tầm) của xã là: 0,56 ha [57]
- Sản xuất lâm nghiệp:
Với tiềm năng quỹ đất tương đối lớn, nguồn nhân lực lao động dồi dào cho phép phát triển nghề rừng, khoanh nuôi phát triển rừng, bảo vệ diện tích rừng hiện có
Công tác bảo vệ rừng thường xuyên duy trì, không có hiện tượng tự ý khai thác và chặt phá rừng bừa bãi
Đã triển khai trồng rừng kinh tế, rừng phòng hộ theo kế hoạch năm 2009
đã trồng được 145,67 ha, trong đó diện tích rừng phòng hộ 63,50 ha và diện tích rừng kinh tế là 82,17 ha Tính đến giữa năm 2015, toàn xã đã trồng được 3500 cây, chủ yếu là cây đào rừng và cây đào [56]
* Kinh tế du lịch - dịch vụ:
Trong vài năm gần đây, xã Y Tý đã trở thành một trong những khu du lịch
trọng điểm của Lào Cai với tên gọi được biết đến là “Vùng đất ngàn mây” Nơi
đây có một số địa danh du lịch hấp dẫn như: Cầu Thiên Sinh (Lao Chải I), sân bay (Trung Chải), cao nguyên Phìn Hồ (Phìn Hồ), rừng già Nhìu Cồ San (Mò Phú Chải),… Bên cạnh đó với việc giữ gìn tốt truyền thống văn hóa, phong tục tập quán của người dân tộc đồng bào nên nơi đây đã thu hút được số lượng đông đảo du khách trong và ngoài nước khám phá
Về dịch vụ, chủ yếu vẫn là sản xuất nhỏ, manh mún mang tính tự cung, tự cấp (như rèn, đúc công cụ phục vụ sản xuất; xay xát )
Một số nghề mang tính truyền thống (như thêu, dệt, đan lát, gia công chạm bạc trang sức,…) chưa thực sự phát triển mạnh và mang tính hàng hoá
Các loại hình dịch vụ thương mại, cung ứng vật tư mang tính chất buôn bán nhỏ Trong vài năm gần đây có một số hộ sống ven trục đường giao thông khu trung tâm xã đã đầu tư và phát triển lĩnh vực này
b Lao động và việc làm
- Lao động: Toàn xã có 1.940 lao động trong độ tuổi, tỷ lệ tăng dân số tự nhiên năm 2010 là 2,1%
Trang 29- Việc làm: Phần lớn người dân sống bằng nghề nông nghiệp (trồng trọt, chăn nuôi, kết hợp trồng, chăm sóc rừng).Một số hộ kinh doanh buôn bán nhỏ phục vụ chủ yếu cho người dân trong xã
c Thực trạng phát triển đô thị và các khu dân cư nông thôn
Y Tý là xã vùng sâu, vùng cao nên việc phát triển đô thị là khó thực hiện, chỉ tập trung xây dựng khu trung tâm với một số hộ có điều kiện kinh tế
Các khu dân cư hiện tại có 15 thôn, bản nằm rải rác trên các trục đường giao thông, ven sườn đồi hoặc gần khu rừng, quy mô có từ 25-60 hộ/ thôn
2.2.2.2 Thực trạng xã hội và cơ sở hạ tầng
a Giao thông
Xã có 128,70 km đường giao thông, trong đó:
- Đường liên xã ô tô đi được chạy qua xã dài 12,00 km Hiện đoạn đường giáp ranh với xã Dền Sáng đã được nâng cấp, rải nhựa tới cửa UBND xã Y Tý
- Đường liên thôn bản, ngõ xóm là trên 72,0 km
b Thuỷ lợi - công trình cung cấp nước sinh hoạt
Kiên cố hoá 6 công trình kênh mương dẫn nước tưới cho khoảng 252 ha ruộng nước (thuỷ lợi Mò Phú Chải, Mà Mù Sử, Ngải Trồ, Tả Gì Thàng, Hồng Ngài và Thèn Pả)
c Công trình cấp nước sinh hoạt
