1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Tội cướp giật tài sản trên địa bàn miền đông nam bộ, tình hình, nguyên nhân và giải pháp phòng ngừa

197 332 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 197
Dung lượng 1,79 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện vẫn chưa có được sự thống nhất giữa các địa phương nên việc triển khai thực hiện các nội dung, mục tiêu, giải pháp ở một vài địa phương trong miền ĐN

Trang 1

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

LUẬN ÁN TIẾN SĨ LUẬT HỌC

Người hướng dẫn khoa học: PGS TS TRẦN HỮU TRÁNG

HÀ NỘI - NĂM 2017

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan luận án là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả đề cập trong Luận án là trung thực, có nguồn gốc trích dẫn rõ ràng

và chính xác

Tác giả luận án

Phạm Văn Trung

Trang 3

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

Chương 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU 7

1.1 Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài 7

1.2 Tình hình nghiên cứu trong nước 14

1.3 Đánh giá tổng quan tình hình nghiên cứu 23

Chương 2: TÌNH HÌNH TỘI CƯỚP GIẬT TÀI SẢN TRÊN ĐỊA BÀN MIỀN ĐÔNG NAM BỘ 27

2.1 Tiếp cận từ lý luận Tội phạm học để làm sáng tỏ về tình hình tội cướp giật tài sản trên địa bàn miền Đông Nam Bộ 27

2.2 Tình hình tội cướp giật tài sản trên địa bàn miền Đông Nam Bộ từ năm 2007 đến năm 2016 35

Chương 3: NGUYÊN NHÂN, ĐIỀU KIỆN CỦA TÌNH HÌNH TỘI CƯỚP GIẬT TÀI SẢN VÀ NHÂN THÂN NGƯỜI PHẠM TỘI CƯỚP GIẬT TÀI SẢN TRÊN ĐỊA BÀN MIỀN ĐÔNG NAM BỘ 62

3.1 Tiếp cận từ lý luận Tội phạm học để làm sáng tỏ các nguyên nhân và điều kiện của tình hình tội cướp giật tài sản trên địa bàn miền Đông Nam Bộ 62

3.2 Nguyên nhân và điều kiện của tình hình tội cướp giật tài sản trên địa bàn miền Đông Nam Bộ giai đoạn từ năm 2007 đến năm 2016 66

Chương 4: CÁC GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG PHÒNG NGỪA TÌNH HÌNH TỘI CƯỚP GIẬT TÀI SẢN TRÊN ĐỊA BÀN MIỀN ĐÔNG NAM BỘ 97

4.1 Tiếp cận từ lý luận Tội phạm học để làm sáng tỏ về phòng ngừa tình hình tội cướp giật tài sản trên địa bàn miền Đông Nam Bộ 97

4.2 Thực tiễn phòng ngừa tình hình tội cướp giật tài sản trên địa bàn miền Đông Nam Bộ từ năm 2007 đến năm 2016……… 100

4.3 Dự báo tình hình tội cướp giật tài sản trên địa bàn miền Đông Nam Bộ trong thời gian tới……… …… 109

4.4 Các giải pháp tăng cường phòng ngừa tình hình tội cướp giật tài sản trên địa bàn miền Đông Nam Bộ trong thời gian tới 117

KẾT LUẬN 150

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 153 PHỤ LỤC

Trang 4

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

ANTT BCA BLHS CAND CQĐT CSHS CSND CSBM CTVBM CSKV CGTS ĐNB THTP TAND VKSND XDPT & PTX

An ninh trật tự

Bộ Công an

Bộ luật hình sự Công an nhân dân

Cơ quan điều tra Cảnh sát hình sự Cảnh sát nhân dân

Cơ sở bí mật Cộng tác viên bí mật Cảnh sát khu vực Cướp giật tài sản Đông Nam Bộ Tình hình tội phạm Tòa án nhân dân Viện kiểm sát nhân dân Xây dựng phong trào và phụ trách xã

Trang 5

DANH MỤC CÁC BẢNG

Trang

Bảng 2.1 Số liệu xét xử sơ thẩm số vụ án và bị cáo cướp giật tài sản từ năm 2007

đến năm 2016 trên địa bàn miền Đông Nam Bộ 2

Bảng 2.2 Tỷ lệ tình hình tội cướp giật tài sản trong tình hình tội phạm chung trên

địa bàn miền Đông Nam Bộ từ năm 2007 đến năm 2016 3

Bảng 2.3 So sánh tỷ lệ tình hình tội cướp giật tài sản trên địa bàn miền Đông Nam Bộ

với tỷ lệ này trên phạm vi toàn quốc từ năm 2007 đến năm 2016 4

Bảng 2.4 Số vụ, số bị cáo trên số diện tích, dân số từ năm 2007 đến năm 2016 của

Đông Nam Bộ, Tây Nguyên, Tây Nam Bộ 5

Bảng 2.5 Cơ cấu về mức độ của tình hình tội cướp giật tài sản từ năm 2007 đến năm

2016 của Đông Nam Bộ, Tây Nguyên, Tây Nam Bộ xác định trên cơ sở yếu tố dân cư và diện tích 5

Bảng 2.6 Hệ số tình hình tội cướp giật tài sản trên địa bàn miền Đông Nam Bộ 6 Bảng 2.7 Số liệu xét xử tội cướp giật tài sản trên địa bàn miền Đông Nam Bộ 6 Bảng 2.8 Cơ cấu của tình hình tội cướp giật tài sản từ năm 2007 đến năm 2016 được

tính toán trên cơ sở số dân của các tỉnh, thành trên địa bàn miền Đông Nam Bộ 7

Bảng 2.9 Cơ cấu của tình hình tội cướp giật tài sản từ năm 2007 đến năm 2016

được tính toán trên cơ sở diện tích của các tỉnh, thành trên địa bàn miền Đông Nam Bộ 7

Bảng 2.10 Cơ cấu của tình hình tội cướp giật tài sản từ năm 2007 đến năm 2016 được

tính toán trên cơ sở kết hợp yếu tố dân cư và diện tích của các tỉnh, thành trên địa bàn miền Đông Nam Bộ 8

Bảng 2.11 Cơ cấu của tình hình tội cướp giật tài sản theo loại tài sản bị cướp giật 8 Bảng 2.12 Cơ cấu của tình hình tội cướp giật tài sản theo loại và mức hình phạt đã

Trang 6

Bảng 2.16 Một số đặc điểm cơ bản của nhân thân người phạm tội cướp giật tài sản

trên địa bàn miền Đông Nam Bộ từ năm 2007 đến năm 2016 100

Bảng 2.17 Cơ cấu của tình hình tội cướp giật tài sản trên địa bàn miền Đông Nam Bộ

theo đặc điểm nạn nhân từ năm 2007 đến năm 2016……… … 11

Bảng 2.18 Cơ cấu tình hình tội cướp giật tài sản theo phương thức, thủ đoạn thực hiện

tội phạm……… 12

Trang 7

DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ

Trang

Biểu đồ 2.1 So sánh số vụ cướp giật tài sản với số vụ cướp tài sản, cưỡng đoạt tài sản

trên địa bàn miền Đông Nam Bộ từ năm 2007 đến năm 2016 14

Biểu đồ 2.2 So sánh số vụ cướp giật tài sản với tội phạm nói chung trên địa bàn miền

Đông Nam Bộ từ năm 2007 đến năm 2016 14

Biểu đồ 2.3 So sánh số bị cáo cướp giật tài sản với tội phạm nói chung trên địa bàn

miền Đông Nam Bộ từ năm 2007 đến năm 2016 15

Biểu đồ 2.4 Diễn biến của tình hình tội cướp giật tài sản trên địa bàn miền Đông Nam

Bộ từ năm 2007 đến năm 2016 15

Biểu đồ 2.5 So sánh tội cướp giật tài sản với các tội xâm phạm sở hữu có tính chiếm

đoạt trên địa bàn miền Đông Nam Bộ từ năm 2007 đến năm 2016 16

Biểu đồ 2.6 Cơ cấu của tình hình tội cướp giật tài sản theo loại và mức hình phạt đã

được áp dụng 16

Trang 8

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Miền ĐNB là khu vực kinh tế trọng điểm năng động của cả nước, có đường biên giới giáp Campuchia, đường hàng không, đường biển, đường sắt và là nơi giao cắt nhiều tuyến giao thông đường bộ huyết mạch; tập trung nhiều khu công nghiệp, khu chế xuất, khu công nghệ cao; có nhiều trường đại học, bệnh viện, bến xe, bến tàu lớn của khu vực và cả nước Cùng với sự phát triển kinh tế, xã hội, lượng dân di cư, sinh viên tập trung về đây ngày càng đông, kéo theo nhiều dịch vụ nhà trọ, nhà cho thuê, cầm đồ… khó quản lý

Thực tiễn cho thấy, thời gian gần đây, ở các tỉnh, thành trên địa bàn miền ĐNB, tình hình các tội phạm, như tình hình tội cưỡng đoạt tài sản, đâm thuê, chém mướn, đòi nợ thuê, tội phạm núp bóng doanh nghiệp, tội giết người, cướp, cướp giật, trộm cắp tài sản… đang có nhiều diễn biến phức tạp theo chiều hướng gia tăng Theo số liệu của TAND các cấp trên địa bàn miền ĐNB từ năm 2007 đến năm 2016 có 11.970 vụ

án CGTS được đưa ra xét xử, với 19.818 bị cáo, chiếm 14,07% số vụ án hình sự được

đưa ra xét xử và 12,15% tổng số bị cáo bị xét xử (xem bảng 2.2 – phần phụ lục) Trong

nhóm tội xâm phạm sở hữu có tính chiếm đoạt thì tội CGTS đứng thứ 2 với tỷ lệ 23,14% chỉ đứng sau tội trộm cắp tài sản Số vụ CGTS do các băng nhóm tội phạm

thực hiện có chiều hướng gia tăng (chiếm 56,4% các vụ CGTS) (xem biểu đồ 2.5 – phần phụ lục) Nhiều băng, nhóm có phân công trách nhiệm rõ ràng, cụ thể cho từng

người, trong đó có người trực tiếp thực hiện hành vi cướp giật, người đi sau cản đường gây khó khăn cho việc truy bắt…

Hàng năm số vụ án CGTS xảy trên địa bàn miền ĐNB luôn cao nhất so với các khu vực khác trên cả nước, trung bình mỗi năm xảy ra 1.197 vụ CGTS, với 1.982 bị cáo Miền ĐNB là khu vực có mức độ tình hình tội CGTS cao nhất 0,84 bị cáo/1km2, trong khi đó địa bàn Tây Nguyên chỉ có 0,03 bị cáo/1km2, và Tây Nam Bộ là 0,10 bị cáo/1km2 (xem bảng 2.4 – phần phụ lục) Hệ số THTP trung bình là 13,23 bị cáo trên 100.000 dân, cao hơn rất nhiều so với toàn quốc là 4,22 bị cáo trên 100.000 dân (xem bảng 2.6 – phần phụ lục) Thời gian gần đây, tội CGTS diễn ra ngày càng manh động,

Trang 9

táo bạo, liều lĩnh Có những thời điểm người phạm tội ngang nhiên hoạt động gây án vào ban ngày, ở giữa nơi đông người, gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng

Tình hình tội CGTS trên địa bàn miền ĐNB trong thời gian qua không chỉ xâm phạm đến quyền sở hữu mà còn xâm phạm đến tính mạng, sức khoẻ của con người Ngoài ra, loại tội phạm này còn gây ra nhiều hệ lụy khác làm cho gia đình và người thân của nạn nhân phải gánh chịu những mất mát to lớn cả về vật chất lẫn tinh thần, làm cho quần chúng nhân dân hoang mang, lo lắng về sự bình yên của cuộc sống Trước tình hình đó, các cấp ủy Đảng và các cơ quan chính quyền trên địa bàn miền ĐNB đã triển khai thực hiện các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước như: Nghị quyết số 49/NQ/TW của Bộ chính trị, ngày 2/6/2015 về chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020; Chỉ thị số 48 - CT/TW, ngày 22/10/2010 về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác phòng, chống tội phạm trong tình hình mới của Ban chấp hành trung ương Đảng; Nghị quyết số 37/2012/QH13 ngày 23/11/2012 của Quốc hội về công tác phòng, chống vi phạm pháp luật và tội phạm, công tác của VKSND, của TAND và công tác thi hành án năm 2013; Chỉ thị 09-CT/TW năm 2011 về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với phong trào toàn dân bảo vệ an ninh

tổ quốc trong tình hình mới do Ban Bí thư ban hành; Kế hoạch 271/KH-BCĐ138/CP thực hiện chương trình mục tiêu quốc gia phòng, chống tội phạm giai đoạn 2012-2015 do ban chỉ đạo 138/CP ban hành; Thông tư liên tịch số 34/2009/TTLT-BGDĐT-BCA về hướng dẫn phối hợp thực hiện công tác đảm bảo an ninh, trật tự tại các cơ sở giáo dục thuộc hệ thống cơ sở giáo dục quốc dân và đạt được những kết quả nhất định Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện vẫn chưa có được sự thống nhất giữa các địa phương nên việc triển khai thực hiện các nội dung, mục tiêu, giải pháp ở một vài địa phương trong miền ĐNB đạt hiệu quả chưa cao; các giải pháp phòng ngừa đã bộc lộ nhiều hạn chế; việc phân tích, đánh giá nguyên nhân và điều kiện của tình hình tội này chưa chính xác và đầy đủ; tội CGTS vẫn đang có xu hướng gia tăng về tính chất và mức độ nguy hiểm Vì vậy, việc nghiên cứu làm

rõ tình hình tội CGTS trên địa bàn miền ĐNB, tìm ra những nguyên nhân và điều kiện, từ

