Ngoài ra còn các thành tích khá ấn tượng về ổn định kinh tế vĩ mô, về tốc độ tăng giá trị xuất khẩu hàng năm, về xóa đói giảmnghèo… chính những thành tích đạt và vượt kế hoạch ấy đôi khi
Trang 1 LỜI NÓI ĐẦU
Kể từ khi đổi mới đến nay, nền kinh tế Việt Nam đã đạt nhiều thành tựu quantrọng : trong thời kỳ này thực hiện chiến lược 10 năm 1991-2000, nền kinh tế thoát
ra khỏi khủng hoảng; trong thời kỳ 5 năm đầu tiên thực hiện chiến lược 10 năm2001-2010, nền kinh tế dừng như “không chệch hướng” khỏi quỹ đạo và đạt tốc độtăng trưởng hàng năm tương đối cao Ngoài ra còn các thành tích khá ấn tượng về
ổn định kinh tế vĩ mô, về tốc độ tăng giá trị xuất khẩu hàng năm, về xóa đói giảmnghèo… chính những thành tích đạt và vượt kế hoạch ấy đôi khi đã làm dịu đinhững băn khoăn về một số chỉ tiêu khác của đổi mới chứa đạt kế hoạch, trong đó
có việc đổi mới doanh nghiệp Nhà nước.Đổi mới doanh nghiệp nhà nước là một bộphận trong tổng thể công cuộc đổi mới toàn diện nền kinh tế từ cơ chế kế hoạchhóa tập trung sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa Vì vậy, điềucần khẳng định trước tiên là mục tiêu của đổi mới doanh nghiệp nhà nước phải phùhợp với mục tiêu chung của toàn bộ chương trình đổi mới nền kinh tế, trong đóđiều cốt lõi là nguyên tắc thị trường sẽ thay thế nguyên tắc kế hoạch hóa tập trung.Theo tinh thần này, hai mục tiêu trực tiếp nổi bật của đổi mới doanh nghiệp nhànước là nhằm đảm bảo cho doanh nghiệp nhà nước hoạt động có hiệu quả hơn vàđảm bảo cho doanh nghiệp nhà nước góp phần cùng kinh tế nhà nước nói chunglàm tốt hơn "vai trò chủ đạo" trong nền kinh tế
Quá trình đổi mới doanh nghiệp nhà nước trên thực tế được triển khai trênnhiều bình độ, trong đó nổi lên một xu hướng được coi là chủ lưu: đổi mới, sắp xếplại các doanh nghiệp nhà nước Trong chương trình “đổi mới, sắp xếp lại doanhnghiệp nhà nước" thì ai cũng biết, cổ phần hóa các doanh nghiệp là một nội dungđược coi là chủ yếu
Muốn đổi mới hoạt động doanh nghiệp cần cổ phần hóa Muốn huy động vốn trong nước và ngoài nước cho công nghiệp hóa, hiện đại hóa cần cổ phần hóa Muốn cải cách hành chính trong kinh tế, cổ phần hóa là một nội dung không thể thiếu Cổ phần hóa là một xu thế khách quan, nhất là khi ta đã trở thành thành viên WTO, nghĩa là đã hội nhập ở một trình độ cao, đã hình thành một nền kinh tế thị trường, thoát ra khỏi cơ chế quan liêu bao cấp
Đây là đề tài tương đối rông và phức tạp, mặc dù đã cố gắng tìm tòi và sắp xếp tư liệu nhưng chắc chắn trong bài viết của em sẽ không tránh khỏi những sai lầm và thiếu sót, em rất mong nhận được những ý kiến đóng góp của cô để em có thể hoàn thiện hơn bài viết của mình
Em xin chân thành cảm ơn cô
Trang 2MỤC LỤC
Lời nói đầu……… 3
Mục lục……… 4
Chương I:Khái quát chung về cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước.…… 5
1)Mục tiêu,yêu cầu cổ phần hóa(CPH) Doanh nghiệp nhà nước(DNNN) 5
2)Sự cần thiết chuyển sang hình thức cổ phần hóa DNNN……….5
3)Đối tượng và điều kiện cổ phần hóa……….6
4)Hình thức cổ phần hóa……… 6
5)Chi phí thực hiện cổ phần hóa……… 6
6)Chính sách đối với doanh nghiệp và người lao động sau CPH……….7
a.Doanh nghiệp sau khi CPH được hưởng các ưu đãi 7
b.Người lao động trong doanh nghiệp CPH đựơc hưởng các chính sách ưu đãi sau……… 8
Chương II: Kết quả sau khi cổ phần hóa Doanh nghiệp……… 8
1)Luật điều chỉnh……… 8
2)Những kết quả đạt được và hạn chế cần khắc phục……… ……10
3)Nguyên nhân ………11
Chương III: Thực trạng cổ phần hoán DNNN tại Việt Nam……… …… 11
1)Thực trạng chung hiện nay………11
2)Một số DNNN điển hình………15
