Năm 944, Ngô Quyền mất, con trai Dương Đình Nghệ là Dương Tam Kha cướp ngôi, tự lập mình làm vua, xưng Dương Bình Vương. Ngô Xương Ngập chạy về nhà một hào trưởng Phạm Lệnh Công ở làng Trà Hương (Hải Dương). Dương Tam Kha ba lần sai quân đi bắt Ngô Xương Ngập mà không được. Từ khi Dương Tam Kha lấy ngôi của nhà Ngô, thêm nhiều nơi không chịu thần phục. Đặc biệt là loạn ở hai thôn Đường Nguyễn, nhiều thủ lĩnh nổi lên chống đối như sứ quânNgô Nhật Khánh ở Đường Lâm (thôn Đường) và sứ quân Nguyễn Khoan nổi dậy ở Tam Đái (thôn Nguyễn), sứ quân Phạm Bạch Hổ là con của Phạm Lệnh Công chiếm Đằng Châu, sứ quân Trần Lãm chiếm giữ ở Bố Hải Khẩu. Năm 950, Dương Tam Kha sai Ngô Xương Văn đi đánh 2 thôn Đường Lâm và Nguyễn Gia Loan ở Thái Bình. Ngô Xương Văn cho rằng đây là các ấp vô tội và thuyết phục 2 tướng dẫn quân quay lại lật đổ Dương Tam Kha. Xương Văn không giết Tam Kha, chỉ giáng xuống làm Chương Dương công. Năm 950, Ngô Xương Văn tự xưng làm Nam Tấn Vương, đóng đô ở Cổ Loa. Ngô Xương Văn cho người đón anh trai Ngô Xương Ngập về cùng làm vua, là Thiên Sách Vương. Lúc đó cùng tồn tại hai vua Nam Tấn Vương và Thiên Sách Vương. Sử sách gọi là Hậu Ngô Vương.
Trang 1SOẠN BÀI LỊCH SỬ
1, Chiến thắng Bạch Đằng (938) do Ngô Quyền lãnh đạo đã diễn ra như thế nào?
Hoàn cảnh
Năm 931, Dương Đình Nghệ đánh đuổi quân Nam Hán- một trong 10 nước
thời Ngũ đại Thập quốc nằm liền kề với Tĩnh Hải quân - giành lại quyền tự chủ cho người Việt ở Tĩnh Hải quân, tự xưng là Tiết độ sứ
Năm 937, Đình Nghệ bị nha tướng Kiều Công Tiễn giết hại để cướp ngôi Tiết độ
sứ Con rể và là một tướng khác của Đình Nghệ là Ngô Quyền bèn tập hợp lực lượng ra đánh Công Tiễn để trị tội phản chủ
Kiều Công Tiễn sợ hãi, bèn sai người sang cầu cứu Nam Hán Vua Nam Hán
là Lưu Nghiễm nhân cơ hội đó bèn quyết định đánh Tĩnh Hải quân lần thứ hai.[3]Lưu Nghiễm cho rằng Dương Đình Nghệ qua đời thì Tĩnh Hải quân không còn tướng giỏi, bèn phong con trai thứ chín là Lưu Hoằng Tháo làm "Bình Hải tướng quân" và "Giao Chỉ vương", thống lĩnh thủy quân.[3]
Diễn biến
Ngô Quyền bao vây và giết chết Kiều Công Tiễn
Năm 938, sau khi tập hợp các hào kiệt trong nước đứng về phía mình, Ngô Quyền mang quân từ Ái châu ra bắc đánh Kiều Công Tiễn Kiều Công Tiễn bị cô lập không chống nổi, trông chờ viện binh của Nam Hán
Trong khi vua Nam Hán đang điều quân thì Ngô Quyền đã tiến ra thành Đại La, giết chết Kiều Công Tiễn Kiều Công Tiễn bị cô thế không đủ sức chống lại nên thành nhanh chóng bị hạ Lúc đó quân Nam Hán vẫn chưa tiến vào tới biên giới
Kế hoạch của quân Nam Hán
Vua Nam Hán Cao Tổ Lưu Nghiễm cho con là Vạn Vương Hoằng Tháo làm Tĩnh Hải quân Tiết độ sứ, đổi tước phong là Giao Vương, đem 2 vạn quân sang với danhnghĩa là cứu Công Tiễn Lưu Nghiễm hỏi kế ở Sùng Văn hầu là Tiêu Ích Ích nói:
Nay mưa dầm đã mấy tuần, đường biển thì xa xôi nguy hiểm, Ngô Quyền lại là người kiệt hiệt, không thể khinh suất được Đại quân phải nên thận trọng chắc chắn, dùng nhiều người hướng đạo rồi sau mới nên tiến.
