1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Ảnh hưởng của việc chuyển đổi thức ăn đến khả năng sản xuất và chất lượng thịt của gà f1(♂ mía x ♀ RI) nuôi tại huyện ba vì, thành phố hà nội

87 292 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 87
Dung lượng 3,35 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Để giúp người chăn nuôi có cơ sở đặt niềm tin vào dạng sản phẩm gà thịt nuôi chuyển đổi về phương thức phối trộn và có căn cứ hướng dẫn chỉ đạo người nuôi gà thịt áp dụng kỹ thuật chuyển

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM

NGUYỄN THỊ KIM LOAN

ẢNH HƯỞNG CỦA VIỆC CHUYỂN ĐỔI THỨC ĂN ĐẾN KHẢ NĂNG SẢN XUẤT VÀ

NUÔI TẠI HUYỆN BA VÌ - HÀ NỘI

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NÔNG NGHIỆP

THÁI NGUYÊN - 2016

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM

NGUYỄN THỊ KIM LOAN

ẢNH HƯỞNG CỦA VIỆC CHUYỂN ĐỔI THỨC ĂN ĐẾN KHẢ NĂNG SẢN XUẤT VÀ

NUÔI TẠI HUYỆN BA VÌ - HÀ NỘI

Chuyên ngành: Chăn nuôi

Mã số: 60.62.01.05

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NÔNG NGHIỆP

Người hướng dẫn khoa học: TS TRẦN TRANG NHUNG

THÁI NGUYÊN - 2016

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan số liệu và kết quả nghiên cứu trong đề tài là trung thực và chưa từng được sử dụng, công bố trong bất kì nghiên cứu nào

Tôi xin cam đoan rằng mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này

đã được cảm ơn và thông tin trích dẫn trong đề tài đều được ghi rõ nguồn gốc

Thái Nguyên, tháng 10 năm 2016

Tác giả luận văn

Nguyễn Thị Kim Loan

Trang 4

Tôi xin chân thành cảm ơn các ý kiến đóng góp và hướng dẫn của các Thầy, Cô giáo trong Khoa Chăn nuôi thú y, phòng Đào tạo - Đại học Nông Lâm - Đại học Thái Nguyên trong suốt thời gian học tập

Tôi xin chân thành cảm ơn Hội chăn nuôi và tiêu thụ Gà đồi Ba Vì, Hội Nông dân huyện Ba Vì đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi trong thời gian tôi thực hiện nghiên cứu đề tài

Tôi xin chân thành cám ơn các bạn bè đồng nghiệp đã giúp tôi trong suốt quá trình thực hiện luận văn

Mặc dù đã có nhiều cố gắng, nhưng không thể tránh khỏi những hạn chế và thiếu sót nhất định khi thực hiện Luận văn Rất mong nhận được sự đóng góp ý kiến của các Thầy, Cô giáo

Tôi xin chân thành cám ơn./

Thái Nguyên, tháng 10 năm 2016

Tác giả luận văn

Nguyễn Thị Kim Loan

Trang 5

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN i

LỜI CẢM ƠN ii

MỤC LỤC iii

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT v

DANH MỤC CÁC BẢNG vi

DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ vii

MỞ ĐẦU 1

1 Tính cấp thiết của đề tài 1

2 Mục tiêu của đề tài 2

3 Ý nghĩa khoa học và thực tiến 2

Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3

1.1 Cơ sở khoa học của vấn đề nghiên cứu 3

1.1.1 Cơ sở nghiên cứu khả năng sản xuất của gà thịt 3

1.1.2 Cơ sở khoa học về khả năng cho thịt của gia cầm 8

1.1.3 An toàn sản phẩm chăn nuôi 11

1.2 Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước 14

1.2.1 Tình hình nghiên cứu trên thế giới 14

1.2.2 Tình hình nghiên cứu trong nước 16

1.2.3 Giới thiệu về đối tượng nghiên cứu 19

1.3 Giải pháp đổi mới chăn nuôi 21

Chương 2 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 22

2.1 Đối tượng, địa điểm và thời gian nghiên cứu 22

2.1.1 Đối tượng nghiên cứu 22

2.1.2 Địa điểm và thời gian nghiên cứu 22

Trang 6

2.2 Nội dung và phương pháp nghiên cứu 22

2.2.1 Nội dung nghiên cứu 22

2.2.2 Phương pháp nghiên cứu 22

2.3 Phương pháp theo dõi các chỉ tiêu 25

2.3.1 Các chỉ tiêu theo dõi 25

2.3.2 Phương pháp xử lý số liệu 29

Chương 3 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 30

3.1 Tỷ lệ nuôi sống 30

3.2 Kết quả các chỉ tiêu sinh trưởng của gà thí nghiệm 32

3.2.1 Khối lượng qua các tuần theo dõi 32

3.2.2 Sinh trưởng tuyệt đối 35

3.2.3 Sinh trưởng tương đối (%) 38

3.3 Kết quả các chỉ tiêu theo dõi về thức ăn của gà thí nghiệm 39

3.3.1 Tiêu tốn thức ăn cho 1 kg tăng khối lượng 39

3.3.2 Tiêu tốn năng lượng trao đổi Kcal (ME), Protein thô (CP)/1 kg tăng KL 43

3.4 Chỉ số sản xuất (PI) của gà thí nghiệm từ 17 - 20 tuần tuổi 47

3.5 Kết quả các chỉ tiêu khảo sát thân thịt của gà thí nghiệm 48

3.6 Kết quả phân tích một số chỉ tiêu đánh giá chất lượng thịt gà 50

3.6.1 Giá trị pH của thịt gà theo thời gian sau giết mổ 50

3.6.2 Tỷ lệ mất nước của thịt gà bảo quản sau giết mổ 51

3.7 Kết quả đánh giá độ an toàn sản phẩm thịt gà thí nghiệm 52

3.8 Sơ bộ hạch toán kinh tế 55

KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 57

TÀI LIỆU THAM KHẢO 59

MỘT SỐ HÌNH ẢNH MINH HỌA TRONG THÍ NGHIỆM 76

Trang 8

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 1.1 Sản lượng gà thịt toàn cầu 15

Bảng 1.2 Giá gà nhập khẩu bình quân 6 tháng đầu năm 2015 18

Bảng 2.1 Sơ đồ bố trí thí nghiệm 23

Bảng 2.2 Giá trị dinh dưỡng của thức ăn sử dụng trong thí nghiệm 24

Bảng 2.3 Công thức trộn thức ăn cho gà thí nghiệm (%) 24

Bảng 2.4 Lịch dùng vắc-xin cho gà TN 24

Bảng 3.1 Tỷ lệ nuôi sống cộng dồn của gà trống và mái nuôi thí nghiệm từ 0 - 20 tuần tuổi (%) 31

Bảng 3.2 Sinh trưởng tích lũy của gà trống, mái nuôi thí nghiệm từ 0 - 20 tuần tuổi 33

Bảng 3.3 Sinh trưởng tuyệt đối của gà trống, mái thí nghiệm qua các giai đoạn 36

Bảng 3.4 Sinh trưởng tương đối của gà trống, mái nuôi TN qua các giai đoạn tuổi 38

Bảng 3.5 tiêu tốn thức ăn trong tuần, cộng dồn cho 1kg tăng khối lượng của gà TN (Kg TTTĂ/ Kg tăng khối lượng) 41

Bảng 3.6 Tiêu tốn năng lượng trao đổi (Kcal ME)/1kg tăng khối lượng của gà thí nghiệm 44

Bảng 3.7 Tiêu tốn Protein thô (CP)/1kg tăng khối lượng của gà TN (g) 44

Bảng 3.8 Chỉ số sản xuất (PI) của gà thí nghiệm từ 17 - 20 tuần tuổi 47

Bảng 3.9 Kết quả khảo sát các chỉ tiêu thân thịt của gà thí nghiệm tại thời điểm 20 tuần tuổi (n=3 con/ tính biệt/ lô) 48

Bảng 3.10 Giá trị pH của thịt gà bảo quản sau giết mổ 50

Bảng 3.11 Tỷ lệ mất nước của thịt gà bảo quản sau giết mổ 51

Bảng 3.12 Kết quả phân tích đánh giá sự tồn dư của một số chất tạo nạc và kháng sinh trong thịt gà TN 53

Bảng 3.13 Sơ bộ hạch toán kinh tế cho 1 kg gà thịt xuất chuồng (vnđ) 55

Trang 9

DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ

Hình 1.1: Đồ thị về sự gia tăng sản lượng thịt gia cầm ở Việt Nam 16

Hình 1.2: Đồ thị về sự phát triển tiêu thụ thịt gia cầm ở Việt Nam 17

Hình 1.3: Đồ thị gia tăng thịt gia cầm nhập khẩu vào Việt Nam 17

Hình 3.1: Biểu đồ sinh trưởng tích lũy của gà thí nghiệm 34

Hình 3.2: Biểu đồ sinh trưởng tuyệt đối của gà thí nghiệm 37 Hình 3.3: Đồ thị sinh trưởng tương đối của gà TN giai đoạn 1-20 tuần tuổi 39

Trang 10

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Hiện nay ở nước ta đang phát triển mạnh chăn nuôi các giống gà địa phương thuần chủng, nhưng cũng đồng thời cho lai giữa các giống gà nội với nhau như gà Mía x Ri, Ri x Đông Tảo, Ri x gà Chọi nuôi bằng hai loại thức

ăn là hỗn hợp hoàn chỉnh và thức ăn tự phối trộn Tùy điều kiện từng nơi, từng hộ gia đình mà trong nhiều gia trại người ta đã kết hợp nuôi giữa hai loại thức ăn trên để đạt được hiệu quả cao hơn, đáp ứng được nhu cầu của người tiêu dùng, tận dụng nguyên liệu thức ăn sẵn có của từng địa phương

Việc sử dụng thức ăn công nghiệp hiện nay đáp ứng tốt nhu cầu cho sự sinh trưởng của gà, đồng thời cũng có giá cả mà người chăn nuôi chấp nhận được cho dù đó là việc dùng thức ăn hỗn hợp hoàn chỉnh hay dùng thức ăn đậm đặc phối trộn với nguyên liệu thức ăn sản xuất tại địa phương

Tuy nhiên, những năm gần đây việc sử dụng bừa bãi chất kích thích sinh trưởng và kháng sinh trong chăn nuôi gà tới mức không thể kiểm soát đã gây ra tình trạng mất an toàn thực phẩm rất nóng bỏng trên thị trường thực phẩm chung, thị trường thịt gà nói riêng hiện nay Để khắc phục điều này, một số trang trại đã dùng biện pháp chuyển đổi thức ăn trong chu kỳ gà thịt theo hướng: thời kỳ khởi động và sinh trưởng thì dùng thức ăn tổng hợp nhằm khai thác ưu thế chất lượng và cân bằng dinh dưỡng tốt của thức ăn công nghiệp Sang thời kỳ vỗ béo chuẩn bị xuất chuồng thì chuyển sang dùng thức

ăn tự phối trộn từ nguyên liệu tự nhiên sẵn có (tuy khẩu phần không được cân đối dinh dưỡng chặt chẽ như thức ăn công nghiệp) để chủ động và chắc chắn không dùng các chất cấm để có thịt sạch Hơn nữa đây cũng là thời kỳ mà cơ thể gà tiếp tục thải trừ các chất tồn dư có hại ra ngoài mà theo các con đường bài tiết mà trước đó người ta không thể kiểm soát được

