1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Ảnh hưởng của việc áp dụng một số biện pháp vệ sinh thú y theo hướng an toàn sinh học đến khả năng sản xuất thịt của gà lai (♂ri x ♀lương phượng) nuôi tại huyện cao lộc tỉnh lạng sơn

92 219 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 92
Dung lượng 2,07 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Theo Naipet 2016[18], thực hiện phương thức chăn nuôi ATSH là quản lý đồng bộ tất cả các khâu, từ thiết kế chuồng trại, lựa chọn con giống, thức ăn, phòng bệnh để đảm bảo 3 nguyên tắc là

Trang 1

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM

NGUYỄN THANH TÙNG

ẢNH HƯỞNG CỦA VIỆC ÁP DỤNG MỘT SỐ

BIỆN PHÁP VỆ SINH THÚ Y THEO HƯỚNG AN TOÀN SINH HỌC ĐẾN KHẢ NĂNG SẢN XUẤT THỊT CỦA

HUYỆN CAO LỘC TỈNH LẠNG SƠN

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NÔNG NGHIỆP

Chuyên ngành: CHĂN NUÔI

THÁI NGUYÊN - 2016

Trang 2

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM

NGUYỄN THANH TÙNG

ẢNH HƯỞNG CỦA VIỆC ÁP DỤNG MỘT SỐ

BIỆN PHÁP VỆ SINH THÚ Y THEO HƯỚNG AN TOÀN SINH HỌC ĐẾN KHẢ NĂNG SẢN XUẤT THỊT CỦA

HUYỆN CAO LỘC TỈNH LẠNG SƠN

Chuyên ngành: Chăn nuôi

Mã số: 60.62.01.05

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NÔNG NGHIỆP

Người hướng dẫn khoa học: TS VŨ HOÀNG LÂN

THÁI NGUYÊN - 2016

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan rằng, đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, được thực hiện trên cơ sở nghiên cứu lý thuyết, nghiên cứu khảo sát và phân tích từ

thực tiễn dưới sự hướng dẫn khoa học của TS Vũ Hoàng Lân

Các số liệu, kết quả nghiên cứu trong luận văn này là hoàn toàn trung thực và chưa từng được ai công bố, sử dụng để bảo vệ một học vị nào Các thông tin, tài liệu trích dẫn trong luận văn này đã được ghi rõ nguồn gốc

Thái Nguyên, ngày 11 tháng 11 năm 2016

Tác giả luận văn

Nguyễn Thanh Tùng

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Xin gửi lời cảm ơn sâu sắc tới Ban giám hiệu Nhà trường, các thầy cô giáo Khoa Chăn nuôi Thú y, Khoa Sau Đại học trường Đại học Nông lâm Thái Nguyên, các thầy, cô giáo và cán bộ Viện Khoa học sự sống, đã có những giúp đỡ quý báu để tôi hoàn thành luận văn này

Đặc biệt tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành và sâu sắc nhất tới thầy

giáo hướng dẫn: TS Vũ Hoàng Lân đã đầu tư nhiều công sức và thời gian

tận tình hướng dẫn tôi trong quá trình thực hiện đề tài và hoàn thành luận văn

Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành đối với sự quan tâm giúp đỡ của các đồng chí lãnh đạo Sở Nông nghiệp và PTNT tỉnh Lạng Sơn, Trung tâm Thủy sản, sự động viên, kích lệ của gia đình cùng các bạn bè đồng nghiệp cùng tôi trong thời gian học tập và hoàn thành luận văn này

Tôi xin trân trọng gửi tới các thầy cô giáo, các quý vị trong Hội đồng chấm luận văn lời cảm ơn chân thành và lời chúc tốt đẹp nhất

Tôi xin trân trọng cảm ơn!

Thái Nguyên, tháng 11 năm 2016

Tác giả

Trang 5

MỤC LỤC

Trang

LỜI CAM ĐOAN i

LỜI CẢM ƠN ii

MỤC LỤC iii

DANH MỤC TỪ, CỤM TỪ VIẾT TẮT v

DANH MỤC CÁC BẢNG vi

DANH MỤC CÁC HÌNH vii

MỞ ĐẦU 1

1 Đặt vấn đề 1

2 Mục tiêu của đề tài 3

3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 3

Chương 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4

1.1 An toàn sinh học trong chăn nuôi gia cầm 4

1.1.1 Khái niệm an toàn sinh học trong chăn nuôi 4

1.1.2 Nguyên tắc chăn nuôi an toàn sinh học 5

1.1.3 Chăn nuôi gà an toàn sinh học 6

1.1.4 Một số biện pháp kỹ thuật, vệ sinh thú y thực hiện trong chăn nuôi gà an toàn sinh học 7

1.1.5 Lợi ích của chăn nuôi an toàn sinh học 10

1.2 Đôi nét về đối tượng nghiên cứu 11

1.2.1 Nguồn gốc, khả năng sản xuất của giống gà Ri và gà Lương Phượng 11

1.2.2 Đặc điểm sinh học và khả năng sản xuất của gà Ri lai 13

1.3 Tình hình nghiên cứu an toàn sinh học trên thế giới 14

1.5 Tình hình chăn nuôi gia cầm tại tỉnh Lạng Sơn 18

Chương 2: ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 21

2.1 Đối tượng, địa điểm và thời gian nghiên cứu 21

2.1.1 Đối tượng nghiên cứu 21

2.1.2 Địa điểm nghiên cứu: Đề tài được thực hiện tại huyện Cao Lộc, tỉnh Lạng Sơn 21

Trang 6

2.1.3 Thời gian nghiên cứu: Từ tháng 8/2015 đến tháng 7/2016 21

2.2 Nội dung và phương pháp nghiên cứu 21

2.2.1 Nội dung nghiên cứu 21

2.2.2 Phương pháp nghiên cứu 21

2.3 Phương pháp xử lý số liệu 31

Chương 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 32

3.1 Tỷ lệ nuôi sống của gà thí nghiệm qua các tuần tuổi 32

3.2 Sinh trưởng của gà thí nghiệm qua các tuần tuổi 35

3.2.1 Sinh trưởng tích lũy của gà thí nghiệm qua các tuần tuổi 35

3.2.2 Sinh trưởng tuyệt đối của đàn gà thí nghiệm 39

3.2.3 Sinh trưởng tương đối của gà thí nghiệm 42

3.3 Khả năng tiêu thụ và chuyển hóa thức ăn 44

3.3.1 Tiêu thụ thức ăn của gà qua các giai đoạn 44

3.3.2 Hệ số chuyển hóa thức ăn (FCR) của gà thí nghiệm qua các tuần tuổi 46

3.3.3 Tiêu tốn năng lượng trao đổi (kcal) 47

3.3.4 Tiêu tốn protein thô (CP) của gà thí nghiệm 49

3.4 Chỉ số sản xuất và chỉ số kinh tế của gà thí nghiệm 51

3.4.1 Chỉ số sản xuất của gà thí nghiệm 51

3.4.2 Chỉ số kinh tế EN của gà thí nghiệm 52

3.5 Khảo sát chỉ tiêu năng suất thịt 53

3.6 Đánh giá số lượng vi khuẩn E.coli và Salmonella trong chất độn chuồng 56

3.7 Tình hình nhiễm bệnh trên đàn gà thí nghiệm 59

3.8 Mức độ nhiễm E.coli và Salmonella trong thịt 62

3.9 Sơ bộ hạch toán hiệu quả kinh tế nuôi gà thịt thương phẩm 63

KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 65

1 Kết luận 65

2 Đề nghị 65

TÀI LIỆU THAM KHẢO

MỘT SỐ HÌNH ẢNH MINH HỌA

Trang 8

DANH MỤC CÁC BẢNG

Trang

Bảng 1.1 Tổng đàn gia cầm tỉnh Lạng Sơn qua các năm 2005-2015 19

Bảng 2.1 Sơ đồ bố trí thí nghiệm 22

Bảng 2.2 Thành phần dinh dưỡng thức ăn của gà thí nghiệm 25

Bảng 2.3 Quy trình sử dụng vắc xin 26

Bảng 3.1 Tỷ lệ nuôi sống của đàn gà thí nghiệm qua các tuần tuổi (%) 33 Bảng 3.2 Sinh trưởng tích lũy của gà thí nghiệmqua các tuần tuổi 36

Bảng 3.3 Sinh trưởng tuyệt đối của gà thí nghiệm 39

Bảng 3.4 Sinh trưởng tương đối của gà thí nghiệm (%) 42

Bảng 3.5 Tiêu thụ thức ăn của gà thí nghiệm qua các giai đoạn 44

Bảng 3.6 Tiêu tốn thức ăn/kg tăng khối lượng của gà thí nghiệm (kg) 47

Bảng 3.7 Tiêu tốn năng lượng trao đổi cộng dồn của gà thí nghiệm 48

Bảng 3.8 Tiêu tốn protein thô cộng dồn của gà thí nghiệm (g) 50

Bảng 3.9 Chỉ số sản xuất PI của gà thí nghiệm 52

Bảng 3.10 Chỉ số kinh tế EN của gà thí nghiệm 53

Bảng 3.11 Một số chỉ tiêu về mổ khảo sát gàtại thời điểm 12 tuần tuổi 55

Bảng 3.12a Mức độ nhiễm E.coli và Salmonella trong chất độn chuồng 56

Bảng 3.12b Cường độ nhiễm E.coli và Salmonella trongchất độn chuồng 58 Bảng 3.13 Tỷ lệ mắc bệnh của gà thí nghiệm (%) 59

Bảng 3.14 Mức độ nhiễm E.coli và Salmonella trong thịt 62

Bảng 3.15 Sơ bộ hiệu quả kinh tế nuôi gà thịt (đồng) 64

Trang 9

DANH MỤC CÁC HÌNH

Trang

Hình 3.1 Đồ thị sinh trưởng tích luỹ của gà thí nghiệm (g/con) 37

Hình 3.2 Biểu đồ sinh trưởng tuyệt đối của gà thí nghiệm 41

Hình 3.3 Biểu đồ sinh trưởng tương đối của gà thí nghiệm 43

Hình 3.4 Tỷ lệ mắc bệnh trên gà thí nghiệm 60

Trang 10

MỞ ĐẦU

1 Đặt vấn đề

Chăn nuôi gia cầm là nghề truyền thống của nước ta và là nguồn thu nhập quan trọng đối với các hộ gia đình ở nông thôn Đối với một nước có nền kinh tế chủ yếu là sản xuất nông nghiệp như Việt Nam thì chăn nuôi gia cầm không những là ngành không thể thiếu mà còn đóng một vai trò hết sức quan trọng trong cơ cấu ngành nghề của đất nước Theo số liệu của Tổng cục Thống kê, tổng đàn gia cầm của Việt Nam năm 2015 có khoảng 341,91 triệu con Cùng với sự phát triển của các ngành nghề khác trong cả nước thì chăn nuôi gia cầm cũng đang trên đà phát triển nhanh cả về số lượng và chất lượng

Nó cung cấp cho chúng ta sản phẩm thịt và trứng, là nguồn thực phẩm có giá trị dinh dưỡng cao, vì thế đòi hỏi nhu cầu cung cấp cho xã hội ngày càng nhiều Nghề chăn nuôi gia cầm từng bước được mở rộng, từ mô hình sản xuất đơn giản với những giống gia cầm ban đầu, trên cơ sở nghiên cứu khoa học

kỹ thuật ngày càng nhiều giống gia cầm nuôi theo những mô hình khác nhau nhằm gia tăng sản phẩm cung cấp cho con người

Khu vực nông thôn, đặc biệt là trung du miền núi, chăn nuôi gia cầm chủ yếu theo phương thức "chăn thả" và "bán thâm canh" mặc dù cho năng suất thấp nhưng vốn đầu tư ít, tận dụng được điều kiện tự nhiên sẵn có, số lượng người nuôi đông, hầu như hộ nào cũng nuôi gia cầm nên cung cấp một khối lượng lớn sản phẩm thịt, trứng cho người tiêu dùng Bình quân, mỗi hộ nuôi chỉ 28-30 con Chăn nuôi theo phương thức phân tán, nhỏ lẻ trong nông hộ là rất lớn Người dân chăn nuôi chủ yếu theo kinh nghiệm, chưa được đào tạo Hình thức chăn nuôi nhỏ lẻ hộ gia đình tuy là tập quán, truyền thống nhưng đang là nguy cơ lây lan phát tán mầm bệnh (Trần Thanh Vân, 2015)[32]

