Vùng Đông Bắc nước ta mặc dù có tính đa dạng sinh học cao và đang lưu giữ nhiều nguồn gen quý hiếm, độc đáo, không chỉ có giá trị về mặt khoa học mà còn có ý nghĩa kinh tế, nhưng tài ngu
Trang 1VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ VIỆT NAM VIỆN SINH THÁI VÀ TÀI NGUYÊN SINH VẬT
==========***==========
VŨ THỊ VÂN
NGHIÊN CỨU SỰ ĐA DẠNG CỦA CÁC LOÀI ONG
XÃ HỘI BẮT MỒI THUỘC HỌ ONG VÀNG (HYMENOPTERA: VESPIDAE) Ở CÁC ĐAI ĐỘ CAO
KHÁC NHAU CỦA KHU VỰC ĐÔNG BẮC
LUẬN VĂN THẠC SỸ SINH HỌC
Hà Nội – 2016
Trang 2VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ VIỆT NAM
VIỆN SINH THÁI VÀ TÀI NGUYÊN SINH VẬT
==========***==========
VŨ THỊ VÂN
NGHIÊN CỨU SỰ ĐA DẠNG CỦA CÁC LOÀI ONG
XÃ HỘI BẮT MỒI THUỘC HỌ ONG VÀNG (HYMENOPTERA: VESPIDAE) Ở CÁC ĐAI ĐỘ CAO
KHÁC NHAU CỦA KHU VỰC ĐÔNG BẮC
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình hoàn thành khoá luận này, tôi đã nhận được sự giúp đỡ
to lớn và quý báu của các cơ quan và cá nhân Nhân dịp này, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến:
- TS Nguyễn Thị Phương Liên người đã trực tiếp hướng dẫn, tận
tình chỉ bảo tôi trong suốt quá trình làm luận văn
- Các thầy cô và các nhà khoa học đang làm việc ở Viện Sinh thái
và Tài nguyên Sinh vật, những người đã trực tiếp giảng dạy, truyền thụ kiến thức và kinh nghiệm quý báu để tôi hoàn thành tốt khóa học
- Ban lãnh đạo Viện Sinh thái và Tài nguyên Sinh vật đã tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong việc nghiên cứu
Cuối cùng tôi xin cảm ơn những người thân và bạn bè đã động viên, giúp
đỡ tôi trong suốt thời gian qua
Hà Nội, tháng 11 năm 2016
Học viên
Vũ Thị Vân
Trang 4LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của bản thân tôi dưới
sự hướng dẫn tận tình của TS Nguyễn Thị Phương Liên
Kết quả trong luận văn là hoàn toàn trung thực, nếu sai tôi xin chịu trách nhiệm
Hà Nội, tháng 11 năm 2016
Học viên thực hiện
Vũ Thị Vân
Trang 6Hình 3.1: Loài Polistes sp 12 (nguồn: Nguyễn Thị Phương Liên)
Hình 3.2: Ropalidia sp 2 (nguồn: Vũ Thị Vân)
Hình 3.3: Vespula sp 1 (nguồn: Vũ Thị Vân)
Hình 3.4: Vespula sp 2 (nguồn: Vũ Thị Vân)
Hình 3.5: Tổ của loài P nipponensis Pérez (nguồn: Nguyễn Thị Phương
Trang 7KÝ HIỆU CÁC CHỮ VIẾT TẮT
KBTTN: Khu bảo tồn thiên nhiên
VQG: Vườn quốc gia
nnk: Những người khác
Trang 8MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Lí do chọn đề tài 1
2 Mục đích nghiên cứu 2
3 Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn 2
4 Điểm mới 2
CHƯƠNG I: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3
1.1 Khái quát về điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội và tài nguyên thiên nhiên khu vực nghiên cứu E rror! Bookmark not defined 1.1.1 Vị trí địa lí, điều kiện tự nhiên E rror! Bookmark not defined 1.1.1.1 Vị trí địa lý E rror! Bookmark not defined 1.1.1.2 Địa hình 3
1.1.1.3 Điều kiện địa chất- thổ nhưỡng 4
1.1.1.4 Điều kiện khí hậu- thủy văn 6
1.1.2 Tình hình kinh tế - xã hội khu vực nghiên cứu 7
1.1.3 Hiện trạng đa dạng sinh học 8
1.2 Khái quát về ong xã hội bắt mồi 10
1.3 Tình hình nghiên cứu về ong bắt mồi trên thế giới và ở Việt Nam 14
1.3.1 Tình hình nghiên cứu ong bắt mồi trên thế giới 14
1.3.2 Tình hình nghiên cứu ong bắt mồi ở Việt Nam 15
CHƯƠNG II: ĐỐI TƯỢNG, ĐỊA ĐIỂM, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 18
2.1 Đối tượng, thời gian và địa điểm nghiên cứu 18
2.1.1 Đối tượng nghiên cứu 18
Trang 92.1.2 Thời gian nghiên
cứu……… Error! Bookmark not defined
2.1.3 Địa điểm nghiên cứu
E rror! Bookmark not defined
2.2 Nội dung nghiên cứu 18
2.3 Phương pháp nghiên cứu 19
2.3.1 Phương pháp thu mẫu ngoài thực địa 19
2.3.2 Phương pháp xử lý mẫu vật trong phòng thí nghiệm 19
2.3.3 Phương pháp quan sát mẫu vật 19
2.3.4 Phương pháp định loại ……….20
2.3.5 Phương pháp xử lí số liệu……… 20
CHƯƠNG III: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 21
3.1 Thành phần và mức độ phổ biến của các loài ong xã hội bắt mồi ở khu vực Đông Bắc 21
3.1.1 Thành phần các loài ong xã hội bắt mồi ở khu vực Đông Bắc 21
3.1.2 Mức độ phổ biến của các loài ong xã hội bắt mồi ở khu vực Đông Bắc
31
3.1.3 Vị trí số lượng của các loài ong tại khu vực nghiên cứu 35
