1. Trang chủ
  2. » Kinh Doanh - Tiếp Thị

NHỮNG TRẬN HẢI CHIẾN TRONG CHIẾN TRANH THẾ GIỚI THỨ HAI DƯỚI GÓC NHÌN ĐỊA - CHÍNH TRỊ

145 351 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 145
Dung lượng 1,72 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nghiên cứu những trận hải chiến trong chiến tranh thế giới thứ II dưới góc nhìn địa chính trị để thấy được tầm quan trọng của yếu tố biển đối với những quốc gia chịu phụ thuộc vào môi tr

Trang 1

B Ộ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP HỒ CHÍ MINH

Đậu Thị Anh

DƯỚI GÓC NHÌN ĐỊA - CHÍNH TRỊ

Thành ph ố Hồ Chí Minh - 2014

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP HỒ CHÍ MINH

Đậu Thị Anh

Trang 3

L ỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là đề tài nghiên cứu do tôi thực hiện

Các số liệu và kết quả nghiên cứu được trình bày trong luận văn là trung thực

và chưa từng công bố ở các công trình nghiên cứu khác

Tôi xin chịu trách nhiệm về đề tài nghiên cứu của mình

Tác giả luận văn

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Tôi xin chân thành bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến:

Ban giám hiệu Trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh, Phòng Sau Đại học, quý thầy cô Khoa Lịch Sử đã nhiệt tình giúp đỡ và tạo điều kiện cho tôi trong quá trình hoàn thành luận văn

Phó giáo sư, Tiến sĩ Ngô Minh Oanh Thầy đã tận tình chỉ bảo, động viên và hướng dẫn cho tôi với sự cẩn trọng, nghiêm túc và trung thực trong quá trình nghiên cứu và thực hiện luận văn này

Các thầy cô tại thư viện trường Đại học sư phạm thành phố Hồ Chí Minh và tập thể các anh chị, các bạn học viên khóa 23, chuyên ngành Lịch sử thế giới đã ủng

hộ nhiệt tình và giúp đỡ chân thành cho tôi về mặt tư liệu

Tôi cũng xin gửi lời cảm ơn đến gia đình là nguồn động viên lớn nhất cho tôi trong thời gian học tập và hoàn thành luận văn này

Một lần nữa tôi xin chân thành cảm ơn!

Thành phố Hồ Chí Minh, ngày 30 tháng 9 năm 2014

Đậu Thị Anh

Trang 5

MỤC LỤC

Trang phụ bìa

Lời cam đoan

Lời cảm ơn

Mục lục

Danh mục các ký hiệu, chữ viết tắt

Danh mục các bảng

M Ở ĐẦU 1

Chương 1 LÝ LUẬN VỀ ĐỊA - CHÍNH TRỊ VÀ VẤN ĐỀ ĐỊA - CHÍNH TR Ị TRONG CHIẾN TRANH THẾ GIỚI THỨ II 8

1.1 Khái quát về khoa học địa - chính trị 8

1.1.1 Khái niệm địa - chính trị 9

1.1.2 Địa - chiến lược 13

1.2 Các học thuyết địa - chính trị ảnh hưởng đến chiến lược của các nước trong chiến tranh thế giới thứ 2 15

1.2.1 Tư tưởng địa – chính trị ở Hoa Kỳ 15

1.2.2 Tư tưởng địa – chính trị ở Anh 24

1.2.3 Tư tưởng địa – chính trị ở Đức 26

1.2.4 Tư tưởng địa – chính trị ở Nhật Bản 31

1.3 Tiêu chí lựa chọn các trận hải chiến 33

Ti ểu kết chương 1 34

Chương 2 NHỮNG TRẬN HẢI CHIẾN Ở ĐẠI TÂY DƯƠNG VÀ ĐỊA TRUNG H ẢI TRONG CHIẾN TRANH THẾ GIỚI II 35

2.1 Bối cảnh lịch sử 35

2.1.1 Quan hệ giữa các cường quốc trước chiến tranh thế giới thứ II 35

2.1.2 Chiến lược hải quân của các nước trước cuộc chiến tranh thế giới thứ II 40

2.1.3 Sự phát triển về kỹ thuật Hải quân trước cuộc chiến tranh thế giới lần thứ II 44

2.1.4 Quan hệ quốc tế trực tiếp dẫn đến chiến tranh thế giới thứ II 47

2.2 Hải chiến trên Đại Tây Dương và những phân tích địa chính trị 52

Trang 6

2.3 Hải chiến Địa Trung Hải và những phân tích địa chính trị 61

Ti ểu kết chương 2 67

Chương 3 NHỮNG TRẬN HẢI CHIẾN Ở THÁI BÌNH DƯƠNG TRONG CHI ẾN TRANH THẾ GIỚI THỨ II 68

3.1 Bối cảnh lịch sử 68

3.1.1 Chiến lược Thái Bình Dương của Hoa Kỳ, Nhật Bản 68

3.1.2 Quan hệ Hoa Kỳ và Nhật Bản trước thế chiến II 72

3.2 Những trận hải chiến ở Thái Bình Dương trong chiến tranh thế giới thứ II và những phân tích địa – chính trị 81

3.2.1 Giai đoạn 1: Nhật Bản chiếm ưu thế 82

3.2.2 Giai đoạn 2: Quân Đồng minh phản công 100

3.3 Những yếu tố ảnh hưởng đến cuộc chiến tranh Thái Bình Dương 109

Ti ểu kết chương 3 118

K ẾT LUẬN 119

TÀI LI ỆU THAM KHẢO 123

PH Ụ LỤC

Trang 7

DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CHỮ VIẾT TẮT

U-Boat : Tàu ngầm CTTG : Chiến tranh thế giới TLKHVCN : Tiềm lực khoa học công nghệ TLKT : Tiềm lực kinh tế

QS : Quân sự

Trang 8

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 2.1 Sức mạnh hải quân của các cường quốc, tháng 1 năm 1939 43 Bảng 3.1 Bảng thống kê lực lượng tham gia trận Leyte 106

Trang 9

MỞ ĐẦU

1 Lý do ch ọn đề tài

Lịch sử đã cho thấy rằng những con người đứng trước biển là những người vĩ đại, nói đến biển là nói đến con đường lớn đúng hơn là 1 đồng bằng cực kì rộng, đi theo hướng nào cũng được Mặc dù biển có tiềm ẩn đầy hiểm nguy nhưng nhìn chung vận tải đường biển bao giờ cũng dễ dàng hơn và rẻ hơn so với đường bộ

Lịch sử thế giới cho thấy rằng, trong những giai đoạn quan trọng thì sức mạnh trên

biển đá có ý nghĩa chiến lược và sức nặng nắm giữ tác nhân quyết định Ngày nay,

vấn đề kiểm soát biển là một vấn đề cực kì quan trọng, khống chế được biển có thể làm chủ được con đường hàng hải huyết mạch Biển như là tiêu chí quan trọng đối

với sự giàu mạnh và phồn vinh của một quốc gia Chính vì thế mà trong trong thập niên đầu của thế kỉ XXI trên thế giới đã diễn ra những cuộc tranh chấp lãnh thổ trên

biển ở vùng biển Đông giữa Trung Quốc và một số nước Đông Nam Á trong đó có

Việt Nam, tranh chấp các đảo giữa Nga – Nhật, Trung Quốc – Nhật Bản…đều đang

trở nên là điểm nóng của thế giới Quay trở lại với lịch sử trong cuộc chiến tranh thế

giới thứ hai thì những cuộc hải chiến giữa Đồng Minh và Phát xít đã nổ ra khốc liệt trên các đại dương: Đại Tây Dương, Địa Trung Hải, Ấn Độ Dương, Thái Bình Dương Đó là những cuộc chiến tàn khốc của lịch sử nhân loại, diễn ra trên 1 diện

rộng thể hiện sức mạnh hải quân, chiến lược và chiến thuật hải quân không ngừng thay đổi Những trận chiến đó còn là cuộc đấu tranh của các nội các các bên tham gia, cuộc chiến đấu giữa các tướng lĩnh, cuộc chiến đấu của nhiệm vụ tình báo…Tất

cả đã làm nên 1 kết cục của cuộc chiến tranh thế giới thứ hai – mà phần thắng thuộc

về những kẻ ít sai lầm nhất Nghiên cứu những trận hải chiến trong chiến tranh thế

giới thứ II dưới góc nhìn địa chính trị để thấy được tầm quan trọng của yếu tố biển đối với những quốc gia chịu phụ thuộc vào môi trường biển và phòng thủ biển đối

với những quốc gia có bờ biển Qua đó thấy được sự phát triển của lực lượng làm nhiệm vụ phòng thủ biển – lực lượng hải quân phụ thuộc vào chính sách của chính quyền Đồng thời để người viết có thể tìm hiểu sâu về những trận hải chiến và vai trò của nó đối với toàn bộ cuộc chiến – phần mà trong chương trình lịch sử ở Việt Nam chưa đề cập nhiều đến Với những lí do trên người nghiên cứu quyết định

Trang 10

chọn đề tài “Những trận hải chiến trong cuộc chiến tranh thế giới thứ II dưới góc nhìn địa chính trị” để làm đề tài luận văn thạc sĩ của mình

2 L ịch sử nghiên cứu đề tài

Nghiên cứu về các vấn đề về địa - chính trị, và cuộc chiến tranh thế giới thứ 2

có nhiều công trình:

Ở nước ngoài, các công trình nghiên cứu có liên quan đến đề tài khá đồ sộ và chuyên sâu Có thể kể đến những công trình sau

- Ảnh hưởng của sức mạnh trên biển đối với lịch sử, 1660 – 1783 của Alfred

Thayer Mahan Tác giả được coi là nhà chiến lược quan trọng nhất của Mỹ thế kỉ XIX Quan điểm của ông về “quyền lực trên biển” ảnh hưởng rất lớn đối với quá trình hình thành tư tưởng chiến lược hải quân cũng như chính sách đối ngoại của nhiều quốc gia ven biển trên khắp thế giới đặc biệt là ở Mỹ, Đức, Nhật, Anh Cuốn sách gồm 14 chương trong đó phần dẫn nhập và chương 1: những thành tố của sức

mạnh biển, tác giả đã đưa ra khái niệm “quyền bá chủ biển” và “sức mạnh trên

biển” những khái niệm mà sau này trở thành những tác nhân quan trọng nhất của

cuộc chiến tranh trên biển trong đó có cuộc chiến tranh thế giới thứ II, trình bày

những điều kiện chính ảnh hưởng đến sức mạnh trên biển của các quốc gia tác động

lớn đến những chính sách đối ngoại của các nước Dù đây là công trình của thế kỷ trước, thế kỷ mà nền kỹ thuật công nghệ chưa phát triển những những tư tưởng của ông đã ảnh hưởng đến chính sách kinh tế quốc phòng, an ninh của các trước trong

những năm trước chiến tranh thế giới thứ II Cách trình bày, lý giải về những trận

hải chiến của ông đã giúp ích cho tác giả rất nhiều

- Abraham Rothberg (2009), L ịch sử sống động của đệ nhị thế chiến, ng.d

Nguyễn Quốc Dũng, Nxb Từ điển bách khoa Cuốn sách được các học giả Âu, Mỹ đánh giá là một cuốn sách có giá trị Các tư liệu khá sinh động, chi tiết, cận cảnh các mặt trận của Anh, Mỹ Cuốn sách bao gồm 4 chương (chương 1: Tấn công, chương 2: Bao Vây, chương 3: Phản công Chương 4: Chiến thắng) Trình bày khác

ngắn gọn song có nhiều tư liệu về cuộc hải chiến như các số liệu về sức mạnh của

nền kinh tế quân sự của đồng mình Giúp tác giả có cơ sở để lý giải được 1 phần về

thắng lợi cuối cùng của đồng minh

Trang 11

- Robin Cross (2011), Bách khoa toàn thư về chiến tranh, ng.d Thế Anh, Nxb

Văn hóa thông tin Cuốn sách không trình bày chi tết diễn biến của cuộc chiến mà có

những phân tích chung, đánh giá chung Đặc biệt là có những phần về cuộc chiến tranh trên biển, phân tích những yếu tố chiến lược, chiến thuật và những tác nhân ảnh hưởng đến hải chiến Mặc dù không có đi vào phân tích địa chính trị ở các trận hải chiến Nhưng những phân tích gần gũi với đề tài, cũng như tư liệu bản đồ của cuốn sách

- The Two Ocean war a short history of the United states navy in the second

world war, của Samuel Eliot Mirison xuất bản năm 1963 Cuốn sách được đánh giá

là tác phẩm kinh điển chứa đựng khối lượng tư liệu đồ sộ về hải quân Mỹ trong vòng 15 năm của cuộc chiến tranh thế giới thứ 2 Cuốn sách gồm 15 chương: trình bày về giới hạn hải quân từ 1922 đến 1937, những chiến lược Thái Bình Dương, sức

mạnh hải quân dưới thời Roosevelt 1933 – 1939; thảm họa Trân châu cảng, trận Đại Tây Dương, trận Midway, Guadalcanal, Lyte Tác giả đã sử dụng phần kiến thức về chiến lược Thái Bình Dương cũng như một số đoạn ở phần kết luận của sách

- The second world war: vol 3: the war at sea của Phillip D Grove, Mark J Grove xuất bản năm 2002 Tác giả đã trình bày toàn diện về các trận hải chiến trên Đại Tây Dương, Địa Trung Hải, Ấn Độ dương – tuyến đường được xem như động

mạch hậu cần của Anh và quân đội đồng minh tiếp tế cho chiến trường châu Phi, châu Á, châu Âu Đưa ra nhận định rằng cuộc chiến tranh trên biển là một chiến quan trọng làm thay đổi sự cân bằng lực lượng quân sự trên đất liền, những thắng

lợi của cuộc chiến tranh trên biển có ý nghĩa lớn đối với thắng lợi cuối cùng của phe đồng minh

- Trận Midway là trận chiến bản lề trong cuộc chiến tranh Thái Bình Dương trong cuốn The Battle of Midway của Craig L Symonds xuất bản năm 2011 được

đánh giá là cuốn sách hay nhất năm 2011 của lịch sử quân sự, là một công trình nghiên cứu sâu, lập luận sắc sảo, là tác phẩm tuyệt với của nhà sử học Symonds

Cuốn sách đã nhận mạnh vào vai trò của những quyết định quan trọng của chỉ huy,

mô tả bức chân dung của các nhân vật lãnh đạo, những cá tính, nhược điểm làm ảnh hưởng đến thắng lợi Chiến thắng Midway được mô tả như phép lạ, một thành công

mà phụ thuộc vào thời gian của cuộc tấn công máy bay ném bom bổ nhào Mặt khác

Trang 12

Symonds còn làm rõ may mắn chỉ đóng một phần, chiến thắng ở Midway chủ yếu là

kết quả của sự chuẩn bị đầy đủ, kế hoạch cẩn thận, hiểu quả của việc sử dụng radar (thứ mà Nhật Bản không có) và sự vượt trội của chỉ huy

- Về trận hải chiến Guadalcanal kéo dài từ tháng 8 – 1942 đến tháng 2 – 1943

là cuộc phản công lớn đầu tiên của Mỹ chống lại Nhật Bản ở Thái Bình Dương

Thắng lợi của trận Guadalcanal đã làm bước ngoặt lớn của cuộc chiến tranh Thái

Bình Dường Trong cuốn sách “The naval Battles for Guadalcanal, 1942, clash for

supremacy in the pacific “ của Mark Stille xuất bản năm 2013 Tác giả đã trình bày chi tiết về cuộc chiến giữa hải quân Nhật và hải quân Mỹ nhằm kiểm soát mặt biển theo trình tự thời gian, cho rằng sở hữu sân bay Henderson vào Guadalcanal là chìa khóa để chiến thắng, sự đối lập của các chỉ huy, kế hoạch tác chiến từ đó đánh gia

thẳng thắn sai lầm của 2 bên Tác giả kết luận thắng lợi cuối cùng là phụ thuộc vào

khả năng chiến đấu của một số ít tàu

- The Pacific Campaign in World War II: From Pearl Harbor to Guadalcanal

của William Bruce Johnson được xuất bản năm 2006 cuốn sách gồm 15 phần trình bày tỉ mỉ từ bối cảnh của cuộc chiến tranh Thái Bình Dương, giải thích vì sao Nhật

Bản lại mạo hiểm và những thay đổi chiến lược liên tục từ trận Trân Châu cảng đến

trận Guadalcanal

- The Defeat of the German U-Boats: the battle of the atlantic của David Sysett trong cuốn sách này tác giả đã phân tích chi tiết những nỗ lực để ngăn chặn các cuộc tấn công tàu ngầm của Đức đối với tàu buôn của phe đồng minh Năm

1943 thì vấn đề ngăn chặn tàu U- Boat trở thành vấn đề chiến lược hàng đầu của Đồng minh để đánh bại lực lượng của Hitler Cuốn sách đã mô tả chi tiết U-Boat, đồng thời Syrett thảo luận về các loại vũ khí được phát triển bởi các nước Đồng minh Nhấn mạnh vai trò quan trọng của trận Đại Tây Dương đối với thắng lợi của

cuộc chiến tranh

Ở Việt Nam có nhiều công trình nghiên cứu có liên quan đến đề tài Có thế đề

cập đến một số công trình sau:

- Cu ộc chiến tranh Thái Bình Dương 1941 – 1945 của TS Lê Vinh Quốc và

Huỳnh Văn Tòng biên soạn cuốn sách gồm 2 phần, 8 chương trình bày sự kiện dưới

Trang 13

hình thức kí sự, rõ ràng Những cuộc Hải chiến trong cuộc chiến tranh Thái Bình Dương được tác giả trình bày khá chuyên sâu

- Chi ến lược và chiến thuật trong đệ nhất và đệ nhị thế chiến, quyển II của

Hoàng Ngọc Thành xuất bản năm 1973 Nội dung của cuốn sách đã được tác giả tham khảo nhiều tư liệu lịch sử quý bằng những ngôn ngữ: Anh, Pháp, Đức Cuốn sách gồm 2 phần: Phần III, Phần IV (tiếp sau phần II của quyển I) Trong đó, phần III tác giả đã đề cập đến các chủ thuyết quân sự và sự võ trang của các cường quốc

cuối thập niên 1930 – 40 trong đó có sức mạnh hải quân của các nước Phần IV: trình bày chiến lược và chiến thuật qua các trận đánh lớn của hải lục không quân Trong phạm vi đề tài của mình, người viết sẽ khai thác những tư liệu về mối quan

hệ giữa các cường quốc, sức mạnh hải quân cũng như chiến lược và chiến thuật hải chiến mà cuốn sách có đề cập đến

- Nhiều tác giả, Nhật Bản trong chiến tranh Thái Bình Dương (2004), ng.d Lê

Kim NXB Công an nhân dân Cuốn sách được biên soạn chủ yếu từ các nguồn sử

liệu chính của Nhật Bản, cùng với những hồi kí của nhiều nhân chứng lịch sử của các nước có liên quan Bao gồm 15 phần, nêu lên sự hình thành tư tưởng bành trướng, ý đồ chính trị của giới quân phiệt Nhật Bản trong việc bá chủ châu Á – Thái Bình Dương, quá trình chuẩn bị và những hành động của Nhật Bản để bắt đầu cuộc chiến Cuốn sách trình bày khá đầy đủ về diễn biến của cuộc chiến song sự trình bày chỉ mang tính lược dịch, lược thuật chưa đi sâu vào phân tích chi tiết trận chiến

Với tư liệu mà cuốn sách có được, tác giả đã sử dụng vào phần những yếu tố ảnh hưởng đến cuộc chiến thông qua nhận xét của Philippe Masson

Trang 14

4 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu là những trận hải chiến trong chiến tranh thế giới thứ II

diễn ra ở Đại Tây Dương, Địa Trung Hải, Thái Bình Dương dưới góc nhìn địa chính

Từ năm 1939 đến 1945, tương đương với thời gian diễn ra cuộc chiến tranh

thế giới thứ hai Tuy nhiên, giai đoạn trước đó cũng sẽ được đề cập tới trong những

để làm rõ hơn nội dung nghiên cứu

5 Phương pháp nghiên cứu

Cơ sở phương pháp luận là chủ nghĩa Mác –Lê nin và Tư tưởng Hồ Chí Minh

Phương pháp nghiên cứu chủ yếu là phương pháp lịch sử, phương pháp logic, phương pháp định lượng và phương pháp liên ngành giữa quan hệ quốc tế và địa lý

học

6 Ngu ồn tư liệu

- Các tài liệu sách viết về đề tài và có liên quan đến đề tài

- Các bài báo, tạp chí có liên quan đến đề tài

- Các website lớn ở nước ngoài viết về đề tài

- Phim, bô sưu tập tranh ảnh có liên quan đến đề tài

7 Đóng góp của luận văn

Đây là lĩnh vực chưa có sự quan tâm nghiên cứu của các nhà nghiên cứu trong nước nên đề tài được tiến hành nghiên cứu nhằm có thể thu thập và hệ thống hóa nguồn tài liệu tạo thành tập tin, nguồn tài liệu đáng tin cậy về là tài liệu có ích đối

với những người quan tâm đến đề tài

8 B ố cục của luận văn và các vấn đề cần giải quyết

Ngoài phần mở đầu, phần kết luận, tài liệu tham khảo, phần phụ lục luận văn

có ba chương nội dung chính:

Trang 15

Chương 1: Lý luận về địa chính trị và vấn đề địa chính trị trong chiến tranh thế

Trang 16

Chương 1 LÝ LUẬN VỀ ĐỊA - CHÍNH TRỊ VÀ VẤN ĐỀ ĐỊA - CHÍNH TRỊ TRONG CHIẾN TRANH THẾ GIỚI THỨ II

Trong hầu hết lịch sử quốc tế, kiểm soát lãnh thổ là tiêu điểm dẫn đến những xung đột chính trị Sự tự mãn dân tộc khi đã chiếm hữu được một lãnh thổ rộng hơn, hoặc cái cảm tưởng của cả dân tộc bị tước đoạt mất mảnh đất “thiêng” là nguyên nhân của hầu hết các cuộc chiến tranh đẫm máu xảy ra từ khi xuất hiện chủ nghĩa dân tộc Đòi hỏi cấp bách về lãnh thổ là là động lực chính đựa tới thái độ hiếu chiến của các quốc gia dân tộc Các đế chế cũng đã được xây dựng thông qua sự chiếm đoạt và giữ vững các vị trí điạ lý thiết yếu như Gibraltar hay kênh đào Suez

hoặc Singapore là những điểm nghẽn then chốt trong hệ thống kiểm soát mang tính

đế quốc

Mối quan hệ giữa chủ nghĩa dân tộc với sở hữu lãnh thổ được Đức Quốc xã và

đế quốc Nhật thể hiện rất rõ Nỗ lực xây dựng “đế chế Đức ngàn năm” đã vượt ra ngoài mục tiêu đoàn kết tất cả các dân tộc nói tiếng Đức dưới một mái nhà chính trị

và cũng tập trung vào tham vọng khống chế những “vựa lúa” Urcaina và các nước Slavo khác để có lao động nô lệ rẻ mạt cho lãnh địa của đế quốc Người Nhật cũng

bị ám ảnh bởi khái niệm cho rằng trực tiếp sỡ hữu lãnh thổ Mãn Châu và sau đó là các cùng Đông Ấn thuộc Hà Lan sản xuất nhiều dầu hỏa là thiết yếu để hoàn thành

sứ mệnh tìm kiếm sức mạnh quốc gia và vị thế toàn cầu [2, tr43] Vị trí địa lý đôi khi mang lại cho họ vai trò đặc biệt, như nó là cửa ngõ vào các khu vực quan trọng, như là một lá chắn phòng thủ cho một quốc gia trọng yếu, hoặc thậm chí cho cả một khu vực Sự tồn tại của yếu tố điểm then chốt địa chính trị có thể mang lại những

hậu quả chính trị và văn hóa rất có ý nghĩa đối với địa chính trị láng giềng

1.1 Khái quát về khoa học địa - chính trị

Nghiên cứu mối quan hệ giữa chính trị với môi trường địa lí đã được nhiều người thực hiện từ thời Trung cổ Địa chính trị đã phát triển từ thời kì cổ đại đến giữa thế kỉ XIX Trong đó, nhà địa chính trị người Đức Friedrich Ratzel là một trong những người đi tiên phong đánh dấu thời kì của địa chính trị hiện đại Nhắc đến địa chính trị thời kì trước đó, mỗi chúng ta không thể không kể đến các tên tuổi

Trang 17

nổi tiếng như Aristote, Jean Bodin, Montesquieu và Thucydide Thời kì phát triển mạnh mẽ của địa chính trị là giai đoạn nửa sau thế kỉ XIX và nửa đầu thế kỉ XX Môi trường tri thức thuận lợi đã tạo điều kiện cho ngành địa chính trị phát triển Giai đoạn này ghi đậm dấu ấn bằng sự chiến thắng của chủ nghĩa khoa học và việc con người công nhận thuyết tiến hóa của Darwin được áp dụng trong các lĩnh vực

xã hội Mặc dù, tư tưởng của địa chính trị được sử dụng từ rất sớm, nhưng với cấu tạo từ ghép vì vậy quan niệm địa chính trị từ khi mới ra đời cho đến tận ngày nay vẫn chưa được thống nhất

1.1.1 Khái niệm địa - chính trị

Có thể nói rằng, tư tưởng địa chính trị có từ lâu đời, khi những quốc gia, dân

tộc trên thể giới hình thành Nhưng khái niệm địa chính trị thì tới ngày nay vẫn chưa có một khái niệm thống nhất Tùy vào quan điểm, nhận thức của mỗi nhà khoa

học mà có những định nghĩa khác nhau, cũng như tùy vào từng giai đoạn lịch sử mà thuật ngữ địa chính trị được hình thành

Theo từ điển bách khoa Le Petit Larousse illustre của Pháp (năm 2000) đã

định nghĩa “Địa chính trị nghiên cứu các mối quan hệ giữa các dữ liệu đía lý với

nền chính trị của các quốc gia” [dẫn theo 4, tr.17]

Từ điển bách khoa Britannica (2004 CD –ROM) định nghĩa địa chính trị là

sự phân tích những ảnh hưởng của địa lý đến các mối quan hệ quyền lực trong chính trị quốc tế Trong việc hoạch định các chính sách quốc gia, các nhà lý thuyết địa chính trị đã tìm cách chứng minh tầm quan trọng của những điều đáng chú ý như việc xác lập các đường biên giới quốc gia, quyền tiếp cận các đường biển quan trọng và quyền kiểm soát những khu vực đất liền có tầm quan trọng chiến lược”

[dẫn lại theo 4, Tr.17]

Đây là hai định nghĩa kinh điển của giới khoa học Bên cạnh đó, trong lịch sử thuật ngữ địa chính trị được hình thành như sau:

Năm 1900, Rudolf Kjellen (1864 – 1922) là người đầu tiên đưa ra thuật ngữ

địa chính trị” với định nghĩa như sau: “Địa chính trị là lý thuyết về quốc gia với tư cách là m ột cơ thể địa lý hoặc một hiện tượng trong không gian, tức là đất đai, lãnh

th ổ, khu vực hoặc đặc biệt nhất là một đất nước, hay nghiên cứu các chiến lược của

Trang 18

các cơ thể chính trị trong không gian” [Dẫn lại theo 4, tr.18] Như vậy, theo định

nghĩa này, Kjellen chú trọng đến 2 yếu tố chủ chốt của địa chính trị là quyền lực và không gian

Tướng Đức Karl Haushỏe (1869 – 1946) thì bổ sung thêm các tiến trình chính

trị cho định nghĩa về địa chính trị: “Địa chính trị là một ngành khoa học quốc gia

m ới nghiên cứu về nhà nước,… một học thuyết về quyết định luận không gian của các ti ến trình chính trị, dựa trên cơ sở rộng rãi của địa lý học, đặc biệt là địa lý học chính tr ị” [dẫn theo 4, tr 18]

Thời hiện đại, nhiều nhà khoa học đã đưa ra nhiều quan niệm khác nhau về địa chính trị

Saul Bernard Cohen một tác giả người Anh, vào năm 1964 đã đưa ra định

nghĩa địa chính trị như sau: Địa chính trị là khoa học nghiên cứu về “mối quan hệ

gi ữa quyền lực chính trị quốc tế với khung cảnh địa lý” [dẫn theo 4 , tr.18]

Năm 1988, Oyvind Osterud đã định nghĩa địa chính trị là: “Nói một cách tóm

t ắt, theo truyền thống thì địa chính trị được dùng để chỉ các mối liên hệ và quan hệ nhân qu ả giữa quyền lực chính trị với không gian địa lý; nói một cách cụ thể, nó thường được coi là một khối tư duy có nhiệm vụ thử nghiệm những yêu cầu chiến lược đặc thù dựa trên tầm quan trọng tương đối của sức mạnh trên đất liền và sức

m ạnh trên biển trong lịch sử thế giới…Truyền thống địa chính trị có một số quan

ng ại thường xuyên, ví dụ như những nhân tố tương quan sức mạnh trong nền chính

tr ị thế giới, như việc xác định các khu vực chủ chốt của quốc tế, và các mối quan hệ

gi ữa khả năng hải quân và khả năng trên bộ” [dẫn theo, 4, tr.18]

Năm 1993, trong cuốn sách Political Geography [Địa lý học chính trị”, Longman, xuất bản lần 3], tác giả Peter J.Taylor viết rằng sự phục hồi của địa chính

Trang 19

của nhà địa lý học”

3 Hình thức thứ ba (…) liên quan đến phong trào vận động hành lang mang tính tân bảo thủ, có thiên hướng quân sự, cũng cấp các luận cứ địa chính trị cho lối nói khoa trương của phòng trào nào về chiến tranh lạnh Những công trình nghiên

cứu như thế đang nói đến những thúc bách về địa chính trị và chúng coi địa lý học

là nhân tố thường trực mà mọi tư tưởng chiến lược cần phải xoay quanh [4, tr 20] Tác giả Marisol Touraine (Pháp) trong cuốn Le bouleversement du monde – Géopolitique du XXI siecle (“Sự đảo lộn thế giới: Địa chính trị thể kỉ XXI”) đã ghi ngoài bìa hai chữ: “Sience politique” (“khoa học chính trị”) cho thấy tác giả coi lĩnh

vực địa chính trị là thuộc ngành chính trị học

Năm 1999, trong công trình Introdution à l’analyse geopolitique [“nhập môn phân tích địa chính trị”] nhà nghiên cứu người Pháp Aymeric Chauprade đã phát triển một phương pháp luận địa chính trị chặt chẽ Ông định nghĩa địa chính trị như sau:

“Khoa h ọc địa chính trị là việc nghiên cứu nội hàm của các thực tế địa chính

tr ị và sự vận động của chúng, thông qua việc nghiên cứu diện mạo, hình thức và

nh ững vị trí địa chính trị” Ông xác định rõ thêm: “ Nói quốc là là trung tâm và con bài c ủa các tham vọng địa chính trị không có nghĩa quốc gia là các tác nhân

th ế giới duy nhất; khác với lĩnh vực quan hệ quốc tế,…()Khoa học địa chính trị

ch ấp nhận cả các tác nhân khác và các thực tế địa chính trị khác nữa” [dẫn lại theo,

4, Tr.21]

Như vậy, khác với các nhà địa chính trị cổ điển, Chauprade phân biệt rõ ràng

giữa địa chính trị với quan hệ quốc tế

Năm 2003, trong cuốn sách Geopolitics of the World System [“Địa chính trị

của hệ thống thế giới”, Rowman and Littlefield ], Saul Bernard Conhen lại định nghĩa rõ thêm về địa chính trị: “Địa chính trị là việc phân tích mối tương quan giữa

một bên là môi trường và bối cảnh địa lý với một bên là các tiến trình chính trị.(…)

Cả môi trường địa lý lẫn tiến trình chính trị đều mang tính năng động và có ảnh

hưởng lẫn nhau Địa chính trị sẽ quan tâm đến mối tương quan này.” [dẫn lại theo,

4, tr.21] Tác giả nhìn nhận địa chính trị dưới góc độ mối tương quan năng động

Trang 20

giữa quyền lực và không gian

Dưới góc độ tài nguyên Giáo sư người Mỹ Michael T.Klare một chuyên gia về các vấn đề an ninh thế giới đã quan niệm địa chính trị là “sự tranh giành giữa các đại cường quốc và giữa những đại cường quốc có tham vọng đối với việc kiếm soát lãnh thổ, kiểm soát các nguồn tài nguyên và những vị trí địa lý quan trọng như hải

cảng, kênh đào, hệ thống sông ngòi, ốc đảo, cũng các nguồn của cải và nguồn ảnh hưởng khác”; (…)ông cho rằng sự tranh giành này chính là động lực của nền chính

trị thế giới và đặc biệt là của xung đột thế giới trong nhiều thế kỷ qua (…) [dẫn lại

phải chỉ là giữa các quốc gia, mà còn giữa các phong trào chính trị hoặc các nhóm

vũ trang ít nhiều bất hợp pháp – đó là sự tranh giành quyền kiểm soát hoặc thống trị đối với các vùng lãnh thổ có quy mô lớn hoặc nhỏ” [dẫn lại theo, 4, tr.23] ….trong định nghĩa này Lacoste nhấn mạnh tầm quan trọng của quy mô của cả quyền lưc lẫn

của không gian

Tác giả Conlin Flint, trong cuốn Nhập môn địa chính trị năm 2006 nhấn mạnh đến khía cạnh thực tiễn của lĩnh vực khoa học này: giành giật quyền lực: “Địa chính

trị, với tư cách là cuộc đấu tranh nhằm kiểm soát không gian và địa điểm, tập trung chú ý vào quyền lực (…) Trong những quá trình thực hành địa chính trị ở thế kỷ

XX, quyền lực được nhìn đơn giản như là quyền lực tương đối của các quốc gia trong các hoạt động đối ngoại Đến thế kỉ 20, (…) các định nghĩa về quyền lực đều

tập trung vào khả năng tiến hành chiến tranh của một nước chống lại nước khác” [dẫn lại theo 4, tr.23]

Tác giả Nguyễn Văn Dân trong cuốn Địa - chính trị trong chiến lược và chính sách phát triển quốc gia đã tổng kết lại như sau: Có hai loại quan niệm về địa chính

trị: Quan niệm thứ nhất cho rằng, địa chính trị là một phân nhánh của môn địa lý

Trang 21

học chính trị, trong khuôn khổ của môn địa lý học nhân văn thuộc khoa địa lý học; Quan niệm thứ hai cho rằng địa chính trị là một bộ môn thuộc ngành chính trị học, nghiên cứu lĩnh vực quan hệ quốc tế, liên quan đến vấn đề tương quan quyền lực

giữa các quốc gia trong một cái chung bao quát hơn là nền chính trị thế giới Nhưng, dù quan niệm thế nào thì địa chính trị cũng là một lĩnh vực khoa học lý thuyết và thực hành liên quan đến cả địa lý lẫn quyền lực chính trị Tùy từng trường

hợp, khi nghiên cứu lý thuyết thì bộ môn này thiên về yếu tố địa lý, còn khi thực hành thì nó tập trung nhấn mạnh vào yếu tố chính trị

Như vậy, địa – chính trị là một danh từ ghép nên việc định nghĩa nó cũng có nhiều quan điểm khác nhau Cùng với sự phát triển của lịch sử loài người, thì khái

niệm địa – chính trị cũng được định nghĩa theo nhiều cách khác nhau Nhưng chung quy lại khái niệm xung quanh mối quan hệ giữa yếu tố địa lý – chính trị

1.1.2 Địa - chiến lược

Địa chiến lược là khái niệm được dùng để chỉ việc nghiên cứu giá trị chiến lược của các nhân tố địa lý trong chính sách đối ngoại của một quốc gia và trong

mối quan hệ của nó với các quốc gia khác Như vậy địa chiến lược là một bộ phận

thực hành quan trọng của địa chính trị, là một bộ môn của địa chính trị Địa chiến lược được áp dụng để cụ thể hóa chính sách đối ngoại của một quốc gia Hầu hết các định nghĩa địa chiến lược đều nhấn mạnh đến việc liên kết những tính toán chiến lược với các nhân tố địa chính trị Trong khi địa chính trị có vẻ ngoài trung

lập khi nghiên cứu những đặc điểm địa lý và chính trị của các khu vực khác nhau, thì địa chiến lược đòi hỏi phải có kế hoạch và đề ra các biện pháp toàn diện để thực

hiện các mục tiêu quốc gia hoặc bảo vệ những tài sản có ý nghĩa quân sự hoặc chính

trị

Thuật ngữ “địa chiến lược” là thuật ngữ mới xuất hiện ở nửa đầu thế kỉ 20 do Frederick L.Schuman sử dụng lần đầu tiên với tên gọi “geo-strategy” vào năm

1942 để dịch thuật một từ tiếng Đức của Haushofer là “Wehrgeopolitik” có nghĩa là

“địa chính trị phòng vệ” hay “địa chính trị quốc phòng” Chính vì thê mà trước đó cũng có người dịch sang tiếng Anh là “defense –geopolitics”, thậm chí còn được nhà chính trị người Mỹ gốc Áo Robert Strausz – Hupé (1903 -2002) dịch là “war -

Trang 22

geopolitics” (địa chính trị chiến tranh) Như vậy, địa chiến lược gắn chặt với chính sách quốc phòng của một quốc gia Tuy nhiên, đối với các nước đế quốc, nhiệm vụ

quốc phòng không chỉ giới hạn ở việc bảo vệ tổ quốc, mà chủ yếu là việc mở rộng

và chinh phục lãnh thổ Vì thế, địa chiến lược luôn đặt trong tầm nhìn của địa chính

trị , thậm chí địa chính trị toàn cầu, và được cụ thể hóa bằng tầm nhìn chiến tranh

Thậm chí có nhiều lúc, nhiều nhà địa chính trị chỉ khai thác bộ môn này để phục vụ cho các nhiệm vụ địa chiến lược quân sự, làm cho trong một số trường hợp cụ thể, địa chính trị bị đồng nhất với địa chiến lược [4, Tr.32]

Tư tưởng địa chiến lược đã xuất hiện thời xa xưa Từ Đông sang Tây, mỗi khi

tiến hành các chiến dịch quân sự, các tướng lĩnh đều phải tính toán đến các yéu tố địa lý và chính trị - quân sự để đề ra các chiến lược hành động Các nhà chiến lược như Tôn Tử (thế kỉ 6 -5 trước Công nguyên, Tôn Tấn (thế kỉ 4 trước Công nguyên)

của Trung Quốc, Trần Quốc Tuấn (thế kỉ 13) của Việt Nam đều có thể gọi là những nhà địa chiến lược đại tài khi họ biết kết hợp chính trị với thiên thời và địa lợi để

thực hiện các mục tiêu quân sự, không kém gì các tướng tài của các đế quốc Hy

Lạp, La Mã…

Trong Binh pháp Tôn T ử, Tôn Tử (Tôn Vũ) đã đúc kết kinh nghiệm và rút ra

các bài học về dùng binh Ông đã đưa ra 5 nhân tố quan trọng quyết định sự thành

bại của chiến tranh: Đạo, Thiên, Địa, Tướng, Pháp, trong đó 3 nhân tố đầu đều có

thể được coi là thuộc phạm vi của địa chính trị Ông nói rõ: “Đạo là chỉ việc chính

trị, đạo nghĩa” ;Thiên là thiên thời”, tức tình trạng khí hậu thời tiết, Địa là địa lợi, nói về đường sá, địa thế, địa hình Trong thiên thứ mời (“Địa hình”), ông phân tích

“Sáu loại địa hình” cần chú ý khi dụng binh và Thiên mười một (“Cửu địa”) ông dành để phân tích “chín thế đất” mà các tướng lĩnh cần quan tâm khi giao chiến Có

thể nói Binh pháp Tôn Tử là một cuốn “cẩm nang tác chiến” và là một trong những công trình lý luận địa chién lược đầu tiên của tư duy địa chính trị [4, tr.33]

Cuốn sách Binh gia diệu lý yếu lược, còn được gọi là Binh thư yếu lược của

Trần Quốc Tuấn cũng là một cuốn sách có giá trị như một công trình bàn về địa chiến lược quân sự Các bài viết về địa hình đã được Trần Quốc Tuấn cũng là một

cuốn sách có giá trị như là một công trình bàn về địa chiến lược quân sự Các bài

Trang 23

viết về Địa hình đã được Trần Quốc Tuấn vận dụng rất sáng tạo để tiêu diệt quân xâm lược nhà Nguyên trên cửa sông Bạch Đằng Có thể thấy, địa chiến lược là một lĩnh vực đã có kinh nghiệm thực tiễn từ lâu và các bài viết về cách dùng binh có thể được coi là những bài thực nghiệm của địa chiến lược, đồng thời còn có thể được coi là những bài học sơ khai của địa chính trị [4,tr.33]

Như vậy, do tính chất gần gũi giữa địa chính trị và địa chiến lược cho nên khi bàn về địa chính trị, nếu chúng ta có phân tích các vấn đề thuộc địa chiến lược thì cũng hoàn toàn hợp lý và cần thiết, bởi lẽ khó có thể tách rời ba lĩnh vực này mà không làm hỏng bức tranh về quan hệ hệ quốc tế Ví dụ, khi bàn về Mackinder, người ta vừa coi ông là một nhà địa lý học, vừa là nhà địa chính trị và cũng vừa là nhà địa chiến lược Chẳng hạn như trong cuốn Global Geostrategy: Mackinder and defence of the West: “Địa chính trị toàn cầu: Mackinder và phòng thủ phương Tây”

của Brian W.Blouet (Nxb.Routledge,2005), tác giả đã dành cả tập 1 để giới thiệu các lý thuyết chính trị và tập trung vào Mackinder Vì thế, để cho giản tiện chúng ta

có thể gộp tất cả vấn đề của cả ba lĩnh vực nói trên dưới một cái mũ chung là “địa chính trị” [4, tr.33-34]

Tác giả nhìn nhận địa chiến lược với ý nghĩa là một bộ môn, bộ phận thực hành của địa chính trị vì vậy trong công trình của mình tác giả có tìm hiểu sâu về

yếu tố địa lý ảnh hưởng đến những chiến lược, chiến thuật của các vì tướng cầm quân cũng như phân tích những nguyên nhân thắng lợi và thất bại của trận hải chiến trong cuộc chiến tranh thế giới thứ hai

1.2 Các học thuyết địa - chính trị ảnh hưởng đến chiến lược của các nước trong chiến tranh thế giới thứ 2

1.2.1 Tư tưởng địa – chính trị ở Hoa Kỳ

Hoa Kỳ là một quốc gia nằm giữa hai đại dương là Đại Tây Dương và Thái Bình Dương Đất nước được bao quanh bởi biển cả và đại dương, Hoa Kỳ vừa có lợi thế để phát triển kinh tế biển vừa có được đường hào thiên nhiên bảo vệ để chống lại mọi sự xâm nhập của các đế quốc truyền thông ở châu Âu, đảm bảo gần như tuyệt đối cho an ninh quốc gia Vì thế trong lịch sử non trẻ của mình, ngoại trừ cuộc chiến tranh chống lại “mẫu quốc” là Đế quốc Anh để giành độc lập dân tộc từ

Trang 24

năm 1775 đến 1781, Hoa Kỳ chưa một lần nào phải đương đầu với một cuộc xâm lược từ bên ngoài Sự giàu có về tài nguyên cộng với vị trí địa chiến lược thuận lợi

đã giúp Hoa Kỳ nhanh chóng phát huy lợi thế địa - chính trị của mình để trở thành một đế quốc hiện đại, thay thế cho đế quốc Anh già cỗi Trong quá trình phát triển

đó, Hoa Kỳ đã kết hợp các lý thuyết địa - chính trị với địa - kinh tế, địa - quân sự để thực hiện công cuộc bành trướng lãnh thổ cũng như bành trướng sự ảnh hưởng của mình ra toàn thế giới

Như vậy, là một quốc gia biển, Hoa Kỳ rất quan tâm đến các lý thuyết địa - chính trị coi trọng sức mạnh biển Trong tinh thần đó, lý thuyết địa chiến lược của Alfred Mahan về sức mạnh biển đã nhanh chóng được áp dụng để Hoa Kỳ xây dựng một lực lượng hải quân thuộc loại hùng mạnh nhất thế giới

1.2.1.1 Lý thuyết sức mạnh biển của Alfred Thayer Mahan

Đô đốc Mahan là người sáng lập ra ngành địa chính trị của Mỹ Ông trở thành

cố vấn cho nhiều nhà lãnh đạo Mỹ, trong đó có tổng thống Théodore Roosevelt Mahan đã suy nghĩ và đặt câu hỏi: “Làm thế nào để nước Mỹ có thể trở thành cường quốc trên thế giới?” Ông đưa ra lời giải đáp bằng cách nhận định nước Mỹ

sẽ thống trị thế giới bằng chiến lược làm chủ các đại dương Ông nhận xét nước Mỹ

đã trở thành cường quốc công nghiệp và là cường quốc lục địa, nhưng sức mạnh của một quốc gia không phụ thuộc vào điều đó mà phục thuộc vào việc làm chủ các đại dương

Ông đưa ra lí thuyết sức mạnh đến từ biển Khi mọi sự giao thương buôn bán

với bên ngoài đều được tiến hành thông qua các hải cảng của đất nước và mỗi quốc gia đều muốn việc buôn bán của mình được tiến hành bằng chính những con tàu của đất nước mình Việc buôn bán bằng tàu biển đó lại đòi hỏi các hải cảng và hành trình buôn bán cần được đất nước bảo vệ Trong thời chiến tranh, trách nhiệm bảo

vệ này cần được mở rộng cho lực lượng tàu chiến Như vậy, theo Mahan, yêu cầu

phải có một lực lượng hải quân xuất phát từ sự tồn tại của việc vận tải bằng một đội tàu biển thương mại hòa bình Lực lượng này sẽ được giải thể khi việc buôn bán

bằng đường biển không còn nữa, trừ trường hợp một quốc gia có xu hướng đi xâm lược Để đảm bảo cho việc vận tải bằng tàu biển, các quốc gia đều có xu hướng tìm

Trang 25

kiếm và xây dựng cho mình những đồn bốt tiền tiêu dọc đường đi Và thế là quá trình thực dân hóa và thành lập các thuộc địa đã diễn ra để đảm bảo cho các đế quốc

có được một nền giao thương trên biển vững mạnh [4, tr 47]

Ông phát triển lí thuyết về tranh chấp giữa quốc gia có sức mạnh trên đất liền với các quốc gia có sức mạnh trên biển Quốc gia có sức mạnh trên biển sẽ chiến thắng trong cuộc đua này Để đảm bảo sự thống trị của mình, cường quốc về biển cần phải kiểm soát toàn bộ các tuyến đường giao thương trên biển Ở thế kỉ 19, sự

kiểm soát buôn bán bằng đường biển là một vấn đề chủ chốt, đặc biệt là một quốc gia hoàn toàn bị ám ảnh bởi sự bành trướng sang miền đất phía tây của lục địa châu

vững mạnh sẽ được thiết lập; Trong thời chiến, sự ảnh hưởng của chính quyền được

cảm nhận một cách hợp pháp, nhất là trong việc duy trì một đội tàu hải quân vũ trang, với quy mô tương xứng với sự tăng trưởng của ngành vận tải bằng tàu biển

với tầm quan trọng của quyền lợi liên quan đến nó Quan trọng hơn quy mô của hải quân chính là vấn đề về các thế chế của nó, có khả năng tạo thuận lợi cho tinh thần

và một hoạt động mạnh mẽ và tạo một sự phát triển nhanh trong thời chiến nhờ vào

một lực lượng dự bị thích hợp về người và tàu biển và nhờ các biện pháp khai thác

sức mạnh dự bị đó

Tướng Mahan rất quan tâm đến sức mạnh biển và đến sự làm chủ trên biển

của một quốc gia Theo ông, một quốc gia có sức mạnh biển thì sẽ trở thành một cường quốc hùng mạnh biển của một quốc gia chủ yếu được quy giản thành sức

mạnh hải quân, tức là vào khía cạnh quân sự của quyền làm chủ trên biển

Ông cho rằng trong chiến tranh, việc kiểm soát được việc buôn bán bằng đường biển có tính chất quyết định giúp cho một bên tham chiến giành quyền chế

ngự Nếu một bên tham chiến có khả năng chặn được đường biển của đối phương thì nền kinh thế của đối phương sẽ không tránh khỏi sụp đổ Nhưng muốn làm chủ

Trang 26

được trên biển thì theo ông, không thể dựa vào đội tàu thương mại mà phải dựa vào đội tàu chiến mới có thể thực hiện được sứ mệnh này

Mục tiêu của Mahan là hạm đội tàu chiến phải có khả năng tiêu diệt được lực lượng chủ yếu của kẻ thù chỉ bằng một trận đánh quyết định duy nhất Sau đó, việc

củng cố cuộc phong tỏa chống lại các tàu buôn của kẻ thù và săn tìm các con tàu

nhẹ còn lại của chúng sẽ là một việc có thể thực hiện được Bởi vì, với đội tàu nặng

bị đánh đắm, kẻ thù khó có thể tái thiết được

Hơn nữa, mục tiêu của kẻ yếu là trì hoãn một trận đánh quyết định như vậy;

nếu hạm đội của họ vẫn có đủ sức tạo thành một mối đe dọa thì kẻ thù sẽ không dám liều mạng đưa lực lượng đến gần những con đường buôn bán trên biển Đó chính là chiến lược kìm giữ hải quân ở trong cảng, được gọi là “hạm đội binh”, dùng để đe dọa chứ không phải để hành động

Cuộc chiến tranh thế giới thứ hai diễn ra trên mặt trận Đại Tây Dương, Địa Trung Hải là những cuộc chiến chống phá tàu ngầm, bảo vệ những đội thương thuyền đảm bảo cho việc vận tải đường biển để tiếp viện cho chiến trường châu Âu, châu Phi cũng như Anh quốc Sự thắng lợi của phe Đồng minh đã cho thấy rằng

thắng lợi sẽ thuộc về bên nào có lực lượng hải quân bảo vệ đội thương thuyền mạnh

nhất Có thể nhận thấy rằng, lực lượng hải quân đảm bảo cho đội thương thuyền đó

phụ thuộc vào sức mạnh vất chất của các cường quốc, cũng như chính sách quốc phòng của các nước đó

Mahan công nhận rằng, thành phần quan trọng nhất của cơ sở hạ tầng là hệ

thống đồn trú của lực lượng quân sự; nếu có điều kiện, cần phải phát triển hệ thống này trên tất cả các khu vực quan trọng nhất của đại dương thế giới Quan điểm này - sách báo Liên Xô gọi là phản động và giả khoa học - bị các lí thuyết gia hải quân phê phán kịch liệt Trong khi đó, kinh nghiệm của Thế chiến II là bằng chứng đầy thuyết phục cho luận điểm của Mahan Hoạt động tuần dương của những con tàu

nổi cỡ lớn của hải quân Đức ở Đại Tây Dương không thu được nhiều thắng lợi, trước hết bởi họ không có các cơ sở đồn trú ở những khu vực xa xôi Hiệu quả hoạt động của những con tàu ngầm Đức ở Đại Tây Dương được giải thích là do họ có căn cứ hoạt động nhịp nhàng Hoạt động quân sự Thái Bình Dương chủ yếu nhằm

Trang 27

chiếm các hòn đảo, nghĩa là tìm cách mở rộng hệ thống đồn trú của các hạm đội Trong giai đoạn tấn công chiến lược, hoạt động của các lực lượng không quân đóng trên mặt đất mà thôi Sau khi chiếm hết vị trí này đến vị trí khác, họ đã di chuyển vào những nước gọi là các nước ở biển Đông Người Mỹ cũng theo chiến lược như

thế, đó là chiến lược mà họ gọi là “những bước nhảy của ếch” Sau khi lần lượt chiếm các đảo và quần đảo, quân Mỹ tiến gần tới Nhật Bản Lực lượng quân sự của

cả Nhật lẫn Mỹ đều tuân thủ quan điểm của Mahan [13, tr.15-16]

Sức mạnh trên biển, theo quan điểm của Mahan, là một hệ thống phức tạp, bao

gồm những thành phần như hạm đội tàu chiến và đội thương thuyền, cảng và căn cứ

hải quân Ông sử dụng công thức sau: SP=N + MM + NB, nghĩa là sức mạnh trên

biển (Se Power) là Hải quân (Navy) + đội thương thuyền (Merchant Marine) + căn

cứ hải quân (Naval Bases) Mahan nhận xét rằng, nguyên nhân của nhiều cuộc chiến tranh là giành giật “nền thương mại trên biển đầy lợi lộc”, “Xung đột lợi ích, lòng hận thù bùng lên do các bên đều cố giành cho được phần lớn hơn, nếu không nói là tất cả những lời ích mà thương trường tạo ra, dẫn đến những cuộc chiến tranh” [13,tr.18]

Xem xét trong cuộc chiến tranh diễn ra trực tiếp trên con đường giao thương, Mahan viết: “Những cuộc chiến đó không thể diễn ra đơn độc, dùng thuật ngữ quân

sự thì phải nói cần được hỗ trợ; bản thân không có đủ sức mạnh, nó không thể vươn

xa ra căn cứ của chính mình Căn cứ phải là cảng trong nước hoặc tiền đồn vững

mạnh của quốc gia ở trên bờ hay giữa biển, tức là lãnh thổ thuộc địa ở xa hay một

hạm đội đầy sức mạnh” Vì vậy, Mahan cho rằng nhiệm vụ chính của hải quân trong chiến tranh là giành được quyền làm chủ trên biển Quyền làm chủ mặt biển được hiểu là đuổi toàn bộ hạm đội địch ra khỏi mặt biển “Không phải việc bắt một vài con tàu riêng lẻ hay đoàn tàu vận tải, dù là đông, có thể làm lung lay sức mạnh

quốc gia” - Mahan viết: “mà sự vượt trội hơn hẳn trên mặt biển, đủ sức đuổi hạm đội địch hay chỉ cho phép họ xuất hiện như những kẻ tháo chạy; sự vượt trội như

thế tạo điều kiện xác lập quyền kiểm soát mặt biển và chặn đứng những con đường

mà tàu buôn dùng để đến và đi khỏi những bến bờ của họ” Theo Mahan tranh giành quyền bá chủ trên biển là mục đích của chiến tranh: “Làm chủ mặt biển hay kiểm

Trang 28

soát và sử dụng nó mãi mãi vẫn là những tác nhân vĩ đại trong lịch sử thế giới [13, tr.18]

Về mặt tư tưởng, ban đầu hải quân Hoa Kì đã phản đối việc thay tàu buồm

bằng tàu hơi nước sau cuộc nội chiến Tuy nhiên, Mahan đã cho rằng chỉ có các tàu

chiến bọc thép mới có thể có vai trò quyết định trong một cuộc chiến tranh hiện đại

Theo học thuyết về trận đánh quyết định, một hạm đội không được để bị chia cắt;

công trình của Mahan đã khuyến khích sự cải thiện kỹ thuật bằng cách thuyết phục

những người phản đối rằng kiến thức và chiến lược hải quân vẫn là cần thiết, nhưng

sự thống trị biển đã dẫn đến yêu cầu phải đẩy nhanh sự phát triển của động cơ hơi

nước

Công trình của Mahan đã ảnh hưởng lớn đến các lực lượng vũ trang của họ đã được xây dựng từ trước cuộc chiến tranh thế giới thứ nhất; đến bộ phận hải quân

của cuộc chiến tranh Tây Ban Nha – Mỹ; đến các trận đánh Tsushima, Jutland và

Đại Tây Dương; đến các học thuyết của những lực lượng hải quân lớn trong thời kỳ

giữa hai thế chiến

Cuốn sách “Sự ảnh hưởng của sức mạnh biển đến lịch sử, giai đoạn 1660 – 1783”, còn được dịch sang tiếng Nhật và được sử dụng như sách giáo khoa trong

hải quân hoàng gia Nhật Bản Điều này ảnh hưởng mạnh đến sự chỉ đạo cuộc chiến

tranh Thái Bình Dường của hải quân Nhật Bản, bằng cách nhận mạnh đến học

thuyết “trận đánh quyết định”- cho dù làm tổn hại đến việc bảo vệ buôn bán

Tuy nhiên tiền đề cho rằng một lực lượng dự bị sẽ không phục hồi được sau khi bị đánh bại hoàn toàn đã bị bác bỏ, bởi sự phục hồi của hải quân Mỹ sau khi bị

Nhật Bản tấn công tại Trân Châu cảng thuộc Hawaii, mặc dù người ta có thể biện

hộ rằng không phải là một trận thất bại hoàn toàn, bởi lẽ các tàu sân bay của Mĩ đã

không bị tiêu diệt mà chỉ có tàu chiến bị oanh tạc Sự thất bại của hải quân Hoàng

gia Nhật Bản vào năm 1945 làm đổ vỡ học thuyết về vai trò của trận đánh quyết

định giữa các hạm đội Đó là do sự phát triển của tàu ngầm và tàu sân bay, một lý

do khác là hải quân Nhật thỉnh thoảng lại chia xẻ lực lượng chủ chốt của mình

Mahan trở thành nhà địa chính trị hàng đầu của Mỹ trong chiến lược xây dựng hải quân Đối với Hoa Kỳ biển và đại dương là một không gian rộng lớn cần phải

Trang 29

được kiểm soát Nhưng do diện tích quá lớn, các quốc gia không thể kiểm soát và làm chủ được toàn bộ mọi nơi Vì vậy, cần tập trung vào một số trục giao thông hàng hải, nơi có các con đường giao thương quan trọng, hay những nơi có các eo biển có tính chiến lược của mỗi nước, ví dụ như eo biển Gibraltar, kênh đào Suez, kênh đào Panama Ông cho rằng trong chiến tranh, việc kiểm soát được việc buôn bán bằng đường biển có tính chất quyết định giúp cho một bên tham chiến giành quyền chế ngự Nếu một bên tham chiến có khả năng chặn được đường biển của đối phương thì nền kinh thế của đối phương sẽ không tránh khỏi sụp đổ Nhưng muốn làm chủ được trên biển thì theo ông, không thể dựa vào đội tàu thương mại mà phải

dựa vào đội tàu chiến mới có thể thực hiện được sứ mệnh này [4, tr.47]

Mahan đưa ra giả thuyết coi nước Mỹ như một hòn đảo, để có được sức mạnh, nước Mỹ cần tập trung chú ý vào ba điểm quan trọng:

 Nước Mỹ cần có khả năng kiểm soát toàn bộ các biển và đại dương bằng cách liên kết với Anh

 Nước Mỹ cần luôn sẵn sàng đối mặt với sức mạnh đang lên của các cường quốc mới về hàng hải, đặc biệt là tham vọng của hoàng đế Guillaume II của Đức

 Người Mỹ cần có chiến lược phòng vệ bằng cách hợp tác với châu Âu để giảm bớt sức mạnh về hàng hải của các nước châu Á Liên minh giữa Mỹ và châu

Âu cần phải được thiết lập để làm chủ không gian rộng lớn của biển và đại dương

Sự hợp tác giữa cường quốc đường biển và cường quốc về lục địa là điều cần thiết Mahan là người đầu tiên suy nghĩ về mối liên hệ giữa lục địa và biển Mối liên

hệ trọng tâm này được con người đặc biệt quan tâm, mỗi khi bàn về địa chính trị Karl Haushofer là người tiếp tục phát triển lí thuyết này đến mức độ hoàn thiện hơn Sau chiến tranh thế giới thứ 2, lí thuyết về mối liên hệ giữa biển và lục địa, không mấy được chú ý vì những lí do khác nhau, nhưng đây vẫn là vấn đề quan trọng hàng đầu của địa chính trị Mahan nhận định cuộc đấu giữa cường quốc về biển và cường quốc lục địa là vấn đề mấu chốt để quyết định quốc gia nào sẽ giành vị trí thống trị thế giới, vì trong cuộc đấu này, có nhiều yếu tố rất khác biệt chi phối Một bên là không gian biển và đại dương rộng lớn, không có nước nào có thể thể kiểm soát hết

và cũng không có nước nào tuyên bố chủ quyền toàn bộ vì có những khu vực là của

Trang 30

chung Còn một bên là lục địa, nơi có những biên giới được phân chia và luôn là mục tiêu của các cuộc xâm lăng Quốc gia có sức mạnh chinh phục các vùng biển

và đại dương, có quyền kiểm soát ở nhiều khu vực nhờ sức mạnh của hải quân sẽ chiến thắng các cường quốc về lục địa Mahan khẳng định nước Mỹ là cường quốc

về biển, vì vị trí địa lí của Mỹ nhìn ra cả Đại Tây Dương và Thái Bình Dương Ví

dụ nếu có đối đầu giữa cường quốc về hàng hải và cường quốc về lục địa là Mỹ và Trung Quốc, Mỹ sẽ chiến thắng Mặc dù Mahan không có cái nhìn bao quát toàn bộ

về địa chính trị, vì suy nghĩ của ông chỉ dừng lại ở sức mạnh từ biển, nhưng lí thuyết của ông có nhiều ảnh hưởng đến chính sách đối ngoại của Mỹ

Dưới sức ép của các công ty hàng hải, đồng thời nhận thấy những lợi ích của nước Mỹ trong việc kiểm soát các tuyến hàng hải, các nhà lãnh đạo Mỹ đã từ bỏ học thuyết Monroe (không can thiệp vào các công việc nội bộ của châu Âu), để xây dựng một nền chính trị ngoại giao can thiệp vào các nước khác Nước Mỹ càng ngày càng tham gia vào các vấn đề quốc tế nhân danh tự do hàng hải Mahan cho rằng thiết lập các mối quan hệ giao thương với các nước là điều kiện sống còn cho nền kinh tế Mỹ Nhưng việc trao đổi buôn bán với các nước chỉ được đảm bảo và duy trì nhờ có sự bảo vệ của lực lượng hải quân hùng mạnh, hải quân cần có mặt khắp nơi trên các vùng biển và đại dương Sức mạnh hải quân áp đảo đồng nghĩa với sự thống trị của Mỹ trên biển và đại dương [32]

Cũng nói về vai trò của biển và đại dương đối với nước Mỹ tác giả Samuel Eliot Mirison trong phần kết của cuốn The Two Ocean war a short history of the

United states navy in the second world war năm 1963 đã viết: không có thời đại nguyên tử, đối với nước Mỹ tàu và máy bay trên tàu đảm bảo sự tự do của quốc gia, thông tin liên lạc với thế giới bên ngoài và chính sự tồn tại của đất nước [29, p 586]

Như vậy để thấy rằng đối với quốc gia (Mỹ) biển chiến vai trò chiến lược, yếu

tố địa chính trị quan trọng đối với an ninh của quốc gia Điều đó cũng dễ hiểu vì sao trong những năm giữa hai cuộc chiến chính phủ Mỹ quan tâm đến vấn đề hải quân, đặc biệt là những hiệp ước về giới hạn hải quân với các nước trong hội nghị Washington Người Mỹ cũng có một hạm đội Thái Bình Dương đóng ở Hawaii lớn

Trang 31

mạnh Chính diễn biến của cuộc thế chiến hai trên Đại Tây Dương, Thái Bình Dương đã thúc giục người Mỹ, nền kỹ nghệ quốc phòng Mỹ hoàn thành hạm đội hai đại dương

1.2.1.2 Nicholas Spykman (1893-1943)

Nicholas Spykman (1893-1943) là nhà địa - chính trị nổi tiếng người Mỹ

Quan điểm về địa chính trị của ông được giới thiệu trong cuốn sách Chiến lược của

Mỹ trong nền chính trị quốc tế: Nước Mỹ và cân bằng quyền lực (1942) Trong giai

đoạn này, địa chính trị được công chúng quan tâm và được tìm hiểu kỹ hơn vì nước

Mỹ đã tham gia chiến tranh thế giới thứ 2 Cuộc xung đột vũ trang trên quy mô rộng lớn cần được phân tích cẩn thận về không gian nơi diễn ra chiến tranh, về mối liên

hệ sức mạnh quân sự giữa các bên Tổng thống Roosevelt đã nói với dân chúng:

Tôi yêu cầu người Mỹ hãy mở bản đồ ra theo dõi, tôi sẽ giải thích một chút về địa

lí cho các bạn” [32]

Nicholas Spykman xem xét và phân tích lại các vấn đề địa chính trị được Mackinder đưa ra trước đây Ông nghĩ ra một khái niệm mới “vùng trung gian” (Rimland) Ông cho rằng địa chính trị của Mỹ cần phải lưu ý đến vùng trung gian, sau khi chiến tranh kết thúc Ông cũng dự đoán những kịch bản về quan hệ quốc tế, mối tương quan lực lượng giữa các quốc gia Ông nhấn mạnh tầm quan trọng của vùng đảo thế giới, nhưng nguyên tắc cơ bản giúp cho một quốc gia thống trị thế giới không phải là vấn đề kiểm soát được tâm thế giới mà là khu vực trung gian giữa tâm thế giới và các khu vực trung quanh trên đảo thế giới

Rimland là vùng nằm giữa tâm thế giới và các vùng biển gần bờ trải rộng từ Tây Âu, đến Thổ Nhĩ Kì, Iran, Pakistan, bán đảo Ả rập và Biển Đông ở châu Á Không gian rộng lớn này sẽ là nơi cạnh tranh giữa cường quốc về biển (Mỹ) và cường quốc lục địa (Liên bang Xô viết) Sau khi chiến tranh kết thúc, hai đồng minh chiến thắng sẽ trở thành kẻ thù của nhau Mỹ cần làm chủ vùng trung gian vì khu vực này trở thành thách thức lớn cho chính sách đối ngoại quốc tế Nếu thành công,

Mỹ sẽ có cơ hội tiếp cận với các vùng giàu có về tài nguyên thuộc đảo thế giới và

Mỹ sẽ chế ngự được Liên bang Xô viết Nếu các nước trong khu vực trung gian của thế giới cùng đi đến thống nhất và Liên bang Xô viết có ảnh hưởng sâu rộng ở đây,

Trang 32

đó sẽ là một thách thức lớn cho Mỹ Ông nhận định nước Mỹ cần thiết lập các liên minh chặt chẽ và thân thiện với các nước trong vùng trung gian giữa đảo thế giới và tâm thế giới Các sáng kiến về địa chính trị được Nicholas Spykman đưa ra năm

1942, cũng vào thời điểm đó, Mỹ tham gia chiến tranh chống lại Nhật, quan hệ của

hai bên rất căng thẳng [32]

Ra đời trong cuộc chiến tranh thế giới thứ nhất, tư tưởng của Nicholas Spykman đã ảnh hưởng lớn đến chiến lược của chính phủ Mỹ đối với châu Âu, Á trong cuộc chiến tranh

1.2.2 Tư tưởng địa – chính trị ở Anh Halford J Mackinder (1861-1947) là đô đốc người Anh Ông dạy địa chính trị tại đại học Oxford Ông là hiệu trưởng trường khoa học chính trị và quan hệ quốc

tế Ông được đánh giá là khuôn mặt tiêu biểu của ngành địa chính trị ở châu Âu Mackinder quan tâm đến sự phát triển của nước Anh cũng như tương lai của đế chế Anh Ngay cả khi nước Anh đang ở thời kì cực thịnh, ông cho rằng, thời kì suy thoái của nước Anh sẽ không còn xa Ông muốn báo động cho mọi người biết những mối đe dọa đến đế chế Anh Ông đặt ra câu hỏi: “Làm thế nào để bảo đảm sự sống còn cho đế chế Anh?” Suy nghĩ của ông cũng phù hợp với lo lắng của nhiều người Anh vào thời điểm đó, vì nước Anh cần có những kế hoạch cụ thể để đối mặt với sức mạnh quân sự cũng như những tham vọng của các cường quốc khác ở châu

Âu Các tác phẩm của ông có nhiều ảnh hưởng đến ngành địa chính trị ở châu Âu Ông đưa ra hai khái niệm: Tâm thế giới (Heart Land) và đảo thế giới (World Island)

Nội dung cơ bản trong lí thuyết địa chính trị của Mackinder phản ánh trung tâm địa lí của lịch sử Ông đưa ra nhận định trung tâm các hiện tượng địa chính trị xuất phát từ trung tâm địa lí của thế giới Ông xác định chính cái hạt nhân Bắc –Trung của lục địa châu Á – Âu là khu vực trung hay “quốc gia trục” của nền chính trị thế giới Nó chính là vùng đất trái tim, hay trục của “hòn đảo thế giới” Á – Âu

Nó được che chắn xung quanh là biển cả, có khả năng tự cung cấp Con đường duy nhất có khả năng tiếp cận với nó là khu vực Đông Âu, để từ đó có thể tới làm chủ thế giới Tất cả các phân tích của ông có thể được tổng kết như sau: “Ai kiểm soát

Trang 33

được Đông Âu, sẽ khống chế miền đất trái tim Ai khống chế được miền đất trái tim thì sẽ không chế được đảo thế giới,(…) sẽ kiểm soát được cả thế giới” [4, tr.69] Ông miêu tả trái đất như một diện tích tổng thể gồm có ba không gian chính:

 Đại dương trên thế giới chiếm 9/12 diện tích

 Đảo thế giới bao gồm các lục địa rộng lớn là châu Âu, châu Á và châu Phi,

có tổng diện tích 1/12

 Các đảo lớn ở ngoại vi bao gồm châu Mỹ và Australia chiếm 1/12

Để thống trị thế giới, cần phải thống trị đảo thế giới, điểm quan trọng nhất của

nó là tâm thế giới Đây là một vùng bản lề kéo dài từ các đồng bằng ở Trung Âu đến Tây Sibérie, khu vực trung tâm này sẽ tạo ảnh hưởng sâu rộng đến vùng Địa Trung Hải, Trung Đông và các khu vực rộng lớn ở Trung Quốc và Ấn Độ Cường quốc kiểm soát được tâm của đảo thế giới sẽ kiểm soát được đảo thế giới và sẽ làm chủ thế giới Tất cả các sự kiện địa chính trị diễn ra ở tâm đảo thế giới, sẽ có tác động đến toàn bộ thế giới Trung tâm các diễn biến chính trị trên thế giới nằm ở châu Âu

và châu Á Cường quốc về biển sẽ không có tác động đến các sự kiện chính trị diễn

ra ở đây Nước Nga trở thành một trong những vùng thuộc tâm thế giới Toàn bộ các hiện tượng địa chính trị sẽ diễn ra ở tâm thế giới Đây sẽ là nơi đối đầu giữa các cường quốc Quốc gia chiếm được tâm thế giới sẽ tạo được nhiều ảnh hưởng đến các khu vực xung quanh Mackinder lo ngại về một liên minh giữa Nga và Đức sẽ dẫn đến hậu quả là tâm thế giới bị hai quốc gia này kiểm soát Nước Nga có lãnh thổ rộng lớn, tạo ra sức mạnh quốc phòng Nước Đức nhờ nguồn nhân lực và tài nguyên phong phú sẽ xây dựng được lực lượng hải quân hùng mạnh để kiểm soát đảo thế giới Hợp tác giữa Nga và Đức sẽ là mối nguy hại chính đối với nước Anh Sức mạnh hải quân của Anh sẽ bị đe dọa, do vậy, cần chú ý đến các cường quốc lục địa này Mặt tiền trong ra đại dương sẽ được bổ sung cho nguồn lực của lục địa lớn, tạo ra những điều kiện chính trị cần thiết để sản sinh ra một thế lực áp đảo cả trên đất liền lẫn biển

Mối tương quan về sức mạnh giữa các quốc gia được thực hiện nhờ các tiến

bộ về kĩ thuật và nhờ quá trình phát triển các nguồn năng lượng mới Từ thế kỉ XV, trao đổi hàng hóa, buôn bán giao thương diễn ra phổ biến trên biển nhiều hơn so với

Trang 34

các hoạt động thương mại tiến hành bằng đường bộ, vì trao đổi bằng đường biển diễn ra thuận lợi hơn, bằng cách đi qua châu Phi, qua Ấn Độ Dương để đến các vùng xa xôi ở châu Á Nước Anh trở thành cường quốc số 1 của thế giới nhờ ưu thế

về hải quân Nhờ đó, người Anh kiểm soát các vùng biển, tiếp cận các vùng đất giàu

có về nguyên liệu

Từ thế kỉ XIX, đường bộ lại giữ vai trò trọng tâm trong trao đổi buôn bán, giống như trước thời kì chưa có các phát kiến địa lí Thế kỉ XIX là kỉ nguyên công nghiệp, giai đoạn này tạo ra một cuộc cách mạng mới về địa chính trị Tâm thế giới

là khu vực mang tính chiến lược Đó cũng là tâm của địa chính trị, trung tâm này là kết quả của các yếu tố mang tính lịch sử nhờ sự phát triển vượt bậc của khoa học kĩ thuật, đã tạo ra ưu thế giúp con người làm chủ các vùng rộng lớn, quan trọng hơn cả việc làm chủ các đại dương

Mackinder nhấn mạnh tầm quan trọng hàng đầu của địa lý đối với việc nghiên cứu lịch sử và chính trị toàn cầu: “Những cuộc chiến tranh lớn của lịch sử đều là kết quả trực tiếp hoặc gián tiếp của sự tăng trưởng không đồng đều của quốc gia, và sự tăng trưởng không đồng đều này…phần lớn lại là kết quả không cân bằng về độ phì nhiêu và sự thuận lợi chiến lược trên bề mặt địa cầu” [4,tr.72]

Nếu giải mã những nguyên nhân của chiến tranh thế giới theo quan điểm của Mackinder, đây sẽ là cuộc đối đầu giữa các đế chế ở trung tâm lục địa (Đức, đế chế Áo-Hung), các quốc gia này muốn giành lấy tâm thế giới, nên cần phải đối đầu với các quốc gia phía tây có ưu thế nắm giữ sức mạnh hàng hải (Anh, Pháp, Mỹ) Các cường quốc có sức mạnh về biển quyết định liên minh với quốc gia nằm ở tâm thế giới (nước Nga)

Lí thuyết địa chính trị của Mackinder góp phần làm sáng tỏ các nghiên cứu về quan hệ quốc tế trong thế kỉ XX Nhờ lí thuyết này, chúng ta sẽ có những đánh giá tổng quan về địa - chính trị và tìm ra những lời giải đáp cho nhiều sự kiện diễn ra trong nửa đầu thế kỉ XX mà trong đó có cuộc chiến tranh thế giới thứ II

1.2.3 Tư tưởng địa – chính trị ở Đức

Các cuốn sách về địa chính trị do Mackinder và Mahan viết, tạo được tiếng vang ở Đức Ngành địa chính trị ở Đức được nhiều người quan tâm, đặc biệt là các

Trang 35

nhà chính trị theo chủ nghĩa dân tộc Địa chính trị của Đức là sự tiếp nối của địa chính trị châu Âu và thế giới Ngành khoa học này cần phải tạo ra sức mạnh cho nước Đức trên biển và trên đất liền, đồng thời cần đưa ra các luận điểm cho những người theo chủ nghĩa dân tộc nhằm xóa bỏ nội dung của hiệp ước Versailles đánh dấu sự thất bại của Đức trong chiến tranh thế giới lần thứ nhất

Friedrich Ratzel (1844-1904) là giáo sư nổi tiếng ở Đức, dưới thời vua Guillaume II Ông được ví như một trong những nhà địa chính trị tiên phong Tư tưởng địa chính trị của ông được nhiều người quan tâm Là giáo sư dạy địa lí, ông phân tích mối liên hệ giữa lãnh thổ và chính trị trên cơ sở lí thuyết và thực tế Ông xây dựng lí thuyết địa chính trị được xếp loại là thuyết định mệnh Điểm mập mờ trong phân tích của ông là cách diễn giải các lí do hợp lí hóa cho một nền chính trị tạo ảnh hưởng bằng biện pháp mở rộng lãnh thổ ở mỗi quốc gia Ông là người theo chủ nghĩa dân tộc và là người bảo vệ đến cùng chủ nghĩa thực dân Ông bênh vực cho các chính sách thực dân, đồng thời phản đối quan điểm địa chính trị về lục địa

Để tạo nhiều ảnh hưởng đối với thế giới, nước Đức cần có một đế chế bao gồm các vùng thuộc địa rộng lớn Friedrich Ratzel biên soạn nhiều cuốn sách bàn về các vấn

đề thuộc địa Những chủ đề về lợi ích thuộc địa được các cường quốc đưa ra bàn bạc trong Hiệp ước Berlin nhằm phân chia quyền lợi ở các vùng này

Lí thuyết của Friedrich Ratzel được nhiều người chú ý nhất, là quan điểm về không gian sinh tồn Sau chuyến đi đến Mỹ, ông ý thức được tầm quan trọng của các nước có diện tích rộng lớn Ông đề cập đến địa chính trị của các nước lớn Các nhà lãnh đạo cần có kế hoạch chính trị mang tầm vĩ mô và cần có nhiều tham vọng Ông nhận định địa chính trị của Đức và vị thế của châu Âu có những nét tương đồng, vì các quốc gia châu Âu thường có diện tích nhỏ hẹp, lại ở cạnh nhau, nên thường có các biên giới chung Ông kêu gọi các nhà lãnh đạo Đức cần phải chú ý nhiều hơn đến các quốc gia ở châu Mỹ và châu Á Nước Đức không nên chỉ có vai trò quan trọng ở châu Âu Nước Đức cần có không gian sinh tồn trải rộng ở các vùng thuộc địa để tạo nên sức mạnh Nước Đức cần liên minh với với một số quốc gia có ảnh hưởng ở các châu lục Khi phân tích mối quan hệ giữa lãnh thổ và chính trị, Friedrich Ratzel kết luận Nhà nước như một thực thể sống, Nhà nước muốn có

Trang 36

tầm ảnh hưởng và có sức sống mạnh mẽ hơn, cần có diện tích rộng lớn hơn Mỗi nước đều phải tuân theo các quy luật về tổ chức, nếu không, Nhà nước sẽ suy tàn

Quan điểm này được Friedrich Ratzel trình bày trong cuốn sách Địa lí chính trị,

xuất bản năm 1887 Các nước về bản chất luôn phát triển cạnh tranh với các nước láng giềng Thách thức lớn là những tranh chấp thường trực về đất đai “Các nước đều phải gánh chịu nhiều tác động, như con người phải chịu đựng những khó khăn trong cuộc sống Mọi việc sẽ không biết sẽ ra sao, nếu một quốc gia không có diện tích rộng lớn” [31]

Friedrich Ratzel định nghĩa dân tộc là các nhóm người và các cá nhân không phải gắn bó vì cùng chung một chủng tộc, hay cùng chia sẻ một ngôn ngữ, mà dân tộc là một cộng đồng cùng sống chung trong một không gian lãnh thổ Ông không quan tâm đến quan điểm: Dân tộc phải gắn liền cùng một nguồn gốc mà dân tộc cần gắn bó với một vùng lãnh thổ Ratzel phản đối chính sách về các dân tộc, vì nó đặt

ra mối quan tâm của Nhà nước về khía cạnh ngôn ngữ, chứ không phải về vấn đề đất đai Mỗi quốc gia là một cơ thể sống khác nhau, bị chi phối bởi không gian lãnh thổ và phân bố dân cư Có quốc gia chiếm giữ không gian sinh tồn quan trọng hơn các quốc gia khác, điều này dựa trên các yếu tố địa lí Diện tích quốc gia cần được

mở rộng đến các vùng đất nơi các điều kiện địa lí giống với vùng lãnh thổ mà quốc gia đang có chủ quyền Nhờ đó không gian sinh tồn sẽ càng lớn Các chính sách không được dựa trên vấn đề nguồn gốc chủng tộc mà phải dựa trên các điều kiện về đất đai Ông đưa ra các quy luật mở rộng không gian cho mỗi quốc gia Năm 1901, ông bảo vệ khái niệm không gian sinh tồn của nước Đức Ông định nghĩa các đạo luật có tính phổ quát về Nhà nước

7 quy luật về mở rộng không gian:

· Mở rộng không gian sống của các quốc gia luôn đi kèm với việc phát triển và tạo ảnh hưởng về văn hóa

· Khi diện tích lãnh thổ của một quốc gia được mở rộng thêm, sức mạnh kinh

tế thương mại, hệ tư tưởng sẽ tạo nhiều ảnh hưởng hơn đối với các nước xung quanh

· Khi Nhà nước mở rộng thêm diện tích, nước đó sẽ tiến tới sát nhập và đồng

Trang 37

hóa các nước nhỏ hơn

· Biên giới là một thực thể sống động, có thể dịch chuyển Biên giới thể hiện

sự năng động, sức mạnh và làm thay đổi diện tích của một quốc gia

· Tính logic của địa lí luôn đề cao mọi tiến trình mở rộng vùng lãnh thổ của mỗi quốc gia Bởi vì, Nhà nước luôn cố gắng sát nhập các vùng đất rộng lớn để tăng thêm diện tích cho không gian sinh tồn Các vùng lãnh thổ càng giàu có về khoáng sản và có vị trí địa lí quan trọng càng cần phải sát nhập vào vùng diện tích thuộc chủ quyền của Nhà nước

· Nhà nước luôn có xu hướng mở rộng diện tích ra các khu vực ngoại vi nơi sinh sống của các dân tộc kém văn minh hơn so với nền văn minh của đất nước muốn mở rộng

· Khuynh hướng chung là tiến đến đồng hóa hoặc sát nhập các quốc gia nhỏ yếu, để tăng thêm diện tích đất đai, điều này sẽ đem lại sức mạnh cho Nhà nước Khái niệm không gian sinh tồn gắn các nhóm người với không gian lãnh thổ, ở

đó các cộng đồng người cùng sinh sống và phát triển Không gian sinh tồn thể hiện Nhà nước sẽ mở rộng hay thu hẹp các biên giới theo các điều kiện về nhu cầu và lợi ích riêng Friedrich Ratzel phát triển lí thuyết về không gian sinh tồn năm 1901 Quan điểm địa chính trị của ông có nhiều tác động đến nền chính trị của Đức Quốc

xã [31]

Karl Haushofer (1869-1946) là người đã có công xây dựng ngành địa chính trị trong nửa đầu thế kỉ XX Ông là một vị tướng và là giáo sư giảng dạy ở trường quân sự Ông đã có dịp đến Nhật và lưu lại đó hai năm từ năm 1908 đến năm 1910,

để tìm hiểu về quân đội Nhật Karl Haushofer quan tâm đến chính sách bành trướng của Nhật ở châu Á, ông coi đó là chủ đề cho luận án của mình, ông phân tích chi tiết

trong cuốn sách Địa chính trị ở Thái Bình Dương Ông rời quân đội và tập trung

cho sự nghiệp giảng dạy ở đại học Cũng giống như nhiều người Đức, Karl Haushofer rất thất vọng và lo lắng cho tương lai nước Đức Sau thất bại trong chiến tranh thế giới lần thứ nhất, nước Đức phải bồi thường các khoản lệ phí chiến tranh nặng nề do các nước đồng minh thắng trận đặt ra tại hội nghị Versailles Địa chính trị Đức cần phải đảm bảo sự hồi sinh cho nước Đức bại trận

Trang 38

Nước Đức có diện tích nhỏ hẹp và có biên giới chung với nhiều nước, nên vị trí địa lí bị kìm kẹp bởi các nước láng giềng Tương lai không thuộc về nước Đức

mà thuộc về các nước lớn một khi họ tập hợp lại, đề ra các nguyên tắc ứng xử chung Nhưng các nước này sẽ chịu sự điều khiển của một nước có sức mạnh vượt trội Năm 1924, ông lập ra tạp chí địa chính trị, tạo được tiếng vang trên thế giới Tạp chí địa chính trị cổ điển của Đức nhận được sự hợp tác của nhiều học giả quốc

tế Ông đã gặp gỡ Adolf Hitler nhiều lần Quan điểm địa chính trị của ông có một số ảnh hưởng đến chính sách của Đức Quốc xã; Hitler cũng bàn về địa chính trị trong

cuốn sách Cuộc chiến đấu của tôi (Mein Kampf)

Ông trình bày nội dung về địa chính trị theo tính hệ thống giữa Nhà nước, lãnh thổ và nhân dân có mối liên hệ chặt chẽ Địa chính trị của Đức cần giải thích rõ mối liên hệ này Ông khẳng định người Đức là những người văn minh, họ luôn bày tỏ mong muốn được sống cùng nhau trong một cộng đồng Ông ủng hộ việc thiết lập một không gian sinh tồn rộng lớn cho người Đức Nước Đức cần phải là một nước lớn, có diện tích rộng Những biến động chính trị trong những năm 30 khiến cho ý tưởng này ngày càng nhận được sự ủng hộ của nhiều người Nước Đức có ý định thực hiện các chính sách mở rộng lãnh thổ và tạo ảnh hưởng ra các châu lục Những

đề xuất về các vùng đệm là những nét cơ bản trong quan điểm về địa chính trị của Karl Haushofer Từ ý tưởng về vùng đệm, con người hình dung ra các vùng bao quanh Thế giới phải được phân chia thành các vùng khác nhau, ở mỗi vùng sẽ có các quốc gia thống trị, có 4 vùng được phân chia trên bản đồ thế giới:

- Châu Mỹ sẽ là vùng bao quanh của nước Mỹ

- Châu Âu và châu Phi sẽ là vùng đệm của Đức, người Đức sẽ thống trị những khu vực này

- Nước Nga sẽ lãnh đạo toàn bộ các nước thuộc Liên bang Xô viết

- Châu Á sẽ là khu vực xung quanh của Nhật [31]

Người Đức đã tuyên truyền địa chính trị kết hợp với chủ nghĩa chủng tộc, cộng với sự ảnh hưởng của học thuyết về siêu nhân của Nietzsche và học thuyết chọn lọc tự nhiên của Darwin, đã làm cho người dân Đức tin vào quyền thống trị của học với tư cách là một dân tộc được coi là thượng đẳng

Trang 39

Tư tưởng địa chính trị nước Đức, được Hitler tiếp thu quan điểm của Kjlen cho rằng, địa chính trị là “khoa học về chiến tranh” biện hộ cho hành động gây chiến của mình