Lạng Sơn là một tỉnh miền núi phía Bắc, có diện tích 8.320km2, đồi núi chiếm hơn 80% diện tích cả tỉnh, hệ thống giao thông thuận lợi, có đường biên giới chung với Trung Quốc dài 231 km và các cửa khẩu Đây vừa là thế

Trang 11

mạnh, vừa là nguy cơ lây lan dịch bệnh từ việc buôn bán vận chuyển gia súc, gia cầm qua biên giới Chăn nuôi còn chậm phát triển, chủ yếu là đại gia súc chăn thả Chăn nuôi gia cầm tại Lạng Sơn trong những năm gần đây được xem là chăn nuôi ít an toàn và tiềm ẩn nhiều rủi ro do dịch cúm gia cầm gây

ra, hiệu quả chăn nuôi không cao không ổn định nên người dân không yên tâm đầu tư phát triển đàn gia cầm Tổng đàn gia cầm toàn tỉnh năm 2015 là 3,969 triệu con Trong tổng đàn gia cầm, đàn gà chiếm 84,39%, gia cầm khác như vịt, ngan, ngỗng chỉ chiếm 15,61% tổng đàn gia cầm Chăn nuôi gà quy

mô hộ gia đình toàn tỉnh có 97.380 hộ, bình quân mỗi hộ nuôi 30-35 con gà, chiếm 99,4% tổng đàn gà toàn tỉnh Trong đó chăn nuôi có chuồng để nhốt có 77.585 hộ, chiếm 70% số hộ chăn nuôi gà và 65% đàn gà toàn tỉnh, tuy nhiên trong số này chỉ có 27% chuồng trại đạt yêu cầu, còn lại là chuồng trại tạm bợ không đạt tiêu chuẩn Hình thức hộ gia đình nuôi gà thả vườn chiếm 30% số

hộ và 34,4% tổng đàn Hình thức chăn nuôi trang trại chiếm 0,6% tổng đàn gà toàn tỉnh Giá trị sản xuất thịt gia cầm chiếm 15% tổng giá trị ngành nông nghiệp (Quy hoạch phát triển nông nghiệp và nông thôn tỉnh Lạng Sơn)[21]

Các dịch bệnh trên đàn gia cầm làm giảm khả năng sinh trưởng, gây chết, làm thiệt hại về kinh tế, giảm lợi nhuận của người chăn nuôi Bên cạnh

đó vấn nạn thực phẩm bẩn, thực phẩm tồn dư chất cấm, kháng sinh đang đe dọa sức khỏe người tiêu dùng Vì vậy đảm bảo an toàn sinh học trong chăn nuôi là công tác rất cần thiết để phòng ngừa dịch bệnh, sản xuất “thịt sạch”, giảm thiểu ô nhiễm môi trường, giảm nguy cơ gây ảnh hưởng tiêu cực đến sức khỏe con người (Đào Lệ Hằng, 2008)[9]

Để phát triển nhanh và bền vững chăn nuôi gia cầm và tránh được những thiệt hại về vật chất và ngăn ngừa các bệnh nguy hiểm lây sang con người thì chăn nuôi gà an toàn sinh học là điều thiết yếu đối với sự phát triển chăn nuôi gia cầm Để góp phần thúc đẩy ngành chăn nuôi gà phát triển mạnh

ở địa phương trong thời gian tới, nâng cao hiệu quả và đảm bảo an toàn cho

Trang 12

người chăn nuôi, người tiêu dùng và cả cộng đồng chúng tôi tiến hành nghiên

cứu đề tài “Ảnh hưởng của việc áp dụng một số biện pháp vệ sinh thú y

theo hướng an toàn sinh học đến khả năng sản xuất thịt của gà lai (♂Ri x

♀Lương Phượng) nuôi tại huyện Cao Lộc tỉnh Lạng Sơn”

2 Mục tiêu của đề tài

2.1 Mục tiêu chung

Nghiên cứu ảnh hưởng của việc áp dụng một số biện pháp vệ sinh thú y theo hướng an toàn sinh học đến khả năng sản xuất của gà lai (♂Ri x ♀Lương Phượng) nuôi tại huyê ̣n Cao Lô ̣c, tỉnh Lạ ̣ng Sơn Từ các kết quả nghiên cứu trên sẽ là tiền đề để mở rộng các mô hình chăn nuôi theo phương pháp an toàn sinh học trên toàn tỉnh Lạ̣ng Sơn và các tỉnh lân cận khác

2.2 Mục tiêu cụ thể

- Xác định ảnh hưởng của việc áp dụng một số biện pháp kỹ thuật và vệ sinh thú y theo hướng an toàn sinh học đến khả năng sản xuất thịt, nguy cơ nhiễm khuẩn và hiệu quả kinh tế trong quy mô nông hộ

- So sánh tỷ lệ nuôi sống, khả năng sinh trưởng, tiêu tốn thức ăn, tỷ lệ

nhiễm bệnh, mức độ nhiễm E.Coli và Salmonella trong thịt, chất thải và hiệu

quả kinh tế giữa mô hình áp dụng chăn nuôi an toàn sinh học và mô hình không áp dụng

3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài

Góp phần vào việc hoàn thiện xây dựng quy trình kĩ thuật chăn nuôi gà

an toàn sinh học

Góp phần vào việc triển khai chăn nuôi gà an toàn sinh học cho các cơ

sở và nông hộ tại khu vực

Kết quả nghiên cứu là tài liệu để người chăn nuôi, cán bộ nghiên cứu, sinh viên ngành nông nghiệp tham khảo, áp dụng cho công việc chuyên môn

và các nghiên cứu tiếp theo

Trang 13

Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 An toàn sinh học trong chăn nuôi gia cầm

1.1.1 Khái niệm an toàn sinh học trong chăn nuôi

An toàn sinh học (ATSH) là một chủ đề được quan tâm nghiên cứu trong những năm gần đây Khái niệm an toàn sinh học trong chăn nuôi đã được các tổ chức và nhiều nhà khoa học trên thế giới đưa ra Theo tổ chức

Nông lương thế giới FAO[40]: An toàn sinh học là một bộ các biện pháp

phòng ngừa được thiết kế để giảm nguy cơ lây truyền các bệnh truyền nhiễm, cách ly dịch bệnh, các loài ngoại lai xâm hại và sinh vật biến đổi

Theo Nguyễn Thiện (2009)[23] an toàn sinh học là áp dụng các biện

pháp nhằm giảm bớt nguy cơ nhiễm bệnh và lây lan của các loại mầm bệnh

Chăn nuôi an toàn sinh học chính là phương thức chăn nuôi áp dụng tổng hợp và đồng bộ các biện pháp kỹ thuật nhằm quản lý, ngăn ngừa sự tiếp xúc giữa vật nuôi với mầm bệnh, tạo ra sản phẩm an toàn đối với sức khoẻ cộng đồng và đảm bảo lợi ích kinh tế cho người chăn nuôi

Một trong những yếu tố quan trọng làm hạn chế hiệu quả chăn nuôi đó

là dịch bệnh Do đó nếu dịch bệnh được ngăn chặn, hạn chế, hiệu quả chăn nuôi sẽ tự động tăng lên Các hình thức hiệu quả nhất để bảo vệ chống lại bệnh tật, đặc biệt là cho gia cầm thuộc các kỹ thuật sản xuất hiện đại là an toàn sinh học Sử dụng thuốc đã đóng một vai trò quan trọng trong điều trị bệnh nhưng hiện nay các nhà khoa học đều nhận thấy rằng chỉ sử dụng thuốc đơn thuần sẽ không thể ngăn ngừa thiệt hại do dịch bệnh Vật nuôi phải được nuôi trong một môi trường mà mầm bệnh được kiểm soát đến mức độ mà tiêm phòng và thuốc có thể đạt được tác dụng có lợi nhất An toàn sinh học là một yếu tố quan trọng trong phương pháp này để kiểm soát dịch bệnh Thuốc kháng sinh đã từng được coi như một giải pháp "chữa được tất cả" bây giờ là một khái niệm lỗi thời Hiệu quả kháng sinh dường như bị suy giảm do

Trang 14

mầm bệnh phát triển sức đề kháng Vì vậy chăn nuôi an toàn sinh học là biện pháp chăn nuôi hiệu quả để phòng chống dịch bệnh, nâng cao lợi nhuận trong chăn nuôi

1.1.2 Nguyên tắc chăn nuôi an toàn sinh học

Chăn nuôi an toàn sinh học là biện pháp ngăn ngừa sự tiếp xúc giữa động vật và mầm bệnh An toàn sinh học có thể không cần chi phí nhiều tiền, chủ yếu là những thói quen tốt diễn ra hàng ngày ở trang trại của người nông dân, Nguyễn Hoài Châu (2006)[2]

Những nguyên tắc cơ bản của chăn nuôi ATSH đều có thể áp dụng trong chăn nuôi qui mô lớn và cả chăn nuôi qui mô nhỏ Theo Naipet (2016)[18], thực hiện phương thức chăn nuôi ATSH là quản lý đồng bộ tất cả các khâu, từ thiết kế chuồng trại, lựa chọn con giống, thức ăn, phòng bệnh để đảm bảo 3 nguyên tắc là:

Nguyên tắc 1: Giữ đàn vật nuôi trong môi trường được bảo vệ:

- Khu vực chăn nuôi phải cách xa nhà ở, có hàng rào ngăn cách với các khu vực khác

- Hạn chế tối đa người lạ ra vào khu vực chăn nuôi Trước cổng trại và mỗi dãy chuồng phải có hố sát trùng, phải thường xuyên định kỳ tiêu độc, khử trùng dụng cụ chăn nuôi và khu vực chăn nuôi

- Chất thải chăn nuôi phải được thu gom và xử lý bằng các biện pháp thích hợp

Nguyên tắc 2: Chăm sóc nuôi dưỡng và quản lý tốt đàn vật nuôi:

- Cung cấp đầy đủ thức ăn chất lượng tốt và nước uống sạch cho đàn vật nuôi

- Chuồng nuôi đúng qui cách và bảo đảm mật độ nuôi hợp lý, định kỳ tiêm phòng và tẩy giun sán cho vật nuôi

Nguyên tắc 3: Kiểm soát chặt chẽ khu vực chăn nuôi:

- Phải biết rõ lai lịch, nguồn gốc tình trạng bệnh dịch của đàn vật nuôi mới nhập, vật nuôi mới mua về phải nuôi cách ly theo qui định

Trang 15

- Kiểm soát thức ăn chăn nuôi và dụng cụ chăn nuôi đưa vào trại, kiểm soát không để chim hoang dã, các loài gặm nhấm, chó mèo và người lạ vào khu vực chăn nuôi

Theo Lê Ngọc Thuận (2016)[26] để ngăn ngừa mầm bệnh từ môi trường vào đàn vật nuôi và tiêu diệt mầm bệnh trong khu vực chăn nuôi cần thực hiện tốt 3 nguyên tắc là: cách ly, làm sạch và khử trùng:

- Cách ly: để ngăn chặn các tác nhân gây bệnh hay gọi chung là mầm

bệnh từ bên ngoài xâm nhập vào cơ sở chăn nuôi và từ cơ sở chăn nuôi đi ra ngoài môi trường Việc cách ly là dựng và duy trì hàng rào vật lý xung quanh trại để kiểm soát người, động vật ra vào trại hoặc áp dụng các quy định về khoảng cách, thời gian trống chuồng, thay giày dép, áo quần trước khi ra, vào trại,… nhằm ngăn chặn động vật bị nhiễm bệnh hoặc các vật dụng, trang thiết

bị, dụng cụ bị ô nhiễm xâm nhập vào khu vực chăn nuôi và ngược lại Khi cách ly tốt sẽ có khả năng ngăn chặn được hầu hết sự lây nhiễm

- Làm sạch: nhằm để loại bỏ tất cả bụi bẩn và các chất hữu cơ có chứa

tác nhân gây bệnh bám trên bề mặt các dụng cụ, thiết bị, sàn, tường và trần nhà Làm sạch hay nói cách khác là làm vệ sinh cơ giới như quét dọn phân rác

để ủ nhiệt nhằm diệt mầm bệnh hoặc dùng nước (nước xà phòng) cọ rửa các thiết bị, dụng cụ, sàn, tường, vách chuồng… Việc vệ sinh làm sạch đúng cách

sẽ có khả năng loại bỏ đến 80% các tác nhân gây bệnh

- Khử trùng: là việc dùng dung dịch hóa chất phun tiêu độc nhằm để

tiêu diệt các tác nhân gây bệnh còn lại sau khi đã tiến hành vệ sinh làm sạch Việc khử trùng chỉ đạt được hiệu quả sau khi đã làm vệ sinh cơ giới tốt và đảm bảo việc sử dụng hóa chất khử trùng phù hợp, tỷ lệ pha, sử dụng đúng cách Đảm bảo thời gian tiếp xúc của chất khử trùng với bề mặt cần khử trùng tối thiểu 10 phút

