Từ những năm 60 của TK XVIII , Cách mạng công nghiệp diễn ra đầu tiên ở Anh sau lan ra các nước khác như Pháp , Đức mang đến sự phát triển những nhà máy có quy mô sản xuất lớn và những t
Trang 1LỊCH SỬ HÌNH THÀNH 02
NGUYÊN LÝ – DÂY CHUYỀN CÔNG NĂNG 08
KẾT CẤU CHÍNH - CẤU TRÚC MÁI 15
VỎ BAO CHE 34
THÔNG GIÓ 38
CÂY XANH 41
VỆ SINH 43
XỬ LÝ NƯỚC THẢI 50
CÔNG TRÌNH THAM KHẢO 52
Trang 2Những ngành công nghiệp đầu tiên khởi nguồn từ chế tạo những hàng hóa có lợi nhuận cao như vũ khí, vải vóc, đồ gốm sứ Tại Châu Âu thời Trung cổ, sản xuất bị chi phối bởi các phường thợ
ở các thành phố, thị trấn Các phường hội này củng cố quyền lợi hội viên, duy trì chất lượng sản phẩm và lối cư xử có đạo lý
Từ những năm 60 của TK XVIII , Cách mạng công nghiệp diễn ra đầu tiên ở Anh sau lan ra các nước khác như Pháp , Đức mang đến sự phát triển những nhà máy có quy mô sản xuất lớn và những thay đổi xã hội tiếp theo Ban đầu, các nhà máy sử dụng năng lượng hơi nước rồi chuyển sang sử dụng năng lượng điện khi lưới điện hình thành
Sản xuất dây chuyền cơ khí hóa xuất hiện để lắp ráp sản phẩm, mỗi công nhân chỉ thực hiện những động tác nhất định trong quá trình sản xuất Sản xuất dây chuyền mang lại hiệu quả sản xuất nhảy vọt, giảm chi phí sản xuất Sau này, tự động hóa dần thay thế thao tác của con người Quá trình này được gia tốc hơn nữa nhờ có sự phát triển của máy tính và người máy
Về mặt lịch sử, một số ngành sản xuất dần đi xuống bởi nhiều yếu tố kinh tế, bao gồm việc phát triển những công nghệ thay thế hay việc mất đi lợi thế cạnh tranh Ví dụ, sự giảm dần tính quan trọng của ngành chế tạo toa xe đường sắt bởi ô tô trở nên thịnh hành
TRANG 02
Trang 3Cách mạng Công nghiệp lần 1 - cuối thế kỷ 18 và đầu thế kỷ 19
Cách mạng công nghiệp là cuộc cách mạng trong lĩnh vực sản xuất; là sự thay đổi cơ bản các điều kiện kinh tế-xã hội, văn hóa và kỹ thuật, xuất phát từ nước Anh sau đó lan tỏa ra toàn thế giới Trong thời kỳ này, nền kinh tế giản đơn, quy mô nhỏ, dựa trên lao động chân tay được thay thế bằng công nghiệp và chế tạo máy móc quy mô lớn
Cuộc cách mạng bắt đầu với sự phát triển sản xuất hàng hóa của ngành công nghiệp dệt Sau
đó, với nhu cầu cung cấp máy móc và năng lượng cho công nghiệp dệt, các kỹ thuật gia công sắt thép được cải thiện và than đá sử dụng với khối lượng lớn Thương mại mở rộng tạo điều kiện cho
sự ra đời của kênh đào giao thông và đường sắt Bên cạnh đó, đường giao thông được nâng cấp lớn cho hoạt động giao thương nhộn nhịp Động cơ hơi nước sử dụng nhiên liệu than và máy móc dẫn động bằng cơ khí đã đưa đến gia tăng năng suất lao động đột biến Sự phát triển các máy công cụ trong hai thập kỷ đầu của thế kỷ 19 tạo thuận lợi cho lĩnh vực chế tạo máy, phục vụ những ngành sản xuất khác
Điều kiện ra đời
Thắng lợi của phong trào cách mạng tư sản (thế kỉ 16-18)
