Các bước của công trình nghiên cứu đánh giá được tiến hành với việc lựa chọn, xây dựng hệ thống chỉ tiêu đánh giá; Xây dựng thang điểm, bậc trọng số cho chỉ tiêu; Lựa chọn phương pháp đá
Trang 2LUẬN VĂN THẠC SĨ ĐỊA LÝ TỰ NHIÊN
Người hướng dẫn khoa học: TS ĐỖ VĂN THANH
HÀ NỘI, 2017
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan bản luận án này là kết quả nghiên cứu của cá nhân tôi Các
số liệu và tài liệu được trích dẫn trong luận án là trung thực Kết quả nghiên cứu này không trùng với bất cứ công trình nào đã được công bố trước đó
Tôi chịu trách nhiệm với lời cam đoan của mình
Hà Nội, tháng 7 năm 2017
Tác giả luận
Trần Xuân Quang
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Luận văn được hoàn thành tại khoa Địa lý, trường Đại học Sư phạm Hà Nội,
dưới sự hướng dẫn khoa học nghiêm túc, sự chỉ bảo tận tình của TS Đỗ Văn Thanh - người đã trực tiếp hướng dẫn, giúp đỡ và động viên tác giả trong suốt quá
trình làm luận văn Qua đây tác giả xin giành lời cảm ơn chân thành và sâu sắc nhất tới thầy
Tác giả xin chân thành cảm ơn Ban chủ nhiệm khoa Địa lý, các thầy cô trong khoa Địa lý, tổ Địa lý tự nhiên Trường Đại học Sư phạm Hà Nội đã nhiệt tình giúp
đỡ, giảng dạy tác giả trong suốt quá trình học tập tại trường
Tác giả cũng xin gửi lời cảm các cán bộ của Phòng Tài nguyên môi trường huyện Con Cuông, Chi cục thống kê huyện Con Cuông đã tạo điều kiện và tận tình giúp đỡ trong thời gian tác giả tiến hành nghiên cứu, giúp tác giả hoàn thành luận văn này
Xin gửi lời cảm ơn đến gia đình, bạn bè, các thành viên trong Nhóm Địa lý
tự nhiên - K25 đã quan tâm, động viên, giúp đỡ tác giả trong suốt thời gian học tập
và nghiên cứu tại trường
Xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, tháng 7 năm 2017
Tác giả luậnvăn
Trần Xuân Quang
Trang 5MỤC LỤC
Trang
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT v
DANH MỤC BẢNG, HÌNH vi
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN NGHIÊN CỨU ĐÁNH GIÁ CẢNH QUAN CHO PHÁT TRIỂN NÔNG, LÂM NGHIỆP HUYỆN CON CUÔNG 9
1.1 Tổng quan các công trình nghiên cứu có liên quan đến đề tài 9
1.1.1 Các công trình nghiên cứu cảnh quan trên thế giới 9
1.1.2 Ở Việt Nam 11
1.1.3 Tổng quan các công trình nghiên cứu ở huyện Con Cuông, tỉnh Nghệ An 13
1.2 Cơ sở lý luận về đánh giá cảnh quan cho phát triển nông, lâm nghiệp 14 1.2.1 Quan niệm về cảnh quan 14
1.2.2 Lý luận chung về nghiên cứu cảnh quan 15
1.2.3 Lý luận về đánh giá cảnh quan cho các ngành kinh tế nông lâm nghiệp 26
CHƯƠNG 2 CÁC NHÂN TỐ THÀNH TẠO CẢNH QUAN VÀ ĐẶC ĐIỂM CẢNH QUAN HUYỆN CON CUÔNG, TỈNH NGHỆ AN 28
2.1 Đặc điểm, vai trò các nhân tố thành tạo cảnh quan huyện Con Cuông, tỉnh Nghệ An 28
2.1.1 Vị trí địa lý 28
2.1.2 Các nhân tố tự nhiên 30
2.2 Đặc điểm cảnh quan huyện Con Cuông, tỉnh Nghệ An 59
Trang 62.2.1 Phân loại cảnh quan huyện Con Cuông 59
2.2.2 Phân vùng cảnh quan huyện Con Cuông 74
CHƯƠNG 3 ĐÁNH GIÁ CẢNH QUAN HUYỆN CON CUÔNG 75
VÀ ĐỀ XUẤT ĐỊNH HƯỚNG SỬ DỤNG 75
3.1 Đánh giá cảnh quan huyện Con Cuông cho phát triển nông lâm nghiệp75 3.1.1 Đánh giá cảnh quan cho phát triển lâm nghiệp huyện Con Cuông 76
3.1.2 Đánh giá mực độ thích nghi sinh thái cho cây cam huyện Con Cuông 91
3.2 Đề xuất định hướng khai thác và sử dụng hợp lý một số loại tài nguyên huyện 94
3.2.1 Cơ sở khoa học của việc đề xuất 94
3.2.2 Một số định hướng sử dụng hợp lý tài nguyên theo các đơn vị cảnh quan và định hướng không gian ưu tiên phát triển các ngành sản xuất nông nghiệp 97
3.2.3 Một số định hướng phát triển cây cam và các cây khác 99
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 101
TÀI LIỆU THAM KHẢO 104
Trang 8DANH MỤC BẢNG, HÌNH
Trang
Hình
Hình 1.1 Mô hình đơn hệ thống (V.X Preobrajenxki) 21
Hình 1.2 Mô hình đa hệ thống (V.X Preobrajenxki) 23
Bảng Bảng 2.1 Diện tích các kiểu địa theo xã địa bàn huyện Con Cuông 34
Bảng 2.2 Tổng số giờ nắng trung bình nhiều năm huyện Con Cuông 36
Bảng 2.3 Số ngày khô nóng trung bình nhiều năm ở huyện Con Cuông 36
Bảng 2.4 Lượng mưa trung bình nhiều năm tại Con Cuông 36
Bảng 2.5 Độ ẩm không khí trung bình huyện Con Cuông 37
Bảng 2.7 Thảm thực vật rừng phân bố trên nhiều hệ sinh thái khác nhau 44
Bảng 2.8 Biến động về diện tích, dân số và mật độ dân số giai đoạn 2001 - 2015 47 Bảng 2.9 Tốc độ tăng trưởng kinh tế phân theo ngành giai đoạn 2000 - 2015 51
Bảng 2.10 Cơ cấu giá trị tăng thêm của huyện Con Cuông phân theo ngành kinh tế giai đoạn 2000 - 2015 51
Bảng 2.11 Giá trị sản xuất và cơ cấu giá trị sản xuất ngành nông - lâm - ngư nghiệp giai đoạn 2000 - 2015 53
Bảng 2.12 Diện tích gieo trồng cây lương thực có hạt 54
Bảng 2.13 Sản lượng đàn gia súc 56
Bảng 2.14 Giá trị sản xuất và cơ cấu giá trị sản xuất ngành công nghiệp năm 2010 và 2015 (giá hiện hành) 58
Bảng 2.15 Diện tích độ dốc các cấp huyện Con Cuông 69
Bảng 3.1 Phân cấp chỉ tiêu đánh giá cảnh quan cho mục đích phòng hộ 78
Bảng 3.2 Kết quả đánh giá TNST cảnh quan cho đất rừng phòng hộ 80
Bảng 3.3 Phân cấp chỉ tiêu đánh giá cảnh quan cho mục đích phát triển rừng sản xuất 82
Bảng 3.4 Kết quả đánh giá TNST cảnh quan cho đất rừng sản xuất 83
Bảng 3.5 Chỉ tiêu đánh giá cảnh quan cho mục đích trồng cây hàng năm 86
Bảng 3.6 Kết quả đánh giá TNST cảnh quan cho sản xuất nông nghiệp 87
Bảng 3.7 Chỉ tiêu đánh giá cảnh quan cho cây mía mục đích trồng míam 89
Bảng 3.8 Kết quả đánh giá TNST cảnh quan cây mía 90
Bảng 3.9 Đánh giá riêng các chỉ tiêu của loại cảnh quan đối với cây cam 93
Bảng 3.10 Kết quả đánh giá TNST cảnh quan cho cây cam 94
Trang 9MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của cả nước và từng vùng lãnh thổ nước ta ở các giai đoạn trước mắt và lâu dài, vấn đề sử dụng hợp lý các điều kiện tự nhiên, tài nguyên thiên nhiên, tận dụng và khai thác có hiệu quả các nguồn lực tự nhiên cho mục đích phát triển kinh tế - xã hội là những vấn đề hết sức quan trọng và cấp thiết Đặc biệt, phát triển bền vững ở miền núi hiện nay còn gặp nhiều khó khăn do những trở ngại về các mặt như điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội, việc khai thác sử dụng tài nguyên chưa hợp với các điều kiện sinh thái lãnh thổ dẫn đến
sự suy thoái và cạn kiệt tài nguyên Do vậy mục tiêu khai thác sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên (TNTN) đối với các vùng lãnh thổ cụ thể là một trong những vấn đề mang tính chiến lược hiện nay, nhất là ở miền núi, nơi có các điều kiện tự nhiên và sự phân hóa tự nhiên rất đa dạng và phức tạp
Nghiên cứu cảnh quan hiện nay là cảnh quan ứng dụng theo hướng tiếp cận
đa ngành, đa tỷ lệ, có tính đến sự biến đổi cấu trúc, chức năng, động lực của cảnh quan (CQ) theo không gian và thời gian Đây là những cơ sở khoa học và là hướng nghiên cứu quan trọng cho sử dụng hợp lý tài nguyên, bố trí hợp lý không gian lãnh thổ, bảo vệ môi trường hướng đến mục tiêu phát triển bền vững
Huyện Con Cuông, tỉnh Nghệ An có nhiều tiềm năng để phát triển kinh tế, tuy nhiên hiện trạng phát triển còn chưa xứng với tiềm năng, việc khai thác còn thiếu cơ sở khoa học nên hiệu quả của một số loại hình sản xuất còn thấp Tài nguyên suy thoái, môi trường ô nhiễm làm ảnh hưởng đến các hoạt động sản xuất của huyện Vấn đề cấp bách đặt ra đối với khu vực lãnh thổ này là cần phải có một chiến lược phát triển tổng thể với những giải pháp khai thác, sử dụng hợp lý tài nguyên nhằm phát huy lợi thế, tiềm năng của huyện Vì vậy, nghiên cứu và đánh giá cảnh quan phục vụ mục đích phát triển bền vững nông, lâm nghiệp là rất cần thiết
Từ thực tiễn trên tác giả lựa chọn đề tài “Đánh giá cảnh quan cho mục đích
sử dụng hợp lý tài nguyên huyện Con Cuông, tỉnh Nghệ An” nhằm góp phần giải