Trang 11

Xu hướng này có thể làm ngừng hoặc giảm thấp mức tăng trọng của gà (do thức ăn tự phối trộn để chuyển đổi có sự cân đối dinh dưỡng không tốt như thức ăn công nghiệp) nhưng nó được bù đắp bằng giá xuất bán gà thịt được người tiêu dùng chấp nhận ở mức cao hơn, cũng như sản phẩm dễ tiêu thụ hơn Xu hướng nuôi chuyển đổi thức ăn như trên có tính tự phát và chưa được chỉ ra rõ ràng về luận cứ khoa học

Để giúp người chăn nuôi có cơ sở đặt niềm tin vào dạng sản phẩm gà thịt nuôi chuyển đổi về phương thức phối trộn và có căn cứ hướng dẫn chỉ đạo người nuôi gà thịt áp dụng kỹ thuật chuyển đổi thức ăn theo xu hướng

trên, chúng tôi tiến hành thực hiện đề tài: "Ảnh hưởng của việc chuyển đổi

thức ăn đến khả năng sản xuất và chất lượng thịt của gà F1(♂ MÍA x ♀ RI) nuôi tại huyện Ba Vì, thành phố Hà Nội"

2 Mục tiêu của đề tài

1/ Chỉ ra được ảnh hưởng của kỹ thuật chuyển đổi phương thức dùng thức ăn trong chu kỳ tới năng suất, chất lượng thịt và hiệu quả kinh tế khi nuôi gà thịt thả vườn áp dụng kỹ thuật chuyển đổi thức ăn

2/ Bước đầu xác định ảnh hưởng của thời gian nuôi chuyển đổi thức ăn tới chất lượng, tính an toàn sản phẩm thịt và hiệu quả kinh tế khi áp dụng kỹ thuật này

3 Ý nghĩa khoa học và thực tiến

3.1 Về khoa học

Cung cấp các số liệu khoa học về sinh trưởng và chất lượng thịt gà, nhất là các chỉ tiêu an toàn (tồn dư chất khích thích sinh trưởng, kháng sinh tồn dư trong thịt) tới sức khỏe người tiêu dùng khi nuôi gà vườn theo phương thức chuyển đổi thức ăn đã chỉ ra ở trên

Trang 12

Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Cơ sở khoa học của vấn đề nghiên cứu

1.1.1 Cơ sở nghiên cứu khả năng sản xuất của gà thịt

* Khái niệm sinh trưởng

Sinh trưởng là quá trình tích luỹ chất hữu cơ do quá trình đồng hoá và dị hoá của cơ thể, là sự tăng về các chiều cao, dài, bề ngang, khối lượng của các bộ phận và toàn bộ cơ thể của con vật, đồng thời sinh trưởng chính là sự tích luỹ dần các chất dinh dưỡng chủ yếu là Protein, nên tốc độ tích luỹ và sự tổng hợp các chất dinh dưỡng, Protein cũng chính là tốc độ hoạt động của các gen điều khiển sinh trưởng của cơ thể (Trần Đình Miên, Nguyễn Kim Đường, (1992) [19]

* Ảnh hưởng của đặc điểm di truyền, dòng và giống đến sinh trưởng

Di truyền là một trong những yếu tố quan trọng nhất, ảnh hưởng đến tốc độ sinh trưởng của cơ thể gia cầm Trần Đình Miên và cs (1975) [21] dẫn tài liệu của Swright chia các gen ảnh hưởng đến sinh trưởng của động vật

Cơ sở di truyền của các tính trạng số lượng cũng do các gen nằm trên nhiễm sắc thể quy định Các tính trạng sản xuất là các tính trạng số lượng, thường là các tính trạng đo lường được như khối lượng cơ thể, kích thước các chiều đo, sản lượng trứng, khối lượng trứng… Các tính trạng số lượng thường

bị chi phối bởi nhiều gen, do các gen nằm trên nhiễm sắc thể quy định

Tính trạng số lượng còn gọi là tính trạng đo lường (Metric character) vì sự nghiên cứu chúng phụ thuộc vào sự đo lường như mức độ tăng trọng của gà, kích thước các chiều đo, khối lượng trứng Tuy nhiên, có những tính trạng mà giá trị của chúng có được bằng cách đếm như: Số trứng đẻ ra/ lứa/ năm, số lợn con đẻ

ra /lứa vẫn được coi là tính trạng số lượng Đó là tính trạng số lượng đặc biệt

Quan hệ giữa kiểu hình P (Phenotype), kiểu gen G (gennotype) và môi trường E (environment) được biểu thị bằng công thức như sau:

P = G + E Trong đó: P: là giá trị kiểu hình

G: là giá trị kiểu gen E: là sai lệch môi trường

Trang 13

Môi trường có ảnh hưởng rất lớn đến tính trạng số lượng, trong khi đó đối với tính trạng chất lượng là những tính trạng đơn gen thì rất ít khi bị ảnh hưởng bởi môi trường Tác động của các nhân tố ngoại cảnh như: nhiệt độ, ánh sáng, thức ăn, nước uống, không khí… lên tính trạng số lượng rất lớn có thể làm kìm hãm hoặc phát huy và làm thay đổi các giá trị của tính trạng Các tính trạng số lượng thường bị chi phối bởi nhiều gen, các gen này hoạt động theo 3 phương thức:

Cộng gộp (A): Hiệu ứng tích lũy của từng gen;

Trội (D): Hiệu ứng tương tác giữa các gen cùng một lô cút;

Át gen (I): Hiệu ứng do tương tác của các gen không cùng một lô cút Hiệu ứng cộng gộp A là các giá trị giống thông thường (general breeding value) có ý nghĩa trong chọn lọc nhân thuần Hiệu ứng trội D và át gen I là những hiệu ứng không cộng tính và là giá trị giống đặc biệt (special breeding value) Có ý nghĩa đặc biệt trong các tổ hợp lai Ở các tính trạng số lượng giá trị kiểu hình cũng do giá trị kiểu gen (kiểu di truyền) và tác động môi trường quy định, nhưng giá trị kiểu gen của tính trạng số lượng do nhiều gen có hiệu ứng nhỏ (minor gen) cấu tạo thành

G = A + D + I Trong đó: G: là giá trị kiểu gen (geneotypic value)

A: là giá trị cộng gộp (additive value) D: là sai lệch do tác động trội lặn (dominancedeviation) I: là sai lệch do tương tác giữa các gen (interaction deviation

- Sai lệch tương tác giữa các gen: Là sai lệch do tương tác của các gen không cùng một locus, sai lệch này thường thấy trong di truyền học số lượng hơn là di truyền học Mendel Ngoài ra, các tính trạng số lượng còn chịu ảnh hưởng nhiều của môi trường E (environmental) Theo Đặng Hữu Lanh và cs, (1999)[14]; Nguyễn Văn Thiện, (1996)[32] thì căn cứ vào mức độ, tính chất ảnh hưởng lên cơ thể gia súc, gia cầm, môi trường E được chia làm hai loại là sai lệch môi trường chung Eg và sai lệch môi trường riêng Es.

+ Sai lệch môi trường chung Eg (general environmental deviation) là sai lệch do các yếu tố môi trường có tính thường xuyên và không cục bộ tác động lên toàn bộ các cá thể trong một nhóm vật nuôi

Trang 14

+ Sai lệch môi trường riêng Es (special environtmental deviation) là sai lệch do các nhân tố môi trường có tính chất không thường xuyên và cục bộ tác động riêng rẽ lên từng cá thể trong cùng một nhóm vật nuôi Tóm lại khi một kiểu hình của một cá thể được cấu tạo bởi từ hai locus trở lên thì giá trị kiểu hình của nó được biểu thị như sau:

P = A + D + I + Eg + EsCác tính trạng sản xuất là các tính trạng số lượng như khối lượng cơ thể, kích thước các chiều đo, năng suất trứng, khối lượng trứng Cơ sở di truyền học của tính trạng số lượng do các gen nằm trên nhiễm sắc thể quy định Các tính trạng số lượng là những tính trạng mà ở đó sự sai khác nhau giữa các cá thể là sự sai khác nhau về mức độ hơn là sự sai khác về chủng loại

và sự khác nhau này chính là nguồn vật liệu cung cấp cho chọn lọc tự nhiên cũng như chọn lọc nhân tạo Theo Nguyễn Văn Thiện, (1995)[31]

Theo Dikenson, (1952)[43] thì vấn đề tương tác giữa kiểu di truyền và môi trường rất quan trọng đối với ngành chăn nuôi gia cầm ta thấy rõ muốn nâng cao năng suất vật nuôi cần phải tác động về mặt di truyền (G):

- Tác động vào hiệu ứng cộng gộp (A) bằng cách chọn lọc

- Tác động vào các hiệu ứng trội (D) và át gen (I) bằng cách phối giống tạp giao

Trong thực tế sản xuất cũng như nghiên cứu, để xác định mức độ ảnh hưởng của di truyền đến sinh trưởng của vật nuôi, người ta sử dụng đại lượng

hệ số di truyền (h2) Đặng Hữu Lanh và cs (1999) [14] khái quát: Hệ số di truyền là tỷ lệ của phần do gen quy định trong việc tạo nên giá trị kiểu hình

Sự tồn tại của các gen hoặc nhóm gen trong các dòng và giống gia cầm rất khác nhau Các công trình nghiên cứu của các tác giả trong nước đã chứng minh rất rõ vấn đề này Nguyễn Huy Đạt và cs (1996) [7] nghiên cứu so sánh chỉ tiêu năng suất của gà thương phẩm thịt 4 giống gà AA, Lohmann, ISA Vedete và Avian nuôi trong cùng một điều kiện cho thấy, chỉ số sản xuất PN của gà broiler tại 49 ngày tuổi ở 4 giống gà là khác nhau: gà broiler AA: 187,97, gà broiler Lohmann: 215,33, gà broiler ISA Vedete: 211,83, gà broiler Avian: 204,95 Với gà lông màu qua các công trình nghiên cứu của Trần Công

Trang 15

Xuân và cs (1997) [39] nghiên cứu hai dòng gà Tam Hoàng 882 và Jang Cun vàng đều cho kết luận rất rõ là các giống khác nhau và thậm chí trong cùng một giống thì các dòng khác nhau có tốc độ sinh trưởng khác nhau

Sinh trưởng của gia cầm phụ thuộc vào loài, giống, tính biệt và đặc biệt

cá thể Jaap và Moris (1973) [45] đã phát hiện ra những sai khác trong cùng một giống về cường độ sinh trưởng Theo Trần Thanh Vân và cs (2015) [37] sinh trưởng tuyệt đối nhanh nhất là ngỗng, sau đó đến gà tây và vịt Sinh trưởng của gà và vịt sau tháng thứ ba chậm đi nhiều, còn ngỗng và gà Tây tiếp tục phát triển tới 4-5 tháng Theo tài liệu tổng hợp của J.R.Chambers (1990) [42] có rất nhiều gen ảnh hưởng tới sự sinh trưởng và phát triển của cơ thể gà,

có gen ảnh hưởng tới sự phát triển chung, có gen ảnh hưởng tới nhóm tính trạng, có gen ảnh hưởng tới một vài tính trạng riêng lẻ

Nguyễn Thị Thúy Mỵ (1997) [24] khi nghiên cứu 3 giống gà AA, Avian và BE88 nuôi tại Thái Nguyên cho thấy khối lượng cơ thể của 3 giống khác nhau ở 49 ngày tuổi lần lượt là: 2501,09 g; 2423,28 g và 2305,14 g

Theo Nguyễn Mạnh Hùng và cs (1994) [11] thì sự sai khác về khối lượng giữa các giống gia cầm rất lớn, giống gà kiêm dụng nặng hơn gà hướng trứng từ 13-38%

* Ảnh hưởng của tính biệt và tốc độ mọc lông:

