Một số giải pháp hoàn thiện công tác quản lý nhà nước về kinh tế đối với hoạt động của các tổ chức phi chính phủ nước ngoài trên địa bàn tỉnh Phú Thọ .... Tuy nhiên về mặt lý luận cũng n
Trang 1Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn
NGUYỄN THỊ MAI HƯƠNG
QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ KINH TẾ ĐỐI VỚI CÁC TỔ CHỨC PHI CHÍNH PHỦ NƯỚC NGOÀI
TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH PHÚ THỌ
LUẬN VĂN THẠC SĨ THEO ĐỊNH HƯỚNG ỨNG DỤNG
Chuyên ngành: QUẢN LÝ KINH TẾ
THÁI NGUYÊN - 2016
Trang 2Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn
NGUYỄN THỊ MAI HƯƠNG
QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ KINH TẾ ĐỐI VỚI CÁC TỔ CHỨC PHI CHÍNH PHỦ NƯỚC NGOÀI
TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH PHÚ THỌ Chuyên ngành: QUẢN LÝ KINH TẾ
Mã số: 60.34.04.10
LUẬN VĂN THẠC SĨ THEO ĐỊNH HƯỚNG ỨNG DỤNG
Người hướng dẫn khoa học: TS NGUYỄN THỊ TỐ QUYÊN
THÁI NGUYÊN - 2016
Trang 3Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của tôi, Những số liệu, thông tin và kết quả nghiên cứu trong luận văn này là trung thực và chưa được
sử dụng để bảo vệ bất cứ một luận văn nào.Luận văn không sao chép của bất
kỳ một công trình nghiên cứu nào
Thái Nguyên, tháng 02 năm 2016
Tác giả luận văn
Nguyễn Thị Mai Hương
Trang 4Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn
LỜI CẢM ƠN
Tác giả xin được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới Tiến sĩ Nguyễn Thị
Tố Quyên - Giáo viên trực tiếp hướng dẫn và các thầy giáo, cô giáo, cán bộ khoa sau đại học - Trường Đại học kinh tế và Quản trị kinh doanh - Đại học Thái Nguyên đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ tác giả hoàn thành luận văn này Tác giả cũng xin gửi lời cảm ơn đến các bạn bè, đồng nghiệp đã tạo điều kiện giúp đỡ, động viên tác giả trong suốt thời gian học tập và hoàn thành luận văn tốt nghiệp
Xin trân trọng cảm ơn!
Thái Nguyên, tháng 02 năm 2016
Tác giả luận văn
Nguyễn Thị Mai Hương
Trang 5Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn
MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT vii
DANH MỤC CÁC BẢNG viii
DANH MỤC CÁC HÌNH viii
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Mục tiêu nghiên cứu 2
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3
4 Những đóng góp mới của luận văn 3
5 Kết cấu của luận văn 4
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ KINH TẾ ĐỐI VỚI CÁC TỔ CHỨC PHI CHÍNH PHỦ NƯỚC NGOÀI 5
1.1 Cơ sở lý luận về quản lý nhà nước về kinh tế đối với các tổ chức PCPNN 5
1.1.1 Khái quát chung về các tổ chức phi chính phủ 5
1.1.2 Quản lý nhà nước về kinh tế đối với các tổ chức PCPNN 15
1.1.3 Nội dung quản lý nhà nước về kinh tế đối với các tổ chức PCPNN 25
1.1.4 Các nhân tố ảnh hưởng đến quản lý nhà nước về kinh tế đối với các tổ chức PCPNN 34
chức PCPNN 37
1.1.5 Quan điểm và định hướng của Đảng và nhà nước về quản lý về kinh tế đối với PCPNN 37
1.2 Cơ sở thực tiễn công tác quản lý nhà nước về kinh tê đối với các tổ 39
Trang 6Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn
1.2.1 Kinh nghiệm quản lý Nhà nước đối với tổ chức PCPNN ở Việt
Nam, địa phương và bài học rút ra cho tỉnh Phú Thọ 39
Chương 2: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 45
2.1 Các câu hỏi nghiên cứu 45
2.2 Phương pháp nghiên cứu 45
2.2.1 Chọn đối tượng nghiên cứu 45
2.2.2 Phương pháp thu thập thông tin 46
2.2.3 Phương pháp xử lý số liệu và phương pháp phân tích 47
2.3 Hệ thống các chỉ tiêu nghiên cứu 48
2.3.1 Chỉ tiêu về chính sách, quy định, ban hành văn bản quy phạm pháp luật 48
2.3.2 Chỉ tiêu về hoạt động thẩm định, phê duyệt dự án PCPNN 49
2.3.3 Chỉ tiêu về tổ chức kiểm tra, giám sát, đánh giá dự án 49
Chương 3: THỰC TRẠNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ KINH TẾ ĐỐI VỚI CÁC TỔ CHỨC PHI CHÍNH PHỦ NƯỚC NGOÀI TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH PHÚ THỌ 50
3.1 Khái quát đặc điểm địa bàn nghiên cứu 50
3.1.1 Điều kiện tự nhiên và vị trí địa lý 50
3.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội 52
3.2 Quan hệ giữa tỉnh Phú Thọ và các tổ chức PCPNN 56
3.2.1 Sự đóng góp của các tổ chức PCPNN đối với tỉnh Phú Thọ 57
3.2.2 Các loại hình tổ chức PCPNN hoạt động tại Phú Thọ 58
3.2.3 Sự cần thiết phải có sự quản lý nhà nước về kinh tế đối với các tổ chức phi chính phủ trên địa bàn tỉnh Phú Thọ 59
3.3 Thực trạng quản lý nhà nước về kinh tế đối với các tổ chức phi chính phủ nước ngoài trên địa bàn tỉnh Phú Thọ 62
3.3.1 Xây dựng tổ chức bộ máy quản lý nhà nước về kinh tế đối với hoạt động của các tổ chức phi chính phủ nước ngoài 62
Trang 7Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn
3.3.2 Xây dựng, ban hành các văn bản quy phạm pháp luật về hoạt động
của các tổ chức phi chính phủ nước ngoài 65
3.3.3 Tổ chức thực hiện quản lý nhà nước về kinh tế đối với hoạt động của các tổ chức phi chính phủ nước ngoài 67
3.3.4 Hoạt động kiểm tra, giám sát, thanh tra và xử lý 79
3.3.5 Hoạt động tổng kết và đánh giá 82
3.4 Đánh giá các yếu tố ảnh hưởng tới quản lý nhà nước về kinh tế đối với các tổ chức phi chính phủ nước ngoài trên địa bàn tỉnh Phú Thọ 86
3.4.1 Các nhân tố khách quan 86
3.4.2 Các nhân tố chủ quan 88
3.5 Đánh giá chung về tình hình quản lý nhà nước về kinh tế đối với các tổ chức phi chính phủ nước ngoài trên địa bàn tỉnh Phú Thọ 89
3.5.1 Những kết quả đạt được 89
3.5.2 Hạn chế còn tồn tại 90
3.5.3 Nguyên nhân 95
Chương 4: GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ KINH TẾ ĐỐI VỚI CÁC TỔ CHỨC PHI CHÍNH PHỦ NƯỚC NGOÀI TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH PHÚ THỌ 98
4.1 Quan điểm định hướng chung về quản lý về kinh tế đối với các tổ chức phi chính phủ nước ngoài 98
4.1.1 Quan điểm định hướng chung về quản lý về kinh tế đối với các tổ chức phi chính phủ nước ngoài của Đảng 98
4.1.2 Quan điểm định hướng quản lý nhà nước về kinh tế đối với các tổ chức phi chính phủ nước ngoài tại Phú Thọ 99
4.2 Mục tiêu công tác quản lý nhà nước về kinh tế đối với các tổ chức phi chính phủ nước ngoài tỉnh Phú Thọ 101
Trang 8Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn
4.3 Một số giải pháp hoàn thiện công tác quản lý nhà nước về kinh tế đối với hoạt động của các tổ chức phi chính phủ nước ngoài trên địa bàn
tỉnh Phú Thọ 102
4.3.1 Nâng cao nhận thức về hoạt động phi chính phủ nước ngoài 102
4.3.2 Hoàn thiện bộ máy quản lý nhà nước về kinh tế đối với hoạt động của các tổ chức phi chính phủ nước ngoài và cơ chế phối hợp 103
4.3.3 Nâng cao hiệu quả tổ chức thực thi các văn bản pháp luật 105
4.3.4 Nâng cao hiệu quả hoạt động dự đoán, lập kế hoạch 106
4.3.5 Đào tạo bồi dưỡng và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực 108
4.3.6 Nâng cao hiệu quả hoạt động kiểm tra, giám sát 112
4.4 Kiến nghị 115
4.4.1 Kiến nghị với Chính phủ 115
4.4.2 Kiến nghị với tỉnh 116
KẾT LUẬN 117
TÀI LIỆU THAM KHẢO 119
PHỤ LỤC 122
Trang 9Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn
Trang 10Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn
DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 3.1 Danh mục các văn bản pháp luật liên quan tới hoạt động của
các tổ chức PCPNN tại tỉnh Phú Thọ 65 Bảng 3.2 Đánh giá của các cán bộ tham gia quản lý nhà nước đối với
các văn bản liên quan đến tổ chức phi chính phủ nước ngoài 67 Bảng 3.3 Kết quả cấp phép hoạt động theo lĩnh vực của các tổ chức
PCNN trên địa bàn tỉnh Phú Thọ giai đoạn 2010-2014 69 Bảng 3.4 Kết quả đang ký hoạt động của các tổ chức PCNN trên địa bàn
tỉnh Phú Thọ giai đoạn 2010-2014 70 Bảng 3.5 Kết quả thẩm định dự án PCPNN theo lĩnh vực hoạt động giai
đoạn 2010 - 2014 72 Bảng 3.6: Đánh giá mức độ hài lòng về kết quả thẩm định dự án PCPNN 73 Bảng 3.7: Tình hình cam kết và giải ngân viện trợ PCPNN thời kỳ 2010 -
2014 của tỉnh Phú Thọ 75 Bảng 3.8 Các kênh thông tin tổ chức PCPNN tiếp cận tỉnh Phú Thọ 79 Bảng 3.9: Đánh giá chất lượng giám sát, đánh giá dự án PCPNN 82
DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình 2.1 Biểu đồ thống kê quốc tịch các tổ chức PCPNN tại Phú Thọ 58
Trang 11Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn
MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Phú Thọ là tỉnh thuộc khu vực miền núi, trung du phía Bắc, nằm trong khu vực giao lưu giữa vùng Đông Bắc, đồng bằng sông Hồng và Tây Bắc Phú Thọ có 12 đơn vị hành chính gồm thành phố Việt Trì, thị xã Phú Thọ, huyện Đoan Hùng, Hạ Hoà, Thanh Đa, Cẩm Khê, Phù Ninh, Lâm Thao, Tam Nông, Thanh Thuỷ, Thanh Sơn và Yên Lập Thành phố Việt Trì là trung tâm chính trị - kinh tế - văn hoá của tỉnh; 274 đơn vị hành chính cấp xã gồm 14 phường, 10 thị trấn và 250 xã, trong đó có 214 xã miền núi, 7 xã vùng cao và
50 xã đặc biệt khó khăn
Những năm qua, cùng với xu thế đổi mới và mở cửa của cả nước, công cuộc phát triển KT-XH của Phú Thọ đã đạt được những thành tựu đáng kể trên mọi lĩnh vực: quy mô nền kinh tế không ngừng được mở rộng, cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng tiến bộ, cơ sở hạ tầng được cải thiện đáng kể, các lĩnh vực văn hóa xã hội và đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân từng bước được nâng cao Mặc dù vậy, Phú Thọ vẫn còn là một tỉnh nghèo, đời sống của một số bộ phận nhân dân nhất là ở các vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số còn gặp rất nhiều khó khăn Trong bối cảnh đó, để đẩy mạnh phát triển kinh tế, nâng cao đời sống vật chất, văn hóa tinh thần của nhân dân, việc thu hút các nguồn vốn đầu tư, đặc biệt là các nguồn vốn từ các
tổ chức quốc tế có ý nghĩa quan trọng, góp phần thúc đẩy phát triển KT-XH địa phương
Phú Thọ là một tỉnh có sớm có nhiều hoạt động của các tổ chức phi chính phủ nước ngoài Từ tổ chức phi chính phủ Pháp ban đầu vào giúp tỉnh xây dựng hệ thống y tế tại xã Phù Ninh, đến thời điểm hiện tại Phú Thọ có trên 40 tổ chức phi chính phủ nước ngoài hoạt động trên địa bàn tỉnh, trong đó
có 15 văn phòng dự án (PTVN, SODI, RENEW, MAG, CPI, PLAN, MCNV, GCSF, ROP, WVI Thanh Sơn, WVI Thanh Thủy, WVI Đoan Hùng, Dự án DBU, Dự án ICCO ở Tam Nông và Medipeace/Canada)
Trang 12Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn
Với số lượng lớn các tổ chức phi chính phủ nước ngoài đang hoạt động tại tỉnh Phú Thọ và hoạt động của các tổ chức này đa dạng trên nhiều lĩnh vực khác nhau, công tác quản lý nhà nước đối với hoạt động của các tổ chức này đòi hỏi được hoàn thiện và thống nhất toàn diện Tuy nhiên về mặt lý luận cũng như thực tiễn còn tồn tại nhiều vấn đề cần nghiên cứu, hoàn thiện như thể chế quản lý nhà nước chưa đầy đủ, chưa thống nhất, đồng bộ, chưa phù hợp với thực tiễn công tác quản lý nhà nước về tổ chức PCPNN trên địa bàn tỉnh; tổ chức bộ máy quản lý các tổ chức PCPNN chưa được kiện toàn; nhân sự chưa đảm bảo tính chuyên môn nghiệp vụ; cơ chế quản lý chưa thống nhất từ trung ương đến địa phương…
Ngoài ra, qua tìm hiểu một số tài liệu nghiên cứu về hiệu quả, vai trò, lĩnh vực hoạt động quản lý nhà nước về kinh tế đối với các tổ chức PCPNN cho thấy, hiện tại, chưa có tài liệu chính thức nào nghiên cứu về thực trạng hoạt động và công tác QLNN về kinh tế đối với các tổ chức PCPNN trên
địa bàn tỉnh Phú Thọ Chính vì vậy, việc lựa chọn vấn đề: “Quản lý Nhà nước về kinh tế đối với các tổ chức phi chính phủ nước ngoài trên địa bàn tỉnh Phú Thọ” làm đề tài nghiên cứu là rất cấp thiết
2 Mục tiêu nghiên cứu
2.1 Mục tiêu chung
Phân tích và đánh giá khách quan hoạt động của các tổ chức phi chính phủ nước ngoài tại Phú Thọ, trong đó đề tài tập trung vào thực trạng công tác quản lý Nhà Nước về kinh tế đối với các tổ chức này Qua đó, tìm ra các giải pháp tăng cường quản lý nhà nước về kinh tế đối với các tổ chức phi chính phủ nước ngoài trên địa bàn tỉnh Phú Thọ
2.2 Mục tiêu cụ thể
Để thực hiện mục tiêu chung, đề tài tập trung vào ba nhiệm vụ cụ thể sau:
- Hệ thống hoá cơ sở lý luận và thực tiễn về quản lý nhà nước đối với các tổ chức PCPNN
Trang 13Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn
- Phân tích, đánh giá thực trạng quản lý nhà nước về kinh tế đối với các
tổ chức PCPNN trên địa bàn tỉnh Phú Thọ
- Đề xuất các giải pháp tăng cường quản lý nhà nước về kinh tế đối với các tổ chức PCPNN ở tỉnh Phú Thọ trong thời gian tới
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Đề tài tập trung nghiên cứu những vấn đề có liên quan đến công tác quản lý nhà nước về kinh tế đối với các tổ chức PCPNN ở tỉnh Phú Thọ
* Về nội dung: Đề tài chỉ tập trung phân tích thực tế công tác quản lý
nhà nước về kinh tế đối với các tổ chức PCPNN có trụ sở và/hoặc có hoạt động trên địa bàn tỉnh Phú Thọ
4 Những đóng góp mới của luận văn
Đề tài luận văn có đóng góp một số điểm mới sau:
- Nghiên cứu có tính hệ thống các vấn đề lý luận về quản lý nhà nước
về kinh tế đối với các tổ chức phi chính phủ
- Đưa ra một số nhận định riêng qua việc phân tích và đánh giá thực trạng về công tác QLNN đối với các tổ chức phi chính phủ nước ngoài tại tỉnh Phú Thọ hiện nay
- Kết quả của nghiên cứu có thể áp dụng vào thực tiễn, cụ thể là việc
đề xuất các giải pháp sẽ giúp các cơ quan quản lý Nhà nước nói chung và tỉnh Phú Thọ nói riêng tăng cường năng lực và hiệu quả quản lý kinh tế đối với hoạt động của các tổ chức PCPNN trong thời gian tới Qua đó, sẽ góp phần xây dựng mối quan hệ ngoại giao thân thiện, hiệu quả và bền vững
Trang 14Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn
5 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, luận văn được cấu trúc làm bốn chương,
cụ thể như sau:
Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về quản lý nhà nước về kinh tế
đối với các tổ chức phi chính phủ
Chương 2: Phương pháp nghiên cứu
Chương 3: Thực trạng công tác quản lý nhà nước về kinh tế đối với
các tổ chức phi chính phủ nước ngoài trên địa bàn tỉnh Phú Thọ
Chương 4: Giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về kinh tế
đối với các tổ chức phi chính phủ nước ngoài trên địa bàn tỉnh Phú Thọ
Trang 15Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn
Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC
VỀ KINH TẾ ĐỐI VỚI CÁC TỔ CHỨC PHI CHÍNH PHỦ NƯỚC NGOÀI 1.1 Cơ sở lý luận về quản lý nhà nước về kinh tế đối với các tổ chức PCPNN
1.1.1 Khái quát chung về các tổ chức phi chính phủ
1.1.1.1 Khái niệm về tổ chức phi chính phủ trên thế giới và tổ chức phi chính phủ nước ngoài ở Việt Nam
a Khái niệm tổ chức phi chính phủ theo các nước trên thế giới
Thuật ngữ “tổ chức phi chính phủ”, theo tiếng Anh thường gọi là Non Governmental Organization (viết tắt là NGO), theo tiếng Pháp là Organisation Non Gouvernementale (viết tắt là ONG) chính thức xuất hiện lần đầu tiên tại Châu Âu vào đầu thế kỷ XX Cụm từ này sau đó đã được sử dụng phổ biến hơn từ khi tổ chức Liên hiệp quốc được thành lập vào năm 1945
Có khá nhiều khái niệm khác nhau về tổ chức phi chính phủ Một số nước coi tất cả các tổ chức không thuộc về chính phủ là tổ chức PCP; trong khi đó ở một số nước khác các tổ chức PCP là những chủ thể có tư cách pháp nhân, các tổ chức không thuộc chính phủ như các viện, các tổ chức tư nhân, công cộng hoặc các quỹ Dưới đây là một số định nghĩa về tổ chức PCP được quan tâm và sử dụng trong thực tiễn nhiều nhất:
- Theo tổ chức Ngân hàng thế giới (World Bank) các tổ chức PCP được xác định là những nhóm tổ chức tư nhân theo đuổi các hoạt động để giảm bớt đau khổ, thúc đẩy các lợi ích của người nghèo, bảo vệ môi trường, cung cấp các dịch vụ xã hội cơ bản hay đảm nhiệm việc phát triển cộng đồng Với cách
sử dụng rộng rãi hơn thì thuật ngữ “tổ chức phi chính phủ” có thể áp dụng cho các tổ chức phi lợi nhuận mà hoạt động của chúng hoàn toàn hoặc phần lớn độc lập với chính phủ Giá trị của các tổ chức PCP chủ yếu thể hiện qua hoạt động viện trợ từ thiện và các dịch vụ tình nguyện Cho dù trong hai thập kỷ
Trang 16Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn
trở lại đây hoạt động PCP ngày càng trở nên chuyên nghiệp hơn nhưng các nguyên tắc lòng vị tha và tự nguyện vẫn là đặc điểm chủ yếu của tổ chức phi chính phủ [4]
