ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y - DƯỢC MAI ĐÌNH TÂM THỰC TRẠNG TĂNG HUYẾT ÁP VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN Ở NGƯỜI TRƯỞNG THÀNH TẠI THÀNH PHỐ TUYÊN QUANG... Do vậy, để xác định được t
Trang 1ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y - DƯỢC
MAI ĐÌNH TÂM
THỰC TRẠNG TĂNG HUYẾT ÁP VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN Ở NGƯỜI TRƯỞNG THÀNH TẠI THÀNH PHỐ TUYÊN QUANG
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả nêu trong luận án là hoàn toàn trung thực và chưa từng được ai công
bố trong bất kỳ công trình nghiên cứu nào
Tác giả luận văn
Mai Đình Tâm
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành tốt luận văn này, cũng như toàn khóa học, tôi xin trân trọng cảm ơn Ban Giám hiệu trường Đại học Y Dược Thái Nguyên, các thầy
cô giáo đã tận tình giảng dạy và giúp đỡ tôi trong quá trình học
Đặc biệt tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến Tiến sĩ Nguyễn Thị Tố Uyên, người đã trực tiếp hướng dẫn tôi thực hiện Luận văn Cô đã truyền đạt cho tôi nhiều kinh nghiệm quý báu và các kỹ năng cần thiết phục vụ quá trình học tập và nghiên cứu tại trường
Tôi xin chân thành cảm ơn bạn bè, đồng nghiệp của Tôi đang công tác tại Trung tâm Y tế dự phòng tỉnh, Trung tâm Y tế thành phố, cán bộ Y tế đang làm việc tại Trạm Y tế phường Hưng Thành, Trạm Y tế phường Nông Tiến, Trạm Y tế xã An Tường, Trạm Y tế xã Tràng Đà và gia đình đã động viên, khích lệ, tạo điều kiện và giúp đỡ Tôi trong suốt quá trình thực hiện và hoàn thành luận văn này
Xin trân trọng cảm ơn và kính chúc tất cả mọi người sức khỏe, thành công trong cuộc sống./
Thái Nguyên, ngày 10 tháng 8 năm 2016
Trang 4MỤC LỤC
Lời cam đoan i
Lời cảm ơn ii
Mục lục iii
Danh mục chữ viết tắt v
Danh mục bảng, biểu vi
NỘI DUNG ĐẶT VẤN ĐỀ ……… 1
Chương 1 TỔNG QUAN……… … 3
1 1.1 Định nghĩa, phân loại và chẩn đoán THA……… 3
2 1.2 Tình hình bệnh THA trên thế giới và tại Việt Nam……… … 8
1.3 Các yếu tố liên quan đến tăng huyết áp ……… 14
Chương 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU………… 21
1 2.1 Đối tượng nghiên cứu……… 21
2 2.2 Địa điểm nghiên cứu……… ……… 21
3 2.3 Thời gian nghiên cứu……… …… 21
4 2.4 Phương pháp nghiên cứu……… 21
5 2.5 Các chỉ số đánh giá……… 23
6 2.6 Kỹ thuật thu thập và sử lý thông tin……… 24
7 2.7 Phương pháp phân tích và sử lý thông tin……… 29
8 2.8 Vấn đề đạo đức trong nghiên cứu……… 30
Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU ……… 31
3.1 Thông tin chung về đối tượng nghiên cứu ……… 31
Trang 53.2 Thực trạng THA tại Thành phố Tuyên Quang ……… 33
3.3 Các yếu tố liên quan đến tăng huyết áp ……… 37
Chương 4 BÀN LUẬN……….……… 47
KẾT LUẬN ……… 61
KHUYẾN NGHỊ ……… 62
TÀI LIỆU THAM KHẢO ……… 63
PHỤ LỤC ……… 71
Trang 6DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
CC,VC Công chức, viên chức
BMI Body Mass Index - Chỉ số khối cơ thể
BVĐK Bệnh viện đa khoa
HATT Huyết áp tâm thu
HATTr Huyết áp tâm trương
KAP Knowledge, Attitude and Practice - Kiến thức, thái độ và thực hành
KTHA Không tăng huyết áp
NHANES National Health and Nutrition Examination Survey - Trung tâm quốc
gia đánh giá sức khỏe Hoa Kỳ
ISH International Society of Hypertension – Hiệp hội tăng huyết áp quốc tế
JNC Joint National Committee - Uỷ ban phòng chống THA Hoa Kỳ
WHO World Health Organization - Tổ chức Y tế thế giới
WHR Waist/Hip Ratio - Tỷ lệ vòng eo/mông
Trang 7DANH MỤC BẢNG
Bảng 1.4 Bảng can thiệp thay đổi lối sống làm giảm huyết áp 6 Bảng 1.5 Tỷ lệ hiện mắc THA ở độ tuổi 35-64 xếp theo quốc gia 9 Bảng 1.6 Tăng huyết áp được điều trị và kiểm soát ở Châu Âu 10
Bảng 3.1 Đặc điểm trình độ học vấn của đối tượng nghiên cứu 31 Bảng 3.2 Đặc điểm nghề nghiệp của đối tượng nghiên cứu 32 Bảng 3.3 Đặc điểm tình trạng hôn nhân của đối tượng nghiên cứu 32 Bảng 3.4 Đặc điểm về kinh tế của đối tượng nghiên cứu 33
Bảng 3.8 Phân bố tỷ lệ tăng huyết áp theo khu vực sinh sống 35 Bảng 3.9 Phân bố tỷ lệ tăng huyết áp theo trình độ học vấn 36 Bảng 3.10 Phân bố tỷ lệ tăng huyết áp theo nghề nghiệp 36 Bảng 3.11 Phân bố tỷ lệ tăng huyết áp theo tình trạng BMI 37
Bảng 3.13 Mối liên quan giữa tiền sử gia đình và tăng huyết áp 38 Bảng 3.14 Mối liên quan giữa thu nhập và tăng huyết áp 38 Bảng 3.15 Mối liên quan giữa nhóm tuổi và độ tăng huyết áp 39 Bảng 3.16 Mối liên quan giữa tình trạng hôn nhân và tăng huyết áp 39
Trang 8Bảng 3.17 Mối liên quan giữa chế độ ăn mặn và tăng huyết áp 40 Bảng 3.18 Mối liên quan giữa chế độ thích ăn mỡ và tăng huyết áp 40 Bảng 3.19 Mối liên quan giữa tình trạng hút thuốc lá và THA 41 Bảng 3.20 Mối liên quan giữa tập thể dục và tăng huyết áp 41 Bảng 3.21 Mối liên quan giữa tần suất tập thể dục và THA 42
Bảng 3.23 Mối liên quan giữa tần suất sử dụng rượu bia và THA 43 Bảng 3.24 Mối liên quan giữa stress (lo âu, căng thẳng) và THA 43
Bảng 3.27 Mối liên quan giữa béo bụng và THA ở nam và nữ 45 Bảng 3.28 Mối liên quan giữa tỷ số vòng eo/mông và THA ở nam/nữ 46
Trang 9DANH MỤC BIỂU ĐỒ
Biều đồ 3.1 Đặc điểm đối tượng nghiên cứu theo giới tính 31 Biểu đồ 3.2 Tỷ lệ tăng huyết áp tại 4 xã/phường nghiên cứu 33 Biều đồ 3.3 Tỷ lệ tăng huyết áp phân theo nhóm tuổi 34
Trang 10ĐẶT VẤN ĐỀ
Tăng huyết áp (THA) là một bệnh lý tim mạch thường gặp trong cộng đồng Tăng huyết áp có thể gây nên nhiều biến chứng nguy hiểm như nhồi máu cơ tim, nhồi máu não, xuất huyết não, suy tim, phình tách thành động mạch chủ, suy thận, mù lòa Tăng huyết áp là căn bệnh diễn tiến âm thầm, ít