đó làm cơ sở đề xuất những giải pháp phòng ngừa là một đòi hỏi hết sức cấp bách

Từ những luận giải trên, tác giả chọn đề tài: “Tội cướp giật tài sản trên địa bàn miền Đông Nam Bộ: Tình hình, nguyên nhân và giải pháp phòng ngừa” làm đề tài

luận án tiến sĩ, chuyên ngành: Tội phạm học và phòng ngừa tội phạm, mã số: 62 38 01 05

Trang 10

2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận án

2.1 Mục đích nghiên cứu

Mục đích nghiên cứu của luận án là xây dựng các giải pháp nhằm tăng cường

phòng ngừa tình hình tội CGTS trên địa bàn miền ĐNB

2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Để đạt được mục đích nêu trên, luận án tập trung vào thực hiện các nhiệm vụ cụ thể sau:

- Tổng quan tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước có liên quan đến đề tài; làm rõ những kết quả đã đạt được của các công trình nghiên cứu mà luận án có thể kế thừa trong quá trình nghiên cứu và xác định những vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu làm

- Dự báo tình hình tội CGTS trên địa bàn miền ĐNB và đề ra các giải pháp tăng

cường phòng ngừa tình hình CGTS trên địa bàn miền ĐNB trong thời gian tới

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của luận án là tình hình tội CGTS, nguyên nhân, điều kiện và

thực tiễn thực hiện các giải pháp phòng ngừa tình hình tội CGTS trên địa bàn miền ĐNB 3.2 Phạm vi nghiên cứu

- Luận án được nghiên cứu chuyên sâu dưới góc độ Tội phạm học

- Về thời gian: Từ năm 2007 đến năm 2016

- Về địa bàn nghiên cứu: Miền Đông Nam Bộ

4 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu luận án

- Phương pháp luận

Luận án sử dụng phép duy vật biện chứng và phép duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác - Lênin; tư tưởng Hồ Chí Minh; đường lối, chính sách của Đảng cộng sản Việt

Trang 11

Nam và của Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong phòng, chống tội phạm làm phương pháp luận

- Phương pháp nghiên cứu cụ thể

Với phương pháp luận nêu trên, phương pháp nghiên cứu mà tác giả sử dụng là các phương pháp nghiên cứu đặc trưng của tội phạm học như mô tả, thống kê, hệ thống, phân tích, tổng hợp, so sánh, điều tra xã hội học, tổng kết kinh nghiệm, nghiên cứu tài liệu, nghiên cứu hồ sơ vụ án, nghiên cứu điển hình Tùy thuộc vào đối tượng nghiên cứu trong từng chương, mục của đề tài, tác giả sẽ lựa chọn phương pháp nghiên cứu phù hợp Cụ thể là:

+ Phương pháp phân tích, tổng hợp: Nghiên cứu phân tích, tổng hợp các văn bản, tài liệu liên quan đến đấu tranh phòng, chống tội phạm nói chung, tội CGTS nói riêng

đã được áp dụng trong thực tiễn; các kết quả nghiên cứu về tội phạm học, khoa học luật hình sự, khoa học điều tra tội phạm về phòng ngừa tình hình tội CGTS đã được công bố và áp dụng

+ Phương pháp thống kê hình sự: Phương pháp này được sử dụng để thống kê tình hình tội CGTS trên địa bàn miền ĐNB, kết quả phòng ngừa tình hình tội CGTS của các cơ quan chức năng trên địa bàn miền ĐNB trong thời gian từ năm 2007 đến năm 2016

+ Phương pháp so sánh: Áp dụng phương pháp này để so sánh tình hình tội CGTS trên địa bàn miền ĐNB với tình hình tội CGTS trên phạm vi cả nước, với địa bàn Tây Nguyên, Tây Nam Bộ và giữa các tỉnh, thành trên địa bàn miền ĐNB

+ Phương pháp tổng kết kinh nghiệm: Trên cơ sở nghiên cứu có hệ thống các báo cáo sơ kết, tổng kết tháng, quý, năm, các báo cáo chuyên đề về công tác phòng, chống tình hình tội CGTS của các cơ quan chức năng trên địa bàn miền ĐNB trong thời gian qua, rút ra những vấn đề có tính quy luật về tội CGTS và công tác phòng ngừa tình hình tội CGTS trên địa bàn miền ĐNB

+ Phương pháp nghiên cứu điển hình: Nghiên cứu các vụ án điển hình về tội CGTS xảy ra trên địa bàn miền ĐNB để làm rõ tính chất, mức độ hành vi phạm tội, động cơ phạm tội, phương thức thủ đoạn phạm tội, nhân thân người phạm tội…

Trang 12

+ Phương pháp điều tra xã hội học: Sử dụng phiếu điều tra xã hội học để thu thập ý kiến của một số đồng chí Điều tra viên, cán bộ trinh sát, CSKV, Công an XDPT & PTX

về những vấn đề có liên quan đến công tác phòng ngừa tình hình tội CGTS trên địa bàn miền ĐNB, và để thu thập ý kiến của các phạm nhân phạm tội CGTS về hoàn cảnh gia đình, nghề nghiệp, nguyên nhân, điều kiện dẫn đến việc phạm tội của họ…

+ Phương pháp phỏng vấn xin ý kiến chuyên gia: Trực tiếp phỏng vấn, trao đổi với các nhà khoa học, các nhà nghiên cứu lý luận và các cán bộ có nhiều kinh nghiệm

về công tác phòng ngừa tình hình tội CGTS nhằm giải quyết những vấn đề lý luận và thực tiễn về tội CGTS và công tác phòng ngừa tình hình tội này của các cơ quan chức năng trên địa bàn miền ĐNB

5 Những điểm mới của luận án

Thứ nhất, luận án làm rõ về tình hình tội CGTS trên địa bàn miền ĐNB từ năm

6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận án

6.1 Về mặt khoa học

Luận án góp phần bổ sung, hoàn thiện lý luận về phòng ngừa tình hình tội CGTS Luận án có thể được sử dụng làm tài liệu phục vụ giảng dạy, học tập và nghiên cứu khoa học trong lĩnh vực tội phạm học và lĩnh vực khoa học luật hình sự

Trang 13

7 Kết cấu của luận án

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phần phụ lục, đề

tài được kết cấu gồm 4 chương, cụ thể như sau:

Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu

Chương 2: Tình hình tội cướp giật tài sản trên địa bàn miền Đông Nam Bộ

Chương 3: Nguyên nhân, điều kiện của tình hình tội cướp giật tài sản và nhân thân người phạm tội cướp giật tài sản trên địa bàn miền Đông Nam Bộ

Chương 4: Các giải pháp tăng cường phòng ngừa tình hình tội cướp giật tài sản trên địa bàn miền Đông Nam Bộ

Trang 14

Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU

1.1 Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài

Trong thời gian gần đây tình hình tội CGTS có nhiều diễn biến phức tạp, đã và đang thu hút nhiều sự quan tâm của cộng đồng quốc tế và rất nhiều tổ chức, nhà nghiên cứu tội phạm học ở hầu hết các quốc gia như: Liên bang Nga, Australia, Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào, Vương quốc Campuchia, Hoa Kỳ, Cộng hòa liên bang Đức Với nhiều cấp độ nghiên cứu và khía cạnh khác nhau về tội CGTS, các nhà nghiên cứu đã đưa ra nhiều luận cứ khoa học, những giải pháp phòng ngừa, ngăn chặn tình hình tội CGTS Trong số đó có nhiều công trình mang tính khái quát cao ở tầm quốc gia và có liên quan trực tiếp đến nội dung đề tài luận án Qua nghiên cứu một số công trình cho thấy, hoạt động phòng ngừa tội phạm nói chung và phòng ngừa một số loại tội phạm cụ thể luôn là đối tượng nghiên cứu của khoa học pháp lý

và tội phạm học, trong đó có một số công trình nghiên cứu về tình hình tội CGTS như sau:

1.1.1 Nhóm các công trình nghiên cứu về nhân thân người phạm tội, nguyên nhân và điều kiện của tình hình tội cướp giật tài sản

- Why did they commit crimes? The state of juvenile deliquency in capitalist countries (tạm dịch: Vì sao họ phạm tội? Tình trạng thanh, thiếu niên phạm tội ở các

nước tư bản chủ nghĩa) của Melinikova E.B, nhà xuất bản Max-xcơ-va, Molodajai, năm

1974 (bản dịch của Viện Thông tin Khoa học xã hội, xuất bản năm 1982) [119]

Melinikova E.B là nhà tội phạm học người Nga đã dựa trên cơ sở quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin để nghiên cứu về nguyên nhân của tội phạm và tình trạng thanh, thiếu niên phạm tội ở các nước tư bản chủ nghĩa Tác giả đã chỉ ra những nguyên nhân chủ yếu của THTP, như sự thiếu thốn về vật chất ở xã hội tư bản Điều kiện vật chất là một yếu tố có sự ảnh hưởng rất lớn đến việc hình thành nhân thân con người về cách xử sự của họ, ảnh hưởng đó lại càng lớn đối với những người chưa thành niên, khi mà họ được đặt vào trong các mối quan hệ xã hội rất phức tạp, không

có kinh nghiệm sống, không có nghề nghiệp, trình độ học vấn không vững chắc mặt khác, sự chênh lệch rất lớn giữa giàu và nghèo, làm ảnh hưởng tới cách xử sự của thanh,

Trang 15

thiếu niên, đặc biệt là những thanh, thiếu niên xuất thân trong các gia đình nghèo Có hai trường hợp sẽ xảy ra, một trường hợp phát sinh từ kết quả của các điều kiện vật chất và điều kiện xã hội khó khăn của con người; trường hợp thứ hai, phát sinh từ kết quả của những nhu cầu quá mức có thể thỏa mãn được, từ những người thuộc tầng lớp giàu có trong xã hội Quan trọng hơn, vẫn còn tồn tại quan niệm về quyền tự do hành động mà không bị trừng phạt, khi người nghèo phạm tội sẽ bị đưa ra tòa để xét xử làm gương cho người khác, còn đối với người giàu phạm tội thì chỉ bị xem xét, giải quyết theo cách thức ngoài Tòa án

Công trình đã chỉ ra những nguyên lý cơ bản và nguyên nhân chủ yếu của THTP nói chung, tình hình tội CGTS nói riêng do người chưa thành niên thực hiện, từ đó làm

cơ sở để nghiên cứu và đề xuất những giải pháp nâng cao hiệu quả phòng ngừa Tuy nhiên, tác giả mới chỉ phân tích làm rõ được nguyên nhân phạm tội của một nhóm người nhất định là những người chưa thành niên chứ chưa phân tích được nguyên nhân phạm tội của người phạm tội nói chung Đồng thời kết quả của nghiên cứu trên được rút ra trong các nước tư bản chủ nghĩa ở những thập kỷ 60 và 70 của thế kỷ trước Vì vậy, với tình hình kinh tế - xã hội và khoa học kỹ thuật phát triển như hiện nay thì các nguyên nhân và điều kiện của THTP trong lứa tuổi thanh, thiếu niên được phân tích trong công trình nghiên cứu trên đã không còn phù hợp

- Crime and criminology in Japan (tạm dịch: Tội phạm và tội phạm học ở Nhật Bản hiện đại) của Can Ueda, giáo sư, tiến sĩ luật học, Trường Đại học Tổng hợp

Ritsumeikan, dịch từ bản dịch tiếng Nga của Nhà xuất bản Tiến Bộ, Moskva, năm

1989 [112] Với công trình khoa học này, nhà tội phạm học người Nhật cho rằng tội phạm học không phải là khoa học duy nhất nghiên cứu tội phạm Tội phạm là đối tượng nghiên cứu của một số ngành khoa học khác như: Luật hình sự, Luật tố tụng

hình sự, Xã hội học, Tâm lý học, Thần kinh học Tác giả đã đưa ra khái niệm “Tội phạm học là khoa học nghiên cứu tội phạm và đề ra các biện pháp đấu tranh, phòng chống” Tác phẩm đã nghiên cứu chuyên sâu về nguyên nhân, điều kiện của tội phạm,

đưa ra các điều kiện cá nhân và xã hội của tội phạm như giới tính, lứa tuổi, cụ thể: Trong số phụ nữ phạm tội bị Cảnh sát bắt giữ có 42,3% là nữ vị thành niên (năm 1980); trung bình cứ 100.000 người dân trên 15 tuổi thì có 65,6 người phạm tội, trong

Trang 16

số những người bị bắt giữ vì phạm tội năm 1981 có 0,7% người bị tổn hại về thần kinh, sự bất bình thường nhiễm sắc thể giới tính và tội phạm không có mối quan hệ với nhau Tác giả cũng chỉ ra những hạn chế trong quá trình đô thị hóa xã hội, quá trình phát triển kinh tế, văn hóa - xã hội, sự di cư, tập trung dân cư do quá trình đô thị hóa

đã gây ra sự xáo trộn trong xã hội, gây ra sự mâu thuẫn giữa các giai tầng trong xã hội, hạn chế sự đoàn kết dân cư trong khu vực về phòng ngừa, ngăn chặn tội phạm