Trang 10quyết những vấn đề bất cập trong khai thác, sử dụng tài nguyên, bảo vệ môi trường của huyện theo mục tiêu phát triển bền vững
2 Mục tiêu và nhiệm vụ của đề tài
2.1 Mục tiêu
Xác lập cơ sở khoa học cho khai thác và sử dụng hợp lý tài nguyên theo hướng phát triển bền vững huyện Con Cuông, tỉnh Nghệ An trên cơ sở đánh giá cảnh quan cho phát triển các ngành kinh tế nông, lâm nghiệp của huyện
2.2 Nhiệm vụ
- Xác lập cơ sở lý luận vận dụng cho đề tài trên cơ sở tổng quan tài liệu có liên quan đến nghiên cứu, đánh giá cảnh quan phục vụ sử dụng hợp lý tài nguyên theo hướng phát triển bền vững Vận dụng cụ thể vào địa bàn nghiên cứu là huyện Con Cuông, tỉnh Nghệ An
- Phân tích các nhân tố thành tạo cảnh quan huyện Con Cuông Thành lập bản đồ cảnh quan huyện Con Cuông tỉ lệ 1: 50.000 Phân tích cấu trúc cảnh quan nhằm làm sáng tỏ quy luật phân hóa tự nhiên của huyện
- Đánh giá thích nghi sinh thái các cảnh quan phục vụ phát triển các ngành kinh tế nông, lâm nghiệp của huyện Con Cuông
- Kiến nghị định hướng sử dụng hợp lý tài nguyên, bảo vệ môi trường huyện Con Cuông, tỉnh Nghệ An
Trang 11- Dựa trên kết quả đánh giá cảnh quan và hiện trạng khai thác và sử dụng tài nguyên, luận văn đề xuất những biện pháp sử dụng hợp lý tài nguyên và bảo vệ môi trường trên địa bàn huyện Con Cuông
4 Quan điểm và phương pháp nghiên cứu
4.1 Quan điểm nghiên cứu
4.1.1 Quan điểm tổng hợp
Là quan điểm truyền thống khi nghiên cứu địa lý, thể hiện cả trong nội dung
và phương pháp nghiên cứu Khi nghiên cứu các thành phần CQ, phải đặt nó trong mối quan hệ với các thành phần khác, đặt trong tổng thể CQ của lãnh thổ nghiên cứu Từ những nghiên cứu rời rạc từng thành phần, từng bộ phận của khu vực, từng cấp phân loại CQ phải có sự tổng hợp để nhìn nhận và đánh giá chúng trong toàn bộ
hệ thống CQ lãnh thổ Nghiên cứu một cách đồng bộ và toàn diện các yếu tố, thành phần CQ cũng như mối quan hệ giữa chúng
Quan điểm tổng hợp trong nghiên cứu địa lý tự nhiên là việc nghiên cứu các đối tượng trong tổng hòa các mối liên hệ giữa chúng với nhau Quan điểm này yêu cầu phải nhìn các sự vật, hiện tượng địa lý trong mối tương tác với nhau, bởi các sự vật, hiện tượng địa lý từ giới vô cơ, hữu cơ đến xã hội loài người đều có những quy luật vận động phức tạp Sự thay đổi của một bộ phận tự nhiên hay một hợp phần nào đó có thể dẫn đến những biến đổi lớn các bộ phận tự nhiên hay hợp phần khác
và trong hoạt động của cả tổng thể
Quan điểm tổng hợp được vận dụng làm cơ sở để nghiên cứu, đánh giá cảnh quan cho mục đích sử dung hợp lý tại nguyên huyện Con Cuông Từ đó, đề xuất các định hướng bố trí không gian sản xuất nông, lâm nghiệp hợp lý
Trang 12Quan điểm hệ thống là cơ sở cho phép xác định lãnh thổ nghiên cứu là một
hệ thống lớn chứa đựng các hệ thống con trong nó, đồng thời cũng là hệ thống con trong mối liên hệ với các lãnh thổ cấp cao hơn, tạo nên sự phân hóa đa dạng của lãnh thổ Tính hệ thống giúp nhìn nhận vấn đề một cách tổng hợp và phát hiện mối liên hệ liên ngành trong từng đơn vị lãnh thổ
Quan điểm hệ thống cho phép phân tích, xác định mối quan hệ hữu cơ trong hoạt động khai thác - sử dụng tài nguyên và phát triển kinh tế - xã hội huyện Con Cuông Quan điểm này được vận dụng trong nghiên cứu các hệ thống tự nhiên và kinh tế - xã hội để phân loại các cảnh quan theo chức năng, làm cơ sở cho việc đề xuất các định hướng bố trí không gian sản xuất nông, lâm nghiệp hợp lý
4.1.3 Quan điểm lãnh thổ
Quan điểm lãnh thổ cho rằng các đối tượng nghiên cứu đều phải gắn với một lãnh thổ cụ thể, không chỉ vậy nó còn có mối quan hệ mật thiết với những lãnh thổ xung quanh Do vậy không chỉ đặt đối tượng nghiên cứu trong lãnh thổ của chúng mà còn phải đặt chúng trong một không gian lớn hơn mới có thể so sánh, cắt nghĩa một cách chính xác và toàn diện.Trong mỗi lãnh thổ, luôn có sự phân hóa nội tại đồng thời có mối quan hệ chặt chẽ với những lãnh thổ xung quanh cả về tự nhiên cũng như kinh tế - xã hội Do đó, các nghiên cứu địa lý đều gắn với một lãnh thổ cụ thể
Quan điểm lãnh thổ được vận dụng để xem xét sự phân hóa đa dạng của lãnh thổ huyện Con Cuông thông qua sự phân hóa các cảnh quan trong trong huyện
4.1.4 Quan điểm phát triển bền vững
Phát triển bền vững là sự phát triển đáp ứng một cách đầy đủ các nhu cầu của thế hệ hiện tại mà không làm phương hại đến khả năng thoả mãn nhu cầu của thế hệ tương lai Phát triển bền vững đảm bảo sự hài hoà giữa các mục tiêu tăng trưởng kinh tế với mục tiêu giữ gìn ổn định của văn hóa, xã hội và bảo vệ môi trường
Vận dụng quan điểm phát triển bền vững tiến hành nghiên cứu đánh giá cảnh quan huyện Con Cuông nhằm phục vụ mục đích phát triển nông, lâm nghiệp của huyện thì các hướng đề xuất đó phải đảm bảo tối ưu về các phương diện: Kinh tế -
Trang 13xã hội - môi trường Điều này rất quan trọng vì hiện tại công tác quy hoạch sử dụng TNTN của huyện còn nhiều bất cập Trong khi đó, sản xuất nông, lâm nghiệp chiếm
tỷ trọng lớn trong cơ cấu ngành kinh tế của huyện; tốc độ tăng trưởng kinh tế lại chưa thật ổn định… Vì thế, việc đánh giá cảnh quan và đề xuất các phương án bố trí không gian sản xuất thích hợp trong sản xuất nông, lâm nghiệp là cơ sở khoa học quan trọng và tạo nên động lực rất lớn cho sự phát triển lâu dài của huyện trong tương lai
4.2 Phương pháp nghiên cứu
4.2.1 Phương pháp thu thập, phân tích và tổng hợp tài liệu
Phương pháp này được sử dụng trong giai đoạn đầu của việc nghiên cứu, sau khi đã xác định được hướng nghiên cứu của đề tài Đây là phương pháp rất cần thiết trong việc tiếp cận vấn đề nghiên cứu Trên cơ sở mục đích nghiên cứu của đề tài, tác giả tiến hành thu thập các tài liệu và hệ thống hóa theo đề cương và nội dung nghiên cứu của đề tài đã được xác định trước, khi đó sẽ tránh những thiếu sót cho bước tổng hợp về sau Nguồn tài liệu của luận văn gồm các bản đồ được thu thập từ nhiều nguồn khác nhau, các dữ liệu thống kê về điều kiện tự nhiên, về kinh tế - xã hội, các số liệu, tài liệu điều tra khảo sát thực địa Các dữ liệu trên sau khi đã được
xử lý, phân tích sẽ là cơ sở cho quá trình thực hiện đánh giá cảnh quan sinh thái huyện Con Cuông, từ đó đề xuất những định hướng để quy hoạch bố trí không gian sản xuất nông, lâm nghiệp hợp lý
4.2.2 Phương pháp bản đồ, biểu đồ và hệ thông tin địa lý (GIS)
Đây là các phương pháp không thể thiếu trong mọi công trình nghiên cứu địa
lý Trong đề tài, phương pháp GIS được vận dụng, phân loại, tích hợp các lớp dữ liệu hợp phần cảnh quan, chồng xếp các lớp dữ liệu, xây dựng các bản đồ chuyên đề
Các phần mềm GIS được sử dụng trong luận văn là ArcGIS 10 (chuẩn hóa
dữ liệu, xử lý, chồng xếp bản đồ), MapInfo 9.0 (chỉnh lý và biên tập bản đồ, thành lập bản đồ chuyên đề)
Phương pháp bản đồ hỗ trợ trong việc thể hiện nội dung và kết quả nghiên cứu của đề tài Đề tài luận văn xây dựng hệ thống các bản đồ thành phần và các bản
Trang 14đồ chuyên đề huyện Con Cuông: Bản đồ hành chính, bản đồ địa hình, bản đồ địa chất, bản đồ thổ nhưỡng, bản đồ thảm thực vật là những bản đồ kết quả của đề tài
4.2.3 Phương pháp phân tích, đánh giá cảnh quan
Phương pháp phân tích được thể hiện trong đề tài để phân tích các nhân tố thành tạo cảnh quan lãnh thổ nghiên cứu làm cơ sở cho công tác đánh giá Phương pháp đánh giá được áp dụng triệt để trong quá trình nghiên cứu Các bước của công trình nghiên cứu đánh giá được tiến hành với việc lựa chọn, xây dựng hệ thống chỉ tiêu đánh giá; Xây dựng thang điểm, bậc trọng số cho chỉ tiêu; Lựa chọn phương pháp đánh giá các mục đích phát triển kinh tế nông, lâm nghiệp huyện Con Cuông, đánh giá thích nghi sinh thái cảnh quan cho phát triển cây cam, cây mía huyện Con Cuông, từ đó đề xuất định hướng và giải pháp cho việc sử dụng hợp lý nguồn TNTN cuat huyện
