Việc nghiên cứu về kinh tế, văn hóa châu Lục Yên nửa đầu thế kỷ XIX không những góp phần làm rõ hơn lịch sử kinh tế cũng như đời sống văn hóa của các dân tộc ở Lục Yên mà còn góp phần là
Trang 1ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
MAI THỊ BIẾN
KINH TẾ, VĂN HÓA CHÂU LỤC YÊN
TỈNH TUYÊN QUANG NỬA ĐẦU THẾ KỶ XIX
LUẬN VĂN THẠC SĨ NHÂN VĂN
THÁI NGUYÊN - 2017
Trang 2ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
MAI THỊ BIẾN
KINH TẾ, VĂN HÓA CHÂU LỤC YÊN
TỈNH TUYÊN QUANG NỬA ĐẦU THẾ KỶ XIX
Chuyên ngành: LỊCH SỬ VIỆT NAM
Mã số: 60.22.03.13
LUẬN VĂN THẠC SĨ NHÂN VĂN
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS ĐÀM THỊ UYÊN
THÁI NGUYÊN - 2017
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan, đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này là hoàn toàn trung thực và chưa được sử dụng trong công trình nghiên cứu nào Các tài liệu tham khảo trích dẫn có nguồn gốc rõ ràng
Thái Nguyên, tháng năm 2017
Tác giả
Mai Thị Biến
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Trước hết, tôi xin gửi lời cảm ơn tới Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Yên Bái, Bảo tảng tỉnh Yên Bái, UBND huyện Lục Yên, Phòng Thống kê, phòng Văn hóa huyện Lục Yên và nhân dân địa phương đã giúp đỡ tôi trong quá trình khảo sát thực tế tại địa phương
Đặc biệt, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến PGS.TS Đàm Thị Uyên cùng các thầy cô trong khoa Lịch sử trường Đại học Sư phạm, Đại học Thái Nguyên đã chỉ bảo tận tình, động viên, khích lệ tôi trong thời gian học tập và hoàn thành luận văn
Tôi cũng xin trân trọng cảm ơn tới Ban Giám hiệu, các thầy, cô giáo trường Cao đẳng Sư phạm tỉnh Hà Giang đã tạo điều kiện về mọi mặt để tôi yên tâm học tập
Cuối cùng, tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành tới bạn bè và những người thân trong gia đình đã giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập và hoàn thành luận văn
Thái Nguyên, tháng năm 2017
Tác giả Mai Thị Biến
Trang 5MỤC LỤC
Trang
Trang bia phụ
Lời cam đoan i
Lời cảm ơn ii
Mục lục iii
Danh mục các từ viết tắt iv
Danh mục các bảng v
Danh mục biểu đồ vi
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 2
3 Mục đích, nhiệm vụ 4
4 đối tượng và phạm vi nghiên cứu 4
5 Nguồn tư liệu và phương pháp nghiên cứu 5
6 Đóng góp của luận văn 7
7 Cấu trúc của luận văn 7
Chương 1 KHÁI QUÁT VỀ ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU 12
1.1 Vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên 12
1.2 Lịch sử hành chính huyện Lục Yên 16
1.3 Các thành phần dân tộc 20
1.4 Khái quát tình hình chính trị - xã hội huyện Lục Yên 26
Chương 2 KINH TẾ CỦA CHÂU LỤC YÊN NỬA ĐẦU THẾ KỶ XIX 33
2.1 Tình hình ruộng đất châu Lục Yên theo địa bạ Gia Long 4 (1805) 33
2.1.1 Tình hình các loại ruộng đất ở châu Lục Yên 34
2.1.2 Tình hình sở hữu ruộng đất tư 35
2.1.3 Bình quân thửa và bình quân sở hữu một chủ 36
2.1.4 Sở hữu ruộng đất của các nhóm họ 37
2.1.5 Tình hình sở hữu ruộng đất của chức sắc 38