Bước chuyển đó đã được thực hiện qua hàng loạt những cuộc cách mạng tư sản như: Cách mạng tư sản Hà Lan (1566-1572), Cách mạng tư sản Anh (1640-1689), Chiến tranh giành độc lập ở Bắc Mỹ (1775-1783), Cách mạng tư sản Pháp (1789-1799)
Tiêu biểu của Cách mạng Công nghiệp là cuộc cách mạng công nghiệp ở Anh
Điều kiện ra đời Cách mạng công nghiệp ở Anh
_ Về tự nhiên, Anh có nhiều mỏ than, sắt và các mỏ này lại nằm gần nhau, điều đó rất thuận lợi về mặt kinh tế khi khởi đầu cuộc cách mạng công nghiệp
_ Về nguyên liệu, Anh có thuận lợi là nguồn lông cừu trong nước và bông nhập từ Mĩ, đó là những nguyên liệu cần thiết cho ngành dệt
_ Các dòng sông ở Anh tuy không dài nhưng sức chảy khá mạnh, đủ để chạy các máy vận hành bằng sức nước Hải cảng Anh thuận lợi để đưa hàng hóa đi khắp thế giới
_ Về mặt xã hội, giai cấp quí tộc Anh sớm tham gia vào việc kinh doanh và họ trở thành tầng lớp quí tộc mới, có quyền lợi gắn liền với tư sản, có cách nhìn của tư sản
_ Nhu cầu về lông cừu đã dẫn tới phong trào đuổi những người nông dân ra khỏi ruộng đất để các nhà quí tộc biến đất đai đó thành đồng cỏ nuôi cừu Lực lượng nông dân bị dồn đuổi ra khỏi ruộng đất đã cung cấp một lượng lớn lao động cho các công trường thủ công ở các thành thị
Trang 4
TRANG 02
Cách mạng Công nghiệp lần 2 - từ nửa sau thế kỷ 19 đến đầu thế kỷ 20
Cách mạng công nghiệp lần thứ hai, là thuật ngữ được sử dụng bởi một số nhà sử học để miêu tả giai đoạn thứ hai của Cuộc cách mạng công nghiệp Vì thời kỳ này đi liền với sự nổi lên của các cường quốc công nghiệp khác bên cạnh nước Anh, đó là Đức và Hoa Kỳ, thuật ngữ này được dùng nhằm nhấn mạnh đóng góp của các quốc gia này và có thể, còn là để hạ thấp vai trò của nước Anh
Các tiến bộ kinh tế và kỹ thuật có được nhờ phát triển tàu hơi nước, đường sắt Đến cuối thế
kỷ 19, động lực của Cách mạng công nghiệp là động cơ đốt trong và máy móc sử dụng điện
Thời gian này có sự phát triển của các ngành công nghiệp hóa chất, dầu mỏ, thép và điện lực Sản xuất hàng loạt hàng tiêu dùng được phát triển, các lĩnh vực như đồ uống và thực phẩm, quần
áo, vận tải và giải trí gồm rạp chiếu phim, phát thanh, máy ghi âm được thương mại hóa đáp ứng nhu cầu dân chúng và tạo nhiều công ăn việc làm Sự phát triển mau lẹ này, tuy vậy, là yếu tố đưa đến thời gian trì trệ những năm 1873-1896 và giai đoạn phát triển chủ nghĩa tư bản tài chính độc quyền sau này
cả không muốn) áp dụng những thành quả từ chính quá trình phát triển của họ
Trong lĩnh vực nghiên cứu và khoa học, người Đức đầu tư lớn hơn Anh
Hệ thống các-ten kiểu Đức – liên minh độc quyền tập trung ở mức độ rất cao cho phép sử dụng hiệu quả nguồn tư bản linh động
Một số tin rằng bồi thường chiến phí từ Pháp sau khi đánh bại nước này trong Chiến tranh Pháp-Phổ 1870-1871 đã cung cấp vốn đầu tư cần thiết để cho phép đầu tư lớn vào cơ sở hạ tầng như đường xe lửa Điều này cung cấp một thị trường rộng lớn cho các cải tiến sản phẩm thép và giao thông vận tải ngay khi hoàn thành Sự sáp nhập vùng Alsace-Lorraine cũng mang lại cho nước Đức một số nhà máy lớn