a/DNNN cổ phần hóa không đạt mục tiêu……… 15
b/Các DNNN cổ phần hóa có hiệu quả 15
c/Các dự án cổ phần hóa khác……….16
d/DNNN điển hình………17
4)Mục tiêu hoàn thành CPH hơn 1500 DNNN vào năm 2010……… 18
ChươngVI: Vấn đề đặt ra và biện pháp giải quyết của nhà nước………19
1)Vấn đề đặt ra hiện nay……… ……… 19
2)Biện pháp khắc phục………22
3)Chủ trương,chính sách của Nhà nước……… 23
4)Kết luận………25
*Tài liệu tham khào.……… 27
Trang 3CHƯƠNG I :KHÁI QUÁT CHUNG VỀ CỔ PHẦN HÓA DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC:
1)Mục tiêu,yêu cầu cổ phần hóa(CPH) Doanh nghiệp nhà nước(DNNN):
(Theo điều 1 – Nghị định 187)
1.Chuyển đổi những công ty nhà nước mà Nhà nước không cần giữ 100% vốn sangloại hình doanh nghiệp có nhiều chủ sở hữu; huy động vốn của cá nhân, các tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội trong nước và ngoài nước để tăng năng lực tài chính, đổi mới công nghệ, đổi mới phương thức quản lý nhằm nâng cao hiệu quả và sức cạnh tranh của nền kinh tế
2 Đảm bảo hài hoà lợi ích của Nhà nước, doanh nghiệp, nhà đầu tư và người lao động trong doanh nghiệp
3 Thực hiện công khai, minh bạch theo nguyên tắc thị trường; khắc phục tình trạng cổ phần hóa khép kín trong nội bộ doanh nghiệp; gắn với phát triển thị
trường vốn, thị trường chứng khoán
2)Sự cần thiết chuyển sang hình thức cổ phần hóa DNNN:
- Dưới góc độ của kinh tế thị trường, cổ phần hóa không phải là tư nhân hóa Vềđiều này, sự phân tích về tính chất xã hội hóa của hình thái cổ phần so với các hìnhthái công ty khác ở phần trên đã rất rõ Trong vấn đề này, ít nhất có một điều đã rõ
là, không phải tỷ lệ kinh tế thuộc doanh nghiệp quốc doanh càng lớn về mặt lượngthì tính chất xã hội chủ nghĩa của nền kinh tế càng cao Đây là một sự nhầm lẫn vềnhận thức đã được thực tiễn lịch sử kiểm chứng và xác nhận
- Theo quan niệm “truyền thống” của cơ chế kế hoạch hóa tập trung, doanh nghiệpquốc doanh được coi là hình thức mang tính chất xã hội hóa trực tiếp và cao nhất,bởi nó được nhà nước nhân danh toàn xã hội mà lập ra Trước đây, quan niệm nàykhông chấp nhận kinh tế thị trường nên cũng vì thế mà không chấp nhận các dạngthức xã hội hóa khác nhau của kinh tế thị trường Thành ra, doanh nghiệp quốcdoanh đã trở thành hình thái độc quyền biểu thị tính chất xã hội hóa của sản xuất,
là hoàn toàn xã hội chủ nghĩa, (còn hợp tác xã thì chỉ là xã hội chủ nghĩa có mộtnửa) Từ đó, dẫn đến sự chỉ đạo về mặt chính sách là bằng mọi cách, làm cho kinh
tế quốc doanh càng chiếm tỷ trọng cao càng tốt với điều tâm niệm rằng: doanhnghiệp quốc doanh chính là hiện thân của quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa, nghĩa
là càng nhiều doanh nghiệp quốc doanh thì càng có nhiều chủ nghĩa xã hội Chínhcách hiểu này đã khiến cho có thời kỳ quá trình quốc doanh hóa trở thành xuhướng chủ đạo trong nền kinh tế, và như đã nói, đã bị thực tiễn bác bỏ
- Ngược lại, nếu đứng từ góc độ của kinh tế thị trường, như đã trình bày ởphần trên, cả trên phương diện lô-gíc lẫn lịch sử, hình thái cổ phần chính là mộthình thái biểu hiện tính chất xã hội hóa sản xuất cao nhất, và tính hiệu quả của nócũng đã được thử thách qua thời gian với độ dài tính bằng thế kỷ Và theo lô-gíc,không thể chuyển sang kinh tế thị trường mà lại không chấp nhận hình thức tổchức kinh tế chủ yếu đã tạo ra chính bản thân nó.Để có khả năng hướng nền kinh tế
Trang 4đi theo những mục tiêu đã định, Nhà nước rất cần có thực lực sức mạnh kinh tế củamình Đặc biệt là trong trường hợp sử dụng các doanh nghiệp nhà nước, khi màviệc gia tăng số lượng loại công cụ này chưa hẳn đã làm cho chính nó mạnh hơn.