2.2 Tình hình ruộng đất châu Lục Yên theo địa bạ Minh Mệnh 21 (1840) 41
Trang 62.2.1 Tình hình các loại ruộng đất ở Lục Yên 41
2.2.2 Sở hữu ruộng đất tư 42
2.2.3 Bình quân thửa và bình quân sở hữu một chủ 43
2.2.4 Sở hữu ruộng đất theo nhóm họ 44
2.2.5 Sở hữu của chức sắc 45
2.3 Tình hình kinh tế 48
2.3.1 Nông nghiệp 48
2.3.2 Thủ công nghiệp và thương nghiệp 54
2.4 Thuế khóa 58
Chương 3 VĂN HÓA CHÂU LỤC YÊN NỬA ĐẦU THẾ KỈ XIX 61
3.1 Làng bản và nhà cửa 61
3.2 Dòng họ và gia đình 65
3.3 Ẩm thực 68
3.4 Trang phục 71
3.5 Tục lệ 74
3.6 Tín ngưỡng, tôn giáo 90
KẾT LUẬN 98
TÀI LIỆU THAM KHẢO 101 PHỤ LỤC
Trang 7
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
KH : Ký hiệu
Nxb : Nhà xuất bản
PGS : Phó giáo sư
M, s, th, t, p : Mẫu, sào, thước, tấc, phân
Ví dụ : 112 mẫu 5 sào 4 thước 6 tấc 7 phân sẽ viết tắt là 112.5.04.6.7
Tr : Trang
TS : Tiến sĩ
TTLTQGI : Trung tâm lưu trữ Quốc gia I
HĐND : Hội đồng nhân dân
UBND : Uỷ ban nhân dân
Trang 8DANH MỤC CÁC BẢNG
Trang
Bảng 2.1 Thống kê ruộng đất châu Lục Yên theo địa bạ Gia Long 4 (1805) 34
Bảng 2.2 Quy mô sở hữu ruộng tư 35
Bảng 2.3 Bình quân sở hữu và bình quân thửa 37
Bảng 2.4 Sự phân bố ruộng đất của các nhóm họ 38
Bảng 2.5: Tình hình tư hữu ruộng đất của các chức sắc 39
Bảng 2.6: Quy mô sở hữu và bình quân sở hữu của các chức sắc 40
Bảng 2.7 Thống kê ruộng đất châu Lục Yên theo địa bạ Minh Mệnh 21 (1840) 41
Bảng 2.8 Quy mô tư hữu ruộng đất của chủ sở hữu năm (1840) 42
Bảng 2.9: Bình quân thửa và bình quân sở hữu một chủ 43
Bảng 2.10: Sự phân bố ruộng đất của các nhóm họ 44
Bảng 2.11: Sở hữu ruộng tư của các chức sắc 45
Bảng 2.12: Diện tích sở hữu và bình quân sở hữu của chức sắc 46
Trang 9DANH MỤC BIỂU ĐỒ
Trang
Biểu đồ 2.1: Quy mô sở hữu ruộng tư năm 1805 36Biểu đồ 2.2: Quy mô sở hữu ruộng tư năm 1840 42
Trang 10MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Lục Yên là huyện miền núi nằm ở phía Đông Bắc của tỉnh Yên Bái, tiếp giáp với các tỉnh Lào Cai, Hà Giang và Tuyên Quang Trước cách mạng tháng 8/1945, huyện có tên gọi là Châu Lục Yên thuộc tỉnh Tuyên Quang, nằm án ngữ sườn phía tây căn cứ địa Việt Bắc, giữ vị trí hết sức quan trọng trong tuyến hành lang bảo vệ căn cứ hậu phương kháng chiến của cả nước, là cầu nối liền căn cứ địa Việt Bắc với chiến trường Tây Bắc và tỉnh Lào Cai, Hà Giang
Lục Yên là vùng đất có điều kiện tự nhiên thuận lợi, đất đai tương đối màu
mỡ, giàu tài nguyên khoáng sản, các dân tộc ở Lục Yên mặc dù có nguồn gốc lịch sử khác nhau nhưng khi đã cùng nhau sinh sống tại nơi đây thì các dân tộc đã tích cực khai phá, mở mang ruộng đồng, xây làng lập bản để làm nơi sinh cơ lập nghiệp và phát triển lâu dài Tình hình cộng cư của nhiều thành phần dân tộc gắn liền với quá trình phát triển lâu dài của đất nước Trong công cuộc phát triển kinh tế - xã hội ở các vùng dân tộc miền núi nói chung và Lục Yên nói riêng, Đảng và Nhà nước rất quan tâm đến việc xây dựng và phát triển kinh tế ở các vùng dân tộc thiểu số Việc phân bố lại dân cư gắn với xây dựng các vùng kinh tế nhằm khắc phục dần sự cách biệt về kinh tế - xã hội giữa các dân tộc, khai thác mọi tiềm năng của đất nước, đảm bảo an ninh quốc phòng, đồng thời góp bảo vệ môi trường sinh thái