có dấu hiệu cảnh báo Những dấu hiệu của THA thường không đặc hiệu và người bệnh thường không thấy có gì khác biệt với người bình thường, do đó THA được coi là “kẻ giết người thầm lặng” [2] Tăng huyết áp là gánh nặng bệnh tật hàng đầu ở các nước đã phát triển và cả các nước đang phát triển, là nguyên nhân tử vong của 6% người trưởng thành trên toàn thế giới [2] Theo tài liệu của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), THA là một trong sáu yếu tố nguy
cơ chính ảnh hưởng tới phân bố gánh nặng bệnh tật toàn cầu Hàng năm trên thế giới có khoảng 7,1 triệu người tử vong do THA và ước tính có khoảng 1,56 tỷ người mắc huyết áp vào năm 2025 [54]
Sự phát triển về kinh tế - xã hội, dân số, và thay đổi về lối sống, chế độ dinh dưỡng người dân Việt Nam trong những năm gần đây làm cho mô hình bệnh tật có những thay đổi rõ rệt Các bệnh không lây truyền, đặc biệt là bệnh liên quan đến THA đang có chiều hướng tăng nhanh Nhiều nghiên cứu đã chỉ
ra rằng THA liên quan đến tuổi, giới, chế độ ăn, tình trạng béo phì và các yếu
tố kinh tế-xã hội khác tác động Trong những năm 1960 tỷ lệ tăng huyết áp khoảng 1% ở miền Bắc, điều tra tăng huyết áp toàn quốc do Trần Đỗ Trinh và các cộng sự, năm 1992 là 11,2%, năm 2002 là 16,3%, năm 2005 là 18,3%, đến năm 2008 theo khảo sát của Viện tim mạch quốc gia tại 8 tỉnh/thành phố
ở độ tuổi ≥ 25 tỉ lệ này là 25,1% [53], [54] Bệnh THA ngày càng phổ biến nhưng số người chẩn đoán sớm còn thấp, số bệnh nhân được điều trị còn ít so với số được phát hiện Dự báo đến năm 2025, có khoảng 10 triệu người Việt Nam bị THA, khoảng 34.000 trường hợp tai biến mạch máu não, khoảng
Trang 119.150 trường hợp bị nhồi máu cơ tim do THA gây ra Ước tính chi phí cho bệnh này là 3.120 tỉ đồng, đây là gánh nặng cho gia đình và xã hội [2], [55] Tỉnh Tuyên Quang đã và đang thực hiện chương trình phòng chống bệnh THA của Bộ Y tế từ năm 2011 Tuy nhiên, ở một số nơi hệ thống quản lý và
dự phòng THA vẫn còn có nhiều khó khăn, thách thức do nhiều lý do khác nhau Các hoạt động y tế hiện mới chỉ tập trung vào công tác điều trị tại các bệnh viện Chưa có mô hình dự phòng, ghi nhận và quản lý THA tại cộng đồng Hiện nay, trên địa bàn thành phố Tuyên Quang cũng chưa có nghiên cứu nào về bệnh THA tại cộng đồng Câu hỏi đặt ra là: Tỷ lệ THA tại thành phố Tuyên Quang thực tế là bao nhiêu? phân bố như thế nào? Các yếu tố nào liên quan đến những người THA từ 25 tuổi trở lên?
Do vậy, để xác định được thực trạng bệnh tăng huyết áp và các yếu tố
liên quan chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài “Thực trạng tăng huyết áp
và một số yếu tố liên quan ở người trưởng thành tại thành phố Tuyên Quang”, với 2 mục tiêu sau:
1 Mô tả thực trạng tăng huyết áp ở người trưởng thành từ 25 tuổi trở lên tại thành phố Tuyên Quang, năm 2015
2 Xác định một số yếu tố liên quan đến tăng huyết áp ở người trưởng thành tại thành phố Tuyên Quang
Trang 12Chương 1 TỔNG QUAN 1.1 Định nghĩa, phân loại và chẩn đoán tăng huyết áp
1.1.1 Định nghĩa
Theo tổ chức Y tế thế giới và hội tăng huyết áp quốc tế đã thống nhất gọi
là tăng huyết áp khi huyết áp tâm thu lớn hơn hoặc bằng 140 mmHg và/hoặc huyết áp tâm trương lớn hơn hoặc bằng 90 mmHg [3], [55]
1.1.2 Phân loại
Tại Việt Nam, theo hướng dẫn của Bộ Y tế (Quyết định số BYT ngày 31/08/2010 của Bộ trưởng Bộ Y tế) con số huyết áp thu được sau khi thực hiện đo huyết áp đúng cách, sẽ xác định huyết áp của người đó bằng bảng sau [2], [54]:
3192/QĐ-Bảng 1.1 Xác định huyết áp tiêu chuẩn theo Bộ Y tế
Phân độ THA Huyết áp tâm
thu (mmHg)
Huyết áp tâm trương (mmHg)
Trang 131.1.3 Chẩn đoán tăng huyết áp
Chẩn đoán xác định THA dựa vào trị số huyết áp đo được đúng quy trình Ngưỡng chẩn đoán THA thay đổi tùy theo từng phương pháp đo [55]
Bảng 1.2 Phương pháp đo huyết áp
thu
Huyết áp tâm trương
1 Đo tại phòng khám hoặc bệnh viện: đo
2-3 lần, mỗi lần đo ít nhất 2 lượt ≥ 140 mmHg ≥ 90 mmHg
2 Đo bằng máy đo huyết áp Holter 24 giờ
1.1.3.1 Cách thức đo huyết áp: Sử dụng HA kế thủy ngân, và đo theo
các nguyên tắc sau [55]:
Nghỉ ngơi trong phòng yên tĩnh ít nhất 5-10 phút trước khi đo HA Không dùng chất kích thích (cà phê, hút thuốc, rượu bia) trước đó 2 giờ
Trang 14Tư thế đo chuẩn: người được đo HA ngồi ghế tựa, cánh tay duỗi thẳng trên bàn, nếp khuỷu ngang mức với tim Ngoài ra, có thể đo ở các tư thế nằm, đứng Đối với người cao tuổi hoặc có bệnh ĐTĐ, đo thêm HA tư thế đứng nhằm xác định có hạ HA tư thế hay không
Không nói chuyện khi đang đo HA Lần đo đầu tiên, cần đo HA ở cả hai cánh tay, tay nào có con số HA cao hơn sẽ dùng để theo dõi HA về sau
Đo HA ít nhất hai lần, mỗi lần cách nhau ít nhất 1-2 phút Nếu số đo HA giữa 2 lần đo chênh nhau trên 10 mmHg, cần đo lại một vài lần sau khi đã nghỉ trên 5 phút Giá trị HA ghi nhận là trung bình của hai lần đo cuối cùng Ghi lại số đo theo đơn vị mmHg dưới dạng HA tâm thu/HA tâm trương (ví dụ 126/82 mmHg), không làm tròn số quá hàng đơn vị và thông báo kết quả cho người được đo
Bảng 1.3 Xử trí sau khi đo huyết áp lần đầu
Huyết áp
tâm thu
(mmHg)
Huyết áp tâm trương (mmHg)
Thái độ xử trí
< 130 < 85 Kiểm tra lại trong vòng 2 năm
130-139 85-89 Kiểm tra lại trong vòng 1 năm