3.2 Sự phân bố các loài ong xã hội bắt mồi ở các đai độ cao khác nhau ở khu vực Đông Bắc 37
3.2.1 Sự phân bố của các loài ong xã hội bắt mồi ở các đai độ cao khác nhau của khu vực Đông Bắc 37
3.2.2 Các loài ong chiếm ưu thế về số lượng tại các đai độ cao khác nhau của khu vực Đông Bắc 38
3.3 So sánh tính đa dạng của các loài ong xã hội bắt mồi ở các đai độ cao khác nhau của khu vực Đông Bắc 43
3.3.1 Độ tương đồng thành phần loài ong xã hội bắt mồi ở các đai độ cao khác nhau của khu vực Đông Bắc 43
3.3.2 So sánh chỉ số đa dạng của các loài ong xã hội bắt mồi ở các đai độ cao khác nhau của khu vực Đông Bắc 43
Trang 10KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 48
1 Kết luận 48
2 Kiến Nghị 48
TÀI LIỆU THAM KHẢO 48
1 Tài liệu tiếng việt E rror! Bookmark not defined 2 Tài liệu tiếng anh 50
3 Tài liệu Internet 51
DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN VĂN… 53
Trang 11Vũ Thị Vân Cao học K18 Trang 1
MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
Các loài ong thuộc họ Vespidae được biết đến như là nhóm bắt mồi quan
trọng, một số loài được sử dụng trong phòng trừ sâu hại như Polistes
olivaceus (DeGeer), một số loài có vai trò thụ phấn cho thực vật như Polistes japonicus de Saussure, Polistes sagittarius de Saussure (Khuất Đăng Long và
nnk., 2004)[21] và một số loài có khả năng nhân nuôi với số lượng lớn, mang
lại hiệu quả kinh tế cao như Vespa ducalis Smith và Vespa afinis (Linnaeus)
Hơn thế nữa, do nhạy cảm với những tác động của môi trường nên chúng được sử dụng như những loài chỉ thị sinh học cho môi trường
Tuy nhiên, gần đây một số loài thuộc giống Vespa như V soror du Buysson, V velutina Lepeletier gây tác hại nghiêm trọng do chúng tấn công
các đàn ong mật được người dân địa phương nhân nuôi, làm sụt giảm số lượng ong trong đàn hay phá tan đàn Biện pháp phòng chống các loài này chưa được nghiên cứu
Vùng Đông Bắc nước ta mặc dù có tính đa dạng sinh học cao và đang lưu giữ nhiều nguồn gen quý hiếm, độc đáo, không chỉ có giá trị về mặt khoa học
mà còn có ý nghĩa kinh tế, nhưng tài nguyên thiên nhiên ở đây chưa được khai thác một cách hiệu quả và bền vững, diện tích rừng tự nhiên ngày càng giảm do nạn phá rừng làm nương rẫy và khai thác gỗ, thêm vào đó, việc khai thác khoáng sản không được kiểm soát làm xói mòn và thoái hóa đất, thiếu và
ô nhiễm nguồn nước dẫn đến việc sút giảm đa dạng sinh học
Nhằm nghiên cứu tính đa dạng, làm nền tảng cho việc bảo tồn đa dạng sinh học, làm cơ sở nghiên cứu chỉ thị sinh học và tìm ra các loài có giá trị kinh tế, có khả năng nhân nuôi, giúp phát triển nền kinh tế địa phương, tôi lựa
chọn đề tài: “Nghiên cứu sự đa dạng của các loài ong xã hội bắt mồi thuộc
họ ong Vàng (Hymenoptera: Vespidae) ở các đai độ cao khác nhau của khu vực Đông Bắc”
Trang 12Vũ Thị Vân Cao học K18 Trang 2
2 Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu sự đa dạng của các loài ong xã hội bắt mồi thuộc họ ong Vàng ở khu vực Đông Bắc, so sánh sự đa dạng của chúng ở các đai độ cao khác nhau, làm cơ sở cho những nghiên cứu về sinh học sinh thái, sử dụng các loài ong bắt mồi làm chỉ thị sinh học và ứng dụng trong phòng trừ sinh học
3 Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn
- Ý nghĩa khoa học: Nghiên cứu nhằm đưa ra những dẫn liệu mới về thành phần và sự đa dạng của các loài ong xã hội bắt mồi thuộc họ ong Vàng
ở khu vực Đông Bắc, làm cơ sở cho những nghiên cứu về sinh học sinh thái,
sử dụng các loài ong làm chỉ thị sinh học và ứng dụng trong phòng trừ sinh học
- Ý nghĩa thực tiễn: Đề xuất những giải pháp bảo tồn sự đa dạng của các loài ong
4 Điểm mới
Đây là nghiên cứu đầu tiên về sự đa dạng thành phần của các loài ong xã hội bắt mồi thuộc họ ong Vàng ở các đai độ cao khác nhau thuộc khu vực Đông Bắc Việt Nam
Trang 13Vũ Thị Vân Cao học K18 Trang 3
CHƯƠNG I: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Khái quát về điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội và tài nguyên thiên nhiên khu vực nghiên cứu
1.1.1 Vị trí địa lí, điều kiện tự nhiên
1.1.1.1 Vị trí địa lý
Vùng Đông Bắc (200
43’- 23024’vĩ độ Bắc, 1030
