PHẦN MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Đào tạo bồi dưỡng cán bộ, công chức là nội dung quan trọng và tương đối lớn trong tổng thể cải cách hành chính Nhà nước giai đoạn từ 2001 đến nay. Trong tiến trình thực hiện cải cách hành chính, hoạt động đào tạo, bồi dưỡng công chức đóng vai trò quan trọng để nâng cao năng lực thực hiện công việc, nâng cao chất lượng đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ công chức. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: “Cán bộ là cái gốc của mọi công việc”, “Công việc thành công hay thất bại đều do cán bộ tốt hay kém” Đào tạo, bồi dưỡng nâng cao năng lực làm việc cho công chức là công việc thường xuyên diễn ra trong suốt cuộc đời của người công chức, kể từ khi bước vào nền công vụ cho đến khi ra khỏi nó. Vì thế việc đào tạo bồi dưỡng cán bộ, công chức, cần đáp ứng nhu cầu đào tạo cần thiết, đào tạo những mong ước được đào tạo, bồi dưỡng của cán bộ công chức và nó cần được nghiên cứu cần đầu tư về sức lực và tiền của từng bước nâng cao để hiệu qủa của công tác này. Việc đào tạo đội ngũ cán bộ, công chức góp phần thúc đẩy mạng qúa trình phát triển, đáp ứng yêu cầu đòi hỏi của nhân dân để đáp ứng một nền công vụ thực sự hiện đại văn minh. Tích cực lao động của cán bộ, công chức được đo bằng mức độ hoạt động số lượng và chất lượng lao động, tính tích cực của cán bộ, công chức được thể hiện bằng sự năng động của người đó, thể hiện ham muốn lao động, nhu cầu, cống hiến, sự năng nổ chịu khó, sự chủ động năng động trong lao động, sự sáng tạo, có trách nhiệm trong việc giải quyết công việc, và trong mối quan hệ với cộng đồng và với người dân. Do vậy, việc đào tạo bồi dưỡng cán bộ, công chức là việc vô cùng quan trọng và cần thiết trong bất cứ lúc nào và bất cứ thời gian nào. Xuất phát từ thực tiễn trên tôi đã chọn để tài: “Công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức của tỉnh Thừa Thiên Huế trong giai đoạn hiện nay”. Để có thể đóng góp được phần nhỏ của mình vào vấn đề cấp thiết đối với công tác đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ, công chức ở tỉnh Thừa Thiên Huế nói riêng và của cả nước nói chung.
Trang 1PHẦN MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Đào tạo bồi dưỡng cán bộ, công chức là nội dung quan trọng và tương đối lớn trongtổng thể cải cách hành chính Nhà nước giai đoạn từ 2001 đến nay Trong tiến trình thựchiện cải cách hành chính, hoạt động đào tạo, bồi dưỡng công chức đóng vai trò quan trọng
để nâng cao năng lực thực hiện công việc, nâng cao chất lượng đào tạo, bồi dưỡng đội ngũcông chức Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: “Cán bộ là cái gốc của mọi công việc”,
“Công việc thành công hay thất bại đều do cán bộ tốt hay kém”1
Đào tạo, bồi dưỡng nâng cao năng lực làm việc cho công chức là công việc thườngxuyên diễn ra trong suốt cuộc đời của người công chức, kể từ khi bước vào nền công vụcho đến khi ra khỏi nó Vì thế việc đào tạo bồi dưỡng cán bộ, công chức, cần đáp ứng nhucầu đào tạo cần thiết, đào tạo những mong ước được đào tạo, bồi dưỡng của cán bộ côngchức và nó cần được nghiên cứu cần đầu tư về sức lực và tiền của từng bước nâng cao đểhiệu qủa của công tác này
Việc đào tạo đội ngũ cán bộ, công chức góp phần thúc đẩy mạng qúa trình phát triển, đápứng yêu cầu đòi hỏi của nhân dân để đáp ứng một nền công vụ thực sự hiện đại văn minh Tíchcực lao động của cán bộ, công chức được đo bằng mức độ hoạt động số lượng và chất lượnglao động, tính tích cực của cán bộ, công chức được thể hiện bằng sự năng động của người đó,thể hiện ham muốn lao động, nhu cầu, cống hiến, sự năng nổ chịu khó, sự chủ động năng độngtrong lao động, sự sáng tạo, có trách nhiệm trong việc giải quyết công việc, và trong mối quan
hệ với cộng đồng và với người dân Do vậy, việc đào tạo bồi dưỡng cán bộ, công chức là việc
vô cùng quan trọng và cần thiết trong bất cứ lúc nào và bất cứ thời gian nào
