1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Xác định số lượng và cơ cấu đội tàu khai thác hải sản hợp lý vùng biển vịnh Bắc bộ

198 378 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 198
Dung lượng 6,61 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

MỞ ĐẦU 1. Lý do lự họn đề tài Với điều kiện tự nhiên thuận lợi, nghề cá khu vực vịnh Bắc Bộ trong những năm qua đã có những bƣớc phát triển mạnh trong sự phát triển chung của kinh tế - xã hội khu vực. Trong đó, lĩnh vực khai thác hải sản có vai trò rất quan trọng trong sự phát triển nghề cá. Khai thác hải sản đã tạo ra việc làm và thu nhập cho hàng triệu lao động, góp phần vào công cuộc xoá đói giảm nghèo cho đất nƣớc và bảo vệ an ninh chủ quyền trên các vùng biển. Trong những năm qua, khai thác hải sản ở vùng biển vịnh Bắc Bộ đã có những bƣớc phát triển khá mạnh, đƣợc thể hiện qua sự tăng trƣởng hàng năm về số lƣợng tàu thuyền, chất lƣợng tàu công suất máy tàu và sản lƣợng khai thác. Tuy nhiên, hiện trạng ngành khai thác hải sản ở vùng biển này đang phải đối mặt với những thách thức lớn nhƣ: nguồn lợi hải sản ven bờ đang bị khai thác quá mức cho phép, ngƣ cụ đánh bắt mang tính huỷ diệt vẫn đang tồn tại và phát triển, cơ cấu nghề nghiệp phân bố chƣa hợp lý, rủi ro cao trong quá trình lao động sản xuất trên biển, sự cạnh tranh giữa các tàu khai thác hải sản ngày càng khốc liệt nên hiệu quả hoạt động của các đội tàu ngày một suy giảm,… Trong khi đó nghề cá xa bờ đang gặp những khó khăn về trình độ khoa học công nghệ và ngƣ trƣờng khai thác, nên hiệu quả mang lại chƣa cao. Nguyên nhân chủ yếu của tình trạng trên là do chƣa kiểm soát đƣợc các hoạt động khai thác, chƣa có quy hoạch cụ thể cho các đội tàu tham gia khai thác tƣơng ứng với khả năng nguồn lợi, điều kiện kinh tế - xã hội nghề cá và quan trọng là chƣa xác định đƣợc cƣờng lực và sản lƣợng khai thác hợp lý cho các đội tàu ở từng vùng biển để đƣa ra đƣợc các giải pháp quản lý phù hợp. Để đảm bảo cho nghề cá nói chung và nghề khai thác hải sản nói riêng ở vùng biển vịnh Bắc Bộ phát triển một cách bền vững, cần thiết phải xác định đƣợc cƣờng lực và sản lƣợng khai thác của các đội tàu phù hợp với khả năng nguồn lợi. Việc xác định đƣợc cƣờng lực và sản lƣợng khai thác phù hợp sẽ là cơ sở khoa học giúp cho các nhà quản lý đƣa ra đƣợc những định hƣớng hoạt động nhằm đảm bảo cho nghề khai thác hải sản phát triển bền vững. Việc thực hiện đề tài luận án nghiên cứu X định số lƣ ng và ơ ấu đội tàu kh i th hải sản h p lý v ng iển vịnh Bắ Bộ sẽ đƣa ra đƣợc số lƣợng tàu và cơ cấu nghề hợp lý nhằm phát triển nghề cá vùng biển vịnh Bắc Bộ theo hƣớng bền vững. 2. Mụ tiêu ủ luận n Xác định đƣợc số lƣợng và cơ cấu đội tàu khai thác hải sản hợp lý ở vùng biển vịnh Bắc Bộ. 3. Đối tƣ ng nghiên ứu Các đội tàu của Việt Nam tham gia khai thác hải sản ở vùng biển vịnh Bắc Bộ. 4. Phạm vi nghiên ứu - Không gian: Toàn bộ vùng biển vịnh Bắc Bộ của Việt Nam (hình 2.1). - Thời gian: Các nguồn số liệu đƣợc thu thập trong giai đoạn từ 2007 - 2014. 5. Ý nghĩ kho họ và ý nghĩ thự tiễn ủ luận n 5.1. Ý nghĩa khoa học - Bổ sung nguồn dữ liệu nghiên cứu khoa học trong lĩnh vực khai thác thuỷ sản Việt Nam. - Bổ sung phƣơng pháp khoa học hiện đại để xác định sản lƣợng, cƣờng lực khai thác bền vững tối đa trong lĩnh vực khai thác thuỷ sản, phƣơng pháp xác định số lƣợng tàu thực tế hoạt động trong vùng biển nghiên cứu. 5.2. Ý nghĩa thực tiễn Đƣa ra đƣợc số lƣợng tàu thuyền và cơ cấu đội tàu khai thác hải sản hợp lý cho vùng biển vịnh Bắc Bộ làm cơ sở khoa học cho việc đƣa ra các quyết định, chính sách phù hợp cho việc điều chỉnh cơ cấu đội tàu cũng nhƣ các vấn đề khác liên quan đến nghề cá nhằm phát triển nghề cá một cách bền vững.

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG

NGUYỄN PHI TOÀN

XÁC ĐỊNH SỐ LƯỢNG VÀ CƠ CẤU ĐỘI TÀU

KHAI THÁC HẢI SẢN HỢP LÝ VÙNG BIỂN VỊNH BẮC BỘ

LUẬN ÁN TIẾN SĨ

KHÁNH HÒA - 2017

Trang 2

iii

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN i

LỜI CẢM ƠN ii

MỤC LỤC iii

DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU VÀ CHỮ VIẾT TẮT vii

DANH MỤC CÁC BẢNG viii

DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ VÀ ĐỒ THỊ x

TÓM TẮT NHỮNG ĐÓNG GÓP MỚI CỦA LUẬN ÁN xi

KEY FINDINGS xiii

MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 3

1.1 ĐẶC ĐIỂM TỰ NHIÊN VÙNG BIỂN VỊNH BẮC BỘ 3

1.1.1 Vị trí địa lý 3

1.1.2 Địa hình và phân chia tuyến biển 4

1.1.3 Đặc điểm thời tiết, khí hậu 5

1.2 NGUỒN LỢI HẢI SẢN Ở VỊNH BẮC BỘ 7

1.2.1 Nguồn lợi cá tầng đáy 8

1.2.2 Nguồn lợi cá nổi nhỏ 9

1.2.3 Nguồn lợi khác 9

1.2.4 Trữ lượng và khả năng khai thác 10

1.3 TỔNG QUAN CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU TRONG VÀ NGOÀI NƯỚC 10

1.3.1 Nghiên cứu ngoài nước 10

1.3.1.1 Nghiên cứu các giải pháp quản lý nghề cá: 12

1.3.1.2 Các nghiên cứu về cường lực và sản lượng khai thác bền vững tối đa 15

1.3.2 Các công trình nghiên cứu trong nước 17

1.3.2.1 Một số công trình nghiên cứu về lĩnh vực khai thác và quản lý nghề cá 18

1.3.2.2 Một số công trình nghiên cứu về sản lượng và cường lực khai thác bền vững tối đa 20

1.4 ĐÁNH GIÁ CHUNG CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU TRONG VÀ NGOÀI NƯỚC 30

1.4.1 Về phương pháp nghiên cứu 30

Trang 3

iv

1.4.2 Về nội dung và kết quả nghiên cứu 30

1.4.3 Những điểm kế thừa cho đề tài nghiên cứu 32

CHƯƠNG 2: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 35

2.1 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU 35

2.1.1 Đối tượng nghiên cứu 35

2.1.2 Phạm vi nghiên cứu 35

2.1.2.1 Phạm vi không gian: 35

2.1.2.2 Phạm vi thời gian: 36

2.2 NỘI DUNG NGHIÊN CỨU 36

2.3 PHƯƠNG PHÁP THU THẬP SỐ LIỆU 36

2.3.1 Thu thập số liệu về tàu thuyền tham gia khai thác hải sản ở vùng biển vịnh Bắc Bộ 36

2.3.2 Xác định số lượng phiếu điều tra 37

2.3.3 Điều tra thu thập bổ sung số liệu 38

2.3.3.1 Điều tra thứ cấp 38

2.3.3.2 Điều tra sơ cấp 38

2.4 PHƯƠNG PHÁP PHÂN TÍCH VÀ XỬ LÝ SỐ LIỆU 39

2.4.1 Đánh giá hiện trạng và trình độ công nghệ khai thác 39

2.4.2 Đánh giá hiện trạng kinh tế xã hội của cộng đồng ngư dân 41

2.4.3 Phương pháp xác định cường lực và sản lượng khai thác bền vững tối đa 42

2.4.3.1 Mô hình sản lượng thặng dư Schaefer và Fox 42

2.4.3.2 Điều kiện áp dụng mô hình Schaefer và mô hình Fox 43

2.4.3.3 Phương pháp ước tính cường lực khai thác 44

2.3.3.4 Phương pháp ước tính sản lượng khai thác 45

2.4.3.5 Chuẩn hóa cường lực khai thác: 46

2.5 PHƯƠNG PHÁP XỬ LÝ SỐ LIỆU 46

CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 47

3.1 HIỆN TRẠNG CÁC HOẠT ĐỘNG KHAI THÁC HẢI SẢN VÀ ĐIỀU KIỆN KINH TẾ - XÃ HỘI CỦA CỘNG ĐỒNG NGƯ DÂN VEN BIỂN KHU VỰC VỊNH BẮC BỘ 47

3.1.1 Hiện trạng tàu thuyền, trang thiết bị và ngư cụ trên tàu khai thác hải sản 47 3.1.1.1 Biến động cơ cấu tàu thuyền và nghề nghiệp khai thác hải sản giai đoạn 2007 -

Trang 4

v

2014 47

3.1.1.2 Hiện trạng cơ cấu tàu thuyền và nghề nghiệp khai thác hải sản 48

3.1.1.3 Kết cấu vỏ tàu 49

3.1.1.4 Máy tàu 50

3.1.1.5 Trang thiết bị hàng hải và khai thác khác 51

3.1.1.6 Ngư cụ 52

3.1.2 Hiện trạng trình độ công nghệ khai thác hải sản 55

3.1.2.1 Đặc trưng vật chất 55

3.1.2.2 Đặc trưng chất lượng sản phẩm 57

3.1.3 Hiệu quả kinh tế 59

3.1.3.1 Năng suất lao động và doanh lợi nghề khai thác hải sản 59

3.1.3.2 Hiệu quả kinh tế đội tàu khai thác hải sản 61

3.1.4 Một số vấn đề kinh tế - xã hội của cộng đồng ngư dân ven biển khu vực vịnh Bắc Bộ 63

3.1.4.1 Lao động 63

3.1.4.2 Cơ cấu độ tuổi và trình độ học vấn của lao động trên tàu khai thác hải sản 64

3.1.4.3 Kinh tế hộ gia đình 66

3.1.5 Nhận xét 68

3.2 XÁC ĐỊNH CƯỜNG LỰC VÀ SẢN LƯỢNG KHAI THÁC BỀN VỮNG TỐI ĐA CHO VÙNG BIỂN VỊNH BẮC BỘ 69

3.2.1 Thực trạng cơ cấu đội tàu tham gia khai thác hải sản ở vùng biển vịnh Bắc Bộ 69

3.2.2 Số ngày hoạt động tiềm năng 71

3.2.3 Hệ số hoạt động của các đội tàu 72

3.2.4 Năng suất và sản lượng khai thác của các đội tàu ở vùng biển vịnh Bắc Bộ 72

3.2.4.1 Năng suất khai thác trung bình theo ngày 72

3.2.4.2 Tổng sản lượng khai thác của các đội tàu 73

3.2.4.3 Năng suất khai thác trung bình năm của các đội tàu 75

3.2.5 Xác định sản lượng và cường lực khai thác bền vững tối đa 76

3.2.5.1 Chuẩn hóa cường lực khai thác 76

3.2.5.2 Sản lượng và cường lực khai thác bền vững tối đa theo mô hình Schaefer 79

3.2.5.3 Sản lượng và cường lực khai thác bền vững tối đa theo mô hình Fox 82

Trang 5

vi

3.2.5.4 Xác định cường lực và sản lượng khai thác bền vững cho vùng biển vịnh Bắc

Bộ 85

3.3 XÁC ĐỊNH SỐ LƯỢNG TÀU THUYỀN VÀ CƠ CẤU NGHỀ NGHIỆP KHAI THÁC HẢI SẢN HỢP LÝ Ở VÙNG BIỂN VỊNH BẮC BỘ 88

3.3.1 Quan điểm 88

3.3.2 Căn cứ 89

3.3.3 Tác động của các thể chế chính sách đến hoạt động khai thác hải sản 90

3.3.4 Thuận lợi và khó khăn trong quản lý hoạt động khai thác hải sản 92

3.3.5 Xác định số lượng tàu thuyền và cơ cấu nghề nghiệp hợp lý 98

3.3.5.1 Điều chỉnh lại cơ cấu nghề khai thác cho vùng biển vịnh Bắc Bộ 100

3.3.5.2 Điều chỉnh, cơ cấu lại các nghề khai thác cho các địa phương 106

3.4 ĐỀ XUẤT MỘT SỐ GIẢI PHÁP QUẢN LÝ CƯỜNG LỰC KHAI THÁC Ở VÙNG BIỂN VỊNH BẮC BỘ 108

3.4.1 Quản lý dựa trên cường lực khai thác bền vững tối đa 108

3.4.2 Quản lý cường lực khai thác theo không gian và thời gian 109

3.4.3 Mở rộng ngư trường khai thác 110

3.4.4 Hỗ trợ chuyển đổi nghề, chuyển đổi ngư cụ đánh bắt 111

3.4.5 Quản lý nghề cá dựa trên tiếp cận hệ sinh thái 111

3.4.6 Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, giáo dục 112

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 114

1 Kết luận 114

2 Kiến nghị 115

CÔNG TRÌNH TÁC GIẢ ĐÃ CÔNG BỐ 117

TÀI LIỆU THAM KHẢO 119

PHỤ LỤC 123

Trang 6

vii

DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU VÀ CHỮ VIẾT TẮT

ASEAN Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á

ALMRV Dự án đánh giá nguồn lợi sinh vật biển Việt Nam

BNN Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn

DANIDA Cơ quan phát triển quốc tế Đan Mạch

FAO Tổ chức Nông, lương thế giới

FMSY Cường lực khai thác bền vững tối đa

GRT Tổng trọng tải

ICCAT Ủy ban quốc tế bảo vệ cá ngừ Đại Tây Dương

KT&BVNL Khai thác và bảo vệ nguồn lợi thủy sản

KTHS Khai thác hải sản

MSY Sản lượng khai thác bền vững tối đa

NN&PTNT Nông nghiệp và Phát triển nông thôn

NSKT Năng suất khai thác

Trang 7

viii

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 1.1: Trữ lượng và khả năng khai thác nguồn lợi HS ở khu vực vịnh Bắc Bộ 10

