Tính cấp thiết của đề tài Trải qua 70 năm xây dựng và trưởng thành, Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Hải Dương đã có các bước phát triển toàn diện và bền vững, khẳng định vai
Trang 1Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ VÀ QUẢN TRỊ KINH DOANH
LUẬN VĂN THẠC SĨ THEO ĐỊNH HƯỚNG ỨNG DỤNG
CHUYÊN NGÀNH: QUẢN TRỊ KINH DOANH
THÁI NGUYÊN - 2016
Trang 2Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ VÀ QUẢN TRỊ KINH DOANH
PHẠM THỊ THU HÀ
NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG ĐỘI NGŨ CÁN BỘ, CÔNG CHỨC TẠI SỞ NÔNG NGHIỆP
VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN TỈNH HẢI DƯƠNG
Chuyên ngành: Quản trị kinh doanh
Mã số: 60.34.01.02
LUẬN VĂN THẠC SĨ THEO ĐỊNH HƯỚNG ỨNG DỤNG
Người hướng dẫn khoa học: GS.TS MAI NGỌC CƯỜNG
THÁI NGUYÊN - 2016
Trang 3Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số
liệu, kết quả đã nêu trong luận văn có nguồn gốc rõ ràng, trung thực và
chưa được dùng để bảo vệ một học vị nào khác Mọi sự giúp đỡ cho việc
hoàn thành luận văn đều đã được cảm ơn Các thông tin, trích dẫn trong
luận văn đều đã được ghi rõ nguồn gốc./
Thái Nguyên, tháng 6 năm 2016
Tác giả luận văn
Phạm Thị Thu Hà
Trang 4Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn
LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình thực hiện đề tài "Nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ,
công chức tại Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Hải Dương", tôi đã
nhận được sự hướng dẫn, giúp đỡ, động viên của nhiều cá nhân và tập thể
Tôi xin được bày tỏ sự cảm ơn sâu sắc nhất tới tất cả các cá nhân và tập thể đã
tạo điều kiện giúp đỡ tôi trong học tập và nghiên cứu
Tôi xin trân trọng cảm ơn Ban Giám hiệu, Phòng Đào tạo, các khoa,
phòng của Trường Đại học Kinh tế và Quản trị kinh doanh Thái Nguyên đã
tạo điều kiện giúp đỡ tôi về mọi mặt trong quá trình học tập và hoàn thành
luận văn này
Tôi xin trân trọng cảm ơn sự giúp đỡ tận tình của thầy giáo hướng
dẫn GS-TS Mai Ngọc Cường
Tôi xin cảm ơn sự giúp đỡ, đóng góp nhiều ý kiến quý báu của các nhà
khoa học, các thầy, cô giáo trong Trường Đại ho ̣c Kinh tế và Quản trị Kinh
doanh Thái Nguyên
Trong quá trình thực hiện đề tài, tôi còn được sự giúp đỡ và cộng tác
của các đồng chí tại các địa điểm nghiên cứu, tôi xin chân thành cảm ơn các
bạn bè, đồng nghiệp và gia đình đã tạo điều kiện mọi mặt để tôi hoàn thành
nghiên cứu này
Tôi xin bày tỏ sự cảm ơn sâu sắc đối với mọi sự giúp đỡ quý báu đó
Thái Nguyên, tháng 6 năm 2016
Tác giả luận văn
Phạm Thị Thu Hà
Trang 5Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn
Trang 6Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn
MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iv
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT viii
DANH MỤC CÁC BẢNG ix
DANH MỤC CÁC HÌNH x
MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Tổng quan các công trình nghiên cứu có liên quan 2
3 Mục tiêu nghiên cứu 3
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 4
5 Ý nghĩa khoa học của luận văn 4
6 Bố cục của luận văn 5
Chương 1 CƠ SỎ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG ĐỘI NGŨ CÁN BỘ, CÔNG CHỨC CẤP SỞ 6
1.1 Cán bộ, công chức cấp sở 6
1.1.1 Khái niệm, đặc điểm và phân loại cán bộ, công chức cấp sở ban ngành 6
1.1.2 Yêu cầu về chức năng nhiệm vụ của các bộ công chức cấp sở 12
1.2 Nội dung đánh giá chất lượng cán bộ, công chức cấp sở 14
1.2.1 Khái niệm chất lượng cán bộ, công chức 14
1.2.2 Nội dung đánh giá chất lượng cán bộ, công chức cấp sở 15
1.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến việc nâng cao chất lượng cán bộ, công chức cấp Sở 25
1.3.1 Môi trường luật pháp và cơ chế chính sách cán bộ, công chức của Đảng, Nhà nước, Thành phố và của Tỉnh 25
1.3.2 Công tác tổ chức quản lý của cấp sở 26
Trang 7Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn
1.3.3 Năng lực tự phấn đấu vươn lên của cán bộ, công chức 29
1.4 Cơ sở thực tiễn về nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức cấp sở và bài học cho Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Hải Dương 31
1.4.1 Kinh nghiệm nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức cấp sở ở một số địa phương trong nước 31
1.4.2 Bài học kinh nghiệm về nâng cao chất lượng cán bộ, công chức đối với Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Hải Dương 36
Chương 2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 38
2.1 Các câu hỏi nghiên cứu 38
2.2 Phương pháp nghiên cứu 38
2.2.1 Phương pháp thu thập số liệu 38
2.2.2 Phương pháp xử lý và tổng hợp thông tin 39
2.2.3 Phương pháp phân tích số liệu 40
2.3 Hệ thống chỉ tiêu nghiên cứu 41
2.3.1 Nhóm chỉ tiêu thể hiện số lượng và cơ cấu cán bộ, công chức 41
2.3.2 Nhóm chỉ tiêu thể hiện chất lượng cán bộ, công chức 41
Chương 3 THỰC TRẠNG CHẤT LƯỢNG ĐỘI NGŨ CÁN BỘ, CÔNG CHỨC CỦA SỞ NÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN TỈNH HẢI DƯƠNG 44
3.1 Khái quát chung cán bộ, công chức của Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Hải Dương 44
3.1.1 Vị trí, chức năng của Sở 45
3.1.2 Cơ cấu tổ chức 46
3.1.3 Tình hình đội ngũ cán bộ, công chức của Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Hải Dương 46
3.2 Phân tích thực trạng chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức của Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Hải Dương 56
Trang 8Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn
3.2.1 Thực trạng chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức của Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Hải Dương 56 3.2.2 Đánh giá chung về chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức của Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Hải Dương hiện nay 64 3.3 Nguyên nhân dẫn đến hạn chế về chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức của Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Hải Dương 66 3.3.1 Môi trường luật pháp và cơ chế chính sách về cán bộ, công chức của Đảng và Nhà nuớc còn nhiều bất cập 66 3.3.2 Công tác tổ chức quản lý tại đơn vị 69 3.3.3 Năng lực tự phấn đấu vươn lên của bản thân cán bộ, công chức tại đơn vị 74
Chương 4 GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG CÁN BỘ, CÔNG CHỨC TẠI SỞ NÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN TỈNH HẢI DƯƠNG 76
4.1 Mục tiêu, phương hướng phát triển của Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Hải Dương 76 4.1.1 Mục tiêu chung 76 4.1.2 Quan điểm nâng cao chất lượng cán bộ, công chức Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Hải Dương 77 4.2 Phương hướng nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Hải Dương trong giai đoạn tới 78 4.2.1 Phương hướng nâng cao trình độ chuyên môn, lý luận chính trị ngoại ngữ, tin học của đội ngũ cán bộ, công chức 78 4.2.2 Phương hướng nâng cao kỹ năng nghề nghiệp quản lý nhà nước của đội ngũ cán bộ, công chức 79 4.2.3 Phương hướng nâng cao phẩm chất đạo đức nghề nghiệp, tinh thần trách nhiệm của đội ngũ cán bộ, công chức 80
Trang 9Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn
4.3 Một số giải pháp nâng cao chất lượng cán bộ, công chức tại Sở
Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Hải Dương 81
4.3.1 Giải pháp về tăng cường tổ chức quản lý của Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Hải Dương 81
4.3.2 Nâng cao ý thức tự phấn đấu rèn luyện vươn lên của cán bộ, công chức 96
4.4 Một số kiến nghị 97
4.4.1 Kiến nghị với Nhà nước về hoàn thiện luật pháp cơ chế chính sách về cán bộ, công chức của Nhà nước 97
4.4.2 Kiến nghị với Bộ Nội vụ 98
4.4.3 Kiến nghị với tỉnh Hải Dương 99
KẾT LUẬN 101
TÀI LIỆU THAM KHẢO 103
Trang 10
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
CB : Cán bộ
CB, CC : Cán bộ, công chức CNH-HĐH : Công nghiệp hóa, hiện đại hóa CNTT : Công nghệ thông tin
ĐVT : Đơn vị tính HĐND : Hội đồng nhân dân HTXSNV : Hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ HTTNV : Hoàn thành tốt nhiệm vụ HTNV : Hoàn thành nhiệm vụ NN&PTNT : Nông nghiệp và phát triển nông thôn QLNN : Quản lý nhà nước
UBND : Ủy ban nhân dân
Trang 11Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn
DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 3.1: Số lượng cán bộ, công chức Sở NN&PTNN Hải Dương 47 Bảng 3.2: Cán bộ, công chức Sở NN&PTNN Hải Dương phân loại
theo các khối 47 Bảng 3.3: Đội ngũ cán bộ, công chức Sở NN&PTNN phân bổ theo
giới tính 48 Bảng 3.4: Đội ngũ cán bộ, công chức Sở NN&PTNN phân bổ theo tuổi 49 Bảng 3.5: Đội ngũ cán bộ, công chức Sở NN&PTNN tỉnh Hải Dương
theo cơ cấu trình độ chuyên môn 50 Bảng 3.6: Đội ngũ CB, CC Sở NN&PTNN tỉnh Hải Dương theo trình
độ lý luận chính trị 52 Bảng 3.7: Đội ngũ CB,CC Sở NN&PTNN theo trình độ quản lý nhà nước 53 Bảng 3.9: Thực trạng về trình độ chuyên môn, trình độ lý luận, trình độ
ngoại ngữ, tin học được đào tạo của đội ngũ cán bộ, công chức của Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Hải Dương (điểm từ 1 đến 5 trong đó 5 là tốt nhất) 56 Bảng 3.10: Đánh giá về kỹ năng nghề nghiệp về quản lý nhà nước của
đội ngũ cán bộ, công chức Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Hải Dương (bằng cách cho điểm từ 1 đến 5 trong đó 5 là tốt nhất) 58 Bảng 3.11: Đánh giá về phẩm chất đạo đức nghề nghiệp, tinh thần trách
nhiệm, lối sống của cán bộ, công chức Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn hiện nay (bằng cách cho điểm từ 1 đến
5 trong đó 5 là tốt nhất) 62 Bảng 3.12: Tổng hợp kết quả đánh giá công chức năm 2014 tại Sở
NN&PTNN Hải Dương 65 Bảng 3.13: Đánh giá về công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức
của Sở NN&PTNT tỉnh Hải Dương hiện nay (điểm từ 1 đến
5 trong đó 5 là tốt nhất) 69
Trang 12Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn
DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình 3.1 Cơ cấu tổ chức Sở Nông nghiệp và PTNT tỉnh HD 46
Hình 3.2: Mối tương quan giữa các khối của đội ngũ CB, CC 48
Hình 3.3: Cơ cấu giới tính của đội ngũ cán bộ, công chức Sở NN& PPNT tỉnh Hải Dương 49
Hình 3.5: Phân bổ đội ngũ CB, CC theo trình độ chuyên môn 51
Hình 3.6: Phân bổ đội ngũ CB, CC theo trình độ lý luận chính trị 52
Hình 3.7: Phân bổ đội ngũ CB, CC theo trình độ quản lý nhà nước 53
Trang 13Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn
MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Trải qua 70 năm xây dựng và trưởng thành, Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Hải Dương đã có các bước phát triển toàn diện và bền vững, khẳng định vai trò không thể thay thế trong bộ máy hành chính công quyền của tỉnh, thực hiện tốt công tác tham mưu, giúp Ủy ban nhân dân tỉnh thực hiện chức năng quản lý nhà nước về nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy sản, thủy lợi và phát triển nông thôn, phòng, chống lụt, bão; an toàn nông sản, lâm sản, thủy sản; về các dịch vụ công thuộc ngành nông nghiệp và phát triển nông thôn và thực hiện một số nhiệm vụ, quyền hạn theo sự ủy quyền của Ủy ban nhân dân tỉnh và theo quy định của pháp luật Chủ động, tích cực trong việc tạo các nguồn lực cho đầu tư phát triển kinh tế - xã hội, đảm bảo hoạt động chất lượng, hiệu quả đúng pháp luật, thực sự trở thành công cụ quan trọng để điều hành kinh tế, xã hội của địa phương Có được thành tựu như trên, một trong các yếu tố quan trọng nhất là sự phấn đấu không mệt mỏi của các toàn thể các thế hệ cán bộ, công chức trong toàn Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Hải Dương
Trong giai đoạn hiện nay, trước yêu cầu của thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và hội nhập quốc tế; để thực hiện tốt các nhiện vụ về cải cách hành chính UBND Tỉnh Hải Dương giao nhiệm vụ cho các ngành các cấp, trong đó có Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Hải Dương phải khẩn trương xây dựng và triển khai thực hiện chương trình cải cách hành chính của ngành mình, cấp mình, đặt biệt quan tâm đến vấn đề con người, đến phát triển nguồn nhân lực nhằm nâng cao chất lượng cán bộ, công chức trong thực thi nhiệm vụ
Xác định nâng cao chất lượng cán bộ, công chức trong cơ quan vừa là yêu cầu vừa là nhiệm vụ, giải pháp để góp phần thực hiện có hiệu quả chủ
Trang 14Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn
trương tái cơ cấu ngành nông nghiệp và xây dựng nông thôn mới Trong những năm qua, Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Hải Dương đã không ngừng đầu tư phát triển nguồn nhân lực nhằm xây dựng đội ngũ cán
bộ, công chức có đủ năng lực, trình độ cũng như phẩm chất đạo đức đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ đã đặt ra Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Hải Dương đã xây dựng kế hoạch và tập trung triển khai nhiều giải pháp nhằm nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức của Sở Sau gần 4 năm triển khai và thực hiện, Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Hải Dương bước đầu đã đạt được kết quả đáng mừng theo chức năng và nhiệm vụ được giao, góp phần vào thành công chung của Tỉnh trong phát triển kinh tế địa phương Tuy nhiên trong quá trình thực hiện cũng gặp phải không ít khó khăn và bộc
lộ nhiều vấn đề còn hạn chế, cần khắc phục như về đánh giá chất lương cán
bộ, công chức như về chức năng nhiệm vụ, như về tổ chức bộ máy và biên chế dẫn tới chuyên môn chưa đồng đều, chưa chuyên sâu, hiệu quả công tác chưa cao Đây cũng là vấn đề Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Hải Dương đang quan tâm, tập trung nghiên cứu tìm giải pháp nhằm quyết liệt hơn nữa không ngừng nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức trong những năm tiếp theo
Xuất phát từ yêu cầu thực tế, tôi lựa chọn chủ đề: “Nâng cao chất
lượng đội ngũ cán bộ, công chức tại Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Hải Dương” làm đề tài Luận văn tốt nghiệp
2 Tổng quan các công trình nghiên cứu có liên quan
Có thể nói, chất lượng nguồn nhân lực nói chung, chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức nói riêng là một trong những yếu tố quan trọng trong việc phát triển của cơ quan, đơn vị cũng như việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ của tổ chức đó Đã có nhiều công trình, bài viết nghiên cứu liên quan đến nguồn nhân lực, cũng như chất lượng cán bộ, công chức như:
Trang 15Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn
- "Con người Việt Nam - mục tiêu và động lực phát triển kinh tế - xã hội" của GS.TS Nguyễn Mạnh Đường làm chủ nhiệm
- Đề tài khoa học cấp Nhà nước năm 2000: "Chiến lược phát triển nguồn nhân lực của Việt Nam" của TS Nguyễn Tuyết Mai, Bộ Kế hoạch và
mô và tầm vi mô Tuy nhiên chưa có công trình trình nào đề cập đến nâng cao chất lượng cán bộ, công chức của cơ quan quản lý Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn trên địa bàn tỉnh Hải Dương với tư cách như là quản trị chất lượng nhân lực của một tổ chức
3 Mục tiêu nghiên cứu
nghiệp và xây dựng nông thôn mới
Trang 16Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn
- Đề xuất một số phương hướng, giải pháp nhằm nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thông tỉnh Hải Dương trong giai đoạn tới
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức tại Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Hải Dương
4.2 Phạm vi nghiên cứu
- Giới hạn về nội dung: Đề tài tập trung nghiên cứu về chất lượng cán
bộ, công chức của Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Hải Dương trên các khía cạnh trình độ chuyên môn, tin học, ngoại ngữ, khả năng hoàn thành công việc… Trên cơ sở đó đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng cán bộ, công chức tại Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thông tỉnh Hải Dương trong thời gian tới
- Giới hạn về không gian: Đề tài nghiên cứu được thực hiện tại Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Hải Dương
- Giới hạn về thời gian: Số liệu thu thập của đề tài giai đoạn 2012 - 2014
5 Ý nghĩa khoa học của luận văn
- Về mặt khoa học: Hệ thống hóa những lý luận cơ bản về cán bộ, công chức, xây dựng cơ sở khoa học cho việc nghiên cứu về chất lượng cán bộ, công chức
Trang 17Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn
- Về mặt thực tiễn: Phân tích, đánh giá khách quan và khoa học thực trạng chất lượng cán bộ, công chức tại Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Hải Dương, chỉ ra những ưu điểm, hạn chế và nguyên nhân của những hạn chế trong việc nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức tại
Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Hải Dương
Đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức tại Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Hải Dương
6 Bố cục của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận thì luận văn được kết cấu gồm 4 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về chất lượng cán bộ, công chức Chương 2: Phương pháp nghiên cứu
Chương 3: Thực trạng chất lượng cán bộ, công chức của Sở Nông
nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Hải Dương
Chương 4: Những giải pháp nâng cao chất lượng cán bộ, công chức của
Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Hải Dương
Trang 18Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn
Chương 1
CƠ SỎ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG
ĐỘI NGŨ CÁN BỘ, CÔNG CHỨC CẤP SỞ 1.1 Cán bộ, công chức cấp sở
1.1.1 Khái niệm, đặc điểm và phân loại cán bộ, công chức cấp sở ban ngành
1.1.1.1 Sở với tư cách là một đơn vị quản lý trong hệ thống chính quyền các cấp
Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn là cơ quan chuyên môn thuộc ban nhân dân tỉnh; tham mưu, giúp Ủy ban nhân dân tỉnh thực hiện chức năng quản lý nhà nước về: nông nghiệp; lâm nghiệp; thuỷ sản; thuỷ lợi và phát
triển nông thôn; phòng, chống lụt, bão; an toàn nông sản, lâm sản, thuỷ sản;
về các dịch vụ công thuộc ngành nông nghiệp và phát triển nông thôn và thực hiện một số nhiệm vụ, quyền hạn theo sự uỷ quyền của Ủy ban nhân dân tỉnh
và theo quy định của pháp luật;
Theo phạm vi hẹp, nhân lực trong một tổ chức được hiểu là: Nhân lực bao gồm tất cả những người lao động làm việc trong tổ chức đó, có trình độ, năng lực, phẩm chất, sức khỏe khác nhau, họ có tiềm năng và khả năng lao động để tham gia vào quá trình hoạt động và phát triển của tổ chức đó
Cán bộ, công chức cấp sở là bộ phận của nguồn nhân lực đất nước Nguồn nhân lực cán bộ, công chức cấp sở là tổng thể những tiềm năng của đội ngũ cán bộ, công chức cấp sở (tiềm năng cơ bản nhất là lao động) trong một thời kỳ nhất định Tiềm năng này bao gồm tổng hòa các yếu tố về thể lực, trí lực, nhân cách của con người đáp ứng theo cơ cấu do nền kinh tế - xã hội đòi hỏi (số lượng, chất lượng, cơ cấu độ tuổi, ngành nghề được đào tạo) Toàn
bộ tiềm năng đó hình thành năng lực xã hội của con người (năng lực xã hội nguồn nhân lực), năng lực này có được thông qua giáo dục đào tạo, chăm sóc sức khỏe và không ngừng được tăng cường, nâng cao trong quá trình sống và làm việc của con người Đội ngũ cán bộ, công chức cấp sở thể hiện ở quy mô
Trang 19Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn
lao động cơ cấu nhân lực: cơ cấu theo giới tính, theo dân tộc, tuổi tác, trình độ đào tạo, chuyên môn… Chất lượng nguồn lao động được đánh giá thông qua
sự đóng góp vào GDP cũng như khả năng đáp ứng được nhu cầu của xã hội
Từ những quan niệm trên có thể nêu lên khái niệm về cán bộ, công chức cấp sở như sau: Nhân lực trong ngành nông nghiệp và phát triển nông thôn được hiểu là đội ngũ cán bộ, công chức làm công tác quản lý nhà nước về: nông nghiệp; lâm nghiệp; thuỷ sản; thuỷ lợi và phát triển nông thôn;
phòng, chống lụt, bão; an toàn nông sản, lâm sản, thuỷ sản; về các dịch vụ
công thuộc ngành nông nghiệp và phát triển nông thôn
1.1.1.2 Khái niệm cán bộ, công chức
Ở nước ta, khái niệm “cán bộ”, “công chức” có từ lâu Nhưng chỉ đến năm
1950, sau 05 năm đất nước ta giành độc lập thì khái niệm đó mới xuất hiện trong văn bản quy phạm pháp luật của Nhà nước Văn bản đầu tiên là Sắc lệnh số 76/SL ngày 20/5/1950 của Chủ tịch Nước Việt Nam dân chủ cộng hòa quy định
quy chế công chức Việt Nam Điều 1 của Sắc lệnh ghi: “Những công dân Việt
Nam được chính quyền nhân dân tuyển để giữ một chức vụ thường xuyên trong
cơ quan Chính phủ, ở trong nước hay ở nước ngoài đều là công chức theo quy chế này, trừ trường hợp riêng biệt do Chính phủ quy định”
Trải qua diễn biến phát triển của đất nước, các khái niệm trên cũng có nhiều cách gọi, được thể hiện dưới nhiều thể loại văn bản khác nhau Cuối những năm 80 của thế kỷ trước, khái niệm “cán bộ, công chức” được gọi chung là “cán bộ, công nhân viên chức nhà nước” Khái niệm này được gọi chung cho tất cả những người làm việc cho Nhà nước, không có sự phân biệt
rõ ràng
Đến thời kỳ đổi mới (sau năm 1986), trước yêu cầu khách quan cải cách nền hành chính và đòi hỏi phải chuẩn hóa đội ngũ cán bộ, công chức nhà nước, khái niệm công chức được sử dụng trở lại trong Nghị định 169/HĐBT
Trang 20Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn
ngày 25/5/1991 của Chính phủ Nghị định nêu rõ: “Công dân Việt nam được tuyển dụng và bổ nhiệm giữ một công vụ thường xuyên trong một công sở của nhà nước ở Trung ương hay địa phương, ở trong nước hay ngoài nước, đã được xếp vào một ngạch, hưởng lương do ngân sách nhà nước cấp gọi là công chức nhà nước”
Năm 1998, Pháp lệnh Cán bộ, công chức ra đời, là văn bản pháp lý cao nhất của nước ta về cán bộ, công chức Dưới Pháp lệnh là Nghị định số 95/1998/NĐ-CP ngày 17/11/1998 về tuyển dụng, sử dụng và quản lý công
chức Nghị định đã cụ thể hóa khái niệm công chức “là công dân Việt Nam, trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước, bao gồm những người được tuyển dụng, bổ nhiệm hoặc giao giữ một công việc thường xuyên, được phân loại theo trình độ đào tạo, ngành chuyên môn, được xếp vào một ngạch hành chính, sự nghiệp; những người làm việc trong các cơ quan, đơn vị thuộc quân đội nhân dân và công an nhân dân mà không phải là sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp và công nhân quốc phòng”
Sau hai lần sửa đổi, năm 2003, Pháp lệnh Cán bộ, công chức cho khái niệm gộp cả cán bộ, công chức (quy định tại Điều 1) như sau:
“Cán bộ, công chức quy định tại Pháp lệnh này là công dân Việt Nam trong biên chế bao gồm:
a) Những người do bầu cử để đảm nhiệm chức vụ theo nhiệm kỳ trong
cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội ở Trung ương;
ở tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương; ở quận, huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh;
b) Những người được tuyển dụng, bổ nhiệm hoặc được giao nhiệm vụ thường xuyên làm việc trong tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội ở trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện;
Trang 21Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn
c) Những người được tuyển dụng, bổ nhiệm vào một ngạch công chức hoặc giao giữ một công vụ thường xuyên trong các cơ quan nhà nước ở trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện;
d) Những người được tuyển dụng, bổ nhiệm vào một ngạch viên chức hoặc giao giữ một nhiệm vụ thường xuyên trong đơn vị sự nghiệp của nhà nước; tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội;
đ) Thẩm phán Toà án nhân dân, Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân; e) Những người được tuyển dụng, bổ nhiệm hoặc được giao nhiệm vụ thường xuyên làm việc trong các cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân mà không phải là sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng; làm việc trong các cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân mà không phải là sĩ quan, hạ sỹ quan chuyên nghiệp;
g) Những người do bầu cử để đảm nhiệm chức vụ lãnh đạo theo nhiệm
kỳ trong thường trực Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân; Bí thư, Phó Bí thư Đảng uỷ; Người đứng đầu tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội xã, phường, thị trấn;
h) Những người được tuyển dụng, giao giữ chức danh chuyên môn, nghiệp vụ thuộc Uỷ ban nhân dân cấp xã”
Mặc dù tiến bộ hơn rất nhiều so với Pháp lệnh năm 1998 và sửa đổi năm 2000, Pháp lệnh Cán bộ công chức sửa đổi năm 2003 đã phân định được đối tượng làm việc trong các đơn vị sự nghiệp nhà nước được gọi là “viên chức” Tuy nhiên, Pháp lệnh vẫn chưa phân biệt rạch ròi giữa khái niệm “cán bộ”, “công chức” và “viên chức”
Các khái niệm trên lần lượt được Luật Cán bộ, công chức và Luật Viên chức của Nhà nước ta bước đầu phân biệt rõ ràng Luật Cán bộ, công chức được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XII, kỳ họp thứ 4 thông qua ngày 13 tháng 11 năm 2008 Luật này có hiệu lực thi hành từ
Trang 22Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn
ngày 01 tháng 01 năm 2010 Theo đó,
Cán bộ là công dân Việt Nam, được bầu cử, phê chuẩn, bổ nhiệm giữ chức vụ, chức danh theo nhiệm kỳ trong cơ quan của Đảng cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội ở trung ương, ở tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương (sau đây gọi chung là cấp tỉnh), ở quận, huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh (sau đây gọi chung là cấp huyện), trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước (Khoản 1 Điều 4 Luật
cán bộ công chức 2008)
Công chức là công dân Việt Nam, được tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội ở trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện; trong cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân mà không phải là sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng; trong cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân mà không phải là sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên nghiệp và trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội (sau đây gọi chung là đơn vị sự nghiệp công lập), trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước; đối với công chức trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập thì lương được bảo đảm từ quỹ lương của đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định của pháp luật (Khoản 2 Điều 4 Luật cán bộ,công chức)
1.1.1.3 Phân loại cán bộ, công chức cấp sở
- Phân loại theo Luật Cán bộ, công chức: Việc phân loại cán bộ, công chức được coi là vấn đề cơ bản, quan trọng, là yêu cầu cần thiết xuất phát từ thực tiễn đổi mới cơ chế quản lý đặt ra hiện nay Mục tiêu của việc phân loại
là nhằm xây dựng và thực hiện cơ chế quản lý, chính sách đãi ngộ gắn với đặc điểm và tính chất hoạt động của cán bộ với công chức, viên chức và đẩy mạnh việc hoàn thiện, đổi mới cơ chế quản lý đội ngũ cán bộ; đội ngũ công chức;
Trang 23Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn
đội ngũ viên chức làm việc trong các cơ quan, tổ chức của Đảng, Nhà nước,
tổ chức chính trị - xã hội Cán bộ: Theo Điều 4 Luật Cán bộ, công chức, cán
bộ là công dân Việt Nam được bầu cử, phê chuẩn, bổ nhiệm giữ chức vụ, chức danh theo nhiệm kỳ trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức - chính trị xã hội ở trung ương, ở tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương (sau đây gọi chung là cấp tỉnh), ở quận, huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh (sau đây gọi chung là cấp huyện), trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước Công chức: Theo điều 4 Luật Cán bộ, công chức thì công chức là công dân Việt Nam, được tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội ở trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện; trong cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân mà không phải là sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng; trong cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân mà không phải
là sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên nghiệp và trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn
vị sự nghiệp công lập của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị
- xã hội (sau đây gọi chung là đơn vị sự nghiệp công lập), trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước; đối với công chức trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập thì lương được bảo đảm từ quỹ lương của đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định của pháp luật
- Phân loại theo lĩnh vực làm việc: Cán bộ, công chức trong các cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam gồm những người làm việc trong các Ban Đảng ở Trung ương, các ban của Đảng ủy khối và Đảng ủy ngoài nước trực thuộc Ban Chấp hành Trung ương Đảng, trong bộ phận giúp việc của cơ quan,
tổ chức do Bộ Chính trị, Ban Bí thư, cơ quan do Ban Chấp hành Trung ương Đảng quyết định thành lập; văn phòng, cơ quan ủy ban kiểm tra, các ban của Đảng ủy khối trực thuộc tỉnh ủy, thành ủy; văn phòng, các ban của huyện ủy, quận ủy, thị ủy, thành ủy thuộc tỉnh Cán bộ, công chức làm việc khối hành
Trang 24Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn
chính quản lý nhà nước gồm những người làm việc trong văn phòng, vụ, thanh tra và các tổ chức khác không phải là đơn vị sự nghiệp công lập thuộc
Bộ, cơ quan ngang Bộ; Văn phòng Đoàn đại biểu Quốc hội và Hội đồng nhân dân, Văn phòng Ủy ban nhân dân tỉnh, các sở, ban ngành và các tổ chức khác không phải là đơn vị sự nghiệp công lập cấp tỉnh; Văn phòng Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân quận, huyện và các tổ chức khác không phải là đơn
vị sự nghiệp công lập cấp huyện Cán bộ, công chức các đơn vị sự nghiệp công lập gồm những người đứng đầu các đơn vị
Trên cơ sở các quy định như trên, có thể phân loại cán bộ, công chức cấp sở như sau:
Cán bộ cấp sở là những người những người được bầu cử, phê chuẩn, bổ nhiệm giữ chức vụ, chức danh theo nhiệm kỳ trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức - chính trị xã hội ở sở
Công chức chuyên môn cấp sở đây là những người được tuyển dụng,
bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội ở sở
1.1.2 Yêu cầu về chức năng nhiệm vụ của các bộ công chức cấp sở
1.1.2.1 Về chức năng nghiệm vụ
Luật Cán bộ, công chức quy định: Khi thực hiện nhiệm vụ theo quy định của pháp luật, công chức phải có nghĩa vụ đối Đảng, Nhà nước và nhân dân: Trung thành với Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam; bảo vệ danh dự Tổ quốc và lợi ích quốc gia; Tôn trọng nhân dân, tận tụy phục vụ nhân dân; Liên hệ chặt chẽ với nhân dân, lắng nghe
ý kiến và chịu sự giám sát của nhân dân; Chấp hành nghiêm chỉnh đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước
Trong thi hành công vụ, cán bộ, công chức có nghĩa vụ: Thực hiện đúng, đầy đủ và chịu trách nhiệm về kết quả thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn được
Trang 25Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn
giao; Có ý thức tổ chức kỷ luật; nghiêm chỉnh chấp hành nội quy, quy chế của
cơ quan, tổ chức, đơn vị; báo cáo người có thẩm quyền khi phát hiện hành vi vi phạm pháp luật trong cơ quan, tổ chức, đơn vị; bảo vệ bí mật nhà nước; Chủ động và phối hợp chặt chẽ trong thi hành công vụ; giữ gìn đoàn kết trong cơ quan, tổ chức, đơn vị; Bảo vệ, quản lý và sử dụng hiệu quả, tiết kiệm tài sản nhà nước được giao; Chấp hành quyết định của cấp trên Khi có căn cứ cho
rằng quyết định đó là trái pháp luật thì phải kịp thời báo cáo bằng văn bản với
người ra quyết định; trường hợp người ra quyết định vẫn quyết định việc thi hành thì phải có văn bản và người thi hành phải chấp hành nhưng không chịu trách nhiệm về hậu quả của việc thi hành, đồng thời báo cáo cấp trên trực tiếp của người ra quyết định Người ra quyết định phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về quyết định của mình; Các nghĩa vụ khác theo quy định của pháp luật
Ngoài ra, công chức là người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị còn phải thực hiện các nghĩa vụ: Chỉ đạo tổ chức thực hiện nhiệm vụ được giao và chịu trách nhiệm về kết quả hoạt động của cơ quan, tổ chức, đơn vị; Kiểm tra, đôn đốc, hướng dẫn việc thi hành công vụ của cán bộ, công chức; Tổ chức thực hiện các biện pháp phòng, chống quan liêu, tham nhũng, thực hành tiết kiệm, chống lãng phí và chịu trách nhiệm về việc để xảy ra quan liêu, tham nhũng, lãng phí trong cơ quan, tổ chức, đơn vị; Tổ chức thực hiện các quy định của pháp luật về dân chủ cơ sở, văn hóa công sở trong cơ quan, tổ chức, đơn vị; xử lý kịp thời, nghiêm minh cán bộ, công chức thuộc quyền quản lý
có hành vi vi phạm kỷ luật, pháp luật, có thái độ quan liêu, hách dịch, cửa quyền, gây phiền hà cho công dân; Giải quyết kịp thời, đúng pháp luật, theo thẩm quyền hoặc kiến nghị cõ quan có thẩm quyền giải quyết khiếu nại, tố cáo và kiến nghị của cá nhân, tổ chức; Các nghĩa vụ khác theo quy định của pháp luật
Liên quan đến đạo đức công vụ, cán bộ, công chức phải thực hiện cần,
Trang 26Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn
kiệm, liêm, chính, chí công vô tư trong hoạt động công vụ và phải tuân thủ các quy định về văn hóa giao tiếp ở công sở và văn hóa giao tiếp với nhân dân như: phải gần gũi với nhân dân; có tác phong, thái độ lịch sự, nghiêm túc, khiêm tốn; ngôn ngữ giao tiếp phải chuẩn mực, rõ ràng, mạch lạc; không được hách dịch, cửa quyền, gây khó khăn, phiền hà cho nhân dân khi thi hành công vụ
Đồng thời, cán bộ, công chức không được: Trốn tránh trách nhiệm, thoái thác nhiệm vụ được giao; gây bè phái, mất đoàn kết; tự ý bỏ việc hoặc tham gia đình công; Sử dụng tài sản của Nhà nước và của nhân dân trái pháp luật; Lợi dụng, lạm dụng nhiệm vụ, quyền hạn; sử dụng thông tin liên quan đến công vụ để vụ lợi; Phân biệt đối xử dân tộc, nam nữ, thành phần xã hội, tín ngưỡng, tôn giáo dưới mọi hình thức
Ngoài ra, cán bộ, công chức còn không được làm một số công việc liên quan đến bí mật nhà nước và liên quan đến các việc khác theo quy định của pháp luật
1.1.2.2 Về phạm vi hoạt động của cán bộ công chức cấp sở
Cán bộ, công chức phải chấp hành nghiêm chỉnh đường lối, chủ trương của Đảng và chính sách, pháp luật của Nhà nước; thi hành nhiệm vụ, công vụ theo đúng quy định của pháp luật
Cán bộ, công chức là những người được tuyển dụng lâu dài, hoạt động của họ gắn với quyền lực công hoặc quyền hạn hành chính nhất định được cơ quan có thẩm quyền trao cho và chịu trách nhiệm trước cơ quan, tổ chức có thẩm quyền về việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn được giao
Cán bộ, công chức phải chấp hành sự điều động, phân công công tác
của cơ quan, tổ chức có thẩm quyền
1.2 Nội dung đánh giá chất lượng cán bộ, công chức cấp sở
1.2.1 Khái niệm chất lượng cán bộ, công chức
Trang 27Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn
Gắn với đội ngũ cán bộ, công chức là chất lượng cán bộ, công chức Chất lượng cán bộ, công chức là khả năng của mỗi cán bộ, công chức khi thực hiện công việc được giao, hay khả năng tiềm ẩn trong mỗi cán bộ, công chức được hình thành trong quá trình học tập, bồi dưỡng kiến thức, nâng cao kỹ năng của bản thân Chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức có vai trò quan trọng trong việc phát triển kinh thế xã hội cụ thể:
- Góp phần quan trọng trong việc tạo ra kết quả của quá trình lao động Quá trình lao động là quá trình người lao động sử dụng tư liệu sản xuất để sản xuất ra sản phẩm cho xã hội Cán bộ, công chức đóng vai trò quan trọng trong việc điều tiết quá trình sản xuất của xã hội Như vậy, chất lượng công chức cao sẽ góp phần tạo ra kết quả lao động cao, tạo ra nhiều của cải cho xã hội
- Giúp cho công tác quản lý dễ dàng và gọn nhẹ: Quản lý con người trong đơn vị được gọi là quản trị nhân lực, đây là hoạt động trung tâm của các hoạt động trong đơn vị Chất lượng cán bộ, công chức cao sẽ giúp các nhà lãnh đạo dễ dàng điều hành mọi hoạt động của đơn vị Lãnh đạo lực lượng cán bộ, công chức có chất lượng sẽ đưa ra nhiều phương án thực hiện công việc nhanh và dễ dàng hơn Cán bộ, công chức có chất lượng thì sẽ đem lại hiệu quả công việc cao hơn, tiết kiệm chi phí và sẽ mang lại lợi nhuận cho xã hội nhiều hơn
1.2.2 Nội dung đánh giá chất lượng cán bộ, công chức cấp sở
Đánh giá chất lượng cán bộ, công chức là việc so sánh, phân tích mức
độ đạt được của quá trình phấn đấu, rèn luyện và thực hiện công việc của người cán bộ, công chức theo tiêu chuẩn và yêu cầu đề ra
Công tác đánh giá cán bộ, công chức là hết sức quan trọng vì mục đích của việc đánh giá, ảnh hưởng của việc đánh giá có tác động đến động lực công tác và hiệu quả thực thi nhiệm vụ của cán bộ, công chức
Suy cho cùng thì việc đánh giá chất lượng cán bộ, công chức không
Trang 28Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn
phải chỉ để biết kết quả, mà nhằm nâng cao chất lượng, kết quả và hiệu quả công việc của người cán bộ, công chức và cơ quan sử dụng họ, đem lại lợi ích cho cá nhân, tập thể và Nhà nước
i Về tuổi của cán bộ, công chức
Để đánh giá chất lượng cán bộ, công chức thì tiêu chí về tuổi cũng cần được quan tâm lưu ý Theo quy định của pháp luật hiện hành, một người là cán bộ, công chức phải nằm trong độ tuổi từ 18 đến 55 đối với nữ và từ 18 đến 60 đối với Nam Trừ trường hợp những người sau đây khi đến độ tuổi nghỉ hưu được xem xét kéo dài thời gian công tác:
- Những người trực tiếp làm công tác nghiên cứu ở các cơ quan của Đảng, Nhà nước được bổ nhiệm và bảng hưởng lương chuyên gia cao cấp quy định tại nghị định số 25/CP ngày 23 tháng 5 năm 1993 của Chính phủ
- Những người có học vị Tiến sĩ khoa học làm việc theo đúng chuyên ngành đào tạo; những người có chức danh Giáo sư, Phó Giáo sư đang trực tiếp nghiên cứu, giảng dạy theo đúng chuyên ngành ở các viện, học viện và trường đại học
- Những người thực sự có tài năng được cơ quan, tổ chức, đơn vị thừa nhận, đang trực tiếp làm việc theo đúng chuyên môn thuộc các lĩnh vực y tế,
giáo dục - đào tạo, khoa học, công nghệ, văn hóa nghệ thuật (Điều1, nghị định số 71/2000/NĐ-CP ngày 23/11/2000 của Chính phủ)
Thường thì đội ngũ cán bộ, công chức ngoài 40 tuổi có nhiều kinh nghiệm công tác cũng như kỹ năng làm việc, song không phải là tất cả
Tuy nhiên cũng có nhiều cán bộ, công chức tuổi đời còn trẻ nhưng do được đào tạo cơ bản nên có trình độ chuyên môn khá vững vàng, kỹ năng làm việc khá tốt, có tính năng động, sáng tạo cao, ham học hỏi, dám thử thách, là nhân tố thúc đẩy cái mới, tạo ra một không khí và phong cách làm việc hiện đại trong các cơ quan, đơn vị Hiện nay đang có xu hướng trẻ hóa đội ngũ cán
bộ, đặc biệt là cán bộ quản lý điều hành với mục đích tận dụng sự năng động
Trang 29Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn
của tuổi trẻ kết hợp với trình độ chuyên môn tốt để tạo tiền đề cho những đóng góp vào việc đổi mới và phát triển của mỗi cơ quan, đơn vị nhưng vẫn phải chú trọng đảm bảo tính kế thừa và phải kết hợp hài hoà để có được đội ngũ cán bộ, công chức có chất lượng… Cần kết hợp hài hòa cả hai tuyến để
có được đội ngũ cán bộ, công chức có chất lượng
ii Về ngạch công chức và trình độ chuyên môn
Trình độ chuyên môn nghiệp vụ của công chức là trình độ về chuyên môn được đào tạo qua các trường lớp với văn bằng chuyên môn phù hợp yêu cầu của công việc Trình độ chuyên môn đào tạo ứng với hệ thống văn bằng hiện nay chia thành các trình độ như: sơ cấp, trung cấp, đại học và trên đại học (Thạc sĩ, Tiến sĩ) Tuy nhiên khi xem xét về trình độ chuyên môn của công chức cần phải lưu ý về sự phù hợp giữa chuyên môn đào tạo với yêu cầu thực tế của công việc và kết quả làm việc của họ
Ngạch công chức là chức danh công chức được phân theo ngành, thể hiện cấp độ về chuyên môn nghiệp vụ Cán bộ, công chức có ngạch công chức càng cao càng cho thấy trình độ chuyên môn nghiệp vụ cao và là những chuyên gia hàng đầu về một ngành, lĩnh vực nào đó Theo quy định hiện hành thì ngạch công chức bao gồm các chức danh: Chuyên viên cao cấp và tương đương, chuyên viên chính và tương đương, chuyên viên và tương đương, cán
sự và tương đương
iii Về kỹ năng nghề nghiệp:
Cán bộ quản lý nông nghiệp và phát triển nông thôn cấp sở là phải có khả năng thực hiện các công việc thông qua những kỹ năng cụ thể như kỹ năng về kế hoạch, kỹ năng tham mưu; kỹ năng phối hợp giải quyết công việc;
kỹ năng điều hành công sở và tổ chức; kỹ năng phân tích xử lý thông tin; kỹ năng kiểm tra đánh giá hiệu quả công việc của mình
Kỹ năng kế hoạch được thể hiện qua các công tác dự thảo quyết định,
Trang 30Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn
chỉ thị và các văn bản; dự thảo chương trình, kế hoạch dài hạn về lĩnh vực nông nghiệp và phát triển nông thôn Kỹ năng lập kế hoạch đòi hỏi cán bộ quản lý nông nghiệp và phát triển nông thôn cấp sở phải có một tư duy có hệ thống, biết phối hợp mọi nguồn lực của một cách hữu hiệu, tập trung vào các mục tiêu và chính sách của tỉnh, UBND cũng như Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Hải Dương, linh hoạt trong giải pháp để đáp ứng hiệu quả công tác Kế hoạch là một trong những công cụ có vai trò quan trọng trong việc điều tiết, quản lý của Nhà nước, chính vì thế, kỹ năng lập kế hoạch là một trong những kỹ năng quan trọng nhất đối với đội ngũ cán bộ cấp sở, đặc biệt là các cán bộ lãnh đạo, quản lý
Cũng như kỹ năng kế hoạch, kỹ năng tham mưu đóng vai trò chủ đạo, được thể hiện thông qua các công tác tham mưu, giúp Ủy ban nhân dân tỉnh thực hiện chức năng quản lý nhà nước về lĩnh vực nông nghiệp và phát triển nông thôn theo quy định của pháp luật Ngoài ra, các kỹ năng không thể thiếu trong công tác của cán bộ quản lý cấp sở gồm phối hợp giải quyết công việc;
kỹ năng điều hành công sở và tổ chức; kỹ năng phân tích xử lý thông tin; kỹ năng kiểm tra đánh giá hiệu quả hoạt động
Cùng với sự phát triển ngày càng mạnh của nền kinh tế, đòi hỏi các cán
bộ, công chức quản lý cấp sở còn phải có các kỹ năng cần thiết khác như kỹ năng phối hợp giải quyết công việc; kỹ năng điều hành công sở và tổ chức; kỹ năng phân tích xử lý thông tin; kỹ năng kiểm tra đánh giá hiệu quả hoạt động
để làm việc đạt hiệu quả
iv Về văn bằng, chứng chỉ của cán bộ, công chức
Tiêu chí về văn bằng chứng thể hiện quá trình đào tạo, học tập của cán
bộ, công chức Ở nước ta hiện nay tuỳ từng yêu cầu công việc mà sự đòi hỏi của bằng cấp là khác nhau Có những cơ quan nhất thiết phải là bằng đại học, nhưng cũng có những cơ quan chỉ yêu cầu bằng cao đẳng hoặc trung cấp
Trang 31Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn
Tuỳ theo yêu cầu của công việc mà lựa chọn người có bằng cấp khác nhau Tránh tuyển chọn những người mà bằng cấp không phù hợp với công việc để đảm bảo cho chất lượng của cán bộ, công chức
Hiện nay, trong bối cảnh phát triển kinh tế thị trường, sự tiến bộ mạnh
mẽ của khoa học kỹ thuật, sự hội nhập ngày càng sâu rộng của Việt Nam vào
hệ thống kinh tế quốc tế, cán bộ quản lý cấp sở còn phải có trình độ ngoại ngữ, trình độ tin học một mức độ nhất định để thực hiện nhiệm vụ chuyên môn được giao
v Về trình độ chính trị, trình độ quản lý nhà nước
Lý luận chính trị là một nội dung nhận thức và là yêu cầu quan trọng của mỗi cán bộ, công chức Với vai trò là “Công bộc của nhân dân” đòi hỏi mỗi cán bộ, công chức phải nhận thức, quán triệt sâu sắc sự lãnh đạo chỉ đạo của Đảng và Nhà nước trong công cuộc xây dựng, phát triển và bảo vệ đất nước từ đó trau dồi quyết tâm và nhiệt tình cách mạng công tác và cống hiến, xây dựng Tổ quốc Nhận thức quán triệt sâu sắc về đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước Có lý luận chính trị vững vàng, cán bộ, công chức sẽ xác định đúng đắn thái độ, động cơ làm việc, phấn đấu cho sự nghiệp chung Trong điều kiện, hoàn cảnh mới hiện nay, yêu cầu đặt ra đối với đội ngũ cán bộ, công chức là vừa phải vừa có trình độ lý luận vững vàng vừa phải bám sát thực tiễn, kết hợp giữa lý luận và thực tiễn từ đó có thể tìm hiểu, phân tích sâu sắc để nhận thức một cách bản chất, khoa học các quá trình kinh tế - xã hội đang diễn ra để giải các bài toán do thực tiễn đặt ra
Quản lý Nhà nước là một lĩnh vực quản lý phức tạp cả về nội dung, phạm vi và đối tượng quản lý Trong điều kiện hiện nay, yêu cầu người quản
lý không những được đào tạo về trình độ chuyên môn kỹ thuật mà còn phải nắm vững những kiến thức về công tác quản lý hành chính Nhà nước phù hợp với từng ngạch bậc công chức nhà nước Trình độ quản lý nhà nước có thể được chia thành các cấp độ: Chuyên viên cao cấp, chuyên viên chính, chuyên
Trang 32Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn
viên, cán sự và các văn bằng có giá trị thay thế các loại chứng chỉ bồi dưỡng kiến thức quản lý Nhà nước nói trên như chứng chỉ bồi dưỡng theo chức danh công chức lãnh đạo cấp Phòng và tương đương, cấp Sở và tương đương, cấp
Vụ và tương đương, Thứ trưởng và tương đương; Chủ tịch và Phó Chủ tịch HĐND, Chủ tịch, Phó Chủ tịch UBND cấp huyện và cấp tỉnh; chứng chỉ đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức cấp xã; chứng chỉ bồi dưỡng đại biểu HĐND cấp xã, cấp huyện và cấp tỉnh
Trong thực tế quản lý, mỗi vị trí công tác thì yêu cầu về trình độ lý luận chính trị và trình độ quản lý Nhà nước là khác nhau Thông thường thì khi xem xét hay đề bạt cán bộ, công chức vào vị trí quản lý, vị trí lãnh đạo thì ngoài tiêu chí về bằng cấp thì tiêu chí về trình độ chính trị, trình độ quản lý
Nhà nước thường được quan tâm và đóng vai trò quan trọng
vi Về phẩm chất chính trị, đạo đức, tác phong lối sống và thái độ, tinh thần tránh nhiệm trong thực thi công vụ:
Có thể nói, phẩm chất chính trị, đạo đức, tác phong lối sống và thái độ, tinh thần tránh nhiệm trong thực thi công vụ là một trong những yếu tố quan trọng nhất của người cán bộ, công chức cách mạng Hồ Chủ Tịch đã nói: cán
bộ có đức mà không có tài làm việc gì cũng khó, còn cán bộ có tài mà không
có đức thì là người vô dụng Nếu một người cán bộ, công chức có phẩm chất đạo đức, lập trường tư tưởng vững vàng thì hiệu quả công việc cũng như tinh thần trách nhiệm của họ trong công việc cũng cao Ngược lại thị hiệu quả công việc sẽ thấp, bộ máy trì trệ Vì vậy phẩm chất đạo đức, lập trường tư tưởng cần được quan tâm đặc biệt Mỗi cán bộ, công chức phải thường xuyên
trau dồi nâng cao phẩm chất chính trị cách mạng "Dĩ công vị thượng", "Cần kiệm, liêm, chính"
Luật cán bộ, công chức đã quy định cụ thể về vấn đề này:
- Cán bộ, công chức phải thực hiện cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô
tư trong hoạt động công vụ
Trang 33Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn
- Trong giao tiếp ở công sở, cán bộ, công chức phải có thái độ lịch sự, tôn trọng đồng nghiệp; ngôn ngữ giao tiếp phải chuẩn mực, rõ ràng, mạch lạc
- Cán bộ, công chức phải lắng nghe ý kiến của đồng nghiệp; công bằng,
vô tư, khách quan khi nhận xét, đánh giá; thực hiện dân chủ và đoàn kết nội bộ
- Khi thi hành công vụ, cán bộ, công chức phải mang phù hiệu hoặc thẻ công chức; có tác phong lịch sự; giữ gìn uy tín, danh dự cho cơ quan, tổ chức, đơn vị và đồng nghiệp
- Cán bộ, công chức phải gần gũi với nhân dân; có tác phong, thái độ lịch sự, nghiêm túc, khiêm tốn; ngôn ngữ giao tiếp phải chuẩn mực, rõ ràng, mạch lạc
- Cán bộ, công chức không được hách dịch, cửa quyền, gây khó khăn,
phiền hà cho nhân dân khi thi hành công vụ (Điều 15, 16, 17 Luật cán bộ công chức)
Trong điều kiện nền kinh tế mới, cạnh tranh gay gắt, cũng đòi hỏi người lao động phải thực sự yêu công việc của mình, không ngừng tìm tòi sáng tạo để hoàn thành công việc tốt hơn, đơn giản và hiệu quả hơn Nhất là trong bối cảnh cuộc cách mạng khoa học và công nghệ diễn ra rất sôi động, kho tàng tri thức không ngừng đổi mới và nâng cao đòi hỏi người lao động biết hợp tác, chia sẻ thông tin với tinh thần làm việc tập thể phải được coi trọng Mặt khác, người cán bộ phải rèn luyện tác phong làm việc công nghiệp, tuân thủ nghiêm ngặt đúng các quy định, giờ giấc làm việc, đồng thời phải yêu công việc và phải biết say mê đối với chính công việc đó Chính vì thế, việc nâng cao chất lượng cán bộ, công chức cấp sở cần:
i Nâng cao trình độ chuyên môn, lý luận chính trị, ngoại ngữ, tin học của đội ngũ cán bộ, công chức cấp sở
Trình độ chuyên môn của đội ngũ cán bộ, công chức là kiến thức, sự hiểu biết, khả năng thực hành về một hoặc một số chuyên môn nhất định và nhờ được đào tạo tại các trường cao đẳng, đại học, trung học chuyên nghiệp
Trang 34Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn
Trình độ chuyên môn của lực lượng lao động thường được thể hiện định lượng thông qua các con số cụ thể: tỷ lệ cán bộ qua đào tạo trung cấp, cao đẳng, đại học và sau đại học các trường đào tạo đúng chuyên môn phù hợp trong tổng số lực lượng lao động
Hiện nay, trong bối cảnh phát triển kinh tế thị trường, sự tiến bộ mạnh
mẽ của khoa học kỹ thuật, sự hội nhập ngày càng sâu rộng của Việt nam vào
hệ thống kinh tế quốc tế, cán bộ, công chức cấp sở còn phải có trình độ lý luận chính trị, trình độ ngoại ngữ, trình độ tin học một mức độ nhất định để thực hiện nhiệm vụ chuyên môn được giao
Khi tham gia thực hiện nghiệp vụ của cán bộ, công chức thì đội ngũ này không chỉ cần sức khỏe mà còn cần tới tri thức, sự hiểu biết rộng trong rất nhiều lĩnh vực Bên cạnh sự phát triển ngày càng mạnh của nền kinh tế, quy
mô ngày càng rộng trên khắp toàn cầu cùng với sự hội nhập kinh tế thế giới đội ngũ cán bộ, công chức phải có những kiến thức, trình độ chuyên môn, trình độ ngoại ngữ và những kỹ năng cần thiết khác để làm việc chủ động, linh hoạt và sáng tạo để xử lý tốt mọi tình huống trong khi làm nhiệm vụ Đặc biệt trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam ngày càng sâu rộng thì nâng cao trình độ ngoại ngữ giữ vai trò quan trọng
ii Nâng cao kỹ năng nghề nghiệp quản lý nhà nước của đội ngũ cán
bộ, công chức cấp sở
Cán bộ, công chức cấp sở là phải có khả năng thực hiện các công việc thông qua những kỹ năng cụ thể của sở như kỹ năng về kế hoạch, kỹ năng tham mưu; kỹ năng phối hợp giải quyết công việc; kỹ năng điều hành công sở
và tổ chức; kỹ năng phân tích xử lý thông tin; kỹ năng kiểm tra đánh giá hiệu quả hoạt động của công việc
Kỹ năng kế hoạch được thể hiện qua các công tác dự thảo quyết định, chỉ thị và các văn bản; dự thảo chương trình, kế hoạch dài hạn,… Kỹ năng lập
Trang 35Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn
kế hoạch đòi hỏi cán bộ cấp sở phải có một tư duy có hệ thống, biết phối hợp mọi nguồn lực của một cách hữu hiệu, tập trung vào các mục tiêu và chính sách của Nhà nước, của Tỉnh, cũng như của đơn vị mình, linh hoạt trong giải pháp để đáp ứng hiệu quả công tác Kế hoạch là một trong những công cụ có vai trò quan trọng trong việc điều tiết, quản lý của Nhà nước, chính vì thế, kỹ năng lập kế hoạch là một trong những kỹ năng quan trọng nhất đối với đội ngũ cán bộ, đặc biệt là các cán bộ lãnh đạo, quản lý
Cũng như kỹ năng kế hoạch, kỹ năng tham mưu đóng vai trò chủ đạo, được thể hiện thông qua các công tác tham mưu, giúp lãnh đạo sở, Ủy ban nhân dân tỉnh thực hiện chức năng quản lý nhà nước về các lĩnh vực mà đơn
vị mình quản lý theo đúng quy định của pháp luật,… Ngoài ra, các kỹ năng không thể thiếu trong công tác của cán bộ quản lý cấp sở gồm phối hợp giải quyết công việc; kỹ năng điều hành công sở và tổ chức; kỹ năng phân tích xử
lý thông tin; kỹ năng kiểm tra đánh giá hiệu quả hoạt động
Cùng với sự phát triển ngày càng mạnh của nền kinh tế, đòi hỏi các cán
bộ, công chức còn phải có các kỹ năng cần thiết khác như kỹ năng phối hợp giải quyết công việc; kỹ năng điều hành công sở và tổ chức; kỹ năng phân tích xử lý thông tin; kỹ năng kiểm tra đánh giá hiệu quả hoạt động để làm việc đạt hiệu quả
iii Nâng cao phẩm chất đạo đức nghề nghiệp, tinh thầm trách nhiệm của đội ngũ cán bộ, công chức cấp sở
Xem xét chất lượng nhân lực không thể không nói đến các yếu tố văn hoá, đạo đức, tư tưởng, tính cách, tâm lý… của người lao động Đây là các phẩm chất đạo đức, tinh thần với vai trò vô cùng quan trọng, ảnh hưởng đến chất lượng của nhân lực, nó thúc đẩy tích cực và làm gia tăng hiệu quả hoạt động của con người hoặc ngược lại Các phẩm chất đạo đức, tinh thần không chỉ do chi phối của sự tồn tại xã hội đương thời mà còn chịu ảnh hưởng của
Trang 36Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn
xã hội trước đây, đặt biệt là khi đã trở thành truyền thống, văn hóa Con người
là sản phẩm của lịch sử, nên dù có ý thức hay không có ý thức thì đều mang
trong mình một di sản truyền thống nhất định
Phẩm chất đạo đức là những đặc điểm quan trọng trong yếu tố xã hội của nguồn nhân lực, bao gồm tập hợp về nhân cách con người, tình cảm, phong tục tập quán, phong cách, thói quen, quan niệm, truyền thống, các hình thái tư tưởng, đạo đức, nghệ thuật gằn liền với truyền thống văn hóa Một nền văn hóa có bản sắc riêng luôn là sức mạnh nội tại của một quốc gia Để phát triển đồng bộ và toàn diện trong phẩm chất đạo đức được duy trì thì đạo đức nghề nghiệp cũng cần được chú trọng ngoài ra cần có những phẩm chất nhất định như nhận thức, tính kỷ luật, tự giác, tinh thần học hỏi hợp tác, trách nhiệm, tính cách hóa đồng, thân thiện, trung thực khéo léo trong giải quyết công việc cũng như ứng xử tại nơi làm việc
Tuy nhiên việc đánh giá chất lượng lao động qua phẩm chất tâm lý xã hội bằng phương pháp thống kê, định lượng là rất khó thực hiện, mà thường được tiến hành bằng các cuộc điều tra tâm lý và xã hội học và chủ yếu được đánh giá bằng các chỉ tiêu định tính
Cần phải tạo lập tác phong làm việc chuyên nghiệp và phẩm chất đạo đức của người cán bộ, công chức với các chỉ tiêu cụ thể:
- Tinh thần phục vụ nhân dân theo phương châm hành động "Chuyên nghiệp - minh bạch - hiệu quả"
- Trung thực với cấp trên, đồng nghiệp; nêu cao tinh thần trách nhiệm, không chạy theo nhu cầu tư lợi cá nhân
- Thể hiện lối sống văn minh và ứng xử có văn hóa với mọi người; giữ gìn, bảo vệ và tôn vinh truyền thống, bản sắc văn hóa dân tộc
- Có tinh thần hợp tác, thái độ thân thiện, cởi mở, thân ái với mọi người, với doanh nghiệp, với các cơ quan hữu quan để thực hiện tốt mục tiêu và nhiệm
vụ đề ra
Trang 37Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn
- Đạo đức nghề nghiệp theo tiêu chuẩn chung cần có; phải có kiến thức
và kỹ năng nghề nghiệp, có đạo đức lương tâm nghề nghiệp,có ý thức kỷ luật, tác phong làm việc và thái độ phục vụ tốt
- Nắm vững và tự tin vào đường lối, chính sách của Đảng, Nhà nước, trung thành với lợi ích của dân tộc
- Có tinh thần tự hào, tự tôn về quê hương, đất nước, con người và dân tộc Việt Nam, có hoài bão về nghề nghiệp chuyên môn được đào tạo