Như vậy, về phương diện học thuật, hoàn toàn có thể khẳng định rằng, trênquan điểm của kinh tế thị trường, việc cổ phần hóa ở nước ta hiện nay có ý nghĩanhư là một trong những biểu hiện bằng hành động thực tiễn của sự nhận thức lại vềbản chất của tính chất xã hội hóa của sản xuất; rằng đó là quá trình chuyển đổi hìnhthức xã hội hóa sản xuất từ dạng doanh nghiệp quốc doanh trong khuôn khổ của cơchế kế hoạch hóa tập trung sang dạng công ty cổ phần (trong đó có loại tuyệt đối100% cổ phần của Nhà nước) thích hợp với khuôn khổ của kinh tế thị trường
3)Đối tượng và điều kiện cổ phần hóa:
Áp dụng đối với công ty Nhà nước không thuộc diện Nhà nước nắm giữ100% vốn điều lệ thực hiện cổ phần hóa, bao gồm:các tổng công ty Nhà nước (kể
cả ngân hàng thương mại Nhà nước và các tổ chức tài chính Nhà nước); công tyNhà nước độc lập; công ty thành viên hạch toán độc lập của tổng công ty do Nhànước quyết định đầu tư và thành lập; đơn vị hạch toán phụ thuộc của công ty Nhànước
Các công ty nhà nước quy định ở trên được tiến hành cổ phần hóa khi cònvốn Nhà nước ( chưa bao gồm giá trị quyền sử dụng đất) sau khi giảm trừ giá trị tàisản không cần dung, tài sản chờ thanh lý, các khoản tổn thất do lỗ, giảm giá tài sản,công nợ không có khả năng thu hồi và chi phí cổ phần hóa
Đối với việc CPH đơn vị hạch toán phụ thuộc của các công ty nhà nước chỉđược tiến hành khi:
_Đơn vị hạch toán phụ thuộc của doanh nghiệp có đủ điều kiện hạch toánđộc lập
_Không gây khó khăn hoặc ảnh hưởng xấu đến hiệu quả sản xuất, kinhdoanh của doanh nghiệp hoặc các bộ phận còn lại của doanh nghiệp
4)Hình thức cổ phần hóa:
Giữ nguyên vốn Nhà nước hiện có tại doanh nghiệp, phát hành cổ phiếu thuhút thêm vốn áp dụng đối với những doanh nghiệp CPH có nhu cầu tăng them vốnđiều lệ Mức vốn huy động thêm tùy thuộc vào quy mô và nhu cầu vốn của công ty
cổ phần Cơ cấu vốn điều lệ của công ty cổ phần được phản ảnh trong phương ánCPH
Bán một phần vốn Nhà nước hiện có tại doanh nghiệp hoặc kết hợp vừa bánbớt một phần vốn Nhà nước vừa phát hành cộ phiếu để thu hút vốn
Bán toàn bộ vốn Nhà nước hiện có tại doanh nghiệp hoặc kết hợp vừa bántoàn bộ vốn Nhà nước vừa phát hành thêm cổ phiếu để thu hút vốn
5)Chi phí thực hiện cổ phần hóa:
Trang 5Chi phí thực hiện cổ phần hoá được trừ vào vốn nhà nước tại doanh nghiệp
cổ phần hoá Nội dung và mức chi phí cổ phần hoá thực hiện theo hướng dẫncủa Bộ Tài chính
6)Chính sách đối với doanh nghiệp và người lao động sau CPH:
a.Doanh nghiệp sau khi CPH được hưởng các ưu đãi:
1 Được hưởng ưu đãi như đối với doanh nghiệp thành lập mới theo quy định
của pháp luật về khuyến khích đầu tư mà không cần phải làm thủ tục cấp chứngnhận ưu đãi đầu tư
Trường hợp doanh nghiệp cổ phần hoá thực hiện niêm yết trên thị trường chứngkhoán thì ngoài các ưu đãi trên còn được hưởng thêm các ưu đãi theo quy định củapháp luật về chứng khoán và thị trường chứng khoán
2 Được miễn lệ phí trước bạ đối với việc chuyển những tài sản thuộc quyền
quản lý và sử dụng của doanh nghiệp cổ phần hóa thành sở hữu của công ty cổphần
3 Được miễn lệ phí cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh khi chuyển từ
công ty nhà nước thành công ty cổ phần
4 Được duy trì các hợp đồng thuê nhà cửa, vật kiến trúc của các cơ quan
Nhà nước hoặc được ưu tiên mua lại theo giá thị trường tại thời điểm cổ phần hoá
để ổn định hoạt động sản xuất, kinh doanh
5 Được hưởng các quyền sử dụng đất theo quy định của Luật Đất đai trong
trường hợp giá trị doanh nghiệp cổ phần hoá đã bao gồm cả giá trị quyền sử dụngđất
6 Được tiếp tục vay vốn tại ngân hàng thương mại, công ty tài chính, các tổ
chức tín dụng khác của Nhà nước theo cơ chế như đối với công ty nhà nước
7 Được duy trì và phát triển Quỹ phúc lợi dưới dạng hiện vật như: các công
trình văn hóa, câu lạc bộ, bệnh xá, nhà điều dưỡng, nhà trẻ để đảm bảo phúc lợi chongười lao động trong công ty cổ phần Những tài sản này thuộc sở hữu của tập thểngười lao động do công ty cổ phần quản lý
8 Sau khi công ty nhà nước chuyển thành công ty cổ phần, nếu do nhu cầu
tổ chức lại hoạt động kinh doanh, thay đổi công nghệ dẫn đến người lao động ởcông ty nhà nước chuyển sang bị mất việc hoặc thôi việc, kể cả trường hợp ngườilao động tự nguyện thôi việc thì được giải quyết như sau:
a) Trong 12 tháng kể từ ngày công ty cổ phần được cấp giấy chứng nhận đăng kýkinh doanh, nếu người lao động bị mất việc do cơ cấu lại công ty thuộc đối tượnghưởng chính sách đối với lao động dôi dư do sắp xếp lại doanh nghiệp nhà nướctheo Nghị định số 41/2002/NĐ-CP ngày 11 tháng 4 năm 2002 của Chính phủ thìđược Quỹ hỗ trợ lao động dôi dư hỗ trợ
Các đối tượng lao động mất việc, thôi việc còn lại thì được hưởng trợ cấp mất việc,thôi việc theo quy định của pháp luật lao động hiện hành và được hỗ trợ từ tiền thu
Trang 6của Nhà nước do cổ phần hoá công ty nhà nước quy định tại Điều 35 của Nghị địnhnày.