TRANG 04
Trang 52 Hoa Kỳ
Ở Hoa Kỳ, Cách mạng công nghiệp lần thứ hai thường được liên kết với sự điện khí hóa của các nhà phát minh tiên phong Nikola Tesla, Thomas Alva Edison và George Westinghouse và trường phái quản lý bằng khoa học áp dụng bởi Frederick Winslow Taylor
3 Các phát minh
Nhiều sáng chế đã được cải thiện trong Cách mạng công nghiệp thứ hai, bao gồm cả in ấn và động cơ hơi nước
3.1/ Truyền thông
Trong thời gian này, một trong những phát minh cốt yếu nhất của việc truyền bá các ý tưởng
kỹ thuật là in ấn tay quay dẫn động bằng năng lượng hơi nước, một phát minh từ nhiều thập kỷ trước Kỹ thuật này được phát triển là kết quả của phát minh máy sản xuất giấy cuộn từ đầu của thế
kỷ 19 Cách mạng công nghiệp lần thứ hai cũng chứng kiến xuất hiện của kỹ thuật in Linotype và Monotype Quy trình làm giấy từ bột gỗ thay thế nguyên liệu là bông và lanh vốn là những nguồn hạn chế
Các sáng chế và các ứng dụng được truyền bá nhiều hơn nữa trong cuộc Cách mạng này (hoặc giai đoạn thứ hai này của Cách mạng Công nghiệp) Trong thời gian này đã thấy sự tăng trưởng của máy công cụ tại Mỹ có khả năng chế tạo các thiết bị chính xác trong các máy khác Nó cũng là thời gian ra đời sản xuất dây chuyền hàng tiêu dùng
3.2/ Động cơ
Động cơ hơi nước đã được phát triển và áp dụng ở Anh trong thế kỷ 18, và được xuất khẩu chậm chạp sang Châu Âu và phần còn lại của thế giới trong thế kỷ 19, cùng với các cách mạng công nghiệp Trong thực tế cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ hai, sự phát triển động cơ đốt trong ở một số nước công nghiệp phát triển và trao đổi ý tưởng đã được nhanh hơn nhiều Một ví dụ, động
cơ đốt trong chạy trên khí than đá đầu tiên đã được phát triển do Etienne Lenoir ở Pháp, nơi mà nó
đã có một số thành công hạn chế như là một động cơ nhỏ trong công nghiệp nhẹ
Động cơ đốt trong đã được thử nghiệm là một động lực cho xe ô tô sơ khai ở Pháp trong thập
kỷ 1870, nhưng nó không bao giờ được sản xuất với số lượng đáng kể Chính Gottlieb Daimler của Đức là tạo ra đột phát chỉ vài năm sau bằng việc sử dụng dầu mỏ làm nhiên liệu xe ô tô thay cho khí than Sau đó, Henry Ford chế tạo hàng loạt ô tô với động cơ đốt trong, tạo nên tác động to lớn với xã hội Động cơ xăng hai kỳ, ban đầu được phát minh bởi kỹ sư người Anh Joseph Day ở thành phố Bath Ông chuyển giao phát minh cho các doanh nhân Mỹ và từ đây nó mau chóng trở thành "nguồn năng lượng của người nghèo", dẫn động máy móc nhỏ như xe máy, xuồng có động cơ và máy bơm
Nó cũng là nguồn năng lượng tin cậy của các cơ sở sản xuất nhỏ trước khi điện được phổ biến rộng
George Westinghouse,
kỹ sư và chủ doanh nghiệp Mỹ, người cung cấp tài chính phát triển mạng lưới điện xoay chiều thực dụng