1.1.3 Chăn nuôi gà an toàn sinh học

Theo Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia QCVN01-15:2010/BNNPTNT [20]:

“An toàn sinh học trong chăn nuôi gia cầm là các biện pháp kỹ thuật nhằm

Trang 16

ngăn ngừa và hạn chế sự lây nhiễm của các tác nhân sinh học xuất hiện tự nhiên hoặc do con người tạo ra gây hại đến con người, gia súc và hệ sinh thái”

Việc áp dụng tổng hợp và đồng bộ các biện pháp kỹ thuật và quản lý nhằm ngăn ngừa sự tiếp xúc giữa đàn gà với mầm bệnh, đảm bảo cho gia cầm được khỏe mạnh, không dịch bệnh là chăn nuôi gà an toàn sinh học Nguyên tắc cơ bản trong chăn nuôi gà an toàn sinh học là gà phải được nuôi trong môi trường được bảo vệ, được chăm sóc tốt và tất cả mọi sự di chuyển ra vào chuồng trại, giữa các khu vực trong chuồng trại đều phải được kiểm soát Các biện pháp nuôi gà an toàn sinh học: Nuôi khép kín với từng chuồng trại (trong mỗi chuồng trại chỉ có một giống gà và cùng độ tuổi Đối với gà giống nên có các khu vực nuôi dành cho các lứa tuổi khác nhau); Kiểm soát dịch bệnh theo từng khu vực trong trại Sử dụng con giống an toàn Nuôi cách ly gà mới nhập chuồng trại (trong trường hợp nuôi nhiều đàn, nhiều lứa) Phòng bệnh bằng vắc xin, xét nghiệm định kỳ, giám sát sự lưu hành các loại mầm bệnh Vệ sinh, tiêu độc khử trùng chuồng trại trong thời gian nuôi và sau mỗi đợt nuôi,

xử lý chất thải (bằng bigogas hoặc ủ), tiêu hủy gia cầm ốm, chết Kiểm soát chặt chẽ sự di chuyển ra vào trại, chống sự xâm nhập của động vật bên ngoài Hướng dẫn cán bộ, công nhân của trại hiểu rõ và có kỹ năng thực hiện tốt các biện pháp an toàn sinh học

1.1.4 Một số biện pháp kỹ thuật, vệ sinh thú y thực hiện trong chăn nuôi

gà an toàn sinh học

Theo Naipet (2016) [18] đối với chăn nuôi gia cầm an toàn quy mô nhỏ cần thực hiện một số biện pháp kỹ thuật như sau:

Chuồng trại: Chuồng trại phải được xây dựng ở nơi cao ráo, có vành

đai trắng tính từ tường rào đến chuồng nuôi Chuồng trại phải thoáng, mát và phải có khu cách ly mới nhập hay gia cầm bệnh

Vị trí xây chuồng trại: Phải cách biệt khu dân cư xa các trại chăn nuôi

khác, xa công trình công cộng đặc biệt phải cách xa chợ, cơ sở giết mổ động

Trang 17

vật ; có tường rào bao quanh, chiều cao tối thiểu khoảng 2m Các cơ sở hành chính của trại phải cách biệt khu chăn nuôi

Đối với ATSH tối thiểu áp dụng cho chăn nuôi gia cầm sinh sản, cần lưu ý những yêu cầu sau: Khu vực chăn nuôi gia cầm phải đảm bảo sự cách ly giữa vật nuôi và nơi ở của người và động vật khác bằng hàng rào bao quanh hoặc nơi biệt lập hoặc được nuôi nhốt hoàn toàn trong chuồng Địa điểm xây dựng chuồng trại phải cách xa nhà ở và khu dân cư, đối với các trang trại chăn nuôi thì khoảng cách tối thiểu là 500m, cách đường quốc lộ 1.000m, cách chợ 3.000m, có tường rào bao quanh, chiều cao tối thiểu khoảng 2m Các cơ sở hành chính của trại phải cách biệt khu chăn nuôi (Lê Cung, 2016)[3]

Giống: Chỉ nhập giống ở những trại có uy tín, gà không mang mầm

bệnh Đàn giống mới nhập về phải có thời gian cách ly để theo dõi sau đó mới cho vào chuồng nuôi Loại thải triệt để những con nhiễm bệnh để tránh làm lây lan mầm bệnh cho những con gia cầm khoẻ trong trại Cơ sở chăn nuôi nên nuôi duy nhất một đàn trong cùng một thời gian (cùng vào cùng ra) hoặc nếu có nhiều đàn trong cùng một thời gian thì phải có các khu vực tách biệt nuôi gia cầm con, gia cầm hậu bị và gia cầm sinh sản; Không nuôi “gối đầu”

dễ làm lây truyền mầm bệnh từ lứa này sang lứa khác

Tăng sức đề kháng trên cơ thể vật nuôi: Tiêm phòng vắc xin đúng lịch

một số loại bệnh truyền nhiễm thường gặp trên gia cầm Tăng sức đề kháng của cơ thể bằng cách cho ăn đủ đầy dinh dưỡng Nước uống phải luôn sạch và đầy đủ Bổ sung thuốc, vitamin để tăng cường sức đề kháng Cần chú ý vào thời điểm giao mùa, và những giai đoạn thường xảy ra stress cho gia cầm (như tiêm phòng, chuyển chuồng, ồn ào, tiếng động đột ngột…)

Giảm mầm bệnh từ môi trường nuôi: Thực hiện việc vệ sinh chuồng

trại nuôi mỗi ngày và các biện pháp chăm sóc, quản lý để giảm mầm bệnh từ môi trường nuôi:

Trang 18

Đối với con người: Phải hạn chế mức thấp nhất khách đến thăm trại;

công nhân chăn nuôi bố trí ăn ở tại trại (đặc biệt giai đoạn có nguy cơ phát dịch cao) trước khi vào trại phải tắm rửa, vệ sinh, khử trùng, thay quần áo,

mũ, ủng đặc biệt công nhân không nên chăn nuôi gia cầm ở gia đình mình; cán bộ thú y, nhân viên kiểm tra phải tuân thủ các điều kiện khi ra vào trại; mọi công việc nên tiến hành từ đàn gia cầm nhỏ đến đàn gia cầm lớn tuổi hơn; cán bộ thú y làm ở trại không hành nghề thú y bên ngoài

Đối với gia cầm và sản phẩm gia cầm: Gia cầm giống đưa vào trại phải

khỏe mạnh, lấy từ đàn đã được kiểm tra không nhiễm vi rút cúm hoặc các bệnh truyền nhiễm khác Gia cầm mới nhập phải nuôi cách ly tối thiểu 3 tuần

để theo dõi và cần thiết gửi mẫu xét nghiệm

Phương tiện vận chuyển: Bố trí phương tiện vận chuyển nội bộ riêng

trong trại; các xe vận chuyển trước khi vào trại phải được phun xịt khử trùng bằng hóa chất (đặc biệt ở bánh xe, gầm xe)

Dụng cụ chăn nuôi:

Vệ sinh, tiêu độc, khử trùng đối với tất cả những đồ bảo hộ của người

có liên quan đến quản lý, chăn nuôi trước khi ra vào trại

Thức ăn phải sử dụng từ những cơ sở cung cấp đảm bảo sạch bệnh, không sử dụng thức ăn trôi nổi hoặc sang nhượng thức ăn từ các cơ sở không

rõ nguồn gốc Nước uống phải sử dụng từ nguồn nước ngầm, nước máy đảm bảo, nên khử trùng nước uống thật chặt chẽ

Phải có hố sát trùng, dụng cụ phun xịt trước cổng vào trại Vào khu chăn nuôi phải có các khay đựng thuốc sát trùng Định kỳ hàng tuần phải vệ sinh tiêu độc toàn khu vực trại, phát quang, khơi thông cống rãnh, rắc vôi bột, phun xịt thuốc sát trùng Thu dọn, xử lý kỹ chất thải trong trại Sau khi rửa, để khô nền chuồng và tường, sau đó quét bằng nước vôi nồng độ 20% Hoặc phun xịt bằng các loại hóa chất thích hợp Vệ sinh dụng cụ chăn nuôi hàng ngày (xô, xẻng )

Trang 19

Tiêu diệt và ngăn chặn các loại động vật gây hại trực tiếp với gia cầm như chuột, chim hoang dã

Khi có gia cầm chết phải xử lý kỹ bằng cách đào hố sâu, đổ dầu đốt, rắc vôi bột và lấp kỹ Tuyệt đối không được vứt xác chết bừa bãi làm ô nhiễm môi trường và lây lan mầm bệnh

Sử dụng đầy đủ các loại vaccin bệnh truyền nhiễm như newcastle, Gumboro theo đúng quy trình cho các loại gia cầm Chỉ sử dụng vắc xin cúm gia cầm khi có hướng dẫn của Cục thú y

Cần tạo mối quan hệ thật tốt với các gia đình xung quanh để có ý thức cùng bảo vệ đàn gia cầm và bảo vệ môi trường sạch bệnh Thường xuyên nắm bắt thông tin kịp thời để xử lý các tình huống, đặc biệt khi có dịch bệnh

1.1.5 Lợi ích của chăn nuôi an toàn sinh học

Chăn nuôi an toàn sinh học là một trong những biện pháp tiết kiệm chi phí và nâng cao hiệu quả sản xuất chăn nuôi An toàn sinh học không chỉ giúp người chăn nuôi hạn chế đựơc dịch bệnh cho vật nuôi, tiết kiệm đựơc chi phí công tác thú y mà còn tăng được năng suất chăn nuôi, sản xuất ra nguồn sản phẩm có chất lượng, đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm, tăng thêm uy tín, thương hiệu cho cơ sở sản xuất Đầu ra cho sản phẩm đựơc ổn định Đặc biệt trong xu thế chất lượng cuộc sống của người dân luôn được nâng cao thì sản phẩm của chăn nuôi an toàn sinh học đựơc người dân chú trọng tiêu dùng từ

đó lợi nhuận được nâng lên Sản phẩm của chăn nuôi an toàn sinh học không ảnh hưởng đến sức khoẻ của cộng đồng, môi trường trong vùng chăn nuôi luôn luôn đựơc đảm bảo Trong thời kỳ hội nhập hiện nay chăn nuôi an toàn sinh học là tiền đề tạo cho ngành nông nghiệp nói chung và ngành chăn nuôi phát triển bền vững (Nguyễn Hoài Châu, 2006)[2]

Nhìn chung, việc thực hiện an toàn sinh học trong chăn nuôi không đòi hỏi chi phí lớn Đến nay chăn nuôi an toàn sinh học đã mang lại những kết

Trang 20

quả nhất định trong phòng chống dịch bệnh, tiêu biểu như ở Trung tâm Nghiên cứu gia cầm Thụy Phương thường xuyên nuôi giữ an toàn trên 20.000 con gia cầm giống gốc của quốc gia đặc biệt coi trọng yếu tố phòng bệnh, bảo đảm an toàn sinh học cho môi trường Tuy nhiên, tại nhiều nơi, sự hiểu biết của các chủ trại về an toàn sinh học thường chưa toàn diện và thấu đáo nên các biện pháp phòng chống dịch bệnh chưa được thực hiện đồng bộ và có khi không phù hợp với điều kiện thực tế của trại nuôi (Trung tâm Khuyến nông Quốc gia, 2007)[28]

Để đảm bảo đi đến thành công trong phòng chống dịch bệnh trong chăn nuôi, cần thực hiện tốt biện pháp sử dụng an toàn sinh học kết hợp với tiêm vắc xin cho vật nuôi Thực tế chăn nuôi ở nước ta hiện nay đang còn nhiều tồn tại, đòi hỏi các cơ quan chuyên môn cần đầu tư hơn nữa trong nghiên cứu hoàn thiện nâng cao hiệu quả an toàn sinh học bằng cách ứng dụng những thành tựu mới nhất của khoa học, công nghệ Mặt khác các nhà chăn nuôi cần coi an toàn sinh học như cẩm nang phòng bệnh, hết sức tranh thủ sự giúp đỡ của các cơ quan chuyên môn xây dựng hệ thống quy định an toàn sinh học cho trại của mình, hàng năm xem xét bổ sung, hiệu chỉnh và tổ chức huấn luyện an toàn sinh học định kỳ cho toàn bộ nhân viên