b) Trường hợp người lao động bị mất việc, thôi việc trong 4 năm tiếp theo thì công
ty cổ phần có trách nhiệm thanh toán 50% tổng mức trợ cấp theo quy định của Bộluật Lao động, số còn lại được thanh toán từ tiền thu của Nhà nước do cổ phần hoácông ty nhà nước quy định tại Điều 35 của Nghị định này Hết thời hạn trên, công
ty cổ phần chịu trách nhiệm thanh toán toàn bộ trợ cấp cho người lao động
b.Người lao động trong doanh nghiệp CPH đựơc hưởng các chính sách
ưu đãi sau:
1 Người lao động có tên trong danh sách thường xuyên của doanh nghiệp tại
thời điểm quyết định cổ phần hoá được mua tối đa 100 cổ phần cho mỗi năm thực
tế làm việc tại khu vực nhà nước với giá giảm 40 % so với giá đấu bình quân báncho nhà đầu tư khác
2 Được tiếp tục tham gia và hưởng quyền lợi về bảo hiểm xã hội theo chế độ
hiện hành nếu chuyển sang làm việc tại công ty cổ phần
3 Được hưởng chế độ hưu trí và các quyền lợi theo chế độ hiện hành nếu đã
có đủ điều kiện tại thời điểm cổ phần hóa
4 Nếu bị mất việc, thôi việc tại thời điểm cổ phần hoá được thanh toán trợ
cấp mất việc, thôi việc theo quy định của pháp luật
CHƯƠNG II: KẾT QUẢ SAU KHI CỔ PHẦN HÓA DNNN
1)Luật điều chỉnh:
Cổ phần hóa là nội dung quan trọng của Đổi mới Sắp xếp Doanh nghiệp Nhànước Từ năm 1992 đến nay qua các Nghị định 28, 44 và hiện nay đang thực hiện
là Nghị định 64/2002/NĐ-CP, chính sách cổ phần hóa ngày càng được bổ sung đầy
đủ nhằm thực hiện các mục tiêu đa dạng hóa sở hữu tạo ra loại hình quản lý hiệuquả, huy động vốn của xã hội và tạo điều kiện cho người lao động làm chủ thực sựdoanh nghiệp với tư cách vừa là chủ sở hữu vừa là người lao động
cổ phần, phát hành cổ phiếu, trái phiếu tham gia thị trường chứng khoán
Trang 7Mở rộng quy mô cổ phần hóa và không cổ phần hóa khép kín trong nội
bộ doanh nghiệp chính là tinh thần xuyên suốt trong chủ trương đổi mới cơ chế, chính sách về cổ phần hóa từ nay trở đi.
Dự thảo về chính sách đổi mới thay thế Nghị định số 64/2002/NĐ-CP
về cổ phần hóa hiện nay thay đổi theo hướng sau:
_Đặt thêm mục tiêu: Thực hiện công khai, minh bạch theo nguyên tắc thịtrường, gắn việc phát triển thị trường vốn, thị trường chứng khoán, khắc phục tìnhtrạng cổ phần hóa khép kín trong nội bộ doanh nghiệp
- Mở rộng đối tượng cổ phần hóa bao gồm các Tổng công ty Nhà nước kể
cả các ngân hàng thương mại Nhà nước và các tổ chức tài chính Nhà nước
- Chính phủ ban hành Quyết định số 155/2004/QĐ-TTg về tiêu chí, danhmục phân loại công ty Nhà nước, thu hẹp diện Nhà nước nắm giữ 100% vốn Nhànước và cổ phần chi phối, mở rộng diện cổ phần hóa cho hầu hết các lĩnh vực sảnxuất kinh doanh dịch vụ
- Doanh nghiệp cổ phần hóa có tổng giá trị tài sản theo sổ sách kế toán từ
20 tỷ đồng trở lên việc xác định giá trị doanh nghiệp cổ phần hóa thực hiện thôngqua các tổ chức có chức năng định giá như các Công ty Kiểm toán, Công ty Chứngkhoán, tổ chức thẩm định giá, ngân hàng đầu tư trong và ngoài nước có năng lựcđịnh giá
- Đối tượng mua cổ phần lần đầu bao gồm: Nhà đầu tư chiến lược trongnước, người lao động trong doanh nghiệp các nhà đầu tư khác (bao gồm cả đầu tưnước ngoài)
- Thay thế các quy định hiện hành dành tối thiểu 30% số cổ phần còn lại(nếu có) để bán cho các đối tượng ngoài doanh nghiệp bằng quy định mới: dành100% số cổ phần còn lại (sau khi trừ cổ phần Nhà nước nắm giữ) bán đấu giá côngkhai cho các nhà đầu tư… giá bán cổ phần ưu đãi cho người lao động trong doanhnghiệp được giảm 40% so với giá đấu bình quân
- Phương thức tổ chức bán đấu giá cổ phần lần đầu với khối lượng cổphần hóa trên 1 tỷ đồng được đấu giá tại các tổ chức tài chính trung gian và trên 10
tỷ đồng thì tổ chức tại trung tâm giao dịch chứng khoán
Các quy định mới trên dự thảo sắp ban hành đã được thảo luận kỹ càng,được nhiều Bộ, ngành, các nhà kinh tế ủng hộ vì có thể thực hiện được mục tiêukhắc phục tình trạng cổ phần hóa trong nội bộ doanh nghiệp, tạo điều kiện thay đổiphương thức quản lý và huy động thêm vốn xã hội đồng thời khắc phục hạn chếnhững khiếm khuyết trong xác định giá trị doanh nghiệp Đây cũng là cơ hội tạonguồn hàng để phát triển thị trường chứng khoán
Nghị định 144/2003/NĐ-CP ngày 28/11/2003 về Chứng khoán và Thịtrường chứng khoán đã đơn giản hóa nhiều những điều kiện để các Công ty cổphần phát hành cổ phiếu lần đầu ra công chúng (chỉ cần vốn điều lệ 5 tỷ đồng, hoạt
Trang 8động kinh doanh năm trước có lãi) hoặc điều kiện để được niêm yết cổ phiếu (vốnđiều lệ trên 5 tỷ đồng, 2 năm liên tục trước đó có lãi…).
