1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Công tác xã hội nhóm đối với người cai nghiện ma túy từ thực tiễn trung tâm tư vấn và điều trị nghiện ma tuý tỉnh lâm đồng

91 436 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 91
Dung lượng 1,25 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong những năm qua, Trung tâm Tư vấn và Điều trị nghiện ma tuý tỉnh Lâm Đồng rất chú trọng đến việc tổ chức các hoạt động hỗ trợ điều trị cho học viên nghiện ma túy về tâm lý, xã hội qu

Trang 1

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

BÙI THỊ LỆ QUYÊN

CÔNG TÁC XÃ HỘI NHÓM ĐỐI VỚI NGƯỜI

NGHIỆN MA TUÝ TỪ THỰC TIỄN TRUNG TÂM

TƯ VẤN VÀ ĐIỀU TRỊ NGHIỆN MA TUÝ

TỈNH LÂM ĐỒNG

Chuyên ngành: Công tác xã hội

Mã số: 60 90 01 01

LUẬN VĂN THẠC SĨ CÔNG TÁC XÃ HỘI

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC PGS.TS ĐỖ HẠNH NGA

HÀ NỘI, 2017

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của tôi.Dưới sự hướng dẫn của PGS.TS.Đỗ Hạnh Nga.Số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này là hoàn toàn trung thực, khách quan và chưa từng được sử dụng để bảo vệ một học vị nào

Tôi xin cam đoan các trích dẫn trong luận văn này đều đã được chỉ rõ nguồn gốc và chân thành cảm ơn sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này

Hà Nội, tháng 3 năm 2017

Tác giả

Bùi Thị Lệ Quyên

Trang 3

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

Chương 1 : NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CÔNG TÁC XÃ HỘI NHÓM ĐỐI VỚI NGƯỜI NGHIỆN MA TUÝ 13

1.1.Lý thuyết áp dụng trong nghiên cứu 13

1.2.Nghiện chất, nghiện ma tuý và người nghiện ma tuý 17

1.3.Một số vấn đề lý luận cơ bản về công tác xã hội nhóm với người nghiện ma tuý 20

1.4.Các yêu cầu về kiến thức, kỹ năng, thái độ đối với người làm công tác xã hội nhóm 23

1.5.Các yếu tố ảnh hưởng đến công tác xã hội nhóm đối với người cai nghiện ma túy 27

Chương 2 : THỰC TRẠNG CÔNG TÁC XÃ HỘI NHÓM ĐỐI VỚI NGƯỜI CAI NGHIỆN MA TUÝ TỪ THỰC TIỄN TRUNG TÂM TƯ VẤN VÀ ĐIỀU TRỊ NGHIỆN MA TUÝ TỈNH LÂM ĐỒNG 36

2.1.Vài nét về địa bàn nghiên cứu 36

2.2 Khách thể nghiên cứu và phương pháp nghiên cứu 38

2.3 Thực trạng công tác xã hội nhóm với người nghiện ma tuý 39

Chương 3 : CÔNG TÁC XÃ HỘI NHÓM TRONG VIỆC HỖ TRỢ NGƯỜI CAI NGHIỆN MA TÚY VÀ ĐỀ XUẤT MỘT SỐ BIỆN PHÁP THÚC ĐẨY HIỆU QUẢ CỘNG TÁC XÃ HỘI NHÓM ĐỐI VỚI NGƯỜI CAI NGHIỆN MA TUÝ TỪ THỰC TIỄN TRUNG TÂM TƯ VẤN VÀ ĐIỀU TRỊ NGHIỆN MA TUÝ TỈNH LÂM ĐỒNG 59

3.1 Áp dụng công tác xã hội nhóm trong việc hỗ trợ người cai nghiện ma túy tại Trung tâm tư vấn và điều trị nghiên ma túy tỉnh Lâm Đồng 59

3.2 Đề xuất một số biện pháp thúc đẩy hiệu quả công tác xã hội nhóm đối với người cai nghiện ma túy từ thực tiễn Trung tâm tư vấn và điều trị nghiện ma túy tỉnh Lâm Đồng 69

KẾT LUẬN 73

TÀI LIỆU THAM KHẢO 75

Trang 4

DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ

Biểu đồ 2.1.Độ tuổi của người nghiện ma tuý tại Trung tâm 40

Biểu đồ 2.2 Giới tính của người nghiện ma tuý tại Trung tâm 41

Biểu đồ 2.3 Địa bàn cư trú thường xuyên 41

Biểu đồ 2.4.Trình độ học vấn của người đang cai nghiện 42

Biểu đồ 2.5 Thời gian cai nghiện tại trung tâm 43

Biểu đồ 2.6 Loại ma tuý đã sử dụng 43

Biểu đồ 2.7 Tình trạng nghề nghiệp 44

Trang 5

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 2.1 Mức độ tham gia vào các hoạt động của người nghiện ma tuý 45

Bảng 2.2 Hình thức tham gia: 46

Bảng 2.3.Vai trò người điều hành nhóm hỗ trợ các thành viên 46

Bảng 2.4 Lợi ích từ nhóm 47

Bảng 2.5 Yếu tố tham gia nhóm 47

Bảng 2.6 Giai đoạn phát triển của nhóm (Nhóm cùng sở thích) 48

Bảng 2.7 Giai đoạn phát triển của nhóm (Nhóm đồng cảnh ngộ): 49

Bảng 2.8 Hiểu biết của người nghiện ma tuý về nhóm họ tham gia 50

Bảng 2.9 Dịch vụ cung cấp cho nhóm 50

Trang 6

1

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Theo báo cáo điều tra của Cục Phòng, chống tệ nạn xã hội (Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội) năm 1995 [2] cả nước có 68.277 người nghiện, tập trung chủ yếu ở các tỉnh miền núi phía Bắc nơi đồng bào có tập tục trồng và hút thuốc phiện Năm 2005, nghiện ma tuý đã lan rộng và xuất hiện ở cả 63/63 tỉnh, thành phố với số lượng là 128.288 người và năm 2015 là 200.134 người, tăng gần 3 lần so với năm 1995 Hiện nay ở nước ta, nghiệnma túy đã xuất hiện ở mọi thành phần xã hội, mọi lứa tuổi song chủ yếu ở lớp trẻ: 76% trong số người nghiện có độ tuổi dưới 35 tuổi; 60% số người sử dụng ma túy lần đầu ở độ tuổi dưới 25 tuổi, trong đó 8% sử dụng ma túy lần đầu ở độ tuổi dưới 18 tuổi

Tình trạng nghiện ma tuý đã trở thành hiểm hoạ không những ở Việt Nam mà trên toàn thế giới, gây ra nhiều tổn thất về nguồn lực xã hội như kinh tế, con người, rối loạn an ninh trật tự an toàn xã hội làm cho giá trị và chất lượng cuộc sống giảm sút

Ý thức được mối nguy hại mà ma tuý đã mang lại, Đảng và Nhà nước ta đã quan tâm chỉ đạo triển khai đồng bộ các giải pháp phòng chống ma tuý trên cả ba lĩnh vực “giảm cung, giảm cầu và giảm hại”, đặc biệt là công tác cai nghiện, phục hồi cho người nghiện ma tuý Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật liên quan đến công tác cai nghiện ma tuý không ngừng được sửa đổi, bổ sung hoàn thiện Với quan điểm mới xem nghiện ma tuý là bệnh mãn tính do rối loạn não bộ, điều trị nghiện ma tuý là một quá trình lâu dài bao gồm tổng thể các can thiệp hỗ trợ về y tế, tâm lý, xã hội làm thay đổi nhận thức, hành vi nhằm giảm tác hại của nghiện ma tuý

và giảm tình trạng sử dụng ma tuý trái phép

Trong những năm qua, Trung tâm Tư vấn và Điều trị nghiện ma tuý tỉnh Lâm Đồng rất chú trọng đến việc tổ chức các hoạt động hỗ trợ điều trị cho học viên nghiện ma túy về tâm lý, xã hội qua việc tổ chức nhiều hình thức sinh hoạt, tư vấn, giáo dục truyền thông cho học viên; tuyển dụng viên chức từ chuyên ngành công tác

xã hội, cử cán bộ tham gia các lớp tập huấn về kỹ năng công tác xã hội, nghiên cứu

và áp dụng quản lý trường hợp cho học viên cai nghiện

Trang 7

2

Trung tâm Tư vấn và Điều trị nghiện ma tuý tỉnh Lâm Đồng là một cơ sở đa chức năng ngày càng thu hút nhiều người đến cai nghiện và nhiều loại hình cai nghiện như tự nguyện, bắt buộc, đối tượng xã hội Để đáp ứng những đòi hỏi phát triển mới Trung tâm phải tổ chức nhiều loại hình hoạt động và để làm phong phú,

đa dạng trong việc áp dụng các phương pháp công tác xã hội đối với người nghiện

ma tuý Chính vì vậy đề tài “Công tác xã hội nhóm đối với người cai nghiện ma túy từ thực tiễn Trung tâm Tư vấn và Điều trị nghiện ma tuý tỉnh Lâm Đồng” là

một trong những yêu cầu bức thiết cần thực hiện tại Trung tâm hiện nay

Đề tài luận văn mà tôi lựa chọn đi sâu nghiên cứu những vấn đề lý luận và thực tiễn công tác xã hội nhóm với người cai nghiện ma túy, góp phần đưa ra một

số biện pháp nâng cao hiệu quả của các nội dung hoạt động nhóm nhằm hoàn thiện

hệ thống các phương pháp công tác xã hội trong trợ giúp người cai nghiện ma túy tại Trung tâm Tư vấn và Điều trị nghiện ma tuý tỉnh Lâm Đồng ngày càng tốt hơn, phù hợp với chức năng mới của Trung tâm

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

2.1 Trên thế giới:

Báo cáo tình hình ma túy thế giới 2015 của cơ quan Phòng chống ma túy và Tội phạm Liên hợp quốc (UNODC) [7] cho thấy, tỷ lệ phần trăm người sử dụng ma túy trên toàn cầu vẫn tiếp tục tăng, nhưng tỷ lệ phần trăm người được tiếp cận đến các dịch vụ điều trị nghiện ma túy và nhiễm HIV vẫn còn thấp

Giám đốc điều hành UNODC nhấn mạnh số lượng trường hợp tử vong có liên quan đến ma túy trên toàn cầu vẫn ở mức không thể chấp nhận được; diện tích canh tác

cây thuốc phiện trên toàn thế giới cao nhất từ cuối những năm 1930 tới nay

Nhiều nghiên cứu liên quan đến việc nghiện ma tuý và hỗ trợ người nghiện ma tuý Nghiên cứu lý giải tại sao người ta nghiện ma tuý:

Quan điểm cho rằng nghiện ma tuý có thể được coi là một “bệnh tự nhiễm”, dựa trên sự lựa chọ tự do của cá nhân dẫn tới lần thử sử dụng ma tuý bất hợp pháp lần đầu tiên, đã góp phần tạo nên sự kỳ thị và phân biệt đối xử đi đôi với tình trạng

lệ thuộc vào ma tuý Tuy nhiên, các bằng chứng khoa học cho thấy rằng sự phát triển của căn bệnh này là kết quả của một sự tương tác đa nhân tố phức tạp giữa

Trang 8

3

việc tiếp xúc với ma tuý lặp đi lặp lại và các nhân tố về sinh học và môi trường Những nỗ lực điều trị và phòng ngừa sử dụng ma tuý thông qua các biện pháp xử phạt hình sự hà khắc đối với những người sử dụng ma tuý đều thất bại bởi vì những biện pháp trừng phạt này không tính tới những sự thay đổi về thần kinh mà tình trạng lệ thuộc vào ma tuý gây ra đối với các tuyến động lực trong não bộ Mô hình tâm lý – xã hội – sinh học đã công nhận nghiện ma tuý là một vấn đề nhiều mặt đòi hỏi chuyên môn về nhiều ngành kiến thức Tài liệu liên tịch giữa Cơ quan phòng chống tội phạm Liên Hợp Quốc - Tổ chức Y tế Thế giới (UNODC-WHO)