- Còn theo định nghĩa đưa ra trong Hiến chương của Liên hiệp quốc, là cách định nghĩa được nhiều quốc gia áp dụng hơn cả, thì “tổ chức phi chính phủ là thuật ngữ dùng để chỉ một tổ chức, hiệp hội, quỹ VHXH, quỹ hội từ thiện, tập đoàn phi lợi nhuận hoặc các pháp nhân khác mà theo pháp luật không thuộc khu vực Nhà nước và không hoạt động vì lợi nhuận Nghĩa là khoản lợi nhuận nếu có, không thể phân chia theo kiểu chia lợi nhuận Tổ chức này không bao gồm các nghiệp đoàn, đảng phái chính trị, hợp tác xã phân chia lợi nhuận, hay nhà thờ hoặc chùa” [3]
Tóm lại, có thể thấy tổ chức phi chính phủ theo cách hiểu một cách phổ quát chung nhất là các tổ chức hội, quỹ VHXH, hội từ thiện, các tổ chức phi
vụ lợi, phi lợi nhuận hoặc các pháp nhân khác theo luật pháp không thuộc khu vực nhà nước tham gia vào các hoạt động hỗ trợ phát triển và hoạt động không vì lợi nhuận Nghĩa là, mọi khoản lợi nhuận nếu có thì không được và không thể phân phối theo kiểu chia lợi nhuận
Tuy nhiên, không phải tất cả các nước trên thế giới đều hoàn toàn thống nhất với nhau về mặt định nghĩa pháp lý cũng như trong cách gọi về tổ chức phi chính phủ Tùy theo đặc thù và tính chất cần nhấn mạnh mà ở các nước khác nhau lại sử dụng những thuật ngữ khác nhau để chỉ các tổ chức phi chính phủ Chẳng hạn ở Pháp, đó là tổ chức kinh tế - xã hội (Économie Sociale); ở Mỹ thì gọi là tổ chức phi lợi nhuận hay tổ chức tự nguyện cá thể (Private Voluntary Organizations); Đối với Anh, đó là hội từ thiện công (Public Charities); Đối với Đức, chỉ đơn giản gọi là hiệp hội (Verbände); trong khi đó Trung tâm nghiên cứu toàn cầu thúc đẩy sự tham gia của công dân (The Center for Study of Global Governance) lại thường sử dụng thuật
Trang 17Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn
ngữ tổ chức xã hội dân sự (Civil Society Organization)
b Khái niệm tổ chức phi chính phủ ở Việt Nam
Việt Nam là một quốc gia đang trên con đường đổi mới, việc phát huy, tận dụng các nguồn lực để phát triển là trách nhiệm của Đảng và Nhà nước Trong đó nguồn lực phát huy sức mạnh toàn dân, thực hiện xã hội hóa, và tận dụng sự ủng hộ, giúp đỡ của bạn bè, các tổ chức trên thế giới là vô cùng quan trọng trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước nhằm xây dựng một nước Việt Nam độc lập, thống nhất, dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ văn minh
Trong công cuộc đổi mới đất nước, thực hiện các chủ trương và chính sách đối ngoại rộng mở, Nhà nước đã thu hút ngày càng nhiều tổ chức phi chính phủ nước ngoài đến Việt Nam Hầu hết các tỉnh, thành phố, đặc biệt là các tỉnh trung du, miền núi, các vùng dân tộc ít người đều có các dự án của các tổ chức phi chính phủ nước ngoài như: Chăm sóc sức khỏe bà mẹ, trẻ em, chương trình nước sạch nông thôn, vốn tín dụng quay vòng cho phụ nữ nghèo, xây dựng trường tiểu học, trường mẫu giáo, hỗ trợ xây dựng cơ sở hạ tầng, xây dựng năng lực, cảnh báo và ứng phó thiên tai… Mặc dù kết quả của những trợ giúp này còn khiêm tốn, nhưng nó đã góp một phần với chính phủ
và nhân dân ta trong cuộc đấu tranh với nghèo đói, bệnh tật và cũng giúp chúng ta có nhận thức đúng hơn về các tổ chức phi chính phủ
Thuật ngữ “tổ chức phi chính phủ” mới du nhập vào Việt Nam, lần đầu tiên được dùng trong Luật tổ chức Chính phủ năm 1992, song cho đến nay chưa có khái niệm chính thống về “tổ chức phi chính phủ” Tuy nhiên, trong các cuộc hội thảo khoa học, nhiều nhà khoa học, nhà quản lý đưa ra khái niệm theo những góc độ tiếp cận khác nhau, nhưng có nhiều ý kiến tập trung vào nội dung sau:
Tổ chức phi chính phủ là một tổ chức được hình thành mang tính độc lập tương đối với chính phủ, hoạt động phi lợi nhuận trong khuôn khổ pháp
Trang 18Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn
luật dưới sự quản lý của nhà nước [7]
1.1.1.2 Đặc điểm của các tổ chức phi chính phủ
Tổ chức phi chính phủ đã tồn tại hàng trăm năm trên thế giới dưới nhiều dạng khác nhau Nguồn gốc xa xưa của các tổ chức PCP vốn là những nhóm nhỏ làm từ thiện Tiêu chí hoạt động của các tổ chức này là cứu trợ nhân đạo đối với nạn nhân chiến tranh, thiên tai và nghèo đói, không phân biệt chính kiến và địa dư Có thể nói rằng loại hình tổ chức này là được thành lập một cách tự nguyện và hợp pháp, không thuộc bộ máy hành chính nhà nước và không nhằm mục đích lợi nhuận Tùy theo tên gọi khác nhau các tổ chức phi chính phủ cũng có những đặc trưng và tính chất riêng của mình Tuy nhiên, chúng ta có thể thấy hầu hết các tổ chức PCP đều có một số đặc điểm chính như sau:
Thứ nhất là một tổ chức mang tính xã hội, tổ chức phi chính phủ chỉ
xuất hiện từ khi con người có ý thức được về sức mạnh tập thể, sức mạnh của
sự hợp tác với nhau giữa các nhóm người, giữa các cộng đồng người Khi xã hội càng phát triển, dân chủ trong xã hội càng được nâng cao thì tính năng động, tích cực của con người càng được nâng cao, thúc đẩy nhu cầu gắn bó với nhau trong một tổ chức hòa hợp tâm lý, hòa hợp lợi ích Những tác động
đó khiến tính xã hội của các tổ chức phi chính phủ càng đậm nét hơn
Thứ hai là hoạt động trên nguyên tắc tự nguyện, hầu hết các tổ chức
phi chính phủ được lập ra từ sự tự nguyện của các thành viên và hoạt động theo nguyên tắc tự nguyện Tính tự nguyện được thể hiện qua việc các thành viên tự giác thực hiện các nhiệm vụ của tổ chức mà thường không đòi hỏi bất
kỳ điều kiện nào Sự tự nguyện có thể là hình thức đóng góp về thời gian, công sức hay về của cải vật chất Tính tự nguyện của các tổ chức phi chính phủ bền vững tới mức nó trở thành một trong những nguyên tắc hoạt động nội
bộ và quan hệ đối ngoại của các tổ chức PCP
Trang 19Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn
Thứ ba là một tổ chức độc lập, các tổ chức PCP thường được hình
thành và hoạt động mang tính độc lập tương đối với chính phủ Chúng tuy được cơ quan có thẩm quyền cho phép thành lập hoặc công nhận, nhưng lại không lệ thuộc vào các cơ quan đó và hoạt động theo sự quản lý điều hành của những người sáng lập; tự trang trải về kinh phí trên nguyên tắc độc lập với chính phủ và nằm trong trong khuôn khổ chung của xã hội
Thứ tư là hoạt động phi lợi nhuận, mục đích của hoạt động của các tổ
chức PCP thường không phải vì mục đích tìm kiếm lợi nhuận và đây cũng là một đặc điểm nổi bật của các tổ chức PCP so với các tổ chức khác Mặc dù
để tồn tại có một số tổ chức PCP thực hiện các hoạt động kinh doanh có thu lợi nhuận, nhưng cần hiểu đó là khoản lợi nhuận để duy trì và phát triển tổ chức theo mục đích tôn chỉ khi thành lập và khoản lợi nhuận đó được dùng
để thực hiện các mục tiêu tổ chức đã đề ra chứ không phải để chia cho các thành viên hay để phục vụ cho tổ chức
1.1.1.3 Vai trò của các tổ chức phi chính phủ tại Việt Nam
Tại Việt Nam, các tổ chức PCP nước ngoài cũng ngày càng nhận được
sự quan tâm của chính phủ và nhân dân Việt Nam Vai trò đóng góp của các
tổ chức PCPNN trong quá trình phát triển KTXH của Việt Nam ngày càng được khẳng định Cụ thể như sau:
Một là, tạo ra nguồn lực góp phần ổn định và phát triển xã hội Muốn
phát triển xã hội cần phải tìm mọi cách thức để huy động được mọi nguồn lực trong xã hội Đặc biệt trong hoàn cảnh nền kinh tế chưa phát triển, nhà nước chưa có đủ điều kiện về mọi mặt, nhất là về tài chính thì vai trò của các tổ chức PCPNN sẽ càng trở nên quan trọng Giá trị nguồn viện trợ của các tổ chức phi chính phủ tuy không lớn nếu so với các nguồn khác, nhưng cũng đã phần nào hỗ trợ Việt Nam giải quyết một số vấn đề khó khăn như chương trình xóa đói giảm nghèo, tăng cường kiến thức, chăm sóc sức khỏe, nâng cao thu nhập của người dân…Nhiều dự án viện trợ của các tổ chức PCPNN không
Trang 20Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn
chỉ giúp giải quyết các vấn đề khó khăn chung mà còn góp phần quan trọng vào quá trình phát triển bền vững của địa phương Ngoài ra, do hình thức viện trợ của các tổ chức PCPNN thường là đưa trực tiếp đến đối tượng thụ hưởng nên đã thực sự giúp được đối tượng cần sự hỗ trợ là những người nghèo, thiệt thòi trong xã hội