Theo Công ty TNHH Dược phẩm Montajat (2009)[42] các biện pháp an toàn sinh học có những ưu điểm sau đây: động vật được chăn nuôi khỏe mạnh

và năng suất cao hơn, lợi nhuận cao hơn do giảm tổn thất mức độ tác nhân gây bệnh trong các trang trại Thiệt hại do dịch bệnh được ngăn chặn An toàn cho sức khỏe cộng đồng Đáp ứng các yêu cầu về tiêu chuẩn chất lượng quốc tế An toàn sinh học có thể làm giảm nguy cơ lây truyền bệnh và có thể làm giảm cường độ của các tổn thất tài chính có thể xảy ra do dịch bệnh

1.2 Đôi nét về đối tượng nghiên cứu

1.2.1 Nguồn gốc, khả năng sản xuất của giống gà Ri và gà Lương Phượng

* Gà Ri

Theo Nguyễn Duy Hoan và Cs (1999)[11] cho biết gà Ri là giống gà phổ biến nhất mọi vùng, mọi miền Tùy theo sự chọn lọc trong quá trình chăn

Trang 21

nuôi gà giống này hình thành nên các dòng gà Ri có thể hình, màu sắc khác nhau ít nhiều ở mỗi địa phương

Thông thường và phổ biến nhất, thì gà mái có lông màu vàng và nâu nhạt, điểm các đốm đen ở cổ, đầu cánh và chót đuôi Gà trống có bộ lông sặc

sỡ nhiều màu nhất là lông cỏ và đuôi chiếm ưu thế nhất là lông màu vàng đậm

và tía sau đó là vàng nhạt hoặc trắng ở cổ Rất ít khi thấy gà Ri có màu lông thuần nhất Gà con mọc lông sớm chỉ hơn 1 tháng gà đã đầy đủ lông như gà trưởng thành Gà Ri có khối lượng cơ thể thấp, gà mái: 1,2 - 1,8 kg, gà trống: 1,8 - 2,3 kg Gà trống thiến nuôi lâu có thể đạt 2,5 kg hoặc hơn Gà Ri có dáng thanh, chân nhỏ, đầu nhỏ, cổ và lưng dài, ngực sâu (gà mái chân rất thấp), mỏ vàng, vẩy chân vàng (có khi đen - nhất là gà miền núi) Sức đẻ: 90-

120 trứng/mái/năm Khối lượng trứng bình quân: 38-42 gam Nếu nuôi bán chăn thả, sản lượng trứng gà Ri có thể đạt 125-130 quả/mái/năm

Gà Ri thành thục sinh dục sớm Gà có đặc điểm nổi bật là cần cù, chịu khó kiếm ăn, sức chống chịu với thời tiết, bệnh tật cao, nuôi con khéo, thịt có hương vị thơm ngon, nhất là gà mái tơ

Do các ưu và nhược điểm ở trên, gà Ri thích hợp với chế độ dưới chăn thả, hoặc bán chăn thả Trong tương lai, khi mà ngành gia cầm nuôi các giống cao sản phát triển, thì gà Ri có thể sẽ được coi như là một đặc sản

* Gà Lương Phượng

Theo Nguyễn Duy Hoan và Cs (1999)[11] cho biết gà Hoa Lương Phượng hay Lương Phượng hoa, thường được gọi tắt là gà Lương Phượng do xuất xứ từ vùng ven sông Lương Phượng Đây là giống gà thịt lông màu do xí nghiệp nuôi gà thành phố Nam Ninh, tỉnh Quảng Tây Trung Quốc lai tạo thành công sau hơn chục năm nghiên cứu, sử dụng dòng trống địa phương và dòng mái nhập của nước ngoài

Gà Lương Phượng đã được giám định kỹ thuật của Uỷ ban khoa học Thành phố Nam Ninh Gà Lương Phượng có dáng bề ngoài gần giống với gà

Ri của Việt Nam lông màu vàng tuyền, vàng đốm hoa hoặc đen đốm hoa Sở

Trang 22

dĩ gọi là Lương Phượng hoa vì trong đàn gà có rất nhiều màu lông khác nhau như một vườn hoa Mào, yếm mào, mặt và tích tai màu đỏ

Gà trống có mào đơn, ngực nở, lưng thẳng, lông đuôi vươn cong chân cao vừa phải Gà mái đầu nhỏ, thân hình chắc, chân thấp Da gà Lương Phượng màu vàng, thịt mịn, thơm ngon Tỷ lệ nuôi sống gà thương phẩm xuất chuồng đều đạt 95% trở lên Gà trống ở độ tuổi trưởng thành có khối lượng cơ thể 2700g, gà mái đạt khối lượng 2100g lúc vào đẻ Gà bắt đầu đẻ vào 24 tuần tuổi, sau một chu kỳ khai thác trứng (66 tuần tuổi) đạt 177 trứng, sản xuất 130

gà con 1 ngày tuổi Gà thịt nuôi đến 70 ngày tuổi đạt 1500g - 1600g Tiêu tốn thức ăn 2,4 - 2, 6 kg thức ăn/kg tăng trọng Gà Lương Phượng dễ nuôi, có tính thích nghi cao, chịu đựng tốt với khí hậu nóng ẩm, đòi hỏi chế độ dinh dưỡng không cao, có thể nuôi nhốt (kiểu nuôi công nghiệp), bán công nghiệp (vừa nhốt vừa thả) hoặc nuôi thả ở vườn, ngoài đồng, trên đồi

Bộ nông nghiệp và PTNT đã công nhận 3 dòng gà LV1, LV2, LV3 đạt cấp giống ông bà theo quyết định số 953 QĐ/BN - KHCN ngày 16/4/2004

Gà Lương Phượng hiện nay đang là giống gà được ưa chuộng và phát triển nuôi rộng rãi trong khắp mọi vùng của đất nước ta

1.2.2 Đặc điểm sinh học và khả năng sản xuất của gà Ri lai

Hiện nay tại rất nhiều nơi gà Ri đã pha tạp nhiều do lai với một số giống gà địa phương khác (gà Mía, gà Đông Tảo…) hoặc lai với một số giống

gà lông màu nhập nội (gà Tam Hoàng, gà Lương Phượng, gà Kabir…) tạo nên các con lai khác nhau và được người dân gọi tên chung là gà Ri pha Do

sự lai tạo không có định hướng và không có sự chọn lọc, nên ngoại hình của

gà Ri pha cũng rất đa dạng, năng suất thịt cũng khác nhau khá xa so với gà Ri thuần Song, nhìn chung gà Ri pha có thể hình to hơn và năng suất thịt cao hơn gà Ri thuần (Lê Hồng Mận và Nguyễn Thanh Sơn, 2001)[16]

Khối lượng sống ở 11 tuần tuổi của gà Ri là 1016,67 g và gà Ri lai là 1479,17 g Như vây, gà Ri lai có khối lượng sống lớn hơn (462,5 g) so với gà

Ri và sự sai khác về khối lượng sống giữa gà Ri lai và gà Ri là rất rõ ràng

Trang 23

(P<0,01) Mặt khác, khối lượng sống giữa các cá thể của cùng một loại gà là khá lớn ở gà Ri (Cv = 25,21%) và gà Ri lai (Cv = 21,74%) Điều này có thể được giải thích là do khối lượng gà trống là lớn hơn rất nhiều (P<0,01) so với

gà mái Cụ thể, khối lượng mổ khảo sát của gà mái và gà trống ở gà Ri là 800,00 và 1233,33 g; ở gà Ri lai tương ứng là 1191,67 và 1767,67g (Hồ Xuân Tùng và Phan Xuân Hảo, 2010)[31]

Lê Huy Liễu (2004) [14] thực hiện nghiên cứu khả năng sinh trưởng, cho thịt của gà lai F1 (♂ Lương Phượng x ♀Ri) và F1( ♂Kabir x♀ Ri) nuôi thả vườn tại Thái Nguyên đã khẳng định gà lai F1 (♂ Lương Phượng × ♀ Ri)

và F1 (♂ Kabir ×♀ Ri) (viết tắt: F1LR và F1KR) nuôi thịt ở Thái Nguyên quanh năm đều có khả năng thích ứng và sinh trưởng tốt, năng suất thịt cao hơn gà nội (gà Ri), chất lượng thịt tốt ngang bằng gà Ri, gà Lương Phượng và

gà Kabir Trong đó, gà lai F1LR có năng suất cao hơn gà lai F1KR Điều này, giúp người chăn nuôi gà thịt lông màu cơ hội lựa chọn giống gà nuôi thích hợp với yêu cầu thị trường và điều kiện chăn nuôi

Các chỉ tiêu đạt được của mỗi con lai (ở hai vụ Hè-Thu và Xuân) nuôi đến 91 ngày tuổi như sau: Đối với gà lai F1LR tỷ lệ nuôi sống (98,33 và 96,67%) gần bằng gà Ri (98,33%), cao hơn 1,67% so với gà Lương Phượng (96,67% và 95%); khối lượng sống (1617,86g và 1607,96g) cao hơn gà Ri từ 55,14 -55,92%; tiêu tốn thức ăn cho tăng 1 kg khối lượng (2,89kg và 2,92kg) thấp hơn gà Ri từ 25,54 - 23,34%; chỉ số sản xuất (60,56 và 58,56) cao hơn gà Ri từ 98,17 -100,33%; tỷ lệ thân thịt (75,70%

Đông-và 76,52%) cao hơn gà Ri từ 2,95 ~ 6,82%; tỷ lệ thịt đùi Đông-và thịt ngực (39,86% và 40,62%) cao hơn gà Ri từ 4,00 - 8,50%

Thành phần protein trong thịt ngực của gà lai F1LR và F1KR lần lượt

từ 22,38 - 22,63% và từ 22,24 - 22,40%, trong thịt đùi lần lượt từ 20,39 - 20,46% và từ 20,39 - 21,32% (tuỳ trống mái) là ngang bằng gà Ri, gà Lương Phượng và gà Kabir

1.3 Tình hình nghiên cứu an toàn sinh học trên thế giới

Theo FAO (2008)[40] các nghiên cứu về "Đánh giá thực hành an toàn sinh học, các biến động và mật độ của mầm bệnh dẫn đến rủi ro tại các trang

Trang 24

trại gia cầm của Bỉ": Một nghiên cứu được tiến hành tại Bỉ để điều tra và phân biệt các trang trại gia cầm chuyên nghiệp dựa trên mức độ an toàn sinh học của họ Hầu hết các trang trại gia cầm chuyên nghiệp của Bỉ và các trại giống đều áp dụng các thực hành an toàn sinh học tiêu chuẩn

Gibbens và cs (2001) cho thấy rằng các biện pháp vệ sinh và an toàn

sinh học giúp kiểm soát nhiễm khuẩn Campylobacter trong đàn gia cầm thịt

nuôi thương phẩm tại Vương quốc Anh An toàn sinh học có thể làm giảm tỷ

lệ nhiễm trùng Campylobacter trong tổng đàn gà thịt thương phẩm gần với

thời điểm giết mổ từ mức hiện tại là 80 đến <40%

Những năm gần đây nghiên cứu và phát triển chăn nuôi gia cầm rất chú trọng đến gia cầm chăn thả và bán chăn thả Nhiều báo cáo của những dự án phát triển, chỉ ra rằng gia cầm chăn thả đóng một vai trò đáng kể trong việc làm giảm sự nghèo đói (Saleque M A, 1996 )[46]

Kitalyi A J, (1996) [41] khi nghiên cứu về hệ thống chăn nuôi gà chăn thả cho biết: Chăn nuôi gà theo phương thức thâm canh ở những vùng nông thôn có

sự khác nhau với hệ thống chăn nuôi gà địa phương và sự khác nhau đó có liên quan đến sự tồn tại về vật chất và hoàn cảnh kinh tế xã hội của địa phương Roberts J A, (1991) nghiên cứu khả năng sinh trưởng và di truyền của gà chăn thả cho thấy, nuôi gà chăn thả thì đầu tư thấp, sản phẩm của chúng cung cấp tiêu dùng tại chỗ trong gia đình và được bán buôn trở thành nguồn thu nhập

Ngày nay, trên thế giới xu hướng tiêu dùng sản phẩm thịt gà sạch đang ngày càng tăng, nó đòi hỏi các nhà nghiên cứu, các nhà chăn nuôi phải không ngừng cải tiến về mặt di truyền, phương pháp chăn nuôi để tạo ra sản phẩm có chất lượng Vấn đề này đã được nhiều nước trên thế giới quan tâm, để tạo ra những giống gà có năng suất cao, chất lượng tốt