Chương trình nghiên cứu của NIDA (các chuyên gia Viện Nghiên cứu Quốc gia Hoa Kỳ về Lạm dụng ma túy) [6] trải rộng từ các nghiên cứu cơ bản về não bộ,

hành vi của người nghiện cho đến các dịch vụ y tế

Một chính sách của Tổ chức Y tế Thế giới / Cơ quan Phòng chống Ma tuý và Tội phạm của Liên Hợp Quốc / Chương trình phòng, chống AIDS của Liên Hợp Quốc (WHO / UNODC / UNAIDS) quán triệt về việc giảm lây nhiễm HIV thông qua điều trị cai nghiện lệ thuộc vào ma tuý đã đề nghị đưa điều trị cai nghiện lệ thuộc vào các chương trình phòng ngừa HIV/AIDS cho những người tiêm chích ma tuý căn cứ vào khả năng giảm hành vi sử dụng ma tuý nói chung, tần suất tiêm chích và các mức độ của hành vi rủi ro đi kèm thông qua cai nghiện Các nghiên cứu cũng chỉ ra rằng cai nghiện trong nhà tù hay các biện pháp thay thế việc giam giữ trong nhà tù khác có thể làm giảm việc sử dụng ma tuý sau khi được thả và giảm nguy cơ tái phạm tội

Nghiên cứu hỗ trợ cho người nghiện ma tuý cai nghiện:

Nghiên cứu “Quản lý trường hợp đối với những đối tượng mới ra tù có sử

dụng ma túy” của Inciardi JA, Martin SS, Scarpitti FR [25] đã chỉ ra tính phù hợp

trong việc áp dụng công cụ quản lý trường hợp đối với những đối tượng này đăng trong tập san Quản lý trường hợp (1994) Ngoài việc chứng minh tính hiệu quả của

mô hình quản lý trường hợp, nghiên cứu cũng chỉ ra một số đặc điểm riêng đặc thù với nhóm đối tượng nghiện ma túy mới ra tù từ đó có những khuyến nghị trong việc vận dụng công cụ này để phù hợp với các đặc điểm riêng của nhóm đối tượng nghiện ma túy mới ra tù

Trang 9

4

Năm 1964, tại New York, bác sỹ Marie Nyswander và Vincent Dole nghiên cứu về thuốc điều trị cho những người nghiện heroin, họ phát hiện ra methadone giúp người bệnh của họ ngừng sử dụng heroin và hầu như không bị tăng liều khi dùng trong thời gian dài, do đó liệu pháp điều trị duy trì bằng thuốc methadone ra đời Tiếp sau đó các nước cũng bắt đầu sử dụng methadone trong điều trị giảm tác hại của nghiện chất: như Hồng Kông bắt đầu đưa methadone vào điều trị năm 1972, tiếp sau đó vào năm 1979 là Thái Lan Sau năm 2000, có rất nhiều nước đã áp dụng điều trị methadone, trong đó có nhiều nước ở khu vực Đông Nam Á như Indonexia (2003), Trung Quốc (4/2004), Malayxia (10/2005), Đài Loan (2006), Việt Nam (2008)…

Theo Cơ quan điều trị lạm dụng ma túy và rượu Hoa Kỳ (SAMHSA), điều trị thay thế hay còn gọi là điều trị hỗ trợ bằng thuốc là việc sử dụng thuốc, kết hợp với liệu pháp tư vấn và hành vi để điều trị toàn diện cho người sử dụng ma tuý Các nghiên cứu chỉ ra rằng khi điều trị rối loại nghiện ma túy, sự kết hợp giữa thuốc và liệu pháp hành vi là biện pháp điều trị hiệu quả và thành công nhất

Hầu hết các nghiên cứu liên quan đến vấn đề ma túy hiện nay trên thế giới tập trung vào nghiên cứu các tác động về mặt y tế, nghiên cứu các thuốc thay thế ma túy

2.2 Tại Việt Nam

Chủ trương của Đảng và Nhà nước: Trước đây, trong nhiều năm liền Đảng ta

đã xác định, tệ nạn ma tuý đang là hiểm hoạ của quốc gia, dân tộc; là một trong những nguyên nhân chủ yếu làm phát sinh tội phạm, tệ nạn xã hội và lây nhiễm HIV/AIDS Hậu quả, tác hại do tệ nạn ma tuý gây ra ảnh hưởng nghiêm trọng đến phát triển kinh tế - xã hội và an ninh trật tự của đất nước Vấn đề ma túy đã trở thành đề tài nóng của xã hội được xem là cuộc chiến cấp bách toàn xã hội

Tuy nhiên, tệ nạn ma tuý vẫn diễn biến phức tạp Nguồn ma tuý chủ yếu thẩm lậu từ nước ngoài vào nước ta vẫn chưa được ngăn chặn; ở trong nước, tình trạng tái trồng cây có chứa chất ma tuý ở một số địa phương chưa được xoá bỏ triệt để, còn nhiều tụ điểm phức tạp về ma tuý, tình hình tội phạm và tình trạng sử dụng trái phép chất ma tuý vẫn có xu hướng gia tăng, lan rộng tại một số địa bàn Kết quả cai nghiện chưa cao, kinh phí đầu tư cho phòng, chống ma tuý còn hạn chế

Trang 10

5

Trước hiện trạng như vậy, dưới sự lãnh đạo của Đảng, Quốc Hội và Chính phủ

đã tiến hành nhiều hoạt động và nghiên cứu kinh nghiệm của nhiều Quốc gia, để giải quyết bài toán về người nghiện ma túy theo quan điểm mới

Theo đề án đổi mới công tác cai nghiện, các nhà nghiên cứu đã xác định, nghiện ma túy là bệnh mãn tính do rối loạn của não bộ, điều trị nghiện ma túy (gọi tắt là điều trị nghiện) là một quá trình lâu dài bao gồm tổng thể các can thiệp hỗ trợ

về y tế, tâm lý, xã hội làm thay đổi nhận thức, hành vi nhằm giảm tác hại của nghiện ma túy và giảm tình trạng sử dụng ma túy trái phép

Luật pháp Việt Nam (Chính sách về ma tuý):

Hiến pháp 2013[24]và các văn bản quy phạm pháp luật khác đã có cái nhìn mới về người nghiện ma tuý Người nghiện ma tuý được đảm bảo các quyền về nhân thân, không bị bắt buộc đưa vào các cơ sở cai nghiện bằng một quyết định hành chính, được bảo vệ nếu chứng minh được mình không bị lệ thuộc bởi ma tuý Hiến pháp năm 2013 khẳng định: “Mọi người có quyền bất khả xâm phạm về thân thể, được pháp luật bảo hộ về sức khoẻ, danh dự và nhân phẩm; không bị tra tấn, bạo lực, truy bức, nhục hình hay bất kỳ hình thức đối xử nào khác xâm phạm thân thể, sức khỏe, xúc phạm danh dự, nhân phẩm” (Điều 20) Về bảo đảm các điều kiện sống cho người dân, đặc biệt là các cá nhân và nhóm yếu thế

Quyết định số 1001/QĐ-TTg ngày 27/6/2011 của Thủ tướng Chính phủ Phê duyệt Chiến lược Quốc gia phòng chống và kiểm soát ma tuý [19] ở Việt Nam đến năm 2020 và định hướng đến năm 2030 có giao nhiệm vụ, giải pháp, tổ chức thực hiện công tác cai nghiện: “Đa dạng hoá các mô hình cai nghiện, chữa trị cho người nghiện; tăng cường số lượng, nâng cao chất lượng cho cán bộ làm công tác cai nghiện, chữa trị và quản lý sau cai nghiện; tổ chức sơ kết, tổng kết các các mô hình hình cai nghiện có hiệu quả để nhân rộng, trong đó tập trung đẩy mạnh và nhân rộng mô hình cai nghiện dựa vào cộng đồng; mở rộng chương trình điều trị nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng thuốc methadon; nghiên cứu, áp dụng kinh nghiệm cai nghiện, chữa trị và quản lý sau cai của các nước vào Việt Nam Tổ chức thực hiện tốt công tác sau cai; tăng cường quan hệ phối hợp giữa trung tâm quản lý sau cai nghiện với chính quyền xã, phường, thị trấn nơi người nghiện cư trú

Trang 11

6

Chú trọng nghiên cứu, ứng dụng các loại thuốc hỗ trợ cắt cơn, cai nghiện, chữa trị cho người nghiện; kịp thời nghiên cứu, sản xuất các loại thuốc hỗ trợ cai nghiện, chữa trị cho người nghiện các loại ma tuý mới, nhất là ma tuý tổng hợp; tăng cường hợp với các tổ chức quốc tế, Chính phủ các nước để nghiên cứu, ứng dụng các tiến bộ khoa học vào việc cai nghiện, chữa trị ở Việt Nam

Bộ Y tế chủ trì nghiên cứu, hướng dẫn thực hiện các phương pháp, quy trình cai nghiện, chữa trị cho người nghiện ma tuý; nghiên cứu sản xuất, ứng dụng các thuốc hỗ trợ cho công tác này"

Luật xử lý vi phạm hành chính số 15/2012 chuyển quyền quyết định đưa người nghiện ma túy từ Uỷ ban nhân dân cấp quận, huyện và thành phố thuộc sang Tòa án nhân dân quận, huyện và thành phố thuộc tỉnh, đã từng bước tăng cường tính dân chủ và bảo đảm quyền con người khi xem xét một hành vi vi phạm pháp luật về

an ninh, trật tự, an toàn xã hội mà không phải là tội phạm, theo nguyên tắc việc ra các quyết định của tòa án chỉ căn cứ vào các quy định của pháp luật mà không chịu

sự chỉ đạo hoặc sức ép của cá nhân, tổ chức nào

Nghị định 221/2013/NĐ-CP ngày 30/12/2013 của Chính phủ quy định chế độ

áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc;

Quyết định số 2596/QĐ-TTg ngày 27/12/2013 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt Đề án đổi mới công tác cai nghiện ma túy ở Việt Nam đến năm

Văn bản số 2495/LĐTBXH-PCTNXH ngày 26/6/2015 của Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội về việc tổ chức điều trị chất dạng thuốc phiện bằng thuốc Methadone cho học viên cai nghiện tại các cơ sở cai nghiện;

Và gần đây nhất là Quyết định số 1640/QĐ-TTg ngày 18/8/2016 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt Quy hoạch mạng lưới cơ sở cai nghiện ma túy

Trang 12

7

đến năm 2020 và định hướng đến năm 2030 Với quan điểm khuyến khích cai nghiện tự nguyện, áp dụng cai nghiện bắt buộc đối với người có hành vi nguy hiểm cho xã hội Đa dạng các loại hình cơ sở cai nghiện để người nghiện ma tuý tiếp cận các dịch vụ theo nhu cầu

Có khá nhiều nghiên cứu đối với người nghiện ma túy tập trung vào giải quyết các vấn đề nghiện và chống tái nghiện: vấn đề việc làm cho người sau cai nghiện, nguyên nhân tái nghiện và các biện pháp hỗ trợ chống tái nghiện như liệu pháp tâm lý, thuốc điều trị thay thế Và không dừng lại ở đó, hiện nay đã có những

xu hướng nghiên cứu ứng dụng các phương pháp công tác xã hội vào đối tượng này cũng được thực hiện như nghiên cứu về quản lý trường hợp với người nghiện ma túy Riêng công tác xã hội nhóm đối với người nghiện ma túy hiện nay có nghiên cứu về thực tiễn sử dụng thuốc cai nghiện thay thế như Mathadone

Nghiên cứu“Đánh giá hiệu quả của chương trình thí điểm điều trị nghiện các

chất thuốc phiện bằng Methadone tại Hải Phòng và Tp Hồ Chí Minh, Việt Nam”

do tổ chức phi Chính phủ FHI 360 chịu trách nhiệm Mục tiêu của nghiên cứu này nhằm theo dõi và đánh giá các kết quả của chương trình điều trị thay thế nghiện các chất thuốc phiện bằng Methadone theo thời gian thông qua các nghiên cứu lặp lại tập trung vào: Sự thay đổi của tình trạng sử dụng ma túy, bao gồm hành vi sử dụng chung bơm kim tiêm; Sự thay đổi hành vi tình dục, bao gồm loại bạn tình và tỷ lệ dùng bao cao su; Nâng cao hành vi/sự tương tác xã hội bao gồm việc giảm sự tham gia vào các hoạt động tội phạm và sự thành công trong việc tái hòa nhập với xã hội; Sức khỏe thể chất và tâm thần của bệnh nhân; Và chất lượng cuộc sống