Trang 2Vua Nam Hán đang muốn hành quân nhanh để đánh chiếm lại Tĩnh Hải quân, nên không nghe theo kế của Tiêu Ích, sai Hoằng Tháo đem chiến thuyền theo sông Bạch Đằng mà vào Lưu Nghiễm tự mình làm tướng, đóng ở Hải Môn để làm thanh viện.
Kế hoạch của Ngô Quyền
Ngô Quyền nghe tin Hoằng Tháo sắp đến, ông bảo với các tướng rằng:[1]
Hoằng Tháo là đứa trẻ khờ dại, đem quân từ xa đến, quân lính còn mỏi mệt, lại nghe Công Tiễn đã chết, không có người làm nội ứng, đã mất vía trước rồi Quân ta lấy sức còn khỏe địch với quân mỏi mệt, tất phá được Nhưng bọn chúng có lợi ở chiến thuyền, ta không phòng bị trước thì thế được thua chưa biết ra sao Nếu sai người đem cọc lớn vạt nhọn đầu bịt sắt đóng ngầm ở trước cửa biển, thuyền của bọn chúng theo
nước triều lên vào trong hàng cọc thì sau đó ta dễ bề chế ngự, không
cho chiếc nào ra thoát.
Ngô Quyền cho quân sĩ đóng cọc có bịt sắt nhọn xuống lòng sông Bạch Đằng Khi thuỷ triều lên, bãi cọc không bị lộ Ngô Quyền dự định nhử quân địch vào khu vực này khi thủy triều lên và đợi nước triều rút xuống cho thuyền địch mắc cạn mới giao chiến
Thủy chiến trên sông Bạch Đằng
Vào một ngày cuối đông năm 938, trên sông Bạch Đằng, vùng cửa biển và hạ lưu, cả một đoàn binh thuyền do Hoằng Tháo chỉ huy vừa vượt biển tiến vào cửa ngõ Bạch Đằng
Quân Nam Hán thấy quân của Ngô Quyền chỉ có thuyền nhẹ, quân ít tưởng có thể ăn tươi, nuốt sống liền hùng hổ tiến vào Ngô Quyền ra lệnh cho quân bỏ chạy lên thượng lưu Đợi đến khi thủy triều xuống, ông mới hạ lệnh cho quân sĩ
đổ ra đánh Thuyền chiến lớn của Nam Hán bị mắc cạn và lần lượt bị cọc đâm thủng gần hết Lúc đó Ngô Quyền mới tung quân ra tấn công dữ dội Quân Nam Hán thua chạy, còn Lưu Hoằng Tháo bỏ mạng cùng với quá nửa quân sĩ
Kết quả
Vua Nam Hán đang cầm quân tiếp ứng đóng ở biên giới mà không kịp trở tay đối phó Nghe tin Hoằng Tháo tử trận, Nghiễm kinh hoàng, đành "thương khóc thu nhặt quân còn lại mà rút lui" Năm 939, Ngô Quyền lên ngôi vua, xưng là Ngô Vương, lập ra nhà Ngô, đóng đô ở Cổ Loa (Đông Anh, Hà Nội ngày nay)
Trang 3Di sản
Năm 1288, quân Đại Việt do Trần Hưng Đạo lãnh đạo giao chiến với quân Nguyên trên sông Bạch Đằng Trước đó, Trần Hưng đã cho đóng cọc và phủ cỏlên trên rồi cho quân khiêu chiến, giả vờ bỏ chạy Quân Nguyên đuổi theo, quân Đại Việt cố sức đánh lại Nước triều rút xuống, thuyền quân Nguyên vướng cọc và nghiêng đắm gần hết Trận này quân Nguyên đại bại, bắt được tướng Nguyên là Ô Mã Nhi, Tích Lệ Cơ Ngọc và 400 chiến thuyền.[4]
Điều kiện thành công
Chiến thuật quân sự của Ngô Quyền rất độc đáo và đúng như nhận định của Tuy nhiên, theo các nhà quân sự, việc áp dụng chiến thuật lấy cọc nhọn đâm thuyền địch muốn thành công cần có sự kết hợp chặt chẽ với một số mưu mẹo khác
Thứ nhất, phải dụ địch đến đúng bãi cọc đã đóng giăng bẫy khi thuỷ triều còn cao, bãi cọc chưa bị phát lộ
Thứ hai, phải nắm rất vững quy luật thuỷ triều theo từng giờ và tính toán thời điểm để khi thuyền quân địch tới bãi cọc rồi, thuỷ triều mới rút, có như vậy thuyền địch mới bị mắc cạn và bị cọc đâm
Chỉ khi có đủ hai điều kiện trên, mưu kế mới phát huy tác dụng
Ý nghĩa
Trận thắng lớn ở sông Bạch Đằng năm 938 có ý nghĩa quan trọng đối với Việt Nam vì nó đã giúp chấm dứt 1000 năm Bắc thuộc trong lịch sử Việt Nam, mở
ra một thời kỳ độc lập tự chủ cho Việt Nam
Chiến thắng Bạch Đằng có thể coi là trận chung kết toàn thắng của dân tộc ViệtNam trên con đường đấu tranh chống Bắc thuộc, chống đồng hóa, đấu tranh giành lại độc lập dân tộc
Hơn thế nữa, trong hơn 1000 năm Bắc thuộc đó, kẻ thù của dân tộc Việt là một đế quốc lớn mạnh bậc nhất ở phương Đông với chủ nghĩa bành trướng Đại Hán đang lúc phát triển cao độ, nhất là dưới thời Hán, Đường
Ngô Quyền - người anh hùng của chiến thắng oanh liệt trên sông Bạch Đằng
năm 938 - trở thành vị vua có "công tái tạo, vua của các vua.