3’ -108007’ kinh độ Đông) được giới hạn về phía bắc và đông bởi đường biên giới Việt -Trung, phía đông nam trông ra vịnh Bắc Bộ, phía nam giới hạn bởi dãy núi Tam Đảo và vùng đồng bằng châu thổ sông Hồng, phần phía tây, được giới hạn bởi thung lũng sông Hồng và thượng nguồn sông Chảy[13]
1.1.1.2 Địa hình
Đây là vùng núi và trung du với nhiều khối núi và dãy núi đá vôi hoặc núi đất, cao hơn, được cấu tạo bởi đá granit, đá phiến và các cao nguyên đá vôi Những đỉnh núi cao của vùng Đông Bắc đều tập trung ở đây, như Tây Côn Lĩnh, Kiêu Liêu Ti Phần phía bắc sát biên giới Việt-Trung là các cao nguyên (sơn nguyên) lần lượt từ tây sang đông gồm: cao nguyên Bắc Hà, cao nguyên Quản Bạ, cao nguyên Đồng Văn Hai cao nguyên đầu có độ cao trung bình từ 1000–1200 m Cao nguyên Đồng Văn cao 1600 m Sông suối chảy qua cao nguyên tạo ra một số hẻm núi dài và sâu Cũng có một số đồng bằng nhỏ hẹp,
đó là Thất Khê, Lạng Sơn, Lộc Bình, Cao Bằng Phía đông, từ trung lưu sông Gâm trở ra biển, thấp hơn có nhiều dãy núi hình vòng cung quay lưng về hướng Đông lần lượt từ Đông sang Tây là vòng cung Sông Gâm, Ngân Sơn-Yên Lạc, Bắc Sơn, Đông Triều Các dãy núi vòng cung này hầu như đều trụm đuôi lại ở Tam Đảo Phía tây nam, từ Phú Thọ, nam Tuyên Quang, nam Yên Bái, và Thái Nguyên, thấp dần về phía đồng bằng Người ta quen gọi phần này là "vùng trung du" Độ cao của phần này chừng 100–150 m, đặc trưng của vùng Trung du là có vùng Đồng Bằng khá rộng bị chia cắt bởi gò đồi[13]
Trang 14Vũ Thị Vân Cao học K18 Trang 4
Dựa vào sự phân chia các vùng địa lý tự nhiên đồng thời kết hợp với việc phân vùng sinh thái lâm nghiệp, diện tích núi đá vôi ở Việt Nam được chia thành 5 vùng sinh thái (Nguyễn Huy Phồn và nnk., 1999)[12] Trong đó khu vực Đông Bắc (bao gồm các tỉnh Hà Giang, Cao Bằng, Bắc Kạn, Thái Nguyên, Lạng Sơn, Bắc Giang và Quảng Ninh) với vùng địa lý tự nhiên gồm bốn cánh cung là cánh cung sông Gâm, cánh cung Ngân Sơn, cánh cung Bắc Sơn và cánh cung Đông Triều được chia thành 2 vùng sinh thái như sau:
- Vùng Cao Bằng – Lạng Sơn với hai vùng phụ chủ yếu là vùng phụ núi đá vôi Ngân Sơn – Trùng Khánh và vùng phụ núi đá vôi Bắc Sơn Với diện tích 347.700 ha, đây là vùng có núi đá vôi tập trung lớn nhất trong cả nước Hoạt động xâm nhập ở vùng Đông Bắc chủ yếu cũng tập trung vào miền này Vùng này ở vào vĩ độ cao của nước ta, mang dấu hiệu chuyển tiếp từ khí hậu nhiệt đới sang á nhiệt đới Kiểu núi đá vôi ở đây là trung bình và thấp, bao gồm một
số cao nguyên đá vôi khối uốn nếp có quá trình hoạt động Cacxtơ là kiểu địa mạo chủ yếu của vùng
- Vùng Tuyên Quang – Hà Giang với hai vùng phụ là vùng phụ núi đá vôi Quản Bạ - Phia Phương và vùng phụ cao nguyên đá vôi Bắc Hà Vùng này có diện tích núi đá là 130.400 ha Các loại đá vôi chiếm vai trò chủ yếu trong việc cấu tạo nên các núi trong vùng Núi đá vôi tạo thành một dải không liên tục theo hướng Tây Bắc, tập trung chủ yếu ở phía Bắc và Đông Bắc, tạo thành từng khối lớn Độ cao vùng này lớn hơn vùng Cao Bằng – Lạng Sơn, các dãy núi phía Bắc cao tới 1000m
1.1.1.3 Điều kiện địa chất- thổ nhưỡng
*Điều kiện địa chất
Cơ sở lục địa của miền đông bắc được hình thành từ liên đại Nguyên sinh cách đây gần 600 triệu năm Biển tiến và thoái liên tục cho đến chu kỳ tạo núi Indochina thì miền đông bắc thoát hẳn khỏi chế độ biển và bắt đầu chế độ lục địa Vận động tạo núi Himalaya sau đó lan tới đây làm cho toàn miền được
Trang 15Vũ Thị Vân Cao học K18 Trang 5
nâng lên và cũng đồng thời tạo ra những đứt gãy Đất bị phơi trần và chịu tác động của nắng, mưa và gió nên không ngừng bị phân hủy trong khi các đỉnh núi bị san mòn bớt[13]
*Điều kiện thổ nhưỡng
Xen kẽ giữa các thời kì lắng đọng trầm tích là các vận động nâng lên và đứt gãy có các hoạt động magma ở thể xâm nhập và phun trào tuổi trung sinh như các khối Riolit Tam Đảo, núi Nam Châu Lãnh, máng trũng Cao Bằng-Lạng Sơn…đá granit ở Phia Oắc một phần Móng Cái, đá bazan xâm nhập ở Cao Bằng Những nơi nền móng uốn nếp Caledoni đều được nâng lên khá cao
và trở thành núi, nhiều nơi cao trên 1000m như: Vùng núi Cao Bằng với đá vôi và diệp anh, dải Ngân Sơn [35]
Đất ở khu Đông Bắc được phân ra thành các loại sau
- Đất đỏ đá vôi, phân bố theo các cánh cung, nhiều nhất ở các tỉnh Hà Giang, Cao Bằng, Lạng Sơn, Lào Cai Loại đất này rất thích hợp cho các cây thuốc lá, đỗ tương, bông, ngô,…
