DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT Agribank Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt NamBIDV Ngân hàng thương mại cổ phần Đầu tư và Phát triểnViệt NamCSTT Chính sách tiền tệ NHNN Ngân h
Trang 1Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ VÀ QUẢN TRỊ KINH DOANH
NGUYỄN MAI HƯƠNG
TĂNG CƯỜNG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG HUY ĐỘNG VỐN TẠI CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ
LAI CHÂU
LUẬN VĂN THẠC SĨ THEO ĐỊNH HƯỚNG ỨNG DỤNG
Chuyên ngành: QUẢN LÝ KINH TẾ
THÁI NGUYÊN - 2016
Trang 2Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ VÀ QUẢN TRỊ KINH DOANH
NGUYỄN MAI HƯƠNG
TĂNG CƯỜNG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG HUY ĐỘNG VỐN TẠI CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ
LAI CHÂU
Chuyên ngành: Quản lý kinh tế
Mã số: 60.34.04.10
LUẬN VĂN THẠC SĨ THEO ĐỊNH HƯỚNG ỨNG DỤNG
Người hướng dẫn khoa học: TS Phạm Công Toàn
THÁI NGUYÊN - 2016
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi tên là : Nguyễn Mai Hương
Lớp : Quản lý kinh tế K11H
Chuyên ngành : Quản lý kinh tế
Trường Đại học Kinh tế và Quản trị kinh doanh Thái Nguyên
Đề tài luận văn: "Tăng cường quản lý nhà nước với hoạt động huy động vốn của các Ngân hàng Thương mại cổ phần trên địa bàn thành phố Lai Châu"
Tôi xin cam đoan bản luận văn là công trình nghiên cứu khoa học, đô ̣c
lập của tôi Các số liê ̣u, kết quả nêu trên trong luâ ̣n văn là trung thực và có nguồ n gố c rõ ràng
Tôi xin chịu mọi trách nhiệm về lời cam đoan của mình
Tác giả luận văn
Nguyễn Mai Hương
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành được khóa học, tôi xin trân trọng biết ơn Ban Giám hiệu trường Đại học Kinh tế và quản trị kinh doanh Thái Nguyên đã cho phép tôi thực hiện luận văn tốt nghiệp này
Trước hết, tôi xin chân thành bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đối với Tiến sĩ Phạm Công Toàn đã hết sức tận tâm hướng dẫn tôi hoàn thành luận văn này, thầy đã giúp tôi có phương pháp nghiên cứu đúng đắn, nhìn nhận vấn đề một cách khoa học, logic, qua đó giúp đề tài của tôi có ý nghĩa thực tiễn và có tính khả thi
Xin cảm ơn đến các cơ quan: Ngân hàng Nhà nước Chi nhánh tỉnh Lai Châu, các Ngân hàng thương mại đã tạo điều kiện thuận lợi cho tôi khảo sát tìm hiểu tình hình thực tế hoạt động huy động vốn trên địa bàn thành phố Lai Châu trong thời gian qua
Xin cảm ơn các đồng nghiệp, bạn bè đã nhiệt tình ủng hộ, góp ý, cung cấp tài liệu để tôi hoàn thành được luận văn này
Trân trọng cảm ơn!
Tác giả luận văn
Nguyễn Mai Hương
Trang 5MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT vi
DANH MỤC CÁC BẢNG vii
DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ viii
MỞ ĐẦU 1
1 Sự cần thiết của đề tài nghiên cứu 1
2 Mục tiêu nghiên cứu 2
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3
4 Ý nghĩa của đề tài 3
5 Bố cục đề tài nghiên cứu 4
Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN 5
1.1 Tổ chức hệ thống ngân hàng trong nền kinh tế quốc dân 5
1.1.1 Ngân hàng trung ương 5
1.1.2 Ngân hàng thương mại và ngân hàng thương mại cổ phần 13
1.2 Quản lý nhà nước đối với các NHTM ở Việt Nam 21
1.2.1 Cơ quan quản lý nhà nước đối với các NHTM ở Việt Nam 21
1.2.2 Chức năng và vai trò quản lý của NHNN 22
1.2.3 Khái niệm quản lý của NHNN đối với hoạt động huy động vốn của các NHTM 23
1.2.4 Sự cần thiết và mục tiêu quản lý của NHNN đối với hoạt động huy động vốn tại các ngân hàng thương mại 23
1.2.5 Nội dung quản lý của NHNN đối với hoạt động huy động vốn của các NHTM 26
1.2.6 Các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý của NHNN đối với hoạt động huy động vốn của các NHTM 32
Trang 61.3 Các bài học kinh nghiệm trong quản lý nhà nước về huy động vốn 34
1.3.1 Bài học từ những vi phạm trong hoạt động huy động vốn tại các NHTM 34 1.3.2 Bài học từ kinh nghiệm quản lý trong nước của NHNN các tỉnh 36
Chương 2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 38
2.1 Câu hỏi nghiên cứu 38
2.2 Phương pháp nghiên cứu 38
2.2.1 Phương pháp thu thập thông tin 38
2.2.2 Phương pháp tổng hợp và xử lý thông tin 40
2.2.3 Phương pháp phân tích thông tin 40
2.3 Hệ thống chỉ tiêu nghiên cứu 41
Chương 3 THỰC TRẠNG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG HUY ĐỘNG VỐN CỦA NHTM CỔ PHẦN TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ LAI CHÂU 43
3.1 Đặc điểm địa bàn nghiên cứu 43
3.1.1 Khái quát điều kiện tự nhiên kinh tế xã hội Thành phố Lai Châu 43
3.1.2 Khái quát về NHNN Việt Nam Chi nhánh tỉnh Lai Châu 45
3.1.3 Khái quát về hệ thống các NHTM CP trên địa bàn thành phố 53
3.2 Thực trạng quản lý của NHNN đối với hoạt động huy động vốn của các NHTM trên địa bàn Thành phố Lai Châu 54
3.2.1 Thực trạng hoạt động huy động vốn của các NHTM CP trên địa bàn Thành phố Lai Châu 55
3.2.2 Công tác quản lý nhà nước đối với hoạt động huy động vốn của các NHTM CP trên địa bàn Thành phố Lai Châu 63
3.3 Đánh giá quản lý của NHNN đối với hoạt động huy động vốn của các NHTM trên địa bàn Thành phố Lai Châu 71
3.3.1 Các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động quản lý của NHNN đối với hoạt động huy động vốn tại các NHTM CP trên địa bàn thành phố Lai Châu 71
3.3.2 Những kết quả đạt được 74
Trang 73.3.3 Những hạn chế trong quản lý nhà nước với hoạt động huy động vốn của
các NHTM 75
3.3.3 Nguyên nhân của những hạn chế 77
Chương 4 GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG HUY ĐỘNG VỐN TẠI CÁC NHTM CỔ PHẦN TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ LAI CHÂU 78
4.1.Định hướng quản lý nhà nước đối với huy động vốn của các NHTM CP trên địa bàn Thành phố Lai Châu đến năm 2020 78
4.1.1 Mục tiêu phát triển của NHNN Việt Nam, định hướng chiến lược đến năm 2020 78
4.1.2 Phương hướng, mục tiêu quản lý nhà nước đối với hoạt động huy động vốn của các NHTM CP trên địa bàn Thành phố Lai Châu 81
4.2 Các giải pháp tăng cường quản lý nhà nước đối với hoạt động huy động vốn tại các NHTM trên địa bàn Thành phố Lai Châu 84
4.2.1 Hoàn thiện chính sách, quy định và các văn bản pháp quy đối với quản lý hoạt động huy động vốn của NHTM trên địa bàn thành phố Lai Châu 84
4.2.2 Hoàn thiện công tác tổ chức thực thi với quản lý hoạt động huy động vốn của NHTM trên địa bàn thành phố Lai Châu 86
4.2.3 Hoàn thiện công tác giám sát, thanh tra, kiểm tra và xử lý vi phạm với hoạt động huy động vốn của các NHTM trên địa bàn thành phố Lai Châu 87
4.3 Kiến nghị các điều kiện để thực hiện giải pháp 88
4.3.1 Kiến nghị với NHNN Chi nhánh tỉnh Lai Châu 88
4.3.2 Kiến nghị với NHNN Trung ương 89
4.3.3 Kiến nghị với các NHTM 90
KẾT LUẬN 93
TÀI LIỆU THAM KHẢO 95
PHỤ LỤC 97
Trang 8DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Agribank Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt NamBIDV Ngân hàng thương mại cổ phần Đầu tư và Phát triểnViệt NamCSTT Chính sách tiền tệ
NHNN Ngân hàng Nhà nước
NHTM Ngân hàng Thương mại
NHTM CP Ngân hàng Thương mại cổ phần
NHTW Ngân hàng Trung ương
QLNN Quản lý nhà nước
TCTD Tổ chức tín dụng
Viettinbank Ngân hàng Thương mại cổ phần Công thương Việt Nam
Trang 9Thành phố Lai Châu, bao gồm cả Agribank Lai Châu 58 Bảng 3.4: Tổng hợp số liệu huy động vốn theo kỳ hạn gửi của các NHTM,
bao gồm cả Agribank Lai Châu 60 Bảng 3.5: Tổng hợp số liệu huy động vốn theo đối tượng khách hàng của các
NHTM trên địa bàn thành phố Lai Châu, bao gồm cả Agribank Lai Châu 61 Bảng 3.6: Thống kê công tác Thanh tra, kiểm tra của NHNN với các NHTM,
bao gồm cả Agribank Lai Châu 70
Trang 10DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ
Sơ đồ 1.1: Mô hình NHTW trực thuộc Quốc hội 10
Sơ đồ 1.2: Mô hình NHTW trực thuộc Chính phủ 11
Sơ đồ 3.1: Sơ đồ cơ cấu tổ chức của NHNN chi nhánh tỉnh Lai Châu 49Biểu đồ 3.1: Diễn biến huy động vốn cuối kỳ của BIDV Lai Châu năm 2015 59Biểu đồ 3.2: Thị phần của các NHTM, gồm cả Agribank trên địa bàn
thành phố Lai Châu 62
Trang 11MỞ ĐẦU
1 Sự cần thiết của đề tài nghiên cứu