140-159 90-99 Khẳng định lại chẩn đoán trong vòng 2 tháng 160-179 100-109 Điều trị và đánh giá lại trong vòng 1 tháng
≥ 180 ≥ 110 Lập tức điều trị và đánh giá ngay
1.1.4 Dự phòng tăng huyết áp
Áp dụng thay đổi lối sống cho mọi bệnh nhân THA hoặc người có HA bình thường cao hoặc tiền sử gia đình THA rõ Tác dụng của phương thức này
Trang 15tương đương với uống một loại thuốc và hiệu quả tăng lên khi kết hợp nhiều cách thay đổi lối sống Tuy nhiên để đạt được và duy trì được sự thay đổi lối
sống là khó khăn, để khắc phục điều này cần nguồn chi phí rất lớn [53], [54]
Bảng 1.4 Bảng can thiệp thay đổi lối sống làm giảm huyết áp
Giảm cân nặng Duy trì chỉ khối cân nặng lý tưởng
(20-25kg/m2)
5-10 mmHg khi giảm mỗi 10kg
Chế độ ăn DASH Ăn nhiều trái cây, rau, ít mỡ (giảm
chất béo toàn phần và các loại hòa tan) 8-14mmHg
Hạn chế muối ăn Giảm muối ăn < 100 mmol/ngày (2,4g
Vận động thân thể Khuyến khích thể dục nhịp điệu mức
độ vừa như đi bộ 30 phút/ngày 4-9 mmHg Uống chất có cồn
điều độ
Nam < 21 đơn vị/tuần
1.1.5 Biến chứng của bệnh tăng huyết áp
Bệnh THA tiến triển lâu ngày sẽ ảnh hưởng xấu đến nhiều cơ quan trong
cơ thể được gọi là những cơ quan đích và gây nhiều biến chứng nặng nề
1.1.5.1 Tai biến mạch máu não (đột quỵ)
Tổ chức Y tế thế giới định nghĩa đột quỵ là sự tiến triển nhanh chóng các triệu chứng lâm sàng của mất chức năng não toàn thể hoặc một phần, với các dấu hiệu kéo dài 24h hoặc hơn 24h hoặc gây tử vong không do các nguyên nhân khác Bệnh lý này ảnh hưởng đến gần 20 triệu người trên toàn thế giới, khoảng 1/4 bệnh nhân sẽ tử vong, đột quỵ là nguyên nhân đứng hàng thứ ba
Trang 16gây tử vong Trong 15 triệu bệnh nhân đột quỵ còn sống sót, 1/3 sẽ bị tàn phế
và quan trọng là khoảng 1/6 sẽ bị đột quỵ tái phát trong vòng 5 năm [2]
1.1.5.2 Suy tim, nhồi máu cơ tim
Tăng huyết áp đã được coi là một trong những yếu tố nguy cơ quan trọng trong bệnh thiếu máu cơ tim do xơ vữa động mạch, người ta đã thấy nguy cơ tai biến mạch vành tăng song song với mức THA, nghiên cứu của Framingham (Hoa kỳ) đã cho thấy nguy cơ đó tăng lên đến 4 lần nếu HA tâm thu từ 120 lên 180 mmHg Nhiều nghiên cứu ở các nước trong những năm qua cũng khẳng định chỉ riêng thất trái to do bệnh THA cũng làm tỉ lệ tai biến tim mạch và tăng tỷ lệ tử vong do nguyên nhân tim mạch [53], [54]
1.1.5.3 Phình tách thành động mạch
Thành động mạch chủ gồm 3 lớp Phình tách động mạch chủ là tình trạng cần điều trị cấp cứu Nếu rách toàn bộ thành động mạch chủ sẽ dẫn tới chảy máu ồ ạt và bệnh nhân tử vong nhanh chóng [3]
Giáo dục bệnh nhân có vai trò quan trọng trong phòng chống phình tách thành động mạch và các biến chứng khác của THA Thay đổi chế độ ăn và không hút thuốc lá, uống rượu bia là rất quan trọng Bệnh nhân cần ăn giảm muối, hoạt động thể chất và tránh những căng thẳng, lo âu Điều quan trọng nữa là bệnh nhân THA cần tuân thủ phác đồ điều trị [55]
1.1.5.4 Suy thận
Có mối liên quan mật thiết giữa THA và thận, tỷ lệ THA tăng đi kèm với
sự giảm đi chức năng thận, khoảng 80-90% bệnh nhân thận giai đoạn cuối có kèm theo THA Tuy nhiên chỉ có một tỷ lệ nhỏ bệnh nhân bị tăng huyết áp tiên phát tiến triển thành bệnh thận mạn, tỷ lệ mới mắc suy thận tăng lên khi
huyết áp tâm thu tăng lên mỗi 10 mmHg [22], [23], [53], [54]
Trang 171.1.5.5 Tổn thương mắt
Tổn thương đáy mắt và bệnh lý võng mạc trong bệnh THA liên quan trực tiếp với sự gia tăng HA THA gây hẹp động mạch võng mạc lan tỏa nhưng không đều, tiến triển gây xuất huyết và phù gai thị
Trong nghiên cứu của tác giả Lê Hoàng Anh Tú và Lê Minh Tuấn thì tỷ
lệ tổn thương võng mạc của bệnh nhân THA: bắt chéo tĩnh-động mạch chiếm 38,3%, hẹp tiểu động mạch toàn bộ 89,8%; hẹp tiểu động mạch khu trú 13,3%, xuất huyết võng mạc 22,6%, xuất tiết 19,5%, nốt dạng bông 14,6% và phù gai 8,6% [48]
1.2 Tình hình tăng huyết áp trên thế giới và tại Việt Nam
1.2.1 Tình hình tăng huyết áp trên thế giới
Tỷ lệ hiện mắc tăng huyết áp được công bố rất khác nhau giữa các khu vực trên thế giới, khoảng từ 3,4% trong số nam giới sống ở nông thôn tại các nước đang phát triển như Ấn Độ, Serbia, đến 72,5% phụ nữ ở nước phát triển như Ba Lan Tại phần lớn những nước có nền kinh tế phát triển tỷ lệ hiện mắc THA khoảng 20-50% [58], [60], [62]
Theo dữ liệu điều tra của NHANES ở Hoa kỳ giai đoạn 1999-2000, tỷ lệ THA ở nam là 27,1% và 30,1% ở nữ xét trên quần thể người Mỹ trưởng thành [64] Còn ở các nước Châu Âu như Tây Ban Nha tỷ lệ này là 49,1% và 43,2%
ở thành thị [62] Mặc dù mọi người thường nghĩ rằng tỉ lệ hiện mắc THA ở những vùng đang phát triển sẽ thấp hơn nhưng những thông tin gần đây cho thấy điều đó không hoàn toàn đúng Tại Ai Cập (Châu Phi), kết quả từ chương trình THA quốc gia cho thấy tỷ lệ hiện mắc là gần 30%, ở các nước như Othiopia, Nigeria, Afganistan cũng cho tỷ lệ gần tương tự [58], [64]
Ở Mỹ, nghiên cứu Framingham Heart, tiến hành trên 4962 bệnh nhân là những cư dân sinh sống tại Framingham độ tuổi từ 28-68 được thu thập 2
Trang 18năm/lần từ thời điểm bắt đầu nghiên cứu và 4 năm/lần đối với nghiên cứu Framingham Offspring Trong tổng số tham gia nghiên cứu, huyết áp tối ưu hay bình thường chiếm 43,7%, huyết áp bình thường cao chiếm 13,4%, THA
độ I chiếm 12,9% và THA độ II hoặc lớn hơn chiếm 30% [67]
Bảng 1.5 Tỷ lệ hiện mắc THA ở độ tuổi 35-64 xếp theo quốc gia và giới
tính:
Quốc gia
Tỷ lệ mắc ở quần thể (%)
Tỷ lệ hiện mắc ở nam (%)