4.2.4 Phương pháp khảo sát thực địa
Đây là phương pháp nghiên cứu truyền thống có vai trò quan trọng đối với các ngành nghiên cứu tự nhiên Phương pháp này cho ta các thông tin đầy đủ hơn về đặc điểm của các hợp phần tự nhiên, về sự phân hóa lãnh thổ nhằm bổ sung cho các kết quả đã nghiên cứu sơ bộ trong phòng Với nội dung nghiên cứu của đề tài về đánh giá cảnh quan cho mục đích sử dụng hợp lý tài nguyên, công tác khảo sát thực địa sẽ giúp chúng ta thu thập thêm tài liệu và tiến hành kiểm chứng lại kết quả đã nghiên cứu: Đặc điểm các nhân tố thành tạo cảnh quan, đặc điểm các đơn vị cảnh quan, kết quả đánh giá cảnh quan phục vụ phát triển nông, lâm nghiệp Kết quả của chuyến khảo sát thực địa là những nguồn thông tin quan trọng để bổ sung, điều chỉnh kết quả nghiên cứu; phân tích lựa chọn các chỉ tiêu đánh giá cảnh quan và tiến hành đánh giá lại các loại cảnh quan theo mức độ thích nghi sinh thái cho loại hình sản xuất nông, lâm nghiệp
4.2.5 Phương pháp chuyên gia
Đánh giá cảnh quan là một khoa học liên ngành trên nền tảng CQ, đồng thời các CQ cũng chứa đựng nhiều vấn đề tổng hợp Do vậy, việc ĐGCQ cho mục đích phát triển nông nghiệp đòi hỏi phải có sự hỗ trợ kiến thức của các chuyên gia Việc
Trang 15tích hợp ý kiến của chuyên gia trong ĐGCQ sẽ đảm bảo tính chính xác, khách quan, trung thực và khoa học Mang lại hiệu quả cao trong việc nghiên cứu cũng như sử dụng các CQ trong phát triển nông nghiệp bền vững của huyện Con Cuông
5.2 Hệ thống tài liệu
- Luận văn tham khảo các công trình khoa học, đề tài, các chương trình, các
dự án, các luận án mang tính lý luận về nghiên cứu cảnh quan, đánh giá cảnh quan phục vụ cho phát triển bền vững kinh tế nông, lâm nghiệp, bổ sung kiến thức lý luận
và thực tiễn cho đề tài
- Các số liệu thống kê, các dữ liệu, văn bản, báo cáo kinh tế - xã hội của của huyện Con Cuông, tỉnh Nghệ An đã được công bố từ năm 2000 đến 2015
- Kết quả các đợt khảo sát thực địa của tác giả luận văn
6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
6.1 Ý nghĩa khoa học
Góp phần hoàn thiện phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu, đánh
giá cảnh quan cho lãnh thổ cụ thể
6.2 Ý nghĩa thực tiễn
Góp phần định hướng sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên, bố trí hợp lý không gian sản xuất theo các đơn vị cảnh quan của huyện Con Cuông Hỗ trợ công tác quy hoạch, xây dựng chiến lược phát triển KT-XH theo hướng bền vững cho địa
phương
7 Cấu trúc luận văn
Ngoài phần mở đầu và phần kết luận, nội dung luận văn gồm 3 chương với tổng số trang đánh máy, có sử dụng bảng, hình và biểu đồ, bản đồ
Trang 16Chương 1 Cơ sở lý luận nghiên cứu đánh giá cảnh quan cho phát triển nông lâm nghiệp huyện Con Cuông
Chương 2 Các nhân tố thành tạo cảnh quan và đặc điểm cảnh quan huyện Con Cuông, tỉnh Nghệ An
Chương 3 Đánh giá cảnh quan huyện Con Cuông và đề xuất định hướng sủ dụng
Trang 17CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN NGHIÊN CỨU ĐÁNH GIÁ CẢNH QUAN
CHO PHÁT TRIỂN NÔNG, LÂM NGHIỆP HUYỆN CON CUÔNG
1.1 Tổng quan các công trình nghiên cứu có liên quan đến đề tài
1.1.1 Các công trình nghiên cứu cảnh quan trên thế giới
Hướng nghiên cứu địa lý tự nhiên tổng hợp trên thế giới có từ rất sớm, cùng với sự phát triển của khoa học Địa lý, đến cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, học thuyết cảnh quan được hình thành và cùng phát triển độc lập ở hai nước Nga và Đức
Đối với lĩnh vực nghiên cứu CQ và phân tích, đánh giá cảnh quan để phục vụ cho mục đích phát triển kinh tế - xã hội thì từ trước đến nay đã có rất nhiều công trình của các tác giả thuộc nhiều trường phái khác nhau Trước hết phải kể đến những công trình của các nhà cảnh quan học Nga và một số nước thuộc Liên Xô trước đây Học thuyết về cảnh quan được sáng lập ra bởi nhà bác học Nga L.S Berg với tiền đề là học thuyết của V.V Dokutsaev về địa tổng thể và các đới thiên nhiên Năm 1913, L.S Berg đã đưa khái niệm CQ vào trong địa lí học, ông cho rằng chính cảnh quan là đối tượng nghiên cứu của địa lí học Đến năm 1931, L.S Berg công bố tác phẩm “Các đới cảnh quan địa lí Liên Xô” (tập 1)- công trình nổi tiếng là cơ sở
để hoàn thiện lí luận cảnh quan Năm 1963, Annhenxkaia và nnk đã trình bày rõ cách phân chia các đơn vị cảnh quan trong tuyển tập “Cảnh quan học” F.N Milkov năm 1967, đề cập đến các tổng thể thiên nhiên trên Trái Đất với tên gọi là các
“Tổng thể cộng sinh” mà sau đó D.L Armand gọi là “Địa hệ” trong công trình
“Khoa học về cảnh quan” (1975) “Khoa học về cảnh quan” là một loạt tiểu luận về các đề tài lí thuyết và phương pháp được sắp xếp theo một trình tự lôgic rõ ràng
Một nhà cảnh quan tiêu biểu khác của Nga là A.G Ixatxenko với nhiều công trình có giá trị Năm 1961, ông đã hoàn thành công trình “Bản đồ cảnh quan Liên
Xô, tỉ lệ 1:4.000.000 và vấn đề phương pháp nghiên cứu cảnh quan” Năm 1969, ông cho ra đời tác phẩm “Cơ sở cảnh quan học và phân vùng địa lí tự nhiên”, trong
Trang 18đó ông đã trình bày những cơ sở lí thuyết và các nguyên tắc cơ bản trong phân vùng địa lí tự nhiên Đến năm 1974, ông cùng với A.A Shliapnikov công bố công trình
“Về những nội dung của bản đồ cảnh quan Địa lí” Năm 1976, ông tiếp tục xuất bản cuốn “Cảnh quan học ứng dụng”, công trình thể hiện tầm nhìn và khả năng nắm bắt thực tiễn rất nhạy bén của ông khi đưa quan điểm ứng dụng vào cảnh quan học Những năm sau, một loạt các công trình về cảnh quan ứng dụng cũng được hoàn thành như: “Nghiên cứu đánh giá cảnh quan cho các sơ đồ quy hoạch vùng” (E.M Rakovskaia, I.R Dorphman - 1980); “Phương pháp đánh giá cảnh quan sinh thái nhằm mục đích phát triển tối ưu lãnh thổ” (M Ruzichka, M Miklas - 1980)
Nghiên cứu mối quan hệ giữa cảnh quan học với các ngành khoa học khác cũng có nhiều đại diện xuất sắc Trước hết phải kể đến B.B Polưnov - người sáng lập môn địa hóa học cảnh quan vào thập niên 40 của thế kỉ XX tại Liên Xô, mà sau
đó, công trình cùng tên “Địa hóa học cảnh quan” cũng được công bố bởi A.I Perelman Trong cuốn sách này, A.I Perelman đã thể hiện một phương pháp nghiên cứu mới - nghiên cứu cảnh quan trên quan điểm địa hóa Sau đó, tiếp tục có thêm một hướng nghiên cứu cảnh quan khác trên quan điểm địa vật lí được biết đến qua công trình “Địa vật lí cảnh quan” do tập thể các nhà khoa học thuộc Viện Hàn Khoa học Liên Xô công bố, do I.P Geraximov làm chủ biên
Một số tác giả theo trường phái cảnh quan của Anh, Mĩ, Pháp, Đức với một vài khác biệt trong hướng nghiên cứu Trong đó đáng chú ý có hướng nghiên cứu địa sinh thái cảnh quan Đây là sự kết hợp lí thuyết địa sinh thái với cảnh quan học
mà vào năm 1973, Gunterhase và Raft Schmid - hai nhà cảnh quan học của Đức đã
sử dụng để nghiên cứu cảnh quan và thành lập bản đồ nông nghiệp ở Cộng Hòa dân chủ Đức (cũ) Tuy vậy, hướng nghiên cứu này xuất hiện trước tiên ở Pháp với đại diện tiêu biểu là G Bertran qua công trình “Phong cảnh địa lí tự nhiên toàn cầu” (1968) Theo Bertran, Địa lí học tiến triển theo hướng sinh quần học, còn phong cảnh là một bộ phận sinh thái có thể nhận thấy được của cảnh quan Chính vì thế mà
ở Pháp, thuật ngữ “phong cảnh” được sử dụng thay cho thuật ngữ “cảnh quan”
Trang 191.1.2 Ở Việt Nam