- Đất Feralit đỏ vàng, phân bố chủ yếu ở Thái Nguyên, Tuyên Quang, Phú Thọ, Yên Bái, Bắc Giang Loại đất này rất phù hợp với cây chè, điều này
lý giải đây chính là vùng chè lớn nhất cả nước, với sản phẩm chè nổi tiếng thơm ngon như chè Thái Nguyên, chè Phú Thọ…
- Đất phù sa cổ, phân bố chủ yếu ở Phú Thọ, Bắc Giang thích hợp phát triển các cây công nghiệp hàng năm như lạc, thuốc lá, đậu tương, cây lương thực
- Đất phù sa, phân bố ở các đồng bằng ven sông, thích hợp trồng hoa màu và lương thực
Ngoài ra đất ở khu vực giáp biên giới Cao Bằng, Lạng Sơn, khí hậu rất thuận lợi trồng các cây thuốc quý như tam thất, dương quy, đỗ trọng, hồi, thảo quả…
Trang 16Vũ Thị Vân Cao học K18 Trang 6
Nhìn chung, tiềm năng về đất đai cho phát triển các cây công nghiệp, cây đặc sản ở vùng này rất lớn [36]
1.1.1.4 Điều kiện khí hậu- thủy văn
*Điều kiện khí hậu
Tuy nằm trong vùng khí hậu cận nhiệt đới ẩm nhưng vì địa hình cao, lại có nhiều dãy núi hình cánh cung mở ra ở phía bắc, chụm đầu về Tam Đảo, vào mùa Đông có gió Bắc thổi mạnh, rất lạnh, còn mùa hè mát mẻ, do đó vùng này có đặc khí hậu ôn đới Vùng núi ở Lào Cai, Hà Giang, Cao Bằng, Lạng Sơn có thể có lúc nhiệt độ xuống dưới 0°C và có băng giá, đôi khi có tuyết rơi [13]
Tổng nhiệt hoạt động khoảng 7500-83000C, nhiệt độ trung bình năm >
200C, mùa đông lạnh và rét Do ảnh hưởng và chịu tác động của hoàn lưu cực đới nên mùa đông lạnh hay rét thất thường, biên độ nhiệt có thể lên tới 13-
140 Đây là vùng có mùa đông lạnh nhất so với các khu vực khác trong cả nước
Tác động của gió mùa đông bắc chủ yếu diễn ra ở vùng thấp dưới 1000m, có lượng mưa thấp (1200-1600mm), chỉ những nơi có điều kiện thuận lợi như địa hình đón gió, núi cao thì lượng mưa hàng năm khá cao như Tam Đảo, Móng Cái…
Đây là khu vực mưa sớm nhất cả nước (vào khoảng tháng 7) do hoạt động của dải hội tụ nội chí tuyến Trừ những nơi có địa hình chắn gió, nói chung ở Đông Bắc mưa dài chỉ 5 tháng, số ngày mưa ít khi trên 100 ngày Thời gian mưa không liên tục và thất thường, vào mùa mưa thì mưa liên tục cũng chỉ từ 5-8 ngày, thời gian không mưa có thể kéo dài trung bình lên đến
10 ngày
Khí hậu có sự phân hóa rõ rệt giữa các khu vực: Khu Cao Bằng- Lạng Sơn có khí hậu tương đối khắc nghiệt, khu vực đồi núi thấp khô hạn, vùng lạnh và khô là máng trũng Thất Khê- Đình Lập Phía nam của 2 vùng trên thì
Trang 17Vũ Thị Vân Cao học K18 Trang 7
tính chất khô giảm (trừ các thung lũng kín gió) Khu vực ven biển ấm, ẩm [35]
*Điều kiện thủy văn
So với các khu vực khác thì mạng lưới sông ngòi ở Đông Bắc không phát triển, phần lớn đều là các sông trung bình, mật độ các sông ngòi có khoảng 0,6-1,2 km/km2
Ở đây có 3 hệ thống sông chính:
- Thứ nhất là lưu vực sông Kì Cùng-Bắc Giang: Bắt nguồn từ Lạng Sơn
và Cao Bằng chảy qua thung lũng hẹp thuộc đứt gãy Cao-Lạng chảy sang Trung Quốc Sông Kì Cùng đổi dòng nhiều lần và lắm thác ghềnh Hệ thống song Bác Giang-Kì Cùng dài 243 km, diện tích lưu vực là 10.902 km2
- Thứ hai là lưu vực sôngThái Bình: Các sông chính của hệ thống sông Thái Bình đều bắt nguồn từ khu Đông Bắc
- Thứ ba là lưu vực sông ven biển Quảng Ninh: Các sông đều ngắn, nhỏ
và dốc (20-30km), lưu lượng nước dao động, mùa lũ lên nhanh, ảnh hưởng lớn của thủy triều
Ở khu Đông Bắc cũng có một số hồ: Núi Cốc, Cầm Sơn [35]
1.1.2 Tình hình kinh tế - xã hội khu vực nghiên cứu
Vùng Đông Bắc được khai thác sớm, đặc biệt mạnh mẽ từ thời Pháp thuộc Do vậy, tài nguyên đã suy giảm nhiều và môi trường có dấu hiệu suy thoái
Đông Bắc là vùng giàu tài nguyên khoáng sản vào bậc nhất nước ta Có những khoáng sản có ý nghĩa quan trọng đối với quốc gia như: than, apatit, sắt, đồng, chì, kẽm, thiếc là những tài nguyên quan trọng cho phát triển các ngành công nghiệp khai khoáng và nhiều ngành công nghiệp khác
Vùng còn có các loại khoáng sản khác như pirit, vàng đá quý, đất hiếm, đá granit, đá xây dựng, đá vôi sản xuất xi măng, nước khoáng là những khoáng sản có tiềm năng và là thế mạnh cho phát triển công nghiệp khai khoáng, chế
Trang 18Vũ Thị Vân Cao học K18 Trang 8
biến khoáng sản của vùng và của cả nước Tuy nhiên những mỏ này chủ yếu đang ở dạng tiềm năng, một số đang khai thác với quy mô nhỏ mang tính địa phương