Tính biệt cũng có ảnh hưởng rõ rệt tới khối lượng cơ thể: gà trống nặng cân hơn gà mái từ 24- 32% Những sai khác này cũng được biểu hiện

về cường độ sinh trưởng, sự quy định không phải do hormon sinh học mà các gen liên kết giới tính Sự sai khác về mặt sinh trưởng còn thể hiện rõ hơn đối với các dòng phát triển nhanh so với các dòng phát triển chậm (J.R.Chambers (1990) [42])

M.0.North (1990) kết luận: lúc mới sinh gà trống nặng hơn gà mái 1%, tuổi càng tăng sự khác nhau càng lớn; ở 2 tuần tuổi là 5%, 3 tuần tuổi > 11%,

5 tuần tuổi > 17%, 6 tuần tuổi > 20%, 7 tuần tuổi >23%, 8 tuần tuổi >27%

Trang 16

Theo tài liệu tổng hợp của K.F.Kushner (1969)[13] thì tốc độ mọc lông

có quan hệ chặt chẽ với sinh trưởng, thường gà lớn nhanh thì mọc lông nhanh

và đều hơn gà mọc lông chậm

Yếu tố ngoại cảnh: Nhiệt độ, ẩm độ, thông thoáng chuồng nuôi, chế

độ nuôi dưỡng… đều ảnh hưởng tới khả năng sinh trưởng và tỷ lệ nuôi sống của gia cầm Nhiệt độ cao quá hoặc thấp quá ngưỡng giới hạn của gia cầm thì chúng sẽ bị rối loạn sinh lý bình thường, bệnh tật phát sinh và có thể chết Thông thoáng chuồng nuôi không tốt làm tăng hàm lượng khí độc sẽ bất lợi cho sức sống và chúng có thể chết Khi điều kiện sống thay đổi (thức

ăn, khí hậu, quy trình chăm sóc…) gà lông màu có khả năng thích nghi tốt với môi trường sống Phan Cự Nhân và Trần Đình Miên, (1998)[27] Sự giảm sức sống ở giai đoạn hậu phôi có thể do tác động của các gen nửa gây chết, nhưng chủ yếu do tác động của môi trường, Brandsh và cs, (1978)[41] Còn theo tác giả Trần Đình Miên và cs, (1992)[19] thì các giống vật nuôi nhiệt đới có khả năng chống bệnh truyền nhiễm, ký sinh trùng cao hơn so với các giống vật nuôi ở vùng ôn đới Theo Trần Long và cs, (1996)[15], tỷ lệ nuôi sống của gà

Ri giai đoạn gà con (0 - 6 tuần tuổi) đạt 93,3 % Nguyễn Đăng Vang và cs, (1999)[38] cho biết tỷ lệ nuôi sống của gà Ri giai đoạn (0 - 9 tuần tuổi); (10 -

18 tuần tuổi) và (19 - 23 tuần tuổi) đạt lần lượt là 92,11 %; 96 - 97,22 % và 97,25 % Theo Trần Đình Miên và cs, (1992)[19], Lê Thị Nga và cs, (2000)[25] ở giai đoạn 1 - 16 tuần tuổi; tỷ lệ nuôi sống của gà Ri là 96,5 - 100

%; của gà Ác là 88,28 %; của gà Mía là 92,33 - 93,9 %

* Ảnh hưởng của thời tiết, mùa vụ

Nhiệt độ, ẩm độ, thông thoáng chuồng nuôi đều có ảnh hưởng đến tỷ lệ nuôi sống của gia cầm Khi nhiệt độ xuống quá thấp, cơ thể gia cầm không còn điều tiết được, thân nhiệt thay đổi làm rối loạn các hoạt đông sinh lý bình thường của cơ thể, bệnh tật phát sinh làm gia cầm yếu ớt và có thể chết Nhiệt

độ thấp cực kì nguy hiểm đối với gia cầm non Ngược lại khi nhiệt độ cao sẽ làm cho gia cầm bị chết vì choáng nóng

Trang 17

* Ảnh hưởng của kỹ thuật chăm sóc, nuôi dưỡng

Chế độ dinh dưỡng ảnh hưởng trực tiếp tời sức khỏe của gia cầm Nếu khẩu phần ăn không đủ và cân đối dinh dưỡng sẽ làm gia cầm gầy yếu, sức kháng bệnh tật kém, tỷ lệ nuôi sống thấp Khi trong khẩu phần thiếu các vitamin và các nguyên tố vi lượng sẽ làm cho quá trình chuyển hóa của cơ thể không bình thường, các chỉ tiêu sinh lý, sinh hóa thay đổi theo chiều hướng không tốt cho sức khỏe, từ đó ảnh hưởng đến tỷ lệ sống của gia cầm

* Ảnh hưởng của dinh dưỡng

Trong từ điển, dinh dưỡng được khái niệm như là những bước chuyển tiếp nhờ đó mà cơ thể sống đồng hóa các chất dinh dưỡng trong thức ăn và sử dụng chúng cho duy trì, cho sinh trưởng và tạo sản phẩm

Chất dinh dưỡng đóng vai trò quan trọng trong chăn nuôi nó ảnh hưởng trực tiếp đến năng suất vật nuôi và chi phí cho sản xuất, vì vậy ảnh hưởng đến giá thành sản phẩm Chất dinh dưỡng có trong thức ăn là thành phần chính để trực tiếp tạo nên sản phẩm

Dinh dưỡng protein trong nuôi dưỡng gia cầm là một chỉ số dinh dưỡng quan trọng có ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe sức sản xuất và chất lượng sản phẩm Người ta cho rằng 20 -25 % sức sản xuất của gia cầm ảnh hưởng trực tiếp bởi dinh dưỡng protein

1.1.2 Cơ sở khoa học về khả năng cho thịt của gia cầm

1.1.2.1 Các chỉ tiêu đánh giá sức sản xuất của thịt gia cầm

Sức sản xuất là một trong những chỉ tiêu kinh tế kĩ thuật hết sức quan trọng của gia cầm Sức sản xuất thịt liên quan đến nhiều yếu tố cấu thành như khối lượng sống, mức độ phát triển thịt ngực và thịt đùi, tốc độ sinh trưởng, chất lượng thân thịt (tỷ lệ các phần ăn được và không ăn được, thành phần hóa học và giá trị sinh học của thịt, cấu trúc và kích thước sợi cơ, độ mềm, độ ướt và độ ngon của thịt ) ngoài ra nó còn liên quan đến các chỉ tiêu kinh tế

và kĩ thuật như: Tỷ lệ nuôi sống và tiêu tốn thức ăn cho 1kg khối lượng Sức sản xuất thịt được đánh giá bằng khối lượng sống và các chỉ tiêu sau khi mổ khảo sát Trong ngành chăn nuôi gia cầm hướng thịt để đánh giá sức sản xuất thịt người ta dựa vào các chỉ tiêu sau:

Trang 18

Đối với gia súc còn sống: Khi đánh giá sức sản xuất thịt cần đặc biệt chú ý đến sức khỏe của chúng Gia cầm phải có độ béo tốt, điều đó được thể hiện qua khối lượng cơ thể, sự phát triển của cơ ngực, cơ đùi Để xác định sự phát triển của của cơ ngực, đùi người ta đo rộng dài lườn và dài đùi

Còn sau khi giết thịt thì giá trị thịt xẻ được đánh giá theo số lượng và chất lượng bằng các chỉ tiêu: Khối lượng sau cắt tiết vặt lông; khối lượng thân thịt; khối lượng thịt ngực, thịt đùi; khối lượng mỡ nội tạng; khối lượng nội tang ăn được; hình dạng màu sắc da, thớ thịt; độ mềm, độ ướt, độ ngon của thịt; thành phần hóa học của thịt

Các chỉ số cần xác định để đánh giá thân thịt:

- Khối lượng sống: là khối lượng để đói sau 6 - 12 giờ, có cho uống nước

- Khối lượng sau cắt tiết vặt lông: là khối lượng bỏ lông, tiết

- Khối lượng thân thịt: là khối lượng sau cắt tiết vặt lông, bỏ chân ở đoạn khuỷu

Bỏ đầu ở xương chẩm và xương atlat, bỏ ruột, cơ quan sinh dục, khí quản, diều, phổi Tim, gan, lá lách và mề (sau khi đã bỏ thức ăn cùng lớp màng cứng) để lại

- Khối lượng thịt đùi: Thịt của đùi trái bỏ da, xương và nhân đôi lên

- Khối lượng thịt ngực: Thịt ngực trái (của cơ ngực lớn và cơ ngực nhỏ) không có da Số lượng thu được nhân đôi lên Thường thịt ngực chiếm 30- 40% toàn bộ thịt thân

Để xác định tỷ lệ của các thành phần trên, có thể lấy khối lượng thu được của từng thành phần thu được chia cho khối lượng sống hoặc khối lượng thịt thân nhân với 100

1.1.2.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng thịt gia cầm

Ảnh hưởng của giống: Tỷ lệ nạc của gia cầm chủ yếu do chất lượng

giống quyết định bởi tỷ lệ nạc là một yếu tố có tính di truyền cao Như giống gà H’mông khả năng sản xuất thịt ở con gà 10 tuần tuổi là: thịt xẻ khoảng 75-78%, thịt đùi 34-35%, xấp xỉ các giống gà nội địa khác Chất lượng thịt: ngon, thơm, rất ít mỡ, da dày giòn, thịt không nhũn như gà công nghiệp, săn nhưng không

Trang 19

dai như thịt vịt hoặc ngan Đặc biệt lượng axit glutamic cao tới 3,87%, vượt trội hơn gà Ri và gà Ác nên thịt gà có vị ngọt đậm, nhưng lượng sắt lại thấp

Ảnh hưởng của chế độ dinh dưỡng: Chế độ dinh dưỡng ảnh hưởng

tới sự phát triển từng mô khác nhau gây nên sự biến động trong quá trình phát triển và có sự khác nhau giữa mô này và mô khác Chế độ dinh dưỡng không những ảnh hưởng tới sinh trưởng mà còn làm biến động di truyền về sinh trưởng

Lê Hồng Mận và cs (1993) [18] cho biết: Nhu cầu protein thích hợp cho gà broiler cho năng suất cao đã được xác định, các tác giả nhấn mạnh tỷ

lệ giữa năng lượng và protein trong thức ăn là rất quan trọng Để phát huy khả năng sinh trưởng tối đa cần phải cung cấp đầy đủ chất dinh dưỡng với sự cân bằng nghiêm ngặt giữa protein, axit amin với năng lượng

Chi phí thức ăn chiếm tới 70 % giá thành thành trong chăn nuôi gà, nên bất cứ yếu tố nào nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng thức ăn đều đưa lại hiệu quả kinh tế cho ngành chăn nuôi gà Do vậy, để có năng suất cao cho ngành chăn nuôi gia cầm, đặc biệt để tận dụng nguồn nguyên liệu sẵn có của địa phương chúng tôi là lập ra khẩu phần dinh dưỡng hoàn hảo, cân đối, trên cơ

sở tính toán nhu cầu của gia cầm trong từng giai đoạn nuôi

Nước uống cho gia cầm thịt: Có vai trò hết sức quan trọng đối với khả

năng tồn tại của sinh vật nói chung và gia cầm nói riêng; nếu để gia cầm thiếu nước, các phản ứng sinh hóa trong cơ thể sẽ bị ngưng trệ, ảnh hưởng lớn tới sức khỏe và năng suất chăn nuôi, là tiền đề cho nhiều bệnh phát sinh Hơn nữa, nước còn đóng vai trò quan trọng trọng việc sản xuất thịt nạc vì cấu trúc của thịt nạc bao gồm nước là chủ yếu (nước chiếm 70%, các chất đạm chiếm 20% và mỡ chiếm 10% - trong khi đó cấu trúc của thịt mỡ thì mỡ chỉ chiếm 1

tỷ lệ nhỏ (mỡ chiếm 88%, đạm chiếm 2% và nước chiếm 10%);