Hai là, giúp nâng cao nhận thức, năng lực cho người dân và các thành
viên Bên cạnh những đóng góp về vật chất và hiện vật, các tổ chức PCPNN
cùng các tình nguyện viên của mình còn có các hỗ trợ khác như hướng dẫn kỹ thuật, đào tạo và chuyển giao kinh nghiệm Từ việc tham gia quản lý và thực hiện các dự án các đối tác Việt Nam đã không chỉ tranh thủ được nguồn vốn,
kỹ thuật mà còn học hỏi được kinh nghiệm tổ chức, điều hành hoạt động và quản lý của các tổ chức phi chính phủ nước ngoài, nâng cao kỹ năng chuyên môn, trình độ hiểu biết và phương pháp làm việc của mình
Các tổ chức PCPNN còn có vai trò tích cực trong việc phát huy tính năng động, tăng cường kiến thức, khả năng tự quản lý của người dân Có thể nói, việc tham gia các dự án và hoạt động của các tổ chức phi chính phủ nước ngoài là một môi trường xã hội rèn luyện tính chủ động, sáng tạo cho người dân
Ba là, giúp nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước Các tổ chức PCPNN
qua các hoạt động của mình cũng đã tạo điều kiện để người dân phản ánh được những nhu cầu, tâm tư, nguyện vọng của mình, qua đó giúp nhà nước
có những chủ trương, chính sách và biện pháp quản lý đúng và phù hợp với thực tiễn xã hội
Nhiều chương trình, dự án của các tổ chức phi chính phủ đã có hỗ trợ tích cực trong việc hoạch định các chính sách và hoàn thiện các văn bản quản
lý nhà nước của Việt Nam trên lĩnh vực đó Nhất là các chương trình dự án liên quan đến vấn đề bình đẳng giới, bảo vệ quyền của phụ nữ, trẻ em
Trang 21Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn
Bốn là, mở rộng quan hệ hợp tác và tham gia hội nhập khu vực và thế
giới Các tổ chức phi chính phủ nước ngoài do đặc điểm, tính chất và mục tiêu
hoạt động đã tạo ra sự hợp tác đa phương và song phương giúp các nước có điều kiện mở rộng giao lưu, hợp tác quốc tế trên nhiều lĩnh vực Ngày nay, nhiều hội nghị quan trọng của Liên hiệp quốc, hội nghị khu vực hoặc liên khu vực hay các diễn đàn quốc tế khi được tổ chức thì đều có các diễn đàn song hành của các tổ chức phi chính phủ Trong quá trình xây dựng chính sách, chính phủ các nước phát triển đã hình thành cơ chế tham vấn và lấy ý kiến đóng góp của các tổ chức phi chính phủ Do đó, nếu biết cách tranh thủ tốt thì thông qua các hoạt động của mình, các tổ chức phi chính phủ nước ngoài sẽ góp phần tăng cường hiểu biết và mở rộng quan hệ hữu nghị của nhân dân các nước với Việt Nam, đấu tranh chống lại các luận điệu sai trái, áp đặt chống Việt Nam Đồng thời, giúp chúng ta tuyên truyền một cách hiệu quả, làm cho nước ngoài hiểu đúng hơn và khuyến khích, mời gọi thêm nhiều tổ chức PCPNN khác có các chương trình dự án hỗ trợ Việt Nam phát triển KTXH
1.1.1.4 Phân loại các tổ chức phi chính phủ
Phân loại theo phạm vi hoạt động
Theo phạm vi hoạt động, chúng ta có ba loại hình PCPNN hoạt động tại Việt Nam là:
- Các tổ chức PCPNN mang tính chất quốc gia là tổ chức mà các thành viên đều mang một quốc tịch Các tổ chức này xuất hiện trên thế giới rất sớm Phạm vi hoạt động chủ yếu phục vụ cho từng cộng đồng, hoạt động trong phạm vi một nước Tại Việt Nam các tổ chức dạng này chiếm số lượng đa số tuyệt đối Ví dụ như các tổ chức USAID, NPA, Oxfam Anh Quốc
- Các tổ chức PCPNN mang tính chất quốc tế là tổ chức mà các thành viên của nó mang nhiều quốc tịch khác nhau sáng lập ra Về số lượng, các tổ chức dạng này ít hơn nhiều so với các tổ chức PCP quốc gia, tuy nhiên, phạm vi hoạt động của họ rộng khắp trên thế giới, và họ phải
Trang 22Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn
tuân theo luật pháp của nước nhận sự hợp tác Tính chất hoạt động của các
tổ chức dạng này thường rất chuyên nghiệp, có trụ sở làm việc, biên chế bộ máy, đội ngũ nhân viên đông đảo và làm việc rất chuyên nghiệp Ví dụ các
tổ chức Handicap Quốc tế, OXFAM quốc tế, Plan International, Save the Children, World Vision…
- Các tổ chức PCPNN mang tính chất chính phủ là các tổ chức do chính phủ lập ra hoặc một tổ chức phi chính phủ nào đó hoàn toàn phụ thuộc vào ngân sách của chính phủ Ví dụ các tổ chức Viện Giáo dục Quốc tế (IIE); cơ quan phát triển Quốc tế Thụy Điển (SIDA) …
Phân loại theo hình thức tổ chức
Nếu phân loại theo hình thức tổ chức thì chúng ta có các dạng phi chính phủ nước ngoài chính sau:
- Các Quỹ văn hóa - xã hội: Các tổ chức dạng này thường không trực tiếp triển khai các dự án viện trợ nhân đạo hoặc dự án phát triển mà chủ yếu hoạt động trong các lĩnh vực thuộc kiến trúc thượng tầng như văn hóa, giáo dục, cải cách về thể chế, đào tạo phát triển con người … hoặc tài trợ cho các tổ chức phi chính phủ nước ngoài khác tiến hành các dự án phù hợp với tôn chỉ, mục đích của họ Các quỹ VHXH nói chung có ngân sách lớn, hoạt động ở nhiều nước và có ảnh hưởng khá lớn đối với chính phủ nước họ Tại Việt Nam
số lượng các tổ chức dạng này chiếm tỷ lệ không nhiều như Ford Foundation, Clinton Foudation
- Các tổ chức phi chính phủ có nguồn gốc tôn giáo Các tổ chức này do các tổ chức tôn giáo lập ra hoặc phần lớn nguồn viện trợ của các tổ chức này do các tổ chức tôn giáo, các giáo dân đóng góp Tại Việt Nam số lượng các tổ chức phi chính phủ nước ngoài có nguồn gốc tôn giáo cũng chiếm tỷ lệ khá cao Ví dụ như các tổ chức Tầm nhìn thế giới (WVI), tổ chức Dịch vụ cứu trợ công giáo (CRS)…
Trang 23Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn
- Các tổ chức PCPNN không trực tiếp viện trợ Các tổ chức dạng này thường đứng ra thực hiện dự án nhưng nguồn ngân sách hoạt động không phải của tổ chức mà do tổ chức đó vận động, quyên góp từ chính phủ hoặc các tổ chức phi chính phủ nước ngoài khác Các tổ chức dạng này thường có bộ máy làm việc chuyên nghiệp, có kinh nghiệm điều hành dự án hoặc có đội ngũ tình nguyện viên lớn Ví dụ tổ chức Hỗ trợ nạn nhân bom mìn Tromsoe, Na Uy, tổ chức USAID, tổ chức VAP, Hoa Kỳ (Vietnam Assistance Project)…
- Phần còn lại và chiếm đa số là các tổ chức dạng nhỏ hoặc trung bình Các tổ chức dạng này thường có bộ máy nhỏ gọn, ít nhân viên chuyên nghiệp mà đa phần là tình nguyện viên Đây là lực lượng chủ yếu đang hoạt động trên thế giới cũng như tại Việt Nam Tuy không có nguồn ngân sách và tầm ảnh hưởng lớn nhưng các hiệu quả đem lại của các tổ chức PCPNN dạng này là khá thiết thực
Phân loại theo lĩnh vực hoạt động
Phân loại theo lĩnh vực hoạt động thì các tổ chức PCPNN hoạt động tại Việt Nam gồm các nhóm chính sau:
- Các tổ chức hoạt động trên lĩnh vực y tế: Các tổ chức này thường thực hiện các hoạt động nhằm cung cấp các dịch vụ chăm sóc sức khỏe cho một số đối tượng cụ thể; khuyến khích các hành vi có lợi cho sức khỏe; hỗ trợ nghiên cứu các bệnh, phương pháp phòng ngừa, chữa trị bệnh; hỗ trợ giúp nâng cao năng lực, điều kiện kỹ thuật, trang thiết bị y tế của các đối tác thụ hưởng…Ví
dụ các tổ chức Phẫu thuật nụ cười (OS), Orbis
- Các tổ chức hoạt động trên lĩnh vực HIV/AIDS thường là hỗ trợ chăm sóc người nhiễm HIV/AIDS, các đối tượng bị ảnh hưởng bởi HIV/AIDS và các lĩnh vực liên quan đến HIVAIDS Ngày càng có nhiều tổ chức hoạt động trên lĩnh vực này như Quỹ Clinton, Handicap International
- Nhóm tổ chức hoạt động trên lĩnh vực trẻ em: Các tổ chức này thường thực hiện các hoạt động hỗ trợ, chăm sóc trẻ em (nhất là trẻ em khuyết tật, trẻ
Trang 24Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn
mồ côi, trẻ em đường phố và trẻ có hoàn cảnh khó khăn) bằng nhiều hình thức như hỗ trợ kinh phí nuôi dạy trẻ, giúp trẻ có điều kiện học văn hóa; tổ chức dạy nghề cho trẻ giúp trẻ hội nhập cộng đồng; tuyên truyền, vận động chính sách và hỗ trợ thành lập dịch vụ xã hội nhằm giúp các nhóm trẻ cần sự bảo
vệ Ví dụ các tổ Plan International, tổ chức Bảo vệ trẻ em (Save the Children),
tổ chức Tầm nhìn thế giới (World Vision)