- An introduction to Crime and Criminology (Tạm dịch: Giới thiệu về tội phạm

và tội phạm học), sách chuyên khảo của Hennessy Hayes và Tim Prenzler, xuất bản

tại Pearson Australia, năm 2014 [114] Tài liệu được tổng hợp và nghiên cứu của hai chuyên gia tội phạm học người Australia là Hennessy Hayes và Tim Prenzler Công trình là sự đúc kết từ thực tiễn nghiên cứu Bằng việc phân tích và tổng hợp những quan điểm khác nhau của các cá nhân, cơ quan có uy tín của Australia trong lĩnh vực nghiên cứu về nhân thân người phạm tội, về THTP, các tác giả cho rằng, nguyên nhân và điều kiện của tội phạm chịu ảnh hưởng rất lớn bởi các yếu tố tiêu cực như:

Từ phía người bị hại, từ môi trường cộng đồng xã hội, từ chính sách pháp luật của quốc gia, từ môi trường giáo dục các nhận thức, và hướng tiếp cận nghiên cứu trên

sẽ được nghiên cứu sinh tiếp thu và vận dụng trong nghiên cứu những nguyên nhân

và điều kiện của tình hình tội CGTS trên địa bàn miền ĐNB

- Youth crime and youth culture in the inner city (Tạm dịch: Tội phạm thanh, thiếu

niên và văn hóa giới trẻ trong khu vực nội thành) của tác giả Sanders, Bill, Nhà xuất bản New York: Routledge, năm 2005 [121] Công trình nghiên cứu đã phân tích làm rõ bức tranh toàn cảnh về tội phạm do thanh, thiếu niên thực hiện trong nội thành thành phố của

xã hội hiện đại với xu hướng ngày càng gia tăng trong đó đáng chú ý là các hành vi phạm tội như CGTS, trộm cắp, mua bán ma túy Các tác giả cũng tập trung làm rõ về động cơ, thái độ của những người phạm tội, qua đó cho thấy phần nào các đặc điểm nhân thân người phạm tội và vai trò của môi trường kinh tế - xã hội tác động đến quá trình hình thành các đặc điểm nhân thân người phạm tội Những nghiên cứu này rất có giá trị trong phân tích nguyên nhân của các hành vi phạm tội, trong đó có tội CGTS trên các tuyến trọng điểm trên địa bàn miền ĐNB

Trang 17

- Cuốn sách The Liverpool underworld: crime in the city, 1750-1900 (Tạm dịch:

Thế giới ngầm ở Liverpool: Tội phạm trong thành phố giai đoạn 1750 – 1900) của tác giả Macilwee, Mick Nhà xuất bản Liverpool University Press, năm 2011 [118] Với

354 trang, công trình nghiên cứu đã làm rõ được thực trạng THTP ở thành phố Liverpool trong thế kỉ 19 Theo đó, Liverpool được mệnh danh là thiên đường ẩn náu của tội phạm trong cả nước Thông qua các số liệu thống kê về tội phạm và tệ nạn xã hội, tác giả đã làm rõ về thực trạng của THTP và các tệ nạn như mại dâm, rượu chè, cướp giật ngoài ra, tác giả còn đi sâu vào phân tích những nguyên nhân, điều kiện, hoàn cảnh xã hội, các sự kiện diễn ra trong xã hội tác động đến sự gia tăng của THTP Tác giả cũng đi sâu phân tích về vai trò của những đặc điểm bên trong của người phạm tội, như: Động cơ, nỗi sợ hãi, sự tự hào hay khát vọng… trong cơ chế hành vi phạm tội Như vậy, những công trình nghiên cứu của các tác giả người nước ngoài về nhân thân người phạm tội và nguyên nhân và điều kiện của THTP đã chỉ ra được một số đặc điểm nhân thân người phạm tội, các thông số của THTP và những nguyên nhân và điều kiện của THTP nói chung, tội CGTS nói riêng Kết quả nghiên cứu của các công trình trên sẽ được nghiên cứu sinh tiếp thu và sử dụng để nghiên cứu về tình hình, nguyên nhân và điều kiện của tình hình tội CGTS cũng như các đặc điểm nhân thân của người phạm tội CGTS trên địa bàn miền ĐNB

1.1.2 Nhóm các công trình nghiên cứu về giải pháp phòng ngừa tình hình tội cướp giật tài sản

- Trong tác phẩm Crime prevention – Theory and Practice (Tạm dịch: Phòng

ngừa tội phạm – Lý luận và thực tiễn) của Stephen R Schneider giáo sư về lĩnh vực khoa học xã hội học và tội phạm, thuộc Đại học Saint mary, Halifax, Nova Scotia, Canada, năm 2005 [124] Tác giả nhấn mạnh các vấn đề lý luận về phòng ngừa tội phạm, tình huống phòng ngừa tội phạm và phòng chống tội phạm thông qua thiết kế môi trường Theo tác giả, việc phòng ngừa tội phạm còn được thực hiện thông qua hoạt động phát triển xã hội cho thanh, thiếu niên và người lớn, thông qua cộng đồng xã hội Với công trình này, Stephen R Schneider đã đưa ra và giải thích một cách khoa học về hoạt động phòng ngừa tội phạm như: Giảm nguy cơ phạm tội bằng cách thay đổi hành vi của các nạn nhân tiềm tàng trong xã hội; giám sát mọi cơ hội tiếp cận để phòng ngừa hành vi

Trang 18

phạm tội; các biện pháp kiểm soát lãnh thổ, không gian, kiểm soát xã hội không chính thức, nhằm giảm những nguyên nhân, điều kiện cần thiết để thực hiện tội phạm Tác giả cũng chỉ ra được những hạn chế và cách giải quyết những hạn chế của việc áp dụng các giải pháp giải quyết vấn đề xã hội cho người phạm tội, tập trung vào công tác phòng ngừa tái phạm, nâng cao trách nhiệm của cộng đồng trong phòng ngừa tội phạm Những luận điểm trên có ý nghĩa rất lớn trong việc nghiên cứu để xây dựng hệ thống các giải pháp phòng ngừa tình hình tội CGTS trên địa bàn miền ĐNB, đặc biệt là các giải pháp phòng ngừa tái phạm

- Theoretical basis of crime prevention (Tạm dịch: Cơ sở lý luận của việc phòng ngừa tội phạm) của Mikovskij G.M, Nxb Max – xcơ –va, Jurid, Literature,

năm 1977, (bản dịch của Viện thông tin Khoa học xã hội, năm 1982) [120] Đây là công trình nghiên cứu chuyên sâu về cơ sở lý luận của phòng ngừa tội phạm Công trình chỉ rõ tội phạm là một hiện tượng xã hội và phương hướng đấu tranh chống tội phạm cơ bản nhất là phòng ngừa tội phạm V.I Lênin đã chỉ ra rằng, khâu quyết định của việc phòng ngừa tội phạm và các vi phạm pháp luật khác là phải xác định được nguyên nhân và các biện pháp để loại trừ các nguyên nhân đó Trong đó, phải giải quyết việc làm, nâng cao đời sống vật chất của quần chúng, phải không ngừng tăng cường tính tự giác của quần chúng, tích cực, tạo điều kiện cho quần chúng tham gia quản lý công việc của nhà nước, của xã hội; đồng thời phải theo dõi, thống kê đầy đủ

và kịp thời tội phạm và các nguyên nhân, điều kiện làm phát sinh tội phạm để có cơ

sở đề xuất các biện pháp phòng, chống tội phạm có hiệu quả; áp dụng kịp thời các hình phạt để bảo đảm tính răn đe, giáo dục để phòng ngừa tội phạm

Theo các tác giả, hệ thống các giải pháp phòng ngừa tội phạm, gồm:

+ Tổng hợp các giải pháp chung của toàn xã hội và các giải pháp đặc thù kết hợp

và phối hợp chặt chẽ với nhau, trong đó có xác định rõ các biện pháp chủ đạo;

+ Kết hợp nhiệm vụ trực tiếp đấu tranh phòng, chống tội phạm với các nhiệm vụ phát triển kinh tế, xã hội, văn hóa, giáo dục;

+ Hoạt động phòng ngừa tội phạm phải được đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản và các cơ quan nhà nước;

Trang 19

+ Tạo điều kiện thuận lợi nhất, vận động quần chúng tham gia rộng rãi và tích cực vào việc phòng ngừa tội phạm;

+ Nghiên cứu tội phạm học và các biện pháp phòng ngừa tội phạm một cách sâu sắc và toàn diện, có kế hoạch, chiến lược cụ thể cho từng giai đoạn; phân loại các biện pháp phòng ngừa theo mức độ, nhân thân người phạm tội, kết hợp các biện pháp tác động chung, tác động theo nhóm và tác động cá nhân;

+ Bảo vệ pháp chế xã hội chủ nghĩa và bảo vệ quyền công dân trong phòng ngừa tội phạm

Trong hệ thống các biện pháp phòng ngừa, có các biện pháp phòng ngừa riêng được áp dụng với các chủ thể cụ thể nhằm: Loại trừ những sự tác động không tốt đối với cá nhân đó; làm thay đổi cách ứng xử tiêu cực không được sự chấp thuận của xã hội hoặc các học thuyết, quan điểm, quan niệm, sở trường theo hướng sai lệch hoặc đề phòng việc thực hiện hành vi phạm tội

Theo quan điểm đó, các nhà luật học đã xác định những biện pháp phòng ngừa riêng được áp dụng với các chủ thể có dấu hiệu đặc trưng sau:

+ Chưa phạm tội nhưng đang ở trong môi trường có đầy đủ những điều kiện thuận lợi để có thể phạm tội;

+ Những người đang có quan điểm, lối sống tiêu cực, chống lại các giá trị đạo đức, truyền thống tốt đẹp của xã hội, có những vi phạm nhỏ chưa đến mức phải truy cứu trách nhiệm hình sự;

+ Những người có ý đồ phạm tội, đang hình thành động cơ phạm tội, đang chuẩn

Trang 20

đích, có định hướng vào những yếu tố tội phạm học hay những người, nhóm người nhất định; thứ hai là những biện pháp tác động trực tiếp

Về mặt nội dung, các biện pháp phòng ngừa đặc biệt có thể được phân thành các loại sau:

+ Các biện pháp kinh tế - xã hội, nhằm điều chỉnh biến động của dân cư, số lượng, cơ cấu dân cư từng vùng, có tính đến nhiệm vụ phòng ngừa tội phạm;

+ Các biện pháp điều chỉnh các hướng chính trong chính sách và đường lối đấu tranh phòng, chống tội phạm;

+ Các biện pháp tư tưởng, văn hóa, giáo dục: để giải quyết nhiệm vụ phòng ngừa bằng các biện pháp tổng hợp trong công tác giáo dục nhằm loại trừ các quan điểm chống đối xã hội, các thói quen, tập quán lệch chuẩn, chống lại xã hội ;

+ Các biện pháp tổ chức và quản lý nhằm phổ biến những kinh nghiệm tốt trong phòng ngừa tội phạm để hoàn thiện hệ thống phòng ngừa

Qua những phân tích ở trên, cho thấy đây là một công trình nghiên cứu khoa học

có chất lượng cao, đã làm rõ cơ sở lý luận, đặc điểm, cơ sở pháp lý chung của phòng ngừa tội phạm nói chung, tội CGTS nói riêng Bên cạnh đó, các tác giả cũng đã phân tích phương pháp đặc trưng, chủ thể chính, các chủ thể phối hợp, các đối tượng của các hoạt động phòng ngừa tội phạm trong điều kiện kinh tế - xã hội cụ thể Tuy công trình nêu trên nghiên cứu đã lâu nhưng trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế, sự giao thoa giữa các nền văn hóa như hiện nay, thì nó vẫn còn giá trị tham khảo để nghiên cứu cơ sở lý luận, tổng kết thực tiễn và làm rõ cơ sở pháp lý của các biện pháp phòng ngừa các tội xâm phạm sở hữu, trong đó có tội CGTS và đề xuất các giải pháp phòng ngừa THTP này

- Đặc điểm hình sự tội phạm cướp giật tài sản công dân trên địa bàn thành phố Phnômpênh vương quốc Campuchia, Ly SuViChhay, Luận văn thạc sỹ luật học, Học

viện CSND, năm 2005 [117] Nội dung của luận văn đã xác định những nguyên nhân

và điều kiện của tội phạm CGTS trên địa bàn Phnômpênh và hệ thống các biện pháp phòng ngừa nhằm kéo giảm, hướng tới xóa bỏ loại tội phạm này ra khỏi đời sống xã hội Tác giả chỉ rõ, để phòng ngừa đối với loại tội này cần áp dụng đồng bộ, có hiệu quả các biện pháp phòng ngừa sau:

Trang 21

+ Thực hiện tốt công tác xây dựng đặc tình và CSBM trên những tuyến, khu vực phức tạp nhằm chủ động phát hiện các đối tượng phạm tội CGTS;

+ Công tác sưu tra quản lý đối tượng có nhiều khả năng gây ra các vụ CGTS công dân, trong đó chú ý đến các đối tượng thuộc loại nguy hiểm như: Lưu manh chuyên nghiệp, có tiền án, tiền sự ;

+ Tuần tra, kiểm soát công khai các khu vực thường xuyên xảy ra các vụ CGTS, trong đó chú ý các tuyến trọng điểm, tổ chức phục kích, đón lõng vào những thời gian cao điểm ở các khu vực, tuyến thường xảy ra tội phạm

Như vậy, có thể khẳng định đây là công trình khoa học nghiên cứu chuyên sâu về

cơ sở lý luận, đặc điểm hình sự của tội CGTS công dân, tác giả đã đưa ra được một hệ thống các biện pháp phòng ngừa đối với tội phạm này Tuy nhiên, đây là một công trình nghiên cứu với chủ thể phòng ngừa chính là lực lượng CAND nên các biện pháp đưa ra còn mạng nặng tính nghiệp vụ đặc thù mà chưa đưa ra được các biện pháp phòng ngừa xã hội mang tính chuyên sâu