Tỷ lệ hiện mắc ở nữ (%)
Tỷ lệ bệnh nhân THA
có dùng thuốc (%)
Theo Nguyễn Lân Việt và Dương Hồng Thái, Tăng huyết áp [53], [54]
Một nghiên cứu ở Mỹ cho thấy 1/3 những người có THA không nhận thức được việc mắc bệnh Mức độ nhận thức tăng liên tục từ 51% những năm 1976-1980 đến 70% trong những năm 1999-2000 Tỷ lệ huyết áp được điều trị tăng từ 31% lên 59% và tỷ lệ THA được kiểm soát tăng từ 10% lên 34% Huyết áp không được kiểm soát thường gặp ở phụ nữ, người già Trong nghiên cứu chỉ có 25% người đái tháo đường đạt mức kiểm soát huyết áp tối
ưu 130/85 mmHg [62]
Trang 19Bảng 1.6 THA đƣợc điều trị và kiểm soát ở Châu Âu
Đặc điểm
1988-1991 NHANES II (%)
1991-1994 NHANES III (%)
1999-2000 NHANES
IV (%)
Theo Nguyễn Lân Việt và Dương Hồng Thái, Tăng huyết áp [53], [54]
Ở Nhật Bản, tỷ lệ mắc THA trung bình là 37% ở nam và 33% ở nữ, nhóm tuổi trên 60 là 53% Hơn 1/3 số người mắc THA có tăng huyết áp tâm thu đơn độc Lee và cộng sự đã tiến hành nghiên cứu ảnh hưởng của sự thay đổi cân nặng kéo dài lên tỷ lệ hiện mắc và tỷ lệ mới mắc trên một mẫu nghiên cứu cộng đồng cư trú tại Nhật độ tuổi từ 30-69 Trong số 3431 nam và 2409
nữ có 11,7% nam giới và 8,9% nữ giới có huyết áp bình thường chuyển thành THA trong 5 năm theo dõi của nghiên cứu [63] Những người lớn tuổi hơn có
số khối cơ thể cao hơn, có huyết áp tâm thu và huyết áp tâm trương cao hơn
so với quần thể nghiên cứu Sau khi đã hiệu chỉnh các yếu tố trùng lặp người
ta nhận thấy đường biểu diễn chỉ số khối của cơ thể có mối tương quan chặt chẽ với tỷ lệ mới mắc THA ở cả nam và nữ
Tỷ lệ mắc THA tại Trung Quốc tăng đột ngột trong một vài thập niên gần đây Năm 1960, ước tính số người THA trong quần thể người trưởng thành ở Trung Quốc là 30 triệu người, con số này tăng lên 59 triệu người vào năm 1980 và 94 triệu người năm 1990 Một điều tra cắt ngang được tiến hành trên 15.540 người tại Trung Quốc cho kết quả tỷ lệ mắc THA khá cao cụ thể
là 34% ở Miền Bắc và 23% ở Miền Nam Tính chất đa dạng theo vùng địa lý của tỷ lệ hiện mắc THA có thể đã thay đổi trong vài thập kỷ đã qua do sự thay đổi đột ngột của sự phát triển kinh tế, quá trình đô thị hóa và sự thay đổi lối sống [61], [67]
Trang 20Tồn tại bằng chứng rõ ràng về mối liên quan giữa lượng Natri ăn vào và THA Một nhóm nghiên cứu Ian J Brown đã chứng minh sự liên quan giữa tăng lượng Natri ăn vào và tăng huyết áp, sau khi đã hiệu chỉnh các biến nhiễu, nghiên cứu được thực hiện trên 10.079 người từ độ tuổi 20-59, trong số
đó người có huyết áp bình thường là 8344 [65]
Nhiều nghiên cứu cắt ngang đã chỉ ra rằng những người uống nhiều rượu
có trị số huyết áp cao hơn và tỷ lệ hiện mắc huyết áp cao hơn Lượng rượu tiêu thụ tăng cao gấp ba lần lượng rượu tiêu chuẩn cho phép mỗi ngày làm tăng gấp hai lần nguy cơ mắc THA Huyết áp giảm trở lại trong một vài ngày sau khi ngừng uống rượu
Chế độ ăn nhiều chất béo được coi là một trong những nguyên nhân gây
tỷ lệ hiện mắc THA tại Nga và Phần Lan Theo tính chất vùng địa lý, nơi nào
có lượng tiêu thụ acid béo hòa tan nhiều hơn thì nơi đó tỷ lệ mắc tăng huyết
áp thường cao Một vài nghiên cứu chỉ ra một chế độ ăn đảo ngược với nhiều acid không bão hòa xu hướng làm giảm huyết áp Điều này giải thích tại sao huyết áp của những người sinh sống tại các vùng ăn ít thịt lại thấp hơn những người có chế độ ăn tạp
Về mức độ nhận biết ở những nước có nền kinh tế phát triển, gần 1/2 - 1/3 bệnh nhân tăng huyết áp hiểu về bệnh tình của họ Hoa kỳ năm 1999-
2000, 68,9% bệnh nhân THA ≥ 18 tuổi hiểu về bệnh này Ở các nước đang phát triển, mức độ nhận thức thấp hơn xấp xỉ từ 1/4-1/2 số bệnh nhân tăng huyết áp, tại Trung Quốc là 44,7% [67]
1.2.2 Tình hình tăng huyết áp tại Việt Nam
Tỷ lệ THA tại Việt Nam ngày càng gia tăng Theo thống kê của Đặng Văn Chung năm 1960 tần suất THA ở người lớn phía Bắc Việt Nam mới chỉ
là 1% Đến năm 1992, theo điều tra toàn quốc của Trần Đỗ Trinh và cộng sự
Trang 21tỷ lệ này đã là 11,7% tăng lên hơn 11 lần và mỗi năm tăng trung bình 0,33% [47] Trong 10 năm sau (2002) theo điều tra dịch tễ học THA và các yếu tố nguy cơ ở 4 tỉnh phía Bắc Việt Nam ở người dân ≥ 25 tuổi thì tần suất THA
đã tăng lên 16,3% trung bình mỗi năm tăng 0,46% [53], [54] Tỷ lệ THA ở vùng thành thị là 22,7%, cao hơn vùng nông thôn (12,3%) Năm 2007 với dân
số 84 triệu người, Việt Nam ước tính có khoảng 6,85 triệu người bị THA, nếu không có các biện pháp dự phòng và quản lý hữu hiệu thì đến năm 2025 sẽ có khoảng 10 triệu người Việt Nam bị THA [22]
Tỷ lệ THA cũng khác nhau giữa các cùng khác nhau, trong 8 vùng thì có
2 vùng có tỷ lệ nam THA cao nhất là Tây Bắc và Tây Nguyên (21,3%-21,6%) đặc biệt là vùng nông thôn Tây Bắc (22%) và Tây Nguyên (21,3-21,6%), còn với nữ vùng cao nhất là Tây Nguyên với 18,4%, thấp nhất là Nam Trung Bộ với 11,4% Tỷ lệ THA chung thì khu vực đồng bằng sông Hồng có tỷ lệ thấp nhất là 10,7% [2]
Về KAP và kiểm soát tăng huyết áp tại Việt Nam Nghiên cứu của Phạm Gia Khải (2002) tại 4 tỉnh (Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình, Huế) cho thấy 23% người được điều tra biết đúng các yếu tố nguy cơ, trong đó khu vực thành thị hiểu biết đúng là 29,5%, tỷ lệ khống chế là 19,1% [29] Nghiên cứu gần đây nhất của Đoàn Mạnh Thịnh tại thị xã Bắc Cạn cho thấy tỷ lệ kiến thức đạt 63,6%, về thái độ là 74%, thực hành chỉ đạt 51,6% như vậy đối với các mô hình phòng chống bệnh THA cần phải được đẩy mạnh
Tốc độ gia tăng về tỷ lệ THA trong cộng đồng ngày càng tăng cao Tỷ lệ THA ở vùng thành thị là 22,7% cao hơn vùng nông thôn 12,3% Việt Nam ước tính có khoảng 9,7 triệu người dân hoặc là không biết bị THA hoặc là THA nhưng không được điều trị hoặc có điều trị nhưng chưa đưa được huyết
áp về mức bình thường [53], [54]
Trang 22Theo nghiên cứu của Viện Tim mạch Việt Nam (2006) tại 8 tỉnh, thành phố cho thấy: tỷ lệ THA của những người dân từ ≥ 25 tuổi trở lên là 25,1%, trong đó 52% không biết mình bị THA, 30% số người bị THA nhưng không được điều trị, 64% số người biết THA đã được điều trị nhưng không đạt huyết
áp mục tiêu [23]
Theo nghiên cứu của Trịnh Thị Thu Hoài (2012) thực hiện tại 08 xã triển khai chương trình phòng chống THA tỉnh Yên Bái Tỷ lệ THA khác nhau ở các độ tuổi, lứa tuổi bị THA cao nhất là ≥ 60 tuổi chiếm 59,1% Tỷ lệ nữ giới mắc THA cao hơn nam giới 53,5% Tỷ lệ THA ở thành thị cao hơn nông thôn (61,8%) THA độ I là 61,4%, THA độ II là 25,5%, THA độ III là 13,1% [20] Theo Nguyễn Thu Hiền (2006) “Bước đầu tìm hiểu thực trạng bệnh THA tại xã Linh Sơn huyện Đồng Hỷ tỉnh Thái Nguyên, tỷ lệ THA là 33,3% trong
đó ở nam là 39,5%, nữ 29,4% Tỷ lệ THA tăng theo độ tuổi, nhóm ≥ 25 tuổi chiếm 20,8%, nhóm trên 65 tuổi là 70,6% Nghiên cứu cũng chỉ ra mối liên quan giữa THA và trình độ học vấn (tỷ lệ nghịch), người bị béo phì có nguy
cơ cao gấp 2,94 lần so với người bình thường, hút thuốc lá là 1,66 lần [16]
Nghiên cứu của Nguyễn Thị Cúc (2012) tiến hành tại huyện Phổ Yên trên 340 người cao tuổi thấy rằng, nhóm độ tuổi từ 60-69 là 27,4%, các yếu tố liên quan đến THA như ăn mặn chiếm tỷ lệ 68%, người cao tuổi có nguy cơ
bị THA cao gấp 7,53 lần so với những người cao tuổi không ăn mặn, đối với rượu bia là 2,66 lần [6]
Theo thống kê của Hội Tim Mạch (2006) thì có tới 67,5% người bệnh không biết mình mắc bệnh, 15% người bệnh biết mình có bệnh THA nhưng không điều trị, 15% người bệnh điều trị thất thường, không đúng cách, chỉ có 4% là điều trị đúng [23]
Trang 231.3 Các yếu tố liên quan đến tăng huyết áp
1.3.1 Chế độ ăn (nhiều muối, mỡ, nhiều tinh bột)
Theo khuyến cáo của Tổ chức Y tế thế giới, mỗi người trưởng thành mỗi ngày nên sử dụng ít hơn 6 gam muối (một thìa cà phê), nếu ăn nhiều hơn thì được gọi là ăn mặn Với chế độ ăn mặn (thừa muối), chúng ta có nguy cơ bị THA và các biến chứng nặng nề của THA như: Đột quỵ, nhồi máu cơ tim, suy tim, suy thận [54], [55], [56]
Theo nghiên cứu của Tô Văn Hải và Lại Kim Anh (2000) điều tra toàn
bộ người bệnh THA vô căn điều trị tại khoa tim mạch, bệnh viện Thanh Nhàn, tỷ lệ người bệnh THA có ăn mặn chiếm 13% [14]
Theo Nguyễn Thị Cúc điều tra thực trạng và một số yếu tố liên quan đến THA ở người cao tuổi xã Trung Thành huyện Phổ Yên cho thấy có mối liên quan giữ tỷ lệ THA với thói quen ăn mặn (68,0%), người cao tuổi ăn mặn cao gấp 7,53 lần so với những người cao tuổi không ăn mặn [6]
Đã có một số tài liệu nhắc tới nên hạn chế sử dụng các chất béo no và không no có chứa nhiều cholesterol trong các bữa ăn hàng ngày cũng sẽ làm giảm nguy cơ bị THA [1]
Theo tổng điều tra của Viện dinh dưỡng quốc gia, trong khẩu phần ăn của người Việt có 70-80% từ tinh bột như gạo, mì, ngô, khoai, sắn, trong mỗi bữa cơm của người Việt ăn từ 2-3 bát nên dễ bị béo phì từ đó dẫn tới đái tháo đường và THA [53]
1.3.2 Béo phì và rối loại lipit máu
Rối loạn chuyển hóa lipid máu nếu một hay những thành phần sau rối loạn, tăng cholesteron toàn phần, tăng triglicerid, tăng LDL-C, giảm HDL-C, giảm apoprotein A1, tăng apoprotein B
Cholesteron toàn phần: > 5,2 mmol/l
Triglicerid: 2,3 mmol/l
Trang 24HDL-C: 0,9 mmol/l
LDL-C: 3,12 mmol/l
Những nghiên cứu dịch tễ học đã chứng minh rằng ở những người béo phì tạo nên một nhóm nguy cơ đối với bệnh mạch vành và mạch máu não Béo phì thường gặp bởi 50-60% ở người THA có sự hiện diện của tăng quá mức trọng lượng Thường đó là béo phì dạng nam hóa với sự gia tăng tỷ lệ kích thước vòng bụng/vòng hông
Theo Viên Văn Đoan (2005) tỷ lệ người bệnh THA có béo phì chiếm 4,3%; ít vận động thể lực chiếm 1% Béo phì thường kèm theo rối loạn Lipid máu, tỷ lệ rối loạn Cholesterol máu cao chiếm 56,3% số người bệnh THA [9] Theo Nguyễn Đức Sơn (2011) người bệnh THA có rối loạn lipid máu chiếm 45,54%, trong đó tăng cholesterol chiếm nhiều hơn cả (60,78%), theo
Tô Văn Hải tỷ lệ người bệnh THA có rối loạn Lipid máu chiếm 75% [41] Nghiên cứu của Viện Dinh Dưỡng ở người độ tuổi từ 25-74 có rối loạn lipid máu với lượng mỡ cao hơn mức trung bình là 26% Tại thành phố Hồ Chí Minh tỷ lệ này lên đến 40% Trong một nghiên cứu khác do Nguyễn Đỗ Vân Anh, Nguyễn Xuân Ninh, Phùng Đắc Cam thực hiện trên 300 người trưởng thành tại Hà Nội cho thấy có mối liên quan giữa rối loạn chuyển hóa Lipit máu với tình trạng thừa cân (OR = 1,9;CI 95% = 1,2-3,0; p < 0,01), béo bụng (OR = 6,4;CI 95% = 3,9-10,7; p < 0,001), % mỡ cơ thể cao (OR = 2,5;
Trang 251.3.3 Sử dụng rượu, bia
Một nghiên cứu dịch tễ học hiện đại đầu tiên về mối liên quan giữa rượu
và THA là nghiên cứu Copenhagen xuất bản năm 1974 Nghiên cứu 5249 nam giới Đan Mạch chỉ ra rằng có sự kết hợp chặt chẽ giữa lượng rượu, bia với mức độ THA [62].Những người uống trên 6 đơn vị mỗi ngày (một đơn vị rượu tương ứng với một cốc rượu, một chút rượu mạnh, một nửa lít bia) có tỷ
lệ THA gấp 2-3 lần so với người không uống rượu hoặc những người rất ít uống rượu Khuyến cáo đối với nam giới lượng rượu uống vào không quá 3 đơn vị mỗi ngày và phụ nữ uống không quá 2 đơn vị [2]
Theo Viên Văn Đoan (2005) tỷ lệ người bệnh THA có uống bia chiếm 5%, theo Tô Văn Hải tỷ lệ này ở nữ chiếm 1,5%; trong khi đó ở nam là 52,9%, còn theo Phạm Thị Nhuận nghiên cứu trên 225 bệnh nhân tại BVĐK Thái Nguyên cho thấy chưa có mối liên quan rõ ràng giữa uống rượu và rối loạn chuyển hóa lipid (OR=1,47) [9], [15], [35]
Theo nghiên cứu của tác giả Chu Hồng Thắng (2008) thì tỷ lệ THA ở nhóm uống rượu cao gấp 1,28 lần so với nhóm không uống rượu [42]
Nghiên cứu của Lê Hoàng Linh, Đinh Văn Khai, Nguyễn Văn Hóa,
Nguyễn Thị Hiền, Phùng Đức Nhật và cộng sự về “ Các yếu tố nguy cơ của các bệnh không lây (THA, ĐTĐ tuýp 2) ở người lớn, tỉnh Bình Dương, năm 2006-2007” tiến hành 704 trường hợp (176 trường hợp THA và 176 ca chứng,
176 trường hợp ĐTĐ týp 2 và 176 ca chứng) có độ tuổi ≥ 30 tuổi, được chọn tại 3 bệnh viện điều trị tại tỉnh Bình Dương Kết quả cho thấy trong nhóm bệnh và chứng của bệnh THA các yếu tố có uống rượu bia trong 12 tháng qua
và tần suất uống rượu bia thường xuyên là các yếu tố nguy cơ làm tăng nguy
cơ mắc bệnh Những đối tượng ở nhóm cao HA có tỉ lệ uống bia rượu thường xuyên cao gấp 3,5 lần so với nhóm chứng (p = 0,04) [31]
Trang 261.3.4 Hút thuốc lá, thuốc lào
Nicotin có trong thuốc lá kích thích hệ thần kinh giao cảm làm co mạch ngoại vi gây THA Hút 1 điếu thuốc lá, huyết áp tâm thu có thể tăng lên tới 9 mmHg, kéo dài 20-30 phút, hút nhiều có thể có cơn THA kịch phát nguy hiểm Việc hút thuốc lặp đi lặp lại làm biến đổi huyết áp gây lên bệnh THA Nghiên cứu của Nguyễn Thị Cúc cho thấy tỷ lệ THA ở người cao tuổi có thói quen hút thuốc lá là 64,2% Những người cao tuổi có thói quen hút thuốc
lá có nguy cơ THA cao gấp 3,26 lần so với người cao tuổi không hút [6] Nghiên cứu của Bùi Đức Long (2006), Bệnh THA là 30% ở nhóm hút thuốc lá với OR = 1,3 [32] còn nghiên cứu của Trần Văn Dương tại Viện Tim Mạch so sánh 165 bệnh nhân hút thuốc và chỉ số mắc bệnh đau tim Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng nguy cơ nhồi máu cơ tim ở bệnh nhân hút thuốc (68,2%) cao hơn những bệnh nhân không hút thuốc (18,2%) [23]
Nghiên cứu được tiến hành năm 2009-2010 của Trần Quốc Bảo, Phan Trọng Lân chỉ ra trong quần thể 25-64 tuổi tại thành phố Cần Thơ có tới 57,1% nam giới hút thuốc lá hàng ngày [1]
1.3.5 Tuổi
Nhiều nghiên cứu trên thế giới chỉ ra rằng trong 3 thập niên đầu cuộc đời
tỷ lệ tăng huyết áp chỉ khoảng 1-2% đến thập niên thứ 6 thứ 7 tỷ lệ THA tăng
từ 4-8% [53]
Kết quả nghiên cứu tại Hàn Quốc (2001) đã chứng minh THA có liên quan đến tuối, tuổi càng cao thì nguy cơ THA càng cao Nghiên cứu ở Malaisia (2010) cho thấy độ tuổi tăng theo phân nhóm 10 năm thì nguy cơ mắc THA tăng 2,29 lần [66]
1.3.6 Giới
Ở những nước phát triển, THA chiếm khoảng 25-30% toàn bộ dân số trưởng thành và chiếm khoảng 60-70% ở nhóm trên 70 Nhiều nghiên cứu cho
Trang 27thấy ở lứa tuổi trung niên và tuổi trẻ, nam giới có nhiều nguy cơ THA hơn nữ giới, nam là 18% trong khi đó nữ chỉ có 14,5% Tuy nhiên, sau 60 tuổi thì nữ lại có nhiều khả năng mắc cao hơn Các công trình nghiên cứu trên thế giới đều cho rằng tỷ lệ THA ở nam nhiều hơn nữ [60], [62] Nghiên cứu của Nguyễn Thu Hiền (2006) tại xã Linh Sơn huyện Đồng Hỷ tỉnh Thái Nguyên,
tỷ lệ THA là 33,3%, tỷ lệ THA tăng theo độ tuổi, nhóm ≥25 tuổi chiếm 20,8%, nhóm trên 65 tuổi là 70,6% [16]
1.3.7 Yếu tố di truyền
Ước tính có 30-35% sai khác về huyết áp trong một quần thể là do di truyền, điều này cho thấy THA là bệnh một phần do di truyền quy định Ngày nay với khoa học hiện đại đã phát hiện THA còn có thể do đột biến gen, các sản phẩm gen bất thường trong tất cả các rối loạn đều ảnh hưởng đến một hệ thống là quá trình vận chuyển muối [53], [54]
Nghiên cứu của Bùi Đức Long (2006), những người có tiền sử gia đình
bị THA có tỷ lệ THA (27,1%) cao hơn tỷ lệ THA ở nhóm người gia đình không có người bị THA (17,8%), nguy cơ THA ở nhóm có tiền sử gia đình là 1,7 lần [32]
Theo Viên Văn Đoan (2003) THA liên quan với yếu tố gia đình rất rõ rệt chiếm 48,8%, trong đó bố, mẹ có THA chiếm 31,56%; anh/chị em ruột có THA chiếm 17,24% [9]
1.3.8 Stress
Trong cuộc sống hàng ngày chúng ta luôn gặp những vấn đề phải suy nghĩ, hay những cảm xúc vui, buồn, giận, gét của cơ thể Các cảm xúc này được lặp lại kéo dài gây ra những ức chế lên hệ thần kinh dẫn tới bệnh tật Nghiên cứu của Bùi Đức Long (2006), số người bị THA do stress (23,5%) cao hơn những người không bị stress (18,5%) nguy cơ THA cao gấp 1,4 lần ở những người bị stress [32]
Trang 28Theo Tô Văn Hải điều tra toàn bộ người bệnh THA vô căn điều trị tại khoa tim mạch bệnh viện Thanh Nhàn năm 2000, tỷ lệ stress chiếm 7% [14] Nghiên cứu của Trần Kim Trang tại bệnh viện trường Đại học Y Dược
Hồ Chí Minh (2010) trên 414 bệnh nhân THA cho thấy tỷ lệ bệnh nhân có điểm bình thường, nhẹ, trung bình, nặng lần lượt là 73,2%, 21,7%, 4,8%, 0,2% Không có sự khác biệt stress theo giới tính Điểm stress giảm dần theo tuổi, tình trạng hôn nhân ảnh hưởng đến stress [44], [45]
1.3.9 Bệnh Đái tháo đường