- Nhóm tổ chức hoạt động trên lĩnh vực giáo dục, dạy nghề: Các tổ chức dạng này thường tài trợ các hoạt động đào tạo, dạy nghề, hỗ trợ trang bị kiến thức về một nghề nghiệp nhất định nào đó như sửa chữa xe máy, sửa chữa điện tử, nghề may, nghề mộc, nấu ăn…nhằm giúp những người có hoàn cảnh khó khăn, người khuyết tật và thất nghiệp có điều kiện học nghề, tìm việc làm để tăng thu nhập Hiện có một số tổ chức hoạt động trên lĩnh vực này như tổ chức Quỹ phúc lợi xã hội Eden, Hội hỗ trợ người tàn tật (VNAH), các
dự án hỗ trợ nạn nhân bom mìn như dự án CPI, Dự án RENEW
- Nhóm các tổ chức hoạt động trên lĩnh vực tín dụng hỗ trợ vốn: Hình thức chính thường là tổ chức tập huấn cách sử dụng và quản lý nguồn vốn, cho vay vốn nhằm tạo điều kiện cho các hộ gia đình nghèo tăng thu nhập Nguyên tắc chung là các tổ chức phi chính phủ nước ngoài sẽ không thu hồi lại vốn mà chuyển nó cho đối tác Việt Nam sau khi kết thúc dự án để tiếp tục cho các đối tượng khác vay hoặc dùng vốn đó để thực hiện một hoạt động khác trong địa phương Như tổ chức DOVE Fund, tổ chức VVMF
- Các tổ chức hoạt động trên lĩnh vực hỗ trợ nâng cao năng lực: Đây là lĩnh vực hoạt động khá mới mẻ bên cạnh việc viện trợ về vật chất Các tổ chức phi chính phủ nước ngoài sẽ giúp các cơ quan, tổ chức của Việt Nam tăng cường khả năng tổ chức, quản lý hoạt động Hình thức hoạt động chính của dạng này là chuyển giao kỹ thuật, tổ chức tập huấn, tổ chức hội thảo trao đổi kinh nghiệm qua đó giúp nâng cao năng lực của đối tác
Trang 25Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn
- Các tổ chức hoạt động trên các lĩnh vực khác như nông nghiệp, bảo
vệ và quản lý tài nguyên thiên nhiên, phát triển cộng đồng, phụ nữ…
Ngoài ra còn có một số hình thức phân loại khác như phân loại theo quốc tịch, theo tính chất và quy mô nguồn vốn hay theo khu vực hoạt động cũng thường được sử dụng khi sắp xếp, phân loại các tổ chức phi chính phủ nước ngoài
1.1.2 Quản lý nhà nước về kinh tế đối với các tổ chức PCPNN
1.1.2.1 Khái niệm về quản lý nhà nước về kinh tế đối với các tổ chức PCPNN
Có nhiều ý kiến thống nhất cho rằng: Quản lý là tác động có ý thức, bằng quyền lực theo một quy trình với những nguyên tắc, phương pháp, phong cách, nghệ thuật và các công cụ của chủ thể quản lý tới khách thể quản lý để đạt được mục tiêu của tổ chức trong điều kiện kinh tế - xã hội nhất định [1]
Tuy nhiên, đến nay vẫn có nhiều cách hiểu về quản lý nhà nước với những cách tiếp cận khác nhau:
Tiếp cận từ sự ra đời của nhà nước và quá trình lao động, khái niệm quản lý được hiểu “là một phạm trù xuất hiện trước khi có nhà nước với tính chất là một loại lao động xã hội hay lao động chung được thực hiện ở quy
mô lớn Quản lý được phát sinh từ lao động, không tách rời lao động và bản thân quản lý cũng là một loại lao động”
Từ cách tiếp cận hệ thống thì quản lý nhà nước: “ là hoạt động của toàn bộ bộ máy nhà nước từ cơ quan quyền lực Nhà nước: Quốc hội và Hội đồng nhân dân các cấp, các cơ quan hành chính nhà nước: Chính phủ, Ủy ban hành chính nhà nước, cơ quan kiểm soát: Viện Kiểm sát nhân dân tối cao và Viện Kiểm sát nhân dân các cấp” Theo đó, quan niệm này cho rằng quản lý nhà nước đã bao hàm cả bộ máy lập pháp, bộ máy hành pháp cũng như cơ quan tư pháp Một cách tiếp cận khác cho rằng, quản lý nhà nước là hoạt động của riêng hệ thống cơ quan hành chính Nhà nước: Chính phủ, các Bộ, các cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, Ủy ban nhân dân các cấp,
Trang 26Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn
các sở, phòng ban chuyên môn Từ việc tìm hiểu trên đây, luận văn cho rằng:
"Quản lý nhà nước là sự tác động của các chủ thể mang tính quyền lực nhà nước, bằng nhiều biện pháp, tới các đối tượng quản lý nhằm đạt các mục tiêu các chủ thể quản lý thông qua việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ và nguyên tắc quản lý nhà nước trên cơ sở pháp luật Quản lý nhà nước phải luôn luôn gắn với những mục tiêu, chức năng, nhiệm vụ cụ thể"
Quản lý nhà nước về kinh tế là sự tác động có tổ chức và bằng pháp quyền của Nhà nước lên nền kinh tế quốc dân nhằm sử dụng có hiệu quả nhất các nguồn lực kinh tế trong và ngoài nước, các cơ hội có thể có, để đạt được các mục tiêu phát triển kinh tế đất nước đặt ra trong điều kiện hội nhập và mở rộng giao lưu quốc tế Quản lý nhà nước về kinh tế là nội dung cốt lõi của quản lý xã hội nói chung và nó phải gắn chặt với các hoạt động quản lý khác của xã hội
Theo nghĩa rộng, quản lý Nhà nước về kinh tế được thực hiện thông qua cả ba loại cơ quan lập pháp, hành pháp và tư pháp của Nhà nước Theo nghĩa hẹp, quản lý Nhà nước về kinh tế được hiểu như hoạt động quản lý
có tính chất Nhà nước nhằm điều hành nền kinh tế, được thực hiện bởi cơ quan hành pháp (Chính phủ ở Trung ương và UBND tỉnh ở cấp tỉnh)
Nhà nước quản lý nền kinh tế bằng các công cụ quản lý Hiện nay công
cụ quản lý nhà nước về kinh tế được hiểu theo 2 nghĩa: Dụng cụ và phương tiện, là tất cả những gì giúp nhà nước thực hiện được hành vi quản lý của mình
Từ những khái niệm trên có thể đưa ra khái niệm về quản lý nhà nước
về kinh tế đối với các tổ chức Phi Chính phủ như sau: Quản lý nhà nước
về kinh tế đối với các tổ chức phi Chính phủ nước ngoài là sự tác động có tổ chức và bằng pháp quyền của Nhà nước đến các hoạt động kinh tế của các tổ chức phi Chính phủ nước ngoài nhằm bảo đảm hoạt động của các tổ chức này theo đúng mục đích nhân đạo từ thiện, phù hợp với luật pháp và yêu cầu phát triển kinh tế xã hội của Việt Nam, mặt khác, bảo vệ lợi ích chính đáng
Trang 27Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn
của các tổ chức phi Chính phủ nước ngoài trong quá trình hoạt động trên lãnh thổ Việt Nam, bảo đảm cho mối quan hệ giữa các tổ chức này với các bên đối tác Việt Nam được hài hòa [10]
1.1.2.2 Nguyên tắc quản lý nhà nước về kinh tế đối với các tổ chức PCPNN
Quản lý nhà nước về kinh tế đối với các tổ chức phi chính phủ nước ngoài là một bộ phận trong tổng thể hoạt động quản lý nhà nước của nước ta nói chung Chính vì vậy, lĩnh vực quản lý này cũng phải tuân thủ những nguyên tắc quản lý nhà nước xã hội chủ nghĩa, là những nguyên tắc cho thấy bản chất của xã hội chủ nghĩa của hoạt động quản lý nhà nước Cụ thể có những nguyên tắc cơ bản sau đây:
Nguyên tắc nhân dân làm chủ, Nhà nước quản lý, Đảng lãnh đạo
Đảng đã xác định đây là vừa nguyên tắc cơ bản vừa là cơ chế chung trong quản lý toàn bộ xã hội trong đó có quản lý công tác phi chính phủ nước ngoài Nguyên tắc này đòi hỏi sự quản lý của Nhà nước phải coi trọng vai trò
là chủ của nhân dân, đồng thời khẳng định sự lãnh đạo của Đảng, cũng là khẳng định định hướng xã hội chủ nghĩa Cụ thể nguyên tắc này yêu cầu: Quản lý các tổ chức phi chính phủ nước ngoài trước hết phải đảm bảo đúng đường lối, chính sách chỉ đạo của Đảng về đối ngoại nói chung và đối ngoại nhân dân nói riêng; phải đảm bảo sự quản lý thống nhất ở tầm vĩ mô và chiến lược của nhà nước; phải đảm bảo sao cho tất cả vì nguyện vọng và quyền lợi của nhân dân, phải tăng cường sự tham gia của nhân dân vào công tác quản
lý, để người dân không chỉ đơn thuần là đối tượng nhận viện trợ mà trở thành một bên đối tác trong cơ chế hợp tác ba bên: Chính quyền - nhân dân - các tổ chức phi chính phủ nước ngoài
Nguyên tắc tập trung dân chủ
Đây là nguyên tắc quan trọng nhất, chỉ đạo mọi hoạt động tổ chức, sinh hoạt nội bộ và phong cách làm việc Tập trung và dân chủ là một thể thống nhất, không đối lập, không hạn chế nhau, theo đó Nhà nước giữ quyền thống
Trang 28Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn
nhất quản lý những vấn đề lớn, mang tính chiến lược, cơ bản trao cho trung ương, đồng thời giao quyền hạn và trách nhiệm giải quyết các vấn đề cụ thể cho các bộ, ngành và địa phương để phát huy tính sang tạo, chủ động và linh hoạt của các cấp, các ngành, phát huy quyền làm chủ của nhân dân lao động Tập trung là để tránh buông lỏng, thả nổi, lơ là quản lý dẫn đến các hiện tượng tự do chủ nghĩa, vô chính phủ, mất kiểm soát; dân chủ là để tránh thâu tóm quyền lực dẫn đến độc quyền, độc tài