1.2 Tình hình nghiên cứu trong nước

1.2.1 Nhóm các công trình nghiên cứu những vấn đề lý luận về tội cướp giật tài sản và công tác phòng ngừa loại tội này

Thời gian qua đã có nhiều công trình khoa học nghiên cứu những vấn đề lý luận

về tội CGTS, có thể kể đến các công trình khoa học tiêu biểu sau đây:

- Bình luận khoa học BLHS, của Nguyễn Ngọc Điệp, Nhà xuất bản Thanh niên, năm 2009 [37]; Bình luận khoa học BLHS, của Trần Minh Hưởng, Nhà xuất bản Hồng Đức, năm 2012 [51]; Bình luận khoa học BLHS, do Nguyễn Đức Mai chủ biên, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, năm 2010 [55]; Giáo trình Luật hình sự Việt Nam – Phần các tội phạm, của Tổng cục Xây dựng lực lượng CAND, năm 2011; Giáo trình Luật hình sự Việt Nam - Phần các tội phạm, của Trường Đại học luật Hà Nội, Nhà xuất bản CAND, năm 2010 [91]; Giáo trình Luật hình sự Việt Nam - Phần các tội phạm, của

Đại học Huế - Nhà xuất bản CAND, năm 2008 [89] Các giáo trình, tài liệu trên đều đề cập đến khái niệm về tội CGTS, các khái niệm, định nghĩa về tội này cơ bản đã phản ánh được nội dung, bản chất của tội CGTS đã làm rõ được tính công khai và nhanh chóng; làm rõ được khách thể, mặt khách quan, mặt chủ quan và chủ thể của tội

Trang 22

CGTS Đây là tiền đề, là cơ sở pháp lý để nghiên cứu sinh tiếp cận và nghiên cứu tội CGTS trên địa bàn miền ĐNB

- Tội cướp giật tài sản trong luật hình sự Việt Nam, Luận văn thạc sĩ luật học, của

Trần Văn Hiệp, Đại học Luật Tp Hồ Chí Minh, năm 2014 [47] Đây là công trình khoa học nghiên cứu tương đối toàn diện về mặt lý luận đối với tội CGTS và thực tiễn trong

việc áp dụng pháp luật đối với tội phạm này Theo tác giả, “CGTS là hành vi chiếm đoạt tài sản đang do người khác quản lý một cách công khai và nhanh chóng” [47, tr5] Với

những kết quả đạt được của luận văn sẽ giúp cho nghiên cứu sinh tham khảo về tội phạm này dưới góc độ pháp luật hình sự và đưa ra cơ sở khoa học hoàn thiện pháp luật

và đề ra hệ thống giải pháp phòng ngừa có hiệu quả với tội phạm này, có cơ sở để so sánh giữa tội CGTS trên cả nước với miền ĐNB

- Tội cướp giật tài sản theo Luật hình sự Việt Nam: Một số khía cạnh pháp lý hình sự và tội phạm học, Luận văn thạc sĩ luật học, của Lê Thị Thu Hà, Đại học Quốc

gia Hà Nội, năm 2004 [38] Đây là công trình khoa học nghiên cứu tiếp cận tội CGTS trên hai phương diện: Phương diện Luật hình sự và phương diện Tội phạm học Thứ nhất, tác giả tập trung nghiên cứu các quy định của pháp luật hình sự về tội CGTS như lịch sử phát triển của Luật hình sự Việt Nam về tội phạm này, khái niệm, các dấu hiệu pháp lý và trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội Những kết luận của tác giả là nguồn tài liệu tham khảo hữu ích cho nghiên cứu sinh khi nghiên cứu về tội CGTS trong luận án của mình

- Giáo trình tội phạm học, của Trường Đại học Huế [100], GS.TS.Võ Khánh Vinh đã xác định “Công tác đấu tranh với THTP có hai phương hướng tác động chặt chẽ với nhau: Phòng ngừa và việc phát hiện, điều tra, truy tố, xét xử các tội phạm”[100, tr.154] Tác giả nhấn mạnh “Việc phòng ngừa THTP là hệ thống nhiều mức độ các biện pháp mang tính chất nhà nước, xã hội và nhà nước xã hội nhằm khắc phục các nguyên nhân và điều kiện của tội phạm hoặc làm vô hiệu hóa (làm yếu, hạn chế) chúng và bằng cách đó làm giảm và dần dần loại bỏ THTP” [100,

tr.155]

Theo tác giả, việc phòng ngừa THTP được thực hiện bằng cách giải quyết cả những nhiệm vụ xã hội (phòng ngừa chung toàn xã hội) lẫn những nhiệm vụ chuyên

Trang 23

môn (chuyên ngành) Trong đó, phòng ngừa chung toàn xã hội được thực hiện một cách nhất quán bởi quá trình phát triển và hoàn thiện về mọi mặt của xã hội chúng ta, bởi việc thực hiện các quy luật và tính ưu việt của xã hội Còn phòng ngừa chuyên môn (chuyên ngành) được hiểu là tổng thể các biện pháp tác động pháp luật và các biện pháp giáo dục, tổ chức kỷ luật hướng đến việc phòng ngừa THTP nói chung, THTP của một loại tội phạm nào đó hoặc các tội phạm cụ thể như: Tội phạm giết người, cướp tài sản, CGTS Các biện pháp phòng ngừa THTP được phân loại theo: Nội dung; khối lượng; phạm vi; khách thể và những người nhận sự tác động; cơ chế tác động, cường độ (sự tương quan của các yếu tố thuyết phục và cưỡng chế) Trong

đó theo nội dung có các biện pháp phòng ngừa mang tính chất kinh tế, nhân chủng học, chính trị, tư tưởng, tổ chức, kỹ thuật và pháp lý, theo khối lượng được chia thành các biện pháp phòng ngừa chung, riêng và cá nhân, theo phạm vi gồm có các biện pháp của Nhà nước, của khu vực, địa phương

Các chủ thể của hoạt động phòng ngừa là các cơ quan Nhà nước, các tổ chức xã hội và các tập thể, cũng như mọi công dân trong phạm vi, trách nhiệm của mình trong công tác phòng ngừa tội phạm Mỗi chủ thể này có các chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, nghĩa vụ nhất định và phải chịu trách nhiệm đối với việc thực hiện chúng Giáo trình đã nêu rõ các chủ thể của hoạt động phòng ngừa THTP bao gồm: Các tổ chức Đảng, Hội đồng nhân dân các cấp và các cơ quan của Hội đồng nhân dân các cấp; các chủ thể quản lý về mặt quyền lực nhà nước; các cơ quan quản lý chung và quản lý kinh tế; các cơ quan bảo vệ pháp luật; các tổ chức xã hội, các tập thể lao động và công dân

- Tội phạm học hiện đại và phòng ngừa tội phạm, cuốn sách chuyên khảo của

GS TS Nguyễn Xuân Yêm, Nhà xuất bản CAND, năm 2001 [107], đã phân tích và

đưa ra khái niệm về phòng ngừa tội phạm Theo đó, “phòng ngừa tội phạm là hoạt động cải tạo các quan hệ xã hội nhằm mục đích loại trừ những nguyên nhân tội phạm, loại trừ các điều kiện tạo thuận lợi phát sinh ra các hành vi phạm tội, hạn chế hoặc cô lập các nhân tố tội phạm hoặc có sự ảnh hưởng đến sự hình thành các đặc điểm chống

xã hội của con người phạm tội” [107, tr.196] Ở nghĩa rộng “phòng ngừa tội phạm được hiểu như là một bộ phận của hoạt động hạn chế, xóa bỏ các nguyên nhân làm

Trang 24

nảy sinh tội phạm, là một phần nhiệm vụ của hệ thống kiểm tra xã hội, hoàn thiện lối sống xã hội chủ nghĩa, và hình thành con người mới” [107, tr.197] Như vậy, ngoài

việc làm triệt tiêu các nguyên nhân, điều kiện nảy sinh, tồn tại và phát triển của tội phạm còn phải kết hợp với việc hình thành con người mới xã hội chủ nghĩa, gắn liền với mục đích của công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội Tác giả xác định: Chủ thể phòng ngừa tội phạm là toàn bộ các cơ quan Nhà nước, các tổ chức xã hội và các công dân ở những mức độ và quy mô khác nhau đang tiến hành lãnh đạo, lập kế hoạch các biện pháp phòng ngừa tội phạm, quản lý hoặc trực tiếp thực hiện những biện pháp phòng ngừa hoặc đảm bảo cho việc thực hiện nó

- Tội phạm học Việt Nam – Một số vấn đề lý luận và thực tiễn, của tập thể tác giả

Viện nghiên cứu Nhà nước và Pháp luật do TS Phạm Hồng Hải làm chủ biên, Nhà xuất bản CAND, năm 2000 [39] Trong phần IV Vấn đề phòng ngừa tội phạm trong tội

phạm học Tác giả đã phân tích và đưa ra khái niệm: “Phòng ngừa tội phạm là tổng hợp các biện pháp khác nhau của Nhà nước, xã hội nhằm khắc phục, hạn chế và loại trừ nguyên nhân và điều kiện của tội phạm để ngăn chặn, hạn chế và tiến tới thủ tiêu tội phạm trong xã hội Như vậy, khái niệm phòng ngừa tội phạm được tác giả xây dựng phù hợp với các nguyên tắc pháp chế, nguyên tắc dân chủ, nguyên tắc nhân đạo

xã hội chủ nghĩa và nguyên tắc bảo đảm sự phối hợp đồng bộ trong phòng ngừa tội phạm” [39, tr.237]

- Tội phạm học, luật hình sự và luật tố tụng hình sự Việt Nam, Nhà xuất bản

chính trị quốc gia, năm 1994 [94], cuốn sách chuyên khảo của tập thể các nhà khoa học Viện nghiên cứu Nhà nước và Pháp luật do GS TSKH Đào Trí Úc chủ biên đã liệt

kê các cơ quan, tổ chức sau có thể coi là những chủ thể chính của hoạt động phòng ngừa tội phạm: Các tổ chức của Đảng cộng sản Việt Nam; Hội đồng nhân các cấp; các

cơ quan quản lý hành chính, kinh tế nhà nước; các cơ quan Công an, Viện kiểm sát và Tòa án; các cơ quan thuộc Bộ tư pháp, các tổ chức xã hội, tập thể lao động và cá nhân Theo tác giả, trong tội phạm học Việt Nam có thể có những biện pháp phòng ngừa sau: Phòng ngừa tội phạm theo cấp độ xã hội chung; phòng ngừa tội phạm theo cấp độ chuyên ngành; các biện pháp phòng ngừa tội phạm theo phạm vi lãnh thổ Công trình

đã nghiên cứu và chỉ rõ nội dung của các biện pháp phòng ngừa tội phạm được xác

Trang 25

định trên cơ sở tính chất của sự phòng ngừa Theo đó, có: Biện pháp kinh tế, chính trị

xã hội, văn hóa tư tưởng, tổ chức quản lý, pháp luật và biện pháp phòng ngừa theo

Ngoài những dấu hiệu, đặc điểm chung của THTP, sự thống nhất biện chứng của tất cả các yếu tố cấu thành THTP còn biểu hiện ở các thông số (đặc điểm) về lượng và các thông số về chất của nó Sự thay đổi một trong những thông số đó ở dạng tổng thể hay dạng từng phần đều dẫn đến sự thay đổi của THTP nói chung

+ Những thông số (đặc điểm) về lượng của THTP là thực trạng (mức độ) và động thái (diễn biến) của nó

Trong đó thực trạng của THTP là số lượng các tội phạm đã được thực hiện và những người thực hiện các tội phạm đó ở một địa bàn nhất định và trong một khoảng thời gian nhất định

Khi xác định số lượng các tội phạm đã được thực hiện cần phải tính tổng cộng các số lượng sau: Số lượng các tội phạm và những người bị Tòa án xét xử và tuyên bản án buộc tội; số lượng các vụ án hình sự bị đình chỉ điều tra, truy tố vì không chứng minh được sự tham gia của bị can trong các tội phạm đã thực hiện; các số liệu về số lượng các tội phạm không được phát hiện (các tội phạm tiềm ẩn); hệ số của THTP; mức độ của THTP tái phạm Khi phân tích thực trạng của THTP người ta sử dụng cả

hệ số của THTP tức là mối tương quan của số lượng các tội phạm đã thực hiện với số lượng dân cư tính trên 10.000 hoặc 100.000 người

Trang 26

Động thái của THTP: Là sự vận động và sự thay đổi của thực trạng và cơ cấu của THTP trong một khoảng thời gian nhất định (một năm, ba năm, năm năm, mười năm…)

+ Những chỉ số về chất của tình hình tội phạm: Là cơ cấu và tính chất của nó Tác giả đã chỉ rõ, cơ cấu của THTP là tỉ trọng và mối tương quan của các loại tội phạm khác nhau trong số lượng chung của chúng trong một khoảng thời gian nhất định

và ở một lãnh thổ (địa bàn) nhất định, còn tính chất của THTP thể hiện ở số lượng của các tội phạm nguy hiểm nhất cho xã hội trong cơ cấu của THTP cũng như ở các đặc điểm nhân thân của những người thực hiện tội phạm Tính chất của THTP được làm sáng tỏ thông qua cơ cấu của nó