Xuất phát từ thực tiễn trên tôi đã chọn để tài: “Công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức của tỉnh Thừa Thiên Huế trong giai đoạn hiện nay” Để có thể đóng góp được
phần nhỏ của mình vào vấn đề cấp thiết đối với công tác đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán
bộ, công chức ở tỉnh Thừa Thiên Huế nói riêng và của cả nước nói chung
1 Hồ Chí Minh toàn tập, Nxb CTQG, Hà Nội, 1995, Tập 5, trang 269
Trang 22 Tình hình nghiên cứu
Công tác đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ, công chức trong giai đoạn hiện nay được
sự quan tâm của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân Trên thực tế đã có nhiều công trìnhnghiên cứu về đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức như: “Công tác đào tạo, bồi dưỡng cán
bộ, công chức nhà nước tỉnh Ninh Bình” của Tô Văn Hoạt; “Xây dựng đội ngũ cán bộ, côngchức”… Ở tỉnh Thừa Thiên Huế cũng có nhiều công trình nghiên cứu về công tác đào tạo,bồi dưỡng đội ngũ cán bộ, công chức Tuy nhiên những công trình nghiên cứu trên cũngchưa thể đáp ứng được nhu cầu về đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ, công chức của cả nướcnói chung và của tỉnh Thừa Thiên Huế nói riêng
3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích: Nhằm làm rõ một số vấn đề lý luận về công tác đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán
bộ, công chức ở tỉnh Thừa Thiên Huế; làm rõ thực trạng, đưa ra một số giải pháp của công tác
đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức chức ở tỉnh Thừa Thiên Huế giai đoạn hiện nay.
3.2 Nhiệm vụ: Trên cơ sở nghiên cứu lý luận chỉ ra nội dung cũng như yêu cầu của qúa
trình đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ, công chức, khảo sát thực trạng và đánh giá thựctrạng , tìm ra những ưu điểm, tồn tại và hạn chế, đưa ra những giải pháp đẩy mạnh pháttriển công tác đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ, công chức đáp ứng yêu cầu thực hiệnnhiệm vụ mới
4 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu, thời gian nghiên cứu
Công tác đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ, công chức của tỉnh Thừa ThiênHuế trong giai đoạn hiện nay
5 Phương pháp nghiên cứu: Sử dụng phương pháp điều tra xã hội học, phương
pháp phân tích tài liệu, phương pháp tổng hợp…
6 Kết cấu của tiểu luận
Ngoài phần mở đầu và kết luận, phần nội dung của tiểu luận gồm 3 chương 9 tiết
Trang 3PHẦN NỘI DUNG
Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG CÁN BỘ, CÔNG CHỨC
1.1 Các khái niệm
1.1.1 Đào tạo, bồi dưỡng
Đào tạo được hiểu là: “hệ thống cung cấp trí thức về chuyên môn nghề nghiệp”.Bồi dưỡng là bổ sung nâng cao về nhiều vấn đề cả về chuyên môn nghiệp vụ,đạo đức, chính trị
Theo từ điển Tiếng Việt của Nhà xuất bản Đại học quốc gia thành phố Hồ ChíMinh, năm 2008 trang 478 đã định nghĩa: “Đào tạo là dạy dỗ, rèn luyện, để trở nênngười có hiểu biết, có nghề nghiệp” và “Bồi dưỡng là làm cho khỏe thêm, mạnhthêm, làm cho tốt hơn, giỏi hơn”
Khái niệm “đào tạo, bồi dưỡng” với nghĩa này đã được sử dụng ngày càng rộng rãi và
được dùng trong các nghị quyết của Đảng, văn bản quy phạm pháp luật của Nhà nước Đào tạo, bồi dưỡng cũng được sử dụng với nội hàm cập nhật kiến thức trang bị
kỹ năng, phương pháp làm việc Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh dùng khái niệmhuấn luyện cán bộ Người cho rằng “huấn luyện phải thiết thực, sao cho những ngườiđến học, học rồi, về địa phương họ có thể thực hành ngay”, bởi vì “học cốt để màlàm Học mà không làm được, học mấy cũng vô ích”
Trang 4Trong đại từ điển Tiếng Việt của Nhà xuất bản Đại học quốc gia thành phố HồChí Minh, năm 2008, trang 185 quy định: “Cán bộ là người làm việc trong cơ quannhà nước Người giữ chức vụ phân biệt với người bình thường, không giữ chức vụtrong các tổ chức cơ quan nhà nước”
Còn trong luật cán bộ, công chức năm 2008 quy định: “Cán bộ là công dân ViệtNam, được bầu cử, phê chuẩn, bổ nhiệm giữ chức vụ, chức danh theo nhiệm kỳ trong cơquan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị – xã hội ở trung ương,
ở tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương ở huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh,trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước”
1.1.2.2 Công chức
Các hoạt động thuộc chức năng công vụ do các công chức của bộ máy hànhchính nhà nước thực hiện, đó cũng chính là lý do chủ yếu khi nói đến công vụ, cáchọc giả và các nhà hoạt động thực tiễn luôn đề cập đội ngũ công chức
Lịch sử phát triển của đội ngũ công chức Việt nam, có thể đưa ra khái niệmcông chức là: “những người được tuyển dụng, bổ nhiệm giữ một công vụ thườngxuyên, làm việc trong một cơ quan nhà nước, được phân loại theo trình độ đào tạo,ngành chuyên môn, được xếp vào một ngạch hành chính, trong biên chế Nhà nước vàhưởng lương từ ngân sách Nhà nước”
Và theo luật cán bộ, công chức năm 2008 quy định: “Công chức là công dânViệt Nam, được tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh trong cơ quancủa Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị – xã hội ở trung ương,cấp tỉnh, cấp huyện; trong cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân mà không phải
là sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng; trong cơ quan, đơn vịthuộc Công an nhân dân mà không phải là sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên nghiệp và trong
bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập của Đảng Cộng sản ViệtNam, Nhà nước, tổ chức chính trị – xã hội, trong biên chế và hưởng lương từ ngânsách nhà nước; đối với công chức trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự
Trang 5nghiệp công lập thì lương được bảo đảm từ quỹ lương của đơn vị sự nghiệp công lậptheo quy định của pháp luật.
1.2 Quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng Cộng sản Việt Nam về đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức
1.2.1 Quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh về công tác đào tạo bồi dưỡng cán bộ, công chức
Vấn đề cốt yếu trong tư tưởng Hồ Chí Minh là độc lập dân tộc phải gắn liền với chủnghĩa xã hội, công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước Việt Nam là một cuộc cách mạngmang tính toàn diện bao gồm 3 lĩnh vực: Chính trị - tư tưởng, Cơ cấu kinh tế, Văn hóa xã hội.Nhưng muốn xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội thì trước hết phải hoàn thiện được yếu tốchủ đạo là tư tưởng và con người chủ nghĩa xã hội, trong đó người cán bộ rất quan trọng bởi:
"Con người chủ nghĩa xã hội là con người có đạo đức cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư,một lòng một dạ phục vụ nhân dân, phục vụ cách mạng"
Chủ tịch Hồ Chí Minh đánh giá cao vai trò của đội ngũ cán bộ, công chức trong việcphát triển đất nước, Người luôn luôn căn dặn chúng ta phải làm tốt công tác cán bộ đặc biệt
là công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức Vì “Cán bộ là tiền vốn của đoàn thể Cóvốn mới làm ra lãi Bất cứ chính sách, công tác gì nếu có cán bộ tốt thì thành công, tức là cólãi Không có cán bộ tốt thì hỏng việc tức là lỗ vốn”2
Như vậy, có thể nói rằng tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh về công tác đào tạo,bồi dưỡng cán bộ, công chức là tư tưởng chủ đạo, là kim chỉ nam cho mọi hành động củaĐảng và Nhà nước ta trong việc đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ, công chức trong thời
kỳ mới đáp ứng nhu cầu phát triển của nước trong giai đoạn hội nhập kinh tế quốc tế
1.2.2 Quan điểm của Đảng cộng sản Việt Nam về công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức
Trong Đại hội lần thứ Ba của Ban chấp hành Trung ương khóa VII đã nhấnmạnh: “Trước thử thách mới đòi hỏi Đảng phải xây dựng một đội ngũ cán bộ vừa có
2 Hồ Chí Minh toàn tập, Nxb CTQG, Hà Nội, 1995, Tập 6, trang 46.
Trang 6bản lĩnh chính trị vững vàng, vừa có kiến thức, năng lực và uy tín để lãnh đạo đấtnước vượt qua những thử thách, đây là khâu then chốt có ý nghĩa quyết định sựnghiệp cách mạng của Đảng”3
Công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ có một vai trò vô cùng quan trọng đối với
sự phát triển của Đảng, của đất nước Vì “Cán bộ là nhân tố quyết định sự thành bạicủa cách mạng, gắn liền với vận mệnh của Đảng, của đất nước và của chế độ, làkhâu then chốt trong công tác xây dựng Đảng”4
Đặc biệt, trong điều kiện đẩy mạnh phát triển nền kinh tế thị trường xã hội chủnghĩa, mở rộng hội nhập quốc tế và những diễn biến phức tạp của tình hình thế giới,công tác cán bộ lại càng có ý nghĩa quan trọng, liên quan đến sự sống còn của Đảngcủa chế độ xã hội chủ nghĩa Tại Đại hội IX Đảng ta khẳng định: “Xây dựng đội ngũcán bộ, trước hết là cán bộ lãnh đạo, đảng viên ở các cấp, vững vàng về chính trị,gương mẫu về đạo đức, trong sạch về lối sống, có trí tuệ, có kiến thức và năng lựchoạt động thực tiễn, gắn bó với nhân dân”5
Đến Đại hội X (2006), Trung ương Đảng nhiệm vụ nghiên cứu xây dựng chiếnlược quốc gia về nhân tài và chương trình quốc gia về đào tạo, bồi dưỡng cán bộ
Ngay sau khi có Nghị quyết Trung ương IX khóa X, Ban chấp hành Trung ương đãtriển khai nhiệm vụ đào tạo, bồi dưỡng cán bộ chuẩn bị các điều kiện triển khai nghiêncứu đề tài nghiên cứu Chương trình quốc gia về đào tạo, bồi dưỡng cán bộ Đồng thờigiao nhiệm vụ cho các vụ, đơn vị trong Ban phối hợp tổ chức triển khai chương trình đàotạo, bồi dưỡng cán bộ ở nước ngoài bằng ngân sách nhà nước
Đảng cộng sản Việt Nam đánh giá cao vai trò của cán bộ và công tác cán bộ.Chính vì thế ngay từ khi mới thành lập Đảng đã chú ý đến công tác đào tạo, bồidưỡng cán bộ công chức
3 Hội nghị lần thứ 3 Ban chấp hành Trung ương khóa VII, Nxb Sự thật, Hà Nội, Trang 85
4 Văn kiện Hội nghị lần thứ 3 Ban chấp hành Trung ương khóa VII, Nxb CTQG, H, 1997, trang 66
5 Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX, Nxb CTQG, H, 2001, trang 141
Trang 71.4 Mục tiêu, nguyên tắc, phương thức của đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức
1.4.1 Về mục tiêu
Mục tiêu chính của việc đào tạo, bồi dưỡng công chức là để trang bị kiến thức, kỹ năng
và phương pháp thực hiện nhiệm vụ, công vụ, góp phần xây dựng đội ngũ công chức chuyênnghiệp, có đủ năng lực xây dựng nền hành chính tiên tiến, hiện đại Các hình thức đào tạo,bồi dưỡng công chức gồm có: tập trung, bán tập trung, vừa làm vừa học và từ xa
1.4.2 Về nguyên tắc
Việc đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, cử đi tham quan học tập, việc nghỉ phép, nghỉtheo chế độ do các Phòng, Trung tâm bố trí, sắp xếp, đề nghị và được sự đồng ý củaLãnh đạo Văn phòng
Việc bố trí đi học nâng cao nghiệp vụ sẽ ưu tiên cho những cán bộ, công chức, viênchức đăng ký theo học những lĩnh vực liên quan đến công tác mình đang phụ trách, đangđược định hướng bố trí hoặc những ngành học về quản lý nhà nước
Trưởng phòng, Giám đốc trung tâm có trách nhiệm giúp lãnh đạo văn phòng chỉ đạo,theo dõi và tham mưu hoặc chủ động bố trí cán bộ làm thay và bàn giao công việc khi cán
bộ trở lại làm việc, đảm bảo theo nguyên tắc việc nghỉ phép theo chế độ, nghỉ ốm, đi côngtác, học tập dài ngày của cán bộ, công chức, viên chức không được làm ảnh hưởng đến hoạtđộng điều hành của các Phòng, Trung tâm, của văn phòng và Uỷ ban nhân dân tỉnh
Cán bộ, công chức được cử đi học tập, đào tạo trong nước hoặc đi công tác, thamquan học tập ở nước ngoài khi hoàn thành khoá học hoặc kết thúc chuyến công tác phải báocáo Lãnh đạo Văn phòng bằng văn bản
Chính phủ vừa ban hành Nghị định số 18/2010/NĐ-CP có hiệu lực từ ngày1/5/2010 về đào tạo và bồi dưỡng công chức
Về nguyên tắc, trên hết, đào tạo, bồi dưỡng phải căn cứ vào vị trí việc làm, tiêuchuẩn của ngạch công chức, tiêu chuẩn chức vụ lãnh đạo, quản lý và nhu cầu xâydựng, phát triển nguồn nhân lực của cơ quan, đơn vị Việc cử đi học phải được tiếnhành công khai, minh bạch
Trang 8Có 4 chế độ đào tạo, bồi dưỡng, gồm: Hướng dẫn tập sự đối với công chức trongthời gian tập sự, bồi dưỡng theo tiêu chuẩn ngạch công chức và đào tạo, bồi dưỡng theotiêu chuẩn chức vụ lãnh đạo quản lý, bồi dưỡng bắt buộc tối thiểu các kiến thức, kỹ năngchuyên ngành hàng năm
Chứng chỉ đào tạo, bồi dưỡng công chức được dùng theo mẫu chung thống nhấttrong cả nước
1.4.3 Về phương thức đào tạo bồi dưỡng cán bộ, công chức
Phương thức đào tạo cán bộ, công chức ở Việt Nam rất đa dạng và phong phú
Vì vậy, việc đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức phải kết hợp đào tạo chính quyvới các hình thức đào tạo khác cho từng loại cán bộ
Việc cử đi đào tạo nước ngoài thực hiện bằng hình thức liên kết với các cơ sở đào tạo cônglập (Viện nghiên cứu khoa học, Trung tâm nghiên cứu kho học, Trường đại học ), liên kếtđào tạo với các trường đại học ở nước ngoài , qua các hình thức:
Đào tạo toàn phần tại nước ngoài
Đào tạo bán phần (một nửa thời gian ở trong nước và một nửa thời gian ở nước ngoài)
Đào tạo du học tại chỗ (đào tạo trong nước)
Liên kết với các tỉnh, thành phố, bộ, ngành gửi cán bộ, công chức, viên chức đi đàotạo Danh mục các quốc gia và cơ sở giáo dục mà tỉnh gửi cán bộ, công chức, viênchức đi đào tạo sẽ được cơ quan có thẩm quyền công bố hàng năm
1.5 Nội dung đào tạo bồi dưỡng cán bộ, công chức
Thực hiện Nghị quyết Trung ương 3 (khoá VIII), Quy định số 54-QĐ/TW ngày
12-5-1999 của Bộ Chính trị về chế độ học tập lý luận chính trị trong Đảng và các quyết định củaThủ tướng Chính phủ về đào tạo, bồi dưỡng kiến thức quản lý nhà nước cho cán bộ, côngchức, những năm qua công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức các cấp, ngành đã thuđược nhiều kết quả, góp phần nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức đáp ứng yêucầu nhiệm vụ trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước
Trang 9Vì vậy, muốn nâng cao chất lượng công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ nên đổimới theo hướng đào tạo, bồi dưỡng theo nhu cầu công tác của người học Để thựchiện tốt việc này cần làm rõ một số nội dung sau:
Một là, phạm vi đào tạo, bồi dưỡng theo nhu cầu công tác rất rộng, nên để có cơ sở
xây dựng nội dung, chương trình, xác định phương pháp đào tạo, bồi dưỡng theo hướngnày không chỉ xác định đối tượng đào tạo, bồi dưỡng theo cấp bậc, chức vụ lãnh đạo, quản
lý hoặc theo ngạch bậc cán bộ, công chức hiện nay mà còn phải xác định đối tượng đào tạo,bồi dưỡng theo chức danh chuyên môn, nghiệp vụ mà cán bộ, công chức đảm nhiệm đểxây dựng nội dung chương trình, phương pháp đào tạo, bồi dưỡng phù hợp Hiện nay, cán
bộ, công chức trong hệ thống chính trị trước khi được bầu, bổ nhiệm vào ngạch hoặc chứcdanh nào đó, họ đã được đào tạo ở một trình độ nhất định Vì vậy, cần nắm chắc trình độ lýluận chính trị, chuyên môn, nghiệp vụ đã được đào tạo để xây dựng nội dung, chương trìnhđào tạo phù hợp nhằm bổ sung kiến thức, nâng cao trình độ, tránh trùng lặp
Thứ hai, để đáp ứng mục tiêu đào tạo, bồi dưỡng theo nhu cầu công việc, cần phải luôn
luôn xác định rõ mục đích nhằm đào tạo ai, giúp họ đáp ứng được những gì nhu cầu của côngviệc đang làm, trên cơ sở đó xác định nội dung, chương trình và hình thức, phương pháp đàotạo cho phù hợp Mỗi chương trình đào tạo bồi dưỡng sẽ nhằm đạt được những mục tiêu nhấtđịnh, vì vậy trên cơ sở nắm được mục tiêu của khoá đào tạo, bồi dưỡng cần xác định ý nghĩacủa từng bài giảng, từng chuyên đề, lựa chọn kiến thức và phương pháp phù hợp
Thứ ba, đào tạo, bồi dưỡng theo nhu cầu công việc đòi hỏi phải xác định rõ
kiến thức, kỹ năng người học cần đạt được sau khi kết thúc khoá học Đó có thể là sựcập nhật thông tin, bổ sung tri thức mới, hiện đại, sự phát triển kỹ năng nghề nghiệphoặc nghiệp vụ công tác đáp ứng nhu cầu công việc, sự thay đổi về thái độ tráchnhiệm đối với công việc và các vấn đề của cuộc sống
Căn cứ vào nhu cầu học tập và mục tiêu đào tạo, bồi dưỡng, người xây dựng nộidung, người giảng dạy và người học đều phải bám sát vào đó để đạt được yêu cầu đề ra
Trang 10Thực tế cho thấy, nội dung chương trình chỉ thu hút người học khi thực sự thiết thực đối với
họ
Thứ tư, để đào tạo, bồi dưỡng có chất lượng, hiệu quả cần thực sự đổi mới phương pháp
dạy học Phần lớn người học những chương trình đào tạo, bồi dưỡng này là cán bộ, công chức đãđạt chuẩn ở những trình độ nhất định, đã qua thực tiễn, có nhiều kinh nghiệm công tác, có khảnăng tự học, tự nghiên cứu, phân tích đánh giá vấn đề Vì vậy, phương pháp đào tạo, bồi dưỡng đốivới họ không thể giống như đối với sinh viên Đối với đối tượng này chỉ nên định hướng nội dunghọc tập, nghiên cứu, nêu vấn đề, tình huống và hướng dẫn, gợi mở, đối thoại để rèn luyện phươngpháp, kỹ năng giải quyết vấn đề, xử lý tình huống Để việc học tập có kết quả, đạt chất lượng cao,sau mỗi bài học, cụm chuyên đề nên cho học viên đi nghiên cứu, khảo sát thực tế, thực tập rút kinhnghiệm với thời gian thích hợp Nội dung đi nghiên cứu, khảo sát thực tế phải sát với nội dung bàihọc, có giảng viên hướng dẫn, sau đợt nghiên cứu, thực tập học viên phải có bài thu hoạch
Cuối cùng, một yêu cầu quan trọng là phải có đội ngũ giảng viên chuyên sâu,
giàu kinh nghiệm nghiên cứu thực tiễn, có phương pháp giảng dạy phù hợp Chútrọng xây dựng đội ngũ giảng viên kiêm chức, các chuyên gia đầu ngành trong cáclĩnh vực để đáp ứng yêu cầu đào tạo, bồi dưỡng theo nhu cầu công việc đạt kết quả
Chương 2 THỰC TRẠNG CÔNG TÁC ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG ĐỘI NGŨ CÁN BỘ,
CÔNG CHỨC CỦA TỈNH THỪA THIÊN HUẾ
TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY 2.1 Thực trạng tình hình kinh tế - xã hội của tỉnh Thừa Thiên Huế ảnh hưởng đến việc đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức
2.1.1 Đặc điểm tình hình kinh tế - xã hội của tỉnh Thừa Thiên Huế
Huế là một thành phố ở miền Trung của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa ViệtNam và là tỉnh lị của tỉnh Thừa Thiên-Huế Là kinh đô của Việt Nam dưới triềuNguyễn, Huế nổi tiếng với những đền chùa, thành quách, lăng tẩm, kiến trúc gắn liền
Trang 11với cảnh quan thiên nhiên Với diện tích của tỉnh là 5.053,99 km², dân số theo kết quảđiều tra ngày 01/04/2009 là 1.087.579 người.
Tỉnh Thừa Thiên - Huế là một trong 4 tỉnh thuộc vùng kinh tế trọng điểm miềnTrung, năm ở toạ độ địa lý 16-16,80 độ vĩ bắc và 107,8-108,20 độ kinh đông, cách thủ
đô Hà Nội 688 km Phía bắc giáp tỉnh Quảng Trị, phía nam giáp thành phố Ðà Nẵng vớiranh giới là đèo Hải Vân, phía tây giáp nước Cộng hoà Dân chủ Nhân dân Lào, phíaĐông được giới hạn bởi biển Ðông
Một số chỉ tiêu KT-XH chủ yếu như: Tốc độ tăng trưởng kinh tế ước đạt trên11,19%, vượt kế hoạch đề ra (kế hoạch tăng trên 10%); trong đó, dịch vụ chiếm 45,9%trong GDP tăng 11%; công nghiệp - xây dựng chiếm 37,6% trong GDP, tăng 14,4%,riêng nông nghiệp mặc dù chịu ảnh hưởng của thiên tai và dịch bệnh nhưng đã đạt mứctăng 2,5% chiếm 16,5% trong GDP Thu ngân sách Nhà nước ước đạt 2.520 tỷ đồng,vượt 17,5% dự toán, tăng 30,9% so năm 2008 Tổng vốn đầu tư toàn xã hội ước đạt 7.243
tỷ đồng, tăng 25,2%, vượt kế hoạch 8,1% Tổng sản phẩm trong tỉnh bình quân đầu ngườiước đạt trên 1.000 USD (KH năm 2009 là 900 USD) Hoạt động xuất khẩu có tiến bộ, giátrị xuất khẩu ước đạt 140,8 triệu USD, tăng 30,8% so năm 2008
Thương mại, dịch vụ tăng khá, tổng mức bán lẻ và doanh thu dịch vụ ước đạt 9,9nghìn tỷ đồng, tăng 18,3% so năm 2008 Công tác quản lý thị trường, chống buôn lậu,hàng giả và gian lận thương mại đã góp phần bình ổn thị trường Các hoạt động Hội chợtriển lãm Làng nghề Việt Nam 2009, chương trình “Tuần hàng Việt Nam” đã góp phầnlàm thị trường sôi động hơn
Lĩnh vực công nghiệp đã tập trung cơ cấu lại sản xuất để vượt qua khó khăn, ổnđịnh và phát triển Giá trị sản xuất ước đạt 5604,7 tỷ đồng, tăng 16,8% so năm 2008
Công tác quy hoạch trong năm 2009 đã được tỉnh Thừa Thiên Huế coi trọng,nhất là quy hoạch xây dựng Tiếp tục triển khai 47 dự án quy hoạch ngành, lĩnh vực;trong đó có 42 quy hoạch chi tiết xây dựng đô thị, khu công nghiệp, quy hoạch sử
Trang 12dụng đất cấp xã; tổ chức lập 29 đề án, kế hoạch thực hiện các đề án chiến lược, quyhoạch của Trung ương và của tỉnh
Lĩnh vực văn hoá - thể thao có nhiều nhiều hoạt động đựoc tổ chức Phong trào
“Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa” đã có 1.125 làng, thôn, bản, tổ dân phốđược công nhận đơn vị đạt chuẩn văn hóa (tỷ lệ 82,2%); 911 cơ quan, đơn vị được côngnhận đạt chuẩn văn hóa (tỷ lệ 85,8%); 189.060 gia đình được công nhận gia đình văn hóa(tỷ lệ 87,1%), 28 xã, phường, thị trấn đăng ký xây dựng xã, phường, thị trấn văn hóa (tỷ lệ27,3%), 38,3% số thôn, bản có nhà sinh hoạt cộng đồng
Công tác bảo tồn, phát huy giá trị di sản văn hóa dân tộc được quan tâm Đã
ưu tiên đầu tư các thiết chế văn hóa, các dự án tu bổ di tích Hoàn chỉnh công trìnhTượng đài Quang Trung Đã hoàn thành nhiều hồ sơ công nhận di tích; trong đó, địađạo Bạch Mã, khu lưu niệm Đại tướng Nguyễn Chí Thanh, làng cổ Phước Tích đãđược xếp hạng di tích quốc gia Quần thể kiến trúc Cố đô Huế đã được Bộ Văn hóaThể thao và Du lịch trao bằng xếp hạng di tích quốc gia đặc biệt
Lĩnh vực y tế đã làm tốt công tác giám sát dịch tễ, tuyên truyền, phòng chống các bệnhtruyền nhiễm gây dịch nhờ vậy, không để dịch bệnh xảy ra
Lĩnh vực giáo dục đã giữ vững chất lượng phổ cập giáo dục tiểu học và trung học cơ
sở Kỳ thi tốt nghiệp phổ thông năm học 2008 – 2009, tỷ lệ đỗ tốt nghiệp đạt 86,29%, tăng15,37% so với năm học trước Mạng lưới các trường học phát triển cả về số lượng và chấtlượng; đã có 116/577 trường đạt chuẩn Quốc gia, chiếm tỷ lệ 20,1%; cơ bản hoàn thànhchương trình cải tạo môi trường vệ sinh trường học
2.2 Thực trạng đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức
2.2.1 Thực trạng đội ngũ cán bộ, công chức tỉnh Thừa Thiên - Huế
Qua hơn 20 năm đổi mới, đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức của tỉnh Thừa ThiênHuế không ngừng trưởng thành cả về số lượng và chất lượng, kiến thức về năng lực thựctiễn không ngừng được nâng lên, hầu hết có bản lĩnh chính trị, kiên định lập trường, quyếttâm thực hiện công cuộc đổi mới theo chủ trương của Đảng và Nhà nước, có tâm huyết và