Nguyên tắc kết hợp quản lý theo ngành với quản lý theo địa phương và vùng lãnh thổ
Nguyên tắc này đòi hỏi các lĩnh vực có sự tham dự của các tổ chức phi chính phủ nước ngoài thì quản lý theo ngành và quản lý theo lãnh thổ phải phối hợp gắn bó với nhau Các bộ ngành và các địa phương có trách nhiệm chung trong việc hoàn thành nhiệm vụ quản lý mà nhà nước giao cho từng bộ, ngành cũng như cho từng địa phương để đạt được mục đích quản lý chung Giữ vững nguyên tắc này là đảm bảo tính hệ thống thứ bậc trên dưới của bộ máy nhà nước, đảm bảo được sự thống nhất giữa cơ cấu ngành với cơ cấu lãnh thổ
Nguyên tắc tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa
Nguyên tắc này đòi hỏi việc quản lý về kinh tế đối với các phi chính phủ nước ngoài phải dựa trên cơ sở pháp luật của nhà nước, không cho phép các cơ quan quản lý của nhà nước thực hiện việc quản lý một cách tùy tiện, theo cảm tính, theo ý muốn chủ quan Để thực hiện tốt nguyên tắc này phải đảm bảo ba điều kiện: Thứ nhất, phải xây dựng và hoàn chỉnh hệ thống pháp luật nói chung
và pháp luật về phi chính phủ nước ngoài nói riêng; Thứ hai, phải giáo dục pháp luật, tăng cường nhận thức và ý thức thuân thủ pháp luật cho cả các tổ chức phi chính phủ nước ngoài và người dân; Thứ ba, xử lý nghiêm minh mọi
Trang 29Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn
vi phạm dù là phía Việt Nam hay phía nước ngoài theo đúng những quy định của pháp luật Việt Nam và phù hợp với luật pháp quốc tế
Nguyên tắc công khai
Tổ chức hoạt động của nhà nước phải công khai, minh bạch Các chính sách, quy định của Nhà nước phải được công khai cho dân biết cũng như cho các tổ chức phi chính phủ nước ngoài biết Nguyên tắc này lại càng đặc biệt quan trọng bởi quản lý các tổ chức phi chính phủ có liên quan rất nhiều đến quản lý tiền, hàng viện trợ và một số quyền lợi kinh tế
1.1.2.4 Đặc điểm của quản lý nhà nước về kinh tế đối với các tổ chức phi chính phủ nước ngoài
Quản lý nhà nước về kinh tế đối với các tổ chức PCPNN là một bộ phận trong tổng thể hoạt động quản lý nhà nước về đối ngoại nhân dân, vì vậy
nó cũng mang những đặc điểm chung của hoạt động QLNN về đối ngoại và đối ngoại nhân dân
Có thể thấy quản lý nhà nước về kinh tế đối với các tổ chức phi chính phủ nước ngoài có một số đặc điểm chính như:
Tính lệ thuộc vào chính trị và hệ thống chính trị
Việc quản lý hoạt động của các tổ chức PCPNN trước hết phải đảm bảo đúng đường lối, chính sách chỉ đạo của Đảng về đối ngoại nói chung và đối ngoại nhân dân nói riêng; phải đảm bảo sự quản lý thống nhất, tăng cường sự tham gia của nhân dân trong công tác quản lý, phát huy cơ chế hợp tác ba bên: Chính quyền- nhân dân vùng hưởng lợi - tổ chức phi chính phủ nước ngoài Do vậy, QLNN đối với các tổ chức phi chính phủ nước ngoài phải luôn song hành với hệ thống chính trị, phù hợp với các quyết sách chính trị của Đảng và Nhà nước
Tính pháp quyền
Trang 30Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn
Mọi hoạt động quản lý nhà nước phải đảm bảo nằm trong khuôn khổ quy định của pháp luật Việc quản lý hoạt động của các tổ chức PCPNN phải dựa trên cơ sở pháp luật của Nhà nước và pháp luật được sử dụng làm công
cụ chủ yếu để quản lý hoạt động của các tổ chức phi chính phủ nước ngoài
Tính thống nhất và linh hoạt
Quản lý nhà nước về kinh tế đối với các tổ chức PCPNN phải dựa trên
cơ sở quy định chung của pháp luật; không cho phép các cơ quan quản lý của Nhà nước thực hiện việc quản lý một cách tùy tiện, theo cảm tính hay theo ý muốn chủ quan Bên cạnh đó, trong quá trình quản lý cũng cần có sự linh hoạt, giao một số quyền hạn và trách nhiệm qua đó tạo điều kiện cho các bộ, ngành và địa phương có thể chủ động, linh hoạt giải quyết một số vấn đề cụ thể nào đó Qua đó, phát huy tính sáng tạo, chủ động và quyền làm chủ của các cấp, các ngành
Tính công khai, minh bạch
Các chính sách, quy định của Nhà nước về quản lý về kinh tế liên quan đến hoạt động của các tổ chức phi chính phủ nước ngoài cần phải được công khai, minh bạch Đây cũng là một đặc điểm quan trọng bởi quản lý nhà nước
về hoạt động của các tổ chức phi chính phủ nước ngoài có liên quan rất nhiều đến quản lý nguồn tiền, hàng viện trợ và một số quyền lợi kinh tế
1.1.2.5 Vai trò của quản lý nhà nước đối về kinh tế với các tổ chức phi chính phủ nước ngoài
Quản lý nhà nước về kinh tế đối với các tổ chức PCPNN đóng vai trò
rất quan trọng trong quá trình phát triển KTXH của đất nước, vai trò đó thể hiện ở các điểm sau:
Một là, quản lý nhà nước nhằm đảm bảo các tổ chức phi chính phủ nước ngoài hoạt động theo đúng quy định của pháp luật Việt Nam
Cùng với việc thực hiện chính sách đối ngoại rộng mở, đa phương và
đa dạng hóa các mối quan hệ số lượng các tổ chức phi chính phủ nước ngoài
Trang 31Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn
hoạt động tại Việt Nam ngày càng tăng lên Có thể thấy quan hệ với cộng đồng PCPNN đang trở thành một bộ phận quan trọng trong tổng thể quan hệ đối ngoại của Việt Nam Các tổ chức PCPNN đã và đang góp phần không nhỏ cùng nhà nước khắc phục các tác động tiêu cực của quá trình phát triển Chính vì lẽ đó, cũng như các lĩnh vực khác, nó tất yếu cần có sự quản lý của nhà nước Có thể nói quản lý nhà nước đối với hoạt động của các tổ chức phi chính phủ nước ngoài là điều hết sức cần thiết, hướng hoạt động của các tổ chức này vào mục tiêu phát triển của đất nước
Mục đích của QLNN về kinh tế đối với hoạt động của các tổ chức PCPNN là nhằm hướng dẫn các tổ chức này hoạt động phù hợp với định hướng của Việt Nam, phù hợp với những yêu cầu, nhiệm vụ phát triển KTXH của công cuộc đổi mới và phù hợp với văn hóa truyền thống của dân tộc Việt Nam QLNN về kinh tế cũng là để đảm bảo cho các tổ chức PCPNN hoạt động trong khuôn khổ pháp luật và những chính sách hiện hành của Việt Nam, đồng thời không trái với pháp luật quốc tế
Hai là, quản lý nhà nước về kinh tế để phát huy mặt tích cực của các
tổ chức phi chính phủ nước ngoài
Không chỉ nhằm mục đích quản lý, quản lý nhà nước còn nhằm mục đích tạo điều kiện thuận lợi cho các tổ chức phi chính phủ nước ngoài hoạt động và phát huy những tác dụng tích cực của mình và qua đó thu hút tối đa mọi nguồn lực đóng góp cho sự phát triển KTXH của Việt Nam
Là một nước nông nghiệp lạc hậu, lại trải qua nhiều năm bị chiến tranh tàn phá, thường xuyên bị thiên tai đe doạ, cuộc sống của người dân còn gặp nhiều khó khăn thiếu thốn, Đảng và Nhà nước Việt Nam đã không ngừng nỗ lực đổi mới, thực hiện công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước để đạt được mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ và văn minh Trong
sự nghiệp to lớn và nặng nề này, chúng ta luôn cần huy động và tranh thủ sự
Trang 32Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn
giúp đỡ quí báu, có hiệu quả của chính phủ các nước và các tổ chức quốc tế trong đó có cả các tổ chức PCPNN
QLNN còn nhằm mục đích khai thác có hiệu quả nguồn viện trợ của các tổ chức phi chính phủ nước ngoài Sự hỗ trợ của các tổ chức PCPNN tuy không lớn so với các nguồn viện trợ khác như viện trợ ODA, song cũng là một nguồn lực quan trọng giúp nhà nước tháo gỡ khó khăn trong giai đoạn khôi phục, xây dựng kinh tế, xóa đói giảm nghèo Nhìn chung nguồn viện trợ này có tác dụng thiết thực đối với nhiều ngành, địa phương và cơ sở, nhất là những cơ sở nghèo và là một nguồn bổ sung đáng kể cho ngân sách quốc gia
Do đó nó có một ý nghĩa nhất định đối với nền kinh tế của Việt Nam, đặc biệt
là khi nguồn viện trợ này được tập trung cho các vùng sâu, vùng xa, vùng bị thiên tai
Bên cạnh đó, ngoài hình thức viện trợ hàng hóa và trang thiết bị trực tiếp (thường là trong những trường hợp cứu trợ khẩn cấp) các tổ chức PCPNN còn hỗ trợ Việt Nam thực hiện các dự án trên nhiều lĩnh vực khác nhau như giúp đỡ người khuyết tật, giải quyết các vấn đề xã hội, giáo dục đào tạo, viện trợ y tế; phát triển nông thôn, xoá đói giảm nghèo, bảo vệ môi trường Không chỉ viện trợ về vật chất mà các tổ chức phi chính phủ nước ngoài còn tài trợ qua nhiều hình thức khác như hỗ trợ kỹ thuật, chuyển giao kinh nghiệm, công nghệ, nâng cao dân trí, chăm sóc y tế, phổ cập giáo dục… Do