Thời điểm xuất bán, giết mổ: Tuổi giết mổ thịt cũng có ảnh hưởng tới tỷ

lệ nạc, giai đoạn từ 60 - 70 ngày tuổi trở đi đối với các nhập nội, 120 ngày trở đi đối với các giống địa phương thì quá trình tăng trọng và sản xuất thịt chủ yếu theo hướng tích mỡ, thời gian nuôi càng kéo dài thì tỷ lệ nạc càng giảm, do đó nên xuất bán, giết mổ trước các mốc trọng lượng kể trên để có tỷ lệ nạc đạt cao

Trang 20

1.1.3 An toàn sản phẩm chăn nuôi

An toàn sản phẩm chăn nuôi là một khái niệm được đề cập ngày càng rộng rãi và cấp thiết Từ nhận thức về ý nghĩa sản phẩm chăn nuôi (thịt, trứng, sữa) không phải chỉ cung cấp các chất dinh dưỡng cho con người mà vấn đề còn là sản phẩm chăn nuôi ấy hình thành và được cung cấp bằng cách nào Chỉ có sản phẩm chăn nuôi được cung cấp từ vật nuôi khỏe mạnh, được sống trong môi trường trong sạch, được ăn, uống sạch thì chúng mới có thể cung cấp cho con người nguồn thức ăn động vật thực sự có ý nghĩa tốt với sức khỏe thể chất, trí tuệ của con người mà thôi

Vấn đề an toàn sản phẩm chăn nuôi ít được quan tâm đến trong một nền kinh thế sản xuất nhỏ, tự cung tự cấp, nhu cầu sản phẩm chăn nuôi trong

đã gây ra rất nhiều hệ lụy tới vấn đề chất lượng sản phẩm chăn nuôi trong đó

có vấn đề vệ sinh an toàn thực phẩm

- Vấn đề sử dụng kháng sinh trong chăn nuôi

Để phòng chống dịch bệnh trong chăn nuôi, đã từ lâu kháng sinh là một chế phẩm được sử dụng rất hiệu quả để chống các bệnh vi khuẩn Việc sử dụng kháng sinh được Tổ chức Y tế thế giới (HWO) ra nhiều văn bản hướng dẫn trong đó có danh mục các kháng sinh được phép hoặc hạn chế sử dụng trong chăn nuôi Bộ Y tế nước ta và Cục thú y - Bộ NN &PTNT cũng thường xuyên cập nhật và ra những văn bản về việc sử dụng kháng sinh trong chăn nuôi (Ví dụ như Thông tư 06/2016/TT-NNPTNT ban hành ngày 31/05/21016:

Trang 21

về Danh mục kháng sinh được phép sử dụng trong thức ăn chăn nuôi gia súc gia cầm với mục đích kích thích sinh trưởng; Thông tư 28/2014/TT -BNNPTNT ban hành ngày 04/9/2014 về danh mục hóa chất, kháng sinh cấm nhập khẩu, sản xuất và sử dụng trong chăn nuôi…)

Sở dĩ vấn đề sử dùng kháng sinh trở nên rất được chú ý trong chỉ đạo thực tiễn của các cơ quan quản lý vì nó gây hệ lụy lớn nhất là tình trạng nhờn kháng sinh của vi khuẩn dẫn tới mất hiệu lực của thuốc và việc kiểm soát bệnh vi khuẩn trở nên cực kỳ phức tạp Hơn nữa, khi kháng sinh từ vật nuôi theo sản phẩm chăn nuôi đi vào cơ thể người còn gây những tác dụng phụ gây tổn hại sức khỏe và sinh mạng ví dụ như: Chloramphenicol có thể gây tình trạng suy tủy xương, streptomyxin làm tổn thương thần kinh thính giác, tetracycline làm yếu và vàng men răng…

Từ những hệ lụy trên, việc dùng kháng sinh trong chăn nuôi phải được kiểm soát nghiêm ngặt Tuy nhiên, vì lợi nhuận người quản lý cũng như người chăn nuôi có thể bất chấp các quy định mà sử dụng kháng sinh bất hợp pháp, không đúng chủng loại, liều lượng, liều trình… dẫn tới làm tăng lượng tồn dư trong sản phẩm và gây hại cho con người qua các kênh tiêu dùng

- Vấn đề sử dụng các chất kích thích sinh trưởng ở vật nuôi

Trong quá trình tìm kiếm lợi nhuận từ hoạt động chăn nuôi, người ta phát hiện ra nhiều chất hóa học có tác dụng kích thích sinh trưởng và làm tăng năng suất sinh sản ở vật nuôi Trong đó hormone và các dẫn suất của nó vốn

dễ dàng được tổng hợp trong phòng thí nghiệm là những chất kích thích đứng đầu bảng Chỉ cần bổ sung với liều 1kg/tấn thức ăn hormone tổng hợp có hoạt tính testosterone thì vật nuôi (ví dụ như bò thịt, lợn thịt, gà thịt) đã có mức sinh trưởng cao hơn từ 18 -25 -40% so với đối chứng) Tác động này mang lại siêu lợi nhuận cho người sản xuất và sử dụng hormone để chăn nuôi Có thể dẫn ra rất nhiều ví dụ về vai trò của chất kích thích góp phần làm gia tăng lợi nhuận khủng cho người chăn nuôi Tuy nhiên, theo thời gian người ta thu được những bằng chứng thuyết phục về tác động phụ khi những hormone này

Trang 22

lọt vào cơ thể người qua đường sử dụng sản phẩm chăn nuôi trong bữa ăn vốn ngày càng tăng lên trong một xã hội phát triển, đó là tình trạng rối loạn giới tính thai nhi, ung thư và nhiều hệ lụy khác

Chất kích thích có tác dụng hormone phổ biến hiện nay thường được gọi là chất tạo nạc nó gồm các chế phẩm như clenbuteron, salbutamol…vốn rất dễ dàng sản xuất trong những điều kiện tối thiểu để thu được lợi nhuận tối đa nên được buôn bán và sử dụng bất hợp pháp một cách rộng rãi trong chăn nuôi nước ta hiện nay Mặc dù các quan quản lý đã có rất nhiều cố gắng kiểm soát thông qua ban hành các văn bản pháp lý, tăng cường các phòng thí nghiệm có khả năng xác định chất cấm cũng như tăng cường các hoạt động thanh tra kiểm soát việc sản xuất và sử dụng thức ăn chăn nuôi nhất là thức ăn công nghiệp…Tuy nhiên, các sản phẩm bất hợp pháp này vẫn

âm thầm lưu hành theo những kênh rất phức tạp và nỗi nghi ngờ về việc dùng thức ăn công nghiệp là nguyên nhân làm giảm chất lượng và giảm tính

an toàn sản phẩm thịt vẫn thường trực trong tâm thức người tiêu dùng Người tiêu dùng hiện nay vẫn có thể phát hiện ra sự có mặt của chúng trong thịt, cá với những thông tin cảm quan về sản phẩm được hướng dẫn trên truyền thông đại chúng

Từ sự phức tạp và khó khăn của việc kiểm soát kháng sinh và chất cấm trong chăn nuôi mà vấn đề an toàn thực phẩm nói chung và sản phẩm thịt sạch luôn là vấn đề thời sự nóng hổi hiện nay Từ thực tế ấy, người chăn nuôi đã sáng tạo trong thực tiễn giải pháp chuyển đổi thức ăn với hy vọng vừa khai thác được ưu thế của thức ăn công nghiệp (chất lượng, cân đối dinh dưỡng, tính tiện dụng…) nhưng rất khó biết thực chất của mức độ sử dụng kháng sinh

và chất kích thích sinh trưởng sang dùng thức ăn tự phối trộn ở giai đoạn trước lúc xuất bán sản phẩm để trông đợi vào sức tự đào thải của con vật với kháng sinh và chất kích thích Bằng cách này sau một khoảng thời gian nhất định, người ta hy vọng có sự cải thiện chất lượng và sự an toàn của sản phẩm khi tới tay người tiêu dùng

Trang 23

Vấn đề đặt ra là phải tổ chức thực nghiệm khoa học để giải tỏa nỗi băn khoăn về thức ăn công nghiệp là một trong những nguyên nhân làm mất an toàn sản phẩm thịt gà (nếu có) Ngược lại nếu thực nghiệm chứng minh được rằng thức ăn công nghiệp không hẳn là nguyên nhân gây ra vấn đề sản phẩm thịt gà không an toàn hiện nay thì việc thực nghiệm chuyển đổi thức ăn chỉ còn

có ý nghĩa kéo dài thời gian nuôi để đạt tới khung khối lượng thích hợp khi xuất bán đồng thời cải thiện được các chỉ tiêu cơ lý về chất lượng sản phẩm mà thôi và khi đó bản chất của thực nghiệm tiến hành trong luận văn này chỉ nhằm giải tỏa những vấn đề về an toàn và chất lượng sản phẩm thịt vốn còn chưa có câu trả lời rõ ràng trong chăn nuôi gà thịt thả vườn hiện nay mà thôi

1.2 Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước

1.2.1 Tình hình nghiên cứu trên thế giới

Trong phát triển chăn nuôi thì chăn nuôi gia cầm có rất nhiều thuận lợi hơn các loại gia súc khác Cùng với những tiến bộ về di truyền, ngành chăn nuôi gia cầm đã có những bước tiến vượt bậc Nhờ đó mà các kết quả nghiên cứu về các biện pháp kỹ thuật được áp dụng và sản xuất mà năng suất và chất lượng thịt ở các nước trên thế giới không ngừng tăng lên Để đảm bảo

về mặt chất lượng thịt, hiện nay các nước trên thế giới đang chú ý đến thịt gà

an toàn, chất lượng cao nuôi theo công thức bán công nghiệp và thả vườn

Gà được sử dụng thức ăn đặc biệt để sản phẩm thịt không còn tồn dư những chất bất lợi cho sức khỏe người tiêu dùng Nước ta thường hay gọi là gà nông trại hay gà thả vườn chất lượng cao

Theo FAO năm 2012, Mỹ chiếm 43% trong tổng số gần 93 triệu tấn, châu Á chiếm khoảng 34%, châu Âu 7%, châu Phi 5% và châu Đại Dương < 1% (Bảng 1.1)

Sản lượng thịt gia cầm của Trung Quốc bùng nổ hơn 8% mỗi năm từ năm 1990 đến năm 2012 tuy nhiên, một đợt bùng phát cúm gia cầm năm 2013

đã có một tác động đáng kể vào nguồn cung cấp, trong đó năm 2013 là 13,7 triệu tấn xuống 13,4 triệu tấn trong năm sau

Trang 24

Bảng 1.1 Sản lượng gà thịt toàn cầu Năm

Vùng 2000 2005 2006 2007 2008 2009 2010 2011 2012 2013 2014

Sản xuất gà bản địa (triệu tấn)*

Châu Phi 2,8 3,3 3,4 3,7 4,0 4,2 4,5 4,6 4,6 4,7 4,7 Châu Mỹ 27,1 32,7 33,7 35,0 37,5 36,9 38,6 39,8 40,1 40,6 41,3 Châu Á 18,6 22,4 23,5 25,0 26,2 28,0 29,2 29,9 31,4 31,8 32,1 Châu Âu 9,3 10,9 10,8 11,6 12,1 13,3 13,9 14,6 15,4 15,9 16,5 Đại tây dương 0,7 0,9 1,0 1,0 1,0 1,0 1,1 1,2 1,2 1,2 1,2 Thế giới 58,5 70,3 72,3 76,2 80,7 83,4 87,3 90,1 92,7 94,2 95,8 Sản lượng gà thịt (triệu tấn)