1.2.4 Tư tưởng địa – chính trị ở Nhật Bản

Từ thời đại Minh Trị, người Nhật đã hiểu ra rằng: đất nước sẽ không thể phát triển nếu không mở cửa với bên ngoài Đây cũng là thời điểm mà giai cấp tư sản Nhật Bản đã lớn mạnh, chính tư tưởng của giai cấp này đã chiến thắng phe bảo thủ

và làm thành hậu thuẫn cho chính sách mở cửa của Nhật hoàng Minh Trị Đây cũng

là thời điểm chấm dứt chủ nghĩa biệt lập của Nhật Bản Cũng từ đây, tư tưởng địa chính trị của Nhật Bản bắt đầu bộc lộ rõ quan điểm dân tộc chủ nghĩa, đến cuộc chiến tranh thế giới thứ hai thì phát triển thành chủ nghĩa dân tộc cực đoan Quan điểm địa chính trị của Nhật được hình thành theo mô hình địa chính trị của Đức Trong đạo luật giáo dục có tên “Gakusei” năm 1872 quy định môn địa lý là môn học bắt buộc Đến năm 1886, luật mới được ban hành, quy định môn địa lý không còn là môn học độc lập mà được nhập vào môn lịch sử Được nhìn nhận không phải là môn học biệt lập, tự thân mà được gắn chặt với lịch sử và chính trị Nhật Bản Trong nguyên tắc chung của việc dạy môn địa lý, đạo luật giáo dục bổ sung năm 1890 của Nhật Bản quy định rằng: “Mục đích của môn địa lý học của Nhật Bản và địa lý học thế giới, phải làm cho trẻ em hiều được những điều quan trọng về đời sống của các dân tộc trên thế giới và phát triển tinh thần cho trẻ em” Theo hướng đó, giọng điệu giáo dục nhằm mục đích phục vụ quốc gia đã được tăng cường và củng cố để dần dần dẫn đến quá trình quân sự hóa của Nhật Bản Đây cũng là mầm mống dấn đến sự ra đời của một ngành khoa học mới ở Nhật Bản: Địa chính trị

Đến thời kì chiến tranh thế giới thứ hai, tư tưởng địa chính trị của Nhật Bản đã trở thành một tư tưởng chủ chốt trong chiến lược và chính sách bành trướng của Đế quốc Nhật, được thể hiện thành chính sách đặc trưng chủ trương một Khu vực Thịnh vượng chung Đại Đông Á, do thủ tướng Nhật Bản lúc bấy giờ là Fumimaro Konoe đề ra vào năm 1940 Chính sách này chủ trương thành lập một khối Đại Đông Á, bao gồm Nhật Bản, Mãn Châu, Trung Quốc, và các nước Đông Nam Á,

Trang 40

theo sự tuyền truyền của Nhật Bản, xây dựng một khu vực thịnh vượng chung cho các nước châu Á,tất nhiên dưới sự lãnh đạo của Nhật Bản, để thoát khỏi ách thống trị của chủ nghĩa thực dân phương Tây Đây là chính sách dùng để biện hộ cho cuộc xâm lược của Nhật Bản ở Đông Á trong những năm 1930, kéo dài cho đến khi kết thúc chiến tranh thế giới thứ hai [4, tr.223-225]

Trong cuốn sách địa lý được xuất bản năm 1943 cho trường phổ thông, người

ta mô tả đất nước Nhật Bản theo tinh thần kích động lòng yêu nước và tinh thần quân phiệt chủ nghĩa như sau:

“Các hình dạng mà theo đó mỗi quần đảo - quần đảo Kuril ở phía Bắc, hòn đảo chính Honshu ở trung tâm, quần đảo Ryuku (Okinawa) ở phía Nam - đều nhô ra Thái Bình Dương như một cánh cung, đã làm cho cả quần đảo Nhật Bản được kéo căng ra Từ hình dạng này, chúng ta có thể cảm thấy một sức mạnh nào đó Hình dạng Nhật Bản không phải là hình dạng thường Chúng ta có thể hình dung hình ảnh một người dẫn đầu lục địa châu Á đang hùng dũng tiến ra Thái Bình Dương Nhật Bản cũng được coi như đang đóng vai trò bảo vệ châu Á khỏi mọi hiểm nguy xuất phát từ Thái Bình Dương Theo cách này chúng ta cảm thấy rằng Thượng đế đã thực sự tạo ra đất nước chúng ta, nước Nhật Bản, một đất nước được Trời phú cho một lãnh thổ vô song về vị trí và hình dáng”

Ngoài ra ở chương cuối của cuốn sách giáo khoa còn công khai coi Nhật Bản

là trung tâm của khối Đại Đông Á:

“Chính đất nước chúng ta, nước Nhật Bản, một đất nước mà từ đó mặt trời mọc lên hàng ngày, là đất nước có vị trí nằm ở trung tâm Đại Đông Á, một khu vực bao gồm Thái Bình Dương cũng những hòn đảo của nó, từ lục địa châu Á đến Ấn

Độ Dương Theo ý chí của Thiên Hoàng, một trăm triệu đồng bào ta cần phải thực hiện công cuộc lớn lao là xây dựng khu vực Đại Đông Á để không làm cho tổ tiên thất vọng Chúng ta chia sẻ niềm vui hòa bình vĩnh viễn của thế giới và sự thịnh vượng chung cho mọi dân tộc” [4, tr.227]

Như vậy, có thể thấy rằng quan điểm địa chính trị của Nhật đề cao tinh thần dân tộc chủ nghĩa Nó coi Nhật Bản là trung tâm của châu Á và của khối Đại Đông

Á Chính tư tưởng địa chính trị đề cao quá mức tinh thần dân tộc, thúc đẩy tinh thần

Ngày đăng: 24/06/2017, 07:02

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Abraham Rothberg (2009), L ịch sử sống động của đệ nhị thế chiến, ng.d Nguy ễn Qu ốc Dũng, Nxb Từ điển bách khoa Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử sống động của đệ nhị thế chiến
Tác giả: Abraham Rothberg
Nhà XB: Nxb Từ điển bách khoa
Năm: 2009
2. B ộ quốc phòng (2004), T ừ điển bách khoa quân sự Việt Nam, Nxb Quân đội nhân dân Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển bách khoa quân sự Việt Nam
Tác giả: B ộ quốc phòng
Nhà XB: Nxb Quân đội nhân dân
Năm: 2004
3. Zbigniew Brzezinski (1999), Bàn c ờ lớn, ng.d Lê Phương Thúy, Nxb Chính trị qu ốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bàn cờ lớn
Tác giả: Zbigniew Brzezinski
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 1999
4. Nguy ễn Văn Dân (2012), Địa chính trị trong chiến lược và chính sách phát triển qu ốc gia , Nxb Khoa h ọc xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Địa chính trị trong chiến lược và chính sách phát triển quốc gia
Tác giả: Nguy ễn Văn Dân
Nhà XB: Nxb Khoa học xã hội
Năm: 2012
5. Joseph E. Persico (2009), Cu ộc chiến bí mật của Roosevelt: FDR & Hoạt động gián điệp trong thế chiến thứ 2 , ng.d Nguy ễn Kim Dân, Nxb.Khoa học xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cuộc chiến bí mật của Roosevelt: FDR & Hoạt động gián điệp trong thế chiến thứ 2
Tác giả: Joseph E. Persico
Nhà XB: Nxb.Khoa học xã hội
Năm: 2009
6. Nguy ễn Quốc Hùng (2005), S ự thất bại của quân phiệt Nhật trong chiến tranh th ế giới thứ 2 , Nxb. Chính tr ị quốc gia Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sự thất bại của quân phiệt Nhật trong chiến tranh thế giới thứ 2
Tác giả: Nguy ễn Quốc Hùng
Nhà XB: Nxb. Chính trị quốc gia
Năm: 2005
7. Lê Ph ụng Hoàng (2004), Franklin D.Roosevelt ti ểu sử chính trị, Nxb ĐHSP. Tp. HCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Franklin D.Roosevelt tiểu sử chính trị
Tác giả: Lê Ph ụng Hoàng
Nhà XB: Nxb ĐHSP. Tp. HCM
Năm: 2004
8. Khoa h ọc phổ thông (1989), “Cải tiến kỹ thuật và chiến thuật những năm giữa hai th ế chiến”, Vũ khí trên biển và những tiến bộ kỹ thuật hiện đại, 4-1989 (6), tr.6-8 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cải tiến kỹ thuật và chiến thuật những năm giữa hai thế chiến”, "Vũ khí trên biển và những tiến bộ kỹ thuật hiện đại
Tác giả: Khoa h ọc phổ thông
Năm: 1989
9. Khoa h ọc phổ thông (1989), “Cái chết của đại kình ngư”, t ạp chí khoa học phổ thông, 4-1989 (6), tr.9-15 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cái chết của đại kình ngư”, "tạp chí khoa học phổ thông
Tác giả: Khoa h ọc phổ thông
Năm: 1989
10. Khoa h ọc phổ thông (1989), “Cánh tay nối dài của hạm đội không lực trên đại dương”, t ạp chí khoa học phổ thông, 4-1989 (6), tr.19-20 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cánh tay nối dài của hạm đội không lực trên đại dương”, "tạp chí khoa học phổ thông
Tác giả: Khoa h ọc phổ thông
Năm: 1989
11. Khoa h ọc phổ thông (1989), “Nhận diện chiến hạm” (1989), t ạp chí khoa học ph ổ thông, 4-1989 (6), tr.16-18 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhận diện chiến hạm” (1989), "tạp chí khoa học phổ thông
Tác giả: Khoa h ọc phổ thông (1989), “Nhận diện chiến hạm”
Năm: 1989
12. Vũ Văn Lê (1967), Danh t ừ quân sự Anh-Việt, Nxb Đại học Vạn Hạnh, Sài Gòn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Danh từ quân sự Anh-Việt
Tác giả: Vũ Văn Lê
Nhà XB: Nxb Đại học Vạn Hạnh
Năm: 1967
13. Alfred Thayer Mahan (2012), Ảnh hưởng của sức mạnh trên biển đối với lịch s ử, 1660 – 1783 , ng.d Ph ạm Nguyên Trường, Nxb Tri Thức Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ảnh hưởng của sức mạnh trên biển đối với lịch sử, 1660 – 1783
Tác giả: Alfred Thayer Mahan
Nhà XB: Nxb Tri Thức
Năm: 2012
14. Nhi ều tác giả (2004), Nh ật Bản trong chiến tranh thế giới thứ 2 , Ng.d Lê Kim Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhật Bản trong chiến tranh thế giới thứ 2
Tác giả: Nhi ều tác giả
Năm: 2004
15. Nguy ễn Nghị, Lê Minh Đức (1994), L ịch sử nước Mỹ, Nxb Văn hóa thông tin Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử nước Mỹ
Tác giả: Nguy ễn Nghị, Lê Minh Đức
Nhà XB: Nxb Văn hóa thông tin
Năm: 1994
16. Lê Văn Quang (2003), L ịch sử quan hệ quốc tế từ 1917 đến 1945 , Nxb Giáo d ục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử quan hệ quốc tế từ 1917 đến 1945
Tác giả: Lê Văn Quang
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2003
17. Nguy ễn Mạnh Quang (1973), Đệ nhị thế chiến và chiến tranh lạnh , Nxb Sáng t ạo, Sài Gòn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đệ nhị thế chiến và chiến tranh lạnh
Tác giả: Nguy ễn Mạnh Quang
Nhà XB: Nxb Sáng tạo
Năm: 1973
18. Lê Vinh Qu ốc, Huỳnh Văn Tòng (2002), Cu ộc chiến tranh Thái Bình Dương 1941 – 1945 , Nxb. Văn Nghệ, Tp. Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cuộc chiến tranh Thái Bình Dương 1941 – 1945
Tác giả: Lê Vinh Qu ốc, Huỳnh Văn Tòng
Nhà XB: Nxb. Văn Nghệ
Năm: 2002
19. Robin Cross (2011), Bách khoa toàn thư về chiến tranh, ng.d ịch Thế Anh, Nxb Văn hóa Thông tin Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bách khoa toàn thư về chiến tranh
Tác giả: Robin Cross
Nhà XB: Nxb Văn hóa Thông tin
Năm: 2011
20. Nguy ễn Anh Thái (cb) (2005), L ịch sử thế giới hiện đại , Nxb.Giáo D ục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử thế giới hiện đại
Tác giả: Nguy ễn Anh Thái (cb)
Nhà XB: Nxb.Giáo Dục
Năm: 2005

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w