Ở các nước đang phát triển như nước ta, chăn nuôi gia cầm còn phổ biến hình thức chăn thả tự nhiên, nuôi tận dụng, nên năng suất thấp, hiệu quả kinh tế chưa cao Các nhà chọn giống đã nghiên cứu tạo các giống gà có sức chống chịu cao với stress môi trường, dễ thích nghi với vùng khí hậu khắc

Trang 25

nghiệt, nóng và ẩm, dễ nuôi, ít bệnh tật lại phù hợp với các phương thức chăn nuôi khác nhau (nuôi công nghiệp, bán công nghiệp, chăn thả tự nhiên)

1.4 Tình hình nghiên cứu, ứng dụng chăn nuôi gà an toàn sinh học ở Việt Nam

Sở Khoa học và công nghệ tỉnh Hải Dương (2013)[23] thực hiện mô hình nuôi gà Ri lai Lương Phượng thương phẩm của tỉnh năm 2012 Cao Tiến Tuấn - Phó chủ tịch Hội Nông dân tỉnh cùng các cộng sự đã thực hiện đề tài: Xây dựng mô hình chăn nuôi gà Ri lai Lương Phượng thương phẩm trên địa bàn thị xã Chí Linh với 6 hộ tham gia tại 2 xã Hoàng Hoa Thám và xã Bắc An (thị xã Chí Linh) với 5.500 con nuôi được bố trí thành 2 vụ theo 2 phương thức nuôi bán thâm canh và nuôi nhốt Qua thực hiện chăn nuôi 2 vụ đã cho thấy gà Ri lai Lương Phượng có sức sống đề kháng cao và khả năng chống chịu bệnh tốt hơn gà Mía lai đang nuôi tại địa phương Tỷ lệ nuôi sống gà Ri lai Lương Phượng lúc 10 tuần tuổi ở 2 vụ và 2 phương thức nuôi đạt trung bình đạt từ 98 - 99% cao hơn tỷ lệ nuôi sống của gà Mía lai là 94,73% Gà Ri lai Lương Phượng bị chết chủ yếu trong giai đoạn 1 ngày tuổi tới 3 tuần tuổi

Gà Ri lai Lương Phượng nuôi theo phương thức bán chăn thả gà phát triển tốt,

hệ số tiêu tốn thức ăn/kg tăng trọng trung bình là 2,65 đến 3,08kg khối lượng trung bình sau 10 tuần tuổi đạt 1,2 - 1,3kg

Mô hình tại Hải phòng, Nguyễn Văn Hoãn -Phòng Chăn nuôi (Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Hải Phòng)[21] đã chủ trì nghiên cứu

đề tài “Khảo sát một số chỉ tiêu kinh tế - kỹ thuật và chất lượng sản phẩm giống gà Ri lai cải tiến theo hướng chăn nuôi theo phương thức an toàn sinh học trong nông hộ tại Hải Phòng” Nhóm nghiên cứu đã điều tra khảo sát tình hình phát triển chăn nuôi gà ở 2 huyện An Dương và Kiến Thụy Kết quả điều tra tình hình sản xuất chăn nuôi gia cầm cho thấy, tuy số lượng đàn gia cầm của hai huyện mới chiếm khoảng 16,42% tổng đàn gia cầm của toàn thành phố song tỷ lệ số hộ có chăn nuôi gà so với tổng số hộ có chăn nuôi và bình quân số lượng gà nuôi của từng hộ là khá cao Tuy nhiên, hình thức chăn nuôi quy mô nhỏ là chủ yếu, quy mô dưới 50 con chiếm đa số Mức độ

Trang 26

đầu tư thâm canh để tổ chức chăn nuôi gà theo hướng sản xuất hàng hóa của hai huyện vẫn chưa cao, mang nặng hình thức chăn nuôi theo tập quán nhỏ

lẻ, tận dụng là chính

Hồ Xuân Tùng và Cs (2008)[30] thực hiện đề tài “Khả năng sản xuất của một số công thức lai giữa gà Lương Phượng và gà Ri để phục vụ chăn nuôi nông hộ” Đề tài được nghiên cứu trên đàn gà thịt thương phẩm giống Ri cải tiến của Trung tâm nghiên cứu gia cầm Vạn Phúc giai đoạn 1-84 ngày tuổi Địa điểm nghiên cứu tại 2 điểm chăn nuôi gà mô hình khuyến nông là: Đông Phương Yên - Chương Mỹ - Hà Tây và Đoàn Đào - Phù Cừ - Hưng Yên Chia 02 lô thí nghiệm:

+ Lô I: Gồm 2 hộ (mỗi điểm 1 hộ) chăn nuôi theo phương thức nuôi nhỏ

lẻ, quy mô chăn nuôi: 100 con/lứa/hộ Chuồng trại, các điều kiện chăm sóc nuôi dưỡng và vệ sinh thú y còn sơ sài mang tính thủ công Chuồng nuôi sát gần khu dân cư, chưa thật đảm bảo các điều kiện an toàn sinh học trong chăn nuôi

+ Lô II: Gồm 2 hộ (mỗi điểm 1 hộ) chăn nuôi theo phương thức nuôi tập trung, quy mô chăn nuôi: 400 con/lứa/hộ Chuồng trại, các điều kiện chăm sóc nuôi dưỡng và vệ sinh thú y tương đối hiện đại mang tính chất công nghiệp Chuồng nuôi ở ngoài cánh đồng cách xa khu dân cư từ 500 m trở lên, đảm bảo điều kiện an toàn sinh học trong chăn nuôi

Kết quả: Tỷ lệ nuôi sống ở cả 2 lô đều tương đối cao (≥ 94%) Bình quân tỷ lệ nuôi sống ở lô II cao hơn lô I là 1,32% Đàn gà ở lô II ít bị bệnh hơn đàn gà ở lô I nhất là các bệnh do ảnh hưởng của môi trường như bệnh hen, cầu trùng Khối lượng cơ thể giữa các lô và các điểm chăn nuôi có sự chệnh lệch dao động từ 1850g đến 2150g Khối lượng cơ thể bình quân ở lô II cao hơn lô I là 175g tương ứng 9,09% Tiêu tốn thức ăn/kg tăng khối lượng giữa các lô và điểm cũng có sự chênh lệch dao động từ 2,60 - 2,98 kg

Thúy Trang (2008)[27] Trung tâm khuyến nông tỉnh Phú Thọ năm

2008 đã chỉ đạo thực hiện mô hình chăn nuôi “Gà thịt an toàn sinh học” ở xã Phượng Mao - huyện Thanh Thuỷ với quy mô là 1000 con cho 10 hộ gia đình mỗi hộ 100 con, chủ yếu là gà Ri lai Qua 3 tháng thực hiện, kết quả đạt

Trang 27

được đã khác hẳn so với phương thức nuôi chăn thả của người dân: gà nuôi nhanh lớn, khả năng phòng trừ bệnh cao, gà ít mắc bệnh tỷ lệ sống đạt 95% Tổng kết mô hình đã cho thấy chăn nuôi gà theo phương thức nuôi bán chăn thả đem lại hiệu quả kinh tế cao, với gà Ri lai có khối lượng trung bình khoảng 1,5kg- 2kg/con/3 tháng nuôi, tăng hơn so với phương thức nuôi truyền thống là 1,5kg- 2kg/con/6 tháng

Nói chung, đã có một số tác giả nghiên cứu về gà Ri lai nhưng tập trung vào lai tạo, khả năng sản xuất, chất lượng thịt

Đến thời điểm hiện tại, đối với gà Ri lai, chúng tôi chưa thấy có công trình nghiên cứu có hệ thống nào công bố về ảnh hưởng của việc áp dụng các biện pháp kỹ thuật và vệ sinh thú y theo hướng an toàn sinh học đến khả năng sản xuất thịt của gà Ri lai

1.5 Tình hình chăn nuôi gia cầm tại tỉnh Lạng Sơn

Theo Quy hoạch chăn nuôi tỉnh Lạng Sơn đến năm 2020[21], chăn nuôi gia cầm là tập quán lâu đời của người dân trong tỉnh Phần lớn nông dân Lạng Sơn chăn nuôi nhỏ gia cầm tại nông hộ, phân tán, nhỏ lẻ, tự cung tự cấp, nguồn giống địa phương, tỷ lệ nuôi sống thấp, dịch bệnh thường xuyên xảy

ra, tỷ lệ lây nhiễm cao, hiệu quả kinh tế thấp

Chăn nuôi gà quy mô hộ gia đình toàn tỉnh có 97.380 hộ, bình quân mỗi

hộ nuôi 30-35 con gà, chiếm 99,4% tổng đàn gà toàn tỉnh Trong đó chăn nuôi nhốt chuồng có 77.585 hộ, chiếm 70% số hộ chăn nuôi gà và 65% đàn gà toàn tỉnh Hình thức hộ gia đình nuôi gà thả vườn chiếm 30% số hộ và 34,4% tổng đàn Hình thức chăn nuôi trang trại chiếm 0,6% tổng đàn gà toàn tỉnh Trong tổng số 97.380 hộ chăn nuôi gà thì chỉ có 77.585 hộ nuôi nhốt chuồng, trong số này chỉ có 27% chuồng trại đạt yêu cầu, còn lại là chuồng trại tạm bợ không đạt tiêu chuẩn Trong tổng đàn gia cầm, đàn gà chiếm 84,39%, gia cầm khác như vịt, ngan, ngỗng chỉ chiếm 15,61% tổng đàn gia cầm Các giống được đưa vào chăn nuôi chủ yếu là giống gà Lương Phượng, gà Tam Hoàng, gà lông màu, do đó đã nâng cao được khối lượng xuất chuồng

Trang 28

Bảng 1.1: Tổng đàn gia cầm tỉnh Lạng Sơn qua các năm 2005-2015 (con)

(%) Toàn tỉnh 3.161.000 3.702.870 3.284.300 3.773.727 3.956.619 2,27

Nguồn niên giám thống kê Lạng Sơn (2015)

* Bệnh cúm gia cầm trên địa bàn

Theo Quy hoạch phát triển nông nghiệp và nông thôn tỉnh Lạng Sơn thời

kỳ 2011-2020, dịch cúm gia cầm những năm gần đây diễn biến phức tạp không những ở Lạng Sơn mà còn trên địa bàn cả nước gây thiệt hại về kinh tế rất lớn Lạng Sơn có đường biên giới Quốc gia với Trung Quốc, đây vừa là điều kiện thuận lợi cho phát triển kinh tế, nhưng cũng gây không ít khó khăn trong vấn đề kiểm soát dịch bệnh vùng biên giới nói chung và kiểm soát dịch cúm gia cầm nói riêng Trên tuyến biên giới có nhiều đường mòn, địa hình phức tạp khó kiểm soát là điều kiện rất thuận lợi để các đối tượng vận chuyển gia cầm và sản phẩm gia cầm từ bên kia biên giới đưa vào nội địa qua địa bàn Lạng Sơn, gây nguy cơ tiềm ẩn dịch cúm gia cầm có thể xảy ra bất kỳ lúc nào Trong thời gian từ năm 2001- 2008 xuất hiện bệnh cúm gia cầm tại một số điểm trên địa bàn tỉnh, đặc

Trang 29

biệt là huyện Hữu Lũng gây nhiều thiệt hại cho chăn nuôi của địa phương, còn các năm khác trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn không xảy ra dịch cúm gia cầm

Trong vài năm trở lại đây do công tác giám sát dịch bệnh được thực hiện chặt chẽ nên không có dịch cúm gia cầm xẩy ra Tuy nhiên hiện nay các dịch bệnh diễn biến phức tạp đặc biệt là các chủng virus cúm trong đó có cúm gia cầm, kết hợp với điều kiện thời tiết bất lợi, các hoạt động giết mổ, vận chuyển gia cầm khó kiểm soát, hoạt động buôn bán vận chuyển gia súc gia cầm qua biên giới ngày càng phức tạp nên nguy cơ dịch cúm gia cầm bùng phát là rất cao

* Các loại bệnh khác

Bệnh Newcastle, bệnh tụ huyết trùng, cầu trùng ở gia cầm cũng xảy ra rải rác ở hầu hết các huyện, thành phố, tuy nhiên lực lượng thú y kịp thời phát hiện và dập tắt dịch Việc chăn nuôi gia cầm tại nông hộ cần tiếp tục phát triển nhưng cần phải thay đổi phương thức, tập quán chăn nuôi cũng như có những biện pháp nhằm hạn chế dịch bệnh lây lan, về lâu dài cần phát triển chăn nuôi tập trung, thay thế bằng đàn gia cầm sạch bệnh