Thế giới 50,1 63,1 64,3 68,3 72,8 73,6 78,2 81,2 83,2 84,1 85,3

* Sản xuất gia cầm bản địa ở đây từ các loại gia cầm nuôi nông hộ và lượng thịt gia cầm bán con sống

2014F: Dự báo của USDA về sản lượng thịt gà thịt (broiler) Số liệu của các vùng

có thể không được dùng để làm tròn tổng thế giới

Nguồn: FAO cho số liệu gà, USDA cho số liệu gà thịt

Tại Mỹ, việc tiêu thụ thịt gà ở Mỹ giảm mạnh từ 46kg/ đầu người trong năm 2006 xuống còn 42kg trong năm 2009-tính theo thịt mổ Sau đó tăng gần 44kg trong năm 2011, nhưng rồi lại giảm trở lại 42,5kg trong năm tiếp Khi người tiêu dùng chuyển từ thịt bò sang thịt gà, vào năm 2022 dự kiến sẽ đạt 45,3kg/mỗi người Ở Brazil, nhu cầu tiêu thụ thịt gà tăng vào năm 2013, riêng trong năm 2007, đã từng có số liệu dự ước xuất khẩu thịt gà giò của Brazil tăng 2%, đạt gần 2,6 triệu tấn Trong khi đó, các vụ xảy ra dịch cúm gia cầm độc lực cao (HPAI) tại Mexico dường như không có tác động tiêu cực đến chăn nuôi gà

Ngành chăn nuôi nói chung và chăn nuôi gà nói riêng đã đạt được tốc

độ phát triển nhanh như vậy là nhờ có sự tiến bộ vượt bậc về khoa học công nghệ trong lĩnh vực chọn tạo giống, thức ăn, thú y và kỹ thuật chăm sóc nuôi dưỡng Các giống gà cho năng suất cao đã được nuôi phổ biến rộng rãi trên thế giới như: Arbor Acres; Avian Cobb; Hybro; Ross; ISA …

Trang 25

1.2.2 Tình hình nghiên cứu trong nước

1.2.2.1 Tình hình phát triển chăn nuôi gia cầm tại Việt Nam

Trong những năm gần đây ngành chăn nuôi gia cầm ở nước ta ngày càng phát triển với tốc độ phát triển nhanh cả về số và chất lượng, có tới trên 70% là gà nuôi thả tự nhiên, chủ yếu là các giống địa phương có hương vị thơm ngon như gà

Ri, gà Mía, gà Ri lai Mía, gà Tre, gà Hồ, gà Đông Tảo, gà Ác, gà Mèo đen…

Hồ Xuân Tùng và Phan Xuân Hảo (2010) [36] khi nghiên cứu về năng suất và chất lượng thịt của gà Ri và gà Ri lai (3/4 LP, ¼ Ri), các tác giả đã kết luận: Khối lượng sống, thân thịt, thịt ngực và thịt đùi ở gà Ri lai lúc 11 tuần tuổi (lần lượt là 1479,17; 1140,00; 1019,17; 84,01 và110,75 g) là cao hơn rất

rõ ràng (P<0,01) so với gà Ri (tương ứng là 1016,67; 784,17; 688,33; 49,20

và 70,13g) Chất lượng thịt của gà Ri lai đảm bảo chất lượng tốt và tương đương gà Ri, tuy nhiên thịt gà Ri lai mềm hơn so với thịt gà Ri Giá trị pH 24, màu sáng (L) và độ mềm thịt ngực ở gà Ri lai là 5,77; 48,52 và 2,15 kg; ở gà

Ri lai lần lượt tương ứng là 5,83; 49,62 và 1,73kg

Sử dụng gà Ri lai có thể Sản lượng thịt gia cầm nước ta tăng nhanh trong những năm qua, năm 2005 chưa đến 360 ngàn tấn đến năm 2014 đạt 873,2 ngàn tấn 6 tháng đầu năm 2015, đàn gia cầm nước ta có 311,1 triệu con, sản lượng thịt đạt 651,28 ngàn tấn (Hình 1.1) Tuy nhiên, cân đối với lượng thức ăn chăn nuôi được tiêu thụ, trong bài viết “2 năm, ngành chăn nuôi

lỗ 1,3 tỉ USD” do tác giả Trần Mạnh thực hiện đăng trên Tuổi trẻ Online ngày 27/3/2014, ông Nguyễn Đăng Vang, chủ tịch Hiệp hội Chăn nuôi Việt Nam cho rằng sản lượng thịt gia cầm của nước ta cao hơn 1 triệu tấn/năm

Hình 1.1: Đồ thị về sự gia tăng sản lượng thịt gia cầm ở Việt Nam

Nguồn: indexmundi.com, USDA [48]

Trang 26

Lượng tiêu thụ thịt gia cầm cũng tăng mạnh, năm 2005 lượng tiêu thụ là

322 ngàn tấn, năm 2015 tiêu thụ 862 ngàn tấn, sau 10 năm lượng tiêu thụ tăng đến 267,7% (Hình 1.2) Tuy nhiên lượng tiêu thụ thịt gia cầm sẽ còn nhiều hơn nữa nếu tính theo số liệu tiêu thụ bình quân trên đầu người ở Việt Nam là 11,5 kg/người năm, thì với 90,5 triệu dân, năm 2015 lượng tiêu thụ sẽ trên 1 triệu tấn

Hình 1.2: Đồ thị về sự phát triển tiêu thụ thịt gia cầm ở Việt Nam

Nguồn: indexmundi.com, USDA[50]

Từ năm 2005 trở về trước, nguồn thịt gia cầm tiêu thụ ở Việt Nam hầu hết trong nước, lượng nhập khẩu tăng mạnh vào năm 2008, lên khoảng trên

80 ngàn tấn Từ đó đến nay dao động trong khoảng 35- 50 ngàn tấn/năm (Hình 1.3) Trong 6 tháng đầu năm 2015, theo bài viết “Nhập khẩu gần 42.000 tấn thịt gà từ Mỹ” đăng trên báo haiquan.vn [48], tổng lượng thịt gà nhập khẩu là 69.800 tấn, chủ yếu từ Mỹ, Brazil và Hàn Quốc (gần 100% gà nguyên con được nhập từ Hàn Quốc, trong khi 98% đùi gà được nhập từ Mỹ; còn 70% cánh gà được nhập từ Brazil), ba quốc gia này chiếm trên 80% tổng lượng thịt gà nhập khẩu cả nước

Hình 1.3: Đồ thị gia tăng thịt gia cầm nhập khẩu vào Việt Nam

Nguồn: indexmundi.com, USDA [55]

Trang 27

Giai đoạn 2012-2014, giá gà ta tương đối ổn định, dao động quanh mức 120 ngàn đồng/kg, giá gà công nghiệp có xu hướng giảm từ năm 2013 (Hình 1.3.)

Bảng 1.2 Giá gà nhập khẩu bình quân 6 tháng đầu năm 2015

Loại thịt gà

Đơn giá bình quân trước thuế (USD/kg)

Đơn giá bình quân quy đổi ra VNĐ trước thuế (Đồng/kg)

Mức thuế suất thuế nhập khẩu ưu đãi với các mặt hàng thịt gà (%)

Nguồn: baohaiquan.vn, Tổng cục Hải quan [48]

Xu hướng chọn thịt gà để cung cấp đạm động vật cho bữa ăn hàng ngày

vì nhiều dưỡng chất, giá thành rẻ, tiết kiệm được nguồn thức ăn chăn nuôi, nguồn nước, đồng thời giảm tác động tiêu cực đến môi trường đã mở ra một thị trường đầy tiềm năng Ngày 16 tháng 1 năm 2008, Thủ tướng Chính phủ

đã ký Quyết định số 10/2008/QĐ- TTg về việc “Phê duyệt chiến lược phát triển chăn nuôi đến năm 2020” Đây là hành lang pháp lý vô cùng quan trọng

và cần thiết, định hướng cho sự phát triển của ngành chăn nuôi nói chung và chăn nuôi gia cầm nói riêng Theo đó cần “đẩy nhanh việc đổi mới và phát triển chăn nuôi gia cầm theo hướng trang trại, công nghiệp và nuôi chăn thả

có kiểm soát” để đến năm 2020, ngành chăn nuôi gia cầm phải trở thành ngành sản xuất hàng hoá hiệu quả và bền vững

1.2.2.2 Một số thông tin về việc chuyển đổi thức ăn của gia cầm

Trên trang website [54] có đưa tin: Khi nuôi gà Đông tảo chúng ta cần phải chú ý đến vấn đề thay đổi thức ăn cho gà đúng thời điểm để gà có thể hấp thụ được tối đa chất dinh dưỡng phù hợp với trạng thái sinh trưởng và phát triển của cơ thể, điều này sẽ giúp cho ra gà thành phẩm với mục đích thịt hoặc làm giống tốt nhất

Sau đây là phương pháp thay đổi thức ăn cho gà của trại chúng tôi được đúc rút kinh nghiệm nhiều năm và có vận dụng những nghiên cứu khoa học của

Trang 28

Trường Đại học nông nghiệp I đưa ra để giúp bà con có thể điều chính đúng khẩu phần ăn của gà theo từng độ tuổi để gà khỏe mạnh và đạt trọng lượng tốt nhất

Dành cho gà thịt: mới nở đến 3 tháng tuổi: nên cho ăn cám công nghiệp dành theo từng độ tuổi Gà trên 3 tháng tuổi đến 8 tháng tuổi nên cho ăn cám + ngô + thóc Gà trên 8 tháng tuổi bắt đầu chỉ cho ăn thóc và ngô có kèm nhiều rau xanh và chất xơ

Trên trang Website [53] có đưa: Dùng thức ăn gà dò giai đoạn 21 - 42 ngày (nếu là thức ăn hỗn hợp viên), nếu thức ăn tự chế biến phải căn cứ vào chế độ dinh dưỡng có trong 1kg thức ăn hỗn hợp để phối trộn các nguyên liệu đáp ứng đủ nhu cầu Nguyên liệu thức ăn phải có chất lượng tốt

Việc chuyển đổi cần giảm dần tỷ lệ thay thế theo lộ trình sau:

- Ngày thứ nhất 75% thức ăn cũ và 25% thức ăn mới

- Ngày thứ hai 50% thức ăn cũ và 50% thức ăn mới

- Ngày thứ ba 25% thức ăn cũ và 75% thức ăn mới

- Ngày thứ tư cho ăn 100% thức ăn mới

1.2.3 Giới thiệu về đối tượng nghiên cứu

Gà thích nghi với điều kiện nuôi bán chăn thả, không xuất hiện mổ cắn

Gà nuôi thịt đến 12 tuần tuổi, gà mái đạt 940,5gr, gà trống đạt 1.140,7

gr Tỷ lệ nuôi sống 95,7% Tỷ lệ thân thịt chung cho trống mái là 77,75% Còn tỷ lệ thịt đùi + thịt ngực đạt 37%

* Giống gà Mía

Gà được hình thành lâu đời ở xóm Phùng Hưng, xã Tùng Thiện, Ba

Vì - Hà Tây (nay là xã Đường Lâm, Ba Vì, Hà Nội) Gà Mía phát triển mạnh vào những năm 1952- 1953 Hiện nay giống gà thuần rất ít, hầu như