+ Ngoài các chỉ số nêu trên, khối lượng và tính chất của thiệt hại trực tiếp và gián tiếp do các tội phạm gây ra được coi là chỉ số bổ sung đặc trưng cho THTP Các chỉ số của thiệt hại có thể gắn với đặc điểm của thực trạng THTP, của cơ cấu và động thái của nó

- Đề tài KX.04.14 Tội phạm ở Việt Nam thực trạng, nguyên nhân và giải pháp,

do các tác giả Lê Thế Tiệm và Phạm Tự Phả chủ biên, Nhà xuất bản CAND, năm 1994

[86] Các tác giả cho rằng: “với tính cách là một hiện tượng xã hội – pháp lý, tình hình tội phạm hàm chứa trong nó tổ hợp các tội phạm và đối tượng gây ra các tội phạm ấy

ở một quốc gia hay một vùng lãnh thổ - hành chính nào đó, trong một khoảng thời gian nhất định Tình hình tội phạm được thể hiện thông qua các chỉ số về định tính và định lượng” [86, tr.5]

+ Các chỉ số về định tính của THTP được biểu thị bằng các khái niệm cơ cấu và tính chất hay nói cụ thể hơn, là những thông số phản ánh nội dung của THTP

+ Các chỉ số về định lượng của THTP được biểu thị qua các khái niệm thực trạng

và động thái của THTP, tức là toàn bộ số tội phạm xảy ra và số đối tượng phạm tội đó được xem xét trong sự vận động và biến đổi theo thời gian đối với từng vùng lãnh thổ

- hành chính hay trên phạm vi toàn quốc

Như vậy, ở loại chỉ số này của THTP thì vấn đề mấu chốt là phải nắm được tổng

số tội phạm đã xảy ra trong xã hội và số người gây ra các tội phạm ấy (số người phạm tội) Tuy nhiên, trong thực tế thì chỉ có một phần các tội phạm đã xảy ra là được các cơ

Trang 27

quan chức năng (Tòa án, Viện kiểm sát, CQĐT và một số cơ quan khác được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra) phát hiện, điều tra, truy tố, xét xử và đưa vào thống kê hình sự (đó là phần các tội phạm đã rõ) Còn một phần tội phạm đáng kể khác thực tế đã xảy ra nhưng vì những lý do khác nhau mà các cơ quan chức năng trên chưa phát hiện được, chưa bị xử lý và chưa được đưa vào thống kê hình sự

Đó chính là phần các tội phạm ẩn và những sai số thống kê tội phạm

- Trong cuốn sách chuyên khảo Một số vấn đề lý luận về tình hình tội phạm ở Việt Nam, của PGS TS Phạm Văn Tỉnh, nhà xuất bản Tư pháp, tháng 1 năm 2007 [76], đã khái quát lên khái niệm về THTP: “Tình hình tội phạm là một hiện tượng xã hội tiêu cực mang tính lịch sử cụ thể và pháp lý hình sự, có tính giai cấp và được biểu hiện thông qua tổng thể các tội phạm cùng các chủ thể thực hiện các tội phạm đó trong một đơn vị hành chính lãnh thổ nhất định và trong một thời gian cụ thể nhất định” [76, tr.10] Ngoài ra khi nói đến đặc điểm của THTP theo quan điểm của tác giả

là nói đến những đặc điểm định tính và những đặc điểm định lượng của THTP ở mỗi thời kỳ, mỗi vùng lãnh thổ - hành chính nhất định Làm rõ được các đặc điểm này của THTP, tức là có đủ số liệu minh họa cho mức độ, cơ cấu và tính chất của THTP theo

sự vận động của thời gian (động thái), thì mới có thể nhận thức được THTP

+ Mức độ của THTP là đặc điểm định lượng tiêu biểu, cho biết về toàn bộ số người phạm tội cùng số tội phạm do họ thực hiện trong một đơn vị thời gian và không gian nhất định

+ Cơ cấu của THTP cho biết về kết cấu bên trong của các con số tạo nên THTP + Tính chất của THTP phản ánh mức độ nguy hiểm, mức độ nghiêm trọng khác nhau của THTP ở từng thời gian và không gian khác nhau thông qua tương quan về tỷ

lệ giữa các thành phần tạo nên cơ cấu của THTP như tỷ lệ giữa tội phạm nghiêm trọng

và ít nghiêm trọng, tỷ lệ giữa số người phạm tội bị phạt tù và không bị phạt tù như vậy, tính chất của THTP chính là kết quả của sự đánh giá đối với mức độ, cơ cấu và động thái của THTP

+ Động thái của THTP là sự vận động tự nhiên của THTP theo thời gian

Do vậy, tiếp cận bản chất của THTP với tư cách là cái được phản ánh thông qua các đặc điểm định tính, định lượng của nó và cần phải xuất phát từ hành vi cụ thể của

Trang 28

con người, trong mối quan hệ giữa tồn tại xã hội và ý thức xã hội Xác định được tính quyết định luận của tồn tại xã hội đối với hành vi con người sẽ là cơ sở để có những biện pháp đấu tranh phòng chống tội phạm có hiệu quả Theo đó, phần “hiện” và phần

“ẩn” của THTP là mặt hiện tượng, là sự phản ánh của mặt bản chất bên trong của tình hình đó Tác giả nghiên cứu và phân tích rất sâu về bản chất của THTP nói chung và THTP ở Việt Nam qua các giai đoạn

Nhìn chung, đây là một công trình nghiên cứu khoa học mang tính toàn diện, cung cấp những kiến thức về tội phạm học, đồng thời cũng chỉ ra phương pháp nghiên cứu, trang bị cho nghiên cứu sinh hệ thống các khái niệm và phương hướng nghiên cứu tình hình tội CGTS trên địa bàn miền ĐNB

- Đấu tranh phòng chống tội cướp giật tài sản ở nước ta hiện nay, Luận án tiến sĩ

luật học, của Đặng Thúy Quỳnh, Học viện Khoa học xã hội, Hà Nội, năm 2013 [68] Tác giả đã nghiên cứu tình hình tội CGTS trên toàn quốc trong khoảng thời gian từ năm 2001 đến năm 2012 và rút ra những vấn đề sau:

+ Trình độ học vấn: Qua phân tích 314 bị cáo có 02 bị cáo đang học đai học chiếm 0,6%, có 73 bị cáo học hết cấp 3 chiếm 23,6%, còn lại 76,2% người có trình độ cấp 1, cấp 2

+ Về giới tính: Đối tượng gây án CGTS là nam giới chiếm 97%, nữ giới chiếm 3% + Về độ tuổi: Người chưa thành niên chiếm 10%, người từ đủ 18 tuổi đến dưới

30 tuổi chiếm tỷ lệ trung bình là 42%, nhóm người phạm tội CGTS ở độ tuổi từ 30 trở lên có tỷ lệ 48% so với tổng số bị cáo CGTS

Luận án đã tập trung nghiên cứu, phân tích về nguyên nhân và điều kiện của tình hình tội CGTS ở nước ta hiện nay Theo đó, có các yếu tố tiêu cực thuộc về môi trường sống như: Yếu tố tiêu cực thuộc môi trường gia đình, yếu tố tiêu cực thuộc môi trường nhà trường, các yếu tố tiêu cực thuộc môi trường xã hội với chủ thể quản lý là Nhà nước; các yếu tố tiêu cực thuộc chủ thể hành vi phạm tội là nguyên nhân và điều điều kiện của tình hình tội CGTS Tuy nhiên, đây là kết quả nghiên cứu địa bàn trên cả nước Tội CGTS ở mỗi địa bàn, mỗi khu vực lại có những đặc điểm, nguyên nhân và điều kiện khác nhau Nghiên cứu sinh sẽ kế thừa để nghiên cứu tình hình tội CGTS trên địa bàn miền ĐNB

Trang 29

Qua các công trình nghiên cứu trên, chúng ta thấy rằng, các tác giả đã có quan điểm tương đối thống nhất khi đưa ra khái niệm về THTP Tuy nhiên, GS.TS.Võ Khánh Vinh và PGS TS Phạm Văn Tỉnh đã phân tích sâu sắc, toàn diện nhất về khái niệm và những thông số của THTP, những nguyên nhân và điều kiện của THTP Những công trình khoa học này sẽ làm nền tảng để nghiên cứu sinh nghiên cứu về tình hình tội CGTS, nguyên nhân và điều kiện của tình hình tội này trên địa bàn miền ĐNB

1.2.3 Nhóm các công trình nghiên cứu về các giải pháp phòng ngừa tình hình tội cướp giật tài sản

- Đề tài KX.04.14, Tội phạm ở Việt Nam thực trạng, nguyên nhân và giải pháp,

do các tác giả Lê Thế Tiệm và Phạm Tự Phả chủ biên, Nhà xuất bản CAND, năm 1994 [86] Thông qua nghiên cứu và tổng kết thực tiễn, đề tài đã xây dựng một hệ thống các biện pháp phòng ngừa đa dạng theo cách phân loại sau:

+ Dựa vào lĩnh vực phòng ngừa thì có các biện pháp: Kinh tế, chính trị, tư tưởng,

tổ chức, kỹ thuật, pháp luật, quản lý dân cư

+ Dựa vào tính chất của THTP có các biện pháp phòng ngừa THTP nói chung; các biện pháp phòng ngừa từng nhóm, loại tội phạm; các biện pháp phòng ngừa từng loại tội phạm cụ thể

+ Dựa vào phạm vi lãnh thổ thì có các biện pháp phòng ngừa trên phạm vi cả nước, ở cấp tỉnh, huyện, phường, xã

+ Nếu dựa vào tính chất tác động của các biện pháp phòng ngừa tội phạm thì có thể chia hệ thống các biện pháp phòng ngừa tội phạm thành: Các biện pháp giáo dục; các biện pháp tổ chức quản lý; các biện pháp làm lành mạnh hóa môi trường xã hội; các biện pháp xử lý theo pháp luật

Công trình đã xây dựng được một hệ thống biện pháp phòng ngừa, các nhóm biện pháp phòng ngừa khoa học và mang tính khả thi cao Nghiên cứu sinh sẽ tiếp thu trong quá trình xây dựng các biện pháp phòng ngừa phù hợp với địa bàn miền ĐNB

- Phòng ngừa tội cướp giật tài sản trên địa bàn Thành phố Hà Nội, Luận văn

thạc sĩ luật học, của Nguyễn Hải Yến, Đại học Luật Hà Nội, năm 2013 [111] Dựa trên kết quả nghiên cứu về tình hình, nguyên nhân của tội CGTS, tác giả đã đưa ra một số

Trang 30

giải pháp nâng cao hiệu quả phòng ngừa, như: Nhóm các giải pháp kinh tế xã hội; nhóm các giải pháp về giáo dục và tuyên truyền, phổ biến pháp luật; nhóm các giải pháp về nâng cao hiệu quả trong công tác quản lý trật tự an toàn xã hội; giải pháp nâng cao hoạt động của các cơ quan tiến hành tố tụng; nhóm giải pháp phòng ngừa từ phía người phạm tội; giải pháp phòng ngừa từ phía nạn nhân Đối với nhóm giải pháp phòng ngừa từ phía người phạm tội, theo tác giả thì gia đình, nhà trường cần có sự liên

hệ để quản lý và kịp thời uốn nắn các em khi có biểu hiện lệch lạc về đạo đức, tác phong, lối sống Đối với người nghiện ma túy cần có các giải pháp cai nghiện hợp lý, hoạt động tư vấn, dạy nghề, tạo việc làm cho họ sau khi đã cai nghiện cần được chú trọng, các cấp chính quyền cần quan tâm giải quyết việc làm, đào tạo nghề cho người dân để họ có thu nhập chính đáng , đặc biệt luận văn đã chỉ ra được giải pháp phòng ngừa từ phía nạn nhân, đây là một biện pháp phòng ngừa từ xa, rất có ý nghĩa trong hoạt động phòng ngừa Nghiên cứu sinh đồng tình với quan điểm mà tác giả đưa ra về nhóm giải pháp này và sẽ tiếp thu trong quá trình thực hiện luận án

- Phòng ngừa tội cướp giật tài sản do người chưa thành niên thực hiện tại Thành phố Đà Nẵng, Luận văn thạc sĩ luật học, của Bùi Xuân Nam, Học viện Khoa học xã

hội, năm 2013 [58] Luận văn tập trung nghiên cứu về tình hình, nguyên nhân và điều kiện của tình hình tội CGTS do người chưa thành niên thực hiện tại Thành phố Đà Nẵng, trên cơ sở đó đưa ra hệ thống các biện pháp phòng ngừa với loại tội phạm này Đây là công trình nghiên cứu khá toàn diện về giải pháp phòng ngừa tội CGTS do người chưa thành niên thực hiện tại Đà Nẵng Tuy nhiên, tác giả mới chỉ đề cập đến chủ thể của tội phạm là người chưa thành niên trên địa bàn Thành phố Đà Nẵng Những biện pháp phòng ngừa mà tác giả đưa ra mới chỉ tập trung nghiên cứu trong phạm vi một tỉnh, với một chủ thể cụ thể là người chưa thành niên Những biện pháp này sẽ được nghiên cứu sinh tham khảo trong quá trình nghiên cứu các biện pháp phòng ngừa của luận án

1.3 Đánh giá tổng quan tình hình nghiên cứu

Thời gian qua có nhiều công trình khoa học nghiên cứu về tội CGTS ở những góc độ và phạm vi khác nhau Kết quả của những nghiên cứu trên đã đóng góp tích

Trang 31

cực về mặt lý luận và góp phần quan trọng vào thực tiễn công tác phòng, chống tình hình tội CGTS trên địa bàn miền ĐNB