Sau chiến thắng Bạch Đằng, Việt Nam bước vào thời kỳ xây dựng đất nước trên quy mô lớn Đó là kỷ nguyên của văn minh Đại Việt, của văn hóa Thăng
Trang 4Long, kỷ nguyên phá Tống, bình Nguyên, đuổi Minh, một kỷ nguyên rực rỡ của các nhà Lý, Trần, Lê.
2, Vài nét về triều Ngô – triều đại độc lập đầu tiên của dân tộc.
Nhà Ngô là một triều đại trong lịch sử Việt Nam, truyền được hai đời nhưng có
tới ba vị vua, kéo dài từ năm 939 đến năm 965
Tranh chấp trong cung đình
Năm 944, Tiền Ngô Vương mất, sai Dương Tam Kha giúp lập thái tử Dương Tam Kha là anh (có sách nói là em) Dương Thái hậu cướp ngôi, tự xưng DươngBình Vương
Con trưởng Ngô Quyền là Ngô Xương Ngập chạy về Nam Sách (Hải Dương) Dương Tam Kha lấy Ngô Xương Văn, con thứ của Ngô Quyền, làm con nuôi Dương Tam Kha ba lần sai quân đi bắt Ngô Xương Ngập mà không thực hiện được mệnh lệnh vì hào trưởng Nam Sách là Phạm Lệnh Công che chở cho Xương Ngập
Năm 950, Dương Tam Kha sai Ngô Xương Văn đi đánh Thái Bình Ngô XươngVăn thuyết phục được 2 tướng Đỗ Cảnh Thạc và Dương Cát Lợi dẫn quân quaylại lật đổ Dương Tam Kha giành lại ngôi vua Xương Văn không giết Dương Tam Kha, giáng làm Chương Dương công
Năm 950, Ngô Xương Văn tự xưng làm Nam Tấn Vương, đóng đô ở Cổ Loa Ngô Xương Văn cho người đón anh trai Ngô Xương Ngập đang trốn ở Nam Sách trở về
Ngô Xương Ngập cũng làm vua, tự xưng là Thiên Sách Vương (951-954) Lúc đó cùng tồn tại hai vua Nam Tấn Vương và Thiên Sách Vương Lên ngôi vương,Ngô Xương Ngập lấn át quyền hành của Ngô Xương Văn khiến Xương Văn
Trang 5Thời Ngô, lãnh thổ chỉ còn 8 châu (so với 12 châu thời Tự chủ) là[4]:
trong Đất nước Việt Nam qua các đời: 4 châu này bị Nam Hán chiếm[5], nhưng không rõ vào thời điểm nào: Khi Kiều Công Tiễncầu viện đã để quân Hán tiến vào (937) và Ngô Quyền chưa kịp tập hợp lực lượng tiến ra Đại La (938) hay sau thời điểm trận Đại La, trước trận Bạch Đằng (cuối năm 938) Theo Nguyễn
Khắc Thuần trong Thế thứ các triều vua Việt Nam, Ngô Quyền bàn giao 4 châu
này cho Nam Hán "để tiện việc phòng thủ"[4], thì việc này có thể xảy ra sau trận Bạch Đằng hoặc Nam Hán đã chiếm được trước đó mà Ngô Quyền chỉ làm việc công nhận vùng bị mất này thuộc về Nam Hán
Ngoại giao
Ngô Quyền tự xưng là Ngô vương, sử sách không xác nhận việc ông quan hệ ngoạigiao với các vương triều nào trong số các nước ở phương bắc thời kỳ Ngũ đại Thậpquốc
Năm 954, Ngô Xương Văn sai sứ sang giao hảo với Nam Hán và xin tiết viện VuaNam Hán là Lưu Thịnh nhận giao hảo của Xương Văn Sau đó Lưu Thịnh âm mưu cho Lý Dư làm sứ cầm cờ "tinh" sang chiêu dụ nhận Tĩnh Hải quân là phiên thần
và phong chức Tiết độ sứ cho hắn để cai quản Đô hộ cho Ngô Xương Văn[1]
Được tin Lý Dư sắp vào, Ngô Xương Văn cho ngay người đi sang biên giới ngăn lại Hai bên gặp nhau ở Bạch châu Sứ của Xương Văn nói với Lý Dư rằng:
Giặc biển đương làm loạn, đường xá đi lại rất khó.