đó cần phải quản lý hoạt động của các tổ chức phi chính phủ nước ngoài để đảm bảo nguồn viện trợ đó tới được những nơi, những đối tượng cần nhất và đạt hiệu quả cao nhất
Quản lý nhà nước còn nhằm tranh thủ sự ủng hộ của các tổ chức PCPNN trong công tác đối ngoại nhân dân Trên thế giới hiện nay các tổ chức phi chính phủ ngày càng có vị trí và vai trò quan trọng Các tổ chức PCP được xem như cầu nối trong quan hệ giữa các nước phát triển và các nước đang phát triển Chính phủ nhiều nước trong số các quốc gia tài trợ ngày càng quan tâm, sử
Trang 33Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn
dụng các cơ chế tham vấn, lấy ý kiến của các tổ chức phi chính phủ trong việc xây dựng, hoạch định chính sách, tăng cường sử dụng tổ chức phi chính phủ nước ngoài vào việc triển khai viện trợ cũng như trong thực hiện chính sách đối ngoại của mình Trong bối cảnh ngày càng có nhiều tổ chức PCPNN, trong đó
có nhiều tổ chức PCP quốc tế có sức mạnh kinh tế và tầm ảnh hưởng lớn, vào hoạt động tại Việt Nam thì lại càng cần phải có sự QLNN để từ đó tranh thủ, tác động để các tổ chức phi chính phủ nước ngoài này sẽ có đóng góp tích cực trong việc làm cho nhân dân thế giới hiểu biết hơn về Việt Nam; ủng hộ Việt Nam nhiều hơn cả về kinh tế, chính trị lẫn đối ngoại và chống lại những luận điệu sai lệch bên ngoài về các vấn đề như nhân quyền, dân chủ, tự do tôn giáo, tín ngưỡng Qua đó, ngày càng nâng cao vị trí của Việt Nam trong cộng đồng
Quản lý nhà nước về kinh tế đối với hoạt động của các tổ chức PCPNN nhằm bảo vệ lợi ích dân tộc, độc lập chủ quyền, bí mật quốc gia; ngăn ngừa
rò rỉ thông tin và ngăn ngừa phòng chống sự xâm nhập của các yếu tố độc hại
từ bên ngoài
Quản lý nhà nước về kinh tế còn nhằm ngăn chặn, hạn chế các tác động tiêu cực trong hoạt động của các tổ chức phi chính phủ nước ngoài Đó là:
- Bên cạnh các hoạt động hỗ trợ phát triển và viện trợ nhân đạo, có một
số tổ chức phi chính phủ nước ngoài lại chú trọng đến các hoạt động nhằm
Trang 34Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn
các mục đích khác như: Tuyên truyền lối sống, tư tưởng phương Tây; tìm cách tác động đến quá trình cải cách hành chính, cải cách thể chế, xây dựng pháp luật, chính sách của Việt Nam; thúc đẩy sự ra đời và phát triển của các
tổ chức phi chính phủ Việt Nam hay các tổ chức xã hội dân sự hoạt động độc lập tách khỏi sự quản lý của nhà nước…Các hoạt động đó đã gây ra ảnh hưởng phức tạp tại địa phương Nhất là ở những nơi thiếu sự quản lý chặt chẽ của chính quyền địa phương hoặc ở những nơi chính quyền chưa đủ mạnh
- Nhiều tổ chức PCPNN đang mất dần tính chất phi chính phủ thực sự của mình Trên đà phát triển ngày càng có nhiều tổ chức phi chính phủ nước ngoài lệ thuộc về tài chính vào các cơ quan của chính phủ nên các tổ chức này thường bị tác động bởi ý đồ của cơ quan tài trợ Hoạt động của tổ chức PCPNN thường nhằm vào các đối tượng và mục đích nhất định chứ không còn đơn thuần mang tính chất từ thiện như ban đầu Chẳng hạn như có một số
tổ chức lợi dụng việc thực hiện các hoạt động dự án của mình để khảo sát lấy thông tin của Việt Nam qua đó có những thông tin sai lệch một chiều bất lợi cho Việt Nam Có thể thấy đây là thủ đoạn quen thuộc mà các nước tư bản đã
áp dụng với nhiều nước trên thế giới
- Ngày càng có nhiều tổ chức có gắn bó với các hệ phái tôn giáo lớn, có nguồn gốc tôn giáo hoặc nhận nguồn tài trợ từ các tổ chức tôn giáo đến hoạt động tại Việt Nam Trong quá trình hoạt động nhiều tổ chức trong số này luôn quan tâm và có ý định gây ảnh hưởng về tôn giáo, thậm chí có cả những hành động kích động tư tưởng dân tộc hẹp hòi hay tư tưởng tự do tôn giáo theo kiểu phương tây
Tóm lại, tổ chức PCPNN đang là lĩnh vực có những bước tiến nhanh,
do đó càng cần có sự quan tâm chú ý và quản lý của nhà nước QLNN sẽ tạo điều kiện thuận lợi hướng dẫn các tổ chức phi chính phủ nước ngoài đi đúng hướng, phù hợp với hoàn cảnh của Việt Nam; tranh thủ sự ủng hộ, giúp đỡ của họ trong quá trình thực hiện những nhiệm vụ phát triển KTXH của nước
Trang 35Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn
ta Bên cạnh đó, hoạt động của các tổ chức phi chính phủ nước ngoài tại Việt Nam rất phức tạp và ẩn chứa những yếu tố có thể gây ra tác động tiêu cực đến
an ninh, chính trị, văn hóa, tư tưởng Vì vậy, việc QLNN là điều tất yếu và ngày càng trở nên cần thiết đối với hoạt động của các tổ chức phi chính phủ nước ngoài tại Việt Nam hiện nay Thông qua việc quản lý giúp Việt Nam khuyến khích phát huy những ưu điểm và kịp thời ngăn chặn nhắc nhở những sai phạm của các tổ chức phi chính phủ nước ngoài
1.1.3 Nội dung quản lý nhà nước về kinh tế đối với các tổ chức PCPNN
QLNN về kinh tế đối với các tổ chức PCPNN là một lĩnh vực công tác bao gồm trong đó rất nhiều nội dung Đó chính là những nhiệm vụ mà các chủ thể QLNN đối với các tổ chức PCPNN tại Việt Nam phải đảm trách thực hiện Dưới đây là một số nội dung chủ yếu của việc QLNN về kinh tế đối với các tổ chức PCPNN
1.1.3.1 Xây dựng và ban hành chính sách, pháp luật quản lý nhà nước về kinh tế đối với hoạt động của các tổ chức phi chính phủ nước ngoài
Để thực hiện tốt việc QLNN của mình, nhà nước cần phải sử dụng rất nhiều công cụ quản lý như chính sách, pháp luật, bộ máy, tài sản công…Có thể thấy các nội dung đầu tiên của việc QLNN về kinh tế đối với hoạt động của các tổ chức PCPNN chính là xây dựng và ban hành các chính sách và các văn bản pháp luật về QLNN đối với các tổ chức PCPNN tại Việt Nam
Xây dựng và ban hành chính sách là một nội dung quan trọng và phức tạp trong QLNN đối với hoạt động của các tổ chức PCPNN Các chính sách QLNN đối với các tổ chức PCPNN chính là tổng thể các giải pháp công cụ
mà nhà nước sử dụng để tác động lên các tổ chức này để thực hiện những mục tiêu nhất định theo định hướng của nhà nước
Để đảm bảo sự quản lý ở tầm vĩ mô, Nhà nước cần phải xây dựng các chính sách, chiến lược lâu dài và quy hoạch tổng thể cho công tác QLNN về kinh tế đối với hoạt động của các tổ chức PCPNN; định hướng và xác định
Trang 36Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn
triển vọng hợp tác giữa Việt Nam với các tổ chức PCPNN trong tương lai Yêu cầu đề ra khi xây dựng các chính sách QLNN trên lĩnh vực này là phải tạo ra được một hệ thống các chính sách đồng bộ với nhau và thống nhất chung với chính sách QLNN trên các lĩnh vực khác Có như vậy mới có thể tạo ra được một sự phát triển đồng bộ Nhiệm vụ của nhà nước là xây dựng được hệ thống chính sách, quy định, phù hợp với tình hình thực tế và với nhiệm vụ cụ thể của từng thời kỳ nhất định Bằng việc xây dựng và ban hành các chính sách, Nhà nước hỗ trợ, khuyến khích, động viên, tạo điều kiện thuận lợi giúp các tổ chức PCPNN hoạt động trên cơ sở đảm bảo quan điểm của Đảng, chính sách của Nhà nước đối với công tác đối ngoại nói chung và PCPNN nói riêng
Bên cạnh đó, QLNN về kinh tế đối với hoạt động của các tổ chức PCPNN còn phải dựa trên cơ sở pháp luật Pháp luật chính là yếu tố phân biệt QLNN với những dạng quản lý khác Điều đó có nghĩa tất cả các tổ chức PCPNN, không phân biệt hình thức tổ chức, quy mô, lĩnh vực hoạt động hay quốc gia gốc đều phải tổ chức và hoạt động trên cơ sở pháp luật của Việt Nam
Cụ thể nội dung này là xây dựng và ban hành hệ thống pháp luật có liên quan đến hoạt động của các tổ chức PCPNN tại Việt Nam để làm cơ sở cho công tác QLNN về kinh tế; sử dụng pháp luật điều chỉnh có tính cưỡng chế trong QLNN về kinh tế đối với hoạt động của các tổ chức PCPNN
Đối với phía Việt Nam, sử dụng pháp luật nhằm tranh thủ tận dụng những tác động tích cực và hạn chế những tác động tiêu cực của các tổ chức PCPNN đối với sự phát triển KTXH; đối với phía các tổ chức PCPNN pháp luật tạo lập cho họ một môi trường hoạt động chính thức, và cho thấy quyền lợi của họ cũng được nhà nước Việt Nam bảo đảm