Quá trình nghiên cứu cảnh quan ở Việt Nam mới chỉ diễn ra trong hơn nửa thập kỉ gần đây, chủ yếu đều dựa trên nền tảng, lý luận khoa học cảnh quan của trường phái nước Nga Xô Viết Đã có các tác giả để lại nhiều công trình giá trị, những người đi tiên phong trong lĩnh vực này là Nguyễn Đức Chính và Vũ Tự Lập Năm 1963, các ông đã công bố tác phẩm “Địa lí tự nhiên Việt Nam”, trong đó trình bày rõ về các nguyên tắc cơ bản của phân vùng cảnh quan và áp dụng cho lãnh thổ Việt Nam Cũng thời gian này, đã có nhiều bài báo nghiên cứu về vấn đề phân vùng địa lí tự nhiên, ví dụ như: “Cơ sở lí luận của phân vùng địa lí tự nhiên” (Nguyễn Đức Chính, V.G Zavrie); “Về vấn đề xác định nội dung các danh từ dùng để chỉ các đơn vị phân vị cơ bản trong phân vùng địa lí tự nhiên tổng hợp tỷ lệ khác nhau” (V.G Zavrie, Nguyễn Đức Chính, Vũ Tự Lập); “Phương pháp luận và phương pháp phân vùng địa lí tổng hợp tỷ lệ trung bình (V.G Zavrie, Nguyễn Đức Chính, Nguyễn Văn Nhưng) Đến năm 1976, Vũ Tự Lập với sự giúp đỡ của E.M Murzaev
và V.G Zavriev đã hoàn thành công trình “Cảnh quan địa lí miền Bắc Việt Nam” - được xem là một công trình tổng hợp hết sức công phu có giá trị học thuật lớn lao đối với khoa học Địa lí Việt Nam hiện đại
Ngoài ra, công tác phân vùng còn được tiến hành bởi Tổ phân vùng địa lí tự nhiên thuộc Uỷ ban Khoa học và kĩ thuật Nhà nước, với tác phẩm “Phân vùng địa lí
tự nhiên lãnh thổ Việt Nam” (1970) Đến 1998, Nguyễn Văn Nhưng và Nguyễn Văn Vinh công bố cuốn “Phân vùng địa lí tự nhiên đất liền, đảo - biển Việt Nam và lân cận” Mặc dù có khá nhiều quan điểm phân vùng khác nhau nhưng các tài liệu này đã cung cấp cơ sở lí luận và thực tiễn cho việc nghiên cứu Địa lí tự nhiên tổng hợp của các thế hệ sau được tiến hành thuận lợi hơn
Đối với hướng nghiên cứu địa hóa và sinh thái cảnh quan thì ở Việt Nam, tuy
ra đời muộn hơn các nước phương Tây nhưng đã đạt được những thành tựu đáng
kể, tiêu biểu là Nguyễn Văn Vinh Năm 1983, ông có bài “Những yếu tố chính cấu thành cảnh quan địa hóa Việt Nam” - chứng tỏ sự có mặt của hướng nghiên cứu địa hóa trong cảnh quan tại Việt Nam Tiếp đến, tại Hội thảo về cảnh quan sinh thái (Hà
Trang 20Nội - 1992), ông và Nguyễn Thành Long đánh dấu sự mở đầu hướng nghiên cứu sinh thái trong cảnh quan học Việt Nam với bài viết “Tiếp cận sinh thái trong nghiên cứu cảnh quan” Năm 1994, ông và Huỳnh Nhung hoàn thành “Quan niệm
về cảnh quan, hệ sinh thái, sự phát triển của cảnh quan học và sinh thái học cảnh quan” - làm rõ hơn mối quan hệ giữa cảnh quan và sinh thái học Cũng năm này, ông và Nguyễn Văn Nhưng báo cáo về “Chu trình vật chất, trao đổi năng lượng trong một số cảnh quan Việt Nam” - cho thấy quan điểm sinh thái được vận dụng linh hoạt hơn trong nghiên cứu cảnh quan Việt Nam
Bên cạnh các hướng nghiên cứu truyền thống, Việt Nam cũng tiếp cận rất nhanh các hướng nghiên cứu cảnh quan có ứng dụng thành tựu của công nghệ thông tin Tác giả Nguyễn Thành Long với công trình “Nghiên cứu cảnh quan Tây Nguyên trên cơ sở ảnh vệ tinh Landsat” (1987); Phạm Hoàng Hải và nnk với công trình “Xây dựng bản đồ cảnh quan sinh thái tỉnh Thanh Hóa tỉ lệ 1:200.000 trên cơ
sở sử dụng các tư liệu viễn thám” (1990); Nguyễn Văn Vinh và Nguyễn Cẩm Vân với “Thành lập bản đồ CQ đồng bằng Nam Bộ tỉ lệ 1:250.000 bằng tư liệu viễn thám” (1992)
Hướng nghiên cứu được tiến hành rất mạnh thời gian gần đây là hướng nghiên cứu, đánh giá cảnh quan phục vụ mục đích phát triển bền vững lãnh thổ, tiêu biểu là các công trình của Phạm Hoàng Hải Năm 1988, ông hoàn thành công trình
“Vấn đề lí luận và phương pháp đánh giá tổng hợp tự nhiên cho mục đích sử dụng lãnh thổ, ví dụ vùng Đông Nam Bộ” Tiếp đến vào năm 1990, trong Chương trình 48B, ông cùng Nguyễn Trọng Tiến và nnk đã tiến hành “Đánh giá tổng hợp điều kiện tự nhiên và tài nguyên thiên nhiên dải ven biển Việt Nam cho phát triển sản xuất nông nghiệp” Năm 1993, ông cùng Nguyễn Thượng Hùng thực hiện “Đánh giá tổng hợp cho mục đích sử dụng và khai thác hợp lí tài nguyên Tây Nguyên” Năm 1997, Nhà xuất bản Giáo dục đã công bố “Cơ sở cảnh quan học của việc sử dụng hợp lí tài nguyên thiên nhiên, bảo vệ môi trường lãnh thổ Việt Nam” của ông cùng Nguyễn Thượng Hùng và Nguyễn Ngọc Khánh - công trình được đánh giá cao bởi những miêu tả chi tiết các quy luật và đặc trưng của các cảnh quan nhiệt đới gió
Trang 21mùa Việt Nam trên cơ sở một hệ thống phân loại tương đối thống nhất cho toàn lãnh thổ và theo các miền, các vùng cảnh quan riêng biệt, đồng thời công trình cũng
đề cập một cách khá đầy đủ, sâu sắc những biến đổi của tự nhiên nói chung và cảnh quan nói riêng dưới tác động của con người Từ đó đưa ra các giải pháp, các hướng tiếp cận khoa học tin cậy nhằm sử dụng hợp lí tài nguyên, bảo vệ môi trường
Ngoài ra trong giai đoạn này còn có rất nhiều công trình nghiên cứu của các nhà khoa học, các nhà nghiên cứu cảnh quan như Nguyễn Cao Huần, Phạm Quang Anh, Trương Quang Hải, Phạm Quang Tuấn, Trần Anh Tuấn và những người khác Các công trình nghiên cứu được thực hiện ở các vùng, miền của đất nước và có những đóng góp nhất định vào sự phát triển chung của cảnh quan học như: Đoàn Ngọc Nam với “Các thể tổng hợp địa lí tự nhiên trong cấu trúc cảnh quan ngoại thành thành phố Hồ Chí Minh và hướng cải tạo chúng, phục vụ phát triển nông nghiệp” (1991); Nguyễn Thế Thôn với “Tổng luận phân tích nghiên cứu và đánh giá cảnh quan cho việc quy hoạch và phát triển kinh tế” (1993) và “Tổng luận phân tích những vấn đề cảnh quan sinh thái ứng dụng trong quy hoạch và quản lí môi trường” (1995); Trần Văn Thành với “Phân vùng địa sinh thái đất ngập nước Đồng Tháp Mười” (1993)
Cùng với các công trình nghiên cứu nói trên còn có các bản đồ cảnh quan và đánh giá cảnh quan đã được các nhà cảnh quan học và các nhà Địa lí tổng hợp xây dựng trong hơn 30 năm qua, giúp cho lĩnh vực nghiên cứu cảnh quan của nước ta ngày càng có những bước phát triển mạnh mẽ và vững chắc
1.1.3 Tổng quan các công trình nghiên cứu ở huyện Con Cuông, tỉnh Nghệ An
Từ trước đến nay các công trình nghiên cứu đánh giá cảnh quan trên địa bàn huyện Con Cuông tỉnh Nghệ An hầu như là chưa có, phần lớn là những nghiên cứu mang tính riêng, từng bộ phận của môi trường tự nhiên phục vụ các yêu câc yêu cầu trước mắt về khai thác và quản lý tài nguyên của huyện Đặc biệt là trong lĩnh vực phục vụ cho phát triển nông nghiệp bền vững của huyện
Trang 22Bên cạnh đó chỉ có các công trình nghiên cứu mang tính chất tổng hợp nhất các điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội như Dư địa chí Con Cuông do tập thể các giảng viên các ngành chuyên môn trường Đại học Vinh phối hợp với Huyện ủy, UBND huyện Con Cuông biên soạn, năm 2015 Hầu như các công trình này chỉ trình bày một cách khái quát và mang tính chất tổng hợp các đặc điểm tự nhiên - kinh tế xã hội của huyện mà chưa đánh giá hết được các điều kiện tự nhiên, cảnh quan thiên nhiên cho mục đích phát triển các ngành kinh tế
Ngoài ra còn có thể kể đến các quyết định, quy hoạch tổng thể phát triển kinh
tế - xã hội huyện Con Cuông, tỉnh Nghệ An đến năm 2020 Cũng đã nêu ra các định hướng chính cho sự phát triển kinh tế- xã hội của huyện trong tương lai
Một số nghiên cứu khoa học khác có liên quan đến cảnh quan nhưng chỉ dừng lại ở quan mô nhỏ như: “ Ứng dụng công nghệ Viễn thám và GIS vào nghiên cứu và quản lý sử dụng đất tại xã Châu Khê, huyện Con Cuông, tỉnh Nghệ An”, Đào Minh Trường
Có thể nói việc nghiên cứu lãnh thổ huyện Con Cuông nhằm đẩy mạnh phát triển kinh tế - xã hội huyện Con Cuông đã có nhiều công trình Song nhìn chung chưa có công trình nào nghiên cứu dưới góc độ cảnh quan học các điều kiện tự nhiên của huyện, qua đó đánh giá các điều kiện tự nhiên và đề xuất sử dụng các điều kiện tự nhiên phù hợp với phát triển các ngành kinh tế
1.2 Cơ sở lý luận về đánh giá cảnh quan cho phát triển nông, lâm nghiệp
1.2.1 Quan niệm về cảnh quan
Thuật ngữ “Cảnh quan” bắt nguồn từ tiếng Đức “Landschaft” với nghĩa là