Trang 29

pha tạp nhiều các giống khác Gà sinh trưởng nhanh, thành thục muộn sau

6 tháng mới đẻ Lúc trưởng thành gà trống nặng từ 3,0 - 3,5 kg, gà mái nặng từ 2,6 - 3,0 kg, Màu sắc lông: Trống màu đỏ tía, mái màu vàng đất, mào đơn, tích và dái tai màu đỏ Theo Bùi Đức Lũng, Trần Long (2005) [16] cho biết: Khối lượng lúc 140 - 150 ngày tuổi: Trống 3500 - 4000g, Mái 2500 - 3000g, tỷ lệ sống đến 60 ngày tuổi 85 - 90% Sản lượng trứng:

52 - 58 g/quả, tuổi đẻ quả trứng đầu: 210 - 215 ngày, TL có phôi: 80 - 90%,

mỏ và chân đều màu vàng Gà mái thân thon nhẹ, lông phủ màu vàng rơm, đầu nhỏ, mào đơn, chân có 2 hàng vảy, mỏ và chân có màu vàng tương tự gà trống Thời gian nuôi trung bình là từ 100 đến 110 ngày tuổi thì xuất bán Gà nuôi có thể theo nhiều hình thức như: Nuôi nhốt tập trung, bán chăn thả hay chăn thả hoàn toàn tuy nhiên chăn nuôi theo phương thức thả vườn sẽ cho hiệu quả cao nhất do giảm được chi phí thức ăn trong khi vẫn đảm bảo quản

lý được dịch bệnh

- Có thể cho gà ăn thức ăn công nghiệp (Cám hỗn hợp 100%) hoặc cám trộn nhưng phải đảm bảo tiêu chuẩn dinh dưỡng cần đạt 16-17%protein và năng lượng trao đổi 2850-2900kcal/kg thức ăn

- Chỉ số tiêu tốn thức ăn bình quân (FCR)/kg tăng trọng là 3,0kg cám/01kg thịt.Trọng lượng bình quân khi trưởng thành: Gà trống: 2,5kg; Gà mái: 1,8kg

Trang 30

1.3 Giải pháp đổi mới chăn nuôi

Thông tin gia cầm - Hiệp hội chăn nuôi gia cầm Việt Nam số 1-2007 có bài viết về cơ hội thách thức và một số giải pháp của ngành chăn nuôi gia cầm Việt Nam sau khi nước ta gia nhập WTO đã đưa ra các giải pháp đổi mới chăn nuôi như sau:

Lấy khâu giống làm bước đột phá, chọn lọc, nhân thuần các giống gia cầm nội, nhập nội những dòng giống gà thuần chủng và ông bà chất lượng cao nuôi thích nghi, chọn lọc lai tạo được các dòng gà phù hợp với điều kiện khí hậu Việt Nam tiến tới chủ động về con giống, khôi phục và tăng cường công tác quản lý chất lượng con giống, coi trọng công tác phòng chống dịch bệnh, ứng dụng nhanh các tiến bộ kỹ thuật về giống, thức ăn, thú y, chuồng trại, quy trình nuôi dưỡng, các công nghệ tiên tiến trong khu vực vào sản xuất

để nâng cao năng suất, chất lượng, hạ giá thành sản phẩm

Gắn sản xuất với giết mổ, chế biến, thị trường trên cơ sở hỗ trợ từng bước xây dựng các cơ sở giết mổ, chế biến gà tập trung, công nghiệp, đảm bảo vệ sinh

an toàn thực phẩm tạo được thị trường trong nước và hướng tới xuất khẩu

Chuồng trại chăn nuôi được quy hoạch, thiết kế phù hợp với điều kiện vùng sinh thái đảm bảo gia cầm sinh trưởng, sinh sản tốt, thuận lợi cho quản

lý và thực hiện các giải pháp an toàn sinh học Nhất thiết phải có hệ thống xử

lý môi trường và vệ sinh phòng bệnh thú y

Chủ động nguồn nguyên liệu bố trí lại cơ cấu cây trồng, chuyển đổi tăng diện tích trồng ngô, đậu tương

Giám sát, kiểm tra cơ sở sản xuất thức ăn đảm bảo chất lượng và vệ sinh an toàn làm căn cứ gốc để có sản phẩm chăn nuôi an toàn

Trang 31

Chương 2

ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 Đối tượng, địa điểm và thời gian nghiên cứu

2.1.1 Đối tượng nghiên cứu

Gà F1 (Mía x Ri) nuôi theo phương thức bán chăn thả tại các nông hộ

2.1.2 Địa điểm và thời gian nghiên cứu

2.1.2.1 Địa điểm

TN được triển khai tại các hộ gia đình thuộc xã Cẩm Lĩnh, huyện Ba Vì, Thành phố Hà Nội

2.1.2.2 Thời gian

Từ ngày 29 tháng 7 năm 2015 đến ngày 29 tháng 12 năm 2015

2.2 Nội dung và phương pháp nghiên cứu

2.2.1 Nội dung nghiên cứu

1/ So sánh hai phương thức sử dụng thức ăn trên cùng các giai đoạn tuổi của gà thí nghiệm đến sinh trưởng, năng suất, chất lượng thịt và hiệu quả chăn nuôi gà đồi Ba Vì F1(♂ MÍA x ♀ RI)

2./ So sánh sự khác nhau về thời gian nuôi bằng thức ăn chuyển đổi tự phối trộn đến khả năng sinh trưởng, năng suất chất lượng thịt và tính an toàn của sản phẩm, hiệu quả kinh tế trong chăn nuôi gà đồi Ba Vì

2.2.2 Phương pháp nghiên cứu

Sử dụng phương pháp phân lô so sánh trong chăn nuôi, với 3 cách sử dụng thức ăn khác nhau trong giai đoạn nuôi, mỗi lô TN được nhắc lại 3 lần

2.2.2.1 Điều kiện TN

- Gà thịt lông màu được nuôi theo phương thức thả vườn

- Gà được chăm sóc theo quy trình hướng dẫn của Hội Chăn nuôi và Tiêu thụ gà đồi huyện Ba Vì thành phố Hà Nội

- Sơ đồ bố trí TN được thể hiện qua bảng sau:

Trang 32

F1 (♂ MÍA x♀ RI)

1/ Giai đoạn

từ 1- 15 tuần:

TACNHC 2/ Giai đoạn

từ 16-20 tuần:

Thức ăn thay thế tự phối trộn

1/ Giai đoạn

từ 1- 12 tuần:

TA CNHC 2/ Giai đoạn từ 13-20 tuần: Thức ăn thay thế tự phối trộn Giải thích sơ đồ thí nghiệm: Sơ đồ là sự phối hợp trình bày 2 nội dung thí nghiệm, trong đó:

- Nội dung 1: so sánh 2 phương thức sử dụng thức ăn trên cùng các giai đoạn tuổi của gà Thí nghiệm gồm 2 lô I và IIb Gà được nuôi theo 3 giai đoạn tuổi 0-4 tuần; 5-12 tuần và 13-20 tuần Hai lô này khác nhau ở chỗ: Lô I cả 2 giai đoạn đều dùng TACNHC còn lô IIb thì chỉ nuôi 2 giai đoạn đầu bằng TACNHC nhưng giai đoạn còn lại chuyển sang dùng thức

ăn tự phối trộn được phối hợp theo nguyên tắc ngang giá nên tỷ lệ protein

có phần thấp hơn (Sơ đồ)

- Nội dung 2: gồm 2 lô IIa và IIb có sự khác nhau về thời gian nuôi bằng thức ăn chuyển đổi tự phối trộn, trong đó lô IIa nuôi bằng thức ăn chuyển đổi trong 5 tuần (từ tuần 16-20); lô IIb nuôi bằng thức ăn chuyển đổi dài hơn trong 7 tuần từ tuần 13 -20 nhằm đánh giá khả năng thải trừ tồn

dư có hại (nếu có) theo việc kéo dài thời gian nuôi bằng thức ăn không kháng sinh và chất kích thích

Trang 33

Bảng 2.2 Giá trị dinh dưỡng của thức ăn sử dụng trong thí nghiệm Giá trị DD ĐVT Lô I (tuần tuổi) Lô IIa (tuần tuổi) Lô IIb (tuần tuổi)

(Ghi chú: Thức ăn và nước uống được cung cấp tự do theo nhu cầu của gà)

Bảng 2.3 Công thức trộn thức ăn cho gà thí nghiệm (%)

1 ngày tuổi Marek’s Marek Tiêm dưới da 0,2 ml/ con

3 ngày tuổi Lasota hoặc

ND-IB (lần 1) Newcasle Nhỏ mắt, mũi

10 ngày tuổi Gum A(lần 1) Gumboro Nhỏ miệng

20 ngày tuổi Lasota hoặc

ND-IB (lần 2) Newcasle Nhỏ mắt, mũi

23 ngày tuổi Gum A (lần 2) Gumboro Nhỏ miệng

45 ngày tuổi Newcasle Newcasle Tiêm dưới da cánh

> 60 ngày tuổi Cúm gia cầm Cúm gia cầm Tiêm dưới da

Trang 34

2.3 Phương pháp theo dõi các chỉ tiêu

2.3.1 Các chỉ tiêu theo dõi

* Tỷ lệ nuôi sống (%): Hàng ngày, theo dõi số gà chết và loại thải ở mỗi

lô và mức độ nhiễm bệnh, toàn bộ số gà chết được mổ khám và chẩn đoán bệnh

Tỷ lệ nuôi sống được tính theo tuần tuổi và tính cộng dồn tới cuối kỳ nuôi:

Tỷ lệ nuôi sống (%) =

∑ số gà cuối kỳ (con)

x 100

∑ số gà đầu kỳ (con)

* Khả năng sinh trưởng:

- Sinh trưởng tích luỹ (g/con): Sinh trưởng tích luỹ được tính bằng khối lượng cơ thể qua các tuần tuổi, được cân vào ngày tuổi cuối cùng của tuần Cân tối thiểu là 30 gà/lô hàng tuần, lúc kết thúc theo dõi Cân buổi sáng trước khi ăn (chỉ cho gà uống nước), tiến hành cân từng con, xác định khối lượng sống bình quân/con của đàn gà TN qua các tuần tuổi Người cân và dụng cụ cân được cố định:

+ 1 ngày tuổi cân cả lô và chia cho số con trong lô tính bình quân/con + Từ tuần tuổi thứ nhất đến tuần tuổi thứ 2 được xác định bằng cân Nhơn Hòa loại 1kg có độ chính xác 0,1g

+ Từ tuần tuổi thứ 3 trở đi cân bằng cân Nhơn Hòa loại 2kg, 5kg có độ chính xác  1g đến 5g

+ Khối lượng trung bình được xử lý bằng phương pháp thống kê sinh vật học của Nguyễn Văn Thiện, và cs (2002) [30]

- Sinh trưởng tuyệt đối (gr/con/ngày): Theo dõi theo TCVN 2-39-77 [34] và được tính theo công thức:

A(g/con/ngày) =

P2 - P1

T

Trong đó: A: Sinh trưởng tuyệt đối (gr/con/ngày);

P1: Khối lượng gà đầu kỳ (gr)

P2: Khối lượng gà cuối kỳ (gr);

T: Khoảng cách giữa hai lần cân (ngày)

Trang 35

- Sinh trưởng tương đối (%): Khảo sát theo TCVN 2 - 40 - 77 [35], và được tính theo công thức:

R (%) =

P2 - P1

x 100 (P2 + P1)/2

Trong đó: R: Sinh trưởng tương đối (%)

P1: Khối lượng gà đầu kỳ (gr);

P2: Khối lượng gà cuối kỳ (gr)

* Khả năng sử dụng và chuyển hoá thức ăn:

- Tiêu tốn thức ăn/kg tăng khối lượng/lô:

+ Tiêu tốn thức ăn (kg)/kg tăng khối lượng trong tuần/lô (F.C.Rw)

- Tiêu tốn năng lượng trao đổi cho 1 Kg tăng khối lượng/lô(kcal):

Tiêu tốn ME/kg tăng KL/lô (Kcal) =

Mức ME/kg x Tổng TĂ tiêu thụ/lô (kg) Tổng KL sống tăng trong kỳ/lô (kg)

- Tiêu tốn Protein cho 1 kg tăng khối lượng(gr):

Tiêu tốn CP/kg tăng KL (gr) =

Mức CP/kg x Tổng TĂ tiêu thụ (kg) Tổng KL sống tăng trong kỳ/lô (kg)

* Chỉ số sản xuất (PI)/lô (Performance - Index)

Được tính theo công thức:

PI = Tỷ lệ nuôi sống (%) x Sinh trưởng tuyệt đối (gr/con/ngày)

Tiêu tốn thức ăn/kg tăng khối lượng x10

Trang 36

- Sơ bộ tính giá chi phí trực tiếp và hiệu quả kinh tế:

+ Tổng chi phí trực tiếp/lô bao gồm: Chi phí giống, thức ăn, thuốc thú y

và các chi phí khác (không tính công lao động)

+ Tổng thu: Là tổng khối lượng gà hơi/lô x giá tiền của 1kg tại thời điểm bán

+ Hiệu quả kinh tế (đ/lô): Tổng thu - Tổng chi

* Mổ khảo sát đánh giá khả năng cho thịt và chất lượng thịt tại các phương thức nuôi:

Kết thúc TN, chọn 3 gà trống và 3 gà mái/ mỗi lô có khối lượng cơ thể trung bình của lô, khảo sát theo phương pháp giết mổ khảo sát của Auas và R Wilke, 1987 [1] các chỉ tiêu sau:

+ Khối lượng sống (kg): là khối lượng cân sau khi gà nhịn ăn 12 giờ + Khối lượng thân thịt (kg): là khối lượng sau cát tiết vặt lông, bỏ chân

ở đoạn khuỷu Bỏ đầu ở xương chẩm và xương atlat, bỏ ruột, cơ quan sinh dục, khí quản, diều, phổi Tim, gan, lá lách và mề (sau khi đã bỏ thức ăn cùng lớp màng cứng) để lại

Tỷ lệ thân thịt (%) =

Khối lượng thân thịt (g)

x 100 Khối lượng sống (g)

Tỷ lệ thịt đùi (%) =

Khối lượng thịt đùi trái (g) * 2

x 100 Khối lượng thân thịt (g)

Tỷ lệ thịt lườn (%) =

Khối lượng thịt lườn trái (g) * 2

x 100 Khối lượng thân thịt (g)

Tỷ lệ mỡ bụng (%) =

Khối lượng mỡ bụng (g)

x 100 Khối lượng thân thịt (g)

Trang 37

- Một số chỉ tiêu đánh giá chất lượng thịt:

Xác định các chỉ tiêu chất lượng cảm quan và chất lượng chế biến gồm giá trị pH, tỷ lệ mất nước bảo quản, chế biến, màu sắc thịt và độ mềm thịt Cụ thể:

+ Xác định pH cơ ngực: sau khi cắt tiết, vặt lông, dùng kéo cắt da rạch một đường ở giữa lườn và cắm trực tiếp đầu đo pH Electrode (Mettler Toledo MP220 pH Meter) vào cơ ngực trái để xác định giá trị pH vào thời điểm 15 phút (pH15) sau khi giết thịt và tại thời điểm 24 giờ (pH24) bảo quản trong nhiệt độ 2

vệ sinh mềm và cân lại khối lượng tại mỗi thời điểm (khối lượng sau bảo quản) Tiếp tục đưa mẫu vào túi nhựa chịu nhiệt và hấp trong Waterbath ở nhiệt độ 850C trong vòng 25 phút Sau khi hấp, túi mẫu được lấy ra và làm mát dưới vòi nước chảy ngoài túi mẫu 30 phút Làm khô bề mặt mẫu thịt bằng giấy vệ sinh mềm và cân khối lượng mẫu (khối lượng sau chế biến) Xác định

tỷ lệ mất nước bảo quản và chế biến (hấp) theo sự chênh lệch khối lượng mẫu trước và sau khi thực hiện các phép đo Tỷ lệ mất nước tổng là sự chênh lệch khối lượng mẫu trước bảo quản và sau chế biến (hoặc là tổng của tỷ lệ mất nước bảo quản và mất nước chế biến) Mẫu thịt sau chế biến được giữ lại để xác định độ mềm thịt

Thịt ngực và thịt đùi trái gà được lọc riêng và để trong túi nilon tránh tiếp xúc với không khí, bảo quản trong tủ lạnh ở nhiệt độ 20C để xác định các chỉ tiêu

về độ an toàn thực phẩm thông qua phân tích: Hàm lượng hormone, kháng sinh tồn dư trong thịt

Trang 38

Chỉ tiêu xác định an toàn sản phẩm thịt:

+ Hàm lượng hormone tồn dư: Xác định hàm lượng 2 thành phần chất kích tố sinh trưởng và tạo nạc: Clenbuterol, Salbutamol

+ Kháng sinh tồn dư trong thịt: Cloram phenicol

- Áp dụng kỹ thuật phân tích trên Sắc ký lỏng cao áp (HPLC) tại Trung tâm phân tích và chứng nhận chất lượng sản phẩm nông nghiệp Hà Nội thuộc

sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Thành phố Hà Nội

Trang 39

Chương 3 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN

3.1 Tỷ lệ nuôi sống

Trong chăn nuôi gà, tỷ lệ nuôi sống là chỉ tiêu quan trọng cần được quan tâm đầu tiên, tỷ lệ nuôi sống phản ánh sức sống, tình trạng sức khoẻ, khả năng chống chịu bệnh tật, khả năng thích nghi với điều kiện ngoại cảnh của

gà Tỷ lệ nuôi sống ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả kinh tế và giá thành sản phẩm Muốn đạt hiệu quả nuôi sống cao cần phải có giống tốt thực hiện nghiêm chỉnh quy trình vệ sinh thú y, phòng trừ dịch bệnh đảm bảo cho con giống phát huy hết tiềm năng di truyền Tỷ lệ nuôi sống ảnh hưởng đến chỉ số sản xuất của các giống gà, ảnh hưởng đến thu nhập của người chăn nuôi Tỷ

lệ nuôi sống càng cao càng thể hiện khả năng nắm bắt và thực hiện các thao tác kỹ thuật tốt của người chăn nuôi, và vì vậy họ có lãi nhiều

Số liệu bảng 3.1 cho thấy, gà ở lô thí nghiệm I, IIa có tỷ lệ nuôi sống cao, đạt 100% trong tuần đầu tiên sang tuần còn lô thí nghiệm IIb đạt 99,33%

do trong tuần có 1 con bị chết vì bị hở rốn Từ tuần 2 sang tuần 3 tỉ lệ nuôi sống ở lô I, IIa, IIb lần lượt là 98,00%; 98,00%; 96,00 tỷ lệ sống của lô IIb thấp nhất trong giai đoạn này

Giai đoạn gà con từ 3 - 5 tuần gà chịu ảnh hưởng do chất lượng giống sau khi ấp nở, chế độ chăm sóc và nhiệt độ, môi trường chuồng nuôi Giai đoạn này tỷ lệ nuôi sống ở lô IIb là 95,33 % thấp hơn lô TN I và IIa

Từ giai đoạn 5 - 20 tuần tỷ lệ nuôi sống tỷ lệ sống khá ổn định đạt 94,67% (lô IIb) đến 96% (lô IIa), do trong quá trình chăm sóc nuôi dưỡng tốt

và gà con có sức sống cao, khả năng kháng bệnh tốt và thích nghi với điều kiện của môi trường kể cả khi thay đổi chế độ dinh dưỡng