Thomas Edison,nhà phát minh và doanh nhân Mỹ, đã được biết đến như "Thiên tài của Menlo Park"
và người thúc đẩy cho sự phát triển của mạng lưới điện một chiều
Nikola Tesla, nhà vật lý, kỹ sư cơ khí điện tử và sáng chế người Secbi; ông được biết đến là
"Thiên tài phương Tây" và là người thúc đẩy sự phát triển mạng lưới điện xoay chiều
Trang 6Trục thời gian
Năm 1733 John Kay đã phát minh ra "thoi bay" Phát
minh này đã làm người thợ dệt không phải lao thoi bằng
tay và năng suất lao động lại tăng gấp đôi Năm 1764, James Hagreaves đã chế được chiếc xa kéo sợi
kéo được 16 - 18 cọc suốt một lúc Ông lấy tên con mình là Jenny để đặt cho máy đó
Năm 1769, Richard Arkwright đã cải tiến việc kéo sợi
không phải bằng tay mà bằng súc vật, sau này còn được
Năm 1785, phát minh quan trọng trong ngành dệt là máy
dệt vải của linh mục Edmund Cartwright Máy này đã tăng
năng suất dệt lên tới 40 lần
Năm 1807, Robert Fulton đã chế ra tàu thủy chạy bằng hơi nước thay thế cho những mái chèo hay những cánh buồm
Năm 1814, chiếc đầu máy xe lửa đầu tiên chạy bằng hơi
nước đã ra đời
Đến năm 1829, vận tốc xe lửa đã lên tới 14 dặm/giờ
Năm 1885, Henry Bessemer đã phát minh ra lò cao có
khả năng luyện gang lỏng thành thép
TRANG 06
Trang 7Phân loại
Trang 81 Quy hoạch, phân khu, mặt bằng
1.1.Quy hoạch khu công nghiệp chế biến cần đảm bảo các yếu tố sau:
– Tạo điều kiện tốt cho hoạt động sản xuất và điều kiện làm việc cho công nhân trong nhà máy – Những yêu cầu về bảo vệ môi trường: chống ô nhiễm đất, mặt nước và không khí do các chất độc được thải ra từ xí nghiệp
– Điều kiện giao thông vận tải giữa các nhà máy trong khu công nghiệp được thuận lợi và ngắn gọn
– Kết hợp và giải quyết tốt mối quan hệ giao thông giữa các khu công nghiệp khác
1.2 Các phương án bố trí khu công nghiệp
a Bố trí so với khu dân cư
a.1 Bố trí theo chiều sâu:
Ưu điểm : bố trí xí nghiệp công nghiệp theo mức
độ ô nhiễm khác nhau
Khuyết: giao thơng cắt nhau
a.2 Bố trí song song:
Khắc phục: hạn chế các giao thông đường sắt và
đường bộ không cắt nhau, khoảng cách đi lại bằng
nhau
Khuyết: cụm bố trí XNCN cùng một cấp vệ sinh,
khu công nghiệp bị kéo dài ra khi phát triển công
nghiệp mất đi tính chất trung tâm của khu vực
a.3 Bố trí hỗn hợp
Khắc phục các nhược điểm của hai
phương án trên Phát triển linh hoạt tùy
theo cơ cấu thành phố và khu CN
TRANG 08
Trang 9b Bố trí so với dòng sông và khu dân cư
- Công nghiệp sát sông
- Khu dân cư sát sông
- Hỗn hợp
1.3 Phân khu – dây chuyền – mặt bằng:
a Các hạng mục chính trong nhà công nghiệp chế biến
- Các xưởng sản xuất theo dây chuyền công nghệ
Nơi diễn ra các hoạt động chính của quá trình sản xuất
- Phục vụ, hỗ trợ cho dây chuyền sản xuất chính-
Ví dụ: xưởng phụ liệu, xưởng cơ khí cơ điện,…
- Bao gồm các hệ thống kho tàng và sân bãi
- Kho bãi nguyên liệu, phế liệu, kho trung chuyển, kho bãi thành phẩm, các sân bãi xuất nhập hàng hoá, sân bãi phụ trợ…