Về lâm nghiệp hiện nay, diện tích rừng của vùng còn rất thấp do việc khia thác bừa bãi và do áp lực của sự gia tăng dân số Rừng nguyên sinh chỉ còn rất ít ở vùng núi non hiểm trở Độ che phủ rừng hiện tại là 17% Do vậy, việc trồng rừng và tu bổ rừng là vấn đề quan trọng hàng đầu trong phát triển kinh tế - xã hội của vùng nhằm bảo vệ tài nguyên, cân bằng sinh thái, cung cấp nguyên liệu cho công nghiệp giấy, công nghiệp khai thác mỏ…[36]
1.1.3 Hiện trạng đa dạng sinh học
Với diện tích chủ yếu là núi và đồi, trong đó diện tích núi đá vôi chiếm phần lớn, khu vực Đông Bắc nước ta được cho là nơi chứa đựng sự đa dạng các loài sinh vật cao và đặc trưng [5]
*KBTTN Phia Oắc, tỉnh Cao Bằng
KBTTN Phia Oắc – Phia Đén thuộc huyện Nguyên Bình, tỉnh Cao Bằng là vùng núi cao, có địa hình chia cắt, diện tích đất lâm nghiệp chiếm tới 84% tổng diện tích tự nhiên trong đó diện tích rừng chủ yếu là rừng tự nhiên trên núi đá vôi Thành phần thực vật tại khu vực nghiên cứu có tới 33 loài thực vật quý hiếm và nguy cấp, theo sách đỏ Việt Nam 2007, trong đó có 3 loài ở cấp cực kỳ nguy cấp (CR) chiếm 9,09%, 16 loài ở cấp nguy cấp (EN) chiếm
48,48% và 14 loài ở cấp VU chiếm 42,42%, thuộc 27 chi, 20 họ thuộc 3
ngành thực vật khác nhau [15]
Hiện nay ở Việt Nam có 12 bộ thú trên cạn Ở rừng núi Bắc Bộ có 10
bộ thì vùng núi Phia Oắc-Phia Đén đã xác định sự hiện diện các loài thuộc 8
bộ, chiếm 66,7% số bộ thú của Việt Nam; với số loài đã biết là 87 loài/300 loài, chiếm 29% tổng số loài thú trên cạn của cả nước Cùng với đó là 11 loài chim quý hiếm, 14 loài bò sát và 7 loài côn trùng quý hiếm Đây chính là di sản, là báu vật của núi rừng Phia Oắc cần được ưu tiên bảo tồn [33]
Trang 19Vũ Thị Vân Cao học K18 Trang 9
*KBTTN Kim Hỷ, tỉnh Bắc Cạn
Tài nguyên thực vật của khu bảo tồn rất phong phú Theo kết quả điều tra mới nhất cho thấy KBTTN Kim Hỷ có 1072 loài thực vật bậc cao có
mạch, thuộc 608 chi của 172 họ và 5 ngành thực vật
Theo các kết quả điều tra thì hiện nay đã ghi nhận được 458 loài động vật thuộc 99 họ, 28 bộ thuộc các lớp thú, chim, bò sát và ếch nhái [1]
*KBTTN Na Hang, tỉnh Tuyên Quang
Theo Nguyễn Nghĩa Thìn và Đặng Quyết Chiến (2006), hệ thực vật tại KBTTN Na Hang có 1.162 loài thực vật, thuộc 604 chi, 159 họ của 4 ngành thực vật bậc cao có mạch Trong đó ngành Hạt kín (Angiospermae) có 1.083 loài, 570 chi, 135 họ; ngành Hạt trần (Gymnospermae) có 11 loài, 8 chi, 5 họ; ngành Dương xỉ (Polypodiophyta) có 63 loài, 34 chi, 17 họ; nghành Thông đất (Lycopodiophyta) có 5 loài, 2 chi, 2 họ
Tuy chưa điều tra đầy đủ, nhưng bước đầu đã ghi nhận được 90 loài thú, 263 loài chim, 61 loài bò sát và 35 loài ếch nhái Kết quả đó cho thấy KBTTN Na Hang có tính đa dạng sinh học cao, có 13 loài thú ghi trong Sách
đỏ Việt Nam (Anon 1992), đặc biệt là sự tồn tại của các loài linh trưởng đang
bị đe doạ trên toàn cầu Đây là nơi duy nhất ở Việt Nam có loài Voọc mũi hếch sinh sống với quần thể lớn nhất [37]
*KBTTN Khe Rỗ, tỉnh Bắc Giang
Rừng trong KBTTN Khe Rỗ có 786 loài thực vật, thuộc 496 chi và 166
họ, được đánh giá là nơi có sự đa dạng về loài, đa dạng về các chi, các họ thực vật Trong số các loài thực vật đó, có 43 loài thực vật quý hiếm có tên trong sách đỏ Việt Nam Điển hình nhất là các loại cây, như pơ mu, thông tre, thông nàng, chò chỉ, kim giao, trầm hương, lát hoa, trò vẩy, bẩy lá… Rừng nguyên sinh Khe Rỗ đã được đánh giá là nơi có nhiều loài thực vật quý hiếm nhất của vùng Đông Bắc Việt Nam
Trang 20Vũ Thị Vân Cao học K18 Trang 10
Động vật rừng trong KBTTN Khe Rỗ cũng khá đa dạng Hiện trong khu bảo tồn có 226 loài động vật thuộc 81 họ, 34 bộ, 4 lớp, cụ thể là:
Như vậy, số liệu trên đã cho thấy động thực vật ở khu vực Đông Bắc rất phong phú và đa dạng Kết quả nghiên cứu của chúng tôi sẽ bổ sung thêm và góp phần làm hoàn thiện dữ liệu cho khu vực này
1.2 Khái quát về ong xã hội bắt mồi
Tên khoa học: Vespidae
Tên tiếng Anh: Social wasps
Tên Việt Nam: Ong bắt mồi
Trang 21Vũ Thị Vân Cao học K18 Trang 11
Hình 1.1: Cấu tạo phần đầu của loài ong xã hội thuộc họ Ong Vàng
Vespidae (nguồn: Phạm Thị Hoa)
(A: Đầu nhìn từ phía trước; B: Đầu nhìn nghiêng; C: Râu đầu; D: Đầu nhìn từ trên xuống; E: Đầu nhìn từ mặt sau.)