Trang 40

Bảng 3.1 Tỷ lệ nuôi sống cộng dồn của gà trống và mái nuôi thí nghiệm

từ 0 - 20 tuần tuổi (%) Tuần

Ngày đăng: 23/06/2017, 17:33

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Auas. R và R. Wike (1978), Cở sở sinh học của nhân giống và nuôi dưỡng gia cầm (Nguyễn Chí Bảo dịch), Nxb Khoa học và kỹ thuật, Hà Nội, tr. 486-524 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cở sở sinh học của nhân giống và nuôi dưỡng gia cầm
Tác giả: Auas. R và R. Wike
Nhà XB: Nxb Khoa học và kỹ thuật
Năm: 1978
2. Avian, Lohmann, ISA Vedette, Tuyển tập công trình nghiên cứu Khoa học kỹ thuật gia cầm 1986 - 1996, Nxb Nông nghiệp, tr. 45-48 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tuyển tập công trình nghiên cứu Khoa học kỹ thuật gia cầm 1986 - 1996
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
3. Nguyễn Ân, Hoàng Gián, Lê Viết Ly, Nguyễn Văn Thiện (1983), Di truyền học Động vật, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Di truyền học Động vật
Tác giả: Nguyễn Ân, Hoàng Gián, Lê Viết Ly, Nguyễn Văn Thiện
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 1983
4. Nguyễn Ân (1984), Di truyền hoc Động vật, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Di truyền hoc Động vật
Tác giả: Nguyễn Ân
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 1984
5. Đặng Vũ Bình (2002), Di truyền số lượng và chọn giống vật nuôi, giáo trình sau đại học, Nxb Nông nghiệp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Di truyền số lượng và chọn giống vật nuôi, giáo trình sau đại học
Tác giả: Đặng Vũ Bình
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 2002
6. Lê Công Cường (2007), Nghiên cứu khả năng sản xuất của tổ hợp lai giữa gà Hồ và Gà Lương Phượng, Luận Văn thạc sĩ Nông nghiệp, Trường Đại học Nông nghiệp I Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu khả năng sản xuất của tổ hợp lai giữa gà Hồ và Gà Lương Phượng
Tác giả: Lê Công Cường
Năm: 2007
8. Bùi Hữu Đoàn (2000), "Đánh giá khả năng sản xuất và chất lượng thịt của gà lai F1 (Hồ-Lương Phượng)", Tạp chí Nông nghiệp và phát triển nông thôn số 5/2010, tr60-64 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đánh giá khả năng sản xuất và chất lượng thịt của gà lai F1 (Hồ-Lương Phượng)
Tác giả: Bùi Hữu Đoàn
Năm: 2000
9. Phan Xuân Hảo (2009), "Xác định tỷ lệ ấp nở, sinh trưởng, năng suất và chất lượng thịt của 2 tổ hợp lai giữa gà mái Lương Phượng với trống Sasso", Tạp chí Nông nghiệp &amp; PTNT, số 5/2009 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xác định tỷ lệ ấp nở, sinh trưởng, năng suất và chất lượng thịt của 2 tổ hợp lai giữa gà mái Lương Phượng với trống Sasso
Tác giả: Phan Xuân Hảo
Năm: 2009
10. Nguyễn Duy Hoan, Bùi Đức Lũng, Nguyễn Thanh Sơn, Đoàn Xuân Trúc (1998), Chăn nuôi gia cầm (giáo trình dùng cho Cao học và NCS ngành chăn nuôi), Nxb nông nghiệp, tr.196-201 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chăn nuôi gia cầm
Tác giả: Nguyễn Duy Hoan, Bùi Đức Lũng, Nguyễn Thanh Sơn, Đoàn Xuân Trúc
Nhà XB: Nxb nông nghiệp
Năm: 1998
11. Nguyễn Mạnh Hùng, Hoàng Thanh, Bùi Hữu Đoàn, Nguyễn Thị Mai (1994), Chăn nuôi gia cầm, Nxb Nông nghiệp, tr.104-108 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chăn nuôi gia cầm
Tác giả: Nguyễn Mạnh Hùng, Hoàng Thanh, Bùi Hữu Đoàn, Nguyễn Thị Mai
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 1994
12. Đào Văn Khanh (2002), Nghiên cứu khả năng sinh trưởng, năng suất và chất lượng thịt gà của 3 giống gà lông màu kabir, Lương Phượng, Tam Hoàng nuôi bán chăn thả ở 4 mùa vụ khác nhau ở Thái Nguyên, luận án tiến sỹ khoa học nông nghiệp, Đại học Nông lâm Thái Nguyên Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu khả năng sinh trưởng, năng suất và chất lượng thịt gà của 3 giống gà lông màu kabir, Lương Phượng, Tam Hoàng nuôi bán chăn thả ở 4 mùa vụ khác nhau ở Thái Nguyên
Tác giả: Đào Văn Khanh
Năm: 2002
13. Kushner K.F.(1969), Những cơ sở di truyền học của việc sử dụng ưu thế lai trong chăn nuôi, Những cơ sở di truyền chọn giống động vật, (Nguyễn Ân, Trần Cừ dịch), Nxb Maxcova Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những cơ sở di truyền học của việc sử dụng ưu thế lai trong chăn nuôi, Những cơ sở di truyền chọn giống động vật
Tác giả: Kushner K.F
Nhà XB: Nxb Maxcova
Năm: 1969
14. Đặng Hữu Lanh, Trần Đình Miên, Trần Đình Trọng (1999), Cơ sở di truyền và chọn giống động vật, Nxb Giáo dục, tr. 51, 52, 96-100 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ sở di truyền và chọn giống động vật
Tác giả: Đặng Hữu Lanh, Trần Đình Miên, Trần Đình Trọng
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1999
15. Trần Long, Nguyễn Thị Thu, Bùi Đức Lũng (1996), Bước đầu nghiên cứu đặc điểm sinh trưởng của gà Ri, Tuyển tập công trình nghiên cứu khoa học - Kỹ thuật gia cầm, Liên hiệp xí nghiệp gia cầm Việt Nam, Nxb Nông nghiệp, tr 77-82 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bước đầu nghiên cứu đặc điểm sinh trưởng của gà Ri, Tuyển tập công trình nghiên cứu khoa học - Kỹ thuật gia cầm, Liên hiệp xí nghiệp gia cầm Việt Nam
Tác giả: Trần Long, Nguyễn Thị Thu, Bùi Đức Lũng
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 1996
16. Bùi Đức Lũng, Nguyễn Huy Đạt, Vũ Thị Hưng, Trần Long (2005), Kết quả nghiên cứu chọn lọc và nhân thuần gà ri màu vàng rơm sau 3 thế hệ, Báo cáo khoa học Viện Chăn nuôi năm 2005 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kết quả nghiên cứu chọn lọc và nhân thuần gà ri màu vàng rơm sau 3 thế hệ
Tác giả: Bùi Đức Lũng, Nguyễn Huy Đạt, Vũ Thị Hưng, Trần Long
Năm: 2005
17. Nguyễn Văn Lưu (2005). Nghiên cứu khả năng sinh sản, sinh trưởng và cho thịt của gà Hồ, Luận văn thạc sỹ Nông nghiệp, Đại học Nông Nghiệp Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu khả năng sinh sản, sinh trưởng và cho thịt của gà Hồ
Tác giả: Nguyễn Văn Lưu
Năm: 2005
18. Lê Hồng Mận, Bùi Đức Lũng, Phạm Quang Hoán (1993), Nghiên cứu yêu cầu protein trong thức ăn hỗn hợp nuôi tách trống, mái gà HV 85 từ 1 - 36 ngày tuổi, Thông tin gia súc gia cầm. Số 13, tr. 17 - 29 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu yêu cầu protein trong thức ăn hỗn hợp nuôi tách trống, mái gà HV 85 từ 1 - 36 ngày tuổi
Tác giả: Lê Hồng Mận, Bùi Đức Lũng, Phạm Quang Hoán
Năm: 1993
19. Trần Đình Miên, Nguyễn Kim Đường (1992), Chọn và nhân giống gia súc, Nxb Nông nghiệp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chọn và nhân giống gia súc
Tác giả: Trần Đình Miên, Nguyễn Kim Đường
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 1992
20. Trần Đình Miên, Nguyễn Văn Thiện (1995), Chọn giống vật nuôi, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội, tr. 32, 73-80, 94-95 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chọn giống vật nuôi
Tác giả: Trần Đình Miên, Nguyễn Văn Thiện
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 1995
21. Trần Đình Miên, Nguyễn Hải Quân, Vũ Kích Trực (1975), Chọn giống và nhân giống gia súc, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chọn giống và nhân giống gia súc
Tác giả: Trần Đình Miên, Nguyễn Hải Quân, Vũ Kích Trực
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 1975

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1.1. Sản lượng gà thịt toàn cầu  Năm - Ảnh hưởng của việc chuyển đổi thức ăn đến khả năng sản xuất và chất lượng thịt của gà f1(♂ mía x ♀ RI) nuôi tại huyện ba vì, thành phố hà nội
Bảng 1.1. Sản lượng gà thịt toàn cầu Năm (Trang 24)
Hình 1.1: Đồ thị về sự gia tăng sản lượng thịt gia cầm ở Việt Nam - Ảnh hưởng của việc chuyển đổi thức ăn đến khả năng sản xuất và chất lượng thịt của gà f1(♂ mía x ♀ RI) nuôi tại huyện ba vì, thành phố hà nội
Hình 1.1 Đồ thị về sự gia tăng sản lượng thịt gia cầm ở Việt Nam (Trang 25)
Bảng 1.2. Giá gà nhập khẩu bình quân 6 tháng đầu năm 2015 - Ảnh hưởng của việc chuyển đổi thức ăn đến khả năng sản xuất và chất lượng thịt của gà f1(♂ mía x ♀ RI) nuôi tại huyện ba vì, thành phố hà nội
Bảng 1.2. Giá gà nhập khẩu bình quân 6 tháng đầu năm 2015 (Trang 27)
Bảng 2.1. Sơ đồ bố trí thí nghiệm - Ảnh hưởng của việc chuyển đổi thức ăn đến khả năng sản xuất và chất lượng thịt của gà f1(♂ mía x ♀ RI) nuôi tại huyện ba vì, thành phố hà nội
Bảng 2.1. Sơ đồ bố trí thí nghiệm (Trang 32)
Bảng 3.1. Tỷ lệ nuôi sống cộng dồn của gà trống và mái nuôi  thí nghiệm - Ảnh hưởng của việc chuyển đổi thức ăn đến khả năng sản xuất và chất lượng thịt của gà f1(♂ mía x ♀ RI) nuôi tại huyện ba vì, thành phố hà nội
Bảng 3.1. Tỷ lệ nuôi sống cộng dồn của gà trống và mái nuôi thí nghiệm (Trang 40)
Bảng 3.2. Sinh trưởng tích lũy của gà trống, mái nuôi thí nghiệm - Ảnh hưởng của việc chuyển đổi thức ăn đến khả năng sản xuất và chất lượng thịt của gà f1(♂ mía x ♀ RI) nuôi tại huyện ba vì, thành phố hà nội
Bảng 3.2. Sinh trưởng tích lũy của gà trống, mái nuôi thí nghiệm (Trang 42)
Hình 3.1. Biểu đồ sinh trưởng tích lũy của gà thí nghiệm - Ảnh hưởng của việc chuyển đổi thức ăn đến khả năng sản xuất và chất lượng thịt của gà f1(♂ mía x ♀ RI) nuôi tại huyện ba vì, thành phố hà nội
Hình 3.1. Biểu đồ sinh trưởng tích lũy của gà thí nghiệm (Trang 43)
Bảng 3.3. Sinh trưởng tuyệt đối của gà trống, mái thí nghiệm - Ảnh hưởng của việc chuyển đổi thức ăn đến khả năng sản xuất và chất lượng thịt của gà f1(♂ mía x ♀ RI) nuôi tại huyện ba vì, thành phố hà nội
Bảng 3.3. Sinh trưởng tuyệt đối của gà trống, mái thí nghiệm (Trang 45)
Hình 3.2. Biểu đồ sinh trưởng tuyệt đối của gà thí nghiệm - Ảnh hưởng của việc chuyển đổi thức ăn đến khả năng sản xuất và chất lượng thịt của gà f1(♂ mía x ♀ RI) nuôi tại huyện ba vì, thành phố hà nội
Hình 3.2. Biểu đồ sinh trưởng tuyệt đối của gà thí nghiệm (Trang 46)
Bảng 3.4. Sinh trưởng tương đối của gà trống, mái nuôi TN - Ảnh hưởng của việc chuyển đổi thức ăn đến khả năng sản xuất và chất lượng thịt của gà f1(♂ mía x ♀ RI) nuôi tại huyện ba vì, thành phố hà nội
Bảng 3.4. Sinh trưởng tương đối của gà trống, mái nuôi TN (Trang 47)
Hình 3.3: Đồ thị sinh trưởng tương đối của gà TN giai đoạn 1-20 tuần tuổi - Ảnh hưởng của việc chuyển đổi thức ăn đến khả năng sản xuất và chất lượng thịt của gà f1(♂ mía x ♀ RI) nuôi tại huyện ba vì, thành phố hà nội
Hình 3.3 Đồ thị sinh trưởng tương đối của gà TN giai đoạn 1-20 tuần tuổi (Trang 48)
Bảng 3.7. Tiêu tốn Protein thô (CP)/1kg tăng khối lượng của gà TN (g) - Ảnh hưởng của việc chuyển đổi thức ăn đến khả năng sản xuất và chất lượng thịt của gà f1(♂ mía x ♀ RI) nuôi tại huyện ba vì, thành phố hà nội
Bảng 3.7. Tiêu tốn Protein thô (CP)/1kg tăng khối lượng của gà TN (g) (Trang 53)
Bảng 3.9. Kết quả khảo sát các chỉ tiêu thân thịt của gà thí nghiệm - Ảnh hưởng của việc chuyển đổi thức ăn đến khả năng sản xuất và chất lượng thịt của gà f1(♂ mía x ♀ RI) nuôi tại huyện ba vì, thành phố hà nội
Bảng 3.9. Kết quả khảo sát các chỉ tiêu thân thịt của gà thí nghiệm (Trang 57)
Bảng 3.10. Giá trị pH của thịt gà bảo quản sau giết mổ - Ảnh hưởng của việc chuyển đổi thức ăn đến khả năng sản xuất và chất lượng thịt của gà f1(♂ mía x ♀ RI) nuôi tại huyện ba vì, thành phố hà nội
Bảng 3.10. Giá trị pH của thịt gà bảo quản sau giết mổ (Trang 59)
Bảng 3.12. Kết quả phân tích đánh giá sự tồn dư của một số - Ảnh hưởng của việc chuyển đổi thức ăn đến khả năng sản xuất và chất lượng thịt của gà f1(♂ mía x ♀ RI) nuôi tại huyện ba vì, thành phố hà nội
Bảng 3.12. Kết quả phân tích đánh giá sự tồn dư của một số (Trang 62)

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w