Là vùng đất rộng người thưa, núi non hiểm trở, có vị trí chiến lược về quốc phòng, Lục Yên từ xa xưa luôn là một bộ phận của tổ quốc Việt Nam thống nhất Đồng bào các dân tộc nơi đây có truyền thống đoàn kết, yêu nước, giàu lòng nhân ái, dũng cảm trong đấu tranh chống cường quyền, áp bức, đánh giặc ngoại xâm; cần cù, sáng tạo trong lao động và có đời sống văn hoá tinh thần khá phong phú, độc đáo Ngày nay, trong công cuộc đổi mới đất nước, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, thực hiện hai nhiệm vụ chiến lược xây dựng và bảo vệ tổ quốc xã hội chủ nghĩa vì mục tiêu: “dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh” là sự nghiệp của toàn xã hội, toàn dân tộc trong đó có nhân dân các dân tộc Lục Yên
Trang 11Việc nghiên cứu về kinh tế, văn hóa châu Lục Yên nửa đầu thế kỷ XIX không những góp phần làm rõ hơn lịch sử kinh tế cũng như đời sống văn hóa của các dân tộc
ở Lục Yên mà còn góp phần làm cơ sở nhận thức cho việc thực hiện đường lối, chính sách của Đảng và Nhà trong việc đề ra đường lối phát triển kinh tế, văn hóa, xây dựng khối đoàn kết các dân tộc, trên mảnh đất Lục Yên giàu truyền thống
Cho đến nay, vấn đề kinh tế và văn hóa châu Lục Yên nửa đầu thế kỉ XIX
chưa có công trình nào nghiên cứu một cách hệ thống, vì vậy tôi chọn đề tài “Kinh tế,
văn hóa châu Lục Yên, tỉnh Tuyên Quang nửa đầu thế kỉ XIX” làm luận văn thạc sĩ
cuốn “Chế độ ruộng đất và kinh tế nông nghiệp thời Lê sơ” của tác giả Phan Huy Lê
do Nhà xuất bản Văn Sử Địa, Hà Nội xuất bản năm 1959 Mặc dù cuốn sách không đề cập đến tình hình ruộng đất và kinh tế nông nghiệp châu Lục Yên tỉnh Tuyên Quang nửa đầu thế kỷ XIX, nhưng đây là một trong những tài liệu quan trọng để chúng tôi có thêm nhận thức trong quá trình hoàn thiện luận văn của mình [22]
Trong tác phẩm “Tìm hiểu chế độ ruộng đất Việt Nam nửa đầu thế kỷ XIX”
của tác giả Vũ Huy Phúc, do Nhà xuất bản Khoa học xã hội, Hà Nội xuất bản năm
1979 tác giả đã nêu lên những chính sách chủ yếu về ruộng đất của nhà Nguyễn, các thiết chế và cơ cấu ruộng đất được hình thành từ chính sách đó, đồng thời chỉ ra những tác động và hậu quả của nó đối với yêu cầu phát triển của lịch sử Nội dung của tác phẩm không trực tiếp đề cập đến châu Lục Yên tỉnh Tuyên Quang, nhưng đây
là một trong những tài liệu quan trọng giúp chúng tôi tìm hiểu về chế độ ruộng đất của Việt Nam trong nửa đầu thế kỷ XIX [31]
Cuốn sách “Chế độ ruộng đất ở Việt Nam thế kỷ XI – XVIII” của tác giả
Trương Hữu Quýnh do nhà xuất bản Khoa học xã hội, Hà Nội xuất bản Cuốn sách gồm 2 tập được xuất bản lần lượt vào năm 1982 và năm 1983 Cuốn sách đã thể hiện
Trang 12những nét chính về sự tiến triển của chế độ ruộng đất ở nước ta từ thế kỷ XI đến thế
kỷ XVIII, bước đầu vạch ra xu thế phát triển chủ yếu và tính chất kinh tế - xã hội của