Nhìn chung tình hình dịch bệnh trong các năm gần đây trên cả nước nói chung, tỉnh Lạng Sơn nói riêng diễn biến rất phức tạp, ảnh hưởng xấu đến ngành chăn nuôi và sức khỏe của nhân dân Do đó, để chăn nuôi phát triển bền vững cần

có giải pháp phòng, chống dịch bệnh thống nhất rộng khắp trên địa bàn, đặc biệt là xây dựng vùng an toàn dịch bệnh và chăn nuôi theo hướng an toàn sinh học

Trang 30

Chương 2 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Đối tượng, địa điểm và thời gian nghiên cứu

2.1.1 Đối tượng nghiên cứu

- Gà thịt (♂Ri x ♀Lương Phượng) nuôi thịt từ 1- 12 tuần tuổi tại huyện Cao Lộc tỉnh Lạng Sơn, gà 1 ngày tuổi mua tại Viện Chăn nuôi Quốc gia

- Yếu tố thí nghiệm: Các biện pháp an toàn sinh học trong chăn nuôi gia cầm

2.1.2 Địa điểm nghiên cứu: Đề tài được thực hiện tại huyện Cao Lộc, tỉnh

Lạng Sơn

2.1.3 Thời gian nghiên cứu: Từ tháng 8/2015 đến tháng 7/2016

2.2 Nội dung và phương pháp nghiên cứu

2.2.1 Nội dung nghiên cứu

Nghiên cứu ảnh hưởng của một số biện pháp an toàn sinh học đến năng suất và hiệu quả kinh tế của gà thịt nuôi trong nông hộ Xác định vi khuẩ̉n

E.Coli và̀ Samonella trong chấ́t độ̣n chuồ̀ng, trong thịt của gà thí nghiệm

Trên cơ sở các kết quả thu được, so sánh ảnh hưởng của phương thức nuôi có́ á́p dụ ̣ng an toà̀n sinh họ ̣c với không á́p dụ ̣ng an toà̀n sinh họ ̣c đế́n gà thịt tại nông hộ

2.2.2 Phương pháp nghiên cứu

2.2.2.1 Bố trí thí nghiệm

Bố trí thí nghiệm

Thí nghiệm được tiến hành theo phương pháp hộ so sánh Chia làm 2

lô (lô I áp dụng một số biện pháp kỹ thuật và vệ sinh thú y an toàn sinh học; lô II không áp dụng) Số lượng 250 gà F1 (Ri x Lương Phượng) cho 1

lô, mỗi lô được nuôi trong 5 hộ (50 gà/ hộ) Giữa 2 lô thí nghiệm đảm bảo các nguyên tắc đồng đều về số lượng, giống, tuổi, thức ăn và các loại vắc - xin phòng bệnh

Trang 31

Mô tả thí nghiệm

Các hộ chăn nuôi lô I (ATSH) tuyệt đối áp dụng các qui định về thời gian cách ly giữa hai lứa nuôi/chuồng nuôi là 14 ngày; thay dép và quần áo trước khi vào chăn gà, mật độ vườn thả 2m2/gà

Các hộ chăn nuôi lô II (không ATSH): Không trống chuồng giữa hai lứa nuôi và thường xuyên không thay dép và quần áo trước khi vào chuồng nuôi, mật độ vườn thả 2 m2/gà

Vắc xin Thực hiện quy trình sử dụng vắc xin như bảng 2.3

Thời gian cách ly

Kiểm soát các yếu tố

tiếp xúc với đàn gà

Không nuôi chung với các các loại gia cầm và gia súc khác

Kiểm soát người chăm sóc nuôi dưỡng, khách thăm quan, yêu cầu thay quần

áo, giầy dép khi vào khu vực chăn nuôi

Không thực hiện

Trang 32

Tiêu chí lựa chọn hộ

Thí nghiệm được thực hiện tại xã Gia Cát, huyện Cao Lộc Là một xã nằm

ở phía Đông của huyện Cao Lộc, xã Gia Cát chủ yếu là đồng bào các dân tộc Tày, Nùng, Dao sinh sống Việc lựa chọn các hộ tham gia thực hiện các thí nghiệm dựa trên điều kiện thực tế về chuồng trại, bãi chăn thả, kinh nghiệm sản xuất và điều kiện về áp dụng các kỹ thuật trong chăn nuôi gia cầm

Các hộ được lựa chọn thực hiện lô áp dụng ATSH phải đảm bảo: có chuồng nuôi kiên cố, có bãi thả được rào hoặc quây lại ngăn cách với các khu vực khác Gà được nuôi cách li riêng không nuôi chung với các loại gia súc, gia cầm khác Chủ hộ có ý thức trong việc áp dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật và tuân thủ các yêu cầu kỹ thuật khi tham gia thực hiện thí nghiệm

Các hộ được lựa chọn thực hiện lô không áp dụng ATSH: có chuồng nuôi gà đảm bảo diện tích cho 50 con gà, có vườn hoặc bãi chăn thả nhưng vẫn nuôi chung với các gia cầm và gia súc khác Các hộ đang nuôi gà theo cách truyền thống, chưa áp dụng các biện pháp kỹ thuật hay vệ sinh thú y Đây là thực trạng chăn nuôi của địa phương

Các biện pháp vệ sinh thú y được áp dụng trong thí nghiệm

Đối với gà lô I áp dụng ATSH

Trước khi gà được đưa vào nuôi, chuồng trại được quét dọn sạch sẽ, loại bỏ hết chất độn chuồng cũ, rửa chuồng và phun sát trùng bằng HAN-IDINE 10 % với lượng 0,1 lít /10-25 lít nước sạch, phun đều bề mặt và toàn

bộ chuồng, khu vực bãi thả, dụng cụ chăn nuôi và môi trường xung quanh Các dụng cụ, trang thiết bị chăn nuôi đã được vệ sinh sát trùng đảm bảo tiêu chuẩn vệ sinh thú y, khu vực sử dụng để thả gà cũng được rào cẩn thận Để trống chuồng 14 ngày trước khi thả gà thí nghiệm Thực hiện tiêm phòng đầy

đủ theo quy trình

Trang 33

Kiểm soát chặt chẽ việc tiếp xúc giữa đàn gà và các mỗi lây truyền dịch bệnh như: hạn chế người thăm quan, thực hiện nghiệm ngặt việc thay dép và bảo hộ lao động trước khi vào khu vực chăn nuôi Không nuôi gà thí nghiệm chung với các loại gia cầm và gia súc khác Hàng ngày tiến hành vệ sinh cọ rửa máng ăn máng uống Định kỳ hàng tuần phun sát trùng bằng HAN-IDINE 10% với lượng 0,1lít/10-25 lít nước sạch, phun đều bề mặt và toàn bộ chuồng, khu vực bãi thả, dụng cụ chăn nuôi và môi trường xung quanh

Đối với gà lô không áp dụng ATSH

Trước khi gà được đưa vào nuôi, chuồng trại chỉ thực hiện quét dọn sạch, không thực hiện phun sát trùng Các dụng cụ, trang thiết bị chăn nuôi được tận dụng từ lứa trước Sau khi chuẩn bị chuồng nuôi tiến hành thả gà thí nghiệm luôn, không thực hiện trống chuồng giữa 2 lứa

Trong quá trình nuôi gà thí nghiệm: thực hiện tiêm phòng đầy đủ theo quy trình Chăn nuôi theo thói quen truyền thống của địa phương, không kiểm soát các mối tiếp xúc với đàn gà trong suốt quá trình làm thí nghiệm, nuôi gà chung với các loại gia cầm và gia súc khác như vịt, ngan và lợn trong khu vực nhưng quây riêng để không ăn thức ăn của gà thí nghiệm Không bắt buộc phải thay dép và quần áo trước khi vào khu vực chăn nuôi

Quy trình chăm sóc nuôi dưỡng gà thí nghiệm:

Gà được nhập về và đưa vào chuồng nuôi lúc 1 ngày tuổi Trong 4 tuần đầu gà thí nghiệm được nuôi nhốt hoàn toàn Đến tuần thứ 5, gà nuôi theo phương thức bán chăn thả được thả ra ngoài khu vực bãi thả (diện tích 2m2/con) vào ban ngày và nhốt chuồng vào buổi tối

Bãi chăn thả có đủ diện tích đáp ứng mật độ, dễ thoát nước, khô sạch

có bóng râm Kết hợp lán trú mưa và bố trí máng ăn, máng uống cho gà sử dụng ban ngày ngoài bãi, ban đêm gà được lùa về chuồng Thức ăn gà kiếm được trong bãi chăn thả không tính vào lượng thức ăn chi phí

Trang 34

Mật độ chuồng nuôi nhốt ban đêm 8 con/m2 Đệm lót trong chuồng: Dùng trấu trải lần đầu dày 8 - 10 cm, sau đó bổ sung thêm để giữ luôn khô sạch Nhiệt độ: Các lô thí nghiệm đều có hệ thống đèn sưởi cung cấp nhiệt vào những thời gian nhiệt độ xuống thấp, đảm bảo nhiệt độ 1 - 10 ngày tuổi dưới chụp sưởi 30 - 330C

Máng ăn, máng uống: Giai đoạn 1 - 10 ngày tuổi sử dụng khay ăn quy chuẩn - dùng cho 50 gà và cho uống bằng máng uống tròn 1,5 lít (50 con/máng) Giai đoạn 15 ngày trở đi thay bằng máng ăn tròn với 50 gà/ máng

và cho uống bằng máng uống tròn 8 lít với 50gà/ máng

Thức ăn và cách cho ăn của gà thí nghiệm được chia ra làm 3 giai đoạn Giai đoạn từ 1 - 21 ngày tuổi, sử dụng thức ăn gà thịt thả vườn Con cò C225A Giai đoạn từ 22 - 42 ngày tuổi, sử dụng thức ăn Con cò C225B Giai đoạn từ 43 - 84 ngày tuổi sử dụng thức ăn hỗn hợp cho gà thịt thả vườn Con

cò C235 new Thức ăn và nước uống được cung cấp tự do theo nhu cầu của gà thí nghiệm

Bảng 2.2: Thành phần dinh dưỡng thức ăn của gà thí nghiệm

Thành phần dinh dưỡng Đơn vị tính Giai đoạn (ngày tuổi)

Trang 35

Quy trình sử dụng vắc xin được thực hiện như sau:

Bảng 2.3 Quy trình sử dụng vắc xin Ngày tuổi Loại vắc-xin Phương pháp dùng

7 ngày tuổi Lasota lần 1 Nhỏ mắt 1 giọt

Gumboro lần 1 Nhỏ mồm 4 giọt

14 ngày tuổi Gumboro lần 2 Nhỏ mồm 4 giọt

21 ngày tuổi Lasota lần 2 Nhỏ mắt 1 giọt

Gumboro lần 3 Nhỏ mồm 4 giọt

35 ngày tuổi Newcastle H1 Tiêm dưới da màng cánh

2.2.2.2 Các chỉ tiêu và phương pháp theo dõi

Các chỉ tiêu theo dõi

* Tỷ lệ nuôi sống của gà thí nghiệm

* Khả năng sinh trưởng

+ Sinh trưởng tích lũy (g/con)

+ Sinh trưởng tuyệt đối (g/con/ngày)

+ Sinh trưởng tương đối (R%)

* Khả năng thu nhận và chuyển hóa thức ăn:

+ Lượng thức ăn thu nhận

+ Tiêu tốn thức ăn/kg tăng khối lượng (kg)

+ Tiêu tốn CP và ME

* Chỉ số sản xuất PI và chỉ số kinh tế EN

* Khả năng cho thịt và chất lượng thịt của gà thí nghiệm

* Tỷ lệ mắc bệnh của gà thí nghiệm

* Đánh giá số lượng vi khuẩn E.Coli và Salmonella trong phân, chất

độn chuồng lúc 4, 8, 12 tuần tuổi

* Mức độ nhiễm khuẩn E.Coli, Salmonella trong thịt gà sau giết mổ

* Hiệu quả kinh tế

Trang 36

Phương pháp nghiên cứu xác định các chỉ tiêu

Tỷ lệ nuôi sống (%)