Chỉ thị số 20/2004/CT-UB của Ủy ban nhân dân Thành phố đã giao Ban Đổimới Quản lý doanh nghiệp Thành phố phối hợp với Trung tâm giao dịch chứngkhoán Thành phố tổ chức tập huấn, khuyến khích các doanh nghiệp đủ điều kiệntham gia Thị trường chứng khoán, chọn một số doanh nghiệp cổ phần hóa thí điểmbán cổ phần lần đầu ở Trung tâm giao dịch chứng khoán
2)Những kết quả đạt được và hạn chế cần khắc phục:
Cổ phần hoá các DNNN thời gian qua đạt được những kết quả đáng ghinhận, nhưng việc cổ phần hoá, sắp xếp các doanh nghiệp có quy mô lớn, trong đócác doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực tài chính, ngân hàng thực hiện cònchậm
CPH đã tạo ra loại hình DN nhiều chủ sở hữu bao gồm Nhà nước, công nhânviên trong DN và cổ đông ngoài DN Sự đa dạng về sở hữu mang lại sự đa dạng vềvốn, huy động được nguồn vốn đang nằm trong các tổ chức, cá nhân ngoài xã hộivào sản xuất kinh doanh Nhờ vậy quy mô vốn của một DN được tăng lên, trongkhi Nhà nước lại tránh được tình trạng đầu tư dàn trải, nhỏ lẻ vào tất cả các ngành,lĩnh vực kinh tế; từ đó thu lại được một phần vốn để đầu tư vào những ngành, lĩnhvực then chốt và các mục đích khác cần thiết hơn
Thông qua CPH các khoản nợ xấu, tài sản không sử dụng được trong sảnxuất kinh doanh của DN (hàng tồn kho lâu ngày, kém, mất phẩm chất, máy mócthiết bị hư hỏng, hết khấu hao ) được xử lý nên đã làm lành mạnh tình hình tàichính của DN, qua đó mở ra cơ hội phát triển cho DN
CPH cũng đã tạo nên một cơ chế quản lý mới cùng đội ngũ cán bộ quản lýthích nghi hơn với cơ chế thị trường Những chuyển biến nói trên đã nâng cao rõrệt hiệu quả sản xuất kinh doanh của các DN CPH trên tất cả các chỉ tiêu chủ yếu:
về vốn, doanh thu, lợi nhuận, nộp ngân sách, số lượng lao động và thu nhập của laođộng, cổ tức Kết quả các cuộc điều tra cho thấy: vốn bình quân một DN tăng từ 24
tỷ đồng (2001) lên 63,6 tỷ đồng (2004); có tới 92,5% số DN được điều tra cho rằng
có lãi, lợi nhuận trước thuế tăng bình quân 149,8%, lợi nhuận sau thuế tăng bìnhquân 182,3%, mức nộp ngân sách tăng bình quân 26,53%/DN, năng suất lao độngtăng trung bình 63,9%, thu nhập bình quân tháng của lao động tăng 34,5% so vớitrước khi CPH, lao động tăng do mở rộng sản xuất, cổ tức cao hơn nhiều so với lãisuất ngân hàng
Các DNNN đã cổ phần hoá, chủ yếu là doanh nghiệp nhỏ và việc huy độngvốn ngoài xã hội trong quá trình cổ phần hoá DNNN còn hạn chế do chưa khuyếnkhích việc bán cổ phần ra bên ngoài Chưa có doanh nghiệp nào tính giá trị quyền
sử dụng đất vào giá trị doanh nghiệp khi cổ phần hoá
Thời gian thực hiện cổ phần hoá một doanh nghiệp còn dài, làm tiến độ cổ phầnhoá chậm
Trang 9Vốn nhà nước còn chiếm tỷ trọng lớn trong vốn điều lệ ở nhiều doanhnghiệp không thuộc diện cần giữ cổ phần chi phối, phổ biến nhất là trong các tổngcông ty nhà nước thuộc các ngành xây dựng, giao thông
Nhiều công ty cổ phần chưa có sự đổi mới thực sự trong quản trị công ty;phương pháp quản lý, lề lối làm việc, tư duy quản lý vẫn còn như DNNN Hạn chếnày rõ nhất là ở những doanh nghiệp mà Nhà nước còn giữ cổ phần chi phối, banlãnh đạo của doanh nghiệp đều từ DNNN trước đó chuyển sang
Trong một số công ty cổ phần, người lao động - cổ đông phần do nhận thứcchưa đầy đủ về quyền và nghĩa vụ của mình, phần do sự hiểu biết pháp luật vềcông ty cổ phần còn hạn chế, nên có nơi quyền làm chủ chưa được phát huy.Ngược lại có nơi lạm dụng quy định của pháp luật gây khó khăn cho công tác quản
lý của Hội đồng quản trị, sự điều hành của giám đốc Nhiều nội dung của cơ chế,chính sách quản lý công ty cổ phần như: chính sách tiền lương, tiền thưởng… vẫncòn áp dụng như DNNN