Có 8 công trình nước sạch tự chảy được xây dựng bằng vốn định canh, định cư cho 610 hộ gia đình tương đương 61,0% số hộ gia đình của xã được sử dụng nước sạch Còn lại đa số người dân sử dụng nước mạch từ các khe suối nhỏ bằng các phương tiện dẫn nước tự tạo
Trang 30Trong vài năm gần đây các hộ nằm khu trung tâm dùng nguồn nước đã qua xử lý lọc khu rừng đầu nguồn thôn Nhìu Cồ San (nay sát nhập vào thôn Mò Phú Chải) cách trung tâm xã khoảng 3 km
c Văn hoá
Tính đến cuối năm 2010, toàn xã có 350 hộ sử dụng ti vi, tỷ lệ người dân được xem truyền hình đạt 55% Đời sống văn hoá của người dân được nâng lên, những nét văn hoá mang tính truyền thống giàu bản sắc dân tộc được gìn giữ và phát huy[33]
- Thường xuyên tổ chức giao lưu văn hoá, thể thao với các đơn vị và các địa phương trong vùng
- Tổng số hộ đạt tiêu chuẩn gia đình văn hoá là 460/467 hộ đăng ký
- Trung tâm xã có nhà bưu điện văn hoá xã
- Trạm thu phát truyền hình đặt tại khu đỉnh đồi thôn Choản Thèn là trạm trung tâm cụm xã đảm bảo thu phát sóng tốt
Xã Y Tý có chợ văn hoá họp vào ngày cuối tuần, đây là nơi gặp mặt giao lưu, trao đổi hàng hoá của nhân dân sau một tuần lao động sản xuất lại được thư giãn mua sắm, thưởng thức nét văn hoá của mình
Tuy vậy vẫn còn tồn tại một số tập tục lạc hậu trong đời sống sinh hoạt như hút thuốc phiện, mê tín dị đoan
d Giáo dục
Hiện tại xã có: 01 trường mầm non, 02 trường tiểu học, 01 trường trung học cơ sở và 01 trường nội trú vùng cao mới hoàn thành đưa vào sử dụng Theo báo cáo năm học 2014-2015:
- Trường mầm non:Tổng số 16 lớp với 359 cháu, tổng số cán bộ giáo viên công nhân viên là 32
- Trường tiểu học:
+ Tiểu học Y Tý 1: Tổng số 26 lớp với 442 học sinh
+ Tiểu học Y Tý 2: Tổng số 19 lớp với 256 học sinh
- Trường trung học cơ sở: Tổng số 11 lớp với 330 học sinh
Trang 31e Y tế
Tổng số cán bộ y tế là 22 người, gồm: 1 bác sỹ, 2 y sỹ, 4 y tá - hộ lý và 15 y tế thôn, bản
Các hoạt động chủ yếu là công tác khám chữa bệnh và chăm sóc sức khoẻ ban đầu cho người dân, tổ chức chương trình tiêm chủng mở rộng, chương trình bảo vệ bà mẹ trẻ em, tuyên truyền công tác dân số kế hoạch hoá gia đình, phòng chống dịch bệnh lây lan (SARS, HIV/AIDS),…
f Điện lực
Toàn xã có 4 trạm biến áp và khoảng 30 km đường điện cung cấp cho 4 thôn bản gần khu trung tâm, với 453 hộ được sử dụng điện lưới, còn lại người dân vẫn sử dụng điện từ các máy thuỷ điện nhỏ Trong kỳ quy hoạch 2016-2020 cần nâng cấp 4 trạm điện, xây dựng thêm 4 trạm hạ thế [33]
h An ninh- Quốc phòng:
Đồn biên phòng 273 xã Y Tý có quy mô khang trang, cán bộ chiến sỹ trực chiến thường xuyên Để đảm bảo an ninh - quốc phòng, xã đã thực hiện tốt một số biện pháp: phối kết hợp giữa lực lượng dân quân tự vệ với lượng vũ trang đóng trên địa bàn; tổ chức công tác tuyên truyền toàn dân tham gia công tác quốc phòng
và đảm bảo an ninh biên giới quốc gia; tạo điều kiện thuận lợi cho nhân dân hai nước trong khu vực biên giới qua lại trao đổi buôn bán hàng hóa [57]
Trang 32Hình 2.1 Bản đồ các điểm thu mẫu thuộc xã Y Tý, huyện Bát Xát, tỉnh Lào Cai
[Nguồn: Tác giả biên tập]
Trang 33Chương 3
MỤC ĐÍCH, ĐỐI TƯỢNG, ĐỊA ĐIỂM, THỜI GIAN, THIẾT BỊ
VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1 Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu về thành phần loài và sự phân bố của LCBS trong một số SC của KVNC, làm cơ sở cho công tác quản lý, bảo tồn và sử dụng hợp lý nguồn tài nguyên LCBS
3.2 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu là thành phần loài và sự phân bố của LCBS trong một số SC tại xã Y Tý, huyện Bát Xát, tỉnh Lào Cai
3.3 Địa điểm nghiên cứu
Khu vực nghiên cứu là xã Y Tý, huyện Bát Xát, tỉnh Lào Cai Chúng tôi tiến hành điều tra, khảo sát tất cả các địa điểm thuộc 3 vùng SC: Khu DC - đất nông nghiệp, rừng thứ sinh đang phục hồi, rừng kín thường xanhởcác đai độ cao khác nhau
3.4 Thời gian nghiên cứu
Chúng tôi tiến hành khảo sát 4 đợt đi thực địa: Đợt 1: Tháng 7/2015; đợt 2: Tháng 9/2015; đợt 3: Tháng 11/2015; đợt 4: Tháng 12/2015
Các tuyến khảo sát được thực hiện tại các khe suối, đồi núi, nương thảo quả, cánh đồng ruộng bậc thang và khu dân cư thuộc khu vực
3.5 Thiết bị nghiên cứu và phương pháp nghiên cứu
3.5.1 Thiết bị nghiên cứu
- Dụng cụ ngoài thực địa: Gậy bắt rắn, hộp nhựa, giấy thấm nước tốt để
giữ dung dịch hóa chất khi cố định mẫu, túi vải đựng mẫu tươi, bình nhựa tròn loại 10 lít để đựng hóa chất và đặt tại nhà dân nhờ bắt giúp, khay men dùng cố định mẫu vật, bộ đồ mổ (tiểu phẫu), panh, đèn pin cầm tay và đèn pin đeo đầu,
Trang 34- Dụng cụ ở phòng thí nghiệm: Thước dây, thước kẹp, nhãn tiêu bản, kính
lúp, phiếu định loại mẫu, nhãn bôcan, giấy bút ghi chép, giấy can, Dụng cụ bảo
hộ lao động: khẩu trang, găng tay cao su
3.5.2 Phương pháp nghiên cứu
3.5.2.1 Phương pháp nghiên cứu ngoài thực địa
- Lựa chọn thời điểm và địa điểm khảo sát:
+ Thời điểm khảo sát, thu mẫu: Chúng tôi khảo sát vào các tháng 7, 9, 11,
- Lập tuyến khảo sát: Căn cứ vào thảm thực vật và các yếu tố tự nhiên,
chia khu vực khảo sát thành 4 nơi ở (nước, hang hốc- khe đất đá, trên mặt đất, trên cây), 3SC theo mức độ tác động của con người, cảnh quan và trạng thái rừng (Khu DC- đất nông nghiệp, rừng thứ sinh đang phục hồi, rừng kín thường xanh)
và theo 2 mức độ về độ cao (dưới 1.600 m và trên 1.600 m so với mực nước biển) Trong 19 ngày thực địa từ tháng 7 đến tháng 12 năm 2015, chúng tôi đã tiến hành 6 tuyến khảo sát Các tuyến khảo sát được lập để thu mẫu và quan sát đều đi qua các sinh cảnh và nơi ở trên
Trang 35Bảng 2.1 Tọa độ, độ cao, thời gian khảo sát trên các tuyến
Tuyến Tọa độ các điểm đo được Độ cao Thời gian Ghi chú
Thôn Lao Chải II
(22 o 38'62,3"B, 103 o 36'53"Đ) (22 o 38'75,4"B,
103o36'45,4"Đ)
1528m 1460m
25/07/2015 26/07/2015 06/09/2015 15/09/2015 21/09/2015 24/09/2015 27/09/2015
Thôn Trung Chải,
Mò Phú Chải
(Rừng già)
(22 o 37'95,1"B,
103o38'23,5"Đ) (22o38'3,4"B, 103o38'215"Đ) (22 o 37'6,5"B, 103 o 37'41,4"Đ) (22 o 37'20,1"B,
103 o 37'3,98"Đ)
1936m 1947m 1895m 1912m
27/07/2015 05/09/2015
Thôn Sín Chải I,
Sín Chải II
28/09/2015 01/11/2015 02/11/2015
Không
đo được
Thôn Hồng Ngài
15/10/2015 28/10/2015 09/11/2015
Không
đo được Thôn Ngải Trồ (22
- Ghi chép và thu thập dữ liệu: Thực hiện ghi chép ngay tại vị trí khảo sát:
+ Ngày, giờ, địa danh (tên khe, suối, và tên thôn, xóm, xã), tọa độ, độ cao điểm khảo sát
+ Mô tả môi trường sống: vật thể nơi tìm thấy mẫu (dưới thân cây gỗ, tán
lá, bãi cỏ, trong hang đất, khe đá, ), đặc điểm thực vật, chất nền như đá/ đám lá rụng quanh vị trí đó
Trang 36+ Mô tả ngắn gọn về mẫu vật: hình thái sơ lược đáng chú ý, màu sắc
tự nhiên, trạng thái của chúng khi bị bắt (kêu, hoạt động sinh sản, không hoạt động, )
- Thu thập mẫu vật:
+ Phát hiện mẫu:
Đi dọc suối, ven ao, hồ, ruộng nước, : quan sát bụi cây, cành cây vươn ra gần mặt nước, thảm lá mục, những hòn đá và tảng đá nhô lên trong lòng suối hoặc hai bên bờ suối, thân cây to trên tuyến đi
Đi theo đường mòn trong rừng: Di chuyển chậm, nhẹ nhàng trên tuyến, hạn chế nói chuyện Nghe và quan sát trên cành, lá, hốc cây, bụi cỏ để phát hiện mẫu qua tiếng kêu, tiếng động khi chúng di chuyển Dùng gậy khua động nhẹ hoặc vạch tìm dưới lá cây, khe đá, vỏ cây và thân cây mục nằm dưới đất
Ban đêm, dùng đèn pin để soi, phát hiện mắt LC
+ Thu mẫu:
Với LC, chủ yếu bắt bằng tay, đặt mẫu vào túi vải thoáng khí hoặc túi nilon thổi căng có vật tạo ẩm (giấy, thực vật- rong rêu ẩm ướt) Ếch cây màu xanh có khả năng tiết dịch có mùi hôi làm chết các ếch nhái khác nên đặt trong túi riêng
Nhóm rắn, dùng gậy bắt Thằn lằn có thể được bắt bằng tay vào ban ngày
và nhất là buổi tối Rắn, thằn lằn được đặt riêng trong các túi vải sâu
Những mẫu quan sát hoặc thu được chụp ảnh, ghi chép đặc điểm màu sắc
tự nhiên, tóm tắt hình thái, trạng thái khi bị bắt của chúng và xác định thời gian,
độ cao, tọa độ điểm khảo sát (lưu số liệu vào máy) Bảo quản túi đựng LCBS trong bóng râm, nơi mát mẻ, tránh ánh sáng chiếu trực tiếp
+ Xử lí mẫu vật:
Đeo nhãn thực địa: Mỗi mẫu có 1 nhãn thực địa, trên đó ghi thông tin về
số hiệu mẫu, thời gian (ngày) và địa điểm thu mẫu Nhãn được ghi bằng bút chì hoặc bút bi mực dạng gel màu đen không bị mờ trong dung dịch định hình và bảo quản Nhãn được đeo vào chân sau của LC, thằn lằn; vào cổ hoặc đút vào miệng với rắn
Trang 37Định hình mẫu: Giữ mẫu ở trạng thái tự nhiên, tiêm bổ sung cồn vào bụng,
trong phòng thí nghiệm để phân tích và phân loại
- Phương pháp phỏng vấn:
+ Phỏng vấn để lựa chọn địa điểm khảo sát: phỏng vấn cán bộ của các cơ quan quản lí và chính quyền (trạm kiểm lâm, UBND xã) để nắm bắt được điều kiện tự nhiên cụ thể từng vùng trong KVNC, trạng thái rừng, tác động của con người đến rừng, sông suối và LCBS
+ Đối tượng phỏng vấn chủ yếu là những người dân trong vùng, trực tiếp
đi bắt LCBS và tiếp xúc nhiều với rừng
3.5.2.2 Phương pháp nghiên cứu trong phòng thí nghiệm
- Định loại mẫu vật: Trên cơ sở dữ liệu thu thập được trên thực địa và dữ
liệu thu thập khi phân tích mẫu vật trong phòng thí nghiệm, định loại mẫu theo các tài liệu của Bourret (1942 [92], 1943 [93], 2009 [95]), Đào Văn Tiến (1977 [45], 1979 [47], 1981 [48], 1982 [49]), Nguyễn Văn Sáng (2007) [40], David et
al (2012) [63], Manthey &Grossmann (1997) [97],
- Phương pháp phân tích mẫu vật: Phân tích các đặc điểm hình thái của
mẫu Các hình 3.1- 3.9 minh họa cho một số đặc điểm hình thái và cách đo đếm mẫu LCBS
Hình 3.1 Bàn chân lưỡng cư không đuôi
a Mặt trên; b Mặt dưới
Trang 38Hình 3.2 Số đo lưỡng cư không đuôi
1.Lỗ mũi; 2.Mắt; 3.Màng nhĩ; 4.Gờ sau mũi; 5.Mí mắt trên;
6.Rộng mí mắt trên; 7.Gian mí mắt; 8.Gian mũi; 9.Khoảng cách trước mắt; 10.Khoảng cách mút mõm-mũi; 11.Khoảng cách mút mõm-mắt;
12 Đường kính mắt;13.Đường kính màng nhĩ; 14.Dài thân; 15.Rộng đầu; 16.Lỗ huyệt; 17.Dài đùi; 18.Dài ống chân; 19.Đùi; 20.Ống chân; 21.Cổ chân; 22.Dài củ bàn trong; 23.Dài bàn chân; 24.Đường kính đầu ngón chân IV
Hình 3.3 Tấm đầu của rắn
A Nhìn trên; B Nhìn bên; C Nhìn dưới
F Tấm trán; G Vảy họng; In Tấm gian mũi; T Vảy thái dương; L Tấm má;
SL Tấm mép trên; IL Tấm mép dưới; V Vảy bụng; M Tấm cằm; MA Tấm sau
cằm trước; MP Tấm sau cằm sau; Pf Tấm trước trán; R Tấm mõm; N Tấm mũi;
P Tấm đỉnh; Pro Tấm trước mắt; Pto Tấm sau mắt; Subo Tấm dưới mắt
Trang 39Hình 3.4 Các loại vảy lưng ở rắn
(Trần Kiên, Nguyễn Quốc Thắng, 1980)
a Vảy lưng có gờ; b Vảy lưng nhẵn
Hình 3.5 Cách đếm số hàng vảy thân
(Theo Manthey & Grossmann, 1997)
a Đếm xiên; b Đếm theo hình chữ V; c Đếm so le
Hình 3.6 Vảy bụng, vảy dưới đuôi và tấm hậu môn
(Theo Manthey& Grossmann, 1997)
SC: Vảy dưới đuôi; A: Tấm hậu môn
Trang 40Hình 3.7 Các tấm trên đầu ở thằn lằn (Mabuya)
(Theo Manthey & Grossmann, 1997)
1 Trán; 2 Trước trán; 3 Trán-mũi; 4 Mũi; 5 Trên mũi; 6 Mõm; 7 Má; 8 Sau mũi;
9 Trên ổ mắt; 10 Trán đỉnh; 11 Gian đỉnh; 12 Đỉnh; 13 Gáy; 14 Trước ổ mắt;
15 Trên mi; 16 Mép trên; 17 Cằm; 18 Sau cằm; 19 Mép dưới; 20 Thái dương;
21 Họng; 22 Màng nhĩ
Hình 3.8 Lỗ tai thằn lằn (theo Bourret, 1943)
a Gekko gecko (lỗ tai dài và sâu); b Mabuya longicaudata (lỗ tai tròn và sâu);
c Tropidophorus bermorei (màng nhĩ nông); d Lygosoma quadrupes (lỗ tai rất nhỏ);
e Dibamus bourreti (tai và mắt ẩn dưới vảy)
Hình 3.9 Mắt thằn lằn (theo Bourret, 1943)
a Gekko gecko (không có mí động); b Lygosoma quadrupes (mí dưới có vảy);
c Mabuya longicaudata (mí dưới có vảy lớn, trong suốt); d Emoia laobaoensis
(mí dưới có 1 đĩa lớn trong suốt).