Bảng 1.2: Diễn biến tổng sản lượng khai thác và nuôi trồng thủy sản qua các năm 11

Bảng 1.3: Sản lượng khai thác thủy sản của các châu lục 11

Bảng 3.1: Kết cấu vỏ tàu của các đội tàu khai thác 49

Bảng 3.2: Hiện trạng trang bị máy thủy trên tàu khai thác hải sản 51

Bảng 3.3: Tỷ lệ trang bị các trang thiết bị hàng hải và khai thác trên các đội tàu 52

Bảng 3.4: Một số thông số cơ bản của vàng lưới kéo 52

Bảng 3.5: Một số thông số cơ bản của vàng lưới vây 53

Bảng 3.6: Một số thông số cơ bản của vàng lưới rê 53

Bảng 3.7: Một số thông số cơ bản của vàng câu 54

Bảng 3.8: Một số thông số cơ bản của vàng lưới chụp 54

Bảng 3.9: Một số thông số cơ bản của vàng lưới đáy 55

Bảng 3.10: Đặc trưng các yếu tố vật chất 55

Bảng 3.11: Đặc trưng chất lượng sản phẩm của các nghề theo nhóm công suất 57

Bảng 3.12: Đặc trưng hiệu quả kinh tế của các nghề khai thác 59

Bảng 3.13: Vốn đầu tư, doanh thu, chi phí và lợi nhuận của các đội tàu KTHS 62

Bảng 3.14: Lao động khai thác thủy sản giai đoạn 2007-2013 63

Bảng 3.15: Lao động trung bình trên tàu nghề khai thác hải sản 63

Bảng 3.16: Cấu trúc tuổi thuyền viên trên tàu khai thác hải sản 64

Bảng 3.17: Trình độ học vấn của thuyền viên 65

Bảng 3.18: Loại tài sản, giá trị tài sản hộ gia đình khai thác hải sản 66

Bảng 3.19: Thu nhập và chi tiêu trung bình của hộ gia đình khai thác hải sản 67

Bảng 3.20: Thực trạng cơ cấu đội tàu khai thác hải sản giai đoạn 2007-2014 70

Bảng 3.21: Số ngày hoạt động tiềm năng của các đội tàu giai đoạn 2007 - 2014 71

Bảng 3.22: Hệ số hoạt động của các đội tàu trong giai đoạn 2007 - 2014 72

Bảng 3.23: NSKT các đội tàu khai thác hải sản giai đoạn 2007 - 2014 72

Bảng 3.24: Tổng sản lượng ước tính cho từng đội tàu giai đoạn 2007 - 2014 74

Bảng 3.25: NSKT bình quân của 1 tàu/năm giai đoạn 2007-2014 75

Bảng 3.26: Danh sách các đội tàu chuẩn theo nghề 76

Bảng 3.27: Cường lực khai thác của các nghề theo đội tàu chuẩn 77

Trang 8

ix

Bảng 3.28: Cường lực và sản lượng khai thác bền vững tối đa theo mô hình Schaefer 81Bảng 3.29: Cường lực và sản lượng khai thác bền vững tối đa theo mô hình Fox 84Bảng 3.30: Cường lực và sản lượng khai thác bền vững tối đa theo các đội tàu chuẩn 85Bảng 3.31: Cường lực và sản lượng khai thác khai thác bền vững tối đa ở vùng biển vịnh Bắc Bộ theo các đội tàu thực 87Bảng 3.32: Cường lực và sản lượng khai thác phù hợp ở vùng biển vịnh Bắc Bộ 104Bảng 3.33: Điều chỉnh cơ cấu đội tàu, nghề nghiệp khai thác hải sản 105Bảng 3.34: Cường lực và sản lượng khai thác phù hợp của các tỉnh theo nhóm công suất máy tàu 107Bảng 3.35: Cường lực và sản lượng khai thác phù hợp của các tỉnh theo nhóm nghề 107

Trang 9

x

DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ VÀ ĐỒ THỊ

Hình 1.1: Vùng biển vịnh Bắc Bộ 3

Hình 1.2 Sơ đồ phân chia các tuyến biển vịnh Bắc Bộ 5

Hình 2.1: Phạm vi nghiên cứu 35

Hình 3.1: Biến động tàu thuyền theo nhóm nghề giai đoạn 2007-2014 47

Hình 3.2: Cơ cấu tàu thuyền theo nhóm công suất máy năm 2014 49

Hình 3.3: Cơ cấu tàu thuyền theo nhóm nghề năm 2014 49

Hình 3.4: Tỷ lệ chất lượng sản phẩm của các nghề 58

Hình 3.5: Năng suất lao động trung bình 1 tàu/năm của các nghề khai thác 61

Hình 3.6: Doanh lợi trung bình 1 tàu/năm của các nghề khai thác 61

Hình 3.7: Cơ cấu độ tuổi thuyền viên trung bình trên tàu KTHS 65

Hình 3.8: Trình độ học vấn của thuyền viên trên tàu khai thác hải sản 66

Hình 3.9: Đồ thị hồi quy sản lượng và cường lực khai thác đội tàu lưới kéo theo mô hình Schaefer 79

Hình 3.10: Đồ thị hồi quy sản lượng và cường lực khai thác đội tàu lưới vây theo mô hình Schaefer 80

Hình 3.11: Đồ thị hồi quy sản lượng và cường lực khai thác đội tàu lưới rê theo mô hình Schaefer 80

Hình 3.12: Đồ thị hồi quy sản lượng và cường lực khai thác đội tàu câu theo mô hình Schaefer 81

Hình 3.13: Đồ thị hồi quy sản lượng và cường lực khai thác đội tàu nghề khác theo mô hình Schaefer 81

Hình 3.14: Đồ thị hồi quy sản lượng và cường lực khai thác đội tàu lưới kéo theo mô hình Fox 82

Hình 3.15: Đồ thị hồi quy sản lượng và cường lực khai thác đội tàu lưới vây theo mô hình Fox 83

Hình 3.16: Đồ thị hồi quy sản lượng và cường lực khai thác đội tàu lưới rê theo mô hình Fox 83

Hình 3.17: Đồ thị hồi quy sản lượng và cường lực khai thác đội tàu câu theo mô hình Fox 84

Hình 3.18: Đồ thị hồi quy sản lượng và cường lực khai thác đội tàu nghề khác theo mô hình Fox 84

Trang 10

xi

TÓM TẮT NHỮNG ĐÓNG GÓP MỚI CỦA LUẬN ÁN

Đề tài luận n: Xác định số lượng và cơ cấu đội tàu khai thác hải sản hợp

2 Luận án đã sử dụng phương pháp nghiên cứu hiện đại để tính toán, xác định cường lực và sản lượng khai thác bền vững tối đa chi tiết cho từng nhóm công suất máy tàu và theo từng nghề cụ thể dựa trên kết quả phân tích của chuỗi số liệu trong thời gian khá dài, đảm bảo tính chính xác và tin cậy cao

3 Luận án đã phân tích, đánh giá khá đầy đủ và chi tiết các yếu tố tác động đến hoạt động của nghề cá khu vực vịnh Bắc Bộ, từ đó đã đưa ra được cơ cấu tàu thuyền hợp lý cho toàn vùng biển và các địa phương ven biển khu vực vịnh Bắc Bộ

4 Luận án đã đề xuất sáu nhóm giải pháp nhằm quản lý và phát triển nghề cá ở khu vực vịnh Bắc Bộ theo hướng bền vững, gồm:

- Giải pháp 1: Quản lý dựa trên cường lực khai thác bền vững tối đa

- Giải pháp 2: Quản lý cường lực khai thác theo không gian và thời gian

Trang 11

xii

- Giải pháp 3: Mở rộng ngư trường khai thác

- Giải pháp 4: Hỗ trợ chuyển đổi nghề, ngư cụ đánh bắt

- Giải pháp 5: Quản lý nghề cá dựa trên tiếp cận hệ sinh thái

- Giải pháp 6: Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, giáo dục

Trang 12

xiii

KEY FINDINGS

Thesis title: Estimation of number of fishing boats and fishing fleets for sustainable

fishing in the Tonkin Gulf

Major: Fishing Technology

Major code: 62620304

Ph.D student: Nguyen Phi Toan

Consultants: 1 Dr Hoang Hoa Hong

2 The thesis applied modern methodologies for estimation of maximum sustainable yield and fishing effort for each group of boat power and fishing gears based on analysis data chain during long time that ensured high accurate and confident

3 The thesis analyzed and assesed rather completedly in detail of elements, which had influences to activities of fisheries in the Gulf of Tonkin Thus, the thesis estimated suitable numbers and structure of fishing boats and gears for whole region and locals surrounding the Gulf

4 At the same time, the thesis pointed out six groups of solutions in order to manage and develop sustainably fisheries in the Gulf of Tonkin, including:

- Solution 1: Management based on maximum sustainable yield

- Solution 2: Management of fishing based on space and time

- Solution 3: Enlargement of fishing field

Trang 13

xiv

- Solution 4: Support for changing fishing gears and job

- Solution 5: Ecosystem Based Fisheries Management

- Solution 6: Strengthen propagada and education planning

Ph.D Student

Nguyen Phi Toan

Trang 14

MỞ ĐẦU

1 Lý do lự họn đề tài

Với điều kiện tự nhiên thuận lợi, nghề cá khu vực vịnh Bắc Bộ trong những năm qua đã có những bước phát triển mạnh trong sự phát triển chung của kinh tế - xã hội khu vực Trong đó, lĩnh vực khai thác hải sản có vai trò rất quan trọng trong sự phát triển nghề cá Khai thác hải sản đã tạo ra việc làm và thu nhập cho hàng triệu lao động, góp phần vào công cuộc xoá đói giảm nghèo cho đất nước và bảo vệ an ninh chủ quyền trên các vùng biển

Trong những năm qua, khai thác hải sản ở vùng biển vịnh Bắc Bộ đã có những bước phát triển khá mạnh, được thể hiện qua sự tăng trưởng hàng năm về số lượng tàu thuyền, chất lượng tàu công suất máy tàu và sản lượng khai thác Tuy nhiên, hiện trạng ngành khai thác hải sản ở vùng biển này đang phải đối mặt với những thách thức lớn như: nguồn lợi hải sản ven bờ đang bị khai thác quá mức cho phép, ngư cụ đánh bắt mang tính huỷ diệt vẫn đang tồn tại và phát triển, cơ cấu nghề nghiệp phân bố chưa hợp lý, rủi ro cao trong quá trình lao động sản xuất trên biển, sự cạnh tranh giữa các tàu khai thác hải sản ngày càng khốc liệt nên hiệu quả hoạt động của các đội tàu ngày một suy giảm,… Trong khi đó nghề cá xa bờ đang gặp những khó khăn về trình độ khoa học công nghệ và ngư trường khai thác, nên hiệu quả mang lại chưa cao

Nguyên nhân chủ yếu của tình trạng trên là do chưa kiểm soát được các hoạt động khai thác, chưa có quy hoạch cụ thể cho các đội tàu tham gia khai thác tương ứng với khả năng nguồn lợi, điều kiện kinh tế - xã hội nghề cá và quan trọng là chưa xác định được cường lực và sản lượng khai thác hợp lý cho các đội tàu ở từng vùng biển

để đưa ra được các giải pháp quản lý phù hợp

Để đảm bảo cho nghề cá nói chung và nghề khai thác hải sản nói riêng ở vùng biển vịnh Bắc Bộ phát triển một cách bền vững, cần thiết phải xác định được cường lực và sản lượng khai thác của các đội tàu phù hợp với khả năng nguồn lợi Việc xác định được cường lực và sản lượng khai thác phù hợp sẽ là cơ sở khoa học giúp cho các nhà quản lý đưa ra được những định hướng hoạt động nhằm đảm bảo cho nghề khai thác hải sản phát triển bền vững

Việc thực hiện đề tài luận án nghiên cứu X định số lư ng và ơ ấu đội tàu

kh i th hải sản h p lý v ng iển vịnh Bắ Bộ sẽ đưa ra được số lượng tàu và cơ

cấu nghề hợp lý nhằm phát triển nghề cá vùng biển vịnh Bắc Bộ theo hướng bền vững

Trang 15

2 Mụ tiêu ủ luận n

Xác định đƣợc số lƣợng và cơ cấu đội tàu khai thác hải sản hợp lý ở vùng biển vịnh Bắc Bộ

3 Đối tƣ ng nghiên ứu

Các đội tàu của Việt Nam tham gia khai thác hải sản ở vùng biển vịnh Bắc Bộ

4 Phạm vi nghiên ứu

- Không gian: Toàn bộ vùng biển vịnh Bắc Bộ của Việt Nam (hình 2.1)