Đề tài “Nghiên cứu nguyên nhân tái sử dụng, tái nghiện ở người cai nghiện

ma túy” do ông Lê Trung Tuấn – Chủ tịch Hội đồng quản lý Viện nghiên cứu tâm

lý người sử dụng ma túy PSD (2016) nghiên cứu tại 7 Trung tâm Chữa bệnh Giáo dục và Lao động Xã hội thuộc 6 tỉnh, thành phố: Vĩnh Phúc, Hải Phòng, Phú Thọ, Hải Dương, Thanh Hóa và Nghệ An, với sự tham gia của 1329 học viên cai nghiện Nghiên cứu đã phân loại 4 nhóm nguyên nhân dẫn tới hành vi tái sử dụng, tái nghiện ở người cai nghiện ma túy: Đó là nhóm nguyên nhân từ các hình ảnh trực quan (những người liên quan trong quá trình sử dụng ma túy; các đồ vật, dụng cụ sử

Trang 13

8

dụng ma túy; các địa điểm từng sử dụng ma túy); Nhóm các cảm xúc; Nhóm tình huống và hành vi nguy cơ Nghiên cứu đã chỉ ra 6 kiến nghị nhằm giúp những con người lầm lỡ có thể đoạn tuyệt với ma túy vĩnh viễn Đề tài nghiên cứu mở ra những hướng đi mới cho việc điều trị nghiện cai nghiện ma túy tại Việt Nam cũng như các nước trên thế giới

Nghiên cứu “Chống tái nghiện ma túy bằng liệu pháp tâm lý” của Viện

nghiên cứu tâm lý người sử dụng ma túy (PSD) (2016), được Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Thành phố Hà Nội đánh giá là công trình nghiên cứu công phu, khoa học và có giá trị thực tiễn Từ một quy trình cai nghiện khép kín, Viện PSD là tổ chức khoa học tiên phong ở Việt Nam trong việc nghiên cứu chống tái nghiện bằng các phương pháp trị liệu tâm lý Phương pháp “Chống tái nghiện ma túy bằng trị liệu tâm lý” được Viện PSD xây dựng tập trung vào các liệu pháp tâm

lý nhằm giúp người sử dụng ma túy loại bỏ ham muốn sử dụng ma túy, thay đổi hành vi sử dụng ma túy sang những dạng hành vi lành mạnh mới - hành vi KHÔNG

sử dụng ma túy - được củng cố thường xuyên, mang tính bền vững

Nghiên cứu “Thanh niên nghiện ma túy nhân cách và hoàn cảnh xã hội” của

Phan Thị Mai Hương (2005) Nghiên cứu chỉ ra một số đặc điểm nhân cách và hoàn cảnh xã hội nổi trội của thanh niên nghiện ma tuý, mối quan hệ giữa các đặc điểm với hành vi nghiện Trong đó, vai trò gia đình được tác giả tìm hiểu ở khía cạnh môi trường gia đình gắn với vị thế kinh tế - xã hội có ảnh hưởng đến đặc điểm nhân cách và mức độ nghiện của thanh niên nghiện ma túy, cách quản lý của cha mẹ với con Trên cơ sở đó, việc ngăn ngừa hành vi nghiện ma tuý và việc cai nghiện ma tuý

ở thanh niên cần phải kết hợp giữa tri thức và biện pháp của tâm lý học Kết quả nghiên cứu đã định hướng về hướng giáo dục và ứng xử thích hợp với người nghiện

ma tuý cũng như góp phần ngăn ngừa việc lạm dụng ma tuý ở thanh thiếu niên

Luận văn “Quản lý trường hợp đối với người cai nghiện ma tuý từ thực tiễn

Trung tâm Tư vấn và Điều trị nghiện ma tuý tỉnh Lâm Đồng”của tác giả Lê Quốc

Cường (2016), đưa ra đánh giá về tính hiệu quả cách thức triển khai các nội dung quản lý trường hợp cho người cai nghiện ma túy tại Trung tâm

Luận văn “Công tác xã hội nhóm đối với người nghiện ma tuý từ thực tiễn cơ

sở điều trị Methadone huyện Tuần Giáo, tỉnh Điện Biên” của tác giả Phạm Văn Tú

(2016)

Trang 14

9

Luận văn “Công tác xã hội đối với người cai nghiện ma tuý từ thực tiễn Trung

tâm chữa bệnh - Giáo dục lao động xã hội và quản lý sau cai nghiện Thành phố Cần Thơ” của tác giả Bùi Thanh Nhuận (2016)

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Mục đích nghiên cứu

Tìm hiểu thực trạng công tác xã hội nhóm đối với người cai nghiện ma túy tại Trung tâm Tư vấn và Điều trị nghiện ma tuý tỉnh Lâm Đồng Trên cơ sở đó đưa ra các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả các hoạt động của công tác xã hội nhóm giúp cho việc hỗ trợ người cai nghiện tại Trung tâm Tư vấn và Điều trị nghiện ma tuý

tỉnh Lâm Đồng ngày một chất lượng và có chiều sâu hơn

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Nghiên cứu cơ sở lý luận về nghiện, nghiện ma tuý, người nghiện ma tuý và

lý luận về công tác xã hội nhóm đối với người nghiện ma tuý

- Khảo sát, đánh giá thực trạng công tác xã hội nhóm đối với người cai nghiện

ma tuý tại Trung tâm Tư vấn và Điều trị ma tuý Lâm Đồng

- Đề xuất một số biện pháp nâng cao hiệu quả công tác xã hội nhóm đối với người cai nghiện ma tuý tại Trung tâm Tư vấn và Điều trị nghiện ma tuý tỉnh Lâm Đồng

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Công tác xã hội nhóm đối với người cai nghiện ma túy tại Trung tâm Tư vấn

và Điều trị nghiện ma tuý tỉnh Lâm Đồng

4.2 Phạm vi nghiên cứu

- Về khách thể nghiên cứu: người cai nghiện ma tuý, nhân viên công tác xã hội và lãnh đạo của Trung tâm Tư vấn và Điều trị nghiện ma tuý tỉnh Lâm Đồng

- Về nội dung nghiên cứu: Nghiên cứu lý luận về công tác xã hội nhóm và

thực trạng công tác xã hội nhóm đối với người cai nghiện ma tuý

- Về địa bàn nghiên cứu: Nghiên cứu trên địa bàn Trung tâm Tư vấn và Điều trị nghiện ma tuý tỉnh Lâm Đồng

- Về thời gian nghiên cứu: Từ tháng 10/2016 đến tháng 3/2017

5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu

Trang 15

10

5.1 Phương pháp luận

Phương pháp luận sẽ cho chúng ta biết cách thức tiếp cận một vấn đề xã hội cụ thể, đó là hệ thống lý luận về phương pháp nghiên cứu, phương pháp nhận thức và cải tạo hiện thực.Tất cả những lý luận và nguyên lý nào có tác dụng định hướng, gợi

mở đều là những lý luận và nguyên lý có ý nghĩa phương pháp luận.Mọi nguyên lý thế giới quan đều có tác dụng ấy, chúng hợp thành nội dung của phương pháp luận Phương pháp luận sẽ định hướng cho nghiên cứu, quyết định hướng tiếp cận vấn đề của nghiên cứu.Vì thế nó có vai trò quan trọng, quyết định sự thành công của một nghiên cứu khoa học

Nghiên cứu này sử dụng phương pháp duy vật biện chứng: từ thực trạng công tác xã hội nhóm đối với người cai nghiện ma túy tại Trung tâm Tư vấn và Điều trị nghiện ma tuý tỉnh Lâm Đồng, rút ra được những lý luận từ đó đề xuất những biện pháp để nâng cao hiệu quả công tác xã hội nhóm đối với người cai nghiện ma túy tại Trung tâm

Nghiên cứu vấn đề lý luận trong hệ thống: nghiên cứu hệ thống những lý thuyết có liên quan trực tiếp đến đề tài, hệ thống các yếu tố có liên quan như các hoạt động công tác xã hội nhóm đối với người cai nghiện ma tại Trung tâm Tư vấn

và Điều trị nghiện ma tuý tỉnh Lâm Đồng; các yếu tố ảnh hưởng với khách thể này

5.2 Phương pháp nghiên cứu

- Phương pháp quan sát: là một phương pháp của nghiên cứu kinh nghiệm,

nó thường được sử dụng trong giai đoạn đầu tiên của quá trình nghiên cứu;là sự tri giác có định hướng, có tổ chức những đối tượng và hiện tượng của thế giới xung quanh

Quan sát trực tiếp thực tế các hoạt động truyền thông, tư vấn, giáo dục trị liệu, sinh hoạt trị liệu và lao động trị liệu đối với người cai nghiện ma tuý từ Trung tâm

Tư vấn và Điều trị nghiện ma tuý Lâm Đồng từ đó định hướng việc sinh hoạt nhóm phù hợp theo hệ thống lý thuyết về công tác xã hội nhóm

- Phương pháp điều tra bảng hỏi: là phương pháp dựa trên hình thức hỏi đáp

gián tiếp của người cai nghiện tại Trung tâm, dựa trên bảng các câu hỏi được soạn thảo trước, điều tra viên tiến hành phát bảng hỏi, hướng dẫn thống nhất cách trả lời

Trang 16

- Phương pháp phỏng vấn sâu: Phỏng vấn sâu là những cuộc đối thoại được

lặp đi lặp lại giữa nhà nghiên cứu và người cung cấp thông tin nhằm tìm hiểu thực trạng, những mong muốn nguyện vọng, kinh nghiệm và nhận thức của người cung cấp thông tin thông qua chính ngôn ngữ, thái độ của người ấy

Trong phạm vi đề tài nghiên cứu này tôi chủ yếu sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau:

Đề tài tiến hành phỏng vấn sâu đối với 05 người đang cai nghiện tại Trung tâm, 03 nhân viên phụ trách triển khai các hoạt động nhóm, 02 lãnh đạo của Trung tâm Tư vấn và Điều trị nghiện ma tuý tỉnh Lâm Đồng

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn

6.1 Ý nghĩa lý luận của luận văn

Các kết quả nghiên cứu của đề tài có thể làm tài liệu tham khảo hữu ích tại các

cơ sở nghiên cứu và đào tạo về công tác xã hội

Là nguồn tài liệu tham khảo cho các chuyên đề, khóa luận trong lĩnh vực công tác xã hội nhóm

Góp phần làm phong phú thêm hệ thống cơ sở dữ liệu cho việc phân tích lý luận về công tác xã hội nhóm với người cai nghiện ma tuý

6.2 Ý nghĩa thực tiễn

Các phát hiện và đề xuất của nghiên cứu sẽ góp phần nâng cao chất lượng cung cấp dịch vụ điều trị nghiện, nâng cao hiệu quả hoạt động công tác xã hội nhóm đối với người cai nghiện ma tuý Làm phong phú và hoàn thiện hơn các giải pháp

hỗ trợ người nghiện tại Trung tâm

Kết quả nghiên cứu sẽ giúp nâng cao nhận thức của xã hội, cộng đồng về vai trò của nghề Công tác xã hội, các nhân viên Công tác xã hội cũng như vai trò của hệ thống cung cấp dịch vụ trong hoạt động hỗ trợ người cai nghiện ma túy

Đề tài nghiên cứu có thể được sử dụng làm tài liệu tham khảo cho các nghiên cứu có lĩnh vực liên quan

7 Kết cấu của luận văn

Trang 17

- Chương 3: Công tác xã hội nhóm trong việc hỗ trợ người cai nghiện ma túy

và một số biện pháp nâng cao hiệu quả thực hiện công tác xã hội nhóm đối với người cai nghiện ma tuý từ thực tiễn Trung tâm Tư vấn và Điều trị nghiện ma tuý tỉnh Lâm Đồng

Trang 18

13

Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CÔNG TÁC XÃ HỘI NHÓM

ĐỐI VỚI NGƯỜI NGHIỆN MA TUÝ 1.1.Lý thuyết áp dụng trong nghiên cứu

1.1.1 Thuyết hệ thống

Thuyết hệ thống được phát triển vào những năm 30 và 40 của thế kỷ XX do nhà sinh học Ludvig Von Bertalanffy khởi xướng Một hệ thống được định nghĩa là tổng thể phức hợp gồm nhiều yếu tố liên quan với nhau và mỗi biến động trong một yếu tố nào đó đều tác động lên những yếu tố khác và cũng tác động lên toàn bộ hệ thống [10, tr.11]