Cùng với xu thế chung của thế giới cũng như cả nước, ngành ngân hàng Việt Nam đang từng bước tiến sâu hơn vào quá trình hội nhập đặc biệt là khi các hiệp định thương mại tự do được ký kết Tuy nhiên, với việc ký kết nhiều hiệp định thương mại quốc tế mà điển hình là Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP) và Cộng đồng kinh tế ASEAN (AEC) đã đặt ra thách thức rất lớn đối với ngành ngân hàng trong quá trình điều chỉnh và cải cách để tiến đến một hệ thống ngân hàng phát triển bền vững và ổn định Mặc dù ngành Ngân hàng Việt Nam đã đi từng bước vững chắc qua khủng hoảng kinh tế, và
đã có những bước phát triển nhất định trong thời gian qua nhưng để có thể giành thế chủ động trong hội nhập khi những hàng rào bảo hộ được dỡ bỏ và lĩnh vực dịch vụ ngân hàng mở cửa hoàn toàn theo các cam kết quốc tế, đòi hỏi hệ thống ngân hàng Việt Nam phải đẩy nhanh hơn nữa tiến trình tái cơ cấu không chỉ tập trung vào số lượng mà phải thực chất về chất lượng Trong tiến trình hội nhập
đó, những đóng góp của hệ thống Ngân hàng thương mại Việt nam vào quá trình đổi mới và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, đẩy nhanh quá trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá là rất lớn Các ngân hàng thương mại không chỉ tiếp tục khẳng định là một kênh dẫn vốn quan trọng cho nền kinh tế, mà còn góp phần
ổn định sức mua đồng tiền
Cùng với quá trình cải cách và đổi mới, số lượng các ngân hàng thương mại đã tăng nhanh, đã và đang từng bước chuyển dần hướng tới một hệ thống tương thích của các nền kinh tế đang nổi và mới phát triển Xuất phát từ chức năng của ngân hàng thương mại trong nền kinh tế thị trường, Chính phủ phải thực hiện quản lý vĩ mô đối với tổ chức và hoạt động của hệ thống Ngân hàng thương mại để phát huy vai trò của các tổ chức này trong mối quan hệ với các ngành, lĩnh vực để duy trì sự phát triển ổn định, bền vững toàn bộ nền kinh tế Tuy nhiên theo các chuyên gia, hoạt động Ngân hàng thương mại nước ta vẫn
Trang 12còn nhiều hạn chế, nhất là nợ xấu ngày càng tăng và có nguy cơ “đổ vỡ” mang tính hệ thống Nguyên nhân dẫn đến tình trạng này là do quản lý nhà nước đối với các Ngân hàng thương mại còn lúng túng, hệ thống thể chế về tiền tệ - ngân hàng còn thiếu, chưa đồng bộ và chậm bổ sung, sửa đổi cho phù hợp với yêu cầu phát triển kinh tế thị trường trong xu thế hội nhập; cơ chế kiểm tra, giám sát của cơ quan nhà nước chưa đủ tạo dựng thức pháp chế trong chấp hành pháp luật của các Ngân hàng thương mại
Tính trên địa bàn tỉnh Lai Châu, lũy kế tổng huy động vốn các ngân hàng trên địa bàn tỉnh đến 31/12/2015 đạt 15.299 tỷ đồng, trong đó nguồn huy động vốn tại địa phương lũy kế đạt 4.555 tỷ đồng chiếm 29.11% trên tổng huy động vốn Trong khi đó tỷ lệ này đến quý I năm 2013 trên địa bàn tỉnh Lai Châu là 30.8% cho thấy khả năng huy động vốn tại địa phương trong giai đoạn 2013 -
2015 có sự sụt giảm Trong giai đoạn 2016 - 2020 để đáp ứng nhu cầu vốn cho phát triển kinh tế địa phương, hoạt động huy động vốn qua hệ thống Ngân hàng thương mại trên địa bàn cần đẩy mạnh phát triển hơn nữa Đi kèm với đó là sự cần thiết về quản lý nhà nước với hoạt động huy động vốn để đảm bảo thực hiện hiệu quả chính sách tiền tệ tại địa phương cũng như sự cạnh tranh lành mạnh giữa các ngân hàng thương mại trên địa bàn
Xuất phát từ thực tế nêu trên tôi quyết định chọn đề tài: “Tăng cường quản lý nhà nước đối với hoạt động huy động vốn tại các ngân hàng thương mại cổ phần trên địa bàn thành phố Lai Châu” làm đề tài nghiên cứu viết
luận văn tốt nghiệp
2 Mục tiêu nghiên cứu
Trang 133 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu: Công tác Quản lý nhà nước với hoạt động huy
động vốn tại Ngân hàng thương mại cổ phần
3.2 Phạm vi nghiên cứu
- Phạm vi không gian: Đề tài được thực hiện nghiên cứu trên địa bàn
thành phố Lai Châu, nơi có điều kiện phát triển thuận lợi nhất của tỉnh Lai Châu, một tỉnh được xếp hạng nghèo trong cả nước
- Phạm vi thời gian: Xem xét hoạt động quản lý nhà nước của Ngân hàng
nhà nước đối với các Ngân hàng thương mại cổ phần trên địa bàn Thành phố Lai Châu giai đoạn 2013 - 2015
- Phạm vi nội dung:Nghiên cứu nội dung hoạt động của Ngân hàng nhà nước tỉnh Lai Châu với tư cách là chủ thể quản lý nhà nước đối với các Ngân hàng thương mại cổ phần trong huy động vốn bằng hình thức nhận tiền gửi trên
địa bàn Thành phố Lai Châu
4 Ý nghĩa của đề tài
4.1 Ý nghĩa về mặt khoa ho ̣c
Nhằm hệ thống hóa lý thuyết về quản lý nhà nước với hoạt động của Ngân hàng thương mại cổ phần Hệ thống hóa các văn bản quy phạm pháp luật
về hoạt động huy động vốn tại các Ngân hàng thương mại cổ phần, làm tài liệu
để tham khảo tại trong thời gian tới, tài liệu tham khảo cho các ho ̣c viên cao
học và các nghiên cứu có liên quan
Trang 144.2 Ý nghĩa về mặt thực tiễn
Trên góc độ thực tiễn, luận văn có những đóng góp cụ thể sau:
- Kết quả nghiên cứu luận văn sẽ làm cơ sở cho các cơ quan quản lý nhà nước có hành vi quản lý khoa học đối với hoạt động hệ thống ngân hàng thương mại cổ phần trên địa bàn
- Phân tích, đánh giá thực trạng công tác quản lý nhà nước về hoạt động huy động vốn của Ngân hàng thương mại cổ phần trên địa bàn trên góc độ của
cơ quan quản lý là Ngân hàng nhà nước Những thành quả huy động vốn đã đạt được khi áp dụng các quy định của cơ quan quản lý nhà nước, cũng như các quy định này có bất cập gì khi thực hiện trên thực tế không đem lại hiệu quả như mong muốn
- Kết quả nghiên cứu của luận văn góp phần giúp cơ quan quản lý nhà nước xây dựng được hệ thống biện pháp quản lý nhà nước hiệu quả đối với hoạt động huy động vốn tại các Ngân hàng thương mại cổ phần trên địa bàn trong thời gian tới
5 Bố cục đề tài nghiên cứu
Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về quản lý nhà nước đối với hoạt động huy động vốn tại ngân hàng thương mại cổ phần
Chương 2: Phương pháp nghiên cứu
Chương 3: Thực trạng về công tác quản lý nhà nước đối với hoạt động huy động vốn tại các ngân hàng thương mại cổ phần trên địa bàn Thành phố Lai Châu
Chương 4: Một số giải pháp theo hướng tăng cường quản lý nhà nước đối với hoạt động huy động vốn tại các ngân hàng thương mại cổ phần trên địa bàn Thành phố Lai Châu
Trang 15Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN
1.1 Tổ chức hệ thống ngân hàng trong nền kinh tế quốc dân
Trong nền kinh tế thị trường, ngân hàng là một tổ chức quan trọng nhất của nền kinh tế, là một tổ chức trung gian tài chính thực hiện các nghiệp vụ tập trung, phân phối lại vốn tiền tệ cũng như các dịch vụ có liên quan đến tài chính
- tiền tệ khác trong nền kinh tế quốc dân Từ khi ra đời đến nay, hệ thống ngân hàng luôn đóng vai trò quan trọng đối với sự phát triển của mọi quốc gia, không chỉ là kênh cơ bản cung ứng vốn cho mọi lĩnh vực hoạt động của nền kinh tế ngân hàng còn giữ vai trò thiết yếu trong việc truyền dẫn các CSTT, góp phần thực hiện thành công chiến lược phát triển kinh tế xã hội đất nước Đóng vai trò
là một bộ phận then chốt không tách rời của hệ thống tài chính quốc gia, hệ thống ngân hàng có quan hệ mang tính “sống còn” với các ngành, lĩnh vực của nền kinh tế Hệ thống này hoạt động yếu kém sẽ gây bất ổn cho cả hệ thống tài chính
và các thị trường bộ phận từ đó đe doạ đến sự ổn định chung của nền kinh tế Trong lịch sử phát triển của nền kinh tế thế giới đã xảy ra nhiều cuộc khủng hoảng tài chính - tiền tệ ở cấp độ quốc gia, khu vực và cả toàn cầu gây tổn thất nghiêm trọng về chính trị, kinh tế, văn hoá xã hội Như vậy với vai trò không thể thay thế của hệ thống ngân hàng trong nền kinh tế, rất cần phải có sự quan tâm của nhà nước để cho hệ thống này (bao gồm cả NHTW và hệ thống các NHTM) vận hành một cách an toàn và có hiệu quả
1.1.1 Ngân hàng trung ương
1.1.1.1 Khái niệm ngân hàng trung ương
Chính thức ra đời đầu tiên ở Châu Âu vào thế kỷ 17, cho đến đầu thế kỷ
20 các NHTW có nguồn gốc từ các ngân hàng phát hành vẫn thuộc sở hữu tư nhân Sau chiến tranh thế giới thứ hai, do ảnh hưởng của những bài học kinh nghiệm từ cuộc đại suy thoái năm 1929 -1933 cũng như sự phát triển của các học thuyết kinh tế thế giới đã đòi hỏi sự can thiệp mạnh mẽ của nhà nước vào
Trang 16các hoạt động kinh tế - xã hội, đặc biệt là sự phát huy vai trò điều tiết vĩ mô, nhằm khắc phục khủng hoảng, duy trì chủ nghĩa tư bản Các nước đã nhận thức được tầm quan trọng phải thành lập một NHTW đóng vai trò quản lý lưu thông tiền tệ, tín dụng và hoạt động của hệ thống ngân hàng trong quốc gia đó Lúc này, các NHTW được thành lập bằng việc quốc hữu hoá các ngân hàng phát hành hiện có hoặc thành lập mới ngân hàng thuộc quyền sở hữu nhà nước Tại các nước Châu âu đã có hệ thống ngân hàng phát triển lâu đời như Anh, Pháp… việc thành lập các NHTW bằng cách quốc hữu hoá ngân hàng phát hành thông qua việc mua lại cổ phần các ngân hàng này rồi bổ nhiệm người điều hành Một số nước khác thì nhà nước nắm cổ phần khống chế và bổ nhiệm người điều hành như Nhật Bản, Mỹ
Về mặt bản chất có thể nói NHTW là ngân hàng phát hành, là nơi tập trung các quyền lực của hệ thống ngân hàng, là một bộ máy to lớn có khả năng chi phối về mặt tài chính tiền tệ trong nước Dù được gọi bằng nhiều cái tên khác nhau như NHNN, Ngân hàng quốc gia, Ngân hàng dự trữ… nhưng NHTW đều thể hiện là một trung tâm tài chính tiền tệ lớn của quốc gia, đóng vai trò quan trọng trong hệ thống tín dụng của ngân hàng các nước
NHTW là một định chế công cộng, có thể độc lập hoặc trực thuộc Chính phủ; thực hiện chức năng độc quyền phát hành tiền, là ngân hàng của các ngân hàng, ngân hàng của Chính phủ và chịu trách nhiệm trong việc quản lý nhà nước về các hoạt động tiền tệ, tín dụng và ngân hàng
1.1.1.2 Chức năng của ngân hàng trung ương
NHTW là cơ quan thuộc bộ máy nhà nước, thực hiện chức năng phát hành giấy bạc và thực hiện quản lý vĩ mô các hoạt động tiền tệ, tín dụng và ngân hàng nhằm đảm bảo sự ổn định tiền tệ và an toàn cho hệ thống ngân hàng NHTW thực hiện các chức năng này thông qua các nghiệp vụ mang tính kinh doanh song tính chất kinh doanh chỉ là phương tiện nâng cao hiệu quả hoạt động quản lý chứ không phải mục đích của NHTW Hay nói cách khác hoạt động của NHTW không nhằm mục đích sinh lời mà là ổn định lưu thông tiền
tệ và hoạt động ngân hàng từ đó thúc đẩy sự phát triển kinh tế
Trang 17a Ngân hàng độc quyền phát hành tiền
NHTW được giao trọng trách độc quyền phát hành tiền theo các qui định trong luật hoặc được chính phủ phê duyệt (về mệnh giá, loại tiền, mức phát hành ) nhằm đảm bảo thống nhất và an toàn cho hệ thống lưu thông tiền tệ của quốc gia Đồng tiền do NHTW phát hành là phương tiện thanh toán hợp pháp, với chức năng làm phương tiện lưu thông và phương tiện thanh toán Bên cạnh chức năng phát hành tiền còn bao gồm trách nhiệm của NHTW trong việc xác định số lượng tiền cần phát hành, thời điểm phát hành cũng như phương thức phát hành Đồng thời NHTW còn kiểm soát lượng tiền cung ứng được tạo ra từ các NHTM bằng các quy chế dự trữ bắt buộc, lãi suất tái chiết khấu, nhằm đảm bảo cho sự ổn định của thị trường tiền tệ và giá trị đồng nội tệ
b Ngân hàng của các ngân hàng trung gian
NHTW cấp tín dụng cho các ngân hàng trung gian dưới hình thức chiết khấu lại (tái chiết khấu) các chứng từ có giá ngắn hạn do các ngân hàng trung gian nắm giữ Thông qua nghiệp vụ này, NHTW đã làm tăng lượng vốn khả dụng cho hoạt động của ngân hàng trung gian, tạo điều kiện cho các ngân hàng này mở rộng các hoạt động tín dụng Việc cấp tín dụng của NHTW cho các ngân hàng trung gian không chỉ giới hạn ở nghiệp vụ tái chiết khấu các chứng
từ có giá mà còn bao gồm cả các khoản cho vay ứng trước có đảm bảo bằng các chứng khoán đủ tiêu chuẩn, các khoản tiền gửi bằng ngoại tệ tại NHTW Trong trường hợp một ngân hàng có nguy cơ phá sản, NHTW có thể sẽ cung cấp những khoản tín dụng không hạn chế nhằm giúp cho ngân hàng đó tránh khỏi sự đổ vỡ nếu sự sụp đổ của ngân hàng đó có ảnh hưởng lớn tới sự tồn tại
và an toàn của cả hệ thống ngân hàng Mức lãi suất cho vay của NHTW khi đó cũng thường là lãi suất phạt và ngân hàng nhận hỗ trợ phải đáp ứng những điều kiện nhất định phù hợp với yêu cầu của CSTT
Vì các ngân hàng trung gian đều mở tài khoản và ký gửi các khoản dự trữ bắt buộc và dự trữ vượt mức tại NHTW nên chúng có thể thực hiện thanh
Trang 18toán không dùng tiền mặt qua NHTW thay vì thanh toán trực tiếp với nhau Khi
đó, NHTW đóng vai trò là trung tâm thanh toán bù trừ giữa các ngân hàng trung gian Thông qua dịch vụ thanh toán bù trừ, NHTW góp phần tiết kiệm được chi phí thanh toán cho các ngân hàng trung gian và toàn xã hội, đảm bảo vốn luân chuyển nhanh chóng trong hệ thống ngân hàng và phản ánh chính xác quan hệ thanh toán giữa các chủ thể kinh tế trong xã hội Mặt khác, thông qua hoạt động này NHTW có thể kiểm tra sự biến động vốn khả dụng của từng ngân hàng trung gian, là cơ sở để có những kiến nghị kịp thời
c Ngân hàng của Chính phủ
Ngay từ khi ra đời NHTW đã được xác định là ngân hàng của chính phủ Với chức năng này, NHTW có nghĩa vụ cung cấp các dịch vụ ngân hàng cho chính phủ, đồng thời làm đại lý, đại diện và tư vấn chính sách cho chính phủ Chức năng này của NHTW thể hiện ở một số điểm sau:
- NHTW thuộc sở hữu nhà nước
- Làm thủ quỹ cho kho bạc nhà nước thông qua việc quản lý tài khoản kho bạc, thực hiện quả lý dự trữ quốc gia bao gồm các loại tài sản chiến lược
mà bất kỳ quốc gia nào cũng phải dự trữ cho nhu cầu chi tiêu trong trường hợp khẩn cấp như vàng, ngoại tệ, chứng từ có giá nước ngoài
- Cấp tín dụng cho Chính phủ nhằm bù đắp thiếu hụt tạm thời trong năm tài chính hoặc bội chi ngân sách vào cuối năm tài chính, thông qua việc tái chiết khấu trái phiếu kho bạc do các ngân hàng trung gian nắm giữ
- Làm đại lý, đại diện và tư vấn cho chính phủ trong việc phát hành chứng khoán chính phủ khi chính phủ có nhu cầu bù đắp thiếu hụt ngân sách
d Chức năng quản lý nhà nước
Đây là chức năng quyết định bản chất NHTW của một ngân hàng phát hành Việc thực hiện chức năng này không thể tách rời khỏi các nghiệp vụ ngân hàng của NHTW Chức năng này được cụ thể hoá qua một số phương diện sau:
Trang 19- Xây dựng và thực hiện CSTT quốc gia, Chính sách tiền tệ là chính sách kinh tế vĩ mô trong đó NHTW sử dụng các công cụ của mình để điều tiết và kiểm soát khối lượng tiền trong lưu thông nhằm đảm bảo sự ổn định giá trị tiền tệ đồng thời thúc đẩy sự tăng trưởng kinh tế và đảm bảo công ăn việc làm Có thể nói, chính sách tiền tệ là trọng tâm hoạt động của một NHTW Điều này có nghĩa là mọi hoạt động của NHTW (kể cả phát hành tiền) đều nhằm thực hiện các mục tiêu của chính sách tiền tệ và bị chi phối bởi các mục tiêu đó
- NHTW thẩm định và cấp giấy chứng nhận hoạt động cho NHTM;
- NHTW quy định nội dung, phạm vi hoạt động kinh doanh và các quy chế nghiệp vụ, các hệ số an toànđòi hỏi các NHTM phải tuân thủ;
- NHTW điều tiết các hoạt động kinh doanh của NHTM bằng những biện pháp kinh tế hành chính như: quy định tỷ lệ dự trữ bắt buộc, hạn mức tín dụng, ban hành chính sách lãi suất, tỷ lệ hoa hồng, lệ phí áp dụng trong hoạt động kinh doanh của các NHTM, ;
- NHTW thanh tra kiểm soát thường xuyên và toàn diện các hoạt động của toàn bộ hệ thống ngân hàng, áp dụng các chế tài trong các trường hợp vi phạm pháp luật nhằm đảm bảo cả hệ thống ngân hàng hoạt động ổn định, an toàn và có hiệu quả;
- NHTW quyết định đình chỉ hoạt động hoặc giải thể đối với các ngân hàng trung gian trong các trường hợp vi phạm nghiêm trọng pháp luật hoặc mất khả năng thanh toán,
1.1.1.3 Các mô hình ngân hàng trung ương trên thế giới
Tuỳ theo thể chế chính trị, điều kiện kinh tế - xã hội mỗi nước, NHTW
sẽ tổ chức theo những mô hình khác nhau Cở sở để phân biệt giữa các mô hình NHTW dựa vào xem xét các quan hệ giữa NHTW với Quốc hội, Chính Phủ và các cơ quan nhà nước có thẩm quyền khác Trên thực tế đã tồn tại 3 mô hình NHTW: NHTW độc lập với Chính phủ, NHTW trực thuộc Chính phủ, NHTW trực thuộc Bộ Tài chính
Trang 20a Mô hình ngân hàng trung ương độc lập với Chính phủ
Sơ đồ 1.1: Mô hình NHTW trực thuộc Quốc hội
Mô hình NHTW độc lập với Chính phủ là mô hình trong đó NHTW không chịu sự quản lý của Chính phủ mà là của Quốc hội Quan hệ giữa NHTW
và Chính phủ là quan hệ hợp tác NHTW không nằm trong cơ cấu bộ máy của Chính phủ, không chịu sự lãnh đạo, điều hành của Chính phủ
Mô hình này xuất phát từ quan điểm NHTW là cơ quan quản lý, điều tiết tiền tệ và phát hành tiền, hoạt động của nó tác động trực tiếp tới sự phát triển của nền kinh tế nên phải được kiểm soát trực tiếp bởi Quốc hội Bởi nếu đặt NHTW dưới sự điều hành của Chính phủ, thì rất dễ xảy ra việc NHTW phải phát hành tiền
để bù đắp bội chi ngân sách, việc phát hành tiền quá giới hạn dẫn đến lượng tiền trong lưu thông vượt quá mức cần thiết, gây ra tình trạng lạm phát, ảnh hưởng tới
sự phát triển của nền kinh tế Mặt khác, khi NHTW trực thuộc Chính phủ, Chính phủ có thể vì các mục tiêu chính trị trước mắt mà buộc NHTW phải theo đuổi các mục tiêu ngắn hạn thay vì các mục tiêu chính sách dài hạn
Có thể nói, mô hình NHTW trực thuộc Quốc hội thường được thiết lập ở những nước có nền kinh tế phát triển và CSTT Quốc gia được coi là động lực của mọi sự phát triển Để đảm bảo tính hiệu quả trong hoạt động quản lý thì NHTW phải có vị trí pháp lý độc lập, tức là mối quan hệ giữa NHTW với Quốc hội và Chính phủ phải được làm rõ và tính độc lập, tự chủ phải được đề cao Trong quá trình thực hiện chức năng, nhiệm vụ của mình, Ban lãnh đạo NHTW có quyền tự quyết, chứ không phải là quyết định của Quốc hội hay Chính phủ Vị thế này được thể hiện rõ nét nhất trong việc xây dựng và thực hiện CSTT Quốc gia - yếu tố quyết định sự thành công của hoạt động quản lý kinh tế vĩ mô Đặc biệt, trong nền kinh tế
NGÂN HÀNG
TRUNG ƯƠNG
QUỐC HỘI
CHÍNH PHỦ
Trang 21thị trường hiện nay, việc trao cho NHTW vị trí pháp lý độc lập là vô cùng cần thiết,
là yếu tố then chốt để đảm bảo tính hiệu quả trong điều hành CSTT Quốc gia ở mỗi nước Thực tế cho thấy sự độc lập của NHTW đối với Chính phủ càng cao thì các biến số vĩ mô như lạm phát, tăng trưởng kinh tế, sẽ đạt được một cách tích cực, bền vững và lâu dài Tổ chức NHTW theo mô hình này đang càng ngày càng phổ biến ở các nước phát triển, như: Mỹ, Thụy sĩ, Anh, Pháp, Đức, Nhật Bản, NHTW Châu Âu (ECB) Chính vì vậy, nhiều quốc gia đang có xu hướng dịch chuyển sang
mô hình NHTW độc lập với Chính phủ
- Ưu điểm của mô hình: Theo mô hình này, NHTW có toàn quyền quyết định việc xây dựng và thực hiện CSTT mà không bị ảnh hưởng bởi các áp lực chi tiêu của ngân sách hoặc các áp lực chính trị khác, được trao quyền lựa chọn mục tiêu mà không chịu sự can thiệp, chỉ đạo từ Chính phủ hay cơ quan liên quan khác; Tăng tính chủ động và giảm độ trễ của CSTT; Có thể từ chối mục tiêu thâm hụt ngân sách; Tự chủ về tổ chức và cơ chế tài chính, nhân sự; Có trách nhiệm giải trình đầy đủ và minh bạch; Tăng hiệu quả các mục tiêu kiểm soát lạm phát, tăng trưởng kinh tế, giảm thâm hụt ngân sách và ổn định hệ thống tài chính
- Nhược điểm của mô hình: Khó thực hiện hài hòa giữa CSTT và CSTK trong quản lý vĩ mô
b Mô hình ngân hàng trung ương trực thuộc Chính phủ:
Sơ đồ 1.2: Mô hình NHTW trực thuộc Chính phủ
QUỐC HỘI
BỘ VÀ CÁC CƠ QUAN
NGANG BỘ (Tài chính, Kế hoạch, Đầu tư,
Thương mại, Công nghiệp,
Nông nghiệp,…
CHÍNH PHỦ
NGÂN HÀNG TRUNG ƯƠNG
CÁC MỤC TIÊU KINH TẾ - XÃ HỘI
Trang 22Là mô hình trong đó NHTW nằm trong Nội các và chịu sự chi phối trực tiếp của Chính phủ về nhân sự, về tài chính và các quyết định liên quan đến xây dựng và thực hiện CSTT Theo mô hình này, NHTW nằm trong cơ cấu bộ máy của Chính phủ, chịu sự điều hành trực tiếp của Chính phủ Chính phủ có quyền can thiệp rất lớn, không chỉ trên phương diện tổ chức, điều hành mà còn trong hoạt động thực hiện CSTT Quốc gia NHTW được ví như công cụ của Chính phủ trong việc điều tiết giá trị đồng tiền và huy động các nguồn tài chính trong nền kinh tế Mô hình này được xác định dựa trên cơ sở: Chính phủ là cơ quan hành pháp, thực hiện chức năng quản lý vĩ mô đối với nền kinh tế Để làm được điều đó Chính phủ phải có các công cụ kinh tế vĩ mô và sử dụng các công cụ này một cách đồng bộ và phối hợp các công cụ nhằm vận hành nền kinh tế ổn định và hiệu quả Tiêu biểu cho mô hình này là NHTW ở một số nước châu Á như Trung Quốc, Việt Nam, Indonesia
- Ưu điểm của mô hình: Chính phủ có quyền can thiệp vào hoạt động của NHTW, thực hiện các chức năng quản lý kinh tế vĩ mô; giảm thất nghiệp, tạo công ăn việc làm, tạo sự công bằng xã hội;
- Nhược điểm của mô hình: NHTW sẽ mất đi sự chủ động trong việc thực hiện CSTT; Sự phụ thuộc vào Chính phủ có thể làm cho NHTW xa rời mục tiêu dài hạn của mình là ổn định giá trị tiền tệ; Chính phủ có thể lợi dụng công cụ phát hành để bù đắp bội chi NSNN, từ đó gây ra lạm phát; Khi muốn thay đổi mục tiêu CSTT thì phải thay đổi cả Luật NHTW
c Mô hình ngân hàng trung ương trực thuộc Bộ tài chính:
Đây là mô hình ít phổ biến, hoạt động của NHTW phụ thuộc vào Bộ tài chính, dễ xảy ra tình trạng sử dụng công cụ phát hành tiền để bù đắp thiếu hụt ngân sách, gây ra tình trạng lạm phát cao trong nền kinh tế ảnh hưởng nghiêm trọng tới đời sống của nhân dân Mô hình này tạo ra mâu thuẫn giữa một bên là cơ quan thực hiện nhiệm vụ ngân sách với một bên là cơ quan phát hành tiền và điều tiết lượng tiền cung ứng Mô hình này đã từng áp dụng ở một số nước như Anh, Pháp, Malaysia… Tuy nhiên, hiện nay nó gần như không còn tồn tại vì những hạn chế cố hữu không đáp ứng yêu cầu phát triển của kinh tế thị trường
Trang 231.1.2 Ngân hàng thương mại và ngân hàng thương mại cổ phần
1.1.2.1 Khái niệm
Lịch sử hình thành và phát triển của NHTM gắn liền với lịch sử và phát triển của nền kinh tế hàng hoá Mặc dù trải qua lịch sử phát triển lâu dài nhưng cho đến nay, nhưng có rất nhiều cách hiểu khác nhau về NHTM, bởi tại mỗi một thời điểm khác nhau thì khái niệm lại có những thay đổi, đây lại cũng là một đặc thù của lĩnh vực ngân hàng tài chính NHTM là một tổ chức trung gian tài chính có vị trí quan trọng trong nền kinh tế quốc dân và hoạt động theo định chế trung gian mang tính chất tổng hợp Các nghiên cứu chỉ ra rằng, NHTM hình thành trên cơ sở của sự phát triển sản xuất và trao đổi hàng hoá Khi sản xuất phát triển thì nhu cầu trao đổi mở rộng sản xuất giữa các vùng lãnh thổ, giữa các quốc gia tăng lên, để khác phục sự khác biệt về tiền tệ giữa các khu vực thì thì xuất hiện các thương gia làm nghề đổi tiền Khi trao đổi hàng hoá phát triển quay trở lại kích thích sản xuất hàng hóa Cùng với sự phát triển đó, các nghiệp vụ được phát triển dần như giữ tiền hộ, chi trả hộ trên cơ sở đó thực hiện hoạt động tín dụng Như vậy có thể hiểu NHTM là loại hình tổ chức tín dụng đuợc thực hiện toàn bộ hoạt động ngân hàng và hoạt động kinh doanh khác liên quan như nhận tiền gửi, sử dụng tiền gửi để cung cấp các dịch vụ thanh toán
Theo luật các tổ chức tín dụng của Nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam được Quốc hội khoá XII (kỳ họp tứ bảy, thông qua ngày 16 tháng 6 năm
2010) thì “NHTM là loại hình ngân hàng được thực hiện tất cả các hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác theo quy định của Luật này nhằm mục tiêu lợi nhuận” Cũng theo luật này thì “Hoạt động ngân hàng là việc kinh doanh, cung ứng thường xuyên một hoặc một số các nghiệp vụ sau đây:
- Nhận tiền gửi;
- Cấp tín dụng;
- Cung ứng dịch vụ thanh toán qua tài khoản”
Trang 24Qua đây chúng ta có thể thấy rằng trên mỗi phương diện khác nhau, tại mỗi quốc gia khác nhau lại có những quan niệm, nhìn nhận khác nhau, tuy nhiên tất cả điều đó đều cho chúng ta những cách hiểu sâu hơn về khái niệm ngân hàng nói chung và NHTM nói riêng đồng thời qua đó giúp chúng ta có hiểu rõ hơn về các hoạt động và những loại hình dịch vụ mà ngân hàng cung cấp
Ngân hàng thương mại cổ phần là hình thức khác quyền sở hữu cũng như nguồn gốc hình thành so với ngân hàng thương mại Nếu như ngân hàng thương mại do Nhà nước lập ra và vận hành, số vốn do 100% Nhà nước nắm giữ, thì ngân hàng thương mại cổ phần do nhiều thành phần kinh tế, bao gồm cả cá nhân trong
và ngoài nước sở hữu vốn Việc xuất hiện ngân hàng thương mại cổ phần, bao gồm NHTMCP quốc doanh và ngoài quốc doanh là xuất phát từ thực tiễn yêu cầu phát triển của nền kinh tế thị trường Theo đó, Nhà nước sẽ dần thoái vốn, và chỉ giữ lại một phần vốn nhất định nhằm nắm quyền chi phối theo luật đối với doanh nghiệp
cổ phần Tuy nhiên, về bản chất hoạt động, các ngân hàng thương mại cổ phần vẫn hoạt động theo nguyên tắc của ngân hàng thương mại
Có thể so sánh theo bảng 1.1 dưới đây
Bảng 1.1 Một số đặc điểm của NHTM và NHTM cổ phần
Hình thức sở hữu vốn Nhà nước sở hữu 100% Nhiều cổ đông
Nguyên tắc hoạt động
kinh doanh Theo luật các tổ chức tín dụng Theo luật các tổ chức tín dụng
Nguyên tắc báo cáo Báo cáo với nhà nước Báo cáo với nhà nước và
Đại hội đồng cổ đông Vai trò của Nhà nước Quản lý và điều hành Quản lý về mặt Nhà nước
(Nguồn: tác giả tổng hợp xây dựng)
Như vậy, về hình thức hoạt động kinh doanh chung, NHTM và NHTM
cổ phần hoạt động như nhau Trong yêu cầu của sự hội nhập với nền kinh tế Thế giới, Việt Nam sẽ tiến đến xóa bỏ hoàn toàn mô hình Ngân hàng thương mại Hiện nay, chỉ còn tồn tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn
Trang 25là chưa thực hiện xong việc cổ phần hóa để trở thành Ngân hàng thương mại
cổ phần và hoạt động theo mô hình doanh nghiệp cổ phần
Sau đây, trong phạm vi nội dung của luận văn này, thuật ngữ ngân hàng thương mại (NHTM) sẽ được sử dụng chung thay cho thuật ngữ ngân hàng thương mại cổ phần (NHTM CP) Thuật ngữ NHTM CP chỉ dùng cho tên gọi riêng của ngân hàng được sử dụng phân tích trong bài, gồm NHTM CP Đầu tư
Lai Châu, và NHTM CP Công thương Lai Châu
1.1.2.2 Hoạt động cơ bản của NHTM
Cùng với sự phát triển của NHTM, các hoạt động của NHTM ngày nay khác xa với NHTM từ khi mới hình thành Cùng với sự biến đổi không ngừng của môi trường kinh doanh, sự cạnh tranh quyết liệt đòi hòi các hệ thống ngân hàng
đã mở rộng rất nhiều loại hình dịch vụ, tiện ích cung cấp cho khách hàng ngoài những sản phẩm truyền thống
- Hoạt động huy động vốn:
Đối với NHTM, thì hoạt động huy động vốn luôn được quan tâm hàng đầu, bởi vì nếu huy động được nhiều vốn thì ngân hàng mới có khả năng mở rộng được hoạt động, cũng như quy mô của ngân hàng Ngày nay, trước sức ép của cuộc cạnh tranh trong lĩnh vực tài chính, đòi hỏi các NHTM phải có những chính sách thu hút nguồn tiền ngày một linh hoạt, để từ đó đáp ứng cho hoạt động của ngân hàng
Tiền gửi của khách hàng (gồm cá nhân và tổ chức) là nguồn vốn quan trọng nhất của NHTM, chiếm tỷ trọng lớn trong tổng nguồn tiền của ngân hàng Để huy động đuợc nhiều tiền có chất lượng ổn định, các ngân hàng phải đưa ra được nhiều sản phẩm dịch vụ phục vụ được mọi đối tượng và đa dạng hoá các hình thức huy động như: tiền gửi thanh toán, tiền gửi có kỳ hạn của doanh nghiệp, tổ chức xã hội, cơ quan, tiết kiệm của dân cư…, linh hoạt
về lãi suất Là đối tượng phải dự trữ bắt buộc với NHNN nên chi phí của ngân hàng trả cho khách hàng cao hơn thực tế Ngoài ra tiền gửi ngắn hạn hoặc không kỳ hạn thường rất nhạy cảm với biến động của lãi suất và các yếu tố kinh tế khác như lạm phát
Trang 26Theo luật các tổ chức tín dụng của Nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam (số 47/2010/QH12, điều 4) thì nhận tiền gửi được hiểu là hoạt động nhận tiền của tổ chức, cá nhân dưới hình thức tiền gửi không kỳ hạn, tiền gửi có kỳ hạn, tiền gửi tiết kiệm, phát hành chứng chỉ tiền gửi, kỳ phiếu, tín phiếu và các hình thức nhận tiền gửi khác theo nguyên tắc có hoàn trả đầy đủ tiền gốc, lãi cho người gửi tiền theo thỏa thuận
Ngoài tiền gửi của khách hàng NHTM còn huy động vốn từ nguồn đi vay của NHNN hay các NHTM khác và quốc tế Tuy nhiên tỷ trọng của nguồn vốn này thường thấp hơn tiền gửi
- Hoạt động sử dụng vốn:
Đây là nghiệp vụ phản ánh quá trình sử dụng vốn vào các mục đích nhằm đảm bảo an toàn cũng như tìm kiếm lợi nhuận của các NHTM cũng như nâng cao vai trò, uy tín của Ngân hàng, tăng cường sức mạnh cạnh tranh trên thị trường Điều này buộc các Ngân hàng phải thường xuyên nghiên cứu thị trường, nghiên cứu nhu cầu sử dụng vốn của xã hội từ đó đưa ra các hình thức đầu tư đúng đắn và có hiệu quả cao Việc sử dụng vốn là quá trình biến tài sản nợ thành tài sản có khác nhau, trong đó cho vay và đầu tư là tài sản quan trọng nhất Do vậy quản lý tài sản là nhiệm vụ quan trọng của NHTM để tránh rủi ro, đảm bảo
an toàn vốn
- Hoạt động trung gian:
NHTM là tổ chức trung gian tài chính với hoạt động chủ yếu là chuyển tiết kiệm thành đầu tư, tức chuyển vốn từ nơi thừa sang nơi có nhu cầu sử dụng Với chức năng này NHTM làm cầu nối giữa cá nhân và tổ chức có thu nhập lớn hơn tiêu dùng với những cá nhân tổ chức tạm thời thâm hụt trong chi tiêu, hay thu nhập không bù đắp nổi nhu cầu chi tiêu nên họ cần bổ sung vốn
Ngoài trung gian tài chính NHTM còn là trung gian thanh toán Ngân hàng thay mặt khách hàng chi trả giá trị hàng hoá và dịch vụ trong và ngoài nước Để thanh toán được nhanh chóng, thuận tiện an toàn và tiết kiệm, ngân hàng dùng
Trang 27nhiều hình thức thanh toán không dùng tiền mặt nhu séc chuyển tiền, uỷ nhiệm chi, bù trừ qua NHNN hoặc qua trung tâm thanh toán, nhờ thu… bằng các biện pháp kỹ thuật như: thư, điện tín, hệ thống máy tính điện tử…
1.1.2.3 Các hình thức huy động trong NHTM
Quá trình huy động vốn đó hầu như đều giống nhau ở các ngân hàng nhưng để phân loại các hình thức huy động thì lại rất khác nhau Điều này còn phụ thuộc vào các tiêu chí được lựa chọn để phân loại:
* Phân loại huy động vốn căn cứ theo thời gian: Phân loại theo thời
gian có ý nghĩa quan trọng đối với ngân hàng vì nó liên quan mật thiết đến tính an toàn và khả năng sinh lợi của nguồn vốn huy động cũng như thời gian phải hoàn trả khách hàng Theo thời gian, hình thức huy động được chia thành
- Huy động vốn ngắn hạn: Đây là hình thức huy động chủ yếu trong các ngân hàng thương mại thông qua việc phát hành các công cụ nợ ngắn hạn trên thị trường tiền tệ và các nghiệp vụ nhận tiền gửi ngắn hạn, tiền gửi thanh toán Phần lớn số này được dùng để cho vay ngắn hạn (dưới 1 năm ) hoặc được chuyển hoán kỳ hạn để thực hiện cho vay trung hạn Do thời gian ngắn nên lãi suất huy động ngắn hạn thường thấp, tuy nhiên tính ổn định lại kém
- Huy động vốn trung hạn: Đây là nguồn huy động vốn ngân hàng qua phát hành các công cụ nợ trung hạn trên thị trường vốn hoặc nhận tiền gửi trung hạn (từ 1 đến 5 năm) Vốn huy động này ngân hàng có thể sử dụng tương đối dài và thuận tiện Tuy nhiên lãi suất huy động nguồn này thường cao hơn nguồn ngắn hạn Nguồn huy động trung hạn rất quan trọng và cần thiết để ngân hàng thực hiện các hoạt động đầu tư, thay đổi công nghệ và cho vay trung, dài hạn với lãi suất cao
- Huy động vốn dài hạn: Đây là hoạt động huy động vốn dài hạn của ngân hàng trên thị trường vốn, với nguồn huy động này ngân hàng có thể sử dụng dễ dàng, có tính ổn định cao (từ 5 năm trở lên) Do vậy lãi suất mà ngân hàng phải trả cũng rất cao
Trang 28Tiêu chí phân loại theo thời gian thường chỉ được các NHTM sử dụng
để đánh giá hoạt động huy động vốn của chính ngân hàng đó Vì chỉ tiêu này mang tính khái quát cao nên NHNN không phân loại theo tiêu chí này trong công tác quản lý hoạt động huy động vốn của các NHTM
* Phân loại theo đối tượng huy động: Hình thức phân loại này thường
được các NHTM sử dụng để theo dõi hoạt động huy động vốn trên bảng cân đối Tiêu chí này giúp các NHTM quản lý hiệu quả hoạt động huy động vốn của bản thân ngân hàng Hiện nay tại các NHTM, bộ phận huy động vốn từ dân
cư và doanh nghiệp, đặc biệt là huy động vốn từ dân cư ngày càng tăng về số lượng, tỷ trọng và đóng vai trò quan trọng với hoạt động ngân hàng Vốn huy động từ doanh nghiệp chủ yếu dưới dạng tiền gửi thanh toán Đối với huy động vốn từ dân cư, các hình thức huy động vốn ngày càng phong phú nhằm khai
thác triệt để nguồn vốn trong dân
- Huy động từ dân cư: Trên cơ cở hoạt động của mình NHTM hành huy động các nguồn tiền nhàn rỗi trong dân cư, thông qua các hình thức tiết kiệm, gửi thanh toán, ủy thác cho ngân hàng đầu tư Tuy nhiên thì nguồn tiền gửi trong dân cư bao giờ cũng chiếm một tỷ lệ đáng kể (nếu không nói là chủ yếu) của NHTM Nguồn này vừa có tính ổn định cao, thời hạn chủ yếu là trung và dài hạn, các khoản chi phí cho giao dịch đối với nguồn này thường thấp về số tương đối, khách hàng mang tính ổn định cao, ít biến động, rất thuận lợi cho việc hoạch định chính sách hoạt động của ngân hàng nói chung và chính sách huy động vốn nói riêng
- Huy động từ các doanh nghiệp, tổ chức xã hội: Các tổ chức xã hội, tổ chức
xã hội nghề nghiệp, thông thường thì các tổ chức này, không thường xuyên gửi tiền và ngân hàng với mục đích tiết kiệm mà chủ yếu là dùng vào việc thanh toán Trên cơ sở nắm bắt được chu kì sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp, chu kì hoạt động của các tổ chức, mà ngân hàng đề nghị, hoặc khuyến khích doanh nghiệp, các tổ chức gửi tiết kiệm theo một số quy định cụ thể mà hai bên thoả thuận, cũng như quy định hiện hành của pháp luật Một số doanh nghiệp Nhà Nước (doanh nghiệp quốc doanh) không được phép gửi tiết kiệm thì họ lại gửi dưới hình thức biến tướng của tiền gửi tiết kiệm là uỷ thác đầu tư
Trang 29- Huy động từ các ngân hàng và tổ chức tín dụng khác: Các tổ chức tín dụng khác trong khi tham gia hệ thống thanh toán có thể mở tài khoản tại NHTM Qua tài khoản này, NHTM có thể huy động vốn giống như đối với các
tổ chức kinh tế bình thường Ngoài các tổ chức tín dụng, NHNN cũng có thể là nơi cung cấp vốn cho NHTM dưới hình thức cho vay, nhưng chỉ áp trong trường hợp ngân hàng thương mại tạm thời thiếu hụt trong thanh toán cho khách hàng, hoặc trong trường hợp ngân hàng thiếu hụt dự trữ theo quy định của Ngân hàng Nhà Nước hoặc để đáp ứng những tình huống bất khả kháng Tỷ trọng của nguồn này thường thấp, tính ổn định không cao và không thường xuyên Các NHTM rất hạn chế sử dụng tới nguồn này
* Phân loại theo bản chất nghiệp vụ huy động vốn: Hình thức phân loại
này là hình thức chủ yếu được các ngân hàng thương mại sử dụng hiện nay Phân loại theo nghiệp vụ huy động vốn rõ ràng tạo sự thuận tiện cho ngân hàng khi tiến hành huy động Các chế độ báo cáo định kỳ NHNN áp dụng với các NHTM trong hoạt động huy động vốn ngày càng tiến gần với cách phân loại hình thức huy động vốn của các NHTM để các số liệu báo cáo đảm bảo độ chính xác cao hơn, phản ánh đúng tình hình huy động vốn tại các NHTM ở cấp
độ Chi nhánh Các hình thức huy động bao gồm:
- Huy động vốn qua nghiệp vụ nhận tiền gửi:
+ Tiền gửi không kỳ hạn (tiền gửi thanh toán): Phương thức huy động này thường thông qua việc mở tài khoản cá nhân, dịch vụ thanh toán, sử dụng thẻ ngân hàng Nguồn tiền này chủ yếu phục vụ nhu cầu thanh toán thường xuyên hay tiêu dùng hàng ngày của khách hàng của ngân hàng, nó có tính ổn định không cao, tuy nhiên các NHTM có thể dùng một phần của nguồn nay để tiến hành sử dụng theo mục đích của mình trên cơ sở tính toán hợp lý quy luật biến động của loại tiền gửi này Với mục đích chủ yếu khi gửi tiền là để sử dụng các dịch vụ ngân hàng nên mức lãi suất mà ngân hàng trả cho người gửi tiền là rất thấp, thậm chí không phải trả lãi Tỷ lệ huy động từ nguồn này sẽ là khá cao nếu ngân hàng
có các dịch vụ đa dạng, sản phẩm ngân hàng chất lượng cao, hệ thống mạng lưới rộng rãi đáp ứng tốt các nhu cầu của người gửi tiền
Trang 30+ Tiền gửi có kỳ hạn: Là các tiền gửi của các tổ chức kinh tế, cá nhân gửi vào ngân hàng và rút ra sau một thời hạn nhất định theo thoả thuận Nguồn tiền gửi này thường gắn với các tổ chức kinh tế có chu kỳ kinh doanh gần như xác định, thời gian thanh toán tiền ổn định, ít có sự biến động Phần tiền gửi này ngân hàng sử dụng dễ dàng nên mức lãi suất mà ngân hàng phải trả cũng cao hơn Người gửi tiền ngoài mục đích sử dụng các dịch vụ ngân hàng còn có mục đích kiếm lời Do đó, sự thay đổi lãi suất sẽ có tác động rất nhanh và rõ nét đối với nguồn vốn huy động của ngân hàng
+ Tiền gửi tiết kiệm: Đây là hình thức huy động đơn giản nhất của các NHTM Các NHTM có thể huy động tiền tiết kiệm của dân chúng dưới các hình thức tiền gửi tiết kiệm có kỳ hạn, không kỳ hạn với các mức lãi suất cố định hoặc thay đổi theo từng thời kỳ, lãi suất bậc thang… Hoạt động này đem lại cho ngân hàng nguồn vốn chủ yếu trong tổng nguồn vốn hoạt động Thông qua tình hình thực tế của ngân hàng, các chỉ số phát triển của nền kinh tế, nhu cầu sử dụng vốn hiện tại và dự báo trong tương lai, mà các NHTM có chính sách huy động vốn hợp lí, thường là công cụ lãi suất nhằm gây sự quan tâm của khách hàng, từ đó thu hút khách hàng tới gửi tiền vào ngân hàng với những mục tiêu khác nhau, tuỳ thuộc vào nhu cầu của khách gửi tiền và danh mục mà ngân hàng cung cấp
- Huy động qua nghiệp vụ đi vay: Hình thức này ngày càng chiếm vai trò quan trọng trong môi trường kinh doanh đầy biến động như hiện nay Các NHTM có thể vay từ nhiều nguồn như:
+ Vay từ các NHTM khác: Đó là các khoản vay thông thường mà các ngân hàng vay lẫn nhau trên thị trường liên ngân hàng hay thị trường tiền tệ Các ngân hàng thường xây dựng các mối quan hệ tốt để khi thiếu hụt vốn có thể vay lẫn nhau chứ không vay ngân hàng trung ương
+ Vay từ Ngân hàng trung ương: Khi ngân hàng thương mại xảy ra tình trạng thiếu hụt dự trữ bắt buộc hay mất khả năng thanh toán thì NHTW sẽ đóng vai trò là người cho vay cuối cùng NHTW cho vay dưới hình thức tái chiết
Trang 31khấu thương phiếu Các NHTM có thể mang các thương phiếu lên NHTW để vay Tuy nhiên việc vay này cũng có một số khó khăn do NHTW chỉ cho NHTM một hạn mức tái chiết khấu và việc cho vay này lại nằm trong định hướng của chính sách tài chính quốc gia
- Huy động qua phát hành giấy tờ có giá: Ngoài việc huy động vốn qua tài khoản tiền gửi thanh toán và tài khoản tiết kiệm, các tổ chức tín dụng nói chung và NHTM nói riêng, còn có thể huy động vốn bằng cách phát hành các loại giấy tờ có giá Giấy tờ có giá là chứng nhận của tổ chức tín dụng phát hành
để huy động vốn, trong đó xác nhận nghĩa vụ trả nợ một khoản tiền trong một thời hạn nhất định, điều kiện trả lãi và các điều khoản cam kết khác giữa tổ chức tín dụng và người mua Đây là phương thức huy động thông qua việc phát hành tín phiếu, trái phiếu, kỳ phiếu ngân hàng, chứng chỉ tiền gửi…
1.2 Quản lý nhà nước đối với các NHTM ở Việt Nam
1.2.1 Cơ quan quản lý nhà nước đối với các NHTM ở Việt Nam
* Luật các Tổ chức tín dụng (số 47/2010/QH12, Điều 158), quy định về
cơ quan quản lý nhà nước đối với hoạt động của các tổ chức tín dụng:
- Chính phủ thống nhất quản lý nhà nước về hoạt động ngân hàng trong phạm vi cả nước
- Ngân hàng Nhà nước chịu trách nhiệm trước Chính phủ thực hiện việc quản lý nhà nước về tổ chức, hoạt động của các tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài
- Bộ, cơ quan ngang bộ trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình có trách nhiệm quản lý nhà nước đối với tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài theo quy định của pháp luật
- Ủy ban nhân dân các cấp thực hiện việc quản lý nhà nước đối với tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài hoạt động tại địa phương theo quy định của pháp luật
Trang 32Như vậy chủ thể quản lý nhà nước ở đây là: Quốc hội, Chính phủ, NHTW, Bộ Tài chính, Ủy ban chứng khoán nhà nước, để quản lý, giám sát hoạt động tài chính - tiền tệ nhằm đảm bảo cho thị trường hoạt động được an toàn và phục vụ các mục tiêu kinh tế - xã hội của Nhà nước
Trong các cơ quan thực hiện quản lý nhà nước đối với NHTM thì NHNN đóng vai trò rất quan trọng và là chủ thể tác động trực tiếp nhất tới ngành Ngân hàng nói chung và hệ thống NHTM nói riêng
Trong phạm vi nghiên cứu của đề tài, chỉ giới hạn “Chủ thể quản lý nhà nước” đối với các NHTM là NHNN Do vậy, khi nghiên cứu về các nội dung quản lý của nhà nước đối với các NHTM, tác giả tập trung đi sâu nghiên cứu trên phương diện quản lý của NHNN đối với các NHTM
1.2.2 Chức năng và vai trò quản lý của NHNN
* Luật Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (số 46/2010/QH12, điều 2) quy định:
- Ngân hàng Nhà nước Việt Nam là cơ quan ngang bộ của Chính phủ, là Ngân hàng trung ương của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam
- Ngân hàng Nhà nước là pháp nhân, có vốn pháp định thuộc sở hữu nhà nước, có trụ sở chính tại Thủ đô Hà Nội
- Ngân hàng Nhà nước thực hiện chức năng quản lý nhà nước về tiền tệ, hoạt động ngân hàng và ngoại hối (sau đây gọi là tiền tệ và ngân hàng); thực hiện chức năng của Ngân hàng trung ương về phát hành tiền, ngân hàng của các tổ chức tín dụng và cung ứng dịch vụ tiền tệ cho Chính phủ
- Chức năng: NHNN có hai chức năng
+ Chức năng ngân hàng trung ương: Chức năng này gồm: Ngân hàng phát hành tiền; Ngân hàng của các TCTD; Cung ứng dịch vụ tiền tệ cho Chính phủ
+ Chức năng quản lý vĩ mô về tiền tệ và hoạt động ngân hàng: Thực hiện chính sách tiền tệ quốc gia; Đảm bảo an toàn hoạt động ngân hàng và hệ thống TCTD
Trang 33- Vai trò: NHNN có ba vai trò chính bao gồm:
+ Điều tiết nền kinh tế vĩ mô: Điều tiết bằng công cụ trực tiếp hoặc gián tiếp như lãi suất, tỷ lệ dự trữ bắt buộc; Phối hợp đồng bộ với các công cụ kinh
tế tài chính khác
+ Thiết lập và điều chỉnh cơ cấu nền kinh tế: Tham gia xây dựng chiến lược phát triển kinh tế xã hội của đất nước; Tài trợ tín dụng có thể kìm hãm hay thúc đẩy phát triển các ngành nghề kinh tế
+ Ổn định sức mua của đồng tiền quốc gia: Cân đối tổng cung và tổng cầu của toàn xã hội thông qua ổn định sức mua đối nội của đồng tiền quốc gia; Kiểm soát lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô
1.2.3 Khái niệm quản lý của NHNN đối với hoạt động huy động vốn của các NHTM
Quản lý nhà nước đối với hoạt động ngân hàng nói chung và hoạt động huy động vốn nói riêng là một trong những chức năng quan trọng nhất của Nhà nước Theo đó, NHNN là một cơ quan trong bộ máy nhà nước thông qua hệ thống những công cụ pháp luật và chính sách để điều chỉnh và tác động lên hoạt động huy động vốn của các NHTM nhằm phát huy và liên kết mọi tiềm lực của đất nước vào sự phát triển bền vững của hệ thống ngân hàng, đảm bảo các yêu cầu về tính tuân thủ và an toàn trong hoạt động huy động vốn của hệ thống ngân hàng, thực hiện tốt nhất đường lối kinh tế xã hội và định hướng chính trị của Đảng và Nhà nước đề ra cho từng giai đoạn trên cở sở nắm vững các quy luật khách quan, tình hình thực tế và trình độ phát triển của hệ thống ngân hàng qua mỗi thời kỳ
1.2.4 Sự cần thiết và mục tiêu quản lý của NHNN đối với hoạt động huy động vốn tại các ngân hàng thương mại
1.2.4.1 Sự cần thiết quản lý của NHNN đối với các ngân hàng thương mại
- Xuất phát từ một trong những nhiệm vụ của NHNN Việt Nam được quy định trong Luật NHNN Việt Nam (số 46/2010/QH12, điều 4): Hoạt động của Ngân hàng Nhà nước nhằm ổn định giá trị đồng tiền; bảo đảm an toàn hoạt
Trang 34động ngân hàng và hệ thống các tổ chức tín dụng; bảo đảm sự an toàn, hiệu quả của hệ thống thanh toán quốc gia; góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội theo định hướng xã hội chủ nghĩa
- Xuất phát từ vai trò của ngân hàng thương mại trong nền kinh tế: Hệ thống NHTM phát triển ổn định là cơ sở để một nền kinh tế phát triển bền vững Khi các NHTM hoạt động thiếu hiệu quả, không bảo đảm an toàn vốn sẽ kéo theo những hệ lụy lâu dài cho nền kinh tế
- Xuất phát từ đặc điểm hoạt động kinh doanh: Hoạt động NHTM là loại hình kinh doanh có độ rủi ro cao hơn nhiều so với các loại hình kinh doanh khác
và thường có ảnh hưởng sâu sắc, mang tính dây chuyền đối với nền kinh tế
1.2.4.2 Sự cần thiết quản lý của NHNN đối với hoạt động huy động vốn
Kể từ khi Luật Ngân hàng nhà nước và Luật các Tổ chức tín dụng được ban hành năm 2010 Hàng loạt các thông tư quy định về lãi suất huy động vốn được ban hành và thay đổi liên tục Bắt đầu từ năm 2011 cho đến nay, lãi suất huy động đã thay đổi rất nhiều lần, từ lãi suất 14% cho tất cả các kỳ hạn đã hạ dần xuống liên tục làm cho tình hình huy động vốn của các NHTM càng trở nên khó khăn Trong giai đoạn 2013 đến năm 2015 tình hình lãi suất huy động vốn có chiều hướng ổn định tuy nhiên việc tái cơ cấu hệ thống ngân hàng khiến cho một số ngân hàng TMCP ngoài quốc doanh chịu áp lực lớn về quy mô nguồn vốn Và hàng loạt các NHTM cũng đua nhau huy động vốn vượt trần lãi suất huy động Mặc dù các mức lãi suất huy động đã được NHNN quy định cụ thể đối với từng loại kỳ hạn, nhưng các NHTM vẫn tìm cách đi “cửa sau”, lách luật để vượt trần lãi suất bằng nhiều hình thức khác nhau Khách hàng gửi càng nhiều tiền sẽ được NHTM tăng lãi suất vượt mức so với quy định Ngoài ra, các NHTM còn thực hiện các chương trình khuyến mại rầm rộ khi khách hàng gửi tiền bằng việc bốc thăm trúng thưởng, tặng chuyến du lịch trọn gói, tặng quà tặng như xe ô tô, phiếu mua hàng, tặng vàng … Đây là một cách lách luật của các NHTM hiện nay Nhưng trong thực tế NHNN chưa có biện pháp giám sát chặt
Trang 35chẽ các chương trình cũng như chi phí khuyến mại mà các NHTM đưa ra Trong khi chi khuyến mại với lãi suất thực tế luôn vượt quá mức lãi suất đã quy định Tình trạng vượt trần lãi suất huy động không còn là chuyện mới, nhưng để xóa được tình trạng này lại rất khó, cho dù NHNN đã nhiều lần lên tiếng cảnh báo các NHTM
Vào tháng 9 năm 2015 Thống đốc NHNN ban hành Quyết định số 1938/QĐ-NHNN về mức lãi suất tối đa đối với tiền gửi bằng USD của tổ chức,
cá nhân tại TCTD, chi nhánh ngân hàng nước ngoài theo quy định tại Thông tư số 06/2014/TT-NHNN ngày 17/3/2014 Theo đó, TCTD, chi nhánh ngân hàng nước ngoài ấn định lãi suất huy động vốn bằng USD bao gồm cả khoản chi khuyến mại dưới mọi hình thức của các tổ chức (trừ TCTD, chi nhánh ngân hàng nước ngoài) tối đa là 0%/năm Điều này khiến cho các NHTM khó thu hút vốn ngoại tệ, khiến cho cuộc đua huy động vốn “nóng” lên Vì vậy, tình trạng “vượt” trần lãi suất lại có dấu hiệu gia tăng Các NHTM dù được coi là những “ông lớn” trong ngành Ngân hàng cũng đã đưa ra những sản phẩm nhằm mục đích lách trần lãi suất Ngược lại, các ngân hàng, nhất là những ngân hàng quy mô nhỏ cũng không thể từ chối khách hàng và ngồi nhìn khách hàng mang tiền gửi ở nơi khác, nên đã sẵn sàng trả thêm mức chênh lệch ngoài lãi suất thực ghi trên sổ tiết kiệm Kỳ hạn thỏa thuận được thực hiện phổ biến hiện vẫn là 1 - 3 tháng (trong ngắn hạn), và thoả thuận không kỳ hạn với các đối tượng huy động là khách hàng
tổ chức kinh tế
Tại thời điểm hiện nay khi NHNN tăng tỷ lệ dự trữ bắt buộc của các ngân hàng, thị trường chứng khoán với nhiều biến động theo xu hướng không tích cực, đồng thời thực hiện tái cơ cấu bằng việc sáp nhập và giải thể một số ngân hàng làm cho việc huy động vốn trong NHTM trở nên hết sức khó khăn, các ngân hàng tự cạnh tranh với nhau để thu hút khách hàng sử dụng các dịch vụ ngân hàng tại ngân hàng mình nhằm huy động lượng vốn tối đa Vì vậy nhất thiết phải có sự quản lý của NHNN để đảm bảo sự tuân thủ và tính cạnh tranh lành mạnh giữa các NHTM trong hoạt động huy động vốn
Trang 361.2.5 Nội dung quản lý của NHNN đối với hoạt động huy động vốn của các NHTM
Theo quá trình quản lý, NHNN Việt Nam thực hiện các chức năng quản
lý Nhà nước đối với hoạt động huy động vốn của các NHTM trên nhiều phương diện nhằm đảm bảo thực hiện đúng chức năng và thể hiện trách nhiệm đối với
cơ quan đại diện của Nhà nước trong quản lý về hoạt động ngân hàng, cụ thể như sau:
Từ đó có thể xây dựng nội dung QLNN của NHNN chi nhánh tỉnh với hoạt động huy động vốn tại các NHTM:Là việc thực hiện chức năng QLNN của NHNN về tiền tệ và hoạt động ngân hàng đối với các TCTD trong phạm vi địa giới hành chính theo ủy quyền của Thống đốc
1.2.5.1 Xây dựng chính sách, quy định pháp luật về hoạt động huy động vốn của các NHTM
Trong QLNN đối với hoạt động của các NHTM, về thẩm quyền thì NHNN Việt Nam được tham gia vào quá trình soạn thảo các luật, văn bản quy phạm pháp luật để trình Chính phủ và Chính phủ trình Quốc hội Với NHNN chi nhánh tỉnh được tham gia vào dự thảo các văn bản quy phạm Pháp luật, ban hành các văn bản hành chính trong chỉ đạo điều hành hoạt động của các NHTM
Về hệ thống các văn bản, quy định về hoạt động huy động vốn mà NHNN từ cấp Trung ương đến cấp tỉnh ban hành và hướng dẫn thực hiện tập trung vào hai lĩnh vực cơ bản:
- Các quy định về nghiệp vụ nhận tiền gửi: Hiện nay, pháp luật có khá
nhiều quy định liên quan đến hoạt động huy động vốn bằng hình thức nhận tiền gửi, nhưng lại quy định rải rác trong nhiều văn bản khác nhau Văn bản quy phạm có hiệu lực pháp lý cao nhất hiện nay có quy định về vấn đề này chính là Luật các TCTD năm 2010, Luật Ngân hàng Nhà nước năm 2010, Luật Bảo hiểm tiền gửi năm 2012, Bộ luật Dân sự 2005 Theo đó có những vấn đề liên quan đến hoạt động huy động vốn bằng nghiệp vụ nhận tiền gửi mà NHNN cần quản lý ở các NHTM là:
Trang 37+ Quy định về Nghiệp vụ nhận tiền gửi: Được quy định trong văn bản hợp nhất số 14/VBHN-NHNN ban hành ngày 21/5/2014 Theo đó Quy chế về tiền gửi tiết kiệm ban hành kèm theo Quyết định số 1160/2004/QĐ-NHNN ngày 13/9/2004 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước, có hiệu lực kể từ ngày
23 tháng 10 năm 2006 đã được hợp nhất văn bản để sử dụng một số nội dung còn hiệu lực phù hợp với luật TCTD mới ban hành Trong hoạt động này NHNN tiến hành quản lý hoạt động huy động vốn của các NHTM về đối tượng gửi tiền, phân loại kỳ hạn gửi, bao gồm những nội dung cơ bản sau:
• Huy động vốn theo kỳ hạn: Tiền gửi không kỳ hạn (tiền gửi thanh toán); Tiền gửi có kỳ hạn (tiền gửi tiết kiệm); Phát hành giấy tờ có giá
• Huy động vốn theo loại tiền: Huy động bằng tiền Việt Nam (VND), huy động bằng các loại ngoại tệ khác (USD, EUR…)
• Huy động vốn theo chủ thể kinh tế: Tiền gửi dân cư, Tiền gửi của các
tổ chức kinh tế, Tiền gửi Kho bạc nhà nước
+ Quy định về bảo hiểm tiền gửi: Nội dung này được thể hiện trong Luật bảo hiểm tiền gửi năm 2012, gồm:
• Mục đích của bảo hiểm tiền gửi: Bảo hiểm tiền gửi nhằm bảo vệ quyền
và lợi ích hợp pháp của người gửi tiền, góp phần duy trì sự ổn định của hệ thống các tổ chức tín dụng, bảo đảm sự phát triển an toàn, lành mạnh của hoạt động ngân hàng
• Nội dung của quy định mua bảo hiểm tiền gửi: Các cá nhân, tổ chức
khi gửi tiền bắt buộc phải mua bảo hiểm tiền gửi đó trong lần đầu tiên và nhận lại giấy chứng nhận tham gia bảo hiểm tiền gửi để làm cơ sở thực hiện trách nhiệm cũng như hưởng quyền lợi khi phát sinh
• Chủ thể quản lý nhà nước về bảo hiểm tiền gửi: (1) Chính phủ thống
nhất quản lý nhà nước về bảo hiểm tiền gửi (2) Ngân hàng Nhà nước Việt Nam chịu trách nhiệm trước Chính phủ thực hiện quản lý nhà nước về bảo hiểm tiền gửi (3) Bộ, cơ quan ngang bộ trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn
Trang 38của mình có trách nhiệm phối hợp với Ngân hàng Nhà nước Việt Nam thực hiện quản lý nhà nước về bảo hiểm tiền gửi (4) Ủy ban nhân dân các cấp trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình có trách nhiệm phối hợp với
các cơ quan quản lý nhà nước thực hiện quản lý nhà nước về bảo hiểm tiền gửi tại địa phương
• Trách nhiệm quản lý nhà nước về bảo hiểm tiền gửi của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam: (1) Ban hành hoặc trình cơ quan có thẩm quyền ban hành văn
bản quy phạm pháp luật về bảo hiểm tiền gửi (2) Trình Thủ tướng Chính phủ phê duyệt chiến lược phát triển bảo hiểm tiền gửi (3) Kiểm tra, thanh tra, xử lý
vi phạm và giải quyết khiếu nại, tố cáo về bảo hiểm tiền gửi (4) Trình Thủ tướng Chính phủ quyết định việc tham gia tổ chức quốc tế về bảo hiểm tiền gửi của tổ chức bảo hiểm tiền gửi (5) Ký kết thỏa thuận quốc tế hoặc trình cơ quan có thẩm quyền ký kết, gia nhập điều ước quốc tế về bảo hiểm tiền gửi
+ Quy định về Phòng chống rửa tiền: Rửa tiền được coi là một loại hình tội phạm nguy hiểm, gây nguy hại đến nền kinh tế của một quốc gia Hoạt động rửa tiền tồn tại dưới nhiều loại hình tinh vi nhằm biến những nguồn tiền bẩn, không rõ nguồn gốc được gửi vào ngân hàng nhằm hợp pháp hóa những đồng tiền đó để trở thành tiền sạch có tính hợp pháp Luật phòng chống rửa tiền được ban hành nhằm ngăn chặn hoạt động nói trên, tránh thất thoát dòng tiền và ảnh hưởng đến nền kinh tế của một quốc gia
Theo đó, luật quy định trách nhiệm của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam trong hoạt động chống rửa tiền như sau: (1) Chịu trách nhiệm trước Chính phủ thực hiện quản lý nhà nước về phòng, chống rửa tiền (2) Xây dựng và trình cấp có thẩm quyền ban hành hoặc ban hành theo thẩm quyền các văn bản quy phạm pháp luật, chiến lược, kế hoạch về phòng, chống rửa tiền (3) Tổ chức đầu mối theo quy định của Chính phủ để thu thập, xử lý và chuyển giao thông tin về hành vi rửa tiền cho các cơ quan nhà nước có thẩm quyền; yêu cầu tổ chức, cá nhân có liên quan cung cấp thông tin, hồ sơ về các giao dịch và các thông tin khác theo quy định của Luật này nhằm phục vụ việc phân tích, chuyển
Trang 39giao thông tin về hành vi rửa tiền (4) Thông báo kịp thời cho cơ quan phòng, chống khủng bố có thẩm quyền thông tin về hành vi rửa tiền nhằm tài trợ khủng bố theo quy định của Luật này và pháp luật về phòng, chống khủng bố (5) Thanh tra, giám sát hoạt động phòng, chống rửa tiền đối với đối tượng báo cáo thuộc trách nhiệm quản lý nhà nước về tiền tệ, hoạt động ngân hàng và ngoại hối (6) Hợp tác, trao đổi, cung cấp thông tin với các cơ quan có thẩm quyền trong hoạt động thanh tra, giám sát, điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án liên quan đến rửa tiền; trao đổi thông tin với cơ quan phòng, chống rửa tiền nước ngoài và các cơ quan, tổ chức nước ngoài khác theo quy định của pháp luật (7) Thực hiện hợp tác quốc tế trong phòng, chống rửa tiền theo thẩm quyền, làm đầu mối tham gia, triển khai thực hiện nghĩa vụ của Việt Nam với tư cách thành viên các tổ chức quốc tế về phòng, chống rửa tiền (8) Đào tạo đội ngũ cán bộ của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, cơ quan khác của Chính phủ, nhân viên của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài và cá nhân, tổ chức khác về phòng, chống rửa tiền (9) Tổ chức nghiên cứu, ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật và công nghệ thông tin vào công tác phòng, chống rửa tiền (10) Chủ trì, phối hợp với các cơ quan có liên quan phổ biến, giáo dục pháp luật về phòng, chống rửa tiền (11) Tổng hợp thông tin, định kỳ hàng năm báo cáo Chính phủ
về phòng, chống rửa tiền trên lãnh thổ Việt Nam
Theo trách nhiệm được quy định tại các luật, NHNN đã ban hành những văn bản hướng dẫn thực hiện như: Ban hành Thông tư 35/2013/NHNN ngày 31/12/2013 Hướng dẫn thực hiện một số quy định về Phòng chống rửa tiền Ban hành Thông tư 24/2014/TT-NHNN ngày 06/9/2014 Hướng dẫn một số nội dung về hoạt động Bảo hiểm tiền gửi
- Ban hành chính sách lãi suất huy động vốn: Lãi suất là công cụ điều
tiết căn bản của Nhà nước đối với hoạt động huy động vốn nhằm đảm bảo tính minh bạch và công bằng cho thị trường tài chính Ở Việt Nam, kể từ sau khi
Luật các tổ chức tín dụng năm 2010 có hiệu lực, Luật các TCTD (số 47/2010/QH12, điều 9) quy định: Tổ chức tín dụng được quyền ấn định và phải
Trang 40niêm yết công khai mức lãi suất huy động vốn, mức phí cung ứng dịch vụ trong hoạt động kinh doanh của tổ chức tín dụng Trong trường hợp hoạt động ngân hàng có diễn biến bất thường, để bảo đảm an toàn của hệ thống tổ chức tín dụng, Ngân hàng Nhà nước có quyền quy định cơ chế xác định phí, lãi suất trong hoạt động kinh doanh của tổ chức tín dụng Từ đó, NHNN đã ban hành khoảng 20 văn bản khác nhau về lãi suất huy động vốn để phù hợp với từng năm theo diễn biến chung của thị trường
Theo quy định hiện hành, Ngân hàng nhà nước quy định đối với 2 loại tiền gửi là VND và USD được các ngân hàng thương mại áp dụng theo
2 văn bản sau:
+ Về lãi suất đối với VND: Ngày 28/10/2014, Thống đốc NHNN ban
hành Quyết định số 2173/QĐ-NHNN về mức lãi suất tối đa đối với tiền gửi bằng VND của tổ chức, cá nhân tại TCTD, chi nhánh ngân hàng nước ngoài theo quy định tại Thông tư số 07/2014/TT-NHNN ngày 17/3/2014 Theo đó, lãi suất tối đa áp dụng đối với tiền gửi không kỳ hạn và có kỳ hạn dưới 1 tháng
là 1%/năm; lãi suất tối đa áp dụng đối với tiền gửi có kỳ hạn từ 1 tháng đến dưới 6 tháng là 5,5%/năm; lãi suất tối đa áp dụng đối với tiền gửi có kỳ hạn từ
1 tháng đến dưới 6 tháng tại Quỹ tín dụng nhân dân, Tổ chức tài chính vi mô là 6,0%/năm; lãi suất tiền gửi có kỳ hạn từ 6 tháng trở lên do TCTD, chi nhánh ngân hàng nước ngoài ấn định trên cơ sở cung - cầu vốn thị trường
+ Về lãi suất đối với USD: Ngày 25/09/2015, Thống đốc NHNN ban
hành Quyết định số 1938/QĐ-NHNN về mức lãi suất tối đa đối với tiền gửi bằng USD của tổ chức, cá nhân tại TCTD, chi nhánh ngân hàng nước ngoài theo quy định tại Thông tư số 06/2014/TT-NHNN ngày 17/3/2014 Theo đó, TCTD, chi nhánh ngân hàng nước ngoài ấn định lãi suất huy động vốn bằng USD bao gồm cả khoản chi khuyến mại dưới mọi hình thức của các tổ chức (trừ TCTD, chi nhánh ngân hàng nước ngoài) tối đa là 0%/năm; lãi suất tối đa
áp dụng đối với tiền gửi của cá nhân là 0,25%/năm