- Thời gian: Các nguồn số liệu đƣợc thu thập trong giai đoạn từ 2007 - 2014

5 Ý nghĩ kho họ và ý nghĩ thự tiễn ủ luận n

5.2 Ý nghĩa thực tiễn

Đƣa ra đƣợc số lƣợng tàu thuyền và cơ cấu đội tàu khai thác hải sản hợp lý cho vùng biển vịnh Bắc Bộ làm cơ sở khoa học cho việc đƣa ra các quyết định, chính sách phù hợp cho việc điều chỉnh cơ cấu đội tàu cũng nhƣ các vấn đề khác liên quan đến nghề cá nhằm phát triển nghề cá một cách bền vững

Trang 16

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

1.1 ĐẶC ĐIỂM TỰ NHIÊN VÙNG BIỂN VỊNH BẮC BỘ

1.1.1 Vị trí đị lý

Vùng biển vịnh Bắc Bộ có tọa độ từ 17000’N đến 21040’N và 105040’E đến

109040’E với diện tích khoảng 126.250 km2 Chiều ngang rộng nhất của vịnh khoảng

310 km, nơi hẹp nhất là cửa vịnh rộng khoảng 220 km

Vịnh Bắc Bộ là một vịnh biển khá kín, xung quanh là đất liền và đảo lớn bao bọc Phía Đông giáp đảo Hải Nam, phía Bắc giáp bờ biển Trung Quốc; phía Tây Bắc, Tây và Tây Nam là bờ biển Việt Nam Theo Hiệp định phân định vịnh Bắc Bộ mới nhất giữa Việt Nam - Trung Quốc vào năm 2000, giới hạn vịnh Bắc Bộ là toàn bộ vùng nước trong vịnh đến cửa vịnh là đường nối từ đảo Cồn Cỏ (Việt Nam) tới mũi Oanh Ca (đảo Hải Nam, Trung Quốc) Diện tích vịnh thuộc vùng biển của Việt Nam chiếm khoảng 53,3% và của Trung Quốc chiếm khoảng 46,7% diện tích toàn vịnh [28], [30]

Nguồn: Google map

Hình 1.1: Vùng biển vịnh Bắc Bộ

Phần vịnh phía Việt Nam là vùng biển khá nông, đáy biển tương đối bằng phẳng với rất nhiều các đảo lớn, nhỏ, đặc biệt có đảo Bạch Long Vĩ, nằm cách đất liền nước ta khoảng 110 km, cách đảo Hải Nam Trung Quốc khoảng 130 km Nền đáy vịnh Bắc Bộ khá bằng phẳng, có hình lòng chảo, độ dốc đáy nhỏ và hơi chúc về phía cửa vịnh, trong đó ở phần phía bắc và phía tây vịnh có độ dốc nhỏ, ở phía đông và phía

Trang 17

nam lớn hơn Độ sâu vịnh Bắc Bộ khá thấp, trung bình khoảng 50 m, nơi sâu nhất của vịnh đạt 107 m Diện tích đáy biển phân theo dải độ sâu không đều: < 20m là 26.080

km2 (20%); 20-50m là 58.630 km2 (46%); 50 - 100 m là 42.840 km2 (34%); giữa vịnh lệch về phía đông có một rãnh sâu (70 - 80 m) chạy kéo dài lên gần phía bắc vịnh Sự trao đổi nước với biển Đông thông qua rãnh này đã làm cho nhiệt độ nước tầng đáy trong vịnh không xuống dưới 17,00C ở phía bắc và 23 - 24,00C ở phía nam [28], [30]

1.1.2 Đị hình và phân hi tu ến iển

+ Địa hình [28], [30]

Địa hình đáy biển khu vực vịnh Bắc Bộ khá đa dạng và phức tạp với nhiều đảo lớn, nhỏ phân bố rải rác trong toàn vịnh Khu vực này có 02 vịnh kín là vịnh Hạ Long

và vịnh Bái Tử Long Cạnh đó, khu vực này còn chịu tác động của hàng chục con sông

đổ ra biển nên đã tạo nên hệ sinh thái rất độc đáo, phức tạp và giàu có về tài nguyên thiên nhiên

Dọc bờ biển vịnh Bắc Bộ có thể chia ra 3 khu vực đặc trưng:

Khu vực 1: Từ Quảng Ninh đến Thái Bình:

Bờ biển chạy theo hướng Đông Bắc - Tây Nam, phân bố nhiều đảo, ít bãi ngang, nhiều cửa sông và luồng lạch Đường đẳng sâu 30m cách bờ có nơi tới 40 hải

Khu vực 2: Từ Nam Định đến Nghệ An:

Đây là vùng biển nông, ít luồng lạch, có nhiều bãi ngang và chịu ảnh hưởng trực tiếp của hai hệ thống gió mùa Đông Bắc và Tây Nam

Khu vực 3: Từ Hà Tĩnh đến Vĩnh Linh

Là vùng biển có độ sâu lớn hơn các vùng còn lại Độ dốc đáy biển lớn, có nhiều cửa sông và bãi ngang phân bố

+ Phân chia tuyến biển

Theo Nghị định 33, vùng biển vịnh Bắc Bộ được phân thành các tuyến biển như sau [7]:

a) Vùng biển ven bờ: được giới hạn bởi mép nước biển tại bờ biển và tuyến bờ; b) Vùng lộng: là vùng biển được giới hạn bởi tuyến bờ và tuyến lộng;

c) Vùng khơi: là vùng biển được giới hạn bởi tuyến lộng và ranh giới phía ngoài của vùng đặc quyền kinh tế của vùng biển Việt Nam (Hình 1.2)

Trang 18

hòn Mát hòn Mê

BảnTrà

BảnTrà

BảnTrà

BảnTrà

BảnTrà

BảnTrà

Bản

Trà

Bản

20m Móng Cái

10

O

7 6

1 9 4

4

7

1 4

1 0 9

2 1 8 2

7-7' 8-8'

107° 07'

2-2' 1-1' 21° 17'

t t

Vĩ độ

Cách bờ 6 hlý

105° 53' 18° 47' 106° 36' 18° 02' 107° 04' 17° 14'

19° 56'

20° 20' 20° 20'

19° 39' 18° 54' 18° 14' 17° 25'

Vĩ độ

19° 48'

20° 38' 106° 44' 20° 33' 106° 42' 20° 09' 106° 04'

Kinh độ

108° 08'

T ọ a đ ộ đ i ể m

107° 17' 106° 59' 106° 56' 106° 22' 106° 12' 106° 51' 107° 20'

Kinh độ

Cách bờ 24 hlý

2 3

4 5

6

7

8 8' 7' 6'

5'

4'

1'

Hỡnh 1.2 Sơ đồ phõn chia cỏc tuyến biển vịnh Bắc Bộ

1.1.3 Đặ điểm thời tiết, khớ hậu

+ Nhiệt độ [28], [30]

Nhiệt độ khụng khớ trung bỡnh hàng năm ở khu vực ven bờ thường lớn hơn

220C Nhiệt độ mựa hố đạt trung bỡnh từ 27-290C, mựa đụng đạt trung bỡnh từ 15-170

C Nhiệt độ tầng mặt nước biển ở khu vực này cũng cú xu hướng thay đổi theo thời gian Nhiệt độ thấp nhất vào thỏng 2 hàng năm đạt khoảng 19,50C và cao nhất vào khoảng thỏng 8, đạt trung bỡnh 29,50C Nhiệt độ tầng đỏy cũng cú xu thế biến đổi tương tự, thấp nhất vào thỏng 2 (khoảng 160C) và cao nhất vào thỏng 8 (khoảng 270C)

Do cú sự chờnh lệch khỏ lớn về nhiệt độ nước biển giữa mựa đụng và mựa hố nờn nghề cỏ khu vực vịnh Bắc Bộ cú thay đổi rừ rệt theo mựa giú

- Vụ Bắc (từ thỏng 11 đến thỏng 4 năm sau): Cỏc đàn cỏ cú xu hướng di chuyển

ra xa bờ và di chuyển xuống tầng nước sõu nờn thuận lợi cho cỏc hoạt động đỏnh bắt

cỏ sống gần đỏy và xa bờ

Trang 19

- Vụ Nam (từ tháng 4 đến tháng 10): Thời điểm này các đàn cá nổi thường di cư vào các vùng nước ven bờ để sinh sản và kiếm ăn nên thuận lợi cho việc khai thác cá nổi và gần bờ

+ Mưa, bão [28, 30]:

Tùy theo từng vùng biển mà thời gian và lượng mưa hàng năm phân bố có sự khác nhau Vùng biển phía Bắc vịnh Bắc Bộ (từ Quảng Ninh đến Thanh Hoá), mùa mưa bắt đầu từ tháng 5 và kết thúc vào tháng 10, lượng mưa trung bình khoảng 1.800 - 2.000 mm với số ngày mưa trong năm khoảng 140-150 ngày Vùng biển từ Nghệ An đến Quảng Bình mùa mưa bắt đầu từ tháng 8 và kết thúc vào tháng 12 đến tháng 1 năm sau, lượng mưa trung bình khoảng 2.200 - 2.400 mm và số ngày mưa trong năm khoảng 140-145 ngày

Vùng biển khơi vịnh Bắc Bộ, tổng lượng mưa trung bình trong năm vào khoảng 1.500 - 1.800 mm, số ngày mưa cả năm từ 100 - 120 ngày Mùa mưa thường diễn ra trong khoảng thời gian từ tháng 6 đến tháng 9 hàng năm với tổng lượng mưa khoảng 1.000 - 1.500 mm, chiếm khoảng 2/3 tổng lượng mưa trong năm Trong mùa mưa, mỗi tháng có từ 12-15 ngày mưa, lượng mưa trung bình 200-250 mm/tháng

Vùng biển vịnh Bắc Bộ thường chịu tác động của bão trong khoảng thời gian từ tháng 5 đến tháng 11 và tập trung vào tháng 7, 8, 9 Bão và áp thấp nhiệt đới tác động đến vùng biển này đều hình thành từ biển Đông và Thái Bình Dương Kết quả thống

kê cho thấy trong hơn 120 cơn bão và áp thấp nhiệt đới đổ vào miền Bắc trong 40 năm gần đây có 32 cơn đổ bộ vào Hải Phòng, Quảng Ninh (chiếm 24,1%) và 65 cơn đổ bộ vào Thanh Hoá, Nghệ An, Hà Tĩnh (chiếm 51,4%)

+ Chế độ gió mùa [28], [30]:

Khu vực này chịu ảnh hưởng khá mạnh của các đợt gió mùa đông bắc kéo dài

từ tháng 10 đến tháng 3 năm sau Mỗi đợt gió mùa thường kéo dài từ 5-7 ngày, gây ra biển động, sóng lớn, ảnh hưởng đến các hoạt động khai thác hải sản Thời kỳ giao thoa giữa hai mùa gió, biển êm, thuận lợi cho nghề khai thác hoạt động nhưng trong thời kỳ này trên biển cũng thường xuất hiện những cơn giông cục bộ gây ra gió mạnh, gió xoáy, rất nguy hiểm cho tàu đánh cá

+ Hải lưu [28], [30]:

Do chịu ảnh hưởng của gió mùa nên dòng hải lưu vùng biển vịnh Bắc Bộ cũng

có sự thay đổi theo mùa rõ rệt

Trang 20

Mùa đông, hướng dòng chảy là ngược chiều kim đồng hồ, được hình thành do nước biển phía Nam chảy theo cửa vịnh men theo bờ tây đảo Hải Nam lên phía Bắc, cùng nhập với dòng nước từ biển Đông chảy qua eo biển Quỳnh Châu vào vịnh, sau đó chảy men theo bờ tây xuống phía nam và ra ngoài vịnh Vùng ven bờ dòng chảy có hướng Đông Bắc - Tây Nam, vùng khơi ngang Hải Phòng có bộ phận nước tách ra chảy theo hướng Bắc - Nam rồi sang Đông - Nam sau đó chảy quanh đảo Bạch Long

Vĩ tạo nên vùng nước trồi, là ngư trường lớn trong mùa này

Mùa hạ dòng hải lưu hầu như chảy ngược lại với mùa đông, theo chiều kim đồng hồ Việc dòng hải lưu chạy theo chiều kim đồng hồ là do dòng nước chảy vào vịnh men theo bờ Tây vịnh chảy lên phía Bắc và quay theo bờ tây đảo Hải Nam rồi chảy ra khỏi vịnh

Mùa xuân, nước từ biển phía Nam chảy qua cửa vịnh phân làm hai nhánh: một nhánh đâm thẳng vào bờ tây vịnh khu vực Nam Định - Thanh Hoá, nhánh kia men theo bờ tây đảo Hải Nam chảy lên phía bắc và cùng nhập với dòng nước từ biển Đông qua eo Quỳnh Châu Dòng này lại chia làm hai nhánh, một nhánh men theo bờ Tây chảy xuống phía Nam và ra khỏi vịnh, nhánh thứ hai chảy theo phía Đông hình thành một dòng chảy vòng ngược chiều kim đồng hồ ở phía Bắc vịnh

Mùa thu, nước từ biển phía Nam chảy vào vịnh lên phía Bắc, gần như song song với bờ tây đảo Hải Nam, sau đó nhập với dòng nước từ biển Đông và tiếp tục chảy lên phía Bắc rồi chuyển hướng chảy về phía Nam đến vĩ độ 19000’N tách ra một nhánh chảy theo hướng Đông hình thành một dòng nước chảy vòng ngược chiều kim đồng hồ

1.2 NGUỒN LỢI HẢI SẢN Ở VỊNH BẮC BỘ

Các kết quả nghiên cứu [30] cho thấy: Thành phần các đối tượng hải sản ở vịnh Bắc Bộ vừa mang tính chất của vùng biển nhiệt đới vừa mang tính chất vùng biển ôn đới Các loài hải sản chủ yếu của vịnh Bắc Bộ được phân bố rộng rãi trong toàn khu vực Ấn Độ - Tây Thái Bình Dương và phần lớn là các đối tượng cá tầng mặt và cá gần đáy Có thể nhận thấy rằng do độ sâu của vịnh nhỏ, nên những đối tượng hải sản thường có xu hướng di chuyển và phân bố lẫn lộn giữa các tầng nước, loài cá nổi thường gặp ở đáy và cá sống ở tầng đáy di chuyển lên những tầng nước cao hơn