3)Nguyên nhân
Một bộ phận cán bộ lãnh đạo, đảng viên ở các cấp, người lao động trongdoanh nghiệp chưa nhận thức đúng đắn về công cuộc đổi mới, sắp xếp và cổ phầnhoá DNNN Một số khác còn mang nặng tư tưởng bao cấp, lo ngại sau cổ phần sẽmất đặc quyền, đặc lợi
Một số Bộ, ngành, địa phương, tổng công ty nhà nước chưa quán triệt sâusắc và nghiêm chỉnh chấp hành Nghị quyết của Đảng, quy định của Nhà nước,thiếu chương trình, kế hoạch cụ thể, chưa tích cực, sâu sát trong chỉ đạo thực hiện
đã làm ảnh hưởng tới tiến độ cổ phần hoá DNNN
Một số khó khăn, vướng mắc trong chính sách cổ phần hoá chưa được xử lýkịp thời như: đối tượng cổ phần hoá, việc bán cổ phần ra bên ngoài, chính sách bán
cổ phần ưu đãi, phương thức bán cổ phần, quy định về xác định giá trị doanhnghiệp; chưa có giải pháp xử lý dứt điểm các tồn tại về tài chính, quy trình cổ phầnhoá toàn bộ tổng công ty nhà nước
Những khó khăn, vướng mắc của DNNN sau cổ phần hoá chưa được xử lýkịp thời, vẫn còn tình trạng phân biệt đối xử trong việc cho thuê đất, chuyển quyền
sử dụng đất, di chuyển địa điểm sản xuất, vay vốn kinh doanh…
CHƯƠNG III: THỰC TRẠNG CỔ PHẦN HÓA DNNN TẠI VIỆT NAM 1)Thực trạng chung hiện nay:
Quá trình đổi mới doanh nghiệp nhà nước trên thực tế được triển khai trênnhiều bình độ, trong đó nổi lên một xu hướng được coi là chủ lưu: đổi mới, sắp xếplại các doanh nghiệp nhà nước Trong chương trình “đổi mới, sắp xếp lại doanhnghiệp nhà nước" thì ai cũng biết, cổ phần hóa các doanh nghiệp là một nội dungđược coi là chủ yếu Chương trình sắp xếp lại các doanh nghiệp nhà nước đượckhởi động từ đầu những năm 1990 đến nay đã làm được nhiều việc; trong đó ấn
Trang 10tượng nhất là số lượng doanh nghiệp nhà nước từ hơn 12 nghìn năm 1992 đã giảmxuống còn gần 2.200 (9-2006); trong đó, hơn 1.500 doanh nghiệp hoạt động sảnxuất kinh doanh, 355 doanh nghiệp quốc phòng an ninh và sản xuất, cung ứng sảnphẩm, dịch vụ công ích, số còn lại là các nông, lâm trường quốc doanh, với tổng sốvốn nhà nước gần 260 nghìn tỷ đồng Một phần trong số này nằm trong 105 tậpđoàn và tổng công ty (trong đó 7 tập đoàn, 13 tổng công ty 91; 83 tổng công tythuộc các bộ, ngành, địa phương và 2 tổng công ty thuộc Tập đoàn Công nghiệpThan - khoáng sản Việt Nam)
Đóng góp vào mức giảm số lượng gần 10 nghìn doanh nghiệp nhà nước từnăm 1992 đến nay, hình thức cổ phần hóa chỉ chiếm 1/4 (3.060 doanh nghiệp), còn6.740 doanh nghiệp (3/4 số doanh nghiệp) giảm đi qua các hình thức chuyển đổi,sáp nhập và một phần không đáng kể bị giải thể
Theo đánh giá của Ban chỉ đạo đổi mới và phát triển doanh nghiệp, nhìnchung các doanh nghiệp sau cổ phần hóa đều nâng cao được hiệu quả sản xuất,kinh doanh với các mức độ khác nhau Dựa trên báo cáo của các bộ, ngành, địaphương về kết quả hoạt động của 850 doanh nghiệp cổ phần hóa đã hoạt động trên
1 năm cho thấy, vốn điều lệ bình quân tăng 44%, doanh thu bình quân tăng 23,6%,lợi nhuận thực hiện bình quân tăng 139,76% Đặc biệt, có tới trên 90% số doanhnghiệp sau cổ phần hóa hoạt động kinh doanh có lãi, nộp ngân sách bình quân tăng24,9%, thu nhập bình quân của người lao động tăng 12%, số lao động tăng bìnhquân 6,6%, cổ tức bình quân đạt 17,11%
Báo cáo tình hình thực hiện cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước tại phiênhọp thứ 43 của ủy ban Thường vụ Quốc hội (ngày 21-9-2006) nhận định:
"Qua hơn 15 năm triển khai, chủ trương cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước đã đạtđược những hiệu quả về kinh tế, chính trị, xã hội nhất định, tạo sự rõ ràng về quyềnlợi, nghĩa vụ, trách nhiệm của từng thành phần sở hữu, từng cổ đông; xoá bỏ cơchế phân phối bình quân; hình thành phương thức phân chia lợi nhuận theo tỷ lệgóp vốn, giảm được sự can thiệp trực tiếp mang tính hành chính của các cấp chínhquyền, các cơ quan quản lý nhà nước; tạo cơ chế quản lý tự chủ, tự chịu tráchnhiệm nhằm thúc đẩy doanh nghiệp năng động hơn; tạo cơ sở pháp lý và vật chất
để người lao động xác lập và nâng cao vai trò làm chủ, gắn bó máu thịt với doanhnghiệp Kết quả nổi bật của cổ phần hoá là năng lực cạnh tranh của các doanhnghiệp nhà nước được nâng lên đáng kể Họ phải tự tìm kiếm cơ hội, đối tác kinhdoanh, chủ động đổi mới công nghệ, tiết kiệm tối đa các chi phí để tăng doanh thu
Cổ phần hoá cũng đã huy động thêm vốn của xã hội đầu tư cho phát triển sản xuấtkinh doanh, tạo cơ hội việc làm cho người lao động Dưới góc độ phân công laođộng trong xã hội, cổ phần hoá đã thật sự giải phóng sức lao động từ chỗ đông màkhông mạnh, ỷ lại, dựa dẫm, thụ động chuyển sang chủ động, tích cực hơn trongnền kinh tế nhiều thành phần với thái độ đầy đủ hơn, trách nhiệm hơn, góp phầntăng thu nhập cho xã hội, cho Nhà nước và cho người lao động"
Trang 11Và cũng theo đánh giá của Ban chỉ đạo đổi mới và phát triển doanh nghiệp,sau quá trình thực hiện sắp xếp, số lượng doanh nghiệp nhà nước giảm nhưng vẫntiếp tục giữ vai trò chi phối những ngành, lĩnh vực then chốt Khu vực doanhnghiệp nhà nước vẫn đóng góp gần 40% GDP và 50% tổng thu ngân sách nhànước.
Thực tiễn đó đã đủ để khẳng định, về cơ bản cổ phần hóa là một hướng đổimới doanh nghiệp phù hợp với tiến trình đổi mới kinh tế nói chung Nhưng, mộtnghịch lý đã từng tồn tại ngay từ khi công cuộc cổ phần hóa được khởi động cho
đến tận nay là "Tiến độ cổ phần hóa doanh nghiệp Việt Nam còn chậm, chưa đạt
yêu cầu" như nhan đề của một bài viết đăng trên website của Đảng (ngày
21-9-2006) Bản báo cáo nêu rõ: những năm gần đây, đặc biệt từ năm 2001, số lượngdoanh nghiệp nhà nước được cổ phần hóa tăng đáng kể, nhưng nhìn chung việctriển khai còn chậm Số doanh nghiệp được cố phần hóa tăng nhiều, nhưng số vốnmới chiếm 12% tổng số vốn trong các doanh nghiệp nhà nước; nếu trừ đi phần vốnnhà nước còn giữ lại gần 50% trong các doanh nghiệp cố phần hóa, thì thực chất tỷ
lệ trên chỉ chiếm khoảng 6% So với mục tiêu của Nghị quyết Trung ương 9 khoá
IX thì còn chậm, nhất là các doanh nghiệp có quy mô lớn, các doanh nghiệp tronglĩnh vực tài chính, ngân hàng Tiến độ cổ phần hóa không đồng đều giữa các bộ,ngành, địa phương; một số bộ, ngành chưa hoàn thành theo đề án đã được phêduyệt
Như vậy, tuy số lượng doanh nghiệp có thể nhiều, nhưng xét về chỉ tiêu vốn
đã được cổ phần hóa thì coi như không đáng kể, thậm chí chưa xứng với mộtchương trình lớn ở tầm quốc gia, bởi vì cổ phần hóa dường như ít ảnh hưởng tớinguyên tắc thị trường của các doanh nghiệp nhà nước nói riêng và toàn bộ cơ chếvận hành của nền kinh tế nói chung Điều này cũng có nghĩa là, mục tiêu chính củasắp xếp lại các doanh nghiệp nhà nước là góp phần thúc đẩy nhanh sự chuyển đổi
cơ chế của nền kinh tế, làm cho nguyên tắc thị trường thay thế nguyên tắc kế hoạchhóa tập trung, vẫn chưa đạt được như mong đợi
Chính vì vậy mà tại Hội nghị về sắp xếp, đổi mới doanh nghiệp nhà nướcgiai đoạn 2006-2010 được tổ chức ngày 7-10-2006 vừa qua, Thủ tướng NguyễnTấn Dũng khẳng định: "Nhiệm vụ sắp xếp, đổi mới doanh nghiệp trong 5 năm tớitrọng tâm là cổ phần hóa Mục tiêu đến năm 2010, chúng ta sẽ cơ bản cổ phần hóaxong doanh nghiệp nhà nước" Phương án được lựa chọn để tiếp tục thực hiện sắpxếp, đổi mới doanh nghiệp nhà nước từ nay đến 2010 là đẩy mạnh sắp xếp, cốphần hóa các tập đoàn kinh tế, tổng công ty nhà nước Theo đó, từ nay đến hết năm