phong cảnh, đã bắt đầu được sử dụng từ đầu thế kỉ 19 Trong quá trình phát triển của cảnh quan học, đã có rất hiều tác giả đưa ra các quan điểm, học thuyết khác nhau về cảnh quan như: L.C.Berge (1931), [11], [18]; N.A Xolsev (1948) [11], [18]; A.G Ixatxenko (1976, 1985), [11], [18]; Armand D.L (1975), [1]; Vũ Tự Lập (1976), [18]; Nguyễn Cao Huần (2005), [10],
Khoa học về cảnh quan đã hình thành và phát triển nhưng thuật ngữ cảnh quan không hoàn toàn giống nhau, thể hiện theo 3 quan điểm khác nhau
Trang 23- Quan điểm xem cảnh quan là một khái niệm chung, có thể dùng cho mọi đơn vị phân loại và phân vùng ở bất kỳ cấp lãnh thổ nào Như vậy, khái niệm cảnh quan tương đương với thuật ngữ thể tổng hợp địa lý tự nhiên hay cảnh quan tự nhiên Các tác giả nghiên cứu theo quan điểm này gồm có F.N Minkov, D.L Armand, V.A.Nikolaev, Y.K Prokaev, E.N.Lukasov…
- Quan điểm xem cảnh quan là những cá thể địa lý không lặp lại trong không gian và là đơn vị cơ bản của phân vùng địa lý tự nhiên, có nội dung xác định và chỉ tiêu rõ ràng Cảnh quan thể hiện sự tương hỗ của các hợp phần tự nhiên và các yếu
tố thành tạo trên một lãnh thổ nhất định Điển hình cho quan điểm này có A.G.Ixatsenko, B.B.Polưnov, Vũ Tự Lập và một số người khác
- Quan điểm cảnh quan là đơn vị mang tính kiểu loại Cảnh quan là sự phối hợp, thống nhất biện chứng của các hợp phần tự nhiên như một tổng hợp thể lãnh thổ tự nhiên tương đối đồng nhất, được xem xét không phụ thuộc vào phạm vi lãnh thổ Các đặc tính chung và riêng được thể hiện rõ ràng Quan điểm này đã được đề xướng bởi ác công trình nghiên cứu cảnh quan của các tác giả trong và ngoài nước như:B.B Polunov, K.K Markov, A.I Pereman và N.A Gvoxdexki, N.I Mikhailov, A.G Ixatsenko, cũng như G.Bertrand, Th.Brossard, I.C Wieber của Pháp, Vũ Tự Lập, Nguyễn Thế Thôn của Việt Nam
Như vậy cảnh quan theo khía cạnh nào thì cảnh quan vẫn được xem là một tổng thể tự nhiên, vừa được xét như một đơn vị cá thể, vừa được xét như một đơn vị kiểu loại Trong luận văn này tác giả sử dụng quan niệm cảnh quan huyện Con Cuông, tỉnh Nghệ An được coi là một thể tổng hợp phức tạp gồm một hệ thống các yếu tố, thành phần cấu tạo nên (địa chất, địa hình, khí hậu, thổ nhưỡng, sinh vật), vừa có tính đồng nhất, vừa có tính bất đồng nhất Giữa chúng có mối liên hệ phụ thuộc, tác động lẫn nhau, đồng thời có sự phân hóa phức tạp từ cấp thấp đến cấp cao theo hệ thống phân loại nhất định Điều này tạo nên sự đa dạng trong cấu trúc, chức năng và động lực của các đơn vị cảnh quan
1.2.2 Lý luận chung về nghiên cứu cảnh quan
- Mục đích nghiên cứu cảnh quan: Theo Nguyễn Thượng Hùng) “Nghiên cứu cảnh quan thực chất là nghiên cứu về các mối quan hệ tương hỗ giữa các hợp phần
Trang 24tự nhiên, nguồn gốc phát sinh, quá trình phát triển và quy luật phân hóa của tự nhiên nhằm phát hiện và phân chia các thể tổng hợp tự nhiên - các đơn vị cảnh quan có tính đồng nhất tương đối trong lãnh thổ làm cơ sở đánh giá tổng hợp các ĐKTN, TNTN và KT-XH để lập quy hoạch sử dụng hợp lý, phát triển kinh tế và bảo
vệ môi trường”
Nghiên cứu cảnh quan nói chung thực ra là làm sáng tỏ tính đa dạng trong
cấu trúc, chức năng cảnh quan; tìm ra quy luật phân hóa cảnh quan và một số loại tài nguyên theo các đơn vị cảnh quan
- Đối tượng nghiên cứu của cảnh quan: Là các đơn vị cảnh quan, gồm đơn vị phân loại cảnh quan (các cấp như: hệ, lớp, kiểu, loại, dạng…) và các đơn vị phân vùng cảnh quan (các cấp như: địa ô, miền, vùng, xứ…) Trong phạm vi nghiên cứu cấp huyện đới tượng được lựa chọn là đơn vị cấp loại cảnh quan
Trên cơ sở kế thừa các nghiên cứu của nhiều tác giả, luận văn căn cứ và vận dụng thống nhất 3 nguyên tắc cơ bản: nguyên tắc phát sinh hình thái, nguyên tắc đồng nhất tương đối, nguyên tắc tổng hợp trong NCCQ, xây dựng hệ thống phân loại cảnh quan cho lãnh thổ nghiên cứu
- Nguyên tắc phát sinh hình thái: Được sử dụng trong phân tích cảnh quan, làm rõ về nguồn gốc hình thành của các yếu tố thành tạo cảnh quan và mối quan hệ giữa chúng Xác định những đặc trưng cơ bản về cấu trúc, chức năng nguyên sinh của cảnh quan cũng như xu hướng biến đổi của các đơn vị cảnh quan trong quá trình sử dụng Đây là nguyên tắc có ý nghĩa quan trọng trong nghiên cứu, phân loại cảnh quan cho từng vùng lãnh thổ khác nhau
- Nguyên tắc đồng nhất tương đối: Nguyên tắc này cho phép ta thấy các vùng địa lý tự nhiên vừa thống nhất lại vừa phức tạp, thống nhất trên cơ sở một số chỉ tiêu nhất định phản ánh mối quan hệ hữu cơ giữa các thành phần, đồng thời vẫn có
sự phân hóa nội bộ khiến cho mối vùng có thể chia ra thành những đơn vị nhỏ hơn, cũng như có thể ghép một số đơn vị nhỏ thành đơn vị lớn Như vậy, một vùng địa lý
tự nhiên nào đó vừa là một hệ thống các đơn vị nhỏ hơn vừa là một bộ phận của một đơn vị lớn hơn Đối với cấp đơn vị cảnh quan càng lớn, lãnh thổ càng rộng thì mức
Trang 25độ đồng nhất càng thấp và ngược lại ở các cấp đơn vị càng thấp, lãnh thổ càng hẹp thì mức độ đồng nhất càng cao
Theo nguyên tắc này, những đơn vị cảnh quan có các hợp phần cùng nguồn gốc phát sinh, quá trình phát triển và hình thái tương đối đồng nhất được xếp vào cùng cấp, mặc dù chúng phân bố ở nững nơi khác nhau trên lãnh thổ
- Nguyên tắc tổng hợp: Nguyên tắc này đòi hỏi phải tính toán đến hết tất cả mọi yếu tố không trừ một yếu tố nào Là một lãnh thổ miền núi có tính đa dạng cao
về tự nhiên và nhân văn, các đơn vị cảnh quan huyện Con Cuông là những tổng thể
tự nhiên khá phức tạp, thể hiện trong các tác động tương hỗ giữa các thành phần trong cấu trúc thẳng đứng cũng như các đơn vị cảnh quan trong cấu trúc ngang của cảnh quan
- Hệ thống phân loại cảnh quan và bản đồ cảnh quan:
Mục đích xây dựng hệ thống phân loại CQ tại lãnh thổ nghiên cứu, luận văn
kế thừa hệ thống phân loại của Phạm Hoàng Hải và nnk (1997), tham khảo các hệ thống phân loại của các tác giả trong và ngoài nước Căn cứ vào kết quả phân tích vai trò các nhân tố thành tạo CQ; đặc điểm phân hóa tự nhiên huyện Con Cuông và
tỉ lệ bản đồ CQ được thành lập Luận văn xây dựng hệ thống phân loại CQ áp dụng cho lãnh thổ nghiên cứu gồm 7 cấp có thứ tự như sau:: Hệ cảnh quan, phụ hệ cảnh quan, lớp cảnh quan, phụ lớp cảnh quan, kiểu cảnh quan, hạng cảnh quan, loại cảnh quan
Huyện Con Cuông là một lãnh thổ không lớn, tác giả lựa chọn cấp loại cảnh quan làm đơn vị phân loại cơ sở cho mục đích quy hoạch và bố trí hợp lý một loại cây (cây cam, cây mía) tại địa bàn nghiên cứu và bản đồ CQ được xây dựng ở tỉ lệ lớn 1:50.000
Bản đồ cảnh quan: Mỗi đơn vị CQ là một hợp phần của vỏ Trái đất, kết quả
NCCQ được thể hiện lên bản đồ Theo Phạm Hoàng Hải: “Bản đồ cảnh quan là một bản đồ tổng hợp, phản ánh một cách đầy đủ, khách quan các đặc điểm của tự nhiên, mối quan hệ và tác động tương hỗ giữa các hợp phần riêng lẻ của tự nhiên” [7,
tr.59] Đối với huyện Con Cuông, bản đồ CQ không chỉ phản ánh đặc điểm tự
Trang 26nhiên, mối quan hệ giữa các hợp phần mà còn thể hiện quy luật phân hóa CQ, tiềm năng và đặc điểm một số loại tài nguyên ở từng loại CQ của huyện
Bản đồ CQ được xây dựng ở nhiều tỉ lệ, mỗi tỉ lệ có cấp cơ sở khác nhau Khi xây dựng bản đồ CQ huyện Con Cuông tỉ lệ 1: 50.000, tác giả chọn đơn vị cơ
sở là cấp loại CQ Bản đồ CQ tỉ lệ 1:50.000 phản ánh quy luật phân hóa CQ tự
nhiên huyện Con Cuông ở cấp loại CQ, là cơ sở cho ĐGCQ đề xuất định hướng bố trí hợp lí không gian phát triển các ngành sản xuất (nông nghiệp, lâm nghiệp) Vì vậy, mỗi bản đồ CQ có ý nghĩa thiết thực đối với lĩnh vực nghiên cứu và ứng dụng
của đề tài
Các lớp bản đồ thành phần được biên tập lại, khái quát hóa theo yêu cầu của