Kết quả nghiên cứu về nguồn lợi hải sản vùng biển vịnh Bắc Bộ giai đoạn 2001

- 2005 cho thấy:

Trang 21

1.2.1 Nguồn l i tầng đ

Vùng biển vịnh Bắc Bộ là một trong những khu vực có tính đa dạng sinh học cao [18] Kết quả nghiên cứu trong giai đoạn từ năm 2001 đến năm 2005 đã bắt gặp tổng số 538 loài hải sản thuộc 117 họ khác nhau Số lượng họ/loài hải sản bắt gặp ở các chuyến điều tra khác nhau, dao động trong khoảng 211-297 loài và 84-93 họ đối với các chuyến điều tra sử dụng lưới kéo đáy và 58-75 họ, 108-185 loài đối với khảo sát bằng phương pháp thủy âm sử dụng luân phiên lưới kéo đáy và lưới kéo trung tầng

+ Thành phần sản lượng và năng suất đánh bắt [18]

Năng suất đánh bắt các loài hải sản ở vịnh Bắc Bộ có sự biến động mạnh theo dải độ sâu và theo thời gian Kết quả khảo sát bằng lưới kéo đáy từ năm 2001 đến

2005 cho thấy, năng suất đánh bắt có xu hướng tăng dần theo độ sâu của vùng biển Năng suất đánh bắt thấp nhất ở dải độ sâu dưới 20 m nước và cao nhất ở dải độ sâu 50

- 100 m nước Ở dải độ sâu 20 - 30 m nước và 30 - 50 m nước, năng suất đánh bắt có

sự biến động nhất định, khi năng suất đánh bắt ở dải độ sâu 20 - 30m nước tăng lên thì năng suất đánh bắt ở dải độ sâu 30 - 50m nước giảm xuống

Năng suất đánh bắt trung bình chung cho toàn vùng biển biến động mạnh theo thời gian, tuy nhiên không thể hiện rõ xu hướng tăng/giảm năng suất đánh bắt Kết quả phân tích biến động năng suất đánh bắt theo thời gian cho thấy năng suất đánh bắt trung bình không khác nhau giữa các chuyến điều tra ở các năm khác nhau

Thành phần sản lượng đánh bắt khác nhau ở từng chuyến khảo sát Tính chung cho toàn vùng biển, số họ hải sản có sản lượng khai thác đóng góp trên 1% vào tổng

sản lượng dao động trong khoảng 15 đến 21 họ Họ cá Tráp (Sparidae), họ cá Khế (Carangidae), họ cá Sơn (Acropomatidae), họ cá Liệt (Leiognathidae), họ cá Mối (Synodontidae) và họ Mực ống (Loliginidae) là những họ chiếm tỉ lệ cao trong sản

lượng khai thác của các chuyến biển Kết quả nghiên cứu trong những năm gần đây cho thấy chất lượng sản phẩm khai thác có xu hướng giảm, cụ thể là tỉ lệ sản lượng của các loài cá tạp như họ cá Liệt và họ cá Sơn đã và đang tăng dần trong tổng sản lượng khai thác Các họ hải sản có giá trị kinh tế cao như họ Mực ống, Mực nang tỉ lệ sản lượng giảm trong sản lượng khai thác Họ cá Tráp và họ cá Khế có xu hướng biến động năng suất trái ngược nhau Kết quả từ các chuyến điều tra cho thấy khi sản lượng khai thác của họ cá Tráp giảm đi thì sản lượng khai thác của họ cá Khế tăng lên

Trang 22

1.2.2 Nguồn l i nổi nhỏ

Kết quả điều tra ở vùng biển vịnh Bắc Bộ [24] bắt gặp 11 họ, 35 giống và 63 loài Số lượng họ, giống, loài bắt gặp trong các chuyến điều tra vào mùa gió Tây Nam nhiều hơn ở mùa gió Đông Bắc Tỷ lệ sản lượng cá nổi nhỏ chiếm khoảng từ 7,51 đến 43,99 % tổng sản lượng khai thác của các chuyến điều tra

Ở vịnh Bắc Bộ, các loài cá nổi nhỏ chiếm ưu thế trong sản lượng đánh bắt bao gồm [24]: cá khế (Alepes djedaba), cá khế vây lưng đen (Alepes melanoptera), cá ngân

(Atule mate), cá nục sồ (Decapterus maruadsi), cá bạc má (Rastrelliger kanagurta), cá

chỉ vàng (Selaroides leptolepis), cá cơm thường (Stolephorus commersonii), cá sòng nhật (Trachurus japonicus)

1.2.3 Nguồn l i kh

+ Thành phần loài

Đã bắt gặp 329 loài/nhóm loài thuộc 96 họ hải sản trong các chuyến điều tra bằng tàu lưới kéo tôm ở vịnh Bắc Bộ, trong đó nhóm cá gặp 256 loài thuộc 83 họ, nhóm tôm gặp 39 loài/nhóm loài thuộc 6 họ, nhóm mực gặp 16 loài/nhóm loài thuộc 4

họ, nhóm cua ghẹ gặp 14 loài/nhóm loài thuộc 2 họ, còn lại là một số loài ốc, bạch tuộc [18]

+ Năng suất khai thác

Kết quả điều tra bằng tàu lưới kéo đáy cho thấy, năng suất khai thác trung bình chung không khác nhau giữa các mùa gió trong năm nhưng khác nhau giữa các năm Năm 2001 năng suất khai thác trung bình khoảng 8 kg/giờ kéo lưới ở cả mùa gió Tây Nam và mùa gió Đông Bắc, sang năm 2003 năng suất khai thác tăng lên, năng suất trung bình khoảng 14 kg/giờ kéo lưới [18]

Năng suất khai thác trung bình của nhóm cá khoảng 5-6 kg/giờ ở năm 2001, chiếm 63,8 và 74,3% tổng sản lượng khai thác và khoảng 8-9 kg/giờ ở năm 2003, chiếm 61,6% và 63,7% tổng sản lượng khai thác ở mùa gió Tây Nam và Đông Bắc Năng suất khai thác và tỉ lệ % sản lượng của nhóm Tôm thấp hơn, khoảng 1,3 - 2,0 kg/giờ ở năm 2001 và 2,1 - 2,5 kg/giờ ở năm 2003 Các nhóm mực, ốc và bạch tuộc năng suất khai thác thấp, thường dưới 1 kg/giờ và đóng góp tỉ lệ nhỏ trong sản lượng khai thác [18]

Trang 23

1.2.4 Trữ lư ng và khả năng kh i th

Kết quả điều tra tổng thể nguồn lợi hải sản trong giai đoạn 2011 - 2015 cho thấy, tổng trữ lượng nguồn lợi hải sản ở vùng biển vịnh Bắc Bộ là 750.100 tấn, khả năng khai thác bền vững khoảng 311.200 tấn Trong đó, nguồn lợi cá nổi chiếm 83,5% (626.100 tấn); nhóm hải sản tầng đáy chiếm 15,5% (124.000 tấn) [25] Trữ lượng và khả năng khai thác phân theo nhóm nguồn lợi ở vùng biển vịnh Bắc Bộ được thể hiện trong bảng sau:

Bảng 1.1: Trữ lượng và khả năng khai thác nguồn lợi HS ở khu vực vịnh Bắc Bộ

Vùng

biển Nhóm Nguồn lợi (1.000 tấn) Trữ lượng Tỉ lệ (%)

Khả năng khai thác (1.000 tấn) Tỉ lệ (%)

(Nguồn: Nguyễn Viết Nghĩa & Vũ Việt Hà, 2014)

1.3 TỔNG QUAN CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU TRONG VÀ NGOÀI NƯỚC

1.3.1 Nghiên ứu ngoài nướ

Thủy sản là một trong những mặt hàng thực phẩm quan trọng trong đời sống của con người trên toàn thế giới Có khoảng 77% sản lượng thủy sản của thế giới được

sử dụng làm thực phẩm trực tiếp cho con người Vì nhu cầu sử dụng thực phẩm từ thủy sản ngày càng tăng nên nhiều quốc gia đã phát triển nhanh các đội tàu khai thác

và nhà máy chế biến hiện đại nhằm đáp ứng nhu cầu về sản phẩm thủy sản trên thế giới

Trang 24

Tuy nhiên, trước sự gia tăng không ngừng của nghề khai thác thủy sản dẫn đến tình trạng khai thác quá mức và nếu không được kiểm soát thì nguồn lợi thủy sản sẽ không được duy trì lâu dài

Theo số liệu thống kê của FAO, tổng sản lượng thủy sản của thế giới (bao gồm

cả khai thác và nuôi trồng) đã tăng từ 121,155 triệu tấn năm 1994 lên 191,06 triệu tấn vào năm 2013 [48] Tuy nhiên, theo chuỗi thời gian, tỷ lệ sản lượng giữa khai thác và nuôi trồng đã có sự thay đổi, tỷ lệ sản lượng từ khai thác có xu hướng giảm dần và tỷ

Nguồn: Thống kê của FAO

Nhiều năm qua, sản lượng thủy sản của các nước phát triển giảm do khai thác quá mức Năm 1998, sản lượng khai thác giảm mạnh buộc các nước khu vực Bắc Đại Tây Dương phải áp đặt hạn ngạch khai thác chặt chẽ để ngăn chặn tình trạng khai thác quá mức ngày càng nghiêm trọng Nhiều nước phát triển trên thế giới đã quyết định thay đổi cơ cấu khai thác bằng cách giảm mạnh số lượng tàu khai thác và thực hiện việc quản lý hạn ngạch đối với một số loài để khôi phục lại nguồn lợi Trong thời gian qua, nhiều nỗ lực hoạt động của các tổ chức quốc tế nhằm thúc đẩy các biện pháp bảo

vệ nguồn lợi thủy sản của khu vực và trên thế giới đã đưa lại kết quả khả quan Năm

2013, khai thác thủy sản của thế giới chỉ tăng phần lớn ở khu vực châu Á và châu Đại dương [48]

Bảng 1.3: Sản lượng khai thác thủy sản của các châu lục

Đơn vị: triệu tấn

Trang 25

Châu lục Năm

Châu M 31,11 26,08 25,47 18,04 23,06 18,98 19,46 Châu Á 39,44 43,95 44,95 49,03 49,25 50,59 51,27 Châu Âu 16,16 16,57 14,09 14,13 13,64 13,29 13,82 Châu Đại Dương 0,10 1,10 1,52 1,21 1,18 1,28 1,22

Tổng sản lượng 93,36 94,75 93,70 90,22 94,86 92,43 93,86

Nguồn: Thống kê của FAO

Năm 2004, nguồn lợi thủy sản khai thác tự nhiên trên thế giới đã được FAO đánh giá như sau: có 52% nguồn lợi thủy sản đang được khai thác ở mức tối đa, tức là hết năng suất sinh học; 23% bị khai thác quá mức; chỉ có 1% đang phục hồi; 21% nguồn lợi khai thác ở mức khiêm tốn và chỉ có 3% chưa bị khai thác

Mặc dù nghề cá đóng vai trò quan trọng trong việc tạo ra việc làm và nguồn thu nhập cho ngư dân ven biển, nhưng cũng cần phải tiến hành chuyển đổi chính sách và công nghệ phù hợp nhằm chấm dứt tình trạng khai thác hủy diệt, hạn chế khai thác ven

bờ, mở rộng khai thác xa bờ và kiểm soát tình hình khai thác Những vấn đề này cần

sự quan tâm, hỗ trợ của các tổ chức quốc tế, tổ chức phi chính phủ của các nước phát triển nhằm tìm các giải pháp giúp đỡ nghề cá quy mô nhỏ của các nước đang phát triển

1.3.1.1 Nghiên cứu các giải pháp quản lý nghề cá:

Để phát triển bền vững ngành thủy sản trong giai đoạn tới nhằm đáp ứng nhu cầu thực phẩm thủy sản cho thị trường thế giới, các biện pháp quản lý đã được các tổ chức nghề cá và các nước áp dụng trong thực tế như sau:

- Các biện pháp quản lý khai thác được thực hiện bằng việc tổ chức quản lý nghề cá theo khu vực và áp dụng các điều kiện kiểm soát các tàu cá để ngăn chặn các hành động khai thác quá mức; khai thác bất hợp pháp, các biện pháp thực hiện bao gồm: thực hiện lập hồ sơ giấy phép khai thác đối với tất cả các tàu khai thác hoặc vận chuyển thủy sản, đây như là một điều kiện để cập cảng; ngăn chặn việc bốc xếp và vận chuyển thủy sản đối với các đơn vị tàu cá không thực hiện đầy đủ các điều kiện đăng ký; ban hành các biện pháp hạn chế thương mại đối với các sản phẩm thủy sản của các

Trang 26

đơn vị hoặc cá nhân không tuân thủ các điều kiện quản lý nghề cá của khu vực [34], [45], [46]

Các biện pháp trên đã được thảo luận và áp dụng trong các Hiệp định quốc tế của một số tổ chức quốc tế như: Ủy ban quốc tế Bảo vệ cá ngừ Đại Tây Dương (ICCAT), Ủy ban Bảo tồn tài nguyên sống biển Nam Cực (CCAMLR) và Ủy ban Bảo

vệ cá ngừ vây xanh vùng Nam châu Đại Dương (CCSBT) [34], [35], [38], [42], [43], [47]

- Các biện pháp hạn chế thương mại: được thực hiện từ năm 1996, ICCAT đề nghị các nước thành viên phải thực hiện cấm nhập khẩu cá ngừ vây xanh dưới bất kỳ hình thức nào từ các nước thành viên không thuộc ICCAT

- Các biện pháp khác liên quan đến thương mại: tổ chức quản lý nghề cá khu vực (RFMOs) đã sử dụng Hệ thống giám sát tàu cá (VMS-Vessel Monitoring Systems)

để xem xét các vấn đề liên quan đến thương mại nhằm xúc tiến khai thác thủy sản bền vững Hệ thống này quản lý, theo dõi và kiểm tra thông tin một cách cơ bản liên quan đến những vấn đề thương mại Các nước đã thực hiện hệ thống thông tin thu phát tín hiệu về tàu khai thác hải sản bao gồm: Australia, Niu Dilân, M , Nam Phi, Nhật Bản

và Canada; EU hiện đã yêu cầu tất cả các tàu cá có chiều dài trên 24m phải thực hiện chương trình VMS và nhiều quốc gia đang phát triển đang áp dụng như: Maroco, Achentina, Panama, Trung Quốc và Pêru

- Các biện pháp thực hiện theo các Hiệp ước Quản lý nghề cá cũng được tiến hành, bao gồm: Hiệp ước quốc tế về Nguồn lợi thủy sản của Liên Hiệp Quốc (LHQ);

Bộ Qui tắc ứng xử nghề cá có trách nhiệm của FAO; Kế hoạch hành động quốc tế của FAO về Khai thác bất hợp pháp Nhìn chung, các hiệp ước quốc tế đều quy định các biện pháp áp dụng ở các cảng cá của các quốc gia, gồm: kiểm tra hồ sơ, giấy phép đăng ký, ngư cụ đánh bắt và sản lượng đánh bắt của các tàu khi các tàu tự nguyện cập cảng

- Trong các cuộc họp của LHQ mấy năm gần đây, một số tổ chức phi chính phủ bảo vệ môi trường và các nước liên quan đã liên tục yêu cầu phải chấm dứt tình trạng khai thác bằng lưới kéo để bảo vệ hệ sinh thái biển LHQ đã đưa ra một số giải pháp cấm tạm thời đối với hoạt động khai thác bằng lưới kéo và thực hiện một số biện pháp khác như hình thành các tổ chức mới ở những khu vực chưa có tổ chức quản lý nghề

cá (RFMOs) để quản lý hoạt động khai thác này

Trang 27

Để khắc phục tình trạng cường lực khai thác thác ngày một tăng, các công cụ khai thác ngày một hoàn thiện, cường độ đánh bắt ngày một tăng lên, ngư trường ngày một rộng mở nhưng sản lượng khai thác cá biển hàng năm lại giảm đi rõ rệt và để đảm bảo an ninh thực phẩm cho mình, nhiều khối liên kết kinh tế, nhiều quốc gia ven biển

đã có hàng loạt các biện pháp kiên quyết và đồng bộ nhằm ngăn chặn tình trạng suy giảm và cạn kiệt nguồn lợi Một số chính sách đã và đang được các nước trên thế giới

áp dụng nhằm bảo vệ và phát triển nguồn lợi thuỷ sản một cách hiệu quả hiện nay gồm:

+ Cắt giảm sản lượng khai thác càng nhiều càng tốt [29], [34], [43], [35], [39], [45], [46], [47]

Biện pháp này được nhiều nước áp dụng và được xác định là cơ bản mang lại kết quả khá nhanh chóng Tuy nhiên, thực hiện biện pháp này rất khó khăn, phức tạp, đòi hỏi phải có quyết tâm cao và nhiều biện pháp được thực thi một cách phù hợp Để cắt giảm sản lượng khai thác, thường sử dụng các biện pháp như:

- Cấm khai thác toàn bộ trong thời gian dài Sử dụng biện pháp này sẽ giúp cho nguồn lợi phục hồi một cách nhanh chóng Tuy nhiên nó cũng gây ra rất nhiều khó khăn như: Ngư dân bị thất nghiệp; hàng nghìn tàu cá phải nằm bờ; hàng chục nhà máy chế biến phải đóng cửa; xuất khẩu thuỷ sản giảm sút nhanh; nguồn thu của đất nước bị giảm sút …

- Cấm khai thác có thời hạn Biện pháp này được nhiều nước sử dụng, thời gian cấm khai thác khoảng 2 - 3 tháng/năm vào mùa vụ cá sinh sản Biện pháp này tuy không giúp cho nguồn lợi phục hồi một cách nhanh chóng như biện pháp trên nhưng cũng đã thu được những kết quả tương đối khả quan

+ Căt giảm số lượng tàu khai thác [29], [34], [35], [43]

Biện pháp này được nhiều nước áp dụng để bảo vệ nguồn lợi thuỷ sản rất hạn chế và đang trên đà cạn kiệt, đặc biệt là đối với nguồn lợi thủy sản ven bờ EU và một

số nước khác như Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc, Thái Lan đã có những quy định

về việc cắt giảm, giải bản tàu nhỏ khai thác ven bờ, hiện đại hóa đội tàu khai thác ở những vùng nước xa bờ và viễn dương

+ Quy định hạn ngạch khai thác (quota) và kiểm tra nghiêm ngặt việc thực hiện [35], [38], [47]

Trang 28

Biện pháp này được nhiều nước thực hiện có kết quả Tuy nhiên, để có cơ sở đưa ra các hạn ngạch về sản lượng đúng đắn có tác dụng bảo vệ nguồn lợi, tái tạo và phát triển nguồn lợi thì phải hoàn toàn dựa vào kết quả nghiên cứu, điều tra, đánh giá đúng hiện trạng nguồn lợi và hệ thống thống kê sản lượng khai thác phải có độ tin cậy cao Thực hiện tốt điều này cũng giúp cho nguồn lợi có khả năng phục hồi tốt Tuy nhiên, biện pháp này chỉ có thể áp dụng tốt cho nghề cá đơn loài, quy mô công nghiệp, khó có thể áp dụng cho nghề cá quy mô nhỏ Cạnh đó, để làm tốt được việc này cần phải có sự phối hợp tốt trong công tác quản lý, thanh tra, kiểm tra và đặc biệt là sự tự giác thực hiện của cộng đồng ngư dân

+ Cấm các nghề khai thác tàn phá nguồn lợi, cải tiến công cụ khai thác [29], [39], [42], [45]

Biện pháp này cũng mang lại hiệu quả nhanh chóng và được nhiều nước áp dụng rộng rãi nhằm bảo vệ các hệ sinh thái ven biển là nơi sinh sống và phát triển của các đối tượng thủy sản còn non, chưa trưởng thành

Việc cải tiến công cụ khai thác cũng được thực hiện nhằm giải thoát các đối tượng đánh bắt không mong muốn nhằm bảo vệ nguồn lợi hải sản

Các giải pháp đề ra đã từng bước đem lại hiệu quả cho nghề cá Tuy nhiên, để thực hiện được các giải pháp trên thì cần thiết phải xác định được cường lực và sản lượng khai thác bền vững tối đa cho các vùng biển cụ thể

Tóm lại: Để đảm bảo cho việc phát triển nghề cá bền vững, ngoài việc nghiên

cứu, áp dụng các biện pháp khai thác có chọn lọc, các quốc gia và các tổ chức nghề cá trên thế giới đã áp dụng các mô hình quản lý hoạt động khai thác theo 2 hướng: quản

lý đầu vào (tức là quản lý về cường lực khai thác) và quản lý đầu ra (tức là quản lý về sản lượng khai thác) Tùy theo nghề cá của từng nước, từng khu vực mà áp dụng hình thức quản lý khác nhau cho phù hợp

1.3.1.2 Các nghiên cứu về cường lực và sản lượng khai thác bền vững tối đa

Để có thể đưa ra được cơ sở khoa học hợp lý nhằm quản lý và phát triển nghề khai thác hải sản một cách hợp lý, đã có rất nhiều các nghiên cứu nhằm xác định cường lực và sản lượng khai thác bền vững cho các vùng biển nghiên cứu Nhiều mô hình kinh tế sinh học đã được nghiên cứu, áp dụng để tính toán sản lượng bền vững tối

đa và cường lực khai thác bền vững tối đa như các mô hình sản lượng thặng dư

Trang 29

Schaefer (1954); Fox (1975); biểu thức Gulland; … [44] Tùy theo đặc điểm nghề cá từng khu vực mà có thể ứng dụng mô hình hợp lý

Để xác định được sản lượng khai thác bền vững tối đa và cường lực khai thác bền vững tối đa cho nghề khai thác cá đáy ở vùng biển Java - Indonesia, các nhà khoa học đã sử dụng mô hình Schaefer và Fox để tính toán dựa trên chuỗi số liệu điều tra nghề cá đáy ở ngoài khơi vùng ven bờ bắc của Java trong giai đoạn từ 1969 - 1977 Các đội tàu đưa vào tính toán đều được quy chuẩn về một đội tàu chuẩn nhất định [44]

Kết quả nghiên cứu cho thấy:

- Theo mô hình Fox: Sản lượng bền vững tối đa ở khu vực này đạt 60.900 tấn tương ứng với cường lực khai thác là 1.274 tàu chuẩn

- Theo mô hình Schaefer: Sản lượng bền vững tối đa ở khu vực này đạt 65.800 tấn tương ứng với cường lực khai thác là 1.235 tàu chuẩn

Kết quả nghiên cứu cũng cho thấy cường lực khai thác tại thời điểm nghiên cứu

đã vượt ngưỡng cường lực khai thác cho phép

Nhằm xác định sản lượng khai thác và cường lực khai thác bền vững tối đa cho nghề khai thác cá thu của Campuchia, Em Puthy [36] đã sử dụng mô hình Schaefer và Fox để tính toán dựa trên nguồn số liệu đầu vào là cường lực và sản lượng khai thác cá thu trong giai đoạn từ 1996 - 2006 Kết quả nghiên cứu đã xác định được cường lực khai thác bền vững tối đa tính theo mô hình Schaefer là 152 tàu, tính theo mô hình Fox

là 151 tàu

Kết quả nghiên cứu cũng xác định được sản lượng khai thác bền vững tối đa tính theo mô hình Schaefer là 5.876 tấn và theo mô hình Fox là 5.249 tấn Như vậy, sản lượng khai thác cá thu hiện tại vẫn chưa vượt ngưỡng sản lượng khai thác bền vững tối đa tính theo mô hình Schaefer và Fox [36]

Năm 2008, Huiguo Yu và Yunjun Yu trong công trình nghiên cứu về Quản lý

cường lực khai thác ở Trung Quốc: Lý thuyết và quan điểm thực tiễn [40]đã công bố kết quả nghiên cứu xác định cường lực khai thác bền vững tối đa cho nghề cá Trung Quốc Từ nguồn số liệu về cường lực, sản lượng khai thác và khả năng cho phép khai thác nguồn lợi trên các vùng biển của Trung Quốc giai đoạn 1979-2003, nhóm tác giả

đã xác định được cường lực khai thác phù hợp cho các vùng biển là 192.390 tàu, tương ứng với tổng công suất máy là 11.426.968 kW vào năm 2010 Như vậy so với số lượng

Trang 30

tàu hiện có (năm 2002), cường lực khai thác thực tế đã vượt ngưỡng cường lực khai thác bền vững tối đa là 30.000 tàu tương ứng với tổng công suất là 1.269.663 kW Nhóm tác giả cũng đã đề xuất giải pháp cắt giảm số lượng tàu dư thừa trong giai đoạn

từ 2003 - 2010 bằng cách thu hồi giấy phép và giải bản khoảng 3.750 tàu mỗi năm

Kết quả nghiên cứu của nhóm nghiên cứu đã xác định được cường lực khai thác phù hợp cho các vùng biển của Trung Quốc trên cơ sở khả năng cho phép khai thác nguồn lợi Tuy nhiên, do nhiều vấn đề liên quan đến sinh kế của cộng đồng ngư dân ven biển cũng như việc thực thi các chính sách quản lý tàu thuyền khai thác thuỷ sản chưa hiệu quả nên tình hình khai thác quá mức nguồn lợi thuỷ sản ở Trung Quốc vẫn gia tăng

Năm 2006, nhóm tác giả Franz, Mueter J and Bernard, Megrey A Đã tiến hành nghiên cứu xác định sản lượng khai thác bền vững tối đa cho nghề khai thác cá đáy ở phía đông biển Bering và vịnh Alaska Để xác định được sản lượng khai thác bền vững tối đa, nhóm nghiên cứu đã sử dụng mô hình thặng dư Graham-Schaefer và mô hình Pella-Tomlinson với nguồn số liệu đầu vào là sinh khối và sản lượng giai đoạn 1977-

2004 để tính toán giá trị sản lượng khai thác bền vững tối đa Kết quả nghiên cứu đã xác định được sản lượng khai thác bền vững tối đa ở Aleutian (biển Bering) khoảng 2,5 triệu tấn và ở vịnh Alaska là 330 nghìn tấn [41]

Nhận xét:

Như vậy, đã có rất nhiều các nghiên cứu nhằm xác định cường lực và sản lượng khai thác bền vững tối đa cho nghề các của các nước, các khu vực Tùy theo đặc điểm nghề cá của mỗi nước, mỗi khu vực nghiên cứu mà sử dụng các mô hình kinh tế sinh học khác nhau để tính toán nhằm xác định được sản lượng khai thác bền vững tối đa

Các nghiên cứu cũng đã cho thấy, đối với nghề cá đa loài như nghề cá của các nước thuộc khu vực Đông Nam Á [37, 44] hay Trung Quốc [40], các nghiên cứu nhằm xác định cường lực và sản lượng khai thác bền vững tối đa cho các vùng biển đều sử dụng mô hình kinh tế - sinh học Schaefer (1954) và Fox (1970) để tính toán Như vậy

có thể nhận định các mô hình kinh tế - sinh học Schaefer (1954) và Fox (1970) là khá phù hợp cho việc áp dụng tính toán đối với nghề cá đa loài

1.3.2 C ông trình nghiên ứu trong nướ

Trong những năm qua nhiều đề tài, dự án nghiên cứu về lĩnh vực khai thác và bảo vệ nguồn lợi, kinh tế - xã hội nghề cá và quản lý nghề cá đã được thực hiện như:

Trang 31

1.3.2.1 Một số công trình nghiên cứu về lĩnh vực khai thác và quản lý nghề cá

- Đề tài: "Đánh giá hiện trạng công nghệ khai thác xa bờ ở những vùng trọng điểm đã được Viện Nghiên cứu Hải sản tiến hành vào năm 1997 Đề tài đã điều tra khảo sát để đánh giá hiện trạng công nghệ khai thác của các nghề khai thác xa bờ về tàu thuyền, máy tàu, cấu tạo ngư cụ, k thuật khai thác và phân tích hiệu quả kinh tế của 4 loại nghề khai thác xa bờ chính là: nghề lưới kéo, nghề lưới rê, nghề lưới vây, nghề câu, từ đó đề xuất các đội tàu khai thác hải sản phù hợp [20]

- Giai đoạn từ 1996-2005, dự án Đánh giá nguồn lợi sinh vật biển Việt Nam

do DANIDA (Đan Mạch) tài trợ đã được thực hiện Kết quả của dự án đã đưa ra được trữ lượng cá biển Việt Nam và đã đánh giá được thành phần loài, thành phần các nhóm thương phẩm và tổng sản lượng khai thác hải sản của Việt Nam [14], [15]

- Năm 1998 - 1999, Viện Nghiên cứu Hải sản đã thực hiện đề tài: Xác định các nghề có năng suất cao, thích hợp với cỡ loại tàu khai thác hải sản xa bờ Các nghiên cứu được thực hiện cho 4 loại nghề chủ yếu là: lưới kéo, lưới vây, lưới rê và nghề câu Kết quả nghiên cứu của đề tài đã xác định được các mẫu lưới phù hợp với điều kiện tự nhiên của từng vùng biển, tương ứng với từng nghề: lưới kéo, lưới vây, lưới rê và nghề câu [21]

- Từ năm 2000-2002, đề tài cấp Nhà nước Nghiên cứu thăm dò nguồn lợi hải sản và lựa chọn công nghệ khai thác phù hợp phục vụ phát triển nghề cá xa bờ Việt Nam [27], đã sơ bộ đánh giá được tình hình về nguồn lợi của các vùng biển và lựa chọn được công nghệ khai thác phù hợp với nghề cá xa bờ Ngoài ra, đề tài còn đánh giá hiệu quả đầu tư của các tàu đánh cá xa bờ, tình hình sử dụng máy móc thiết bị của các tàu cá và tình hình cơ giới hóa của các nghề khai thác hải sản

- Dự án: Điều tra cơ bản nguồn lợi hải sản và điều kiện môi trường các vùng trọng điểm phục vụ mục tiêu phát triển lâu bền ngành hải sản vùng gần bờ biển nước

ta được Viện Nghiên cứu Hải sản thực hiện trong năm 2002 [22] Dự án đã đã tiến hành được một số chuyến nghiên cứu điều tra nguồn lợi hải sản, đánh giá hiện trạng khai thác hải sản ven bờ, các vấn đề kinh tế-xã hội và đề xuất một số biện pháp về công tác quản lý như: cần phải điều chỉnh cơ cấu nghề nghiệp và năng lực khai thác ở từng vùng biển; phát triển khai thác xa bờ phải đi đôi với việc giảm sức ép khai thác vùng ven bờ

- Năm 2006, Viện Nghiên cứu Hải sản được Bộ Thủy sản giao nhiệm vụ Xây

Trang 32

dựng chương trình khai thác hải sản đến năm 2020 [23] Chương trình đã được dự thảo và trình Thủ tướng phê duyệt với 4 nội dung chính như sau:

+ Từng bước thực hiện quản lý nghề khai thác hải sản dựa vào cộng đồng; hoàn thiện các chính sách và quy định trong quản lý khai thác hải sản; tăng cường năng lực quản lý nghề khai thác hải sản ở các cấp từ trung ương đến địa phương

+ Đến năm 2020, hoàn thành việc sắp xếp lại cơ cấu nghề nghiệp, xác định số lượng tàu cá hợp lý đối với mỗi vùng biển; giảm số lượng tàu cá và ngư dân khai thác ven bờ; quy hoạch xong nghề khai thác cho từng tỉnh ven biển

+ Đầu tư từng bước công nghiệp hoá, hiện đại hoá nghề khai thác hải sản xa bờ; phát triển khai thác gần bờ một cách hợp lý; tăng cường nghiên cứu và áp dụng các tiến bộ k thuật khai thác; đào tạo nguồn nhân lực

+ Đến năm 2020, hoàn thành về cơ bản xây dựng cơ sở hạ tầng nghề cá theo hướng hiện đại, phù hợp với nghề cá từng địa phương

- Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế-xã hội ngành thủy sản đến năm 2010 và các quy hoạch cho từng vùng biển [10], [11], [12] đã đề cập đến nhiều vấn đề liên quan đến phát triển nghề cá biển Riêng về cơ cấu đội tàu khai thác trong Quy hoạch tổng thể phát triển ngành thuỷ sản cũng đã có định hướng điều chỉnh cơ cấu đội tàu dựa vào khả năng khai thác cho phép, đặc biệt yêu cầu giảm gần 50% số tàu nhỏ đến năm 2010 Quy hoạch này còn đề cập đến các vấn đề như: quản lý phát triển nghề khai thác hải sản theo các ngư trường và địa phương một cách hợp lý trên cơ sở bền vững của nguồn lợi và hiệu quả kinh tế; phân định rõ ràng các ngư trường, khu vực và mùa

vụ khai thác và quy hoạch khai thác cho từng địa phương, quản lý chặt chẽ các ngư trường, nơi sinh sống, môi trường và các giống loài thủy hải sản

- Trong năm 2009, Viện Kinh tế và Quy hoạch thủy sản đã thực hiện dự án Điều tra thực trạng và giải pháp chuyển đổi cơ cấu nghề nghiệp của Việt Nam [16]

Dự án đã điều tra, đánh giá thực trạng chuyển đổi cơ cấu nghề nghiệp trong khai thác hải sản tại các tỉnh ven biển Từ đó, nghiên cứu đề xuất giải pháp tổ chức, quản lý và

cơ chế chính sách cần có để khuyến khích chuyển đổi cơ cấu nghề nghiệp trong khai thác hải sản đảm bảo hiệu quả, bền vững Dự án đã nêu được thực trạng chuyển đổi nghề ở 4 vùng biển (vịnh Bắc Bộ, Bắc Trung Bộ, Nam Trung Bộ và Đông - Tây Nam

Bộ và chỉ mới sơ bộ đề ra một số giải pháp chuyển đổi cơ cấu nghề nghiệp trong khai thác hải sản

Trang 33

- Đề tài Đánh giá trình độ công nghệ khai thác hải sản xa bờ đã được Trung tâm Khuyến nông - Khuyến ngư quốc gia thực hiện từ năm 2006 - 2007 [17] Kết quả nghiên cứu của đề tài đã cho thấy bức tranh toàn cảnh về nghề cá xa bờ Việt Nam và hiệu quả hoạt động của các đội tàu đang có xu hướng giảm dần và không bền vững

1.3.2.2 Một số công trình nghiên cứu về sản lượng và cường lực khai thác bền vững tối đa

- Trong giai đoạn từ năm 2007 đến 2009, đề tài Nghiên cứu đề xuất các giải pháp phát triển bền vững nghề khai thác hải sản ven bờ Việt Nam [13] đã được Viện nghiên cứu Nuôi trồng Thủy sản III thực hiện với các nội dung nghiên cứu chủ yếu gồm: điều tra cơ cấu đội tàu, cơ cấu nghề nghiệp và hiệu quả kinh tế của các loại nghề khai thác hải sản ven bờ; tình hình nuôi trồng thủy sản; xây dựng mô hình quản lý thủy sản đồng quản lý; đề xuất các giải pháp nhằm quản lý bền vững nghề khai thác hải sản ven bờ Đề tài đã sử dụng mô hình Schaefer để xác định sản lượng và cường lực khai thác bền vững tối đa cho các vùng biển Kết quả nghiên cứu đã xác định được cường lực khai thác cho các đội tàu khai thác ven bờ ở các vùng biển như sau:

+ Vùng biển vịnh Bắc Bộ: Tổng cường lực khai thác bền vững cho vùng nước ven bờ cần duy trì là 3.146.193 ngày/tàu tương ứng với sản lượng khai thác bền vững tối đa là 302.274 tấn

+ Vùng biển miền Trung: Tổng cường lực khai thác bền vững cho vùng nước ven bờ cần duy trì là 2.706.634 ngày/tàu tương ứng với sản lượng khai thác bền vững tối đa là 591.555 tấn

+ Vùng biển Đông Nam Bộ: Tổng cường lực khai thác bền vững cho vùng nước ven bờ cần duy trì là 1.430.744 ngày/tàu tương ứng với sản lượng khai thác bền vững tối đa là 475.189 tấn

+ Vùng biển Tây Nam Bộ: Tổng cường lực khai thác bền vững cho vùng nước ven bờ cần duy trì là 960.292 ngày/tàu tương ứng với sản lượng khai thác bền vững tối

đa là 352.713 tấn

Tổng số tàu khai thác hải sản ven bờ cần duy trì trên cả nước là 58.322 chiếc, số lượng tàu vượt mức cho phép cần cắt giảm là 51.102 chiếc Như vậy tại thời điểm nghiên cứu cho thấy hầu hết các đội tàu khai thác ven bờ tại các địa phương đều đã hoạt động vượt ngưỡng khai thác cho phép

Từ các kết quả nghiên cứu, đề tài đã đề xuất các giải pháp nhằm quản lý bền

Trang 34

vững nghề khai thác hải sản ven bờ Việt Nam, gồm: Quy hoạch và quản lý quy hoạch; Hợp lý hoá nghề cá ven bờ; Tạo ra các sinh kế thay thế; Giáo dục và đào tạo; Công tác khoa học công nghệ và khuyến ngư; Xây dựng các mô hình quản lý thuỷ sản dựa vào cộng đồng hoặc đồng quản lý; Nguồn vốn thực hiện chuyển đổi; Các hỗ trợ nghiên cứu khoa học; Hệ thống chính sách liên quan cắt giảm tàu thuyền và sản lượng khai thác hải sản ven bờ

Tuy nhiên, phạm vi nghiên cứu của đề tài nói trên chỉ thực hiện trong một phạm

vi hẹp, là vùng biển ven bờ Hơn nữa, nội dung điều tra chi tiết về kinh tế xã hội và khai thác hải sản tại 14 tỉnh để bổ sung cơ sở dữ liệu có dung lượng khá nhỏ (chỉ có 1 tháng mùa mưa và một tháng mùa khô) Cường lực khai thác phù hợp cho các vùng biển được xác định chung theo ngày/tàu mà không xác định cho từng nhóm nghề khai thác nên việc xác định số lượng tàu khai thác ven bờ cần phải cắt giảm là 51.102 chiếc

ít có tính khả thi do không thể xác định được cắt giảm đội tàu nào?, số lượng bao nhiêu? Đề tài này không đề cập đến vấn đề điều chỉnh cơ cấu đội tàu, cơ cấu nghề nghiệp khai thác hải sản theo Nghị định 123/2006/NĐ-CP nay là Nghị định 33/2010/NĐ-CP

- Đề tài Nghiên cứu cơ sở khoa học phục vụ cho việc điều chỉnh cơ cấu đội tàu

và nghề nghiệp khai thác hải sản được Viện Nghiên cứu Hải sản thực hiện trong giai đoạn từ năm 2007 - 2010 [19] Đề tài đã sử dụng các phương pháp điều tra, nghiên cứu theo hướng dẫn của FAO [37], sử dụng mô hình Schaefer (1954) để xác định sản lượng và cường lực khai thác bền vững tối đa cho các vùng biển Kết quả nghiên cứu của đề tài đã đánh giá được hiện trạng khai thác hải sản, các vấn đề kinh tế - xã hội liên quan đến hoạt động nghề cá trên cả nước

Kết quả nghiên cứu đã xác định được sản lượng khai thác và cường lực khai thác bền vững tối đa cho các vùng biển theo 5 nhóm nghề chính: lưới kéo, lưới vây, lưới rê, nghề câu và nhóm nghề khác như sau:

* Sản lượng khai thác bền vững tối đa:

+ Vùng biển vịnh Bắc Bộ là 249.836 tấn Trong đó: vùng bờ là 68.717 tấn, vùng lộng là 87.667 tấn, vùng khơi là 93.452 tấn

+ Vùng biển miền Trung và Đông Nam Bộ là 1.457.462 tấn Trong đó: vùng bờ miền Trung là 42.472 tấn, vùng bờ Đông Nam Bộ là 43.532 tấn, vùng lộng miền

Trang 35

Trung là 98.071 tấn, vùng lộng Đông Nam Bộ là 99.794 tấn, vùng khơi miền Trung và Đông Nam Bộ là 1.173.593 tấn

+ Vùng biển Tây Nam Bộ là 440.146 tấn trong đó: vùng bờ Tây Nam Bộ là 60.454 tấn, vùng lộng Tây Nam Bộ là 113.274 tấn, vùng khơi Tây Nam Bộ là 266.418 tấn

* Cường lực khai thác bền vững tối đa:

+ Vùng biển vịnh Bắc Bộ: cường lực khai thác bền vững tối đa là 36.319 chiếc tàu thuộc các đội tàu được lựa chọn làm tàu chuẩn Trong đó: nghề lưới kéo có 7.613 tàu chuẩn; nghề lưới vây có 324 tàu chuẩn; nghề lưới rê có 5.088 tàu chuẩn; nghề câu

có 2.914 tàu chuẩn; nhóm nghề khác có 20.380 tàu chuẩn

+ Vùng biển miền Trung ngưỡng cường lực khai thác bền vững tối đa là 33.119 chiếc tàu thuộc các đội tàu được lựa chọn làm tàu chuẩn Trong đó: nghề lưới kéo có 11.153 tàu chuẩn; nghề lưới vây có 1.701 tàu chuẩn; nghề lưới rê có 5.336 tàu chuẩn; nghề câu có 11.236 tàu chuẩn; nhóm nghề khác có 3.692 tàu chuẩn

+ Vùng biển Đông Nam bộ ngưỡng cường lực khai thác bền vững tối đa là 15.824 chiếc tàu thuộc các đội tàu được lựa chọn làm tàu chuẩn Trong đó: nghề lưới kéo có 7.896 tàu chuẩn; nghề lưới vây có 1.290 tàu chuẩn; nghề lưới rê có 1.888 tàu chuẩn; nghề câu có 2.186 tàu chuẩn; nhóm nghề khác có 2.563 tàu chuẩn

+ Vùng biển Tây Nam bộ ngưỡng cường lực khai thác bền vững tối đa là 17.925 chiếc tàu thuộc các đội tàu được lựa chọn làm tàu chuẩn Trong đó: nghề lưới kéo có 11.457 tàu chuẩn; nghề lưới vây có 749 tàu chuẩn; nghề lưới rê có 1.564 tàu chuẩn; nghề câu có 2.464 tàu chuẩn; nhóm nghề khác có 1.692 tàu chuẩn

Từ các kết quả nghiên cứu đề tài đã đề xuất giải pháp sắp xếp đội tàu khai thác hải sản hợp lý cho từng vùng biển nhằm phát triển bền vững nghề khai thác hải sản theo ba giai đoạn:

* Giai đoạn 1: thực hiện trong năm 2012, những nội dung công việc cần thực hiện trong giai đoạn này như sau:

+ Xây dựng cơ chế, chính sách, chế tài nhằm ngăn chặn triệt để sự gia tăng số lượng tàu thuyền ở các vùng biển trước khi thực hiện việc điều chỉnh

+ Xây dựng cơ chế, chính sách phục vụ cho việc điều chỉnh cơ cấu đội tàu và nghề nghiệp khai thác hải sản

Trang 36

* Giai đoạn 2: Tiến hành đồng loạt điều chỉnh cơ cấu nghề nghiệp của các đội tàu trên cả nước Giai đoạn này thực hiện trong 4 năm, từ năm 2013- 2016, mỗi năm tiến hành cắt giảm 15% tổng số tàu thuyền cần cắt giảm và đồng thời tiến hành bổ sung 15% tổng số tàu thuyền cần bổ sung

* Giai đoạn 3: Tiến hành đồng loạt điều chỉnh cơ cấu nghề nghiệp của các đội tàu trên cả nước Giai đoạn này thực hiện trong 4 năm, từ năm 2017 - 2020 mỗi năm tiến hành cắt giảm 10% tổng số tàu thuyền cần cắt giảm và đồng thời tiến hành bổ sung 10% tổng số tàu thuyền cần bổ sung

Ngoài ra, các kết quả nghiên cứu cũng cho thấy xu thế biến động về nguồn lợi cũng như tình trạng khai thác quá mức đang diễn ra tại các vùng biển

Các kết quả nghiên cứu của đề tài đã đưa ra được các cơ sở khoa học phục vụ cho việc điều chỉnh và quản lý các hoạt động khai thác trên toàn quốc Tuy nhiên, trong quá trình tính toán về cường lực và sản lượng khai thác bền vững tối đa, đề tài chỉ sử dụng các nhóm công suất máy < 20 cv; 20 - 49 cv; 50 - 89 cv và ≥ 90 cv mà chưa tính toán chi tiết cho từng nhóm công suất máy tàu đặc biệt là đội tàu khai thác

xa bờ Việc gộp tất cả các đội tàu khai thác xa bờ có công suất máy > 90 cv thành một nhóm tàu sẽ làm hạn chế các kết quả tính toán do các nhóm tàu lớn có công suất máy khác nhau khi hoạt động sẽ cho năng suất, sản lượng khai thác cũng như hiệu quả hoạt động khác nhau Điều này sẽ có tác động trực tiếp đến kết quả tính toán cường lực và sản lượng khai thác bền vững tối đa cho các đội tàu có công suất máy > 90 cv trong cùng một nghề Mặt khác, để xác định được cường lực và sản lượng khai thác bền vững tối đa cho các nghề tại các vùng biển, đề tài chỉ sử dụng nhóm công suất máy >

90 cv để tính toán cho đội tàu xa bờ nhưng khi điều chỉnh cường lực, đề tài lại chia nhỏ các nhóm công suất máy tàu cho đội tàu này thành các nhóm từ 90 - 149 cv; 150 -

249 cv; 250 - 399 cv và ≥ 400 cv Việc phân chia các nhóm tàu không đồng nhất trong quá trình tính toán như trên sẽ gây ra những sai số nhất định trong việc xác định cường lực khai thác bền vững tối ưu với việc điều chỉnh cơ cấu đội tàu phù hợp Cạnh đó việc phân chia các nhóm công suất máy này cũng chưa phù hợp với quy định của Nhà nước trong thông tư 25/2013/TT-BNNPTNT của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn

Vì vậy các kết quả nghiên cứu của đề tài mới chỉ đưa ra được cơ sở khoa học ban đầu cho việc điều chỉnh số lượng tàu thuyền khai thác hải sản trên các vùng biển trong cả nước

Trang 37

Đề tài Nghiên cứu biến động và phân bố cường lực khai thác hải sản ở vùng biển xa bờ Đông Nam Bộ được Viện Nghiên cứu Hải sản thực hiện trong giai đoạn từ năm 2012 - 2013 [32] với các nội dung nghiên cứu chính gồm:

1) Nghiên cứu sự biến động cường lực và sản lượng khai thác hải sản ở vùng biển xa bờ Đông Nam Bộ

2) Nghiên cứu sự phân bố cường lực khai thác hải sản ở vùng biển xa bờ Đông Nam Bộ

3) Xác định sản lượng khai thác bền vững tối đa (MSY), cường lực khai thác tối

ưu (FMSY) phù hợp với trữ lượng nguồn lợi ở vùng biển xa bờ Đông Nam Bộ và đánh giá hiệu quả kinh tế của các đội tàu

4) Đề xuất các giải pháp quản lý cường lực khai thác hải sản ở vùng biển xa bờ Đông Nam Bộ theo hướng bền vững

Đề tài đã sử dụng phương pháp điều tra thu mẫu của FAO, [37] phương pháp tính toán cường lực và sản lượng khai thác bền vững tối đa theo mô hình Schaefer (1954) [44] cho các nhóm nghề lưới kéo, nghề lưới vây, nghề lưới rê, nghề câu, nghề khác Trong mỗi nhóm nghề được chia theo các nhóm công suất 20 - 49 cv, 50 - 89 cv,

90 - 149 cv, 150 - 249 cv và > 250 cv Kết quả nghiên cứu đã xác định được:

- Cường lực khai thác bền vững tối đa theo các đội tàu thực ở vùng biển xa bờ Đông Nam Bộ là 14.912 tàu, trong đó nghề lưới kéo là 5.010 tàu, nghề lưới rê 2.469 tàu, nghề lưới vây 2.998 tàu, nghề câu 1.934 tàu và nhóm nghề khác là 2.501 tàu Cường lực khai thác của nghề lưới kéo hiện nay ở vùng biển xa bờ Đông Nam Bộ vượt ngưỡng cường lực khai thác bền vững tối đa khoảng 56,3%, tương ứng với khoảng 2.823 tàu; các nghề còn lại có cường lực khai thác thấp hơn cường lực khai thác bền vững tối đa

- Sản lượng khai thác bền vững tối đa theo các đội tàu thực ở vùng biển xa bờ Đông Nam Bộ là 1.146.140 tấn, trong đó nghề lưới kéo là 761.857 tấn, nghề lưới rê 128.861 tấn, nghề lưới vây 136.748 tấn, nghề câu 26.394 tấn và nhóm nghề khác là 92.280 tấn

Để phát triển bền vững nghề khai thác hải sản ở vùng biển xa bờ Đông Nam Bộ,

đề tài đã đề xuất cần phải giữ ổn định hoặc cắt giảm cường lực khai thác hiện tại khoảng 1,3% để đạt ngưỡng cường lực khai thác bền vững tối đa; cơ cấu lại các nghề khai thác cần điều chỉnh gồm: nghề lưới kéo cần cắt giảm cường lực khai thác khoảng

Trang 38

2.823 tàu, tăng cường lực khai thác của các nghề còn lại, trong đó nghề lưới vây tăng 1.493 tàu, nghề lưới rê 308 tàu, nghề câu 644 tàu và nhóm nghề khác tăng 180 tàu Ngoài ra, đề tài cũng đã đề xuất các giải pháp quản lý cường lực khai thác hải sản ở vùng biển xa bờ Đông Nam Bộ theo hướng bền vững, như: quản lý dựa trên cường lực khai thác bền vững tối đa; điều chỉnh cường lực khai thác; điều chỉnh cơ cấu nghề khai thác; xác định ngư trường khai thác phù hợp; hỗ trợ chuyển đổi nghề, chuyển đổi ngư cụ đánh bắt; nâng cao năng lực kiểm tra, kiểm soát

- Dự án Quy hoạch tổng thể phát triển thủy sản đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030 được Viện Kinh tế và Quy hoạch Thủy sản xây dựng năm 2012 và được phê duyệt năm 2013 theo quyết định số 1445/QĐ-TTg ngày 16/8/2013 của Thủ tướng Chính phủ Theo quyết định đã được phê duyệt, các chỉ tiêu quy hoạch nghề khai thác hải sản theo từng giai đoạn như sau:

1) Quy hoạch sản lượng khai thác [6]

+ Sản lượng khai thác hải sản cả nước năm 2015 đạt 2.000.000 tấn; năm 2020 đạt 2.200.000 tấn và đến năm 2030 đạt 2.300.000 tấn

+ Sản lượng khai thác hải sản vùng biển vịnh Bắc Bộ năm 2015 đạt 345.000 tấn; năm 2020 đạt 380.000 tấn và đến năm 2030 đạt 400.000 tấn

+ Sản lượng khai thác hải sản vùng biển miền Trung năm 2015 đạt 640.000 tấn; năm 2020 đạt 700.000 tấn và đến năm 2030 đạt 735.000 tấn

+ Sản lượng khai thác hải sản vùng biển Đông Nam Bộ năm 2015 đạt 580.000 tấn; năm 2020 đạt 635.000 tấn và đến năm 2030 đạt 660.000 tấn

+ Sản lượng khai thác hải sản vùng biển Tây Nam Bộ năm 2015 đạt 435.000 tấn; năm 2020 đạt 485.000 tấn và đến năm 2030 đạt 505.000 tấn

2) Quy hoạch cơ cấu tàu thuyền KTTS [6]

Số lượng tàu thuyền khai thác cả nước năm 2015 có 115.000 chiếc; năm 2020, tổng số tàu thuyền khai thác giảm còn 110.000 chiếc, đến năm 2030 giảm xuống còn 95.000 chiếc Trong đó:

+ Nhóm tàu có công suất máy < 20 cv: năm 2015 có 46.000 chiếc; năm 2020, tổng số tàu thuyền khai thác giảm còn 38.000 chiếc, đến năm 2030 giảm xuống còn 26.000 chiếc

+ Nhóm tàu có công suất máy từ 20 - 90 cv: năm 2015 có 43.000 chiếc; năm

2020, tổng số tàu thuyền khai thác giảm còn 42.000 chiếc, đến năm 2030 giảm xuống

Trang 39

còn 37.000 chiếc

+ Nhóm tàu có công suất máy > 90 cv: năm 2015 có 26.000 chiếc; năm 2020, tăng lên 30.000 chiếc và đến năm 2030 tăng lên 32.000 chiếc

3) Quy hoạch tàu thuyền khai thác theo vùng [6]

+ Vùng biển vịnh Bắc Bộ: năm 2015 có 35.000 chiếc; năm 2020, tổng số tàu thuyền khai thác giảm còn 30.000 chiếc và đến năm 2030 giảm xuống còn 22.500 chiếc

+ Vùng biển miền Trung: năm 2015 có 47.000 chiếc; năm 2020, tổng số tàu thuyền khai thác giảm còn 40.000 chiếc và đến năm 2030 giảm xuống còn 33.000 chiếc

+ Vùng biển Đông Nam Bộ: năm 2015 có 17.000 chiếc; năm 2020, tổng số tàu thuyền khai thác tăng lên 18.000 chiếc và đến năm 2030 giảm xuống 15.000 chiếc + Vùng biển Tây Nam Bộ: năm 2015 có 16.000 chiếc; năm 2020, tổng số tàu thuyền khai thác tăng lên 22.000 chiếc và đến năm 2030 tăng lên 24.500 chiếc

3) Quy hoạch cơ cấu nghề nghiệp KTTS

Cơ cấu nghề khai thác thủy sản của cả nước được quy hoạch theo 7 họ nghề chính, gồm: lưới kéo; lưới vây, rùng; lưới vó, mành; lưới rê; nghề câu; nghề cố định và nghề khác [6] Gồm:

+ Nghề lưới kéo: năm 2015 có 18.000 chiếc, trong đó: vịnh Bắc Bộ có 4.400 chiếc, miền Trung có 5.300 chiếc, Đông Nam Bộ có 5.300 chiếc và Tây Nam Bộ có 3.000 chiếc

+ Nghề lưới rê: năm 2015 có 46.000 chiếc, trong đó: vịnh Bắc Bộ có 18.000 chiếc, miền Trung có 19.000 chiếc, Đông Nam Bộ có 1.400 chiếc và Tây Nam Bộ có 3.000 chiếc