Trong suốt thời gian thí nghiệm, hàng ngày đếm và ghi chép chính xác

số gà chết của mỗi lô gia cầm thí nghiệm

Cuối mỗi tuần theo dõi, thống kê tổng số gia cầm chết trong mỗi lô thí

nghiệm để xác định số con còn sống

Số con còn sống đến cuối kỳ

Tỷ lệ nuôi sống = x 100

Số con đầu kỳ

Tính tỷ lệ nuôi sống theo từng tuần tuổi, theo cả giai đoạn

Sinh trưởng tích lũy

Khối lượng cơ thể gia cầm qua các giai đoạn nuôi (xác định theo tuần tuổi) Cân vào các thời điểm 1 ngày tuổi, cân hàng tuần từ 1 tuần tuổi cho đến khi kết thúc thí nghiệm Cân vào một ngày, giờ nhất định trước khi cho ăn, cân toàn bộ số gà trong lô, cân từng con một Cân gia cầm vào buổi sáng, trước khi cho ăn, cho uống, khoảng 6-7 giờ

Sử dụng cân có độ chính xác cao Đối với gia cầm mới nở (1 ngày tuổi)

và còn nhỏ thì cân bằng cân kỹ thuật có độ chính xác tối thiểu ± 0,5 g Khi gia cầm lớn, cân bằng cân đồng hồ có độ chính xác tối thiểu ± 5 g

- Sinh trưởng tuyệt đối

Khối lượng cơ thể tăng lên trong một đơn vị thời gian giữa hai lần khảo sát, đó là hệ quả được rút ra khi tính toán số liệu thu được từ khối lượng sống qua các tuần tuổi Trong thí nghiệm này, xác định sinh trưởng tuyệt đối theo từng tuần tuổi, theo giai đoạn nuôi và tính trung bình mỗi ngày trong tuần Tăng khối lượng tuyệt đối được tính theo công thức:

P2 - P1

A (g/con/ngày)=

T

Trong đó: A: là sinh trưởng tuyệt đối (gam/con/ngày)

P1 là khối lượng cơ thể cân tại thời điểm T1 (g) P2 là khối lượng cơ thể cân tại thời điểm T2 (g)

T là khoảng thời gian giữa hai lần khảo sát (ngày tuổi)

Trang 37

- Sinh trưởng tương đối:

Là khối lượng gia cầm tăng lên tương đối của lần cân sau với lần cân trước Xác định sinh trưởng tương đối theo từng tuần tuổi và theo giai đoạn

Công thức tính sinh trưởng tương đối:

P2 - P1

R (%) = - x 100 (P1+P2)/2

Trong đó: R là sinh trưởng tương đối (%)

P1 là khối lượng cơ thể ở lần cân trước (g)

P2 là khối lượng cơ thể ở lần cân sau (g)

Lượng thức ăn thu nhận (FI)

Ghi chép cẩn thận số lượng thức ăn cho gà ăn hàng ngày và tính;

LTĂ cho ăn (g) - LTĂ thừa (g)

FI (g/con/ngày) = -

Số đầu gà

Hệ số chuyển hoá thức ăn (FCR)

Lượng thức ăn thu nhận (kg) FCR = -

Khối lượng cơ thể tăng lên (kg) Cách tính chi phí thức ăn cho 1 kg tăng khối lượng:

Chi phí thức ăn = Hệ số chuyển hoá thức ăn x giá thức ăn

Tiêu tốn năng lượng trao đổi

TTME (kcal)/kg tăng khối lượng = FCR x ME của thức ăn

Tiêu tốn protein thô

Tiêu tốn CP = FCR x CP của thức ăn (g)

Trang 38

Chỉ số kinh tế (EN):

Chỉ số sản xuất (PI)

EN = x 1000

Chi phí thức ăn/kg tăng khối lượng (đ)

Khảo sát chỉ tiêu năng suất, chất lượng thịt

Mỗi lô thí nghiệm chọn 3 cá thể trống và 3 mái, có khối lượng tương đương khối lượng trung bình của đàn

Cách tiến hành:

- Cân khối lượng sống (sau khi nhịn đói 12-18 giờ nhưng uống nước bình thường)

- Cắt tiết (cắt tĩnh mạch cảnh)

- Nhúng vào nước nóng 72 - 750C trong -2-3 phút, vặt lông

- Cắt chân ở khớp khuỷu, cắt đầu ở khớp xương chẩm và xương atlat, rạch bụng dọc theo xương lưỡi hái, bỏ ống tiêu hóa, cơ quan sinh dục, khí quản, thực quản, lá lách (quả tối) Để lại thận và phổi

- Lấy túi mật ra khỏi gan, lấy thức ăn cùng màng sừng ra khỏi mề, phần còn lại nhét vào bụng gà Đó là khối lượng thân thịt

Khối lượng thịt đùi trái (g) x 2

Trang 39

Khối lượng thịt ngực trái (g) x 2

Là tỷ lệ phần trăm giữa khối lượng mỡ bụng và khối lượng sống hoặc

là tỷ lệ phần trăm giữa khối lượng mỡ bụng và khối lượng thân thịt

Tại thời điểm gà được 4, 8, 12 tuần tuổi, tiến hành lấy mẫu phân, chất

độn chuồng tại các lô thí nghiệm gửi đi phân tích xác định tỷ lệ nhiễm E.coli

và Salmonella

Xác định số lượng vi khuẩn E.coli và Salmonella trong 1g phân của

gà Mẫu là 1g phân, được pha loãng trong dung dịch PBS thành các nồng

độ 10-1, 10-2, …, 10-8 Lấy 0,1 ml dung dịch ở các nồng độ đã pha loãng 10-6, 10-7, 10-8 nhỏ và dàn đều trên bề mặt thạch MacConkey, thạch DHL, bồi dưỡng ở 370C trong 24 giờ Mỗi nồng độ pha loãng dùng 3 đĩa thạch

Đếm số khuẩn lạc E.coli và Salmonella mọc trên đĩa thạch, rồi tính trung

bình cho mỗi nồng độ

Trang 40

Số lượng vi khuẩn được tính theo công thức:

X = 10 x a x b Trong đó:

X là tổng số lượng vi khuẩn có trong 1 g phân hoặc chất chứa

a là số lượng vi khuẩn trung bình của 1 nồng độ pha loãng

b là hệ số pha loãng mẫu

Hệ số 10: vì cấy 0,1 ml

Kiểm tra mức độ nhiễm E.coli và Salmonella trong thịt sau khi giết mổ:

Tiến hành mổ gà lấy mẫu thịt đi phân tích tại Viện Khoa học sự sống - Đại học Thái Nguyên Mỗi mẫu được đựng riêng rẽ vào một túi nilon sạch, vô khuẩn, có ghi rõ ký hiệu Các mẫu được bảo quản trong nhiệt độ lạnh (4 -

80C) và chuyển về phòng thí nghiệm để xử lý mẫu trong cùng ngày Phát hiện

và tính số lượng E.coli có trong 1g thịt theo TCVN- 2:2008 (ISO 2:2001), phát hiện sự có mặt của Salmonella trong thịt

Đối với thực phẩm tươi sống, đặc biệt là thực phẩm có nguồn gốc động

vật, việc xác định E.coli tổng số là yêu cầu bắt buộc, nó là một trong những

tiêu chuẩn cần thiết để đánh giá tình trạng vệ sinh thực phẩm QCVN

8-3:2012/BYT cho phép giới hạn tối đa E.coli trong thịt là 102 CFU/g thịt Đối

với Salmonella không được phép có mặt trong thịt

2.3 Phương pháp xử lý số liệu

Số liệu được xử lý theo phương pháp thống kê sinh vật học của Nguyễn Văn Thiện và Cs (2002)[23], xử lý thống kê ANOVA-ONE WAY FACTOR bằng phần mềm Minitab phiên bản 16 Các tham số bao gồm:

- Giá trị trung bình (X)

- Sai số trung bình (mx)

- Hệ số biến dị Cv (%)