đề tài và đảm bảo thực hiện đúng các nguyên tắc thành lập bản đồ Sau khi biên tập, thành lập các bản đồ thành phần, tác giả đã tích hợp các lớp thông tin để thành lập bản đồ cảnh quan
- Nghiên cứu đặc điểm cảnh quan: Nghiên cứu cảnh quan là nghiên cứu các hợp phần tự nhiên thành tạo nên cảnh quan và mối quan hệ tác động tương hỗ giữa chúng trong cảnh quan Đó là nghiên cứu và phân tích cấu trúc đứng, cấu trúc ngang, nghiên cứu chức năng và động lực biến đổi cảnh quan
Cấu trúc không gian của cảnh quan là sự sắp xếp các thành phần cảnh quan
trong không gian theo chiều thẳng đứng (cấu trúc đứng) hoặc theo chiều ngang (cấu trúc ngang)
- Cấu trúc đứng: Cấu trúc đứng được xác định bởi tính chất của các mối liên
hệ tương hỗ giữa các thành phần cấu tạo của mỗi cảnh quan, bởi sự kết hợp và quan
hệ của các thành phần cấu tạo, phụ thuộc vào hướng thay đổi của các thành phần cấu tạo trong quá trình phát triển cũng như sự phụ thuộc vào tuổi và lịch sử phát triển của cảnh quan Cấu trúc đứng bao gồm các hợp phần: Địa chất, địa hình, khí hậu, thuỷ văn, thổ nhưỡng và sinh vật Các hợp phần này luôn xâm nhập vào nhau
và quan hệ tác độngvới nhau, mặc dù các thành phần này không giống nhau về số lượng và chất lượng, về thành phần vật chất và cường độ các thành phần cấu tạo
Trang 27Cấu trúc đứng thường phức tạp và kém thống nhất ở các đơn vị lớn và đồng nhất hơn ở các đơn vị nhỏ Đơn vị cảnh quan tồn tại càng lâu thì cấu trúc của các thành phần cấu tạo sẽ càng đầy đủ và độ dày theo chiều thẳng đứng sẽ càng lớn Độ dày của cấu trúc đứng trong các cảnh quan có khác nhau, phụ thuộc vào vị trí hình thành trong đới tích tụ hay rửa trôi, do sườn thoải hay dốc, do điều kiện khí hậu nóng và ẩm hay khô và lạnh… Cấu trúc đứng của đồng bằng luôn dày hơn ở miền núi, do độ dốc của sườn và cường độ của các quá trình bóc mòn, đặc biệt là quá trình trọng lực
Cường độ và tốc độ hình thành cấu trúc đứng còn phụ thuộc vào các điều kiện khí hậu, mức độ ẩm trên mặt và nước ngầm Tại nơi có các quá trình tự nhiên
diễn ra mạnh (thường mang tính chất địa phương) thì cấu trúc đứng tại đó cũng
phức tạp và dày hơn Cấu trúc đứng biến động và vận động trong quá trình lịch sử phát triển lâu dài do ảnh hưởng của các quá trình tự nhiên, đặc biệt là các quá trình
hiện thời (cấu trúc đứng thường bị phá huỷ ở các đơn vị cảnh quan nhỏ - miền núi)
Bên cạnh quá trình tự nhiên thì hoạt động của con người cũng làm thay đổi cấu trúc
đứng (thực bì, thổ nhưỡng, dòng chảy, địa hình - nhiều nơi thực bì tự nhiên còn bị thay thế bằng thực bì trồng trên toàn bộ diện tích) Những nơi mà cấu trúc đứng của
cảnh quan ở đó bị biến đổi cơ bản sẽ tạo nên những cảnh quan hoàn toàn mới
+ Nền địa chất: Cảnh quan bất cứ ở một nào cũng có một nền địa chất đồng nhất chủ yếu dựa vào tính chất và tuổi của thành hệ thạch học Các loại nham thạch khác nhau chịu tác động của quá trình ngoại lực không giống nhau và đều có một kiểu địa hình tương ứng Cùng với đó mỗi loại nham cũng ảnh hưởng đến thổ nhưỡng một cách riêng biệt thông qua thành phần địa hóa đặc biệt của nham Ở mức
độ nhất định, đơn vị địa chất trùng với đơn vị địa mạo và thổ nhưỡng
+ Địa hình: Địa hình là hợp phần quan trọng trong cấu trúc đứng và các cấp cấu tạo nên cấu trúc ngang của cảnh quan Cùng với nền địa chất, địa hình đã hình thành nên nền tảng rắn của cảnh quan - cơ sở vật chất bền vững quyết định tính chất của các hợp phần còn lại Vì vậy, việc xác định và phân loại các kiểu địa hình giữ vai trò chủ chốt
Trang 28+ Khí hậu: Theo Vũ Tự Lập khí hậu của cảnh quan có quan hệ mật thiết với mặt đệm hơn là với hoàn lưu khí quyển Đơn vị cảnh quan có một đơn vị khí hậu phù hợp, đó là kiểu khí hậu của cảnh quan Trong quan hệ giữa khí hậu và cảnh quan, S.P Kromov xem khí hậu của cảnh được xác định dựa trên số liệu thu thập được của các trạm quan trắc khí tượng đặt tại địa điểm đại diện cho cảnh Theo Vũ
Tự Lập, kiểu khí hậu của cảnh phải bao gồm các chỉ tiêu nói lên: cảnh đó thuộc vào đới ngang hoặc đai cao nào? Cảnh đó có chế độ mùa ra sao và cường độ mùa như thế nào?
+ Thuỷ văn: Theo A.G Ixatsenko mỗi cảnh quan vốn có tổ hợp đặc trưng ít hay nhiều phức tạp Các thành phần của thuỷ văn, tính chất và mức độ phổ biến của các tích tụ nước, chế độ của chúng, cường độ tuần hoàn, mức độ khoáng hóa, thành phần hóa học và các tính chất khác, tất cả đều phụ thuộc vào tương quan giữa các điều kiện địa đới và vào thực tế bên trong của bản thân cảnh quan
Vũ Tự Lập xem chế độ thuỷ văn phụ thuộc chặt chẽ vào khí hậu trên nền tảng một cảnh quan nhất định Để xác định kiểu thuỷ văn, tác giả sử dụng thông số
về mô đun dòng chảy, quan tâm đến nhịp điệu của lũ theo mùa, tháng cực đại và cực tiểu, nêu lên mối quan hệ với nham thạch, thổ nhưỡng và thảm thực vật Khu
vực bờ biển thì phải xét chế độ hải văn (thuỷ triều, nhiệt độ nước biển)
+ Thổ nhưỡng: A.G Ixatsenko cho rằng, trong cảnh quan thì các loại đất thay thế nhau theo không gian phù hợp với sự thay đổi của nhân tố địa hình, khí hậu, chế độ nước cũng như thực vật Như vậy có nghĩa là cảnh quan phải tương ứng với vùng đất nhất định
Theo Vũ Tự Lập, thổ nhưỡng của cảnh quan phải là một đại tổ hợp thổ nhưỡng Bởi vì trong một cảnh địa lý rất hiếm khi chỉ có một kiểu thổ nhưỡng, nó
có quan hệ chặt chẽ với kiểu địa hình, nền địa chất, với kiểu khí hậu - thuỷ văn, và trên nó sẽ tương ứng với một đại tổ hợp thực vật
+ Sinh vật: Theo A.G Ixatsenko, cảnh quan được đặc trưng bằng một tổ hợp hoàn chỉnh các quần thể thực vật hình thành một dãy liên hợp với nhau một cách có quy luật về mặt sinh thái Trong các dãy như thế có thể có sự kết hợp của các quần
Trang 29xã rất khác nhau, thay thế nhau trong không gian Vũ Tự Lập xác định thực vật của cảnh phải là một đại tổ hợp thực vật, từ nhóm quần hệ trở lên đến lớp giữa quần hệ hoặc kiểu thảm thực vật trong hệ thống phân loại các quần thể thực vật
Hình 1.1 Mô hình đơn hệ thống (V.X Preobrajenxki)
V.X Preobrazenski đã xây dựng mô hình đơn hệ thống, hệ thống được coi như được tạo thành từ hàng loạt những thành phần cấu tạo tác động tương hỗ với nhau Theo ông, mô hình này phản ánh quan niệm về tính liên tục phát triển của các cảnh quan
Nghiên cứu các mối liên hệ giữa các thành phần của các cảnh quan cho phép làm sáng tỏ cụ thể hơn những thành phần cấu tạo trên lãnh thổ có ảnh hưởng cơ bản tới sự hình thành và phân dị các cảnh quan, đồng thời cũng xác định sự không đồng giá trị của các thành phần cấu tạo khác nhau và những ảnh hưởng của chúng tới các cảnh quan Dựa vào các mối liên hệ của các thành phần cấu tạo, chúng ta có thể tập hợp các đơn vị cảnh quan ở các cấp thấp thành các đơn vị phân vị lớn hơn theo mức
độ đồng nhất Căn cứ vào tính chất liên hệ có thể biểu hiện mức độ đồng nhất và không đồng nhất của các đơn vị cảnh
Nghiên cứu cấu trúc đứng của cảnh quan, vai trò của các hợp phần trong thành tạo cảnh quan là như nhau, hợp phần trội phải được xét cụ thể, trong điều kiện thời gian và không gian xác định, tùy thuộc vào từng cấp phân vị và từng cá thể trong mỗi cấp Hợp phần trội có thể chỉ là một yếu tố của một hợp phần, có khi là cả
Hướng liên hệ giữa các thành phần cấu tạo
Trang 30một hợp phần, mà cũng có khi là sự kết hợp hữu cơ giữa hai hợp phần Vì thế, vai trò của các hợp phần phải được phát hiện một cách khách quan trong quá trình phân tích mối liên hệ giữa các hợp phần Khi phân tích phải biết sắp xếp các hợp phần thành từng cặp quan hệ với hai yếu tố, một yếu tố được coi như là nguyên nhân, còn yếu tố kia là kết quả Sau khi phân tích, phải rút ra được một cặp quan hệ là chủ yếu, có tác dụng quyết định, còn những cặp quan hệ khác đều ở vị trí thứ yếu, phụ thuộc Từ cặp quan hệ chủ yếu ấy sẽ rút ra được mâu thuẫn chủ đạo, nắm được mâu thuẫn này nhằm đưa ra các hướng giải quyết cụ thể và chính xác