Mọi tổ chức hữu cơ đều là những hệ thống, những hệ thống này được tạo nên

từ các tiểu hệ thống, đồng thời những tiểu hệ thống này cũng là một phần của hệ thống lớn hơn Nguyên tắc tiếp cận của thuyết này là cuộc sống bình thường của con người phụ thuộc vào môi trường xã hội hiện tại của họ và sự can thiệp vào bất

cứ điểm nào trong hệ thống cũng tạo ra sự thay đổi trong toàn bộ hệ thống [10, tr.8] Nhóm là một hệ thống các yếu tố tương tác lẫn nhau, gắn kết với nhau Nhóm chịu sự tác động của các hiện tượng khác trong nhóm như mục tiêu của nhóm, cơ cấu tổ chức nhóm, quy tắc, chuẩn mực, lãnh đạo nhóm

Các thành viên của nhóm tương tác, chia sẻ, tuỳ thuộc lẫn nhau để duy trì trật

tự và sự cân bằng như một thể thống nhất Ngoài ra các cá nhân của nhóm còn tồn tại trong một hệ thống: gia đình, hàng xóm, cộng đồng, trường học Việc can thiệp điều trị nghiện cần tác động tạo thay đổi đến tất cả các yếu tố từ môi trường xung quanh người nghiện và kể cả các yếu tố bên trong bản thân họ

1.1.2 Thuyết tâm lý – xã hội

Thuyết tâm lý – xã hội của E.Erikson, lý thuyết này chấp nhận sự tác động của yếu

tố xã hội và văn hoá lên quá trình phát triển con người Cái tôi phát triển trong suốt

các giai đoạn khác nhau của cuộc sống

Giả định rằng tất cả mọi người tuân theo trình tự của các giai đoạn phát triển

từ khi sinh ra qua cái chết Với 08 giai đoạn tâm lý – xã hội của phát triển con người (Giai đoạn 1: Tuổi bế bồng (0 đến 1 tuổi) xung đột tâm lý – xã hội là sự tin tưởng

Trang 19

14

đối lập với sự sợ hãi và hẫng hụt; Giai đoạn 2: Tuổi em bé (từ 2 đến 4 tuổi) xung đột tâm lý xã hội là tính độc lập, tự chủ đối lập với sự xấu hổ, nghi ngờ; Giai đoạn 3: Tuổi vui chơi (từ 4 đến 6 tuổi) xung đột tâm lý – xã hội là tính chủ động đối lập với sự tội lỗi, kém cỏi; Giai đoạn 4: Tuổi đến trường (từ 6 đến 12 tuổi) sự cần cù đối lập với sự tự ti; Giai đoạn 5: Vị thành niên (từ 12 đến 18 tuổi) cá tính đối lập với

sự hỗn độn về vai trò; Giai đoạn 6: Tuổi trưởng thành (từ 18 đến 45 tuổi) sự gần gũi đối lập với sự cô lập; Giai đoạn 7: Tuổi trung niên (từ 45 đến 65 tuổi) khả năng sáng tạo đối lập với sự ngừng trệ; Giai đoạn 8: Tuổi già (trên 65 tuổi) sự toàn vẹn đối lập với sự nối tiếc các cơ hội đã bỏ qua [10, tr.22])

Mỗi giai đoạn đều có những khủng hoảng hoặc xung đột tâm lý – xã hội nhất định, việc giải quyết những mâu thuẫn này giúp cá nhân phát triển lên giai đoạn tốt hơn, còn nếu không nó sẽ có thể để lại những hạn chế nhất định trong sự phát triển [10,tr.20]

Trong mỗi giai đoạn, con người đều có cả kinh nghiệm tốt và kinh nghiệm xấu Với việc giải quyết thành công những mâu thuẫn ở mỗi giai đoạn sẽ giúp họ thấy được thế mạnh và sự thất bại của mình để giải quyết vấn đề tương lai tốt hơn

và khắc phục được những yếu kém của bản thân mình [10,tr.21]

Qua nhóm , mỗi cá nhân sẽ nhìn thấy được điểm mạnh, nhìn lại kinh nghiệm sống của mình, trưởng thành hơn, tự tin hơn khi giải quyết các vấn đề Đồng thời nó giúp cho nhân viên xã hội nắm bắt tốt tâm lý của các thành viên tham gia nhóm trong điều trị cai nghiện ma tuý

Ví dụ như một số trẻ vị thành niên (giai đoạn 5- xung đột tâm lý – xã hội cá tính đối lập với sự hỗn độn về vai trò) do học làm người lớn chứng tỏ bản thân đã tập tành hút thuốc và sau đó nghiện hút, nghiện ma tuý – thất bại trong hình thành nhân cách chuẩn mực họ trở nên thiếu tự tin trong cuộc sống, không xác định được mục đích trong trương lai Ở giai đoạn này, họ có mối quan hệ chủ yếu với bạn cùng tuổi ở trường và các tổ chức xã hội nên nhân viên xã hội cần nắm bắt điểm này

để có thể tập hợp nhóm phù hợp nhằm giúp họ cởi mở hơn trong chia sẻ, hỗ trợ các biện pháp cai nghiện hiệu quả

Trang 20

Hành vi của thành viên trong nhóm đóng vai trò tác động, kích thích thành viên khác, tạo môi trường có điều kiện để giúp các thành viên trong nhóm thay đổi hành vi

Trong điều trị cai nghiện ma tuý với môi trường tập trung thì việc bắt chước hành vi của các thành viên tiến bộ rèn luyện sẽ có ảnh hưởng rất tốt đến việc duy trì

nề nếp, hình thành hành vi tốt của các nhóm, thành viên cai nghiện

và người này được đánh giá là thành viên tốt nhất để đạt được mục đích , mục tiêu của nhóm và phù hợp với mong muốn của mọi người về hành vi cư xử và chức năng mà anh sẽ phục vụ cho nhóm

Theo phong cách, Lewin, Lipit và White (1939) cho rằng có ba loại phong cách lãnh đạo, đó là phong cách độc tài, phong cách dân chủ và phong cách tự do

Theo phân quyền, Johnson and Johnson (1975) cho rằng quyền lãnh đạo được xác định là chương trình hoạt động để giúp nhóm đạt mục đích, mục tiêu và duy trì tốt tiến trình công việc.Nhà lãnh đạo cố gắng tìm ra các nhiệm vụ thiết yếu đối với nhóm, phân cấp các vai trò khác nhau cho các thành viên nhóm để giúp nhóm đạt được mục đích, mục tiêu đề ra trong những bối cảnh khác nhau

Trong sự hình thành và phát triển của nhóm không thể không nói tới vai trò của người lãnh đạo, đó là người có khả năng thuyết phục, tổ chức, huy động người

Trang 21

16

khác cùng tham gia hoạt động để cùng đạt mục đích chung Dựa vào thuyết này để chú ý đến việc lựa chọn các trưởng nhóm khi thành lập các nhóm trong công tác điều trị nghiện ma tuý tại đơn vị

1.1.5.Thuyết tương tác biểu trưng

Lý thuyết tương tác biểu trưng được phát triển vào những năm 1910-1920 ở châu Âu và Mỹ do các ông Mead, James, Dewey đề xướng Thuyết này giải thích: cái tôi của con người được tạo ra như thế nào và con người học cách tương tác (giao tiếp) với người khác như thế nào xã hội được tạo thành từ tương tác của vô số cá nhân, bất kỳ hành vi nào của con người cũng có vô số các ý nghĩa khác nhau, hành

vi và hoạt động của con người không những phụ thuộc mà còn thay đổi cùng với các ý nghĩa biểu trưng [10, tr.33]

Lý thuyết này đã đề cao cái tôi, giải thích cái tôi và cách để tạo ra hình ảnh cái tôi là bắt chước và qua nhân cách phản ánh

Ứng dụng lý thuyết này trong công tác xã hội nhóm: Các thành viên trong nhóm sẽ biết giá trị năng lực của mình thông qua những ý kiến, quan điểm của những người có vai trò, ảnh hưởng quan trọng trong nhóm Qua tương tác các thành viên có thể sẽ bắt chước những hành vi cư xử của những người có ảnh hưởng quan trọng trong nhóm

1.1.6 Thuyết nhân quyền (quyền con người)

Có 02 trường phái cơ bản đưa ra hai quan điểm trái ngược nhau về quyền con người Những người theo học thuyết về quyền tự nhiên cho rằng quyền con người là những gì bẩm sinh, vốn có mà mọi cá nhân sinh ra đều được hưởng, các quyền con người không phụ thuộc vào phong tục tập quán, truyền thống văn hoá hay ý chí của bất kỳ cá nhân, giai cấp, tầng lớp, tổ chức cộng đồng hay nhà nước nào Ngược lại học thuyết về các quyền pháp lý cho rằng các quyền con người không phải là những gì bẩm sinh, vốn có một cách tự nhiên mà nó phụ thuộc vào ý chí của tầng lớp thống trị và các yếu tố như phong tục, tập quán truyền thống văn hoá của các xã hội

Trong khi về hình thức hầu hết các văn kiện pháp luật của các quốc gia đều thể hiện các quyền con người là các quyền pháp lý thì trong Tuyên ngôn toàn thế

Trang 22

17

giới về quyền con người năm 1948 và một số văn kiện pháp luật ở một số quốc gia quyền con người được khẳng định rõ ràng là các quyền tự nhiên vốn có và không thể tước bỏ được của mọi cá nhân

“Mọi người có quyền bất khả xâm phạm về thân thể, được pháp luật bảo hộ

về sức khoẻ, danh dự và nhân phẩm”

“Tuy nhiên quyền con người chỉ có thể bị hạn chế theo quy định của luật trong trường hợp cần thiết vì lý do quốc phòng, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, đạo đức xã hội, sức khoẻ của công đồng” (Hiến pháp 2013)

Người nghiện ma tuý có quyền được chăm lo đời sống, chăm sóc sức khoẻ, hoà nhập cộng đồng

Ứng dụng lý thuyết này trong công tác xã hội nhóm các thành viên của nhóm

có quyền được quan tâm hướng dẫn, hỗ trợ các dịch vụ để có thể đảm bảo sức khoẻ hoà nhập cộng đồng, họ cần có sự trợ giúp của cộng đồng, mọi người xung quanh

- Các chất ma túy: heroin, cocain, ma túy tổng hợp

- Thuốc giảm đau chế phẩm tổng hợp họ thuốc phiện: codein, promedol, dolargan, morphin…

- Các loại thuộc họ cần sa: lá cần sa, nhựa cần sa, các chế phẩm khác của cần sa

- Rượu

- Các thuốc ngủ và an thần

1.2.1.2.Ảnh hưởng của các chất tác động tâm thần

Các chất tác động tâm thần cũng như các chất khác khi tác động lên cơ thể con người đều có 2 mặt:

- Tác dụng tích cực: hầu hết các chất tác động tâm thần được con người sử dụng với những mục đích tích cực khác nhau như an thần, giảm đau, gây ngủ, gây mê, kích thích, hoạt hóa…

Trang 23

18

- Tác hại các chất tác động tâm thần thì tùy từng loại, phải sau một thời gian sử dụng con người mới nhận biết được Ví dụ như: Thuốc phiện là một loại thần dược cũng phải sau 4-5 thế kỉ sử dụng mới nhận biết được tác hại của nó

1.2.1.3 Rối loạn tâm thần và hành vi do sử dụng chất

Có 2 dạng rối loạn tâm thần và hành vi liên quan đến sử dụng chất

- Rối loại do sử dụng chất: phụ thuộc và lạm dụng chất

- Rối loạn do các chất gây ra: ngộ độc, trạng thái cai, sảng, mất trí, mất nhớ, rối loạn cảm xúc, rối loạn lo âu, loạn thần, rối loạn chức năng tình dục, rối loạn giấc ngủ Đặc điểm chung của các chất tác động tâm thần là khi sử dụng các chất này dễ gây

ra một trạng thái phụ thuộc về tâm lý hoặc thể chất hoặc cả hai:

- Phụ thuộc về tâm lý: biểu hiện bằng ý muốn khẩn thiết phải dùng lại các chất tác động tâm thần để có một trạng thái tâm lý dễ chịu hay xóa đi một cảm giác khó chịu