Pháp luật QLNN về kinh tế đối với các tổ chức PCPNN không chỉ gồm các quy định về quan hệ đối ngoại mà còn bao gồm cả các chế định về ngoại
Trang 37Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn
thương, tài chính…Toàn bộ hệ thống này cần phải phù hợp với điều kiện cụ thể, với định hướng phát triển của đất nước ta và với luật pháp quốc tế
Trong thực tế có thể nói PCPNN cũng là một lĩnh vực khá mới mẻ, nên nước ta vẫn chưa có hệ thống pháp luật về quản lý hoạt động của các tổ chức PCP (nhất là các tổ chức PCPNN) một cách hoàn chỉnh mà mới chỉ dừng lại ở mức độ là một số các văn bản quy phạm pháp luật riêng lẻ Trước năm 1989, khi chưa có nhiều hoạt động của các tổ chức PCPNN tại Việt Nam thì không có một khuôn khổ pháp lý quy định rõ ràng Từ năm 1989, nhất là từ năm 1995 trở lại đây số lượng các tổ chức PCPNN vào hoạt động ngày càng gia tăng, phương thức và tính chất cũng thay đổi nhiều Do đó, để có đầy đủ cơ sở pháp lý cho hoạt động của các tổ chức PCPNN Thủ tướng Chính phủ đã thành lập Ủy ban công tác về các tổ chức PCPNN và ban hành một số văn bản pháp quy liên quan
Tuy nhiên thực tế cho thấy, nội dung điều chỉnh của các văn bản này thực
sự vẫn chưa theo kịp yêu cầu của sự phát triển Việc áp dụng phương thức QLNN theo pháp luật, bằng pháp luật đối với các tổ chức PCPNN vẫn còn nhiều bất cập Để có thể tiếp tục QLNN đối với hoạt động của các tổ chức PCPNN và tranh thủ nguồn viện trợ một cách hiệu quả phục vụ nhu cầu phát triển kinh tế -
xã hội trong điều kiện đất nước còn khó khăn, cần phải tiếp tục xây dựng và hoàn thiện các văn bản pháp quy từ đó tạo môi truờng pháp lý thuận lợi cho việc QLNN đối với hoạt động của các tổ chức PCPNN tại Việt Nam
1.1.3.2 Tổ chức thực hiện thể chế quản lý nhà nước về kinh tế đối với các tổ chức phi chính phủ nước ngoài tại Việt Nam
Việc tổ chức thực hiện thể chế QLNN về kinh tế đối với hoạt động của các tổ chức PCPNN ở nước ta trên phương diện lý luận phải tập trung vào một số hoạt động chính sau:
Một là, QLNN về sự hiện diện và hoạt động của các tổ chức PCPNN
Nhiệm vụ đầu tiên trong QLNN đối với các tổ chức PCPNN là quyết định cho hay không cho các tổ chức PCPNN vào Việt Nam, triển khai các
Trang 38Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn
hoạt động của mình trên lãnh thổ Việt Nam, tại địa phương nào và trong thời gian bao lâu Nói cách khác, đây là việc quản lý sự hiện diện của các tổ chức PCPNN thông qua hình thức quản lý việc xét cấp, gia hạn, sửa đổi, thu hồi giấy phép của các tổ chức PCPNN
Giấy phép chính là cơ sở đầu tiên giúp các cơ quan quản lý nắm được thông tin về các tổ chức PCPNN cũng như hoạt động của các tổ chức này tại Việt Nam
Theo Quy chế hoạt động của các tổ chức phi chính phủ nước ngoài tại Việt Nam ban hành kèm theo Quyết định 340/TTg, ngày 24/05/1996 thì các
tổ chức PCPNN để được tiến hành các hoạt động hỗ trợ phát triển, viện trợ nhân đạo tại Việt Nam không vì mục đích lợi nhuận hoặc các mục đích khác, phải được phép của Chính phủ Việt Nam dưới các hình thức: Giấy phép hoạt động, Giấy phép lập Văn phòng dự án hoặc Giấy phép lập Văn phòng đại diện Việc QLNN thông qua giấy phép được thực hiện bằng các hình thức chính sau:
- Quy định cơ quan có thẩm quyền xét cấp, gia hạn, sửa đổi và thu hồi các loại giấy phép Theo Quy chế ban hành kèm Quyết định 340/TTg thì Ủy ban công tác về các tổ chức PCPNN là cơ quan có thẩm quyền xét cấp, gia hạn, sửa đổi, bổ sung và thu hồi các loại giấy phép Liên hiệp các tổ chức hữu nghị Việt Nam được chỉ định là cơ quan thường trực về công tác phi chính phủ nước ngoài chịu trách nhiệm phối hợp cùng các Cục - Vụ chức năng của các bộ, ngành trung ương cũng như các địa phương để kiến nghị và đề xuất xử lý các vấn đề liên quan đến hoạt động của các tổ chức PCPNN tại Việt Nam
- Quy định điều kiện để được xét cấp giấy phép và thủ tục xin cấp, gia hạn, sửa đổi, bổ sung và thu hồi giấy phép
- Quy định về cơ chế phối hợp giữa các cơ quan QLNN với tổ chức PCPNN trong việc cấp, gia hạn, sửa đổi, bổ sung và thu hồi giấy phép
Trang 39Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn
- Các quy định khác như Quy định về thời gian đối với từng loại giấy phép; Quy định về quy trình, thủ tục, thời hạn của việc gia hạn, sửa đổi, bổ sung và thu hồi giấy phép
Có thể nói, giấy phép đã trở thành cơ sở pháp lý để quản lý và điều chỉnh hoạt động của các tổ chức PCPNN, tạo điều kiện thuận lợi cho những tổ chức hoạt động có hiệu quả, đồng thời hạn chế hoặc chấm dứt hoạt động của các tổ chức có biểu hiện phức tạp, vi phạm pháp luật, viện trợ không có hiệu quả hay có những hoạt động không nhằm mục đích nhân đạo, từ thiện, phi lợi nhuận như hoạt động truyền bá tôn giáo, môi giới con nuôi, thúc đẩy nhân quyền và các hoạt động tiêu cực khác
Hai là, QLNN về các chương trình, dự án viện trợ của các tổ chức PCPNN và việc sử dụng nguồn viện trợ của các tổ chức PCPNN
Quản lý hoạt động viện trợ và sử dụng nguồn viện trợ của các tổ chức PCPNN là nhiệm vụ rất quan trọng trong tổng thể các nội dung của QLNN đối với hoạt động của các tổ chức PCPNN Nhà nước cần thống nhất quản lý về nguồn viện trợ PCPNN, điều phối giám sát để đảm bảo sử dụng nguồn viện trợ đúng mục đích và có hiệu quả Công tác quản lý này phải được lãnh đạo các bộ ngành, các địa phương quan tâm chỉ đạo Đặc biệt cần phải có sự tham gia của các cơ quan tài chính các cấp
Việc quản lý nguồn viện trợ trước đây được thực hiện theo Quyết định
số 64/2001/QĐ-TTg, ngày 26/04/2001 của Thủ tướng chính phủ Tuy nhiên, sau hơn 8 năm thực hiện Quyết định này đã bộc lộ một số bất cập do hệ thống pháp lý liên quan của Việt Nam và thực tiễn hoạt động viện trợ của các tổ chức PCPNN đã có nhiều thay đổi Xuất phát từ yêu cầu đó, ngày 22/10/2009 Thủ tướng chính phủ đã ban hành Nghị định 93/NĐ-CP kèm Quy chế quản lý
và sử dụng viện trợ phi PCPNN (thay thế cho Quyết định số TTg) để làm cơ sở pháp lý cho việc QLNN về nguồn viện trợ PCPNN Nghị định này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/01/2010
Trang 4064/2001/QĐ-Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn
Theo Quy chế này, nguồn viện trợ PCPNN được hiểu là viện trợ không hoàn lại, không vì mục đích lợi nhuận của bên tài trợ để thực hiện các mục tiêu phát triển và nhân đạo dành cho Việt Nam Bên tài trợ gồm các tổ chức PCPNN, các tổ chức và cá nhân người nước ngoài khác, kể cả các tập đoàn, công ty có vốn nước ngoài, cộng đồng người Việt Nam định
cư ở nước ngoài tôn trọng và chấp hành luật pháp Việt Nam, có thiện chí, cung cấp trực tiếp viện trợ không hoàn lại nhằm hỗ trợ cho các mục tiêu phát triển KTXH và nhân đạo của Việt Nam Các phương thức cung cấp viện trợ PCPNN được thể hiện dưới ba hình thức chủ yếu là viện trợ thông qua các chương trình, dự án, viện trợ phi dự án và viện trợ khẩn cấp trong trường hợp có thiên tai hoặc tai họa khác [9]
Nguyên tắc cơ bản trong QLNN về viện trợ PCPNN và sử dụng nguồn viện trợ là chính phủ thống nhất quản lý viện trợ PCPNN trên cơ sở công khai, minh bạch, có phân công, phân cấp, gắn quyền hạn với trách nhiệm, đảm bảo
sự phối hợp chặt chẽ và phát huy tính chủ động của các cấp, các cơ quan quản
lý ngành, địa phương, tổ chức và các đơn vị thực hiện Mọi khoản viện trợ đều phải ghi vào nguồn thu ngân của nhà nước Các khoản viện trợ khi xây dựng và triển khai phải tuân thủ theo quy định pháp luật của Việt Nam, không tiếp nhận những khoản viện trợ có thể gây ảnh hưởng đến an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội, xâm hại đến lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp tác của tổ chức, cá nhân
Nghị định này cũng đã đưa ra các quy định cụ thể về hoạt động QLNN đối với nguồn viện trợ PCPNN như:
- Quy định rõ thẩm quyền phê duyệt và phân cấp thẩm quyền phê duyệt viện trợ PCPNN; việc phân cấp thẩm quyền phê duyệt khoản viện trợ PCPNN được xem xét theo tính chất, phạm vi và mục đích viện trợ, không phụ thuộc vào quy mô khoản viện trợ