Lý Dư bèn quay về nước Đó là lần ngoại giao duy nhất giữa nhà Ngô và Nam Hántrong 21 năm tồn tại
3, Loạn 12 sứ quân là gì ? ai đã chấm dứt tình trạng này ?
Loạn 12 sứ quân là một giai đoạn nội chiến và loạn lạc trong lịch sử Việt Nam mà
đỉnh điểm của nó xen giữa thời kỳ nhà Ngô và nhà Đinh Loạn 12 sứ quân có nguyên nhân sâu xa từ quá trình phân hóa xã hội thời Bắc thuộc, dẫn đến việc xuất hiện tầng lớp thổ hào, quan lại có thế lực mạnh về kinh tế, chính trị và tạo ra sự
Trang 6phân tán cát cứ.[1] Thực chất của cuộc nội chiến này là việc đấu tranh giành quyền lực tối cao trên đất Tĩnh Hải quân của các thủ lĩnh địa phương khi nhà Đường suy yếu, người Việt có cơ hội đứng lên tranh giành quyền lãnh đạo Giai đoạn này có mầm mống từ đầu thế kỷ X và có cơ hội phát triển mạnh từ khi Dương Tam
Kha cướp ngôi nhà Ngô, các nơi không chịu thuần phục, các thủ lĩnh nổi lên cát cứmột vùng, thậm chí xưng Vương và đem quân đánh chiếm lẫn nhau Giai đoạn 12
sứ quân kéo dài hơn 20 năm (944-968) và kết thúc khi Đinh Bộ Lĩnh thống nhất đất nước, lập ra nhà nước Đại Cồ Việt - nhà nước phong kiến tập quyền đầu tiên trong lịch sử
Bối cảnh và lịch sử
Các Hào trưởng thành Tiết độ sứ
Năm 905, nhà Đường suy yếu, Khúc Thừa Dụ là Hào trưởng Chu Diên, được dân chúng ủng hộ, đã tiến quân ra chiếm đóng phủ thành Đại La, tự xưng là Tiết độ sứ
Họ Khúc đã mở đầu thời kỳ tự chủ của người Việt sau hơn 1000 năm Bắc thuộc.Năm 906, tướng Nguyễn Nê theo lệnh vua Đường đem 7000 quân sang nước Việt đòi họ Khúc triều cống Nguyễn Nê dựng bản doanh ở Thành Quả lấy vợ Việt sinh
ra 3 con trai sau này là các sứ quân Nguyễn Khoan, Nguyễn Thủ Tiệp và Nguyễn Siêu.[2] Cũng trong thời kỳ nhà Đường suy yếu, nhiều thủ lĩnh Trung Hoa chạy loạnxuống Tĩnh Hải quân lập ấp mà con cháu họ sau này trở thành các sứ quân như Đỗ Cảnh Thạc và sứ quân Trần Lãm
Năm 918, Khúc Hạo mất, Khúc Thừa Mỹ lên thay hèn yếu, bất lực dù đã có Đại
La (Hà Nội) vẫn không khống chế nổi các hào trưởng địa phương, phải cầu viện ngoại viện nhà Lương Quân Nam Hán tiến sang, bắt Khúc Thừa Mỹ và đem về Quảng Châu
Năm 931, hào trưởng Dương Đình Nghệ từ Ái châu đánh đuổi thứ sử Lý Tiến của nước Nam Hán, giải phóng thành Đại La Lưu Cung sai Trần Bảo mang quân sang tiếp viện Dương Đình Nghệ chủ động mở cửa thành nghênh đón địch, tiêu diệt viện binh Nam Hán, chém chết Trần Bảo Sau đó ông tự lập làm Tiết độ sứ,
dùng Ngô Quyền, Đinh Công Trứ (thân sinh của Đinh Bộ Lĩnh), Kiều Công
Tiễn làm nha tướng
Năm 937, Kiều Công Tiễn, hào trưởng Phong Châu, một tướng dưới quyền đã giết hại Dương Đình Nghệ để cướp quyền với lý do Đình Nghệ là người gây ra cái chếtcủa Khúc Thừa Mỹ, chúa cũ của Tĩnh Hải quân.[3] Hai cháu nội Tiễn là Kiều Công Hãn và Kiều Thuận sau này trở thành các sứ quân ở gần khu vực Phong Châu
Trang 7Năm 938, Ngô Quyền là con rể Dương Đình Nghệ ra giết Kiều Công Tiễn rồi dẹp giặc bên Nam Hán ở sông Bạch Đằng, lên ngôi Vua, lập ra nhà Ngô, dựng lại quyền tự chủ Trong số các tướng có sứ quân Đỗ Cảnh Thạc, sứ quân Kiều Công Hãn và sứ quân Phạm Bạch Hổ Tàn dư họ Kiều còn lại là sứ quân Kiều
Thuận chạy về chiếm vùng núi Hồi Hồ và liên kết với Ma Xuân Trường thâu tóm các tộc trưởng miền núi
Triều đình Cổ Loa dẹp loạn
Năm 944, Ngô Quyền mất, con trai Dương Đình Nghệ là Dương Tam Kha cướp ngôi, tự lập mình làm vua, xưng Dương Bình Vương Ngô Xương Ngập chạy về nhà một hào trưởng - Phạm Lệnh Công ở làng Trà Hương - (Hải Dương) Dương Tam Kha ba lần sai quân đi bắt Ngô Xương Ngập mà không được
Từ khi Dương Tam Kha lấy ngôi của nhà Ngô, thêm nhiều nơi không chịu thần phục Đặc biệt là loạn ở hai thôn Đường - Nguyễn, nhiều thủ lĩnh nổi lên chống đốinhư sứ quânNgô Nhật Khánh ở Đường Lâm (thôn Đường) và sứ quân Nguyễn Khoan nổi dậy ở Tam Đái (thôn Nguyễn), sứ quân Phạm Bạch Hổ là con của PhạmLệnh Công chiếm Đằng Châu, sứ quân Trần Lãm chiếm giữ ở Bố Hải Khẩu
Năm 950, Dương Tam Kha sai Ngô Xương Văn đi đánh 2 thôn Đường Lâm và Nguyễn Gia Loan ở Thái Bình Ngô Xương Văn cho rằng đây là các ấp vô tội và thuyết phục 2 tướng dẫn quân quay lại lật đổ Dương Tam Kha Xương Văn không giết Tam Kha, chỉ giáng xuống làm Chương Dương công Năm 950, Ngô Xương Văn tự xưng làm Nam Tấn Vương, đóng đô ở Cổ Loa Ngô Xương Văn cho người đón anh trai Ngô Xương Ngập về cùng làm vua, là Thiên Sách Vương Lúc đó cùng tồn tại hai vua Nam Tấn Vương và Thiên Sách Vương Sử sách gọi là Hậu Ngô Vương
Năm 951, Hậu Ngô Vương tiến đánh Đinh Bộ Lĩnh ở Hoa Lư hơn một tháng không được đành mang Đinh Liễn về Cổ Loa làm con tin Cũng từ đó Ngô Xương Ngập chuyên quyền, không cho Xương Văn tham dự chính sự nữa
Năm 954, Ngô Xương Ngập bị bệnh thượng mã phong mà chết,[4] chỉ còn một vua
là Nam Tấn Vương Ngô Xương Văn
Sau khi Thiên Sách vương mất, thủ lĩnh ở quận Thao Giang là Chu Thái quật cường không thần phục nhà Ngô Nam Tấn vương thân chinh đi đánh, chém được Chu Thái.[5]Cũng sau thời gian này, Ngô Xương Văn đi đánh giặc Lý Huy/Dương Huy ở châu Tây Long, đóng quân ở cửa Phù Lan, suốt tháng trời giặc tan mới rút quân trở về
Các sứ quân tham chiến
Trang 8Năm 965, Ngô Xương Văn đi đánh thôn Đường tức Đường Lâm của sứ quân Ngô Nhật Khánh và thôn Nguyễn Gia Loan của sứ quân Nguyễn Thái Bình bị phục binh bắn nỏ chết.[6] Khi Ngô Xương Xí nối ngôi, Ngô Nhật Khánh là anh em cùng
họ cũng kéo quân từ Đường Lâm về Cổ Loa tranh giành.[7]
Cũng trong năm 965 thứ sử Phong Châu Kiều Công Hãn kéo quân về triều đình CổLoa cùng tranh ngôi vua với Lã Xử Bình,[8][9] Con của Ngô Xương Ngập là Ngô Xương Xí phải lui về giữ đất Bình Kiều, trở thành Ngô sứ quân Theo sử gia Ngô Thì Sỹ "thì lúc đó Nam Tấn mới mất, trong nước rối ren, Đinh Liễn có công dẹp loạn, lại được phong tước, chứ chẳng như những con tin tầm thường nhân lúc loạn lạc mà trốn về" Đinh Liễn sau 15 năm làm con tin ở Cổ Loa đã trở về Hoa Lư, cùng cha Đinh Bộ Lĩnh sang đầu quân cho sứ quân Trần Lãm ở Thái Bình
Năm 966 thứ sử Dương Huy, thứ sử Kiều Công Hãn, tham mưu Lã Xử Bình và nha tướng Đỗ Cảnh Thạc tranh nhau làm vua.[10] Đinh Bộ Lĩnh giết được Lã Xử Bình, kiểm soát được thành Cổ Loa Các tướng Kiều Công Hãn, Đỗ Cảnh
Thạc thua chạy về Phong Châu và Đỗ Động, nổi dậy thành sứ quân
Các sứ quân ra mặt đánh chiếm lẫn nhau: Lã Đường tấn công Đỗ Cảnh Thạc; Kiều Công Hãn tấn công Nguyễn Khoan; Nguyễn Thủ Tiệp giết Dương Huy chiếm Vũ Ninh và tự xưng là Vũ Ninh Vương.[11]
Năm 967, sứ quân Trần Lãm mất, sứ quân Ngô Nhật Khánh từ Đường Lâm, Đỗ Động Giang tập hợp 500 con em Ngô tiên chúa đánh Bố Hải Khẩu, khi đến đất Ô Man thì bị Ngô phó sứ chặn đánh phải bỏ về.[12] Đinh Bộ Lĩnh liền cất quân đi đánh, không bộ lạc nào ở đó không hàng phục Các sứ quân Phạm Bạch Hổ, Ngô Nhật Khánh, Ngô Xương Xí đem quân về hàng, lực lượng họ Đinh ngày càng lớn mạnh Đinh Bộ Lĩnh đánh dẹp các sứ quân Đỗ Cảnh Thạc, Nguyễn Siêu, Nguyễn Khoan, Kiều Công Hãn, Kiều Thuận
Năm 968, Đinh Bộ Lĩnh tiếp tục đánh dẹp các sứ quân Lý Khuê, Lã Đường và thống nhất Tĩnh hải quân, lên ngôi Hoàng đế ở kinh đô Hoa Lư, chính thức lập ra triều đại nhà Đinh trong lịch sử Việt Nam
12 sứ quân
Danh sách các sứ quân
Đến năm 966, hình thành đầy đủ 12 sứ quân chiếm giữ các địa phương:
1 Ngô Xương Xí , tức Ngô sứ quân giữ Bình Kiều (Triệu Sơn - Thanh Hóa) [13]
2 Ngô Nhật Khánh tự xưng là Ngô Lãm Công, giữ Đường Lâm (Sơn Tây, Hà Nội)
Trang 93 Đỗ Cảnh Thạc tự xưng là Đỗ Cảnh Công, giữ Đỗ Động Giang (Thanh
Oai, Hà Nội)
4 Phạm Bạch Hổ tự xưng là Phạm Phòng Át, giữ Đằng Châu (Hưng Yên)
5 Kiều Công Hãn tự xưng Kiều Tam Chế, giữ Phong Châu - Bạch Hạc (Việt Trì-Lâm Thao, Phú Thọ)
6 Nguyễn Khoan tự xưng Nguyễn Thái Bình, giữ Tam Đái (Yên Lạc, Vĩnh Phúc)
7 Nguyễn Siêu tự xưng là Nguyễn Hữu Công, giữ Tây Phù Liệt (Thanh
Trì, Hà Nội)
8 Nguyễn Thủ Tiệp tự xưng là Nguyễn Lệnh Công, giữ Tiên Du (Bắc Ninh)
9 Kiều Thuận tự xưng là Kiều Lệnh Công, giữ Hồi Hồ - Cẩm Khê (Phú Thọ)10.Lý Khuê tự xưng là Lý Lãng Công, giữ Siêu Loại (Thuận Thành, Bắc Ninh)11.Trần Lãm tự xưng là Trần Minh Công, giữ Bố Hải Khẩu - Kỳ Bố (Thái Bình)
12.Lã Đường tự xưng là Lã Tá Công, giữ Tế Giang (Văn Giang, Hưng Yên)
4, Triều Lí đã có những đóng góp nào cho lịch sử dân tộc.
Lý Công Uẩn là người châu Cổ Pháp, giữ đến chức Điện tiền chí huy sứ, chỉ huy cấm quân ở kinh đô Hoa Lư, có uy tín trong triều đình
Năm 1009, Lý Công Uẩn lên ngôi lập ra nhà Lý, ông đặt niên hiệu Thuận Thiên
Định đô Thăng Long
Quyết định quan trọng đầu tiên của ông là dời kinh đô từ vùng núi Hoa Lư chật hẹp về Thăng Long (tên gọi mới của thành Tống Bình – Đại La thời Bắc thuộc) ở vùng đồng bằng thoáng rộng, địa thế thuận lợi, giữ vị trí trung tâm chính trị - kinh
tế Nhân dịp này, nhà vua viết Chiếu dời đô
Việc dời đô về Thăng Long của Lí Công Uẩn đã chứng tỏ một tầm nhìn chiến lược sâu rộng của ông trong việc xây dựng một sự nghiệp lâu dài, phản ánh thế đi lên của vương triều và đất nước
Dưới thời Lý, kinh thành Thăng Long đã được xây dựng và phát triển trở thành một đô thị phòn thịnh và tiêu biểu của Đại Việt, gồm 2 khu vực chính trị quan liêu (đô) và kinh tế dân gian ?(thị)
Quân đội và luật pháp
Nhà Lý có nhiều loại quân
Quân đội nhà Lý có quân bộ và quân thuỷ, kỉ luật nghiêm minh, huấn luyện chu đáo Khu Gỉang Võ phía Tây kinh thành Thăng Long là nơi giảng dạy, luyện tập
Trang 10cho các tướng sĩ và binh lính Từ thời Lí đã thi hành chính sách “ngụ binh ư nông”,cho quân sĩ luân phiên về cày ruộng theo tinh thần “tĩnh vi nông, động vi binh” Chính sách đó vừa bảo đảm sản xuất, vừa bảo đảm động viên quân đội khi cần thiết.
Nhà Lý là vương triều Việt Nam đầu tiên ban hành luật thành văn Qua các pháp lệnh, ta được biết pháp luật nhà Lý đã mang tính chất đẳng cấp đảng cấp phong kiến, bảo vệ hoàng cung, trừng trị nặng tội mưu phản, cho tầng lớp quí tộc chuộc tội chuộc tội bằng tiền Mặt khác, pháp luật đời lí cũng bảo vệ trật tự xã hội, chống
hà lạm thuế má, giải quyết các vấn đề tranh chấp, cầm chuộc, mua bán ruộng đất, đảm bảo sức kéo bàng cách trừng phạt nặng tội trộm trâu, giết trâu
Xác lập chủ quyền quốc gia dân tộc
Có thể nói rằng đến thời Lý, Việt Nam đã là 1 quốc gia dân tộc, dựa trên 1 ý thức cộng đồng chung về nguồn gốc, dòng giống, lịch sử và văn hoá Năm 1054, vua LýThánh Tông đặt quốc hiệu là Đại Việt Nam 1175, nhà Tống chính thức công nhận chủ quyền quôc gia của Đại Việt khi đổi danh hiệu sắc phong từ Giao Chì quận vương thành An Nam quốc vương
Quốc gia Đại Việt đã được bảo vệ củng cố qua cuộc kháng chiến chống Tống (1075 – 1077) và mở rộng lãnh thổ về phía nam qua cuộc chiến tranh với Champa (1069), sáp nhập các châu Địa Lý, Ma Linh, Bố Chính (vùng Quảng Bình và Bắc Quảng Trị ngày nay) Các vua Lý đã thực hiện chính sách kimi, đưa nhiều công chúa gả cho các thổ tù miền núi để vừa ràng buộc họ vừa tạo sự ủng hộ hậu thuẫn
Kinh tế
Sau khi xác lập vương triều, cùng với việc xây dựng, phát triển nhà nước quân chủ trung ương tập quyền, các cua thời Lý cũng ra sức xây dựng và phát triển nền kinh tế độc lập, tự chủ về mọi mặt
- Về kinh tế nông nghiệp: dưới thời Lý ruộng đất bao gồm 2 hình thức
sở hữu chính là ruộng đất sở hữu nhà nước và ruộng đất sở hữu tư nhân Ruộng đất nhà nước sở hữu gồm nhiều loại
o Vấn đề ban cấp hộ nông dân là hình thức và chế độ phong hộ cho các quan lại cao cấp được thự hiện ở thời Lý Đây là hình thức nhằm đánh giá công lao và đóng góp của người được ban cấp đối với nhà Lý Chức hàm tước càng cao thì số lượng ban cấp càng nhiều bên cạnh ruộng đất thuộc sở hữu nhà nước, vàothời Lý, ruộng đất thuộc sở hữu tư nhân đã phổ biến và phát triển
Trang 11o Hiện tượng mua bán, kiện tụng ruộng đất xảy ra ở nhiều nơi, buộc nhà nước phải ban hành nhiều điều luật công nhận quyền
tư hữu ruộng đất đã thể hiện sự phát triển của hình thức sở hữu ruộng đất này
o Ngay từ khi mới lên ngôi, vua Lý Thái Tổ cũng như các vua Lí sau này luôn luôn chăm lo đến sản xuất nông nghiệp thông qua những chính sách cụ thể thiết thực
o Năm 1010, Lý Thái Tổ xuống chiếu bát hững người đào vong phải trở về bản quán
o Nam 1065, Lý Thánh Tông hạ chiêu khuyên nông Các vua nhà
Lý còn thực hiẹn công việc cày tịch điền và nhà vua tự đi xem gặt ở hành cung Ưng Phong nhằm khuyến khích sản xuất
o Chính sách ngụ binh ư nong cứng có tác dụng phát tri63n sản xuất nông nghiệp, làm cho sức lao động không bị thiếu hụt
o Nhà Lý đã có luật bảo vệ trâu, bò để bảo đảm sức kéo Trộm tau hay giết trâu bị tôi nặng
o Nhà nước cũng trú trọng đến đê điều, trị thuỷ, đặc biệt ở vùng châu thổ sông Hồng Năm 1077, triều đình ra lệnh đắp đê sông Như Nguyệt Năm sau lại cho đắp đê Cơ Xá (sông Hồng) từ Yên Phụ đến Lương Yên Năm 1103, nhà vua lại xuống chiếu tha thuế cho thiên hạ