- Bao gồm trạm khi nén, nhà nồi hơi, trạm biến thế , phát điện dự phòng, trạm bơm và thủy đài, kho xăng dầu…
- Bố trí khu trước nhà máy
- Bao gồm nhà hành chánh và các công trình phúc lợi phục vụ công nhân
Trang 10TRANG 10
1.3 Phân khu – dây chuyền – mặt bằng:
b Dây chuyền phân khu chức năng
Các căn cứ để lựa chọn vị trí các hạng mục
- Đặc điểm các công đoạn sản xuất
- Đặc điểm dây chuyền thiết bị công nghệ
- Khả năng áp dụng các thiết bị vận chuyển
Trang 11Phân khu chức năng MB nhà công nghiệp một tầng có thể áp dụng cho nhà máy chế biến 1 tầng
Các bộ phận chức năng chính trong nhà công nghiệp chế biến cũng tương tự nhà CN 1 tầng ở hình trên
Trang 12c Mặt bằng – phân chia khối
c.1 Nhà máy chế biến thủy sản Quảng bình
Mặt bằng nhà máy chế biến thủy sản Quảng Bình
Sơ đồ dây chuyền công năng trong xưởng chế biến chính của nhà máy thủy sản Quảng Bình
TRANG 12
Trang 13Mặt bằng phân xưởng sản xuất chính của nhà máy chế biến thủy sản Quảng Bình – mũi tên đỏ là hướng đi của dây
chuyền
c.2 Nhà máy chế biến cấu kiện đúc sẵn ở Iran
Hướng nguyên liệu tới thành phẩm
Trang 14TRANG 14
Công trình: là một nhà máy sản xuất 3700 mét vuông với
350 mét vuông tầng lửng dành cho đội ngũ quản lý kỹ thuật
500 mét vuông cho văn phòng kỹ thuật và phòng trưng bày, phòng
Ngoài ra còn có một tòa nhà quản lý 500 mét vuông với bộ phận VIP và tiếp khách được kết
nối với các chính Tòa nhà bằng cầu nối (phần màu đỏ đậm trong sơ đồ khối)
Tòa nhà phụ trợ với diện tích 200 mét vuông là một tòa nhà riêng biệt nằm bên cạnh
Hình thức:Các khối nhà là nhiều mô đun tương tự nhau về đặc điểm như nhịp lớn, cấu trúc
mô-đun và không gian đồng nhất
Bên trong phân xưởng SX chính Mặt tiền khối văn phòng hành chính
Trang 15CÁC GIẢI PHÁP KẾT CẤU THƯỜNG SỬ DỤNG TRONG NHÀ MÁY CÔNG
NGHIỆP CHẾ BIẾN
Trong công trình công nghiệp, các bộ phận đóng vai trò là kết cấu chịu lực chính
cho công trình là: Móng – Dầm móng, Cột, Kết cấu mang lực mái, Cửa sổ mái, Hệ
giằng cột – Hệ giằng mái
Tổ hợp các kết cấu chịu lực của nhà gọi là khung nhà Gồm có 2 loại:
– Khung dọc: giữ ổn định phương ngang, được tính từng cấu kiện riêng lẻ rồi
truyền tải trọng lên khung Gồm có: hệ giằng, dầm cầu trục, kết cấu đỡ mái, kết cấu đỡ
tường…
– Khung ngang : là kết cấu chịu lực chính, được tính toán cho toàn bộ hệ khung
rồi truyền lên móng Gồm cột và rường ngang
Các dạng khung chịu lực phổ biến trong nhà công nghiệp là:
Kết cấu tường chịu lực
Kết cấu khung phẳng chịu lực
Kết cấu khung không gian
Kết cấu tường chịu lực phạm vi áp dụng nhỏ, ít được sử dụng trong các công trình
hiện nay nên bài nghiên cứu này sẽ không đề cập tới
Trang 1616 TRANG
Lựa chọn vật liệu sử dụng làm kết cấu chịu lực:
Bê tông cốt thép:
Chịu nén tốt, khả năng tạo hình đa dạng, chịu được độ ẩm của nước, xâm thực
của môi trường, giá thành rẻ hơn thép