Phần đầu mang đôi râu, mắt kép, 3 mắt đơn (1 mắt đơn trước và 2 mắt đơn sau), ngoài ra còn có cơ quan miệng Đầu được chia thành các phần: Trán, phần tiếp phía trên đỉnh đầu, sau nó gọi là phần chẩm Ở phía dưới trán khoảng từ mắt tới chân kìm là mảnh gốc môi và tiếp đó là cơ quan miệng Hai bên đầu phía dưới mắt kép là phần má (Hình A, B, D, E)
Râu là đôi có nhiều đốt dài tạo thành, chức năng là cơ quan cảm giác Râu nằm ở 2 bên trán, nằm giữa 2 mắt kép và trong hố râu Râu có cấu tạo gồm 3 phần: gốc râu, đốt cuống, đốt chuyển, đốt roi Gốc râu nối với hố râu, giúp sự vận động của râu được linh hoạt (Hình C)
Cơ quan miệng: gồm có hàm trên, hàm dưới, xúc biên hàm trên, xúc biên hàm dưới Hàm trên nằm dưới mảnh gốc môi, các loài ong họ Vespidae ăn
Trang 22Vũ Thị Vân Cao học K18 Trang 12
thịt nên hàm trên khỏe, vững chắc và có răng nhọn Xúc biện hàm trên và hàm dưới chia thành nhiều đốt, giúp cảm nhận thức ăn (Hình A, E)
Vàng Vespidae (nguồn: Phạm Thị Hoa)
Trang 23Vũ Thị Vân Cao học K18 Trang 13
F: Phần ngực nhìn nghiêng; G: Chân; H: đốt cuối bàn chân; I: Cánh trước; J: Cánh sau
Phần ngực gồm 3 đốt: ngực trước, ngực giữa và ngực sau Mỗi đốt ngực có tấm lưng và tấm bụng (mảnh bên) Mỗi đốt ngực mang 1 đôi chân, ngực giữa
và sau mang 2 đôi cánh
Chân gồm có 5 đốt háng, đốt chuyển, đốt đùi, đốt ống và đốt bàn (hình G) Đốt ống thường có 2 gai gọi là gai đốt ống Đốt bàn thường có 5 đốt đốt thứ nhất dài rộng hơn các đốt còn lại, đốt cuối thường có 2 vuốt và ở giữa có tấm đệm vuốt (Hình H)
Cánh gắn với phần ngực ở gốc cánh, ong thường có 2 đôi cánh chia thành cánh trước (Hình I), cánh sau (Hình J) và kiểu cánh là cánh màng
Hệ gân cánh:
R: Radial M: Mediellan cell Sm: Submedian cell
Cu: Cubitellan cell D: Discoidal cell B: Brachial cell
A: Anellan cell
Hình 1.3: Phần bụng của loài ong xã hội thuộc họ Ong Vàng Vespidae
(nguồn: Phạm Thị Hoa)
Phần bụng phân đốt, các đốt gồm tấm lưng bụng và tấm mảnh bụng ở
dưới Ở đốt cuối cùng có ngòi đốt là cơ quan bảo vệ và tấn công của ong
Ong là loài côn trùng thuộc bộ cánh màng, chúng sống theo đàn có sự phân chia đẳng cấp xã hội và phân công công việc rõ ràng Trong đàn nhiều
Trang 24Vũ Thị Vân Cao học K18 Trang 14
nhất có khi tới 25.000 – 50.000 con và gồm ong chúa, ong thợ, ong non Môi trường sống của chúng rất đa dạng chủ yếu sống trong các tổ ở hốc cây, kẽ đá, bụi rậm, trong rừng
Họ Ong Vàng Vespidae là họ ong đa dạng, phân bố khắp thế giới với số lượng khoảng 5000 loài (Pickett & Carpenter, 2010) [34], các loài ong thuộc
họ này có tổ chức xã hội rất cao và chúng thường hoạt động mạnh vào mùa hè – thu
Họ Vespidae gồm 6 phân họ Euparaginae, Masarinae,Eumeninae, Stennogastrinae, Polistinae và Vespinae, trong đó các loài ong thuộc 3 phân
họ Stennogastrinae, Polistinae, Vespinae là các loài ong có tổ chức xã hội cao phân bố ở khu vực Đông Nam châu Á
Các loài ong xã hội họ Vespidae là một trong những mắt xích quan trọng trong hệ sinh thái do chúng có tập tính bắt mồi Các loài ong này hầu hết là những loài ăn thịt vì vậy chúng có khả năng hạn chế số lượng cá thể của nhiều loài sâu hại và có thể sử dụng trong phòng trừ tổng hợp sâu bệnh hại Ngoài ra nhiều loài ong xã hội tìm kiếm thức ăn là mật hoa, vì vậy chúng đóng vai trò thụ phấn cho cây trồng Bên cạnh đó, chúng còn giá trị về mặt kinh tế, làm thức ăn và nọc của một số loài ong còn có khả năng chữa bệnh
1.3 Tình hình nghiên cứu về ong bắt mồi trên thế giới và ở Việt Nam
1.3.1 Tình hình nghiên cứu về ong bắt mồi trên thế giới
Trên thế giới, nghiên cứu về các loài côn trùng cánh màng như các loài ong mật thuộc họ Apidae, ong bắt mồi thuộc họ Vespidae và các loài kiến thuộc họ Formicidae đã được thực hiện từ những năm đầu của thế kỷ 17, thống kê được họ Apidae có hơn 5700 loài (Michener, 2000), có khoảng 5000 loài (Pickett & Carpenter, 2010) [2] và họ Formicidae có hơn 15.000 loài (Bolton, 2005) đã được mô tả Các loài ong bắt mồi họ Vespidae phân bố hầu hết mọi nơi trên thế giới gồm 6 phân họ Euparagiinae, Masarinae, Eumeninae, Stennogastrinae, Polistinae, Vespinae Trong đó, có 7 giống thuộc phân họ
Trang 25Vũ Thị Vân Cao học K18 Trang 15
Stennogastrinae bao gồm 58 loài đã được mô tả (Carpenter và Kojima, 1997b) [19], có 963 loài và 25 giống thuộc phân họ Polistinae đã được ghi nhận trên thế giới (Carpenter, 1996) (Kojima, 1999) [17] [22], phân họ Vespinae có 3 giống bao gồm 69 loài được ghi nhận trên thế giới (Carpenter, 1997a) [18] Ngoại trừ hai phân họ Euparagiinae, Masarinae, cả bốn phân họ còn lại đều có phân bố ở Đông Nam Á và sự đa dạng của chúng đã được nhiều tác giả nghiên cứu Ở Thái Lan, Philippin, Đài Loan có tổng số các loài thuộc 3 phân họ Polistinae, Vespinae, Stennogastrinae lần lượt là 47, 32, 28 (Carpenter, 1996; Kojima & Carpenter, 1997, số liệu cập nhật) [17] [18] [19] Riêng ở Indonesia có 383 loài của cả 4 phân họ (Nugroho et al., 2011) [27] Nghiên cứu các loài ong bắt mồi họ Vespidae và sử dụng chúng làm thiên địch và chỉ thị sinh học cho môi trường đã được tiến hành ở nhiều nước