- Thủ công nghiệp, thương nghiệp
o Sản phẩm của thủ công nghiệp nhà nước có chất lượng cao và
kĩ thuật khá tinh xảo nhưng không đc trao đổi trên thị trường
o Thủ công nghiệp nhân dân là các nghề thủ công truyền thống lâu đời trong dân gian đến thời Lý tiếp tục có những bước phát triển như dệt, gốm, đúc, đồng, đặc biệtt nghề dệt tơ lụa, vua ko dùng gấm vóc của nước Tống
o Một số nghề khai thác vàng, làm đất nung gạch, ngói phục vụ cho xây dựng, nghề in bàn gỗ cũng bắt đầu xuất hiện Đặc biệt
ở thời Lý đã làm được gốm men ngọc, gốm dàn hoa nâu, đườngnét hoa van trang trí khoẻ đẹp và xuất hiện một số trung tâm sản xuất gốm tiêu biểu như Bát Tràng (Hà Nội)
- Thương nghiệp
o Kinh tế nông nghiệp và thủ công nghiệp phát triển đã thúc đẩy thương nghiệp có những chuyển biến Thời Lý, tiền tệ đã có vaitrò quan trọng trong các hoạt động nội thương và ngoại thương
Trang 12Nhà nước đã có các xưởng đúc tiền phục vụ cho nhu cầu trao dổi trên thị trường
o Nhà nước nhập thêm tiền đồng Đường Tống ?(Trung Quốc) Điều này thể hiện quan hệ buôn bán giữa Đại Việt với Trung Hoa khá phát triển
o Một địa điểm ngoại thuơgn quan trọng thời Lý là cảng biển VânĐồn ra đời Vân Đồn nằm trên trục hàng hải từ Trung Quốc xuống các nước ĐNA, nên đây là 1 thương cảng tốt Thời Lý, Đại Việt buôn bán với các nước Xiêm La, Java (indo), Trung Quốc, hàng xuất của ta là lâm thổ sản và hàng nhập là giấy, bút,
tơ, vải, gấm, vóc Vì mục đích bảo vệ an ninh quốc gia, an toàn của đất nước nên nhà Lý chỉ cho phép thương nhân nước ngoài đến buôn bán ở một số địa điểm nhất định Song ngoại thương thời Lý vẫn còn khá Phát triển
Rõ ràng nền kinh tế thời Lý đã có những bước phát triển mới về các mặt, trong đó đặc biệt là nông nghiệp Sự phát triển kinh tế đã trở thành cơ sở vật chất để xây dựng đất nước vững mạnh và đảm bảo cho tháng lợi của cuộc kháng chiến chống ngoại xâm
Nghệ thuật
Nhà Lý còn nổi tiếng về nghệ thuật với kinh đô Thăng Long phỏng theo mô hình kinh thành Trường Ancủa nhà Đường và Khai Phong của nhà Tống, tạo nên một quần thể kiến trúc vĩ đại và hoa lệ Những hiện vật về mái ngói,linh thú trang trí trên nóc mái và các loại gạch lót cho thấy trình độ mỹ nghệ cao của các nghệ nhân thời Lý Con Rồng thời Lýđược xem là hình tượng đỉnh cao của nghệ thuật tạo hình đương thời, bên cạnh các tượng Phật lớn còn lại cho thấy tư duy đồ sộ của người thời Lý là rất lớn Ba trong 4 bảo vật của An Nam tứ đại khí là Tháp Báo Thiên, Chuông Quy Điền và Tượng phật Chùa Quỳnh Lâm được tạo ra trong thời đại nhà Lý Cùng với sự sùng đạo Phật, những tinh hoa nhất của nghệ thuật thời Lý
đa phần đều thể hiện qua các bức tượng Phật, chùa chiền, phản ánh sự xa hoa tột
độ của Phật giáo thời Lý
5, Triền Trần đã có những đóng góp nổi bật nào cho lịch sử dân tộc.
Vương triều Trần tồn tại được 174 năm, gồm 12 đời vua
Về chính trị
- Về chính sách chính trị, các hoàng đế nhà Trần cũng xây dựng bộ máy nhà nước hoàn thiện hơn so với nhà Lý, họ tạo nên một hệ thống đặc biệt, trong đó các Hoàng đế sẽ sớm nhường ngôi cho Thái tử mà lui về làm Thái thượng hoàng, tuy nhiên vẫn cùng vị Hoàng đế mới