- Phụ thuộc về thể chất: biểu hiện bằng một trạng thái thích ứng của cơ thể với các chất tác động tâm thần, bằng khả năng dung nạp chất và xuất hiện các triệu chứng

cơ thể của hội chứng cai Độ dung nạp biểu hiện bằng sự cần thiết phải tăng liều lượng ngày càng cao để đạt được hiệu quả mong muốn [18,tr.127]

1.2.2.Nghiện ma tuý

Theo tổ chức Y tế thế giới WHO: Nghiện ma tuý là tình trạng nhiễm độc mãn tính hay chu kỳ do sử dụng nhiều lần chất ma tuý, với những đặc điểm cơ bản là: Không cưỡng được lại nhu cầu sử dụng ma tuý và sẽ tìm mọi cách để có ma tuý;

Liều dùng tăng dần;

Lệ thuộc ma tuý cả về thể chất và tâm thần (lệ thuộc kép)

Theo Hiệp hội Tâm lý học Hoa kỳ (APA): Nghiện là các hội chứng gồm tăng liều ma túy để có tác dụng mong muốn, sử dụng ma túy để giảm hội chứng thiếu thuốc, không có khả năng giảm liều hoặc dừng ngừng sử dụng ma túy, và tiếp tục

sử dụng ma túy mặc dù biết nó có hại cho bản thân và những người khác

Viện nghiên cứu quốc gia Hoa kỳ về lạm dụng ma túy (NIDA): Nghiện là một bệnh não mạn tính, tái phát làm cho người nghiện buộc phải tìm và sử dụng ma túy, bất chấp các hậu quả đối với họ và những người xung quanh [5]

Trang 24

19

Theo Quyết định số 2596/QĐ-TTg ngày 27/12/2013 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án đổi mới công tác cai nghiện ma túy ở Việt Nam đến năm 2020: Nghiện ma túy là bệnh mãn tính do rối loạn của não bộ, điều trị nghiện ma túy là một quá trình lâu dài bao gồm tổng thể các can thiệp hỗ trợ về y tế, tâm lý, xã hội làm thay đổi nhận thức, hành vi nhằm giảm tác hại của nghiện ma túy và giảm tình trạng sử dụng ma túy trái phép[20]

1.2.3.Người nghiện ma tuý

Theo Luật xử lý vi phạm hành chính số 15/2012/QH13 ngày 20 tháng 6 năm

2012 và Luật phòng chống ma tuý số 23/2000/QH10 của Quốc hội thì: Người nghiện ma túy là người sử dụng chất ma tuý, thuốc gây nghiện, thuốc hướng thần và

bị lệ thuộc vào các chất này [12]

- Chất ma tuý là các chất gây nghiện, chất hướng thần được quy định trong các danh mục do Chính phủ ban hành

- Chất gây nghiện là chất kích thích hoặc ức chế thần kinh, dễ gây tình trạng nghiện đối với người sử dụng

- Chất hướng thần là chất kích thích, ức chế thần kinh hoặc gây ảo giác, nếu

sử dụng nhiều lần có thể dẫn tới tình trạng nghiện đối với người sử dụng

- Thuốc gây nghiện, thuốc hướng thần là các loại thuốc chữa bệnh được quy định trong các danh mục do Bộ Y tế ban hành, có chứa các chất chất gây nghiện, chất hướng thần [13]

Người nghiện ma tuý là người thường xuyên sử dụng một chất gây độc, có hiện tượng phụ thuộc thuốc hay nói cách khác đó là trạng thái nhiễm độc chu kỳ hay mãn tính do các chất ma tuý gây nên cho người sử dụng, có nghĩa là lệ thuộc thuốc về mặt thể chất vả tinh thần

Cơ chế gây nghiện[5]: Não người nghiện có sự khác biệt về sinh học (số lượng

và hoạt tính các thụ thể thần kinh, hoạt tính dẫn truyền thần kinh và sự thay đổi sinh hóa não, phương thức đáp ứng với các tác động môi trường, biểu hiện gen)

Não được cấu tạo với một hệ thống làm cho việc lặp lại các hoạt động thiết yếu sinh học (ăn uống, tình dục, chăm sóc ) gắn liền với cảm nhận: hài lòng, thỏa mãn, khoái cảm (Reward pathway).Việc thực hiện các hoạt động này được cho là thiết yếu, quan trọng cho sự tồn tại của cá thể

Trang 25

20

Hệ dẫn truyền Dopamin (có chức năng gây khoái cảm, hài lòng; làm thoả mãn, tạo động cơ; gây hấp dẫn, thúc ép) bắt nguồn từ trung não phóng chiếu theo 4 con đường và tác động với hệ dẫn truyền thần kinh khác (đặc biệt hệ serotomin )

Hệ dopamin nhắc nhở các hoạt động thiết yếu cho tồn tại cá thể; Tạo động cơ để tận hưởng hiệu quả và tiếp tục hoạt động

Khi sử dụng ma tuý,các chất ma tuý đều tác động lên hệ Dopamin :

- Các chất kích thần (meth, cocain ) tác động trực tiếp làm tăng lượng dopamine sẵn có (tăng giải phóng/ức chế tái hấp thu)

- Các chất dạng thuốc phiện (DTP), canabis, Alcohol tác động gián tiếp làm tăng lượng dopamine (thông qua các hệ dẫn truyền thần kinh khác: serotonin, GABA)

- Chất dạng thuốc phiện tác động lên hệ thống thụ thể đặc hiệu của nó

Chất ma túy kích thích gây tràn ngập, khoái cảm, thoải mái mạnh hơn thông thường hàng nghìn lần, làm cho người sử dụng dễ sử dụng lặp lại trở thành lạm dụng

Não điều chỉnh trước sự tràn ngập Dopamine do chất ma tuý gây ra:

+ Giảm bớt lượng thụ thể sẵn có ở synapse

+ Giảm sự giải phóng Dopamine từ tế bào trước synapse

Khi Dopamine giảm sẽ gây ra cảm giác khó chịu, bất hạnh, đau khổ (miserable): Hội chứng cai xuất hiện

Người sử dụng cần dùng lại chất ma tuý để đưa hoạt động Dopamine trở lại bình thường

Khi nghiện bộ não người nghiện bị lầm tưởng rằng ma túy là thiết yếu, sống còn cho cuộc sống Bộ não người nghiện đã được cấu trúc lại và người nghiện cần dùng chất ma tuý để có được cảm giác bình thường như trước khi dùng chất ma tuý

1.3.Một số vấn đề lý luận cơ bản về công tác xã hội nhóm với người nghiện ma tuý

1.3.1 Khái niệm công tác xã hội

Công tác xã hội là nghề nghiệp tham gia vào giải quyết vấn đề liên quan tới môi quan hệ của con người và thúc đẩy sự thay đổi xã hội, tăng cường sự trao

Trang 26

21

quyền và giải phóng quyền lực nhằm năng cao chất lượng sống của con người CTXH sử dụng các học thuyết về hành vi con người và các hệ thống xã hội vào can thiệp sự tương tác của con người với môi trường sự sống (IASSW và IFSW:7/2011)

Theo Zastrow (1996): Công tác xã hội là hoạt động nghề nghiệp giúp đỡ các

cá nhân, nhóm hay cộng đồng để nhằm nâng cao hay khôi phục tiềm năng của họ để giúp họ thực hiện chức năng xã hội và tạo ra các điều kiện xã hội phù hợp với các mục tiêu của họ

Công tác xã hội là một nghề, một hoạt động chuyên nghiệp nhằm trợ giúp các cá nhân, gia đình và cộng đồng nâng cao năng lực đáp ứng nhu cầu và tăng cường chức năng xã hội, đồng thời thúc đẩy môi trường xã hội về chính sách, nguồn lực và dịch vụ nhằm giúp cá nhân, gia đình và cộng đồng giải quyết và phòng ngừa các vấn đề xã hội góp phần đảm bảo an sinh xã hội (Bùi Thị Xuân Mai, 2010)

Thực hành công tác xã hội bao gồm việc ứng dụng chuyên nghiệp các giá trị nguyên tắc, kĩ thuật công tác xã hội vào thực hiện một hay nhiều mục đích sau: giúp

đỡ con người đạt được các dịch vụ, cung cấp tham vấn và tâm lí liệu pháp cho các

cá nhân, gia đình, nhóm; giúp đỡ các cộng đồng hay nhóm, cung cấp hay nâng cao các dịch vụ xã hội và dịch vụ sức khỏe và pháp lí [8,tr.7]

1.3.2 Khái niệm công tác xã hội nhóm

CTXH nhóm là phương pháp trong CTXH nhằm giúp tăng cường, củng cố chức năng xã hội của cá nhân thông qua các hoạt động nhóm và khả năng ứng phó với các vấn đề của cá nhân, có nghĩa là:

- Nhóm nhỏ thân chủ có cùng vấn đề giống nhau hoặc có liên quan đến vấn đề

- Các mục tiêu xã hội được thiết lập bởi NVXH trong kế hoạch hỗ trợ thân chủ (cá nhân, nhóm, cộng đồng) thay đổi hành vui, thái độ, niềm tin nhằm giúp thân chủ tăng cường năng lực đối phó, chức năng xã hội thông qua các kinh nghiệm của nhóm có mục đích nhằm để giải quyết vấn đề của mình và thỏa mãn nhu cầu [11]

Konopka (1963) xác định phương pháp công tác xã hội nhóm là phương pháp của ngành công tác xã hội giúp những cá nhân tăng cường chức năng của họ thông qua các kinh nghiệm của nhóm mục tiêu và khắc phục một cách hiệu quả hơn các vấn

Trang 27

22

đề của cá nhân, nhóm và cộng đồng Công tác xã hội nhóm tạo một bối cảnh trong đó các cá nhân hỗ trợ lẫn nhau, làm cho cá nhân và nhóm có khả năng ảnh hưởng và thay đổi các vấn đề của cá nhân, của nhóm và tổ chức Nó mang tính chất chức năng

xã hội nhiều hơn và chính điều này làm cho nó khác hơn với nhóm trị liệu vì nhóm trị liệu chú trọng nhiều hơn các nhu cầu cảm xúc và tiến trình tâm lí

Mục đích của CTXH là giúp thân chủ (cá nhân) hay hệ thống thân chủ (nhóm hay cộng đồng) thỏa mãn nhu cầu giải quyết vấn đề, tiến tới tự giúp và đóng trọn vẹn vai trò xã hội của mình

Trong phương pháp nhóm, đối tượng tác động vào là toàn nhóm, là mối tương tác giữa các nhóm viên, là mục đích bầu không khí sinh hoạt nhóm CTXH nhóm là sử dụng cơ cấu nhóm và năng động trong nội bộ nhóm để đem đến những thay đổi về nhận thức, niềm tin và hành vi Các thành viên nhóm chia sẻ kinh nghiệm và sử dụng nguồn lực của cá nhân và của nhóm để giải quyết vấn đề của họ [15,tr.24]

1.3.3 Khái niệm công tác xã hội nhóm với người nghiện ma tuý

Từ các khái niệm về Công tác xã hội nhóm, người nghiện ma tuý ta có thể rút ra khái quát Công tác xã hội nhóm đối với người nghiện ma túy là phương pháp trong CTXH ứng dụng những kiến thức, kĩ năng liên quan đến tâm lí nhóm nhằm giúp người nghiện tăng cường, củng cố chức năng xã hội của cá nhân thông qua các hoạt động nhóm và khả năng ứng phó với các vấn đề của cá nhân làm thay đổi nhận thức, hành vi nhằm để giải quyết vấn đề của mình giảm tác hại của nghiện ma túy

và giảm tình trạng sử dụng ma túy trái phép

Nhân viên công tác xã hội làm việc trực tiếp với nhóm người nghiện ma tuý bằng việc áp dụng các kiến thức làm việc nhóm, trong quá trinh tương tác với nhau

và với môi trường xung quanh giúp các thành viên năng cao năng lực và tham gia giải quyết các vấn đề nảy sinh, các vấn đề thiết yếu nảy sinh trong cuộc sống hằng ngày của họ Qua nhóm người nghiện có thể trang bị cho mình những kiến thức, kỹ năng cũng như kinh nghiệm để có thể ứng phó với các vấn đề có thể gặp phải khi hoà nhập cộng đồng từ đó có thể tự tin giải quyết vấn đề gặp phải, hạn chế nguy cơ tái nghiện

Trang 28

Các giai đoạn phát triển nhóm:

Có 5 giai đoạn phát triển: Giai đoạn hình thành, Giai đoạn bão tố, Giai đoạn

ổn định, Giai đoạn trưởng thành và Giai đoạn kết thúc Mỗi giai đoạn có những đặc điểm biểu hiện riêng

* Giai đoạn hình thành:

- Nhóm chưa phải là một nhóm đúng nghĩa, mà là tập hợp các cá nhân

- Nhiều cá nhân còn e dè phòng vệ, ít chia sẻ, thiếu thống nhất, thăm dò nhau

- Cá nhân muốn khẳng định cá tính trong nhóm và muốn gây ấn tượng

- Sự tham gia bị hạn chế vì các cá nhân còn bận rộn làm quen với môi trường xung quanh với hướng dẫn viên và làm quen nhau

- Các cá nhân bắt tay vào công việc trước mắt và thảo luận mục đích của công việc

- Nhóm tham gia vào xây dựng những quy định cơ bản mà sau này sẽ dựa vào đó để ra quyết định và hoạt động tương lai

* Giai đoạn bão tố (cạnh tranh và liên kết):

- Nhóm chú trọng vào công việc, mối quan hệ bắt đầu tăng lên

- Nhóm viên tìm cách đóng góp cho nhóm và thích nghi

- Bắt đầu xuất hiện các mâu thuẫn nội bộ, thiếu thống nhất trong nhóm, có cạnh trang để thiết lập vị trí và vai trò của mình trong nhóm Tranh cãi có thể xảy

ra, cá nhân bộc lộ cá tính và ý đồ riêng

- Hình thành các quy định, phương pháp làm việc mới và mối liên kết giữa các thành viên tương hợp (cơ cấu phi chính thức)

- Vai trò lãnh đạo là giúp các thành viên tương tác tích cực, tái lập sự cân bằng, giải quyết mâu thuẫn Nếu thành công, các thành viên sẽ gắn bó tin tưởng

Trang 29

24

nhau hơn, nhóm tiến đến bối cảnh mới trong đó mục tiêu, thủ tục và quy chuẩn mới thực tế hơn

* Giai đoạn ổn định (Lập quy chuẩn mới):

- Thực hiện qua bầu không khí nhóm thân thiện, lắng nghe nhau, chấp nhận nhóm và chấp nhận tính khí nhau

- Phát triển liên kết nhóm, trong đó các quy chuẩn và các cách tiến hành được thiết lập

- Nhóm viên đồng hóa mình với nhóm Lòng trung thành với nhóm được phát triển và phấn đấu để duy trì lòng trung thành này

- Phát triển tinh thần nhóm, sự hài hòa trở thành một yếu tố quan trọng

* Giai đoạn trưởng thành (Phát huy tối đa năng suất|):

- Thể hiện qua sự trưởng thành toàn diện và năng suất tối đa

- Chỉ có thể đạt được bằng sự hoàn tất tốt đẹp ba giai đoạn trên

- Nhận các vai trò để hoàn thành hoạt động của nhóm, lúc này họ biết cách phối hợp với nhau

- Các vai trò trở nên linh hoạt và theo chức năng, nhiệm vụ Thành viên cảm thấy tự do biểu hiện nhân cách của mình

- Năng lượng của nhóm tập trung vào các công việc đề ra

- Thông tin nội bộ cao và bình đẳng

- Xuất hiện những cách nhìn và cách giải quyết mới

* Giai đoạn kết thúc

- Nhóm hoàn thành mục tiêu công tác

- Nhóm viên cảm thấy khó khăn phải chia tay, chống lại sự tan rã

- Nếu nhóm muốn duy trì hoạt động thì phải đề ra mục tiêu mới [1, tr.30] Tiến trình công tác xã hội nhóm đối với người đang sử dụng ma túy dựa trên

Trang 30

25

từng bước như: Lựa chọn nhóm viên; Số lượng nhóm viên phù hợp; Thành phần nhóm viên; Cách thức làm việc; Mục tiêu cụ thể; Xây dựng Nội quy/quy tắc hoạt động nhóm và chọn Thủ lĩnh nhóm (Nhóm trưởng)

Bước 2: Nhóm bắt đầu hoạt động

- Tìm hiểu mối quan hệ cá nhân, giới thiệu các thành viên trong nhóm

- Tổ chức các hoạt động can thiệp

- Thu hút sự tham gia và hỗ trợ các thành viên hoàn thành mục tiêu

- Làm việc với các thành viên có tư tưởng đối kháng

- Giám sát, đánh giá tiến độ của nhóm

Bước 4: Lượng giá – kết thúc hoạt động nhóm

- Các mục tiêu đã đạt được

- Sự thay đổi tích cực từ các cá nhân

- Vấn đề của nhóm đã được giải quyết

- Kết thúc nhóm hoặc xây dựng nhóm mới

Ngoài kiến thức về chuyên ngành công tác xã hội nói chung và công tác xã hội nhóm nói riêng thì nhân viên xã hội làm việc nhóm còn cần tới những kiến thực liên quan khác phục vụ cho công việc của mình như sau:

- Hiểu biết về chính sách pháp luật, các chương trình xã hội, dịch vụ hỗ trợ

- Kiến thức về hành vi con người và môi trường xã hội

- Những kiến thức về ma túy, đặc điểm tâm lý của người nghiện, về cơ chế nghiện và các lý thuyết lý giải hành vi nghiện

- Hiểu biết về tâm lí con người

- Kiến thức bổ trợ khác như kinh tế, pháp luật, tin học

Trang 31

26

- Hiểu biết về các vấn đề của thân chủ và gia đình của họ cũng như nguyên nhân dẫn đến các vấn đề này

1.4.2.Về kỹ năng

Nhân viên làm công tác xã hội nhóm cần có những kỹ năng cụ thể

- Kỹ năng thiết lập mối quan hệ với đối tượng

- Kỹ năng giải quyết mâu thuẫn

- Kỹ năng đánh giá và nhận diện vấn đề

- Kỹ năng giao tiếp

- Kỹ năng tư vấn

- Kỹ năng điều hành nhóm

- Kỹ năng thu thập, phân tích thông tin

- Kỹ năng diễn giải vấn đề, thuyết trình trước đám đông

- Kỹ năng giúp đối tượng tìm hiểu nguyên nhân của vấn đề

- Kỹ năng đưa ra các giải pháp và dự đoán hiệu quả sử dụng

- Kỹ năng kiểm soát cảm xúc cá nhân như giữ được bình tĩnh, tự tin trước mọi tình huống

- Kỹ năng làm việc với nhiều tổ chức khác nhau, kể cả những tổ chức chính phủ và phi chính phủ

- Kỹ năng biện hộ cho nhu cầu của đối tượng

- Kỹ năng truyền thông

- Kỹ năng lắng nghe tích cực (bao gồm cả quan sát và chú ý)

- Kỹ năng xây dựng sự tự tin cho thân chủ

1.4.3.Về thái độ

Công tác xã hội là hoạt động chịu ảnh hưởng rất nhiều của mối quan hệ tương tác với con người do vậy hoạt động của nghề này mang tính chất khá phức tạp Chất lượng và hiệu quả của thực hành công tác xã hội được quyết định một phần bởi phẩm chất đạo đức của người nhân viên xã hội Có thể kể tới những phẩm chất, thái độ sau đây cần có ở người làm công tác xã hội nói chung cũng như ở

người làm công tác xã hội nhóm nói riêng:

- Trước hết nhân viên xã hội cần sự cảm thông và tình yêu thương của con người, sự sẵn sàng giúp đỡ, tôn trọng người khác Chính vì vậy, người ta cho rằng

Trang 32

- Trung thực là một yếu tố đạo đức quan trọng mà nhân viên xã hội cần có Đây là phẩm chất nhân cách mà Carl Rogers cho rằng không thể thiếu được ở người tham gia vào hoạt động trợ giúp

- Thái độ cởi mở cũng được xem như một yếu tố nhân cách cần có đối với nhân viên xã hội bởi đó là yếu tố tiên quyết tạo nên niềm tin và sự chia sẻ từ phía đối tượng đối với nhân viên xã hội

- Nhân viên xã hội cần có tính kiên trì, nhẫn nại Trong hoạt động trợ giúp không phải lúc nào cũng thành công như mong muốn

- Nhân viên xã hội cũng cần là con người luôn có quan điểm cấp tiến cả hoạt động hướng tới sự thay đổi, tránh bảo thủ và luôn hướng tới sự thay đổi tích cực cho

cá nhân, gia đình và cộng đồng

- Nhân viên xã hội cũng cần là người tỏ ra cương trực, sẵn sàng từ chối sự gian lận trong người quản lí Đây là một phẩm chất mà hội các nhà công tác xã hội chuyên nghiệp cho là rất cần thiết ở nhân viên xã hội chuyên nghiệp

1.5.Các yếu tố ảnh hưởng đến công tác xã hội nhóm đối với người cai nghiện ma túy

1.5.1.Gia đình

Gia đình có ảnh hưởng rất lớn đến sự hình thành và phát triển tâm lý cũng như nhân cách của mỗi thành viên Những thành viên mà cha mẹ có mối qua hệ phức tạp, ly thân, ly hôn không quan tâm đến con hoặc bù đắp tình cảm bằng cách cung cấp nhiều tiền có xu hướng nghiện cao hơn Những gia đình điều kiện kinh tế khá giả mà nuông chiều thái quá để cho con em mình có điều kiện giao du, chơi bời quá trớn cũng rất dễ bị mắc nghiện Sự buông lỏng quản lý, ít quan tâm đến con cái hay nuông chiều thái quá và không khí gia đình không bình thường là một trong những

Trang 33

28

nguyên nhân chính dẫn đến đứa trẻ tiếp cận với ma tuý và trở thành kẻ nghiện ma tuý.Bố mẹ Phải làm gương tốt trong lối sống, cách ứng xử.Nếu gia đình hoà thuận

sẽ tạo sự ổn định về mặt tâm lý, hình thành nhân cách tốt

Sự tham gia của gia đình trong suốt quá trình điều trị là vô cùng quan trọng, góp phần mang lại thành công của quá trình điều trị nghiện Gia đình cần giúp đỡ người cai nghiện trong việc giải quyết các vấn đề nảy sinh trong cuộc sống và trong thời gian chữa bệnh

Khi gia đình có người sử dụng ma túy, họ thường bị phê phán, xa lánh của cộng đồng Những thái độ, hành vi kỳ thị của xã hội sẽ làm tăng thêm xung đột trong gia đình, thậm chí có thể gây ra thù hận lẫn nhau (cha mẹ ân hận đã đẻ ra đứa con không nghe lời cha mẹ, những đứa con được cho là hư đốn…, bố mẹ trách cứ lẫn nhau là không chăm sóc dạy bảo con…; con cái đổ lỗi cho cha mẹ đã không quan tâm tới họ chỉ mải mê việc kiếm tiền…) Bản thân những người có con em nghiện ma tuý họ gặp nhiều áp lực đau khổ và mệt mỏi thậm chí thất vọng muốn buông bỏ, vì thế họ rất cần có sự định hướng, động viên, hỗ trợ từ bên ngoài để có thể giúp người nghiện duy trì điều trị nghiện tốt hơn

Gia đình có người nghiện không muốn công khai, và dấu tình trạng nghiện của thành viên trong gia đình (bố mẹ, vợ chồng hay con cái) Nên việc tham gia sinh hoạt vào nhóm do các tổ chức, cơ quan đứng ra tổ chức thành lập cho các thành viên (người nghiện) khó thực hiện

Gia đình lo ngại con em mình tham gia nhóm có điều kiện tiếp xúc và thân quen kết bạn với những người bạn nghiện, bạn xấu và đổ lỗi cho những người bạn

rủ rê chứ không phải do bản thân người thân của mình

Gia đình nên là chỗ dựa tinh thần, động viên khích lệ giúp người thân vượt lên những khó khăn, hướng tới tương lại tốt đẹp

1.5.2.Xã hội

Trước đây xã hội quan niệm nghiện ma tuý là tệ nạn xã hội nên khi cộng đồng có những người nghiện ma túy họ thường im lặng, né tránh với vấn đề này làm ảnh hưởng tiêu cực đến chất lượng chăm sóc giành cho người nghiện ma tuý (ví

Trang 34

29

dụ nhân viên y tế, nhân viên xã hội, người có chức trách trong cộng đồng thiếu sự nhiệt tình, không sẵn sàng cung cấp dịch vụ, biện hộ chính sách cho người nghiện)