- So sánh sai khác số trung bình

Ngày đăng: 23/06/2017, 17:37

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Nguyễn Hoài Châu (2006), “An toàn sinh học trong chăn nuôi tập trung”, Báo Nông nghiệp, số 221 ra ngày 6/11/2006 Sách, tạp chí
Tiêu đề: An toàn sinh học trong chăn nuôi tập trung”, "Báo Nông nghiệp
Tác giả: Nguyễn Hoài Châu
Năm: 2006
2. Nguyễn Hoài Châu (2006), “An toàn sinh học trong chăn nuôi”, Báo Nông nghiệp, số 227 ra ngày 14/11/2006 Sách, tạp chí
Tiêu đề: An toàn sinh học trong chăn nuôi”, "Báo Nông nghiệp
Tác giả: Nguyễn Hoài Châu
Năm: 2006
3. Lê Cung (2016), An toàn sinh học tối thiểu trong chăn nuôi gia cầm sinh sản, http://nguoichannuoi.vn/an-toan-sinh-hoc-toi-thieu-trong-chan-nuoi -gia-cam-sinh-san-nd1452.html, ngày 29//01/2016 Sách, tạp chí
Tiêu đề: An toàn sinh học tối thiểu trong chăn nuôi gia cầm sinh sản
Tác giả: Lê Cung
Năm: 2016
4. Nguyễn Huy Đạt, Hồ Xuân Tùng (2001), “Nghiên cứu lai giữa gà Lương Phượng với gà Ri nhằm chọn tạo ra giống gà thả vườn phục vụ chăn nuôi nông hộ”, Báo cáo khoa học, Viện Chăn nuôi, tr.106-120 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu lai giữa gà Lương Phượng với gà Ri nhằm chọn tạo ra giống gà thả vườn phục vụ chăn nuôi nông hộ”, "Báo cáo khoa học, Viện Chăn nuôi
Tác giả: Nguyễn Huy Đạt, Hồ Xuân Tùng
Năm: 2001
5. Nguyễn Huy Đạt, Hồ Xuân Tùng (2004), “Khả năng sinh trưởng và phát triển của gà Ri lai R1A và R1B tại trung tâm Nghiên cứu gia cầm Vạn Phúc”, Tạp chí Chăn nuôi - Hội chăn nuôi 9, tr. 8-11 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khả năng sinh trưởng và phát triển của gà Ri lai R1A và R1B tại trung tâm Nghiên cứu gia cầm Vạn Phúc”, "Tạp chí Chăn nuôi - Hội chăn nuôi 9
Tác giả: Nguyễn Huy Đạt, Hồ Xuân Tùng
Năm: 2004
6. Hà Ngọc Giang (2009), “Chăn nuôi gà an toàn sinh học ở Lâm Thao”, Báo Phú Thọ, ngày 11/08/2009 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chăn nuôi gà an toàn sinh học ở Lâm Thao”, "Báo Phú Thọ
Tác giả: Hà Ngọc Giang
Năm: 2009
7. Hoàng Hà (2009), Chủ động phòng trị bệnh cho gà thả vườn, http:/chonongnghiep.com/forum.aspx?g=posts&amp;t=14, cập nhập ngày 25/6/200906 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chủ động phòng trị bệnh cho gà thả vườn
Tác giả: Hoàng Hà
Năm: 2009
8. Lê Thanh Hải, Nguyễn Hữu Thỉnh, Lê Hồng Dung (1995), Một số biện pháp kỹ thuật chăn nuôi gà thả vườn, Nxb nông nghiệp TP Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số biện pháp kỹ thuật chăn nuôi gà thả vườn
Tác giả: Lê Thanh Hải, Nguyễn Hữu Thỉnh, Lê Hồng Dung
Nhà XB: Nxb nông nghiệp TP Hồ Chí Minh
Năm: 1995
9. Đào Lệ Hằng (2008), “Bảo đảm an toàn sinh học trong chăn nuôi”, Tạp chí Chăn nuôi số 10, tr 33-34 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bảo đảm an toàn sinh học trong chăn nuôi”, "Tạp chí Chăn nuôi số 10
Tác giả: Đào Lệ Hằng
Năm: 2008
10. Nguyễn Duy Hoan, Bùi Đức Lũng, Nguyễn Thanh Sơn, Đoàn Xuân Trúc (1999), Giáo trình chăn nuôi gia cầm dùng cho Cao học và Nghiên cứu sinh ngành chăn nuôi, Nxb Nông nghiệp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình chăn nuôi gia cầm dùng cho Cao học và Nghiên cứu sinh ngành chăn nuôi
Tác giả: Nguyễn Duy Hoan, Bùi Đức Lũng, Nguyễn Thanh Sơn, Đoàn Xuân Trúc
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 1999
11. Nguyễn Duy Hoan, Trần Thanh Vân (1998), Giáo trình chăn nuôi gia cầm, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình chăn nuôi gia cầm
Tác giả: Nguyễn Duy Hoan, Trần Thanh Vân
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 1998
12. Hội Chăn nuôi Việt Nam (2001), “Cẩm nang chăn nuôi gia cầm, tập II”, Cẩm nang chăn nuôi gia súc - gia cầm, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội 13. Hương Lan (2008), “Nuôi gà an toàn sinh học - Hướng phát triển chănnuôi hàng hóa thành phố Hoà Bình”, Báo Hòa Bình , ngày 9/10/2008 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “"Cẩm nang chăn nuôi gia cầm, tập II”", Cẩm nang chăn nuôi gia súc - gia cầm, "Nxb Nông nghiệp, Hà Nội 13. Hương Lan (2008), “Nuôi gà an toàn sinh học - Hướng phát triển chăn nuôi hàng hóa thành phố Hoà Bình”, "Báo Hòa Bình
Tác giả: Hội Chăn nuôi Việt Nam (2001), “Cẩm nang chăn nuôi gia cầm, tập II”, Cẩm nang chăn nuôi gia súc - gia cầm, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội 13. Hương Lan
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 2008
14. Lê Huy Liễu (2004), Nghiên cứu khả năng sinh trưởng, cho thịt của gà lai F1 (♂Ri x ♀Lương Phượng) và F1( ♂Kabir x♀Ri) nuôi thả vườn tại Thái Nguyên, Luận án tiến sĩ Nông nghiệp, Đại học Thái Nguyên Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu khả năng sinh trưởng, cho thịt của gà lai F1 (♂Ri x ♀Lương Phượng) và F1( ♂Kabir x♀Ri) nuôi thả vườn tại Thái Nguyên
Tác giả: Lê Huy Liễu
Năm: 2004
15. Bùi Đức Lũng (2004), Kĩ thuật mới về nuôi gà thịt lông màu và thả vườn, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kĩ thuật mới về nuôi gà thịt lông màu và thả vườn
Tác giả: Bùi Đức Lũng
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 2004
16. Lê Hồng Mận, Nguyễn Thanh Sơn (2001), Kỹ thuật nuôi gà Ri và gà Ri pha, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kỹ thuật nuôi gà Ri và gà Ri pha
Tác giả: Lê Hồng Mận, Nguyễn Thanh Sơn
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 2001
17. Nguyễn Thị Thúy Mỵ, Trần Thanh Vân (2005), “So sánh khả năng sản xuất thịt của 3 loại gà F1 (trống RhodeRi x mái Lương Phượng), (trống RhodeRi x mái Kabir), (trống RhodeRi x mái Tam Hoàng) nuôi bán chăn thả ở nông hộ tại Thái Nguyên”, Tạp chí Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, 10/2005, tr. 43-46 Sách, tạp chí
Tiêu đề: So sánh khả năng sản xuất thịt của 3 loại gà F1 (trống RhodeRi x mái Lương Phượng), (trống RhodeRi x mái Kabir), (trống RhodeRi x mái Tam Hoàng) nuôi bán chăn thả ở nông hộ tại Thái Nguyên”, "Tạp chí Nông nghiệp và Phát triển nông thôn
Tác giả: Nguyễn Thị Thúy Mỵ, Trần Thanh Vân
Năm: 2005
18. Naipet (2016), An toàn sinh học trong chăn nuôi gia cầm thương mại quy mô nhỏ, http://naipet.com/an-toan-sinh-hoc-trong-chan-nuoi-gia-cam-thuong-mai-quy-mo-nho/, ngày 20/3/2016 Sách, tạp chí
Tiêu đề: An toàn sinh học trong chăn nuôi gia cầm thương mại quy mô nhỏ
Tác giả: Naipet
Năm: 2016
19. Vũ Thúy Nga (2011), Nghiên cứu ứng dụng chế phẩm vi sinh để chế biến phế thải chăn nuôi làm phân bón hữu cơ sinh học tại các nông hộ ở Quỳ Hợp tỉnh Nghệ An, Báo cáo tổng kết dự án, Viện Môi trường Nông nghiệp- Viện Khoa học Nông nghiệp Sách, tạp chí
Tiêu đề: ), Nghiên cứu ứng dụng chế phẩm vi sinh để chế biến phế thải chăn nuôi làm phân bón hữu cơ sinh học tại các nông hộ ở Quỳ Hợp tỉnh Nghệ An
Tác giả: Vũ Thúy Nga
Năm: 2011
22. Sở Khoa học và công nghệ tỉnh Hải Dương (2013), Mô hình nuôi gà Ri lai lương phượng tại thị xã Chí Linh, http://www.haiduongdost.gov.vn/component/content/article?id=7048:mo-hinh-ga-ri-lai-lng-phng-thng-phm-ti-th-xa-chi-linh, ngày 26/8/2013 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mô hình nuôi gà Ri lai lương phượng tại thị xã Chí Linh
Tác giả: Sở Khoa học và công nghệ tỉnh Hải Dương
Năm: 2013
23. Nguyễn Thiện (2009), ”Những bước đi cụ thể về an toàn sinh học trong chăn nuôi bền vững”, Tạp chí Chăn nuôi số 12, tr 13-14 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tạp chí Chăn nuôi số 12
Tác giả: Nguyễn Thiện
Năm: 2009

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1.1: Tổng đàn gia cầm tỉnh Lạng Sơn qua các năm 2005-2015 (con) - Ảnh hưởng của việc áp dụng một số biện pháp vệ sinh thú y theo hướng an toàn sinh học đến khả năng sản xuất thịt của gà lai (♂ri x ♀lương phượng) nuôi tại huyện cao lộc tỉnh lạng sơn
Bảng 1.1 Tổng đàn gia cầm tỉnh Lạng Sơn qua các năm 2005-2015 (con) (Trang 28)
Bảng 2.1. Sơ đồ bố trí thí nghiệm - Ảnh hưởng của việc áp dụng một số biện pháp vệ sinh thú y theo hướng an toàn sinh học đến khả năng sản xuất thịt của gà lai (♂ri x ♀lương phượng) nuôi tại huyện cao lộc tỉnh lạng sơn
Bảng 2.1. Sơ đồ bố trí thí nghiệm (Trang 31)
Bảng 3.1. Tỷ lệ nuôi sống của gà thí nghiệm qua các tuần tuổi (%) - Ảnh hưởng của việc áp dụng một số biện pháp vệ sinh thú y theo hướng an toàn sinh học đến khả năng sản xuất thịt của gà lai (♂ri x ♀lương phượng) nuôi tại huyện cao lộc tỉnh lạng sơn
Bảng 3.1. Tỷ lệ nuôi sống của gà thí nghiệm qua các tuần tuổi (%) (Trang 42)
Bảng 3.2. Sinh trưởng tích lũy của gà thí nghiệm  qua các tuần tuổi (g) (Chung trống mái) - Ảnh hưởng của việc áp dụng một số biện pháp vệ sinh thú y theo hướng an toàn sinh học đến khả năng sản xuất thịt của gà lai (♂ri x ♀lương phượng) nuôi tại huyện cao lộc tỉnh lạng sơn
Bảng 3.2. Sinh trưởng tích lũy của gà thí nghiệm qua các tuần tuổi (g) (Chung trống mái) (Trang 45)
Hình 3.1. Đồ thị sinh trưởng tích luỹ của gà thí nghiệm (g/con) - Ảnh hưởng của việc áp dụng một số biện pháp vệ sinh thú y theo hướng an toàn sinh học đến khả năng sản xuất thịt của gà lai (♂ri x ♀lương phượng) nuôi tại huyện cao lộc tỉnh lạng sơn
Hình 3.1. Đồ thị sinh trưởng tích luỹ của gà thí nghiệm (g/con) (Trang 46)
Hình 3.2. Biểu đồ sinh trưởng tuyệt đối của gà thí nghiệm - Ảnh hưởng của việc áp dụng một số biện pháp vệ sinh thú y theo hướng an toàn sinh học đến khả năng sản xuất thịt của gà lai (♂ri x ♀lương phượng) nuôi tại huyện cao lộc tỉnh lạng sơn
Hình 3.2. Biểu đồ sinh trưởng tuyệt đối của gà thí nghiệm (Trang 50)
Hình 3.3. Biểu đồ sinh trưởng tương đối của gà thí nghiệm - Ảnh hưởng của việc áp dụng một số biện pháp vệ sinh thú y theo hướng an toàn sinh học đến khả năng sản xuất thịt của gà lai (♂ri x ♀lương phượng) nuôi tại huyện cao lộc tỉnh lạng sơn
Hình 3.3. Biểu đồ sinh trưởng tương đối của gà thí nghiệm (Trang 52)
Bảng 3.6. Tiêu tốn thức ăn/kg tăng khối lượng của gà thí nghiệm (kg) - Ảnh hưởng của việc áp dụng một số biện pháp vệ sinh thú y theo hướng an toàn sinh học đến khả năng sản xuất thịt của gà lai (♂ri x ♀lương phượng) nuôi tại huyện cao lộc tỉnh lạng sơn
Bảng 3.6. Tiêu tốn thức ăn/kg tăng khối lượng của gà thí nghiệm (kg) (Trang 56)
Bảng 3.11. Một số chỉ tiêu về mổ khảo sát gà tại thời điểm 12 tuần tuổi - Ảnh hưởng của việc áp dụng một số biện pháp vệ sinh thú y theo hướng an toàn sinh học đến khả năng sản xuất thịt của gà lai (♂ri x ♀lương phượng) nuôi tại huyện cao lộc tỉnh lạng sơn
Bảng 3.11. Một số chỉ tiêu về mổ khảo sát gà tại thời điểm 12 tuần tuổi (Trang 64)
Bảng 3.12a. Mức độ nhiễm  E.coli và Salmonella trong chất độn chuồng - Ảnh hưởng của việc áp dụng một số biện pháp vệ sinh thú y theo hướng an toàn sinh học đến khả năng sản xuất thịt của gà lai (♂ri x ♀lương phượng) nuôi tại huyện cao lộc tỉnh lạng sơn
Bảng 3.12a. Mức độ nhiễm E.coli và Salmonella trong chất độn chuồng (Trang 65)
Bảng 3.12b. Cường độ nhiễm  E.coli và Salmonella trong chất độn chuồng - Ảnh hưởng của việc áp dụng một số biện pháp vệ sinh thú y theo hướng an toàn sinh học đến khả năng sản xuất thịt của gà lai (♂ri x ♀lương phượng) nuôi tại huyện cao lộc tỉnh lạng sơn
Bảng 3.12b. Cường độ nhiễm E.coli và Salmonella trong chất độn chuồng (Trang 67)
Hình 3.4. Tỷ lệ mắc bệnh trên gà thí nghiệm - Ảnh hưởng của việc áp dụng một số biện pháp vệ sinh thú y theo hướng an toàn sinh học đến khả năng sản xuất thịt của gà lai (♂ri x ♀lương phượng) nuôi tại huyện cao lộc tỉnh lạng sơn
Hình 3.4. Tỷ lệ mắc bệnh trên gà thí nghiệm (Trang 69)
Bảng 3.14. Mức độ nhiễm E.coli và Salmonella trong thịt - Ảnh hưởng của việc áp dụng một số biện pháp vệ sinh thú y theo hướng an toàn sinh học đến khả năng sản xuất thịt của gà lai (♂ri x ♀lương phượng) nuôi tại huyện cao lộc tỉnh lạng sơn
Bảng 3.14. Mức độ nhiễm E.coli và Salmonella trong thịt (Trang 71)
Bảng 3.15. Sơ bộ hiệu quả kinh tế nuôi gà thịt (đồng) - Ảnh hưởng của việc áp dụng một số biện pháp vệ sinh thú y theo hướng an toàn sinh học đến khả năng sản xuất thịt của gà lai (♂ri x ♀lương phượng) nuôi tại huyện cao lộc tỉnh lạng sơn
Bảng 3.15. Sơ bộ hiệu quả kinh tế nuôi gà thịt (đồng) (Trang 73)
Bảng 3.2b. Sinh trưởng tích lũy của gà thí nghiệm lô II qua các tuần tuổi (g) - Ảnh hưởng của việc áp dụng một số biện pháp vệ sinh thú y theo hướng an toàn sinh học đến khả năng sản xuất thịt của gà lai (♂ri x ♀lương phượng) nuôi tại huyện cao lộc tỉnh lạng sơn
Bảng 3.2b. Sinh trưởng tích lũy của gà thí nghiệm lô II qua các tuần tuổi (g) (Trang 83)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w