THA thường gặp liên quan chặt chẽ với sự tiến triển của bệnh lý thận ở bệnh nhân đái tháo đường (ĐTĐ) Những bệnh nhân ĐTĐ typ 1 tỷ lệ mắc THA tăng từ 5% trong 10 năm đến 33% trong 20 năm và tăng nhanh đến 70% trong vòng 40 năm Ở những bệnh nhân ĐTĐ typ 2, 30% bệnh nhân ĐTĐ có kèm theo THA ở thời điểm chẩn đoán ĐTĐ, khi tổn thương cầu thận tiến triển, khoảng 70% bệnh nhân có kèm theo THA [54]
Theo nghiên cứu của Viên Văn Đoan (2005), tỷ lệ người bệnh THA có đái tháo đường chiếm 12,6%, nghiên cứu của Chu Hồng Thắng ở xã Hóa Thượng, Thái Nguyên cho thấy tỷ lệ ĐTĐ ở bệnh nhân THA là 3,7% THA góp phần làm tăng mức độ nặng và nước độ tàn phế của người bệnh ĐTĐ [9].Nghiên cứu của Đỗ Thái Hòa, Trương Việt Dũng và Cs (2014) tại huyện Đông Sơn, Thanh Hóa kết quả cho thấy xu hướng liên quan thuận giữa tăng đường huyết với tăng tuổi, ít vận động thể lực, tỷ lệ đối tượng tăng đường huyết là 16,6% [17]
Nghiên cứu của Davies Adeloye ở Nam Phi theo dõi trong 10 năm, nguy
cơ tử vong do bệnh tim mạch ở bệnh nhân đái tháo đường không bị tăng huyết
áp Ngược lại ĐTĐ làm cho THA khó điều trị hơn, THA kéo dài làm tổn thương các mạch máu gây bệnh lý ở mắt, thận, tim mạch và có thể dẫn tới tai biến mạch máu não [59]
Trang 291.3.10 Lười vận động
Hoạt động thể lực mức độ trung bình và thường xuyên sẽ làm giảm huyết
áp và giảm tỷ lệ mới mắc THA Vì vậy, tập thể dục là một biện pháp ban đầu cho dự phòng, điều trị và kiểm soát THA Các khuyến cáo nên tập luyện thể lực ở mứ ình kéo dài ít nhất 30 phút mỗi ngày và thực hiện ở hầu hết các ngày trong tuần Tập thể dục lên phối hợp với các bài tập rèn luyện về sức chịu đựng và sự dẻo dai của cơ thể [55]
1.3.11 Các yếu tố khác
Một vài nghiên cứu trên thế giới cho thấy ảnh hưởng của thu nhập và dịch vụ chăm sóc sức khỏe đối với kiểm soát THA Tại Trung Quốc mức thu nhập cao có liên quan với kiểm soát huyết áp còn tại Mỹ NHANES III đã nghiên cứu những người có bảo hiểm sức khỏe cá nhân thường được kiểm soát tăng huyết áp hơn (58%) so với những người tương tự không có bảo hiểm sức khỏe [61]
Một số tài liệu có đề cập tới thời tiết (mùa) hay tắm lạnh đột ngột cũng
là những yếu tố làm huyết áp tăng
Trang 30
Chương 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Đối tượng nghiên cứu
- Những người dân trưởng thành từ 25 tuổi trở lên đang sinh sống tại Thành phố Tuyên Quang
2.2 Địa điểm nghiên cứu
- Thành phố Tuyên Quang tỉnh Tuyên Quang
2.3 Thời gian nghiên cứu
- Từ
2.4 Phương pháp và thiết kế nghiên cứu
2.4.1 Thiết kế nghiên cứu:
Nghiên cứu mô tả cắt ngang
2.4.2 Cỡ mẫu và cách chọn mẫu nghiên cứu
Cỡ mẫu: áp dụng công thức tính cỡ mẫu cho nghiên cứu mô tả
p.q
n = z2(1 - / 2)
d 2
Trong đó:
n: Số người dân ≥ 25 tuổi tối thiểu để nghiên cứu
(Với = 0,05 z2( 1 - / 2) = 1,96)
Trang 31p: Tỷ lệ THA ước lượng (28,2% theo nghiên cứu của Nguyễn Kim Kế, luận án tiến sĩ trường Đại học Y - Dược Thái Nguyên năm 2013) [27]
q = 1 - p d: Sai số mong muốn (chọn d = 0,028)
- Thành phố Tuyên Quang có tổng số 13 xã/phường, trong đó có 8
phường có điều kiện kinh tế phát triển (nội thành) và 5 xã có điều kiện kinh tế
xã hội kém phát triển hơn (ngoại thành) Chọn chủ đích 2 phường trong nội thành và 2 xã ngoại thành có số cụm dân cư và dân số gần tương đương nhau (phụ lục 01)
- Tại 4 xã/phường, tiến hành bốc thăm ngẫu nhiên ra 6 tổ/cụm dân cư tổng số 24 tổ/cụm được chọn (phụ lục 01)
- Tại các tổ/cụm dân cư được chọn tiến hành thu thập danh sách những người dân trưởng thành trên 25 tuổi, phân thành 5 tầng tuổi (từ 25-34, 35-44, 45-54, 55-64, trên 65) Áp dụng phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên hệ thống với k được tính dựa trên số lượng người ≥ 25 tuổi tại mỗi cụm Như vậy tại mỗi tổ/cụm dân cư khám 50 người và mỗi nhóm tuổi 10 người Tổng số mẫu cần điều tra là 1200 đối tượng
Trang 32Sơ đồ chọn mẫu
Tiêu chuẩn lựa chọn đối tượng:
- Đồng ý tham gia nghiên cứu
- Độ tuổi, địa bàn nghiên cứu phù hợp
2.5 Các chỉ số đánh giá
Nhóm các chỉ số về thực trạng bệnh THA:
- Tỷ lệ mắc THA chung
13 xã/ phường thành phố Tuyên Quang (8 phường, 5 xã)
2 phường (36 tổ)
12 tổ
50 đối tượng (mỗi tầng tuổi 10 người)
Chọn mẫu chủ đích, có phân tầng
Bốc thăm ngẫu nhiên
Chọn mẫu ngẫu nhiên
hệ thống
2 xã (38 cụm dân cư)
12 cụm
50 đối tượng (mỗi tầng tuổi 10 người)
Trang 33- Phân bố tỷ lệ THA theo nhóm tuổi
- Phân bố tỷ lệ THA theo giới
- Phân bố tỷ lệ THA theo khu vực
- Phân bố tỷ lệ THA theo nghề nghiệp
- Phân bố tỷ lệ THA theo trình độ học vấn
- Phân bố tỷ lệ THA theo điều kiện kinh tế
Nhóm các chỉ số về yếu tố liên quan:
- Tuổi, giới, nghề nghiệp, trình độ học vấn
- Sử dụng rượu bia, thuốc lá
- Chế độ ăn uống, vận động
- Tình trạng thừa cân béo phì, stress
2.6 Kỹ thuật thu thập và xử lý thông tin
2.6.1 Thời điểm thu thập thông tin
- Điều tra thực trạng THA của người ≥ 25 tuổi tại TP Tuyên Quang: tháng 6-7
- Báo cáo sử lý số liệu: tháng 11-12
2.6.2 Địa điểm thu thập thông tin
- Tại 4 xã/phường được chọn: Hưng Thành, An Tường, Nông Tiến, Tràng Đà thuộc thành phố Tuyên Quang của tỉnh Tuyên Quang
2.6.3 Tiêu chuẩn đánh giá và định nghĩa biến số
- Các mẫu phiếu ghi kết quả phải đầy đủ rõ ràng, thông tin chính xác và
độ tin cậy cao, thông tin về thói quen hút thuốc lá, uống rượu, bia
Trang 34Rối loạn lipit máu
Nồng độ glucose trong máu
Tăng huyết áp
Trang 35- Xác định hộ nghèo: Có sổ hộ nghèo do chính quyền cấp phù hợp với
quyết định số 59/QĐ-TTg về ban hành chuẩn nghèo tiếp cận đa chiều áp dụng cho giai đoạn 2016-2020