Nguồn lực của tổ chức nhóm liên quan đến khả năng tài chính, các trang thiết

bị làm việc, thời gian Nếu nguồn tài chính dồi dào, trang thiết bị làm việc hiện đại, thời gian không quá gấp rút thì hiệu quả làm việc của nhóm sẽ tăng lên.Xã hội thiếu quan tâm từ đó khó huy động được nguồn lực hỗ trợ cho các nhóm hoạt động

Ngày nay với quan niệm nghiện ma tuý là bệnh của não bộ, là bệnh nên xã hội cũng đã có những cách nhìn nhận khác với đối tượng nghiện ma tuý Công tác

hỗ trợ cho người nghiện cho các nhóm người nghiện được xã hội hoá, được nhận sự

hỗ trợ từ nhiều cơ quan, tổ chức đơn vị và cá nhân hỗ trợ (ví dụ nhóm đồng đẳng, nhóm sau cai nghiện ) Người nghiện đi cai nghiện được tham gia học tập, học nghề (chương trình dạy nghề nông thôn) năng cao năng lực bản thân

Một số địa phương còn tạo sân chơi, câu lạc bộ dành cho những người nghiện nhằm giảm tác hại của việc sử dụng ma tuý

1.5.3.Môi trường sống

Trong gia đình bố mẹ không quan tâm đến con cái hoặc nuông chiều thái quá dẫn đến sự quản lý con cái bị buông lỏng thì với sự nhạy cảm của thanh thiếu niên những tật xấu rất dễ xâm nhập Đầu tiên là mải chơi, đua đòi, lười học, học kém, bỏ học dẫn đến bị lôi kéo nghiện ma tuý.Đa số đối tượng thanh thiếu niên nghiện đều thất học, hoặc có trình độ học vấn thấp, phần lớn trong số họ mới có trình độ tiểu học, số ít đang học dở trung học cơ sở, hoặc đang học đại học, cao đẳng và trung học chuyên nghiệp Đa số họ không được đào tạo về nghề nghiệp, bởi vậy cơ hội để tham gia vào quá trình phát triển xã hội là rất nhỏ Không nghề nghiệp, hoặc nghề nghiệp không ổn định, có địa vị thấp trong xã hội, thu nhập thấp và không ổn định, không kiếm đủ tiền cho cuộc sống độc lập của mình, vì thế họ có cảm giác thua thiệt về tâm lý, dễ sinh chán chường, bất mãn và sinh ra nghiện ngập

Với lớp trẻ thiếu ''sân chơi'' lành mạnh, nếu muốn giải trí các em phải tìm đến các địa điểm tự do mà ở đó vì lợi nhuận, hay đã có sẵn những kẻ xấu và một số

kẻ không từ một thủ đoạn nào để lôi kéo các em sa ngã đi vào con đường nghiện ma tuý

Trang 35

30

Đặc biệt, công tác tuyên truyền, giáo dục về tác hại hậu quả của ma túy nhằm tạo phong trào quần chúng rộng khắp trong phòng ngừa, lên án, ngăn chặn, đấu tranh chống tội phạm ma túy và tệ nạn ma túy chưa thường xuyên và đủ mạnh, chưa sâu, chưa đến được nhiều với từng gia đình, từng cộng đồng thôn xóm, làng, xã khu phố và đến tới từng công dân Tuyên truyền nặng về hình thức mà chưa gắn với hoạt động thực tế Do vậy, vẫn còn không ít người chưa nhận thức và hiểu biết được tác hại của ma túy

Tại các địa phương có trồng cây thuốc phiện, hay những nơi có nhiều tụ điểm mua bán ma tuý sẽ ảnh hưởng đến việc hoạt động của các nhóm cai nghiện

ngoài cộng đồng

1.5.4.Năng lực của nhân viên công tác xã hội

Có thể nói đến một số khả năng cần có ở nhân viên công tác xã hội như nhạy bén nắm bắt các cơ hội thực hiện các hoạt động; Chủ động phối hợp và liên kết trong công việc; Tổ chức và kiểm soát quá trình thực hiện; Có khả năng lường trước những rủi ro có thể xảy ra; Lắng nghe phản hồi để điều chỉnh hợp lí và kịp thời về nội dung phương pháp; Tỉnh táo, khách quan; Có khả năng đại diện cho gia đình, nhóm trước các nhà cung cấp dịch vụ, thúc đẩy các cam kết, thúc đẩy sự bình đẳng

và công bằng liên quan đến người nghiện

Nếu nhân viên xã hội có năng lực tốt thì trong tiến trình thực hiện công tác

xã hội nhóm các vấn đề, mâu thuẫn được giải quyết tốt, thì sẽ hạn chế được xung đột Ngược lại nếu người điều hành nhóm yếu, quá trình truyền thông không đảm bảo, xung đột nhiều thì hiệu quả làm việc của nhóm sẽ bị ảnh hưởng rất lớn

Khi nhân viên xã hội ở những vị trí khác nhau thì họ thực hiện các vai trò khác nhau, tùy theo chức năng và nhóm đối tượng họ làm việc

Theo Feyerico (1973) người nhân viên xã hội có những vai trò sau đây:

- Vai trò là người vận động nguồn lực: Là người trợ giúp đối tượng (cá nhân, gia đình, cộng đồng,….) tìm kiếm nguồn lực (nội lực, ngoại lực) cho giải quyết vấn

đề Nguồn lực có thể bao gồm về con người, về cơ sở vật chất, về tài chính, kĩ thuật thông tin, sự ủng hộ về chính sách, chính trị và quan điểm,…

Trang 36

31

- Vai trò là người kết nối - còn gọi là trung gian, nhân viên xã hội là người

có được những thông tin về các dịch vụ, chính sách và giới thiệu cho đối tượng các chính sách, dịch vụ, nguồn tài nguyên thiên nhiên đang sẵn có từ các cá nhân, cơ quan tổ chức để họ tiếp cận với những nguồn lực, chính sách, tài chính, kỹ thuật để

có thêm sức mạnh trong giải quyết vấn đề

- Vai trò là người biện hộ: là người bảo vệ quyền lợi cho đối tượng để họ được hưởng những dịch vụ, chính sách quyền lợi của họ đặc biệt trong những trường hợp họ bị từ chối những dịch vụ, chính sách lẽ ra họ được hưởng

- Vai trò là người được vận động/ hoạt động xã hội: nhà vận động xã hội để biện hộ, bảo vệ quyền lợi cho đối tượng, cổ vũ tuyên truyền

- Vai trò là người giáo dục: là người cung cấp kiến thức kĩ năng liên quan tới vấn đề họ cần giải quyết, nâng cao năng lực nhóm qua tập huấn, giáo dục cộng đồng

để học có hiểu biết, tự tin và tự mình nhìn nhận vấn đề đánh giá vấn đề phân tích và tìm kiếm nguồn lực cho vấn đề cần giải quyết

- Vai trò người tạo sự thay đổi: nhân viên xã hội được xem như người tạo ra

sự thay đổi cho cá nhân, giúp họ thay đổi suy nghĩ, thay đổi hành vi tiêu cực hướng tới những suy nghĩ và hành vi tốt đẹp hơn

- Vai trò là người tham vấn, tư vấn: nhân viên xã hội tham gia như người cung cấp thông tin tư vấn cho các đối tượng cần có những thông tin Vai trò là người tham vấn: nhân viên xã hội trợ giúp gia đình và cá nhân mình tự xem xét vấn

đề, và tự thay đổi

- Vai trò là người trợ giúp xây dựng và thực hiện kế hoạch cộng đồng: trên

cơ sở nhu cầu của cộng đồng đã được cộng đồng xác định, nhân viên xã hội giúp cộng đồng xây dựng chương trình hành động phù hợp với điều kiện hoàn cảnh, tiềm năng của cộng đồng để giải quyết vấn đề cộng đồng

- Vai trò là người cung cấp các dịch vụ trợ giúp cho những cá nhân, gia đình không có khả năng tự đáp ứng được đầy đủ nhu cầu của mình và giải quyết vấn đề

- Vai trò là người nghiên cứu và xử lí dữ liệu: Với vai trò này, nhân viên xã hội nhiều khí phải nghiên cứu, thu thập thông tin và phân tích thông tin dựa trên cơ

sở đó tư vấn cho đối tượng để họ đưa ra quyết định đúng đắn

Trang 37

32

- Vai trò là người quản lí hành chính: nhân viên xã hội khi này thực hiện những công việc cần thiết cho sự quản lí các hoạt động, các chương trình, lên kế hoạch và triển khai kế hoạch các chương trình dịch vụ cho nhóm

- Người tìm hiểu, khám phá cộng đồng nhân viên xã hội đi vào cộng đồng để xác định vấn đề của cộng đồng để đưa ra kế hoạch trợ giúp Theo dõi, giới thiệu chuyển giao những dịch vụ cần thiết cho các nhóm đối tượng trong cộng đồng [9, tr.57]

Nhân viên xã hội và việc sử dụng ảnh hưởng của mình thông qua mối quan

hệ NVXH và thân chủ được coi là rất quan trọng trong quá trình trợ giúp, Combs (1982) cho rằng chính là bản thân, tính cách người NVXH được xem như công cụ trợ giúp thân chủ thau đổi và giải quyết vấn đề đáp ứng nhu cầu của các nhân để giúp họ thay đổi thông qua mối quan hệ trợ giúp

Do vậy trong quá trình làm việc, nhân viên xã hội cần nhận thức chính xác

về bản thân:

1 Tự nhận thức về giá trị: người trợ giúp cần nhận thức về các giá trị bản thân Tôi là ai? Điều gì là quan trọng với tôi? Ý nghĩa xã hội của những gì tôi làm là gì? Niềm tin của tôi về con người là gì? Điều này hỗ trợ người trợ giúp nâng cao nhận thức trong việc trung thực với bản thân và hành vi thái độ phi đạo đức đối với thân chủ như lợi dụng thân chủ trong quá trình trợ giúp

2 Nhận thức về kinh nghiệm văn hóa NVXH cần nhận thức về đặc điểm, kinh nghiệm của các nhóm người, cộng đồng mà mình làm việc

3 Khả năng phân tích cảm xúc của chính mình Việc người trợ giúp có khả năng nhận thức và kiểm soát cảm xúc của bản thân sẽ giúp cho họ tránh sự phóng chiếu cảm xúc và nhu cầu của bản thân lên thân chủ

4 Khả năng thể hiện như hình mẫu và tạo ảnh hưởng Những người trợ giúp thể hiện chức năng như các hình mẫu và có ảnh hưởng xã hội đến thân chủ, cho dù họ muốn hay không (Meichenbaum,1977)

5 Lòng vị tha Người trợ giúp có hiệu quả là người rất quan tâm đến người khác và vấn đề của họ

6 Ý thức đạo đức mạnh Niềm tin cá nhân vào con người và xã hội có vai trò như sự hướng dẫn về mặt ý thức cho hành động

Trang 38

33

7 Trách nhiệm liên quan ý thức trách nhiệm với bản thân mình và với người cần trợ giúp Nó được hiểu một cách chung nhất là những hành vi trợ giúp có trách nhiệm [8,tr.61]

1.5.5.Kiến thức

“Cơ sở tri thức của công tác xã hội là một chủ đề toàn diện bao gồm các sự kiện và lý thuyết, kỹ năng và thái độ mà chúng cần thiết cho việc thực hành công tác xã hội hiệu quả và tối ưu” Alfred và Daniel (2002)

Nhân viên công tác xã hội có kiến thức chuyên môn tốt và am hiểu các kiến thức khác có liên quan sẽ thuận lợi và thành công hơn trong hỗ trợ nhóm

Nhân viên xã hội nắm được chính sách pháp luật, dịch vụ hỗ trợ thì sẽ giúp các thành viên nhóm kết nối được cá nguồn lực hỗ trợ tốt nhu cầu các thành viên của nhóm từ đó duy trì nhóm tốt hơn

Nhân viên xã hội nắm được kiến thức về ma tuý, đặc điểm tâm lý người nghiện, hiểu biết về tâm lý con người thì trong quá trình can thiệp hỗ trợ nhóm sẽ tránh được các rủi ro có thể gây nên, kịp thời và linh hoạt trong tham gia giải quyết xung đột nhóm