trên thế giới Picanco et al (2010) đã chỉ ra loài Polybia ignobilis có hiệu quả cao trong việc diệt trừ sâu cánh vảy Ascia monuste orseis (Godart) ở Nam Mỹ [28] Loài Polybia platycephala (Richards) có khả năng kiểm soát sâu bệnh
hại bộ Cánh vảy và bộ Hai cánh ở bang Minas Gerais, Brazil (Prezoto et al., 2005) [29] Kết quả nghiên cứu về loài ong họ Vespidae ở các khu vực rừng
ven phía Đông Bắc Brazin đã chỉ ra rằng Pesdopolybia vespiceps và Polybia
fastidiosuscula là 2 loài chỉ thị cho những nơi rừng được bảo tồn nghiêm ngặt
Mischocyttarus drewseni là loài chỉ thị cho khu vực rừng bị tác động nhiều nhất (Souza et al., 2010) [31]
1.3.2 Tình hình nghiên cứu về ong bắt mồi ở Việt Nam
Nghiên cứu về loài ong bắt mồi thuộc họ Ong Vàng (Hymenoptera: Vespidae) ở Việt Nam đã được tiến hành từ năm 1917 [21] Trong “Kết quả điều tra côn trùng 1967-1968” [16] các tác giả đã đưa ra danh sách 31 loài thuộc họ Vespidae ở Việt Nam gồm 21 loài thuộc phân họ Polistinae, 10 loài thuộc phân họ Vespinae Gần đây, Nguyễn Thị Phương Liên & Junichi Kojima (2013) đã ghi nhận có 76 loài ong xã hội thuộc 11 giống, bao gồm 11
Trang 26Vũ Thị Vân Cao học K18 Trang 16
loài thuộc bốn giống của phân họ Stennogastrinae, 51 loài thuộc bốn giống của phân họ Polistinae, và 14 loài thuộc ba giống của phân họ Vespinae [26] Một số nghiên cứu đã đưa ra thành phần của các loài ong xã hội ở các khu bảo tồn thiên nhiên như ở một số KBTTN thuộc vùng Tây Bắc đã thống
kê được có 38 loài ong xã hội bắt mồi họ Vespidae, trong đó phân họ Stennogastrinae ghi nhận 3 loài thuộc 3 giống, phân họ Polistinae ghi nhận 27 loài thuộc 3 giống và phân họ Vespinae ghi nhận 8 loài (Nguyễn Thị Phương Liên & Phạm Huy Phong, 2011) [6] Một số nghiên cứu tại vườn quốc gia (VQG) ở nước ta như 24 loài thuộc 6 giống được ghi nhận ở VQG Ba Vì và Tam Đảo (Nguyễn Thị Phương Liên & Khuất Đăng Long, 2003) [8], trong đó
có 17 loài được tìm thấy ở Ba Vì và 21 loài được tìm thấy ở Tam Đảo Tại 2 vườn quốc gia Xuân Sơn và Cát Bà đã ghi nhận có 30 loài ong xã hội thuộc 8 giống và 3 phân họ: Polistinae (3 giống), Vespinae (3 giống), Stennogastrinae (2 giống) (Nguyễn Thị Phương Liên& Kojima, 2005) [6], trong đó có 24 loài thu được ở VQG Xuân Sơn và 12 loài thu được ở VQG Cát Bà Có 18 loài thuộc 8 giống và 3 phân họ được ghi ở VQG Bạch Mã (Nguyễn Thị Phương Liên & nnk., 2007) [7], phân bố theo độ cao của các loài ở đây cũng được trình bày Thống kê ở VQG Kon Ka Kinh có 21 loài có mặt ở đây, trong đó phân họ Stennogastrinae có 2 loài thuộc 2 giống, phân họ Polistinae có 14 loài thuộc 4 giống, phân họ Vespinae 5 loài thuộc 2 giống (Nguyễn Thị Phương Liên, 2013) [4]
Gần đây, nghiên cứu về sự phân bố của các loài ong xã hội ở ba điều kiện khí hậu phía bắc, phía nam, khu vực miền núi cũng được đưa ra (Nguyen & Kojima, 2013) cho thấy số lượng loài giảm từ bắc xuống nam, và khu vực miền núi có số lượng loài nhiều nhất Có duy nhất một công trình nghiên cứu
về các loài thuộc họ này ở vùng Đông Bắc nước ta đưa ra danh sách 7 loài
thuộc giống Polistes được ghi nhận ở đây (Nguyen & Kojima, 2013)26
Ngoài ra, một số nghiên cứu về họ Vespidae tại khu vực miền Trung và
Trang 27Vũ Thị Vân Cao học K18 Trang 17
miền Nam cũng được tiến hành, trong đó có 35 loài ong xã hội bắt mồi họ Vespide được ghi nhận ở dãy Trường Sơn thuộc các tỉnh Quảng Bình, Thừa Thiên -Huế, Quảng Nam trong đó có 4 loài thuộc 3 giống trong phân họ Stennogastrinae, 21 loài thuộc 3 giống trong phân họ Polistinae và 10 loài thuộc 3 giống trong phân họ Vespinae (Nguyễn Thị Phương Liên và Tạ Huy Thịnh, 2008) [10] và tại Đông Nam Bộ đã ghi nhận có 23 loài ong xã hội bắt mồi thuộc họ Vespidae, trong đó phân họ Polistinae có 17 loài thuộc 3 giống, phân họVespinae có 3 loài thuộc 2 giống, phân họ Stennogastrinae 3 loài thuộc 3 giống (Nguyễn Thị Phương Liên , 2009) [3]
Một số công trình nghiên cứu về tập tính sinh học và vai trò của các loài ong xã hội bắt mồi họ Vespidae đã được công bố Các loài ong thuộc họ Vespidae thường làm tổ nhiều nhất vào tháng 5, 6, 7 và tổ của chúng được thu thập ở những sinh cảnh của những vùng đệm hay hệ sinh thái nông nghiệp xen lẫn đồi cây bụi, thích hợp cho sự tìm kiếm thức ăn của loài này (Nguyễn Thị Phương Liên, 2005) [2]