- Cấu trúc ngang: Cấu trúc ngang gồm các đơn vị cảnh quan cùng cấp hay
khác cấp cấu tạo nên, cùng với những mối quan hệ phức tạp giữa các đơn vị cảnh quan đó với nhau Bản thân mỗi một đơn vị cảnh là một hệ thống hoàn chỉnh riêng nên cấu trúc ngang thường được mô hình hóa bởi một mô hình đa hệ thống Tương
tự như cấu trúc thẳng đứng, mỗi một cấp phân vị có một cấu trúc ngang riêng, đồng thời cấu trúc ngang của mỗi cá thể thuộc cùng một cấp phân vị cũng có những nét riêng
Theo Vũ Tự Lập, nghiên cứu cấu trúc ngang của một cảnh địa lý là tìm hiểu
số lượng các đơn vị cấu tạo, đánh giá vai trò của chúng trong việc hình thành nên cảnh và xét các mối quan hệ không gian cũng như quan hệ phát sinh giữa chúng với nhau Từ cấp cảnh dạng, cảnh diện, sự phân hóa lúc này do các nhân tố địa phương chi phối, do đó rất phức tạp, nên việc xác định số lượng các cấp phân vị dưới cấp cảnh rất khó khăn
Tính phức tạp của cấu trúc ngang có thể được tính dựa vào công thức tính hệ
số phân cắt:
% 100
Trang 312 1
j i n
iC
m m K
+ Những mối liên hệ trong cấu trúc ngang:
Trong cấu trúc ngang, các đơn vị cảnh quan đồng cấp và các đơn vị cảnh khác cấp cũng là những hệ thống độc lập, có mối quan hệ bên trong riêng, và cũng trao đổi vật chất và năng lƣợng với nhau theo những mối quan hệ bên ngoài
Hình 1.2 Mô hình đa hệ thống (V.X Preobrajenxki)
3 Các liên hệ bên trong giữa các đơn vị cảnh hàng n + 1
4 Các liên hệ bên trong giữa các đơn vị cảnh hàng n + 2
5 Các liên hệ bên ngoài
Trang 32Preobrazenski đã đưa ra mô hình nhiều hệ thống thể hiện mối liên hệ ngang của cảnh quan Việc giải thích các mối liên hệ ngang của các đơn vị cảnh quan có thể xác định được tính chất và hướng liên hệ, sự ảnh hưởng qua lại, những quá trình hình thành chủ yếu của các cảnh quan Nhận thức được các mối liên hệ cho phép ta thấy trước được những biến đổi của cảnh quan nếu có một hay vài cảnh quan ở gần
đó bị phá hoại Vì vậy, hiểu biết được mối liên hệ giúp ta ước định được những biện pháp cụ thể, ngăn ngừa sự phá hoại của các cảnh quan này với cảnh quan khác
Khi đánh giá vai trò của các đơn vị cảnh quan, Vũ Tự Lập cho rằng cần phải phân biệt đơn vị chủ yếu và thứ yếu Đơn vị chủ yếu là đơn vị chiếm diện tích lớn nhất làm nền tảng cho cảnh, hoặc là đơn vị được gặp nhiều ngoài thực địa nhưng tỉ
lệ diện tích không lớn Đơn vị thứ yếu là đơn vị đơn lẻ, ít gặp, chiếm tỉ lệ diện tích nhỏ, giữ vai trò không đáng kể trong quá trình trao đổi vật chất và năng lượng Tuy nhiên, các đơn vị thứ yếu có thể nói lên tính chất đặc thù của cảnh, hoặc chúng là những đơn vị di lưu - tàn dư của cảnh quan cổ, hoặc cũng có thể lại là những dấu hiệu của cảnh quan tương lai Vì vậy, muốn có kết luận chung về cấu trúc ngang của các cảnh quan nhất thiết phải tìm hiểu các cá thể cảnh quan
- Cấu trúc chức năng, động lực cảnh quan
Cấu trúc chức năng: Bất cứ một cảnh quan nào cũng được tổ chức theo
không gian và thời gian, trong mối liên hệ bên trong giữa các bộ phận cấu thành Cấu trúc chỉ là mặt quan trọng trong tính tổ chức của cảnh quan, nhưng nó vẫn chưa lột tả được toàn bộ bản chất của cảnh quan Bản chất đó được thể hiện ở cách thức liên hợp của các bộ phận cấu thành cảnh quan, hay có thể nói đó là sự hoạt động của cảnh quan theo thời gian dựa trên cơ sở hệ thống động lực, các quá trình trao đổi vật chất và năng lượng diễn ra trong cảnh quan
Hoạt động của cảnh quan phụ thuộc vào các quy luật cơ học vật lí, hóa học
và sinh vật học, thể hiện ở các quá trình sơ đẳng cấu thành như chuyển động cơ học của vật liệu vụn, nước, sự bốc hơi từ bề mặt đất, sự thẩm thấu của nước vào đất, sự
di chuyển của mỗi nguyên tố hóa học và sự tác động qua lại của nó với các nguyên
tố khác (sự phản ứng hóa học), sự quang hợp, sự khoáng hóa của các di tích hữu
Trang 33cơ… Mỗi quá trình trong số ấy đi kèm với sự hấp thụ, biến đổi hay giải phóng năng lượng
Nghiên cứu chức năng của cảnh quan không chỉ dừng lại ở các quá trình sơ đẳng mà nhiệm vụ chủ yếu và phức tạp nhất là ở chỗ chuyển từ các quá trình tự nhiên sơ đẳng sang quá trình tự nhiên hoàn chỉnh Theo A.G Ixatsenko, có thể vạch
ra các kênh liên hệ chủ yếu sau đây giữa các thành phần trong cấu trúc cảnh quan:
- Sự chuyển dịch cơ học do trọng lực của vật chất (thể rắn, thể lỏng, thể khí),
đi kèm với sự biến đổi thế năng thành động năng
- Các quá trình hóa lí (phân tử) bảo đảm các khâu quan trọng của sự trao đổi
chủ yếu theo chiều thẳng đứng giữa các hợp phần của cảnh quan được thực hiện
nhờ năng lượng Mặt Trời và đi kèm với sự biến đổi của nó (có sự hòa tan, kết tủa, các phản ứng hóa học)
- Sự chuyển hóa sinh vật - quá trình cực kì quan trọng trong hệ thống các mối liên hệ giữa các hợp phần của cảnh quan, nhờ đó vật chất của tất cả hợp phần được lôi cuốn vào sự trao đổi Sự chuyển hóa sinh vật đóng vai trò điều hòa và ổn định, nhờ đó vật chất được giữ lại, ngăn cản quá trình trọng lực mang chúng đi khỏi cảnh quan
Ngoài ra, cần phải nghiên cứu các mối liên hệ đa dạng trong cảnh quan, phân
biệt các mối liên hệ thuận và liên hệ ngược (bao gồm cả mối liên hệ ngược dương
và ngược âm) trong cảnh quan Mối liên hệ ngược dương làm tăng dần tác động từ
bên ngoài vào cảnh quan, còn mối liên hệ ngược âm sẽ làm giảm dần tác động từ bên ngoài vào hệ thống Các mối liên hệ ngược này chính là cơ chế tự điều chỉnh của cảnh quan Các hệ thống lãnh thổ tự nhiên càng đa dạng, càng nhiều bộ phận cấu thành thì khả năng tự điều chỉnh càng lớn và ngược lại
Động lực cảnh quan: Là sự thay đổi trạng thái CQ mà không trùng với sự
thay đổi cấu trúc cảnh quan Hoạt động của cảnh quan dựa trên cơ sở hệ thống động lực, các quá trình trao đổi vật chất và năng lượng diễn ra trong suốt quá trình hình thành, phát triển Động lực phát triển cảnh quan phụ thuộc các yếu tố của tự nhiên như năng lượng bức xạ Mặt Trời, chế độ nhiệt, cơ chế hoạt động của gió mùa và
Trang 34hoạt động khai thác lãnh thổ của con người Nhịp điệu và xu thế biến đổi của nó phụ thuộc sự luân phiên tác động của chế độ mùa vào lãnh thổ Tác động này làm biến đổi CQ qua sự gia tăng các quá trình tích tụ và trao đổi vật chất - năng lượng trong nó, cả những tác động kìm hãm hay thúc đẩy các quá trình tự nhiên Tuy nhiên, yếu tố động lực có tính chất quyết định nhất đến biến đổi CQ là các hoạt động khai thác lãnh thổ của con người Tác động của con người nếu theo hướng tích cực (trồng và bảo vệ rừng, xây hồ chứa, ) tạo ra cân bằng tự nhiên, tăng sinh khối cảnh quan, cải thiện tốt môi trường khu vực Nếu là những tác động tiêu cực (phá rừng, làm thoái hóa đất, hoạt động kinh tế quá mức, ) làm biến đổi, suy thoái CQ theo chiều hướng xấu
1.2.3 Lý luận về đánh giá cảnh quan cho các ngành kinh tế nông lâm nghiệp
- Bản chất đánh giá cảnh quan: Cũng như nhiều lĩnh vực khoa học khác, sự phát triển của phương pháp đánh giá cảnh quan đi từ đơn giản đến phức tạp, từ đánh giá thành phần đến đánh giá tổng hợp Nói một cách khác, những kết quả đạt được của đánh giá thành phần là tiền đề cho sự ra đời hướng đánh giá tổng hợp trong địa
lý Như vậy, thực chất đánh giá cảnh quan là đánh giá tổng hợp các tổng thể tự nhiên cho mục đích cụ thể nào đó như: Phát triển nông nghiệp, lâm nghiệp, nông - lâm kết hợp, tái định cư nhằm sử dụng hợp lý tài nguyên, bảo vệ và phát triên môi trường bền vững
Đánh giá cảnh quan nhằm nhằm sử dụng hợp lý tài nguyên, bảo vệ và phát triên môi trường bền vững là một nhiệm vụ trong nghiên cứu địa lý ứng dụng, nó
có vị trí và vai trò rất quan trọng đối với các hoạt động phát triển kinh tế, giúp các nhà quản lý, quy hoạch đưa ra quyết định phù hợp với từng đơn vị lãnh thổ cụ thể