Những vấn đề đã được các công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận án,

trong số những công trình nghiên cứu trong nước và ngoài nước, được tác giả luận án tham khảo, có những công trình nghiên cứu dưới góc độ lý luận về tội CGTS, trong đó

có đề cập đến khái niệm, các dấu hiệu pháp lý hình sự của tội CGTS; một số công trình cung cấp lý thuyết cơ bản, nền tảng về tội phạm học, có những công trình nghiên cứu chuyên sâu về các nội dung của tội phạm học mang tính lý thuyết như: Khái niệm THTP, khái niệm phòng ngừa THTP, các thông số của THTP, nguyên nhân và điều kiện của THTP, nhân thân người phạm tội, dự báo THTP, biện pháp phòng ngừa tội phạm; chủ thể phòng ngừa THTP, một số công trình nghiên cứu đưa ra khái niệm về phòng ngừa tình hình tội CGTS, nội dung của công tác phòng ngừa tội phạm, nguyên nhân và điều kiện của tình hình tội CGTS Những công trình trên cung cấp cơ sở lý luận để nghiên cứu sinh vận dụng nghiên cứu đề tài luận án của mình

Những vấn đề liên quan đến luận án nhưng chưa được nghiên cứu một cách chuyên sâu, ở những mức độ khác nhau, có rất nhiều công trình nghiên cứu về tội

CGTS Tuy nhiên, các công trình đó chỉ nghiên cứu các vấn đề trên ở phạm vi một quốc gia khác hoặc ở một tỉnh, thành khác trong nước, như: Đấu tranh phòng, chống tội CGTS ở Việt Nam, hoặc trên địa bàn thành phố Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh, thành phố Đà Nẵng chưa sát với điều kiện địa lý, tự nhiên, dân số, truyền thống, phong tục, tập quán cũng như với tình hình tội CGTS trên địa bàn miền ĐNB Một số công trình khác nghiên cứu về tình hình, nguyên nhân và điều kiện của tội CGTS và cũng đưa ra được hệ thống các biện pháp phòng ngừa với tội phạm này nhưng chỉ nghiên cứu ở một phạm vi hẹp và cũng chỉ dừng lại ở cấp độ luận văn thạc sỹ Đặc biệt, một số công trình nghiên cứu về những vấn đề trên nhưng nghiên cứu dưới góc

độ điều tra hình sự với chủ thể phòng ngừa là lực lượng CSND hoặc chủ thể thực hiện hành vi là người nước ngoài, người chưa thành niên Đến thời điểm hiện nay, chưa có công trình nào nghiên cứu dưới góc độ tội phạm học một cách đầy đủ, chuyên sâu về tình hình tội CGTS; nguyên nhân, điều kiện của tình hình tội CGTS từ năm 2007 đến

Trang 32

năm 2016 và đề xuất các biện pháp phòng ngừa tình hình tội CGTS trên địa bàn miền ĐNB

Từ việc đánh giá tổng quan tình hình nghiên cứu như trên, Nghiên cứu sinh rút ra những vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu, như sau:

Thứ nhất, phân tích và đánh giá toàn diện về mức độ, động thái, cơ cấu, tính chất của tình hình tội CGTS trên địa bàn miền ĐNB từ năm 2007 đến năm 2016

Thứ hai, phân tích làm rõ nguyên nhân, điều kiện của tình hình tội CGTS và nhân thân người phạm tội CGTS trên địa bàn miền ĐNB từ năm 2007 đến năm 2016

Thứ ba, đề xuất các giải pháp phòng ngừa tình hình tội CGTS trên địa bàn miền ĐNB một cách khoa học và có tính khả thi

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1

Tình hình tội CGTS trên địa bàn miền ĐNB trong thời gian qua không chỉ xâm phạm đến quyền sở hữu mà còn xâm phạm đến tính mạng, sức khoẻ của con người Ngoài ra, loại tội phạm này còn gây ra nhiều hệ lụy khác làm cho gia đình và người thân của nạn nhân phải gánh chịu những mất mát to lớn cả về vật chất lẫn tinh thần, làm cho quần chúng nhân dân hoang mang lo lắng về sự bình yên của cuộc sống Trước tình hình đó các cấp ủy Đảng và các cơ quan chính quyền trên địa bàn miền ĐNB đã triển khai thực hiện các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước, đã huy động nhiều nhà khoa học, nhiều cơ quan, tổ chức, đầu tư tài chính để nghiên cứu

về tội CGTS và công tác phòng ngừa tội này Đã có nhiều công trình nghiên cứu về vấn đề trên đã được công bố, có chất lượng và ý nghĩa cả về lý luận và thực tiễn Qua nghiên cứu, tác giả đã rút ra những kết luận có liên quan đến luận án mà các công trình trên đã thống nhất, nghiên cứu sinh sẽ kế thừa các kết luận đó trong luận án của mình Đồng thời, tác giả đã xác định rõ những vấn đề liên quan đến luận án chưa được nghiên cứu một cách chuyên sâu và đưa ra những vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu, làm

rõ trong luận án, như: Phân tích và đánh giá toàn diện về mức độ, động thái, cơ cấu, tính chất của tình hình tội CGTS trên địa bàn miền ĐNB; phân tích làm rõ, đánh giá chính xác nguyên nhân, điều kiện của tình hình tội CGTS và nhân thân người phạm tội

Trang 33

CGTS; đề xuất các biện pháp phòng ngừa tình hình tội CGTS trên địa bàn miền ĐNB,

có tính khoa học và khả thi

Trên cơ sở phân tích một số công trình nghiên cứu trong và ngoài nước đã được công bố có liên quan đến đề tài luận án, tác giả sẽ chọn lọc và kế thừa những luận điểm khoa học để nghiên cứu những vấn đề lý luận về tội CGTS; tình hình tội CGTS; nguyên nhân và điều kiện của tình hình tội CGTS, các giải pháp phòng ngừa với tình hình tội CGTS, kết quả nghiên cứu trên sẽ được nghiên cứu sinh tiếp thu để nghiên cứu về tình hình, nguyên nhân và điều kiện của tình hình tội CGTS, để xây dựng các giải pháp phòng ngừa tình hình tội CGTS trên địa bàn miền ĐNB trong thời gian tới

Trang 34

Chương 2 TÌNH HÌNH TỘI CƯỚP GIẬT TÀI SẢN TRÊN ĐỊA BÀN MIỀN ĐÔNG NAM BỘ

2.1 Tiếp cận từ lý luận Tội phạm học để làm sáng tỏ về tình hình tội cướp giật tài sản trên địa bàn miền Đông Nam Bộ

2.1.1 Khái niệm tình hình tội cướp giật tài sản trên địa bàn miền Đông Nam Bộ

Trong Tội phạm học nói chung và Tội phạm học Việt Nam nói riêng, khái niệm THTP là khái niệm cơ bản đầu tiên của Tội phạm học Đó là một thuật ngữ khoa học, nhưng đồng thời cũng là một thuật ngữ thường được dùng trong ngôn ngữ thông dụng,

ngôn ngữ đời thường Theo quan điểm của trường Đại học Luật Hà Nội thì “Tình hình tội phạm là một hiện tượng xã hội tiêu cực, trái pháp luật hình sự, mang tính giai cấp

và thay đổi theo quá trình của của lịch sử; được thể hiện ở một tổng hợp các tội phạm

cụ thể đã xảy ra trong xã hội và trong một khoảng thời gian nhất định” [91, tr.91]

Theo cách tiếp cận trên cơ sở thế giới quan duy vật biện chứng và duy vật lịch sử về tội phạm, PGS TS Phạm Văn Tỉnh cho rằng, đấu tranh với tội phạm dưới góc độ Tội phạm học không phải chỉ dựa trên quan điểm xem tội phạm là những hành vi riêng lẻ - đơn nhất, mà phải nhìn nhận tội phạm trong tổng thể của nó, trong mối quan hệ của nó với “toàn bộ xã hội”, và trong chừng mực đó thì đối tượng nghiên cứu của Tội phạm học chính là THTP Từ quan điểm và phương pháp nghiên cứu như trên, tác giả đã đưa

ra khái niệm THTP như sau: “Tình hình tội phạm là một hiện tượng xã hội tiêu cực mang tính lịch sử cụ thể và pháp lý hình sự, có tính giai cấp và được biểu hiện thông qua tổng thể các tội phạm cùng các chủ thể thực hiện các tội phạm đó trong một đơn

vị hành chính lãnh thổ nhất định và trong một thời gian cụ thể nhất định” [76, tr.10]

Dựa trên các dấu hiệu và các thuộc tính của THTP, GS TS Võ Khánh Vinh đã định

nghĩa về THTP: “Tình hình tội phạm là hiện tượng xã hội, pháp lý – hình sự được thay đổi về mặt lịch sử, mang tính chất giai cấp bao gồm tổng thể thống nhất (hệ thống) các tội phạm thực hiện trong một xã hội (quốc gia) nhất định và trong khoảng thời gian nhất định” [100, tr.61] Như vậy, trên cơ sở lý luận chung về khái niệm THTP mà

các nhà khoa học đã xây dựng và phát triển, có thể hiểu tình hình tội CGTS trên địa

Trang 35

bàn miền ĐNB như sau: Tình hình tội CGTS trên địa bàn miền ĐNB là một hiện tượng

xã hội, pháp lý tiêu cực, mang tính lịch sử và pháp lý hình sự với hạt nhân là tính giai cấp, được biểu hiện bằng tổng thể các hành vi CGTS cùng các chủ thể thực hiện các hành vi đó trên địa bàn miền ĐNB, ở một khoảng thời gian nhất định Tình hình tội

CGTS trên địa bàn miền ĐNB là tổng thể tội CGTS đã xảy ra, bao gồm cả số vụ CGTS

đã bị phát hiện và số vụ chưa bị phát hiện Như vậy, qua khái niệm trên có thể nhận diện một số đặc điểm cơ bản của tình hình tội CGTS trên địa bàn miền ĐNB như sau:

Thứ nhất, tình hình tội cướp giật tài sản là một hiện tượng xã hội

Chủ nghĩa Mác – Lênin đã khẳng định, THTP là một hiện tượng xã hội chứ không phải một hiện tượng tự nhiên, điều này có nghĩa THTP có nguồn gốc trong xã hội, tồn tại trong xã hội, có nội dung xã hội, có nguyên nhân trong xã hội và số phận của nó cũng mang tính xã hội [100, tr.55] Tình hình tội CGTS trên địa bàn miền ĐNB

là một hiện tượng xã hội, được hình thành từ những hành vi của con người cụ thể sinh sống và làm việc trên địa bàn miền ĐNB nên chịu tác động của các điều kiện kinh tế, văn hóa – xã hội của miền ĐNB, như: Hoàn cảnh kinh tế khó khăn, tình trạng thất nghiệp, trình độ văn hóa thấp Đồng thời tình hình tội CGTS trên địa bàn miền ĐNB cũng có quan hệ chặt chẽ với các hiện tượng, quá trình xã hội khác như: Tệ nạn nghiện

ma túy, nghiện cờ bạc, nghiện chơi game online của một bộ phận thanh, thiếu niên trên địa bàn miền ĐNB Như vậy, tình hình tội CGTS trên địa bàn miền ĐNB không chỉ là một hiện tượng mang tính xã hội thông thường mà nó còn là một hiện tượng xã hội tiêu cực nguy hiểm cho xã hội Điều này biểu hiện ở chỗ hành vi CGTS không chỉ gây ra những thiệt hại về vật chất và tinh thần cho người bị hại mà còn xâm phạm đến

cả sức khỏe, tính mạng của nạn nhân, gây hậu quả lớn cho xã hội, cản trở quá trình phát triển của xã hội Vì vậy, khi nghiên cứu về tình hình tội CGTS trên địa bàn miền ĐNB phải căn cứ vào mối quan hệ tác động qua lại giữa các hiện tượng, quá trình xã hội, dựa vào các điều kiện của đời sống xã hội với tội CGTS thì mới có nhận thức đầy

đủ về tình hình tội CGTS trên địa bàn miền ĐNB

Thứ hai, tình hình tội cướp giật tài sản là một hiện tượng xã hội mang tính lịch sử

Chủ nghĩa Mác – Lênin cho rằng mọi hiện tượng trong xã hội và trong tự nhiên không phải ở trạng thái tĩnh tại, bất biến mà thường xuyên biến đổi, thay đổi [100,

Trang 36

tr.55] Với tính cách là một hiện tượng xã hội, tình hình tội CGTS trên địa bàn miền ĐNB luôn có sự vận động và biến đổi phụ thuộc vào các điều kiện lịch sử và xã hội trong từng giai đoạn của miền ĐNB So với giai đoạn trước thì giai đoạn từ năm 2007 đến năm 2016, các tỉnh, thành trên địa bàn miền ĐNB đã phát huy được tính năng động, sáng tạo, vận dụng có hiệu quả các Nghị quyết của Trung ương Đảng, Quốc hội, Chính phủ, Ủy ban nhân dân, Hội đồng nhân dân về ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát, đảm bảo an sinh xã hội; tập trung chỉ đạo, điều hành linh hoạt, đề ra một số giải pháp tháo gỡ khó khăn cho sản xuất kinh doanh, đã xây dựng được những chính sách phát triển kinh tế, văn hóa – xã hội phù hợp và trở thành khu vực đầu tàu về thu hút vốn, công nghệ và đầu tư nước ngoài, luôn dẫn đầu cả nước trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa, đô thị hóa, các dịch vụ thượng mại đời sống vật chất tinh thần của người dân ngày một nâng cao Tuy nhiên, nguồn lao động và việc làm thường xuyên biến động, số lao động không ổn định việc làm, mất việc làm, tái bố trí việc làm hàng năm lớn, sự dịch chuyển lao động giữa các ngành kinh tế, giữa các doanh nghiệp ngày một tăng gây mất ổn định hoạt động sản xuất kinh doanh ở một số ngành nghề Lao động phổ thông trên địa bàn ngày càng có xu hướng làm những công việc tự do hoặc tham gia các loại hình dịch vụ có thu nhập cao Lực lượng lao động có chuyên môn kỹ thuật được đào tạo tại các trường, lớp chưa đáp ứng được yêu cầu phát triển nhất là các ngành kinh tế mũi nhọn, đội ngũ công nhân kỹ thuật lành nghề thiếu hầu hết ở tất cả các ngành kinh tế quốc dân Chất lượng đào tạo nghề vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu của doanh nghiệp và thị trường lao động Mạng lưới cơ sở giáo dục đào tạo tuy phát triển nhưng tập trung nhiều tại khu đô thị, khu vực nông thôn số lượng cơ

sở dạy nghề còn ít, quy mô dạy nghề nhỏ Các điều kiện cơ sở vật chất, trang thiết bị

để đảm bảo chất lượng đào tạo còn hạn chế và không đồng bộ, ảnh hưởng đến chất lượng và hiệu quả đào tạo Hiệu lực và hiệu quả quản lý Nhà nước trên một số lĩnh vực chưa đáp ứng yêu cầu Tầm nhìn quy hoạch chưa đủ dài; chưa có sự liên kết giữa quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội Vùng; chất lượng quy hoạch còn thấp, thiếu đồng bộ, tính dự báo chưa cao nên một số quy hoạch bị phá vỡ Công tác quản lý nhà nước ở một số lĩnh vực còn yếu kém, thiếu trách nhiệm, nhất là quản lý đô thị, bảo vệ môi trường, quản lý thị trường, vệ sinh an toàn thực phẩm, quản lý hoạt động văn hóa, dịch

Trang 37

vụ công ích, tệ nạn xã hội, cướp giật, gây tâm lý bất an trong xã hội Kết quả cải cách

tư pháp chưa đồng bộ ở các lĩnh vực, nhiều vụ án và thi hành án dân sự còn tồn đọng chưa xử lý dứt điểm; tỷ lệ án hủy, án trả điều tra bổ sung tuy có giảm nhưng chưa đạt yêu cầu Các loại hình kinh doanh dịch vụ văn hóa biến tướng không hoạt động công khai như trước nhưng vẫn còn những tiềm ẩn phức tạp Những biến động về kinh tế, chính trị, văn hóa – xã hội như trên đã làm cho tình hình tội CGTS trên địa bàn miền ĐNB trong khoảng thời gian từ năm 2007 đến năm 2016 có những diễn biến phức tạp hơn so với giai đoạn trước, số đối tượng không có việc làm, trình độ văn hóa thấp, không được sự quan tâm giáo dục của gia đình phạm tội chiếm tỷ lệ cao, phương thức, thủ đoạn phạm tội ngày càng tinh vi, xảo quyệt, các đối tượng phạm tội ngày càng manh động, xuất hiện thủ đoạn phạm tội mới như: Các đối tượng phục sẵn tại các cây ATM, tại các ngân hàng để thực hiện tội phạm khi gặp điều kiện thuận lợi

Như vậy, để đánh giá chính xác tình hình tội CGTS trên địa bàn miền ĐNB trong thời gian từ năm 2007 đến năm 2016 phải gắn với từng điều kiện lịch sử Mặt khác, khi đề ra các biện pháp phòng ngừa, cần dự báo sự biến đổi của các điều kiện kinh tế, chính trị, văn hóa – xã hội để các giải pháp mang lại hiệu quả cao

Thứ ba, tình hình tội cướp giật tài sản là một hiện tượng xã hội mang tính giai cấp

Tính giai cấp của THTP thể hiện ở nguồn gốc xuất hiện, ở các nguyên nhân nhất định,

ở nội dung của các tội phạm cụ thể - các thực thể, tế bào cấu thành nên hiện tượng đó

và cả ở số phận của nó trong tương lai [100, tr.56]

Tính giai cấp của tình hình tội CGTS trước hết thể hiện ở quan điểm lập pháp tội CGTS Tội CGTS là hành vi nhanh chóng chiếm đoạt tài sản của người khác một cách công khai, tội CGTS xâm phạm trực tiếp đến quyền sở hữu tài sản của người khác, gây tác động xấu đến trật tự an toàn xã hội, gây hại cho lợi ích của Đảng, của Nhà nước và của nhân dân nên nó bị coi là tội phạm và phải chịu hình phạt Tùy theo tính chất và mức độ nguy hiểm do hành vi CGTS gây ra cho xã hội mà người phạm tội phải chịu hình phạt tương ứng được quy định tại các khoản thuộc Điều 136 Bộ luật hình sự năm

1999 (sửa đổi, bổ sung năm 2009) Mặt khác, tính giai cấp còn thể hiện ở tính nghiêm khắc trong các Nghị quyết, Quyết định, Chỉ thị, các kế hoạch đấu tranh phòng, chống THTP nói chung và tình hình tội CGTS nói riêng của các cơ quan Đảng, Nhà nước

Trang 38

nhằm bảo vệ an ninh trật tự, bảo vệ tính mạng và tài sản cho người dân, như: Chỉ thị số 48-CT/TW ngày 22/10/2010 của Bộ Chính trị về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác phòng, chống tội phạm trong tình hình mới; Chỉ thị số 46-CT/TW ngày 22/6/2015 của Bộ Chính trị về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác đảm bảo ANTT trong tình hình mới; Quyết định số 282/QĐ-TTg ngày 24/2/2011 của Thủ tướng Chính phủ về ban hành kế hoạch thực hiện Chỉ thị số 48 CT/TW ngày 22 tháng

10 năm 2010 của Bộ Chính trị về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác phòng, chống tội phạm trong tình hình mới; Kế hoạch số 250/KH-BCA-V11 ngày 16/10/2015 của Bộ Công an về thực hiện Nghị quyết số 55/NQ-CP ngày 3/8/2015 của Chính phủ về Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới; Nghị quyết 37/2012/NQ-QH13, Nghị quyết 63/2014/NQ-QH13 về tăng cường biện pháp đấu tranh phòng, chống tội phạm, triển khai thực hiện Chiến lược Quốc gia phòng chống tội phạm giai đoạn 2015-2025, định hướng đến năm 2030; Chỉ thị số 10/2015/CT-UBND của Ủy ban nhân dân thành phố Hồ Chí Minh về tăng cường công tác đảm bảo ANTT tại cơ quan, doanh nghiệp, nhà trường trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh trong tình hình mới; Nghị quyết số 50/2012/NQ-HĐND về mục tiêu, giải pháp thực hiện nhiệm

vụ kinh tế - xã hội, quốc phòng – an ninh của tỉnh Đồng Nai; Kế hoạch đấu tranh phòng, chống tội phạm của Công an thành phố Hồ Chí Minh, Công an các tỉnh Đông Nai, Bình Dương, Bình Phước, Tây Ninh, Bà Rịa – Vũng Tàu từ năm 2007 đến năm 2016 Những văn bản này thể hiện sự kiên quyết của Đảng và Nhà nước ta nói chung, Đảng và chính quyền các tỉnh, thành trên địa bàn miền ĐNB nói riêng trong đấu tranh phòng, chống loại tội phạm này

Thứ tư, tình hình tội cướp giật tài sản trên địa bàn miền ĐNB là một hiện tượng

có giới hạn về không gian và thời gian

Trong Tội phạm học việc nghiên cứu THTP không thể diễn ra ở một không gian

và một thời gian chung chung mà nó phải được giới hạn trong một chỉnh thể thống nhất về không gian và thời gian nhất định Nghiên cứu tình hình tội CGTS trên địa bàn miền ĐNB là việc nghiên cứu tình hình tội CGTS xảy ra tại các tỉnh, thành trên địa bàn miền ĐNB từ năm 2007 đến năm 2016 với các đặc điểm về tự nhiên, kinh tế, văn hóa – xã hội đặc trưng của địa bàn miền ĐNB Nắm rõ đặc điểm này cho phép chúng

Trang 39

ta nghiên cứu sâu và rút ra được những đặc trưng cơ bản của tình hình tội CGTS giữa các tỉnh, thành trong địa bàn và giữa địa bàn miền ĐNB với các vùng miền lân cận, các vùng khác trên cả nước, để từ đó đề ra các giải pháp phòng ngừa phù hợp với đặc điểm của miền ĐNB và với từng đối tượng phạm tội CGTS cụ thể

2.1.2 Các thông số của tình hình tội cướp giật tài sản trên địa bàn miền Đông Nam Bộ

“Bức tranh” về tình hình tội CGTS trên địa bàn miền ĐNB được hình thành từ phần hiện và phần ẩn của tình hình tội CGTS

- Phần hiện của tình hình tội phạm là toàn bộ những hành vi phạm tội và chủ thể của các hành vi đó đã bị xử lý theo quy định của pháp luật hình sự ở từng đơn vị hành chính – lãnh thổ hay trên phạm vi toàn quốc, trong những khoảng thời gian nhất định

và được ghi nhận trong thống kê hình sự [76, tr.55]

Phần hiện của tình hình tội CGTS trên địa bàn miền ĐNB giai đoạn từ năm 2007 đến năm 2016 là toàn bộ số tội phạm CGTS và người phạm tội CGTS trên địa bàn miền ĐNB đã được xử lý hình sự (đã bị phát hiện, điều tra, truy tố, xét xử và đưa vào thống kê hình sự) trong giai đoạn từ năm 2007 đến năm 2016

Minh chứng cụ thể tình hình tội CGTS trên địa bàn miền ĐNB, thực chất chỉ có thể là sự minh chứng phần hiện của nó Công việc này được thực hiện theo cách thức

mô tả từ khái quát đến chi tiết các thông số cơ bản của tình hình tội CGTS trên địa bàn miền ĐNB, bao gồm thực trạng (mức độ), diễn biến, cơ cấu và tính chất của tình hình tội CGTS trên địa bàn miền ĐNB

+ Thực trạng của tình hình tội CGTS (Làm rõ tất cả các chỉ số: Số lượng vụ, người; bình quân của 1 năm; mức độ so với nhóm tội XPSH; mức độ so với các địa phương khác; chỉ số tội phạm)

Thực trạng của THTP là số lượng các tội phạm đã được thực hiện và những người thực hiện các tội phạm đó ở một địa bàn nhất định và trong một khoảng thời gian nhất định [100, tr.62] Thực trạng của tình hình tội CGTS trên địa bàn miền ĐNB giai đoạn từ năm 2007 đến năm 2016 là số lượng các vụ CGTS đã xảy ra và số người

đã phạm tội CGTS trong khoảng thời gian từ năm 2007 đến năm 2016, nó được biểu hiện thông qua: Số lượng vụ CGTS và số người bị Tòa án xét xử, tuyên bản án về tội

Trang 40

CGTS; các số liệu về số lượng tội CGTS trên địa bàn miền ĐNB không được phát hiện; hệ số của tình hình tội CGTS trên địa bàn miền ĐNB (là mối tương quan của số lượng tội CGTS trên địa bàn miền ĐNB đã thực hiện với số lượng dân cư sinh sống trên địa bàn miền ĐNB tính trên 100.000 người)

+ Diễn biến (động thái) của THTP là sự vận động và sự thay đổi của thực trạng

và cơ cấu của THTP trong một khoảng thời gian nhất định (một năm, ba năm, năm năm, mười năm ) [100, tr.64] Diễn biến của tình hình tội CGTS trên địa bàn miền ĐNB giai đoạn từ năm 2007 đến năm 2016 là sự vận động và sự thay đổi của mức độ

và cơ cấu của tình hình tội CGTS trên địa bàn miền ĐNB trong khoảng thời gian từ năm 2007 đến năm 2016

+ Cơ cấu của THTP là tỷ trọng và mối tương quan của các loại tội phạm khác nhau trong số lượng chung của chúng trong khoảng thời gian nhất định và ở một lãnh thổ (địa bàn) nhất định [100, tr.65] Nghiên cứu về cơ cấu của tình hình tội CGTS trên địa bàn miền ĐNB, có thể nghiên cứu theo các loại cơ cấu sau: Cơ cấu theo đặc điểm địa lý; cơ cấu theo đặc điểm nhân thân của người phạm tội; cơ cấu theo thủ đoạn phạm tội; cơ cấu theo công cụ, phương tiện sử dụng để thực hiện tội phạm; cơ cấu theo thời gian, địa điểm gây án; cơ cấu theo loại tài sản bị cướp giật; cơ cấu theo đặc điểm của nạn nhân

+ Tính chất của tình hình tội CGTS thể hiện ở số lượng của các hành vi nguy hiểm nhất cho xã hội trong cơ cấu của tình hình tội CGTS cũng như ở đặc điểm nhân thân của những người thực hiện tội CGTS Tính chất của tình hình tội CGTS được làm sáng tỏ thông qua cơ cấu của nó [100, tr.66] Tính chất của tình hình tội CGTS trên địa bàn miền ĐNB chính là đặc điểm định tính của tình hình tội CGTS Tính chất của tình hình tội CGTS trên địa bàn miền ĐNB là kết quả phân tích, đánh giá mặt chất của tình hình tội CGTS dựa trên mức độ, diễn biến và cơ cấu của tình hình tội CGTS