Trang 28Vũ Thị Vân Cao học K18 Trang 18
CHƯƠNG II: ĐỐI TƯỢNG, ĐỊA ĐIỂM, NỘI DUNG VÀ
PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Đối tượng, thời gian và địa điểm nghiên cứu
2.1.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu các loài ong xã hội bắt mồi thuộc họ ong Vàng (Hymenoptera: Vespidae) ở các đai độ cao khác nhau của khu vực Đông Bắc
2.1.2 Thời gian nghiên cứu
Từ tháng 6/2016 đến tháng 11/2016
2.1.3 Địa điểm nghiên cứu
Với bốn khu vực có đặc trưng là rừng trên núi đá vôi ở bốn đai độ cao khác nhau của khu vực Đông Bắc được lựa chọn để nghiên cứu:
+) KBTTN Phia Oắc, tỉnh Cao Bằng (22042'- 22046' 06'' vĩ độ Bắc,
105043' 40'' -106003' 35'' kinh độ Đông), ở đai cao từ 1000m trở lên (Đai độ cao 1);
+) KBTTN Kim Hỉ, tỉnh Bắc Cạn (22007'30'' - 22016' vĩ độ Bắc,
105050'50'' -1060 03'50'' kinh độ Đông), ở đai cao 600m-700 m (Đai độ cao 2);
+) KBTTN Na Hang, tỉnh Tuyên Quang (22016' - 22031' vĩ độ Bắc,
105022' -105029' kinh độ Đông), ở đai cao 300 m (Đai độ cao 3);
+) KBTTN Khe Rỗ, tỉnh Bắc Giang (21017'24'' - 21028'21'' vĩ độ Bắc,
106052' -107002'11'' kinh độ Đông), ở đai cao nhỏ hơn 50 m (Đai độ cao 4);
2.2 Nội dung nghiên cứu
- Nghiên cứu thành phần và mức độ phổ biến của các loài ong xã hội bắt mồi ở khu vực Đông Bắc
- Nghiên cứu sự phân bố của các loài ong xã hội bắt mồi ở các đai độ cao
khác nhau ở khu vực Đông Bắc
- So sánh tính đa dạng của các loài ong xã hội bắt mồi ở các đai độ cao
khác nhau ở khu vực Đông Bắc
Trang 29Vũ Thị Vân Cao học K18 Trang 19
2.3 Phương pháp nghiên cứu
2.3.1 Phương pháp thu mẫu ngoài thực địa
Trong nghiên cứu này, vợt lưới dạng tròn với cán vợt có các độ dài khác nhau (2,3,5,6m) sẽ được dùng để thu bắt những loài ong có kích thước khác nhau đang bay tự do hay đậu trên cây Mẫu vật được thu thập dựa theo phương pháp của Tạ Huy Thịnh và nnk (2004) [14] có sửa đổi để phù hợp với đối tượng thu bắt là các loài ong xã hội bắt mồi
Ngoài ra, phương pháp thu thập tổ ong cũng được áp dụng Với mỗi tổ được phát hiện, 5 cá thể ong sẽ được thu thập để tính toán số lượng cá thể cho mỗi loài Thu thập tổ của các loài ong là một phương pháp hữu hiệu không chỉ để thu bắt các mẫu vật trường thành và ấu trùng mà chúng ta còn có thể thu thập được những thông tin về sinh học và tập tính, đây là những dữ liệu hết sức giá trị cho công việ nghiên cứu phân loại cũng như tìm hiểu nguồn gốc phát sinh của các loài sau này
2.3.2 Phương pháp xử lý mẫu vật trong phòng thí nghiệm
+ Mẫu vật sau khi thu thập về phần lớn sẽ được cắm ghim và sấy khô, phần còn lại sẽ được bảo quản trong cồn tuyệt đối dùng cho nghiên cứu ADN sau này
+ Mỗi mẫu có một etiket riêng ghi rõ địa điểm, thời gian thu mẫu và người thu mẫu
+ Mẫu được để trong các hộp gỗ, lưu giữ tại Phòng sinh thái côn trùng, Viện Sinh thái và Tài nguyên sinh vật
2.3.3 Phương pháp quan sát mẫu vật
Hình thái ngoài của các cá thể trưởng thành và mầu sắc, ngoại trừ bộ phận sinh dục của con đực, được quan sát trên mẫu cắm ghim bằng kính lúp soi nổi
có tay vẽ Bộ phận sinh dục của con đực được xử lý với những phương pháp thích hợp (Kojima, 1999) [22], được quan sát trong glyxelin hoặc trên giá
Trang 30Vũ Thị Vân Cao học K18 Trang 20
mẫu vật bằng kính lúp soi nổi nh minh họa được chụp dưới kính lúp điện tử Leica EZ4HD 3.0 MegaPixel với phần mềm LAS EZ 2.0.0, các ảnh được xử
lý bước cuối cùng với phần mềm Photoshop CS6, chủ yếu để điều chỉnh kích
- Số liệu được xử lí bằng CA (Cluster Analysis) theo chương trình Primer v6
- Các số liệu được tính toán dựa trên cơ sở sau:
* Độ ưu thế (D) của một loài
D được tính bằng tỷ lệ phần trăm số lượng cá thể của một loài so với tổng số cá thể thu được
* Chỉ số đa dạng sinh học của Shannon- Weiner (H’)
Trong đó: n: Số lượng loài
'
1
i n
p i i
Trang 31Vũ Thị Vân Cao học K18 Trang 21
Curtis (Sjk)
Sjk= 100 x ∑∑
Trang 32
Vũ Thị Vân Cao học K18 Trang 22
CHƯƠNG III: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN
3.1 Thành phần và mức độ phổ biến của các loài ong xã hội bắt mồi ở khu vực Đông Bắc
3.1.1 Thành phần các loài ong xã hội bắt mồi ở khu vực Đông Bắc
Tại điểm nghiên cứu, chúng tôi đã xác định được 43 loài ong thuộc 9 giống và 3 phân họ được thu thập trên bốn địa điểm khác nhau: KBTTN Phia Oắc, tỉnh Cao Bằng, KBTTN Kim Hỷ, tỉnh Bắc Cạn, KBTTN Na Hang, tỉnh Tuyên Quang, và KBTTN Khe Rỗ, tỉnh Bắc Giang, số liệu được thống kê theo bảng 3.1
Bảng 3.1: Thành phần các loài ong bắt mồi thuộc họ Vespidae
ở khu vực Đông Bắc
gặp Subfamily Stenogastrinae
1773)
1836