1.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến việc nâng cao chất lượng cán bộ, công chức cấp Sở
1.3.1 Môi trường luật pháp và cơ chế chính sách cán bộ, công chức của Đảng, Nhà nước, Thành phố và của Tỉnh
Môi trường luật pháp, cơ chế chính sách cán bộ, công chức của Đảng, Nhà nước và của Tỉnh là nhân tố bên ngoài tác động đến chất lượng và nâng cao chất lượng cán bộ, công chức cấp sở
Các quan điểm của Đảng, hệ thống luật pháp của nhà nước, các quy định của ngành, của Tỉnh về phát triển nguồn nhân lực, về cán bộ, công chức là căn
cứ để nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức cấp Sở
Hệ thống này bao gồm các văn bản Luật và các văn bản mang tính chất luật như Nghị định, Thông tư, các Quyết định,… của nhà nước các cấp có liên quan đến đội ngũ và chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức
Môi trường luật pháp và cơ chế chính sách phù hợp sẽ đưa ra được những quy định cho cán bộ, công chức có căn cứ vào đó mà phấn đấu rèn luyện về trình độ văn hóa, chuyên môn, kỹ năng nghề nghiệp, phẩm chất chính trị, đạo đức nghề nghiệp; từng bước đạt tiêu chuẩn của từng ngạch công chức và chức danh cán bộ quản lý đã được Nhà nước ban hành Đồng thời, cán bộ, công chức tự khắc phục về cơ bản những khiếm khuyết, hẫng hụt hiện
có so với những yêu cầu nhiệm vụ để thực thi công vụ, bảo đảm yêu cầu công việc và tạo nguồn nhân lực thường xuyên cho sở
Trang 38Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn
1.3.2 Công tác tổ chức quản lý của cấp sở
Nếu như môi trường luật pháp, cơ chế chính sách là yếu tố bên ngoài ảnh hưởng đến chất lượng và nâng cao chất lượng cán bộ, công chức thì nhân
tố tổ chức quản lý của sở là nhân tố nội tại ảnh hưởng đến chất lượng và nâng cao chất lượng cán bộ, công chức cấp sở
Thứ nhất, công tác quy hoạch, tuyển dụng, đào tạo, bồi dưỡng, sắp xếp
sử dụng, đánh giá, đãi ngộ cán bộ, công chức của đơn vị
Quy hoạch, tuyển dụng, đào tạo, bồi dưỡng, sắp xếp sử dụng, đánh giá, đãi ngộ cán bộ, công chức của sở là nhân tố nội tại có vai trò quyết định trong việc nâng cao chất lượng cán bộ, công chức của đơn vị Bởi lẽ, mỗi sở quản lý một lĩnh vực hoạt động riêng trên địa bàn tỉnh, có những yêu cầu khác nhau
về chất lượng đội ngũ của mình
Chẳng hạn, đối với Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, nhiệm vụ
là quản lý nông nghiệp, lâm nghiệp, thuỷ sản, thuỷ lợi và phát triển nông thôn; phòng, chống lụt, bão; an toàn nông sản, lâm sản, thuỷ sản; về các dịch
vụ công thuộc ngành nông nghiệp và phát triển nông thôn chỉ thành công khi chúng ta biết khai thác hợp lý và sử dụng hiệu quả được tất cả các nguồn lực Song, yếu tố giữ vai trò quyết định nhất, đảm bảo cho sự thắng lợi của quá trình
đó chính là nguồn lực con người, đặc biệt là nguồn nhân lực có chất lượng cao
do đặc thù của lao động trí thức Các nguồn lực khác trong lĩnh vực nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy sản, thủy lợi,… xét về mặt số lượng có thể là dồi dào, nhưng nếu khai thác và sử dụng không hợp lý thì đến một lúc nào đó sẽ trở nên cạn kiệt Trái lại, nguồn lực con người làm công tác quản lý của Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn với tiềm năng trí tuệ, chất xám thì luôn phát triển không ngừng,
đó là yếu tố cơ bản để hoạt động quản lý hoạt động của Sở một cách bền vững Đây là một ưu điểm nổi trội của nguồn nhân lực so với các nguồn lực khác trong
hệ thống nguồn lực phục vụ cho công tác quản lý của Sở Nông nghiệp và Phát triển nông nói riêng và phát triển kinh tế tri thức nói chung Ngày nay, trở ngại
Trang 39Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn
chủ yếu nhất được xác định chính là sự hạn chế về trí tuệ và năng lực sáng tạo của con người khi thực hiện một công việc rất khó khăn và phức tạp như công tác quản lý nông nghiệp; lâm nghiệp; thuỷ sản; thuỷ lợi và phát triển nông thôn; phòng, chống lụt, bão; an toàn nông sản, lâm sản, thuỷ sản; về các dịch vụ công thuộc ngành nông nghiệp và phát triển nông thôn
Một trong những hoạt động quan trọng nhất của công tác tổ chức và quản lý cán bộ của Sở là việc đào tạo bồi dưỡng đội ngũ cán bộ Sở Xác định được tầm quan trọng của đội ngũ cán bộ, công chức, đối với đội ngũ cán bộ, công chức làm công tác quản lý nông nghiệp, lâm nghiệp, thuỷ sản, thuỷ lợi
và phát triển nông thôn; phòng, chống lụt, bão; an toàn nông sản, lâm sản, thuỷ sản; về các dịch vụ công thuộc ngành nông nghiệp và phát triển nông thôn, cũng như các mảng công việc khác, việc đào tạo, bồi dưỡng có vai trò quan trọng đặc biệt, bởi vì:
- Để thực hiện có hiệu quả chủ trương tái cơ cấu ngành nông nghiệp và xây dựng nông thôn mới, đội ngũ cán bộ, công chức phải ngày càng được nâng cao trình độ cả về chuyên môn, cả về năng lực tổ chức thực thi chính sách và năng lực vận động quần chúng
- Việc thực hiện theo cơ chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, đòi hỏi những người làm công tác tại Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn phải thay đổi tư duy về sự thụ động, ỷ lại, bao cấp trước; thay vào đó là sự năng động, nhạy bén nắm bắt nhu cầu thị trường , tính quyết đoán có tầm nhìn dài hạn, dự báo tốt để đầu tư những dự án đạt hiệu quả cao Để thực hiện được điều này, người làm công tác tại Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn cần phải được thường xuyên đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao trình độ, phải được trang
bị các kiến thức mới, được học tập kinh nghiệm của các nước tiên tiến
- Để đảm bảo nâng cao hiệu quả của công tác quản lý nông nghiệp, lâm nghiệp, thuỷ sản, thuỷ lợi và phát triển nông thôn; phòng, chống lụt, bão; an toàn nông sản, lâm sản, thuỷ sản; về các dịch vụ công thuộc ngành nông
Trang 40Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn
nghiệp và phát triển nông thôn, đội ngũ cán bộ, công chức làm nghiệp vụ phải ngày càng được nâng cao trình độ cả về chuyên môn, cả về năng lực tổ chức thực thi chính sách và năng lực vận động quần chúng Đội ngũ cán bộ, công chức hoạt động trong lĩnh vực quản lý nông nghiệp và phát triển nông thôn phải được nâng cao trình độ về mọi mặt, phải đảm bảo các kiến thức cơ bản như: Nắm vững đường lối, quan điểm, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; tinh thông nghiệp vụ nông nghiệp và phát triển nông thôn; biết sử dụng máy tính và công nghệ thông tin vào công tác chuyên môn; biết nhiều ngoại ngữ để nâng cao hiểu biết và phục vụ công tác chuyên môn
Do vậy, việc đào tạo, bồi dưỡng cán bộ trong công tác tổ chức quản lý cán bộ là rất quan trọng trong chiến lược phát triển nhân lực, ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng đội ngũ cán bộ Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn
Bên cạnh đó, trong bất kỳ một tổ chức nào, các công tác tổ chức quản
lý cán bộ, công chức có ý nghĩa cực kỳ quan trọng Điều này có liên quan đến tất cả các khâu từ tuyển dụng, đến sử dụng, đánh giá, sắp xếp, đề bạt khen thưởng và kỷ luật đối với cán bộ, công chức trong cơ quan Khi tổ chức quản
lý cần quan tâm đến những vấn đề cụ thể sau, sẽ ảnh hưởng tích cực đến chất lượng nguồn nhân lực của đội ngũ cán bộ, công chức trong tổ chức:
- Tuyển dụng và sắp xếp cán bộ, công chức thực hiện những nghiệp vụ phù hợp với trình độ, năng lực, đảm bảo cho cán bộ, công chức phát huy hết khả năng và sở trường, hăng say công tác
- Xây dựng được hệ thống dữ liệu để thực hiện nhiệm vụ quản lý cán
bộ, công chức gắn quyền hạn với trách nhiệm hành chính và vật chất của cán
bộ, công chức trên từng vị trí công tác…
- Xây dựng được quy định, quy chế, chuẩn mực đạo đức nghề nghiệp, các quy định về đánh giá chất lượng hoạt động của nhân lực để nhận xét đánh giá cán bộ, công chức tạo tiền đề và là cơ sở cho việc bố trí, sử dụng cán bộ, công chức một cách phù hợp