Tiêu chí xác định chuẩn nghèo:
Quyết định cũng quy định rõ chuẩn hộ nghèo, cận nghèo, hộ có mức sống trung bình áp dụng từ giai đoạn 2016- 2020, cụ thể:
Hộ nghèo khu vực nông thôn là hộ đáp ứng một trong 2 tiêu chí sau:
1- Có thu thập bình quân đầu người/ tháng từ đủ 700.000 đồng trở xuống
2- Có thu nhập bình quân đầu người/tháng trên 700.000 đồng đến 1.000.000 đồng và thiếu hụt từ 03 chỉ số đo lường mức dộ thiếu hụt tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản trở lên
Hộ nghèo khu vực thành thị là hộ đáp ứng một trong hai tiêu chí sau:
1- Có thu nhập bình quân đầu người/tháng từ đủ 900.000 trở xuống 2- Có thu nhập bình quân đầu người/tháng trên 900.000 đến 1.300.000 đồng và thiếu hụt từ 03 chỉ số đo lường mức độ thiếu hụt tiếp cận các dịch vụ
xã hội cơ bản
- Xác định stress (căng thẳng, lo âu quá mức):
Người được hỏi trả lời thường xuyên cảm thấy mệt mỏi, hay quên, mất
trí nhớ, khó chịu hay tức giận mất ngủ kéo dài, giảm hiệu quả công việc, mất niềm tin trong cuộc sống Người bị stress có thể do đau ốm không đủ chất dinh dưỡng cũng có thể dẫn tới stress, bên cạnh đó còn do môi trường ngoại cảnh làm mất sự cân bằng, những mâu thuẫn trong xã hội, quan hệ trong gia đình cũng có thể là nguyên nhân dẫn tới stress [45]
- Xác định người thích ăn mặn:
Thói quen ăn mặn khá phổ biến trong chế biến thức ăn hàng ngày Việc đánh giá tương đối khó khăn chủ yếu thông qua hỏi phỏng vấn đối tượng Mỗi
Trang 36ngày chỉ nên ăn 6 gram muối (1 thìa cafe) là đủ, nếu ăn nhiều hơn trong ngày
và liên tục từ 4-7 ngày là ăn mặn [55]
2.6.3.2 Nếu đang uống rượu, bia:
- Uống ít: dưới 1 lần/tuần
- Thỉnh thoảng uống: 3-5 lần/tuần
- Uống thường xuyên: hàng ngày/tuần
2.6.3.3 Tập thể dục:
- Ít tập (ít hoạt động): dưới 3 lần/tuần,
- Thỉnh thoảng: tập trên 3 lần/ tuần mỗi lần
- Thường xuyên: tập đều đặn hàng ngày/tuần
2.6.3.4 Đánh giá stress:
- Ít căng thẳng, lo âu: 1-2 lần/tuần
- Thỉnh thoảng bị: 3-5 lần/tuần
- Thường xuyên bị: hàng ngày/tuần
2.6.3.5 Tỷ lệ vòng eo/vòng mông (WHR): Tỷ lệ vòng eo/vòng mông
được lượng giá bằng tỷ lệ vòng eo/vòng mông, khi tỷ lệ này tăng lên thì là một trong những nguy cơ của bệnh mạch vành nói chung và THA nói riêng
Trang 37Bảng 2.1 Tỷ số vòng eo/vòng mông và sức khỏe
0,9 0,7 Không nguy hiểm (sức khỏe tốt)
0,9-0,95 0,7-0,8 Ít
0,96-1 0,81-0,85 Trung bình
Trên 1 Trên 8,5 Cao (rất nguy hiểm)
2.6.3.6 Phân loại BMI của WHO
Bảng 2.2 Phân loại thừa cân và béo phì theo chuẩn của tổ chức y tế thế
2.6.4 Phương pháp thu thập và đánh giá thông tin
- Xác định tình trạng huyết áp: Đo huyết áp bằng máy băng quấn bằng
tay đo 2 lần cách nhau 10 phút, nếu sai khác trên 10 mmHg thì tiếp tục đo lần
3 Kết quả của số đo huyết áp là trung bình 2 lần đo
- Đo cân nặng: Nam và nữ mặc quần áo gọn nhất Người được cân
đứng giữa bàn cân, không cử động, mắt nhìn thẳng, trọng lượng bổ đầu ở cả hai chân Cân đặt ở vị trí ổn định và bằng phẳng, chỉnh cân về vị trí cân bằng
ở số 0 Cân nặng được ghi với 1 số lẻ (ví dụ 43,2kg)
Trang 38- Đo chiều cao: Bỏ giày dép, đi chân không, đứng quay lưng vào thước
đo Để thước đo theo chiều thẳng đứng, vuông góc với mặt đất nằm ngang Gót chân, mông, vai và đầu theo một đường thẳng áp sát vào thước đo đứng, mắt nhìn thẳng ra phía trước theo đường nằm ngang, hai tay bỏ thõng theo hai bên mình Dùng thước vuông áp sát đỉnh đầu thẳng góc với thước đo Đọc kết quả và ghi số cm với 1 số lẻ
- Đo vòng eo và vòng mông: Đối với vòng eo thì đo vòng quanh eo qua
chỗ nhỏ nhất của eo, vòng mông đo vòng quanh qua chỗ nở nhất của mông
- Chỉ số BMI được tính theo công thức: BMI= cân nặng (Kg)/(chiều
cao (m))2, BMI ≥ 25 coi là thừa cân
- Phỏng vấn theo bộ câu hỏi được thiết kế sẵn: Các yếu tố liên quan
được tìm hiểu bao gồm các thói quen về hút thuốc lá, uống rượu bia, thói quen ăn mặn, ăn mỡ
2.6.5 Phương tiện và kỹ thuật sử dụng
* Phương tiện
- Dụng cụ khám gồm: Máy đo huyết áp băng quấn bằng tay, thước LEICESTER độ chính xác tính bằng cm, cân TANITA sản xuất tại Nhật độ chính xác 0,1kg
- Phiếu khám sàng lọc THA (phụ lục 02); phiếu hỏi yếu tố liên quan (phụ lục 03)
* Kỹ thuật sử dụng
Khám sàng lọc bằng các dụng cụ thông thường, máy đo huyết áp, cân, đo chiều cao kết hợp với hỏi bệnh và tiền sử, khám xong người dân nào ghi chép luôn theo phiếu khám sàng lọc và phiếu hỏi
2.7 Phương pháp phân tích và xử lý số liệu
Số liệu sau khi thu thập sẽ được nhập liệu bằng phần mềm Epidata 3.1 và phân tích bằng phần mềm SPSS 18.0, Epi Info 7.0
Trang 392.8 Vấn đề đạo đức trong nghiên cứu
Các đối tượng nghiên cứu được giải thích rõ về mục đích nghiên cứu, chỉ thực hiện nghiên cứu với những đối tượng tự nguyện đồng ý tham gia nghiên cứu Người nghiên cứu được quyền từ chối tham gia nghiên cứu bất cứ khi nào họ muốn
Thông tin cá nhân thu thập đều được giữ đảm bảo bí mật và chỉ sử dụng với mục đích nghiên cứu này mà không sử dụng cho bất kỳ một mục đích nào khác
Đề cương nghiên cứu được thông qua bởi hội đồng khoa học Trường Đại học Y-Dược Thái Nguyên
Trang 40Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
3.1 Thông tin chung của đối tượng nghiên cứu
Biểu đồ 3.1 Đặc điểm đối tượng nghiên cứu theo giới tính
Trong tổng số đối tượng nghiên cứu, trình độ học vấn từ THPT - trung
cấp chiếm tỷ lệ nhiều nhất 51,1%, Cao đẳng- Đại học chiếm 31%
46.7 53.3
nam
nữ