Hạn chế: Chịu tải trọng động kém, tải trọng nặng nề
Ứng dụng cho mọi công trình BTCT như chịu lực cao, sản xuất dùng nhiều
Giá rẻ, khả năng chịu lực hạn chế, thi công chậm, tuổi thọ không cao, phạm vi
vượt nhịp nhỏ dưới 18m, bước cột dưới 12m và chiều cao dưới 9m
Lựa chọn các kết cấu thông dụng:
Nhà có khẩu độ <30m: dùng kết cấu BTCT và thép
Nhà có khẩu độ >30m: dùng kết cấu thép và không gian
Nhà có khẩu độ <12m: dùng kết cấu gạch – đá – gỗ
1 Kết cấu dạng khung phẳng
Thỏa mãn nhiều loại hình không gian công nghiệp – công nghệ
Tính linh hoạt cao, chịu được tải trọng lớn
Được áp dụng rộng rãi nhất
Có các hình thức khung phổ biến là: Kết cấu khung giằng, Kết cấu khung cứng,
Kết cấu vòm…
Các bộ phận chịu lực chính trong hệ khung phẳng là: Móng – Dầm móng, Cột, Kết
cấu mang lực mái, Cửa sổ mái, Hệ giằng cột – Hệ giằng mái
Ngoài ra đặc trưng kết cấu của nhà công nghiệp còn có bộ phận kết cấu đỡ thiết
bị: Kết cấu đỡ thiết bị vận chuyển – Dầm cầu trục, Kết cấu đỡ thiết bị sản xuất – Móng
máy
Trong phạm vi bài nghiên cứu này sẽ đi sâu phân tích về bộ phận kết cấu mang
lực mái, hệ giằng mái, dầm cầu trục, vốn là các bộ phận kết cấu đặc trưng trong công
trình công nghiệp nói chung và nhà máy công nghiệp chế biến nói riêng
a Kết cấu mang lực mái
Chức năng: Nhận các loại tải trọng mái để truyền lên cột
Yêu cầu:
Đủ khả năng chịu lực (tải trọng mái, gió) Bền vững lâu dài Cách nhiệt, chống
thấm, chịu được mưa nắng, có độ dốc thoát nước mưa Có hình dạng phù hợp kiến
trúc công trình
Kết cấu dạng dàn phẳng (vì kèo):
Vì kèo thực chất ở đây là dầm đỡ mái, có nhịp lớn L ≥ 12m, truyền tải trọng lên
cột Trong hệ dàn vì kèo, có 3 bộ phận chính là thanh cánh thượng (thanh trên), thanh
cánh hạ (thanh dưới), và các thanh bụng để cố định 2 thanh chịu lực chính trong một
mặt phẳng cố định
Trang 17Thanh cánh thượng chịu tải trọng nén trực tiếp của hệ mái, ngoài ra còn có tải
trọng gió,v.v… lực này được các thanh bụng truyền xuống thanh cánh hạ tạo thành lực
kéo Lực kéo này đạp lên các cột biên và truyền xuống móng
Công trình sử dụng vì kèo là nhà máy chế biến dầu ô-liu Olisur ở Chile của kts
Guilermo Hevia
Công trình này có quy mô nhỏ nên được thiết kế chủ yếu bằng vật liệu gỗ, với hệ
kết cấu khung phẳng, vì kèo bằng gỗ
Trang 1818 TRANG
Công trình này có kết cấu đỡ mái là vì kèo, dạng dàn tam giác: Chỉ có thể liên kết
khớp với cột, độ cứng ngoài mặt phẳng không lớn Trong dàn tam giác, nội lực các
thanh chênh lệch nhiều, một số thanh bụng chịu nén nhỏ nhưng chiều dài lớn nên tiết
diện phải chọn theo độ mảnh giới hạn Thích hợp sử dụng cho công trình có độ dốc mái
Nén, kéo: là 2 trong số 5 biến dạng cơ của vật rắn khi bị một lực tác dụng Tùy thuộc vào cường độ
của lực và thời gian tác dụng, vật rắn có thể bị biến dạng đàn hồi hoặc biến dạng dẻo
Biến dạng kéo: Là biến dạng do lực kéo tác dụng, làm tăng độ dài và giảm tiết diện ở phần giữa