- Phần ẩn của THTP là tổng thể các hành vi phạm tội (cùng các chủ thể của các hành vi đó) đã xảy ra trong thực tế, song không bị phát hiện, không bị xử lý theo quy định của pháp luật hình sự hoặc không có trong thống kê hình sự [76, tr.74] Quan điểm này cũng khá phù hợp với quan điểm của GS, TSKH Đào Trí Úc: THTP ẩn là tổng quát những hành vi phạm tội cùng các chủ thể của các hành vi đó thực tế đã được

Ngày đăng: 23/06/2017, 18:12

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Nguyễn Ngọc Anh (2004), Tài liệu tập huấn chuyên sâu về Pháp lệnh tổ chức điều tra hình sự năm 2004, NXB Thống kê, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tài liệu tập huấn chuyên sâu về Pháp lệnh tổ chức điều tra hình sự năm 2004
Tác giả: Nguyễn Ngọc Anh
Nhà XB: NXB Thống kê
Năm: 2004
2. Nguyễn Ngọc Anh (2005), Để triển khai thực hiện Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 và Pháp lệnh tổ chức điều tra hình sự năm 2004 có chất lượng, hiệu quả, Tạp chí Công an nhân dân (số 4), Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Để triển khai thực hiện Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 và Pháp lệnh tổ chức điều tra hình sự năm 2004 có chất lượng, hiệu quả
Tác giả: Nguyễn Ngọc Anh
Năm: 2005
3. Nguyễn Ngọc Anh (2005), Triển khai thực hiện Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 và Pháp lệnh tổ chức điều tra hình sự năm 2004 góp phần nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm, Tạp chí Công an nhân dân (số 1), Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Triển khai thực hiện Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 và Pháp lệnh tổ chức điều tra hình sự năm 2004 góp phần nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm
Tác giả: Nguyễn Ngọc Anh
Năm: 2005
4. Nguyễn Ngọc Anh (2005), Xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật về phòng, chống tội phạm trong tình hình mới, Tạp chí Công an nhân dân (số 9), Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật về phòng, chống tội phạm trong tình hình mới
Tác giả: Nguyễn Ngọc Anh
Năm: 2005
5. Nguyễn Ngọc Anh (2006), Một số vấn đề thực hiện thẩm quyền điều tra của Cơ quan Cảnh sát điều tra cấp huyện, Tạp chí CSND (số 3), Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vấn đề thực hiện thẩm quyền điều tra của Cơ quan Cảnh sát điều tra cấp huyện
Tác giả: Nguyễn Ngọc Anh
Năm: 2006
6. Nguyễn Ngọc Anh (2006), Thực tiễn thực hiện Pháp lệnh tổ chức điều tra hình sự năm 2004 trong lực lượng Cảnh sát nhân dân và những vấn đề đặt ra, Tạp chí Khoa học và Giáo dục trật tự xã hội (số 1), Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực tiễn thực hiện Pháp lệnh tổ chức điều tra hình sự năm 2004 trong lực lượng Cảnh sát nhân dân và những vấn đề đặt ra
Tác giả: Nguyễn Ngọc Anh
Năm: 2006
7. Nguyễn Ngọc Anh (2006), Triển khai chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020 trong lực lượng Công an nhân dân, Tạp chí Công an nhân dân (số 6), Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Triển khai chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020 trong lực lượng Công an nhân dân
Tác giả: Nguyễn Ngọc Anh
Năm: 2006
8. Phạm Tuấn Bình (2002), Giáo trình tội phạm học, Học viện Cảnh sát nhân dân, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình tội phạm học
Tác giả: Phạm Tuấn Bình
Năm: 2002
9. Phạm Tuấn Bình (1997), Chuyên đề đặc điểm hình sự về tội phạm, Trường Đại học Cảnh sát nhân dân, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chuyên đề đặc điểm hình sự về tội phạm, Trường Đại học
Tác giả: Phạm Tuấn Bình
Năm: 1997
11. Bộ Công an (2007), Báo cáo sơ kết hai năm thực hiện Pháp lệnh tổ chức điều tra hình sự năm 2004, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo sơ kết hai năm thực hiện Pháp lệnh tổ chức điều tra hình sự năm 2004
Tác giả: Bộ Công an
Năm: 2007
20. Bộ Công an, Viện nghiên cứu Chiến lược và Khoa học Công an (2002), Dự báo tình hình tội phạm và đề xuất các giải pháp phòng, chống tội phạm đến 2005 và 2010, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dự báo tình hình tội phạm và đề xuất các giải pháp phòng, chống tội phạm đến 2005 và 2010
Tác giả: Bộ Công an, Viện nghiên cứu Chiến lược và Khoa học Công an
Năm: 2002
21. ThS. Mai Bộ (2007), Tội cướp giật tài sản, Tạp chí Tòa án nhân dân, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tội cướp giật tài sản
Tác giả: ThS. Mai Bộ
Năm: 2007
22. Lê Cảm (2001), Nhân thân người phạm tội, một số vấn đề lý luận cơ bản, Tạp chí Tòa án nhân dân (số 10), Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhân thân người phạm tội, một số vấn đề lý luận cơ bản
Tác giả: Lê Cảm
Năm: 2001
28. Chính phủ (2011), Quyết định số 711/QĐ-TTg ngày 13/6/2011 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt “Chiến lược phát triển giáo dục 2011 - 2020” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyết định số 711/QĐ-TTg ngày 13/6/2011 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt “Chiến lược phát triển giáo dục 2011 - 2020
Tác giả: Chính phủ
Năm: 2011
29. Đỗ Bá Cở (2000), Hoạt động của lực lượng CSND trong phòng ngừa người chưa thành niên phạm tội trong tình hình hiện nay, Luận án Tiến sĩ Luật học, Học viện CSND Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hoạt động của lực lượng CSND trong phòng ngừa người chưa thành niên phạm tội trong tình hình hiện nay
Tác giả: Đỗ Bá Cở
Năm: 2000
32. Lê Văn Cương, Trương Như Vương, Trương Đức Thành, Kim Huê (1999), Tâm lý phạm tội và vấn đề chống tội phạm lứa tuổi vị thành niên, NXB CAND, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tâm lý phạm tội và vấn đề chống tội phạm lứa tuổi vị thành niên
Tác giả: Lê Văn Cương, Trương Như Vương, Trương Đức Thành, Kim Huê
Nhà XB: NXB CAND
Năm: 1999
33. Nguyễn Tấn Dũng (1999), Huy động sức mạnh của các cấp, các ngành, của toàn xã hội vào công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm, Tạp chí Cảnh sát nhân dân (số 5), Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Huy động sức mạnh của các cấp, các ngành, của toàn xã hội vào công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm
Tác giả: Nguyễn Tấn Dũng
Năm: 1999
34. Nguyễn Xuân Dũng (2011), Nâng cao hiệu quả hoạt động điều tra vụ án cướp giật tài sản chưa rõ thủ phạm của Công an các Quận, Huyện Thành phố Hồ Chí Minh, Luận văn thạc sĩ luật học, Đại học CSND, TP. Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nâng cao hiệu quả hoạt động điều tra vụ án cướp giật tài sản chưa rõ thủ phạm của Công an các Quận, Huyện Thành phố Hồ Chí Minh
Tác giả: Nguyễn Xuân Dũng
Năm: 2011
37. Nguyễn Ngọc Điệp (2012), Bình luận khoa học Bộ luật hình sự, NXB Thanh Niên, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bình luận khoa học Bộ luật hình sự
Tác giả: Nguyễn Ngọc Điệp
Nhà XB: NXB Thanh Niên
Năm: 2012
38. Lê Thị Thu Hà (2004), Tội cướp giật tài sản theo luật hình sự Việt Nam – Một số khía cạnh pháp lý hình sự và tội phạm học, Luận văn Thạc sĩ Luật học, Trường Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tội cướp giật tài sản theo luật hình sự Việt Nam – Một số khía cạnh pháp lý hình sự và tội phạm học
Tác giả: Lê Thị Thu Hà
Năm: 2004

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2.1. Số liệu xét xử sơ thẩm số vụ án và bị cáo cướp giật tài sản từ năm 2007 đến năm 2016 trên địa bàn miền Đông Nam Bộ - Tội cướp giật tài sản trên địa bàn miền đông nam bộ, tình hình, nguyên nhân và giải pháp phòng ngừa
Bảng 2.1. Số liệu xét xử sơ thẩm số vụ án và bị cáo cướp giật tài sản từ năm 2007 đến năm 2016 trên địa bàn miền Đông Nam Bộ (Trang 171)
Bảng 2.2. Tỷ lệ tình hình tội cướp giật tài sản trong tình hình tội phạm chung - Tội cướp giật tài sản trên địa bàn miền đông nam bộ, tình hình, nguyên nhân và giải pháp phòng ngừa
Bảng 2.2. Tỷ lệ tình hình tội cướp giật tài sản trong tình hình tội phạm chung (Trang 172)
Bảng 2.3. So sánh tỷ lệ tình hình tội cướp giật tài sản trên địa bàn miền Đông Nam Bộ với tỷ lệ này trên phạm vi toàn - Tội cướp giật tài sản trên địa bàn miền đông nam bộ, tình hình, nguyên nhân và giải pháp phòng ngừa
Bảng 2.3. So sánh tỷ lệ tình hình tội cướp giật tài sản trên địa bàn miền Đông Nam Bộ với tỷ lệ này trên phạm vi toàn (Trang 173)
Bảng 2.4. Số vụ, số bị cáo trên số diện tích, dân số từ năm 2007 – 2016 của Đông Nam Bộ, Tây Nguyên, Tây Nam Bộ - Tội cướp giật tài sản trên địa bàn miền đông nam bộ, tình hình, nguyên nhân và giải pháp phòng ngừa
Bảng 2.4. Số vụ, số bị cáo trên số diện tích, dân số từ năm 2007 – 2016 của Đông Nam Bộ, Tây Nguyên, Tây Nam Bộ (Trang 174)
Bảng 2.8. Cơ cấu của tình hình tội cướp giật tài sản từ năm 2007 – 2016 - Tội cướp giật tài sản trên địa bàn miền đông nam bộ, tình hình, nguyên nhân và giải pháp phòng ngừa
Bảng 2.8. Cơ cấu của tình hình tội cướp giật tài sản từ năm 2007 – 2016 (Trang 176)
Bảng 2.9. Cơ cấu của tình hình tội cướp giật tài sản từ năm 2007 – 2016 - Tội cướp giật tài sản trên địa bàn miền đông nam bộ, tình hình, nguyên nhân và giải pháp phòng ngừa
Bảng 2.9. Cơ cấu của tình hình tội cướp giật tài sản từ năm 2007 – 2016 (Trang 176)
Bảng  2.10.  Cơ  cấu  của  tình  hình  tội  cướp  giật  tài  sản  từ  năm  2007  –  2016  được  tính  toán  trên  cơ  sở  kết  hợp  yếu  tố  dân  cư  và  diện  tích  của các tỉnh, thành trên địa bàn miền Đông Nam Bộ - Tội cướp giật tài sản trên địa bàn miền đông nam bộ, tình hình, nguyên nhân và giải pháp phòng ngừa
ng 2.10. Cơ cấu của tình hình tội cướp giật tài sản từ năm 2007 – 2016 được tính toán trên cơ sở kết hợp yếu tố dân cư và diện tích của các tỉnh, thành trên địa bàn miền Đông Nam Bộ (Trang 177)
Bảng 2.14. Cơ cấu của tình hình tội cướp giật tài sản theo phương tiện - Tội cướp giật tài sản trên địa bàn miền đông nam bộ, tình hình, nguyên nhân và giải pháp phòng ngừa
Bảng 2.14. Cơ cấu của tình hình tội cướp giật tài sản theo phương tiện (Trang 178)
Bảng 2.13. Cơ cấu của tình hình tội cướp giật tài sản xét theo thời gian gây án - Tội cướp giật tài sản trên địa bàn miền đông nam bộ, tình hình, nguyên nhân và giải pháp phòng ngừa
Bảng 2.13. Cơ cấu của tình hình tội cướp giật tài sản xét theo thời gian gây án (Trang 178)
Bảng 2.16. Một số đặc điểm cơ bản của nhân thân người phạm tội cướp giật  tài sản trên địa bàn miền Đông Nam Bộ từ năm 2007 đến năm 2016 - Tội cướp giật tài sản trên địa bàn miền đông nam bộ, tình hình, nguyên nhân và giải pháp phòng ngừa
Bảng 2.16. Một số đặc điểm cơ bản của nhân thân người phạm tội cướp giật tài sản trên địa bàn miền Đông Nam Bộ từ năm 2007 đến năm 2016 (Trang 179)
Hình thức đăng - Tội cướp giật tài sản trên địa bàn miền đông nam bộ, tình hình, nguyên nhân và giải pháp phòng ngừa
Hình th ức đăng (Trang 180)
Bảng 2.17. Cơ cấu của tình hình tội cướp giật tài sản trên địa bàn miền Đông - Tội cướp giật tài sản trên địa bàn miền đông nam bộ, tình hình, nguyên nhân và giải pháp phòng ngừa
Bảng 2.17. Cơ cấu của tình hình tội cướp giật tài sản trên địa bàn miền Đông (Trang 180)
Bảng 2.18. Cơ cấu tình hình tội cướp giật tài sản theo phương thức, - Tội cướp giật tài sản trên địa bàn miền đông nam bộ, tình hình, nguyên nhân và giải pháp phòng ngừa
Bảng 2.18. Cơ cấu tình hình tội cướp giật tài sản theo phương thức, (Trang 181)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w