Có thể khẳng định rằng, đánh giá cảnh quan là bước trung gian giữa nghiên cứu cơ bản và quy hoạch nhằm sử dụng hợp lý tài nguyên, bảo vệ và phát triên môi trường bền vững
- Đối tượng đánh giá cảnh quan: là đơn vị cảnh quan ở các cấp khác nhau, phụ thuộc mục đích đánh giá Đánh giá cảnh quan cho phát triển các ngành kinh tế nông, lâm nghiệp ở bản đồ CQ tỉ lệ 1: 50.000
- Phương pháp đánh giá cảnh quan:
Trang 35Lựa chọn, xây dựng hệ thống chỉ tiêu đánh giá; Xây dựng thang điểm, bậc trọng số cho chỉ tiêu; Lựa chọn phương pháp đánh giá
Để tính điểm đánh giá cho các cảnh quan, luận văn vận dụng công thức trung bình cộng
Trong đó: Xa: Điểm đánh giá chung của cảnh quan a
ki: Trọng số của yếu tố thứ i
Xi:Điểm đánh giá yếu tố thứ i i: yếu tố đánh giá, i = 1,2,3…n Đánh giá các cảnh quan theo 3 mức độ: rất thích nghi, thích nghi trung bình
và ít thích nghi Khoảng cách điểm giữa các mức độ thích hợp tính theo công thức sau:
M
D D
Trong đó: Dmax: điểm đánh giá chung cao nhất
Dmin: điểm đánh giá chung thấp nhất
M: số cấp đánh giá (M = 3)
Sau khi đánh giá, luận văn xác định các cảnh quan chứa đựng yếu tố giới hạn đối với từng ngành (xếp vào nhóm CQ không thích hợp)
Đơn vị đánh giá là loại cảnh quan
1.2.4 Định hướng sử dụng cảnh quan cho phát triển nông - lâm nghiệp
Định hướng sử dụng cảnh quan cho phát triển nông - lâm nghiệp ở lãnh thổ nghiên cứu được tiếp cận theo hướng quy hoạch từ trên xuống (phân nhóm cảnh quan cho các loại hình sử dụng đất chính trong nông - lâm nghiệp) và từ dưới lên (gộp nhóm các đơn vị cảnh quan có cùng chức năng để đề xuất biện pháp sử dụng) theo mối quan hệ liên vùng
Xa = 1/n ∑ kiXi
n
i = 1
Trang 36CHƯƠNG 2 CÁC NHÂN TỐ THÀNH TẠO CẢNH QUAN VÀ ĐẶC ĐIỂM CẢNH QUAN
HUYỆN CON CUÔNG, TỈNH NGHỆ AN
2.1 Đặc điểm, vai trò các nhân tố thành tạo cảnh quan huyện Con Cuông, tỉnh Nghệ An
2.1.1 Vị trí địa lý
Con Cuông là huyện miền núi tây nam tỉnh Nghệ An, giới hạn trong tọa độ địa lý: 1846’ đến 1924’ vĩ độ bắc, 10432’ đến 10503’ kinh độ đông Diện tích tự nhiên của huyện là 1.738,53km2, địa giới hành chính như sau:
- Phía tây bắc giáp huyện Tương Dương
- Phía tây nam giáp CHDCND Lào
- Phía đông và đông nam giáp huyện Anh Sơn
- Phía bắc và đông bắc giáp huyện Quỳ Châu và Quỳ Hợp
Vị trí trên, hàng năm Con Cuông nhận được lượng bức xạ dồi dào, nền nhiệt
ẩm quy định tính chất nhiệt đới gió mùa ẩm, có mùa đông lạnh của lãnh thổ Nằm ở khu vực miền núi phía tây tỉnh Nghệ An nên các điều kiện tự nhiên và cảnh quan có
sự phân hóa đai cao khá rõ rệt theo sự phân bố của các dạng địa hình
Vị trí địa quyết định tính chất nhiệt đới ẩm gió mùa của các cảnh quan huyện Con Cuông, tỉnh Nghệ An
Trang 382.1.2 Các nhân tố tự nhiên
2.1.2.1 Địa chất
Địa chất là nhân tố quan trọng trong sự hình thành nền rắn lãnh thổ, quy định đặc điểm của các nhân tố: địa hình, thủy văn, thổ nhưỡng, sinh vật Sự biến động, diễn biến phức tạp của các quá trình địa chất tạo tiền đề cho sự phân hóa địa hình, nham thạch, đá mẹ và quá trình hình thành thổ nhưỡng Cấu trúc địa chất được phản ánh rõ trong địa hình và mạng lưới thủy văn của lãnh thổ Thành phần thạch học cung cấp vật chất cho quá trình thành tạo đất Các loại đá mẹ không những ảnh hưởng tới đặc điểm mà còn ảnh hưởng đến quá trình thoái hóa đất
Dựa vào các tài liệu địa chất liên quan lãnh thổ, đặc biệt là bản đồ địa chất huyện Con Cuông có thể khái quát một số nét cơ bản về đặc điểm địa chất khu vực
như sau:
- Thành tạo địa chất huyện Con Cuông gồm các hệ tầng:
+ Đệ tứ không phân chia (aQ): Cấu tạo chủ yếu Cuội, sỏi, sạn phân bố ở các
xã Bồng Sơn, Môn Sơn và Thị trấn Con Cuông Diện tích 2.025 ha
+ Hệ tầng Bắc Sơn (bs): Đá vôi phân lớp dày đến dạng khối, dày 550-650m
Phân bố ở các xã Bình Chuẩn, Cam Lâm, Thạch Ngàn, Lạng Khê, Yên Khê, thị trấn Con Cuông Diện tích: 10.010 ha
+ Hệ tầng Đồng trầu (dt1) Phân hệ tầng dưới: cuội kết, cát kết, bột kết, đá
phun trào axit, dày 1000-1100m Phân bố ở các xa Bình Chuẩn, Cam Lâm, Đôn Phục, Châu Khê, Yên Khê, Lục Dạ, Môn Sơn Diện tích: 51.540 ha
+ Hệ tầng Huổi Nhị (hn): Gồm đá phiến sét, sét sericit, cát kết, bột kết, dày
700 - 900m Phân bố ở các xã Bình Chuẩn, Mậu Đức, Đôn Phục, Châu Khê, Chi Khê, Lạng Khê, Môn Sơn Diện tích: 26.780 ha
+ Hệ tầng Khe Bố (kb) gồm cuội kết, sạn kết, phiến sét, sét than, dày 270 -
400m Phân bố ở các xã Mậu Đức, Thạch Ngàn Diện tích: 918,5 ha
- Hệ tầng La Khê (lk) gồm cuội kết, sạn kết, cát kết,đá silic, đá vôi, dày 250 -
400m Phân bố ở các xã Bình Chuẩn, Cam Lâm, Thạch Ngàn, Thị trấn Con Cuông, Chi Khê, Lạng Khê, Yên Khê Diện tích: 7.274 ha
Trang 39- Hệ tầng Nậm Tần (nt) gồm đá phiến, sét, bột kết Phân bố ở xã Thạch
Ngàn Diện tích: 120,9 ha
- Hệ tầng Sông cả phân hệ tầng giữa (sc2): đá phiến sericit, phiến thạch anh,
cát kết, thấu kính phun trào axit Tầng dày từ 1.200 - 1.300m Phân bố ở các xã Môn Sơn, Châu Khê, Cam Lâm với diện tích: 26.470 ha
- Hệ tầng Sông cả phân hệ tầng trên (sc3) cát kết, sạn kết, bột kết, đá phiến
sét Tầng dày từ 900 - 1.000m Phân bố ở các xã Bình Chuẩn, Mậu Đức, Đôn Phục, Châu Khê, Bồng Khê, Môn Sơn,Thạch ngàn, Cam Lâm Diện tích: 45.660 ha
- Phức hệ Sông Mã (sm1) Pha 1: Granit horblend-biotit, granit granophyr
Phân bố ở các xã Thạch Ngàn, Yên Khê, Lục Dạ Diện tích: 3.769 ha
- Xâm nhập không rõ tuổi (vm): Khối xâm nhập nhỏ không rõ tuổi diện tích
không đáng kể
- Đặc điểm đá mẹ trong lãnh thổ nghiên cứu:
+ Nhóm đá magma: Các đá xâm nhập phân bố thành các khối núi có kích
thước khác nhau: khối granit thuộc các phức hệ Sông Mã, hệ tầng Nậm Tần, phân
bố ở Môn Sơn, Mậu Đức, Thạch Ngàn, có độ cao, độ dốc lớn Các đá magma phun trào chủ yếu có tuổi Mesozoi và Kainozoi Trong Mesozoi, phun trào gặp ở các hệ tầng Đồng Trầu tuổi Trias, diện phân bố không lớn, thành phần gồm ryolit, ryodacit Các loại đất hình thành trên nhóm đá mẹ này thường có tầng dày mỏng đến trung bình, thành phần cơ giới nhẹ, quá trình rửa trôi mạnh Điển hình là đất vàng đỏ trên đá mắc ma axit (Fa)
+ Nhóm đá trầm tích chủ yếu gồm 3 loại đá sau:
* Đá cát kết, cuội kết, sạn kết, phiến sét thuộc hệ tầng Sông Cả, Đồng Trầu tuổi từ Ordovic đến Trias, phân bố thành vùng rộng lớn thuộc các xã Châu Khê, Môn Sơn Sản phẩm phong hóa từ các loại đá mẹ này tạo thành các loại đất: đất vàng nhạt trên đá cát (Fq) với tầng đất từ mỏng đến trung bình, thành phần cơ giới
từ thịt trung bình đến thịt nhẹ, quá trình rửa trôi mạnh
* Đá vôi hệ tầng Bắc Sơn và một phần trong các hệ tầng La Khê tuổi từ Devon đến Trias chiếm diện tích khá lớn, phân bố ở Thị Trấn Con Cuông, Yên Khê,
Trang 40Bình Chuẩn, Thạch Ngà dạng khối Sản phẩm phong hóa từ đá vôi hình thành đất nâu đỏ trên đá vôi (Fv), tích tụ ở chân sườn, thung lũng tạo nên đất dốc tụ (Dv)
* Trầm tích bở rời chủ yếu là các trầm tích hỗn hợp tuổi Đệ Tứ, phân bố dọc theo các thung lũng sông suối ở Con Cuông, hình thành đất phù sa
+ Đá biến chất thuộc hệ tầng Sông Cả có thành phần chủ yếu là phiến sericit,
đá phiến thạch anh, phân bố chủ yếu phía tây và tam lãnh thổ, thuộc các xã Cam Lâm, Châu Khê, Môn Sơn Quá trình phong hóa trên loại đá này tạo nên các loại đất
đỏ vàng trên đá biến chất (chẳng hạn đất Fs)
Cấu trúc địa chất tác động tích cực đến địa hình, làm phân hóa địa hình, phân hóa các lớp và phụ lớp cảnh quan Tính chất phức tạp của thành phần thạch học tạo nên nhiều đơn vị địa mạo - thổ nhưỡng, góp phần hình thành các đơn vị cảnh quan
của huyện Con Cuông
2.1.2.2 Đặc điểm chung
Khái quát địa hình huyện Con Cuông:
Địa hình huyện Con Cuông có sự phân hóa khá phức tạp, với những vùng địa hình chính và các kiểu địa hình sau: