1. Trang chủ
  2. » Cao đẳng - Đại học

C mác và ph ăngghen trình bày những nguyên lý chủ nghĩa duy vật lịch sử giai đoạn 1844 1848

29 706 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 29
Dung lượng 67,45 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

A. Lời nói đầu Quá trình hình thành và phát triển của triết học Mác trải qua nhiều giai đoạn khác nhau trong đó giai đoạn 1844 – 1848 là giai đoạn hình thành những nguyên lí cơ bản của triết học Mác, thể hiện qua hàng loạt tác phẩm như “Bản thảo kinh tế_ triết học”, “Sự khốn cùng của triết học”, “Hệ tư tưởng Đức”…, và tác phẩm đánh giá sự chín mùi của thế giới quan mới đó là “Tuyên ngôn Đảng cộng sản” bất hủ. Trong những lí luận của các tác phẩm đó thì chủ nghĩa duy vật lịch sử là một trong những cống hiến vĩ đại nhất của C. Mác và Ph. Ăngghen cho nhân loại. Sự xuất hiện của chủ nghĩa duy vật lịch sử là cuộc cách mạng trong lịch sử xã hội loài người. Đó là kết quả của sự vận dụng quan điểm duy vật biện chứng vào giải thích lĩnh vực lịch sử và đồng thời là kết quả của quá trình phát triển lâu dài của tư tưởng triết học lịch sử của loài người. Nó bàn về nhưng vấn đề như vấn đề giai cấp, đấu tranh giai cấp, vấn đề nhà nước, cách mạng xã hội, tiến bộ xã hội, vấn đề về con người, vai trò của quần chúng nhân dân, hình thái kinh tế xã hội... Có thể nói rằng chủ nghĩa duy vật lịch sử cùng với chủ nghĩa duy vật biện chứng là “linh hồn” của triết học Mác. Để có thể hiểu thêm về chủ nghĩa duy vật lịch sử được hình thành và phát triển như thế nào? Những quan điểm chủ nghĩa duy vật lịch sử thể hiện cụ thể qua những tác phẩm như thế nào? Giá trị và ý nghĩa của nó ra sao...? Thông qua quá trình được học trên lớp và tham khảo một số tài liệu liên quan em đã chọn đề tài “C.Mác và Ph.Ăngghen trình bày những nguyên lý chủ nghĩa duy vật lịch sử giai đoạn 18441848”.

Trang 1

A Lời nói đầu

Quá trình hình thành và phát triển của triết học Mác trải qua nhiều giai đoạn khácnhau trong đó giai đoạn 1844 – 1848 là giai đoạn hình thành những nguyên lí cơ bản củatriết học Mác, thể hiện qua hàng loạt tác phẩm như “Bản thảo kinh tế_ triết học”, “Sựkhốn cùng của triết học”, “Hệ tư tưởng Đức”…, và tác phẩm đánh giá sự chín mùi củathế giới quan mới đó là “Tuyên ngôn Đảng cộng sản” bất hủ Trong những lí luận của cáctác phẩm đó thì chủ nghĩa duy vật lịch sử là một trong những cống hiến vĩ đại nhất của C.Mác và Ph Ăngghen cho nhân loại Sự xuất hiện của chủ nghĩa duy vật lịch sử là cuộccách mạng trong lịch sử - xã hội loài người Đó là kết quả của sự vận dụng quan điểmduy vật biện chứng vào giải thích lĩnh vực lịch sử và đồng thời là kết quả của quá trìnhphát triển lâu dài của tư tưởng triết học lịch sử của loài người Nó bàn về nhưng vấn đềnhư vấn đề giai cấp, đấu tranh giai cấp, vấn đề nhà nước, cách mạng xã hội, tiến bộ xãhội, vấn đề về con người, vai trò của quần chúng nhân dân, hình thái kinh tế xã hội Cóthể nói rằng chủ nghĩa duy vật lịch sử cùng với chủ nghĩa duy vật biện chứng là “linhhồn” của triết học Mác

Để có thể hiểu thêm về chủ nghĩa duy vật lịch sử được hình thành và phát triểnnhư thế nào? Những quan điểm chủ nghĩa duy vật lịch sử thể hiện cụ thể qua những tácphẩm như thế nào? Giá trị và ý nghĩa của nó ra sao ? Thông qua quá trình được học trênlớp và tham khảo một số tài liệu liên quan em đã chọn đề tài “C.M ác và Ph.Ăngghentrình bày những nguyên lý chủ nghĩa duy vật lịch sử giai đoạn 1844-1848”

Trang 2

I Khái quát hoàn cảnh lịch sử và chủ nghĩa duy vật lịch sử

1 Khái quát hoàn cảnh lịch sử

C Mác và Ph Ăngghen là hai người con thiên tài của nước Đức C Mác sinh ratrong một gia đình trí thức, tại thành phố Tơ–nơ –vơ, tỉnh Ranh của nước Đức, là vùng cónền kinh tế phát triển cao Chính nền kinh tế tư bản đã sản sinh ra giai cấp tư sản và giaicấp công nhân Ông đã nhìn thấy tình trạng người công nhân bị bóc lột và bần cùng hóa,

do đó mà nảy sinh tư tưởng muốn giải phóng Đối với Ph Ăngghen, nếu như C Mác sinh

ra trong gia đình trí thức thì Ph Ăngghen lại được sinh ra trong một gia đình thươngnhân, xuất thân từ một nhà tư sản, bố ông là một ngươi rất nghiêm khắc ông định hướngcho tương lai của Ph Ăngghen, nhưng Ph Ăngghen không chấp nhận và đi theo conđường mà mình yêu thích Do đó mà hai nhà tư tưởng vĩ đại đã gặp được nhau, cùngnhau nghiên cứu hoạt động lí luận và chính trị xã hội đẻ đưa tới sự ra đời của triết họcMác vào những năm 30, 40 của thế kỉ XIX ở Tây Âu cụ thể là nước Đức

Các nước Tây Âu lúc này phát triển mạnh về kinh tế nhờ những thành tựu củacuộc cách mạng khoa học công nghệ như ở Anh, Pháp… phương thức sản xuất tư bảnchủ nghĩa ngày càng phát triển, giai cấp tư sản càng tập trung vào phát triển lực lượng sảnxuất, cải tiến công cụ lao động để tăng năng suất lao động Lực lượng sản xuất lúc nàyphát triển cao, mang tính xã hội hóa trong khi đó quan hệ sản xuất vẫn là quan hệ sảnxuất tư nhân tư bản chủ nghĩa Mâu thuẫn kinh tế giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sảnxuất không thể tự điều hòa, giải quyết được do vậy mà các nước Tây Âu nổ ra nhiều cuộcđấu tranh của giai cấp công nhân như cuộc khởi nghĩa của công nhân Li – ông (Pháp),phong trào Hiến chương ( Anh)…vv

Tại Đức quê hương sản sinh ra triết học Mác thì quốc gia này có phần đi vào chủnghĩa tư bản có phần chậm hơn các nước khác nhưng vẫn chịu tác động của cuộc cáchmạng công nghiệp Giai cấp tư sản Đức lúc này tiến hành cách mạng đánh đổ phong kiếnnhưng dè dặt, nhượng bộ, họ đã chuyển sang thỏa hiệp với Nhà nước phong kiến Phổ đểmong chuyển từ chế độ quân chủ phong kiến sang dân chủ tư sản cho thấy rằng họ không

Trang 3

đủ sức lãnh đạo phong trào cách mạng cộng với việc lo sợ nhất là sự lớn mạnh của phongtrào công nhân cả về số lượng cũng như nhận thức tiêu biểu trong giai đoạn này là cuộcđấu tranh của công nhân xiledi năm 1844.

Như vậy các cuộc đấu tranh nổ ra ở Anh, Pháp, Đức…là những hồi chuông đánhlên liên tiếp rằng giai cấp tư sản không nhân danh cho tiến bộ xã hội, giai cấp vô sản mớinhân danh cho tiến bộ xã hội, mới là lực lượng tiến bộ đại diện cho dân chủ, đấu tranhcho dân chủ, tiến bộ xã hội Tuy nhiên những cuộc đấu tranh còn tự phát, lẻ tẻ Muốnphong trào chuyển từ tự phát sang tự giác cần có một lí luận soi đường Triết học Mác rađời đáp ứng được nhu cầu đó của lịch sử, giải quyết vấn đề lí luận cho các phong trào đấutranh về sau, trong tác phẩm “Lời nói đầu góp phần phê phán triết học pháp quyềnHêghen” C Mác nói rằng: “Triết học là vũ khí tinh thần của giai cấp công nhân còn giaicấp công nhân là vũ khí vật chất”

Sự lớn mạnh của chủ nghĩa tư bản được triết học phản ánh bằng hàng loạt các luậngiải khác nhau để thoát khỏi hiện thực, chống lại sự áp bức, bóc lột của các giai cấp thốngtrị ở Đức lúc bấy giờ tiêu biểu như triết học Hêghen ngoài hạt nhân hợp lý là phép biệnchứng thì Hêghen lại ca ngợi Nhà nước Phổ, cho rằng Nhà nước phổ là Nhà nước hoàn

mỹ, ông đấu tranh bảo vệ Nhà nước phổ, con người chỉ cần hoạt động tinh thần, khôngcần phải hoạt động vật chất, không cần thiết phải làm cách mạng, chỉ cần thỏa hiệp với tưsản rồi quay lại với Nhà nước phong kiến Phổ trong khi các nước trên thế giới đã pháttriển lên tư bản chủ nghĩa

Không chỉ phê phán triết học Hêghen mà ông còn phê phán chủ nghĩa duy tâm nóichung và đặc biệt trong giai đoạn này là phái Hêghen trẻ tiêu biểu là Bruno – Bauer Ôngvạch trần tính chất duy tâm của Hêghen trẻ và đồng bọn, lúc này Hêghen trẻ là bộ phậntrí thức nhưng vô chính phủ tự đề cao mình, không quan tâm tới đời sống nhân dân, rơivào hữu khuynh, không những thế mà họ còn kết tội C Mác và Ph Ăngghen là khôngphê phán quần chúng nhân dân, giai cấp công nhân Trong sự nghiệp cách mạng, tự đềcao mình – những con người có óc phê phán, tinh thần phê phán

Trang 4

Năm 1845 – 1846, ở Đức lúc này chủ nghĩa duy tâm và trào lưu chủ nghĩa xã hộitiểu tư sản ảnh hưởng mạnh mẽ tới phong trào cách mạng, những người ủng hộ theoC.Mác và Ph Ăngghen là thiểu số, các phe phái đủ màu sắc của chủ nghĩa xã hội tiểu tưsản đang chiếm ưu thế Trước tình hình đó C.Mác và Ph Ăngghen thấy đã đến lúc phảichứng minh một cách có khoa học những cơ sở hệ tư tưởng của giai cấp vô sản, tuyêntruyên tư tưởng đó vào giai cấp vô sản để tranh thủ những người cộng sản về phía cáchmạng.

C Mác và Ph Ăngghen đã tích cực tham gia vào phong trào đấu tranh giai cấpcủa giai cấp vô sản, thành lập các tổ chức có khuynh hướng cộng sản và hoạt động tíchcực cùng các nhóm cách mạng khác Trên cơ sở hoạt động lí luận và thực tiễn các ông đãchứng minh một cách khoa học hệ tư tưởng của giai cấp vô sản, tuyên truyền hệ tư tưởngđó vào phong trào công nhân và phê phán chủ nghĩa xã hội tiểu tư sản lúc bấy giờ Mộttrong những nhiệm vụ lúc đó là phải vạch trần quan điểm vô chính phủ, phản động củaPrudong, giải phóng giai cấp công nhân khỏi ảnh hưởng của hệ tư tưởng tư sản Trongkhoảng thời gian này các ông vừa tích cực hoạt động khoa học và lí luận vừa tích cựctham gia hoạt động thực tiễn nhằm thành lập Đảng cộng sản Năm 1847 tổ chức đó đãđược thành lập với tên gọi là “Đồng minh những người cộng sản” mà cương lĩnh của nólà “Tuyên ngôn Đảng cộng sản” (1848)

Như vậy cùng với sự tích cực hoạt động lí luận và chính trị xã hội đã làm cho cácnhà mácxit xây dựng nên những nguyên lí của chủ nghĩa duy vật lịch sử ở giai đoạn1844– 1848 rất có giá trị

2 Khái quát chủ nghĩa duy vật lịch sử.

Tư tưởng triết học lịch sử đã xuất hiện từ thời kỳ cổ đại, trong xã hôi tư sản dướinhững hình thức khác nhau các tư tưởng triết học lịch sử cổ đại cũng bàn về con người,về xã hội, về bản thân mình và về quan hệ của con người với tự nhiên…hầu hết nhữngvấn đề đã đặt ra đều thuộc nội dung mà triết học mácxit sau này giải đáp, và nó đã thu lạinhững thành tựu có giá trị nhất định Tuy nhiên, một măt do thiếu năng lực khái quát hóa,

Trang 5

do sự vận động của thực tiễn chưa được chín muồi, một mặt do lập trường giai cấp màcác nhà tư tưởng triết học lịch sử trước Mác đã chưa thể giải quyết một cách đúng đắnkhoa học về bản chất và quy luật của quá trình lịch sử Căn bản là ở chỗ họ đứng trên lậptrường duy tâm Tiêu biểu triết học cổ điển Đức là Hêghen giải thích xã hội bằng “tinhthần tuyệt đối” hay có chăng chỉ là “tự ý thức” theo quan niêm của Can-tơ , như vậy họđã rơi vào duy tâm.

Đến lượt C Mác và Ph Ăngghen đã luận giải vấn đề lịch sử xã hội theo mộthướng khác đó là vận dụng chủ nghĩa duy vật biện chứng Chủ nghĩa duy vật của triếthọc Mác là chủ nghĩa duy vật triệt để bởi luận giải duy vật cả về tự nhiên và xã hội cònnhững nhà triết học trước Mác chỉ luân giải duy vật về mặt tự nhiên nhưng lại duy tâm vềmặt xã hội, thể hiện tính chất không triệt để Trong tác phẩm luận cương về Phơ Bách C.Mác viết rằng: “Các nhà triết học trước kia chỉ biết giải thích thế giới bằng nhiều cáchkhác nhau, song vấn đề là ở chỗ cải tạo thế giới”

Sự sáng tạo ra chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử được coilà bước ngoặt cách mạng trong lịch sử triết học của nhân loại Đây là hình thức triết họcduy vật cao nhất gắn liền với công lao vĩ đại của C.Mác và Ph Ăngghen

C.Mác và Ph.Ăngghen chẳng những đã sáng tạo ra thế giới quan duy vật biệnchứng là thế giới quan kết hợp giữa lí luận với khoa học và phương pháp cách mạng khácvề chất so với chủ nghĩa duy vật cũ và phép biên chứng trước kia mà còn vận dụng lí luậnđó vào giải thích đời sống xã hội để xây dựng nên một hệ thống quan điểm duy vật biênchứng về xã hội, vạch ra cấu trúc và quy luật phát triển của xã hội Chủ nghĩa duy vật lịchsử đã vạch ra rằng:

Một là: Lịch sử phát triến của loài người là một quá trình lịch sử tự nhiên, donhững quy luật khách quan của bản thân lịch sử chi phối, không phụ thuộc vào ý muốnchủ quan của con người, đó là quá trình phát triển thay thế nhau của các hình thái kinh tế– xã hội

Trang 6

Hai là: Không phải ý thức con người quyết định tồn tại của họ, mà chính tồn tại xãhội quyết định ý thức của họ.

Ba là: Sản xuất vật chất là cơ sở nền tảng cho sự phát triển xã hội

Bốn là: Chủ nghĩa duy vật lịch sử còn đề xuất những nguyên tắc nhận thức vềkhoa học lịch sử trong đó quan trọng nhất là không thể giải thích “thời đại lịch sử nhấtđịnh căn cứ vào ý thức của thời đại đó, mà phải căn cứ vào sinh hoạt vật chất của thờiđại.”

Có thể nói rằng chủ nghĩa duy vật lịch sử do C.Mác và Ph.Ăngghen sáng lập ra làthành quả vĩ đại mà chỉ có đứng trên lập trường vô sản mới có thể thấy được Tai sao lạinhư vậy? Ấy là bởi chủ nghĩa duy vật lịch sử đã đưa tới kết luận có tính cách mạng về sựdiệt vong tất yếu của chủ nghĩa tư bản và sự thắng lợi tất yếu của giai cấp vô sản Sự xuấthiện của chủ nghĩa duy vật lịch sử là một trong những đặc điểm cơ bản của cuộc cáchmạng trong triết học mà C Mác và Ph Ăngghen đã thực hiện Với tiểu luận này sẽ trìnhbày những nguyên lí cơ bản của chủ nghĩa duy vật lịch sử giai đoan 1844 – 1848, nóđược thể hiện qua những tác phẩm một cách cụ thể và sâu sắc

II Giai đoạn đề xuất những nguyên lí những nguyên lí của chủ

nghĩa duy vật lịch sử (1844 -1848)

Trong giai đoạn này C Mác và Ph Ăngghen tiếp tục đi vào đề xuất tư tưởng duyvật biện chứng và duy vật lịch sử của mình Qua rất nhiều tác phẩm những nguyên lý triếthọc đã được hình thành đặc biệt là những nguyên lí của chủ nghĩa duy vật lịch sử và tácphẩm trước bao giờ cũng được các ông bổ sung và hoàn thiện ở những tác phẩm sau đóđể rồi những nguyên lí được hình thành vào năm 1848 đánh dấu bởi tác phẩm “Tuyênngôn Đảng cộng sản”

1 Tác phẩm “Bản thảo kinh tế – triết học (C.Mác viết 1844)

Trang 7

Năm 1844, Mác rời báo Sông Ranh sang pháp Ở đây ông có nhiều thời giannghiên cứu các vấn đề mà ông đã phát hiện ra đó là những vấn đề về chính trị, xã hội,cách mang,…Trong thời gian này ông làm việc trong tờ báo “Niên dám Pháp _ Đức”,ông bắt đầu nghiên cứu một cách có phê phán kinh tế chính trị học tư sản Anh trên lậptrường chủ nghĩa xã hội, cũng tại nơi đây ông đã đọc được tác phẩm “Bản thảo góp phầnphê phán kinh tế chính trị học” của Ph Ăngghen Đây là tác phẩm Ph.Ăngghen viết đểphê phán hai nhà kinh tế chính trị học cổ điển Anh là A Smith v à Đ Ricacdo, khi đọcđược tác phẩm này C Mác nói rằng đó là con đường mà tôi nghiên cứu kinh tế.

Mục đích viết tác phẩm nhằm vạch trần tính chất hạn chế của kinh tế chính trị tưsản trong luận điểm về tính vĩnh viễn của chế độ tư hữu khi họ khẳng định rằng tư hữu làthuộc tính của con ngươi đồng thời coi sự tồn tại của giai cấp vô sản là hợp l ý, là tựnhiên, phát triển tư tưởng về sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân C.Mác khẳng địnhphải xóa bỏ chế độ tư hữu để trả lại bản chất người đích thực cho con người Tác phẩm làkết quả của quá trình ông nghiên cứu một cách có phê phán kinh tế chính trị học tư sảnAnh trên lập trương chủ nghĩa xã hội

Trên cơ sở phê phán quan điểm về kinh tế của A Smith va Đ Ricacdo, C.Mác đãnêu bật được một số quan điểm duy vật lịch sử như sau:

1.1 Vấn đề giai cấp, đấu tranh giai cấp, sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân.

Hai nhà kinh tế học A Smith và Đ Ricacdo cho rằng chế độ tư hữu tồn tại mãimãi, rằng chế độ tư hữu là chế độ cuối cùng không bị diệt vong

C.Mác đã phê phán quan điểm trên và phản bác lại rằng chế độ tư hữu chỉ là chếđộ tồn tại trong một hình thái kinh tế – xã hội nào đó và để xóa bỏ tư hữu phải làm cáchmạng và nhiệm vụ đó không phải ai khác chính là giai cấp công nhân C Mác khẳng địnhrằng đấu tranh giai cấp chính là giải phóng giai cấp công nhân và tầng lớp nhân dân laođộng khác trong đó giai cấp công nhân giữ vai trò lãnh đạo

Trang 8

1.2 Vấn đề về con người

Tư tưởng của tác phẩm chủ yếu là tư tưởng về vai trò của lao động, cuả sản xuấtvật chất trong việc tạo ra chính bản thân con người và tiếp tục phát triển con người.Trongkhi sáng tạo ra và phát triển con người, lao động đồng thời chiếm mất tất cả sức lực vàthời gian con người, nô dịch con người, dẫn đến sự xuất hiện sở hữu tư nhân, bóc lột vàcác giai cấp Theo đó C Mác đưa ra khái niệm mới là “lao động bị tha hóa”, có nghĩa làhoạt động đó của con người thể hiện sự quan trọng nhất bản chất người của con ngườinhưng lại trở thành lực lượng nô dịch con người, thể hiện ở chỗ sản phẩm của lao độngthống trị chính ngay người sản xuất ra nó Lao động bị tha hóa ở đây làm cho người côngnhân đánh mất tính người, đánh mất cuộc sống cộng đồng, phá vỡ quan hệ giữa người vớingười Ông cho rằng sự phát triển của sản xuất trong điều kiện chủ nghĩa tư bản nhất định

sẽ tạo ra tiền đề vật chất để thủ tiêu “Lao động bị tha hóa” Tha hóa ở đây là sự biến đổiđể thành cái đối lập, biến đổi đó theo hướng từ tốt sang xấu

Trong lịch sử triết học đã có những nhà triết học đề cập đến phạm trù “tha hóa”,nếu Hêghen đề cập đến phạm trù “tha hóa” nhưng đó lại là sự tha hóa của “ý niệm tuyệtđối” tức có nghĩa là ý niệm tuyệt đối (tinh thần) tha hóa tự nhiên xã hội (vật chất) để rồilại quay về với ý niệm tuyệt đối (tinh thần), và toàn bộ vấn đề phát triển là việc khắc phụcsự tha hóa ấy, hay nhà triết học duy vật nhân bản Phơ Bách cho rằng sự tha hóa đó là củatình cảm đạo đức, ông áp dụng tư tưởng về sự tha hóa vào việc phê phán tôn giáo ông coitôn giáo không phải là sự bịa đặt mà là sự tha hóa của con người và muốn xóa bỏ tôn giáohiện có và xây dựng một tôn giáo mới, tôn giáo này đem bản thân con người thay chothượng đế Như vậy họ đều xuất phát từ yếu tố tinh thần chứ không xất phát từ yếu tố vậtchất

Đến lượt C Mác ông phê phán một cách sâu sắc theo quan điểm duy vật quanniệm của Hêghen và Phơ Bách về sự tha hóa và cách khắc phục sự tha hoa đó Ôngkhẳng định rằng “tha hóa” đó là của lao động, của con người chứ không phải một lựclượng tinh thần nào khác Muốn xóa bỏ nguyên nhân con người bị tha hóa hãy xuất phát

Trang 9

từ chế độ tư hữu tư nhân về tư liệu sản xuất Thủ tiêu “lao động bị tha hóa” giành lại bảnchất người cho con người, phát triển mọi khả năng của mỗi cá nhân tư do đó chính là

“chủ nghĩa nhân đạo triệt để” Theo quan điểm của C Mác con người phát triển toàn diệnlà một mẫu mực lý tưởng về mặt triết học đối với C Mác đó là “hạt nhân lý tưởng củachủ nghĩa cộng sản”

Học thuyết về sự tha hóa và việc giành lại cho con người cái bản chất của mình làmột bước lớn trên con đường sáng taọ ra một thế giới quan mới hoàn chỉnh Ngoài ra ,C.Mác còn phê phán Hêghen cho rằng Hêghen không nhìn thấy hoạt động vật chất củacon người, ông đã thần bí hóa con người, đề cao hoat động tinh thần Con người trongtriết học Hêghen là con người hoạt động tinh thần còn con người trong triết học Mác làcon người hoạt động thực tiễn

1.3 Vai trò của sản xuất vật chất.

C Mác phê phán quan niệm về vai trò của lao động của A Smith và Đ Ricacdohọ cho rằng lao động tạo ra giá trị của hàng hóa, sản phẩm cho xã hội Còn C Mác chorằng lao động không những tạo ra giá trị hàng hóa mà còn cải biến chính con người làmcho tư duy phát triển Hoạt động của con người, hoạt động sản xuất vật chất là cơ sở nềntảng của sự tồn tại và phát triển của xã hội Như vậy ông đã chỉ ra được vai trò của sảnxuất vật chất đối với sự tồn tại và phát triển của xã hội

“Bản thảo kinh tế – triết học” tuy còn ảnh hưởn của chủ nghĩa duy vật nhân bảnPhơ Bách nhưng ông đã đề xuất được những nguyên lý cơ bản chủ nghĩa duy vật lịch sửvà nó sẽ tiếp tục được phát triển trong những tác phẩm sau

2 Tác phẩm “Gia đình thần thánh” hay phê phán sự “phê phán có tính chất phê phán” (C.Mác, Ph Ăngghen, 1845)

Trong thời gian C Mác sống ở Pari đã gặp được Ph Ăngghen, hai ông thấy cần phảilàm rõ quan điểm với phái Hêghen trẻ do Bruno – Bauer đứng đầu Mục đích viết tácphẩm nhằm phê phán chủ nghĩa duy tâm nói chung và phái Hêghen trẻ nói riêng vạch

Trang 10

trần tính chất duy tâm của phái này Trước kia C Mác va Ph Ăngghen từng tham giaphái này vì lúc đó họ là những lực lượng tiến bộ còn lúc này Hêgghen trẻ trở thành bộphận trí thức nhưng vô chinh phủ, tự đề cao mình không quan tâm đến giai cấp công nhânvà nhân dân lao động, rơi vào hữu khuynh, họ tuyên truyền một thứ phê phán đứng trênmọi hiện thực, đứng trên mọi chính đảng và chính trị, phủ nhân mọi hoạt động thực tiễnvà chỉ quan sát thế giới chung quanh những sự kiện diễn ra trên thế giới “với tinh thầnphê phán”, họ chứng minh rằng hoạt động của những nhà tư tưởng suất sắc là động lựcduy nhất của tiến bộ lịch sử Họ chủ trương cách mạng trên lĩnh vực ý thức, không nhữngthế họ còn phê phán C Mác và Ph Ăngghen không phê phán nhân dân, giai cấp côngnhân chính vì vậy mà C Mác và Ph Ăngghen đã viết tác phẩm này, để bóc trần tính chấtphản động của phái này. Tác phẩm trình bày những nguyên lí của chủ nghĩa duy vật

lịch sử bao gồm những vấn đề sau:

2.1

Vai trò của quần chúng nhân dân.

Bruno-Bauer đã phủ nhận vai trò của quần chúng nhân dân, đề cao vai trò phát triểnlịch sử thuộc về con người có óc phê phán, có tinh thần phê phán Họ phủ nhận tính chấtkhách quan của quy luật xã hội và ý nghĩa của hoạt động quần chúng nhân dân Ông chorằng quần chúng nhân dân chỉ là một “đám đông quần chúng không có tinh thần phêphán” không có “ý thức về mình” Như vậy Hêghen trẻ đã cho rằng quần chúng nhân dânlà lực lượng phi lý tính không có ý thức bản ngã, một đám đông hổ lốn, ngu muội cứ việcquần chúng nhân dân tham gia là thất bại, chúng hạ thấp vai trò của quần chúng nhândân trong lịch sử

C Mác đã phê phán rằng Hêgghen trẻ đã không nhìn thấy vai trò sáng tạo ra lịch sửcủa nhân dân bởi họ rơi vào tư tưởng hữu khuynh, để rồi C Mác đi đến khẳng định lịchsử từ trước đến nay mọi nhiệm vụ lịch sử đều do quần chúng nhân dân giải quyết, quầnchúng đấu tranh chống bọn bóc lột là nội dung chủ yếu của lịch sử, ví dụ như cách mạng

tư sản đánh đổ phong kiến vai trò to lớn nhất vẫn là quân chúng nhân dân là người tiếnhành hoạt động chính trị xã hội, là lực lượng chủ yếu trong hoạt động sản xuất vật chất

Trang 11

2.2 Sứ mệnh lịch sử giai cấp công nhân.

Phái Hêghen trẻ cho rằng giai cấp vô sản là một đám đông quần chúng không cónăng lực phê phán, coi vô sản và quần chúng nhân dân lao động là một “đám đông quầnchúng tối tăm”, không thể tiến hành hoạt động lịch sử độc lập Những lí luận và quanđiểm của phái có ảnh hưởng nghiêm trọng tới quá trình phát triển phong trào công nhân,

do vây hai ông đã bóc trần lí luận phản động đó

Quá trình nghiên cứu lí luận và thực tiễn, C Mác thấy chế độ tư hữu là mặt khẳngđịnh, giai cấp công nhân là mặt phủ định Giai cấp công nhân sẽ thực hiện sứ mệnh lịchsử thông qua cách mạng xã hội nhằm xóa bỏ chế độ tư hữu, xây dựng chế độ công hữu.Xóa bỏ tư hữu một cách triệt để là nhiệm vụ phải tự mình đứng lên giải phóng mình Giaicấp công nhân cũng như quần chúng nhân dân lao động là người sáng tạo ra của cải vậtchất tinh thần cho xã hội còn phái Hêgen trẻ không tìm được gì Một lần nữa C Mác và

Ph Ăngghen tiếp tục khẳng định vai trò của sản xuất vật chất

Cũng trong gia đình thần thánh hai ông đã chỉ ra lợi ích thống nhất giữa lợi ích củagiai cấp công nhân với các tầng lớp nhân dân lao động khác Giai cấp công nhân sẽ làngười tập hợp lực lượng tầng lớp khác để họ thực hiện sứ mệnh lịch sử của mình Tácphẩm đã nêu lên tư tưởng cho rằng giai cấp vô sản là kẻ đào mồ chôn chủ nghĩa tư bản.Quan điểm về sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân sẽ tiếp tục được các ông làm rõhơn trong quá trình phát triển và hoàn thiện triết học Mác

2.3 Mối quan hệ giữa cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng.

Trên cơ sở phê phán Bruno – Bauer khi họ cho rằng nhà nước là công cụ của phêphán, ở tác phẩm này ông chưa sử dụng khái niệm cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầngmà vẫn sử dụng khái niệm “ xã hội công dân” và “xã hội công dân” là cơ sở hình thànhnhà nước tức cở sở hạ tầng quyết định kiến trúc thượng tầng chứ không phải nhà nướcquyết định xã hội công dân như phái Hêgghen trẻ khẳng định

2.4 Tư tưởng về quan hệ sản xuất.

Trang 12

Ở tác phẩm này ông nói rằng: “để sản xuất tất yếu phải hình thành nên mối quan hệgiữa anh ta và người khác” tức là đã xuất hiện tư tưởng về quan hệ sản xuất Đây là nềntảng để ông tiếp tục phát triển quan hệ sản xuất trong bộ Tư Bản.

Tác phẩm này đánh dấu bước đoạn tuyệt với chủ nghĩa duy tâm nói chung và chủnghĩa duy tâm của phái Hêgen trẻ nói riêng, để đưa đến bước ngoặt có tính cách mạngtrong lịch sử triết học, là cơ sở nền tảng đầu tiên thể hiện thế giới quan mới của C Mácvà Ph Ăngghen, tuy nhiên ở đây chưa đụng chạm tới chủ nghĩa duy vật, chưa tập trungphê phán chủ nghĩa duy vật thế kỷ XVII- XVIII, chủ nghĩa Phơ Bách

3 Tác phẩm luận cương về Phơ Bách (C Mác viết 1845).

C Mác viết tác phẩm vào tháng 4/1845 tại Bỉ Tác phẩm bao gồm mười một luậnđề của C Mác về Phơ Bách lúc C Mác còn sống tác phẩm không được xuất bản sau khiông qua đời Ph Ăngghen công bố lần đầu tiên cùng với tác phẩm “ Lútvich- Phơbách vàsự cáo trung của triết học cổ điển Đức (1888) Tác phẩm được Ph Ăngghen đánh giá làmầm mống của một thế giới quan mới Đây là tác phẩm mà C Mác tập trung phê phánhạn chế của phép biện chứng duy tâm của Hêghen và chủ nghĩa duy vật cũ là ở chỗ nókhông có tính chất trực quan, không hiểu thực tiễn là nền tảng của nhận thức, không hiểutác dụng qua lại giữa người với tự nhiên, kể cả chủ nghĩa duy vật Phơ Bách Tác phẩmtrình bày một số nội dung trong đó có hai nội dung bàn về chủ nghĩa duy vật lịch sử làvấn đề con ngươi,bản chất con người và vấn đề tôn giáo

3.1 V ấn đề con người, bản chất con người.

Ông chỉ ra mặt hạn chế của chủ nghĩa duy vật cũ rằng: “Khuyết điểm chủ yếu củatoàn bộ chủ nghĩa duy vật trước kia, kể cả chủ nghĩa duy vật của Phơ Bách, là ở chỗ: Sựvật, hiện tượng chỉ được xem xét dưới hình thức khách quan hay dưới hình thức trựcquan chứ không được xét là hoạt động cảm tính của con người, là thực tiễn…”

Quan điểm của chủ nghĩa duy vật Phơ Bách về của con người là mặt tự nhiên, táchrời con người khỏi xã hội, quy bản chất con người vào những tính chất sinh vật học, chỉ

Trang 13

thấy quan hệ giữa người với tự nhiên mà không thấy quan hệ giữa người với nhau, ôngkhông thấy con người thực tiễn trên cơ sở đó C Mác phê phán Phơ Bách và khẳng định:Con người là sản phẩm của hoàn cảnh là chủ thể của hoàn cảnh, con người không chỉ cókhả năng biến đổi tự nhiên mà còn có khả năng biến đổi, hoàn thiện chính bản thân mình.Con người vừa có mặt tự nhiên vừa có mặt xã hội, trong đó mặt xã hội tức là hoạt độngthực tiễn khiến cho con ngươi cao hơn con vật.

Con người trong triết học Mác là con người thực tiễn, khác với con người sinh họctrong triết học Phơ Bách Khi C Mác xem xét con người thực tiễn, có nghĩa là con ngườingoài mặt tự nhiên còn có mặt xã hội C Mác đã nhấn mạnh mặt xã hội của con người đểtạo nên bản chất con người và đưa đến kết luận rằng: Con người mang bản chất xã hội.Ông nêu lên định nghĩa chứ danh của ông về bản chất con người “Bản chất con ngườikhông phải là cái trừu tượng vốn có của một cá nhân riêng biệt Trong tính hiện thực củanó bản chất con người là toàn bộ những quan hệ xã hội”, vì con người tồn tại được làtrong các quan hệ xã hội, và trong xã hội cụ thể chịu sự quy định của điều kiện kinh tế –xã hội đó, bản chất con người không phải là chung chung, trừu tượng

3.2 Vấn đề tôn giáo.

Trong tác phẩm C Mác đã chỉ ra công lao của Phơ Bách trong khi phê phán tôngiáo rằng: Phơ Bách đã kéo tôn giáo từ trên trời xuống dưới đất để phê phán.Ông đã thấymối quan hệ chặt chẽ giữa tôn giáo và chủ nghĩa duy tâm, rằng tôn giáo không phải làtình cảm bẩm sinh của con người, người ta đã tạo ra tôn giáo theo hình ảnh thần thánhcủa mình

C Mác đã phê phán Phơ Bách ở chỗ trong quan điểm về tôn giáo ông đã bộc lộmâu thuẫn, tính chất không triệt để Mâu thuẫn đó thể hiện ở chỗ một mặt ông khẳng địnhtôn giáo không phải là tình cảm bẩm sinh của con người, một măt ông lại lập luận rằngtình yêu là một thứ tình yêu đặc biệt được gọi là tình yêu tôn giáo Ông phê phán tôn giáonhư vậy lại càng làm cho tôn giáo thêm hoàn thiện, ông lấy tôn giáo làm cơ sở và căn cứđể phân biệt lịch sử

Trang 14

C Mác còn chỉ ra nguyên nhân dẫn đến hạn chế của Phơ Bách đó là: Ông khôngnhìn thấy nguyên nhân giai cấp khiến cho tôn giáo chia thế giới thành thế giới tinh thầnvà thế giới vật chất, ông không hiểu được rằng không thể thủ tiêu được tôn giáo nếukhông thủ tiêu sự bóc lột, sự bất bình đẳng xã hội mà phân chia giai cấp vốn có, khôngthấy mối quan hệ giữa tôn giáo với các hình thức xã hội, mối quan hệ giữa tôn giáo vớiviệc giải phóng con người Theo ông để giải quyết vấn đề con ngươi thì dùng tình yêu tôngiáo.

Với những tác phẩm trên tất cả những vấn đề về chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩaduy vật lịch sử đã thể hiện một thế giới quan khoa học Ông chỉ ra bản chất cách mạngcủa chủ nghĩa Mác: “Các nhà triết học trước kia chỉ biết giải thích thế giới bằng nhiềucách khác nhau, song vấn đề là ở chỗ cải tạo thế giới” Những nội dung còn thiếu sẽ được

bổ sung ở những tác phẩm sau

4 Tác phẩm “ hệ tư tưởng Đức” (C.Mác và Ph.Ăngghen viết 1845)

Vào mùa hè 1845, Phơ Bách viết bại báo tuyên bố mình là người cộng sản, cộngvới những người theo “chủ nghĩa xã hội chân chính” (trào lưu chủ nghĩa xã hội tiểu tưsản) và Bruno – Bauer đã viết nhiều bài báo chống lại chủ nghĩa cộng sản Trong lúc nàynhững người ủng hộ C Mác và Ph Ăngghen là thiểu số trong phong trào công nhân, cácphe phái đủ màu sắc của chủ nghĩa xã hội tiểu tư sản đang chiếm ưu thế Trước tình hìnhđó C.Mác và Ph.Ăngghen nhận thấy đã đến lúc cần phải chứng minh một cách khoa họcnhững cơ sở, hệ tư tưởng của giai cấp vô sản, và tuyên truyền hệ tư tưởng đó để tranh thủnhững người vô sản tiến về phía mình trong cuộc đấu tranh chống lại chủ nghĩa xã hộitiểu tư sản

Hệ tư tưởng Đức là tác phẩm luận chiến của C Mác và Ph Ăngghen chống lại chủnghĩa duy tâm của những người theo phái Hêghen trẻ và chủ nghĩa xã hội chân chính tiểu

tư sản Đức, là sự phát triển những tư tưởng cơ bản của tác phẩm “Bản thảo kinh tế- triếthọc”, “Luận cương về Phơ Bách”, lần đầu tiên một quan điểm tổng quát, một phát minhvĩ đại của C Mác ra đời nhận thức duy vật về lịch sử là cơ sở triết học trực tiếp của học

Ngày đăng: 25/06/2017, 15:45

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w