Nhận thức, hiểu biết của các thành viên nhóm cũng là một trong những yếu

tố ảnh hưởng đến hoạt động của nhóm Các mâu thuẩn, xung đột xảy dễ xảy ra khi giữa các thành viên có sự chênh lệnh quá lớn về hiểu biết (trình độ học vấn, hiểu biết các vấn đề dẫn đến tranh cãi, bất đồng ý kiến) Nếu người điều hành nhóm có kiến thức rộng sẽ góp phần giải quyết tốt nhiều tình huống có nguy cơ đem đến xung đột

Ngoài ra các tổ chức, lãnh đạo thiếu hiểu biết về các lĩnh vực trợ giúp người yếu thế mà đặc biệt là người nghiện ma tuý họ xem đó là tệ nạn xã hội nên không cần quan tâm hoặc thiếu quan tâm thì sẽ ảnh hưởng đến việc tạo điều kiện hỗ trợ về kinh phí cho nhóm hoạt động hay không thể thành lập nhóm hoạt động Hoặc

có thực hiện nhưng không quan tâm dẫn đến hoạt động thiếu hiệu quả

1.5.6.Kỹ năng

Kỹ năng lắng nghe tích cực: lắng nghe một cách hiệu quả giúp tiết kiệm thời gian, hạn chế rắc rối, thắt chặt hơn các mối quan hệ Ngoài việc nhằm thu thập thông tin cho quá trình trợ giúp, còn là công cụ quan trọng cho việc tạo nên môi trường tương tác giữa nhân viên xã hội và nhóm, lắng nghe tích cực, đòi hỏi sự tập

Trang 39

34

trung chú ý để nghe những gì thành viên “nói” bằng lời và cả không lời, những gì

họ quan tâm, đòi hỏi chú ý quan sát tất cả những hành vi, dáng vẻ bề ngoài, đặc biệt

là những sắc thái tình cảm thể hiện qua cử chỉ, điệu bộ, nét mặt của các thành viên nhóm với thái độ cởi mở Quan sát tinh tế sẽ giúp nhân viên xã hội nhận biết được những cảm xúc, suy nghĩ cũng như kịp thời hỗ trợ nhóm trong quá trình sinh hoạt nhóm [22, tr.40]

Kỹ năng xây dựng sự tự tin: giúp thân chủ tin vào năng lực của bản thân họ

là một việc vô cùng quan trọng Khi thân chủ tự tin vào khả năng bản thân thì học

sẽ có sự tự tin để thực hiện thành công một công việc nào đó Mọi người sẽ dễ dàng bắt tay vào việc hơn nếu họ tin rằng họ làm được Người ta cũng hay né tránh những công việc mà họ cho rằng họ không có khả năng đảm đương Những người nghiện ma túy thường thiếu tự tin Vì thế, nếu tham vấn viên thể hiện sự tin tưởng rằng thân chủ có khả năng thực hiện một số công việc hoặc sẽ đạt được mục tiêu thì

họ sẽ có thêm sự tự tin, có thêm năng lượng và nhiệt huyết để thực hiện

Nếu kỹ năng điều hành nhóm không tốt sẽ ảnh hưởng đến hiệu quả làm việc của nhóm: Việc xác lập cơ cấu tổ chức, quy mô, mục tiêu, nhiệm vụ qua từng giai đoạn, có kế hoạch cụ thể từ thời gian, nội dung và trách nhiệm công việc trong nhóm sẽ đảm bảo cho mỗi thành viên chủ động và có định hướng trong công việc của mình và của cả nhóm Nếu phân công công việc bất hợp lý thì sẽ dẫn đến các thành viên bất hợp tác với nhau sẽ tác động lớn đến chất lượng hoạt động của nhóm

Nhân viên công tác xã hội cần không ngừng phấn đấu để nâng cao kiến thức chuyên môn và những kỹ năng để áp dụng vào thực tiễn

1.5.7.Thái độ

Thái độ của nhân viên công tác xã hội, người tham vấn tư vấn được xem như một yếu tố ảnh hưởng khá lớn tới hành vi giúp đỡ, cách thức ứng xử của họ đối với thân chủ

Theo H.Goldstein (1987) thái độ đạo đức của cá nhân không chỉ nói tới là những hành động hay suy nghĩ mà nó còn ám chỉ kiểu tương tác của họ với người khác Trước đây, người ta thường chỉ nhấn mạnh yếu tố kỹ thuật khi đề cập tới kỹ năng trong hoạt động nào đó Gần đây, nhiều nhà khoa học đã nhận định giá trị thái

độ có vai trò quan trọng trong hình thành hành vi có kỹ năng, đặc biệt đối với kỹ năng nghề nghiệp

Trang 40

35

Người làm công tác xã hội nhóm cần hết sức tránh thái độ phán xét và kỳ thị người nghiện ma tuý bởi thái độ này dễ tạo nên một rào cản trong tương tác với người nghiện ma tuý

Cần có thái độ tôn trọng lẫn nhau, điều này sẽ khuyến khích cho các thành viên trong nhóm trao đổi và thống nhất với nhau làm thế nào cho tốt nhất tránh áp đặt ý chí chủ quan của bản thân lên đối tượng

Hai là luận văn đi vào làm rõ các nội dung, khái niệm nghiện chất, nghiện ma tuý và người nghiện ma tuý

Ba là tìm hiểu các khái niệm về công tác xã hội, công tác xã hội nhóm và công tác xã hội nhóm với người nghiện ma tuý

Bốn là nêu các yêu cầu về kiến thức, kỹ năng, thái độ đối với người làm công tác xã hội nhóm (nhân viên xã hội)

Và năm là các yếu tố ảnh hưởng đến công tác xã hội nhóm: gia đình, xã hội, môi trường sống, năng lực của nhân viên xã hội, kiến thức, kỹ năng, thái độ

Ngày đăng: 23/06/2017, 21:15

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Đỗ Văn Bình, Chu Dũng biên soạn (2014), Công tác xã hội Làm việc với nhóm và cộng đồng (Chương trình đào tạo cán bộ quản lý công tác xã hội cấp cao), Nhà xuất bản Văn hoá thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Công tác xã hội Làm việc với nhóm và cộng đồng (Chương trình đào tạo cán bộ quản lý công tác xã hội cấp cao
Tác giả: Đỗ Văn Bình, Chu Dũng biên soạn
Nhà XB: Nhà xuất bản Văn hoá thông tin
Năm: 2014
8. Gina A.Yap (ASI), Joel C.Cam (ASI), Bùi Thị Xuân Mai (ULSA) biên soạn (2014), Nghề công tác xã hội nền tảng triết lý và kiến thức (Chương trình đào tạo cán bộ quản lý công tác xã hội cấp cao), Nhà xuất bản Hồng Đức, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghề công tác xã hội nền tảng triết lý và kiến thức (Chương trình đào tạo cán bộ quản lý công tác xã hội cấp cao
Tác giả: Gina A.Yap (ASI), Joel C.Cam (ASI), Bùi Thị Xuân Mai (ULSA) biên soạn
Nhà XB: Nhà xuất bản Hồng Đức
Năm: 2014
10. Ines Danao (ASI), ThS.Hà Thị Thư (ULSA2), Tiêu Thị Minh Hường (ULSA1) biên soạn (2014), Hành vi con người và môi trường xã hội (Chương trình đào tạo cán bộ quản lý công tác xã hội cấp cao), Nhà xuất bản Văn hoá thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hành vi con người và môi trường xã hội (Chương trình đào tạo cán bộ quản lý công tác xã hội cấp cao
Tác giả: Ines Danao (ASI), ThS.Hà Thị Thư (ULSA2), Tiêu Thị Minh Hường (ULSA1) biên soạn
Nhà XB: Nhà xuất bản Văn hoá thông tin
Năm: 2014
11. Nguyễn Ngọc Lâm biên soạn (2006), Công tác xã hội nhóm (bài giảng trường Đại học Mở bán công TP. Hồ Chí Minh, Khoa xã hội học) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Công tác xã hội nhóm
Tác giả: Nguyễn Ngọc Lâm biên soạn
Năm: 2006
14. Bùi Thị Xuân Mai chủ biên (2013), Giáo trình chất gây nghiện và xã hội, Nhà xuất bản Lao động – Xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình chất gây nghiện và xã hội
Tác giả: Bùi Thị Xuân Mai chủ biên
Nhà XB: Nhà xuất bản Lao động – Xã hội
Năm: 2013
15. Bùi Thị Xuân Mai, TS.Nguyễn Tố Như chủ biên (2013), Giáo trình tham vấn điều trị nghiện ma tuý, Nhà xuất bản Lao Động – Xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình tham vấn điều trị nghiện ma tuý
Tác giả: Bùi Thị Xuân Mai, TS.Nguyễn Tố Như chủ biên
Nhà XB: Nhà xuất bản Lao Động – Xã hội
Năm: 2013
18. Nguyễn Sinh Phúc chủ biên (2014), Giáo trình đại cương chăm sóc sức khoẻ tâm thần (Giáo trình biên soạn với sự hỗ trợ của Đề án 1215 và Dự án Atlantic Philanthropies), Nhà xuất bản Lao động – Xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình đại cương chăm sóc sức khoẻ tâm thần (Giáo trình biên soạn với sự hỗ trợ của Đề án 1215 và Dự án Atlantic Philanthropies)
Tác giả: Nguyễn Sinh Phúc chủ biên
Nhà XB: Nhà xuất bản Lao động – Xã hội
Năm: 2014
22. Nguyễn Thị Vân, Trần Xuân Sắc biên soạn (2011), Cai nghiện phục hồi và quản lý sau cai nghiện (Tài liệu nâng cao kiến thức quản lý, giáo dục cho cán bộ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cai nghiện phục hồi và quản lý sau cai nghiện
Tác giả: Nguyễn Thị Vân, Trần Xuân Sắc biên soạn
Năm: 2011
23. Vũ Hùng Vương chủ biên (2007), Phòng, chống ma tuý – cuộc chiến cấp bách của toàn xã hội, Nhà xuất bản Lao Động, Hà Nội.Website Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phòng, chống ma tuý – cuộc chiến cấp bách của toàn xã hội
Tác giả: Vũ Hùng Vương chủ biên
Nhà XB: Nhà xuất bản Lao Động
Năm: 2007
24. Hiến pháp 2013 Website:http://www.chinhphu.vn/portal/page/portal/chinhphu/NuocCHXHCNVietNam/ThongTinTongHop/hienphapnam2013 Link
2. Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội (1995).Báo cáo điều tra của Cục Phòng, chống tệ nạn xã hội Khác
3. Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội - Văn bản 2421/LĐTBXH-PCTNXH ngày 23/6/2015 hướng dẫn mô hình chuyển đổi Trung tâm Chữa bệnh – Giáo dục – Lao động xã hội sang cơ sở điều trị nghiện tự nguyện Khác
4. Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội - Văn bản số 2495/LĐTBXH-PCTNXH ngày 26/6/2015 về việc tổ chức điều trị chất dạng thuốc phiện bằng thuốc Methadone cho học viên cai nghiện tại các cơ sở cai nghiện Khác
5. Bộ Y tế, Cục Quản lý khám, chữa bệnh (2015), Tài liệu tập huấn Chẩn đoán xác định tình trạng nghiện ma tuý và các phương pháp hỗ trợ điều trị nghiện ma tuý Khác
6. Chương trình nghiên cứu của NIDA (các chuyên gia Viện Nghiên cứu Quốc gia Hoa Kỳ về Lạm dụng ma túy) Khác
7. Cơ quan Phòng chống ma túy và Tội phạm Liên hợp quốc (UNODC). Báo cáo tình hình ma túy thế giới 2015 Khác
9. Gina A.Yap (ASI), Nguyễn Trung Hải (ULSA1), Nguyễn Thị Vân (ULSA1), Đặng Thị Phương Lan (ULSA1), Lê Thị Dung (ULSA1), Tiêu Thị Minh Hường Khác
12. Luật xử lý vi phạm hành chính số 15/2012/QH13 của Quốc hội, ngày 20 tháng 6 năm 2012, Khoản 16 Điều 2 Khác
13. Luật phòng chống ma tuý số 23/2000/QH10 của Quốc hội, ngày 9 tháng 12 năm 2000, Khoản 1, 2, 3, 5, 11 Điều 2 Khác
17. Nghị quyết số 98/NQ-CP ngày 26/12/2014 của Chính phủ về tăng cường chỉ đạo công tác phòng, chống, kiểm soát và cai nghiện ma túy trong tình hình mới Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w