+ Nghề lưới vây: năm 2015 có 6.500 chiếc, trong đó: vịnh Bắc Bộ có 450 chiếc, miền Trung có 5.000 chiếc, Đông Nam Bộ có 550 chiếc và Tây Nam Bộ có 500 chiếc + Nghề câu: năm 2015 có 22.500 chiếc, trong đó: vịnh Bắc Bộ có 5.800 chiếc, miền Trung có 11.000 chiếc, Đông Nam Bộ có 2.100 chiếc và Tây Nam Bộ có 3.600 chiếc

+ Nghề vó, mành: năm 2015 có 7.000 chiếc, trong đó: vịnh Bắc Bộ có 2.000 chiếc, miền Trung có 2.000 chiếc và Đông Nam Bộ có 3.000 chiếc

+ Nghề cố định: năm 2015 có 3.000 chiếc, trong đó: vịnh Bắc Bộ có 1.500 chiếc,

Trang 40

miền Trung có 400 chiếc, Đông Nam Bộ có 500 chiếc và Tây Nam Bộ có 600 chiếc + Nghề khác: năm 2015 có 12.000 chiếc, trong đó: vịnh Bắc Bộ có 2.850 chiếc, miền Trung có 4.300 chiếc, Đông Nam Bộ có 4.150 chiếc và Tây Nam Bộ có 700 chiếc

4) Quy hoạch cơ cấu nghề khai thác theo nhóm công suất

Quy hoạch tàu thuyền theo nhóm công suất máy của từng họ nghề khai thác đến năm 2015 như sau [6]:

+ Nghề lưới kéo: năm 2015 có 18.000 chiếc, trong đó: nhóm công suất máy < 20

cv khai thác ven bờ có 2.000 chiếc, nhóm công suất máy từ 20 - 90 cv khai thác vùng lộng có 9.000 chiếc, nhóm công suất máy > 90 cv khai thác xa bờ có 7.000 chiếc + Nghề lưới rê: năm 2015 có 46.000 chiếc, trong đó: nhóm công suất máy < 20

cv khai thác ven bờ có 30.000 chiếc, nhóm công suất máy từ 20 - 90 cv khai thác vùng lộng có 10.000 chiếc, nhóm công suất máy > 90 cv khai thác xa bờ có 6.000 chiếc + Nghề lưới vây: năm 2015 có 6.500 chiếc, trong đó: nhóm công suất máy < 20

cv khai thác ven bờ có 150 chiếc, nhóm công suất máy từ 20 - 90 cv khai thác vùng lộng có 3.850 chiếc, nhóm công suất máy > 90 cv khai thác xa bờ có 2.500 chiếc + Nghề câu: năm 2015 có 22.500 chiếc, trong đó: nhóm công suất máy < 20 cv khai thác ven bờ có 7.000 chiếc, nhóm công suất máy từ 20 - 90 cv khai thác vùng lộng có 11.400 chiếc, nhóm công suất máy > 90 cv khai thác xa bờ có 4.100 chiếc + Nghề vó, mành: năm 2015 có 7.000 chiếc, trong đó: nhóm công suất máy < 20

cv khai thác ven bờ có 2.000 chiếc, nhóm công suất máy từ 20 - 90 cv khai thác vùng lộng có 2.650 chiếc, nhóm công suất máy > 90 cv khai thác xa bờ có 2.300 chiếc

+ Nghề cố định: năm 2015 có 3.000 chiếc, trong đó: nhóm công suất máy < 20

cv khai thác ven bờ có 1.500 chiếc, nhóm công suất máy từ 20 - 90 cv khai thác vùng lộng có 1.100 chiếc, nhóm công suất máy > 90 cv khai thác xa bờ có 400 chiếc

+ Nghề khác: năm 2015 có 12.000 chiếc, trong đó: nhóm công suất máy < 20 cv khai thác ven bờ có 3.350 chiếc, nhóm công suất máy từ 20 - 90 cv khai thác vùng lộng có 5.000 chiếc, nhóm công suất máy > 90 cv khai thác xa bờ có 3.650 chiếc Như vậy, Quy hoạch tổng thể ngành thủy sản đến năm 2020, tầm nhìn 2030 đã quy hoạch khá chi tiết về cơ cấu đội tàu theo các nhóm nghề, nhóm công suất, cho từng vùng biển Đây là căn cứ pháp lý để ngành thủy sản điều chỉnh các hoạt động nhằm đạt được các mục tiêu đề ra

Ngày đăng: 25/06/2017, 14:28

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
40. Huiguo Yu, Yunjun Yu (2008), "Fishing Capacity Management in China: Theoretic and Practical Perspectives", Marine policy, Eslevier Science Ltd, Great Britain, 32, tr. 351-359 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Fishing Capacity Management in China: Theoretic and Practical Perspectives
Tác giả: Huiguo Yu, Yunjun Yu
Năm: 2008
41. Mueter J. Franz, Megrey A. Bernard (2006), "Using multi-species surplus production models to estimate ecosystem-level maximum sustainable yields", Fisheries Research, 81, tr. 189-201 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Using multi-species surplus production models to estimate ecosystem-level maximum sustainable yields
Tác giả: Mueter J. Franz, Megrey A. Bernard
Năm: 2006
29. Thông tin chuyên đề (2006), Khai thác và bảo vệ nguồn lợi thủy sản - Tình hình hiện tại và xu hướng phát triển. http://www.cucktbvnlts.gov.vn, Hà Nội Link
1. Nguyễn Thị Kim Anh (2006), Doanh thu và chi phí của nghề khai thác lưới rê thu ngừ tài Nha Trang, Tạp chí Khoa học - Công nghệ thủy sản, số 03-04/2006, Đại học Nha Trang Khác
2. Bộ Khoa học và Công nghệ (2014), Thông tƣ số 04/2014/TT-BKHCN ngày 08/4/2014 hướng dẫn đánh giá trình độ công nghệ sản xuất, Hà Nội Khác
5. Bộ Thuỷ sản (2006), Thông tƣ số 02/2006/TT-BTS ngày 20 tháng 3 năm 2006 của Bộ Thủy sản hướng dẫn thi hành Nghị định số 59/2005/NĐ - CP ngày 4 tháng 5 năm 2005 của Chính phủ về điều kiện sản xuất, kinh doanh một số ngành nghề thủy sản, Hà Nội Khác
6. Chính phủ (2013), Quyết định 1445/QĐ-TTg, ngày 16/8/2013 về việc phê duyệt quy hoạch tổng thể phát triển thuỷ sản Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030, Hà Nội Khác
7. Chính phủ (2010), Nghị định số 33/2010/NĐ-CP ngày 31/3/2010 về quản lý hoạt động khai thác thủy sản của tổ chức, cá nhân Việt Nam trên các vùng biển, Hà Nội Khác
8. Chính phủ (2014), Nghị định số 67/2014/NĐ-CP, ngày 07 tháng 7 năm 2014 về một số chính sách phát triển thuỷ sản, Hà Nội Khác
9. Chính phủ (2000), Hiệp định hợp tác nghề cá ở Vịnh Bắc Bộ giữa Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Chính phủ nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa, Hà Nội Khác
10. Nguyễn Duy Chỉnh (1999), Quy hoạch chi tiết nghề khai thác hải sản xa bờ đến Khác
11. Nguyễn Duy Chỉnh (2002), Quy hoạch khai thác hải sản gần bờ các tỉnh miền Trung đến năm 2010, Báo cáo tổng kết đề tài cấp Bộ, Hà Nội Khác
12. Nguyễn Duy Chỉnh (2002), Quy hoạch khai thác hải sản gần bờ Đông - Tây Nam Bộ đến năm 2010, Báo cáo tổng kết đề tài cấp Bộ, Hà Nội Khác
13. Thái Ngọc Chiến (2009), Nghiên cứu đề xuất các giải pháp phát triển bền vững nghề khai thác hải sản ven bờ Việt Nam, Báo cáo tổng kết đề tài cấp Bộ, Khánh Hòa Khác
14. Dự án ALMRV I (2000), Báo cáo tổng kết dự án đánh giá Nguồn lợi sinh vật biển Việt Nam, giai đoạn 1, Hải Phòng Khác
15. Dự án ALMRV II (2006), Báo cáo tổng kết dự án Đánh giá nguồn lợi sinh vật biển Việt Nam, giai đoạn 2, Hải Phòng Khác
16. Nguyễn Quý Dương (2009), Điều tra thực trạng và giải pháp chuyển đổi cơ cấu nghề nghiệp khai thác hải sản của Việt Nam, Báo cáo tổng kết đề tài cấp Bộ, Hà Nội Khác
17. Vũ Duyên Hải (2008), Đánh giá trình độ công nghệ khai thác hải sản xa bờ, Báo cáo tổng kết đề tài cấp Bộ, Hà Nội Khác
18. Vũ Việt Hà và CTV (2010), Điều tra hiện trạng nguồn lợi hải sản ở các vùng biển Việt Nam, Viện Nghiên cứu Hải sản, Hải Phòng Khác
19. Nguyễn Văn Kháng (2011), Nghiên cứu cơ sở khoa học phục vụ cho việc điều chỉnh cơ cấu đội tàu và nghề nghiệp khai thác hải sản, Báo cáo tổng kết đề tài cấp Bộ, Hải Phòng Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1.2. Sơ đồ phân chia các tuyến biển vịnh Bắc Bộ - Xác định số lượng và cơ cấu đội tàu khai thác hải sản hợp lý vùng biển vịnh Bắc bộ
Hình 1.2. Sơ đồ phân chia các tuyến biển vịnh Bắc Bộ (Trang 18)
Hình 2.1: Phạm vi nghiên cứu - Xác định số lượng và cơ cấu đội tàu khai thác hải sản hợp lý vùng biển vịnh Bắc bộ
Hình 2.1 Phạm vi nghiên cứu (Trang 48)
Hình 3.1: Biến động tàu thuyền theo nhóm nghề giai đoạn 2007-2014 - Xác định số lượng và cơ cấu đội tàu khai thác hải sản hợp lý vùng biển vịnh Bắc bộ
Hình 3.1 Biến động tàu thuyền theo nhóm nghề giai đoạn 2007-2014 (Trang 60)
Hình 3.5: Năng suất lao động trung bình 1 tàu/năm của các nghề khai thác - Xác định số lượng và cơ cấu đội tàu khai thác hải sản hợp lý vùng biển vịnh Bắc bộ
Hình 3.5 Năng suất lao động trung bình 1 tàu/năm của các nghề khai thác (Trang 74)
Hình 3.6: Doanh lợi trung bình 1 tàu/năm của các nghề khai thác - Xác định số lượng và cơ cấu đội tàu khai thác hải sản hợp lý vùng biển vịnh Bắc bộ
Hình 3.6 Doanh lợi trung bình 1 tàu/năm của các nghề khai thác (Trang 74)
Hình 3.7: Cơ cấu độ tuổi thuyền viên trung bình trên tàu KTHS - Xác định số lượng và cơ cấu đội tàu khai thác hải sản hợp lý vùng biển vịnh Bắc bộ
Hình 3.7 Cơ cấu độ tuổi thuyền viên trung bình trên tàu KTHS (Trang 78)
Hình 3.8: Trình độ học vấn của thuyền viên trên tàu khai thác hải sản - Xác định số lượng và cơ cấu đội tàu khai thác hải sản hợp lý vùng biển vịnh Bắc bộ
Hình 3.8 Trình độ học vấn của thuyền viên trên tàu khai thác hải sản (Trang 79)
Hình 3.10: Đồ thị hồi quy sản lượng và cường lực khai thác đội tàu lưới vây theo - Xác định số lượng và cơ cấu đội tàu khai thác hải sản hợp lý vùng biển vịnh Bắc bộ
Hình 3.10 Đồ thị hồi quy sản lượng và cường lực khai thác đội tàu lưới vây theo (Trang 93)
Hình 3.11: Đồ thị hồi quy sản lượng và cường lực khai thác đội tàu lưới rê theo mô - Xác định số lượng và cơ cấu đội tàu khai thác hải sản hợp lý vùng biển vịnh Bắc bộ
Hình 3.11 Đồ thị hồi quy sản lượng và cường lực khai thác đội tàu lưới rê theo mô (Trang 93)
Hình 3.12: Đồ thị hồi quy sản lượng và cường lực khai thác đội tàu câu theo mô - Xác định số lượng và cơ cấu đội tàu khai thác hải sản hợp lý vùng biển vịnh Bắc bộ
Hình 3.12 Đồ thị hồi quy sản lượng và cường lực khai thác đội tàu câu theo mô (Trang 94)
Hình Schaefer. - Xác định số lượng và cơ cấu đội tàu khai thác hải sản hợp lý vùng biển vịnh Bắc bộ
nh Schaefer (Trang 94)
Hình 3.16: Đồ thị hồi quy sản lượng và cường lực khai thác đội tàu lưới rê theo mô - Xác định số lượng và cơ cấu đội tàu khai thác hải sản hợp lý vùng biển vịnh Bắc bộ
Hình 3.16 Đồ thị hồi quy sản lượng và cường lực khai thác đội tàu lưới rê theo mô (Trang 96)
Hình 3.17: Đồ thị hồi quy sản lượng và cường lực khai thác đội tàu câu theo mô - Xác định số lượng và cơ cấu đội tàu khai thác hải sản hợp lý vùng biển vịnh Bắc bộ
Hình 3.17 Đồ thị hồi quy sản lượng và cường lực khai thác đội tàu câu theo mô (Trang 97)
Hình Fox. - Xác định số lượng và cơ cấu đội tàu khai thác hải sản hợp lý vùng biển vịnh Bắc bộ
nh Fox (Trang 97)
5  Bảng thống kê số liệu điều tra nghề cá (minh họa)  19 - Xác định số lượng và cơ cấu đội tàu khai thác hải sản hợp lý vùng biển vịnh Bắc bộ
5 Bảng thống kê số liệu điều tra nghề cá (minh họa) 19 (Trang 136)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w