của thanh dầm
Biến dạng nén: Là biến dạng do lực nén tác dụng, làm giảm độ dài và tăng tiết diện ở phần giữa
của thanh dầm
Trang 19Ngoài ra còn có các dạng vì kèo khác như:
Kết cấu dạng khung cứng:
Trang 2020 TRANG
b Hệ giằng mái:
Chức năng:
Bảo đảm sự bất biến hình và độ cứng không gian của nhà
Chịu các tải trọng theo phương dọc nhà: gió lên tường nhà, lực hãm của
cầu trục
Bảo đảm ổn định cho các cấu kiện chịu nén
Giúp dựng lắp an toàn, thuận tiện
Dàn khung phẳng là kết cấu theo 1 mặt phẳng, do đó, dễ mất ổn định theo
phương ngoài mặt phẳng (phương dọc nhà) Cho nên giữa các dàn phải giằng lại với
nhau tạo nên một khối không gian ổn định
Trang 21Hệ giằng trong mặt phẳng cánh trên:
Gồm các thanh chéo chữ thập và các thanh chống dọc nhà Thanh chéo chữ thập
bố trí ở đầu hai khối nhiệt độ, nếu khối nhiệt độ quá dài thì có thể bố trí thêm ở khoảng
giữa khối sao cho khoảng cách giữa chúng không quá 50 – 60m Thanh chống dọc cố
định ở những nút quan trọng của dàn: nút đỉnh dàn, nút đầu dàn, nút dưới chân cửa
trời
Tác dụng: bảo đảm ổn định cho thanh cánh trên chịu nén, tạo ra những điểm cố
kết không chuyển vị ra ngoài mặt phẳng dàn
Hệ giằng trong mặt phẳng cánh dưới:
Đặt tại vị trí có giằng cánh trên, cùng với giằng cánh trên tạo thành khối cứng
không gian bất biến hình Tại đầu hồi nhà, hệ giằng cánh dưới tạo thành gối tựa cho cột
đầu hồi, chịu tải trọng gió thổi lên tường nên còn gọi là giằng gió Khi nhà có cầu trục
lớn thì bố trí thêm hệ giằng dọc để tăng độ cứng dọc nhà
Trang 2222 TRANG
Hệ giằng đứng:
Đặt trong mặt phẳng các thanh đứng, cùng với các giằng nằm tạo thành khối bất
biến hình, đồng thời giữ vị trí và cố định các dàn kèo khi dựng lắp Bố trí tại các thanh
đứng đầu dàn, thanh đứng giữa dàn (hoặc dưới chân cửa trời), cách nhau 12 – 15m
theo phương ngang nhà Theo phương dọc nhà thì giằng đứng bố trị tại các vị trí có
giằng cánh trên và giằng cánh dưới
Trang 2424 TRANG
Phân tích lực tải trọng gió tác động lên công trình và tác dụng của hệ giằng:
Hệ giằng, nhất là giằng tường và đầu hồi được tạo ra trước hết tạo cho công trình
sự ổn định, vững chắc trước tải trọng của chính bản thân nó Bên cạnh đó, nó còn
được tính toán để có thể sinh ra các lực có tác dụng triệt tiêu tải trọng xô ngang của lực
gió khi có lực gió tác động lên công trình, giúp công trình đứng vững
Trang 2626 TRANG
c Dầm cầu trục (Kết cấu đỡ thiết bị vận chuyển):
Trang 2828 TRANG
2 Hệ kết cấu dạng vòm:
Chịu lực giống như 1 khung vỏ mỏng, vòm là kết cấu chịu lực cho toàn bộ khối
không gian từ móng đến mái Tải trọng được truyền thằng xuống dưới, tạo thành một
lực đạp vào móng của hệ vòm Dàn đỡ mái được tại thành từ các module tam giác, vì
hình tam giác là một hình bất biến, tạo nên sự ổn định cho công trình và chịu tải trọng
của gió
Công trình tiêu biểu là phân xưởng sản xuất của Siemens Mobile đặt tại Berlin
(Đức)