2010 sẽ cổ phần hóa khoảng 1.500 doanh nghiệp (riêng các doanh nghiệp thànhviên của tổng công ty nhà nước phải hoàn thành trong năm 2008), trong đó, năm
2007 phải cổ phần hóa 550 doanh nghiệp (có khoảng 20 tổng công ty), số còn lại
sẽ thực hiện trong các năm 2008-2009, một số công ty và số ít doanh nghiệp chưa
cố phần hóa được thực hiện trong năm 2010 Theo kết quả này, đến cuối năm 2010,
Trang 12cả nước sẽ chỉ còn 554 doanh nghiệp 100% vốn nhà nước, trong đó có 26 tập đoàn,tổng công ty quy mô lớn; 178 doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực an ninh, quốcphòng, sản xuất, cung ứng sản phẩm, dịch vụ thiết yếu; 200 nông, lâm trường; 150doanh nghiệp thành viên các tập đoàn, tổng công ty nhà nước.
Có thể nói rằng, đây là một trong những nhiệm vụ rất khó khăn trong nhữngnăm sắp tới Bởi vì như thực tiễn nhiều năm qua đã cho thấy, không chỉ khối lượngcông việc phải tiến hành rất lớn, mà còn có thể phải đối mặt với không ít trở lực.Trong 4 năm sắp tới (2007-2010) sẽ phải cổ phần hóa 1.500 doanh nghiệp (bìnhquân mỗi năm cổ phần hóa 375 doanh nghiệp), riêng năm 2007 đặt kế hoạch cổphần hóa 550 doanh nghiệp Chỉ tiêu này tuy không cao hơn nhiều so với kế hoạchcủa một số năm trước, nhưng so với kinh nghiệm thực hiện nhiều năm thì rất cao.Như trên đã nêu, trong khoảng 15 năm (1992-2006), cả nước cổ phần hóa được3.060 doanh nghiệp, tức là bình quân mỗi năm cổ phần hóa được 204 doanhnghiệp Tất nhiên, với quyết tâm cao và kinh nghiệm đã tích lũy được, hoàn toàn
có cơ sở để hoàn thành mục tiêu này, dĩ nhiên là còn cần phải có những đổi mớimạnh mẽ trong phương thức tiến hành cổ phần hóa
Thật vậy, với cách làm như từ trước đến nay, diện mạo của tình hình cổ phầnhóa các doanh nghiệp nhà nước ở Việt Nam là: "quy mô doanh nghiệp được sắpxếp hoặc cổ phần hóa trong thời gian qua chủ yếu vẫn là doanh nghiệp vừa và nhỏ.Trong tổng số doanh nghiệp được cổ phần hóa có trên 2.600 đơn vị có quy môdưới 10 tỉ đồng Tuy việc cố phần hóa các doanh nghiệp quy mô trên 10 tỉ đồng đãtăng lên trong các năm 2004-2005, số doanh nghiệp dưới 10 tỉ vẫn chiếm 80% tổng
số được cổ phần hóa Đáng chú ý, trong số các đơn vị đã cổ phần hóa có tới gần1.200 đơn vị nhà nước tiếp tục giữ trên 50% vốn điều lệ, tỷ lệ này tương đươngkhoảng 33% nhưng hầu hết đây là những doanh nghiệp có vốn lớn
Nhiều doanh nghiệp không thuộc diện Nhà nước nắm 100% vốn nhưng đãtránh cổ phần hóa bằng cách chuyển sang mô hình công ty mẹ - công ty con hoặccông ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên Số lượng doanh nghiệp tham giacung cấp dịch vụ công ích còn lớn, nhưng không ít doanh nghiệp có số thu từ dịch
vụ công ích dưới 20%
Hiệu quả của quá trình sắp xếp, cổ phần hóa vẫn chưa được như mong đợi.Tuy Chính phủ đã hỗ trợ: loại trừ tài sản và công nợ không tính vào giá trị doanhnghiệp cổ phần hóa trên 2.500 tỉ đồng; xóa nợ thuế và các khoản phải nộp Nhànước trên 310 tỉ đồng; ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp trên 1.000 tỉ đồng; chiphí cho cải cách doanh nghiệp nhà nước và ngân hàng thương mại để hỗ trợ doanhnghiệp sắp xếp và xử lý nợ và lỗ là 2.962 tỉ đồng; hỗ trợ lao động dôi dư 6.000 tỉđồng; chi xử lý nợ các ngân hàng thương mại 8.317 tỉ đồng
Tình trạng này cho thấy, cổ phần hóa chưa đạt được kết quả tương xứng với
sự kỳ vọng cũng như hỗ trợ của Nhà nước