nó dựa trên cơ sở là các nguồn tư liệu phong phú bao gồm các bộ chính sử và các nguồn tư liệu địa phương (văn bia, gia phả…) [40]
Năm 1997, hai tác giả Trương Hữu Quýnh, Đỗ Bang đã cho xuất bản tác
phẩm Tình hình ruộng đất, nông nghiệp và đời sống nông dân dưới triều Nguyễn
do Nhà xuất bản Thuận Hóa ấn hành Một trong những nội dung của sách đã bàn
về tình hình ruộng đất thông qua tài liệu địa bạ Các chính sách về nông nghiệp đặc biệt là các chính sách về ruộng đất dưới triều Nguyễn Bên cạnh đó, các tác giả còn nêu được một số nội dung liên quan đến đời sống nông dân dưới triều Nguyễn [42]
Một trong những công trình nghiên cứu khá đầy đủ về tình hình chính trị, kinh tế, văn hóa của các dân tộc ít người trên đất nước ta cũng như những chính sách của các
triều đại phong kiến đối với các dân tộc, đó là cuốn Chính sách dân tộc của các triều đại
phong kiến Việt Nam (thế kỷ XI đến giữa thế kỷ XIX) của tác giả Đàm Thị Uyên do Nhà
xuất bản Văn hóa dân tộc, xuất bản năm 2007 tại Hà Nội [56]
Tác giả Ngô Đức Thịnh đã có một số công trình nghiên cứu về văn hóa có
thể kể đến: Tóm lược nội dung chính cuốn sách Văn hoá vùng và phân vùng văn
hóa ở Việt Nam (2003); Trang phục cổ truyền các dân tộc Việt Nam (1994); Tìm hiểu các luật tục các dân tộc Việt Nam (2004); Một cách tiếp cận về lịch sử văn hóa
(2007); Văn hóa, văn hóa tộc người và văn hóa Việt Nam (2006) Là những sách có
nội dung đề cập về văn hóa, vùng văn hóa, cũng như sắc thái đa dạng của nền văn hóa Việt Nam
Tháng 4 năm 2000, tỉnh ủy, HĐND và UBND tỉnh Yên Bái đã cho xuất bản
cuốn Tỉnh Yên Bái một thế kỷ (Nxb Đại học Sư phạm - Đại học Quốc gia Hà Nội xuất
bản), cuốn sách đã trình bày về lịch sử Yên Bái với điều kiện tự nhiên và các nền văn hóa cổ đã từng tồn tại trên đất Yên Bái xưa, về truyền thống yêu nước của nhân dân ở đây qua các thời kỳ lịch sử khác nhau về việc thành lập tỉnh Yên Bái và về tình hình chính trị, kinh tế, văn hóa - xã hội, truyền thống yêu nước, cách mạng, sáng tạo của nhân dân Yên Bái từ đó đến nay [53]
Trang 13Trong cuốn Một số nét đặc trưng các dân tộc Yên Bái của Ban Dân vận và
Dân tộc Tỉnh ủy Yên Bái xuất bản tháng 6 năm 2000, cuốn sách đã nêu được nguồn gốc, phong tục tập quán cũng như các hình thái kinh tế - xã hội của các dân tộc tỉnh Yên Bái [52]
Ban chấp hành Đảng bộ huyện Lục Yên xuất bản cuốn Lịch sử Đảng bộ huyện
Lục Yên (1930-2005), xuất bản năm 2005 Trong cuốn sách này đã nêu khá đầy đủ và có
hệ thống về lịch sử hành chính huyện Lục Yên, huyện Lục Yên trong thời kì kháng chiến cũng như trong công cuộc xây dựng và bảo vệ đất nước [4]
Bên cạnh đó còn có một số bài đăng trên các tạp chí chuyên ngành của một số tác giả có liên quan đến kinh tế, văn hóa châu Lục Yên như: Đàm Thị Uyên và Nguyễn Thị
Trang (2004), Vài nét về kinh tế tỉnh tuyên Quang nửa đầu thế kỷ XIX, Tạp chí Nghiên
cứu Lịch sử số 8 năm 2014 [58]
Ngoài ra, còn phải kể đến một số khóa luận, luận văn có nội dung liên quan đến
đề tài của tác giả đó là: Tìm hiểu tục tang ma của người Nùng ở huyện Lục Yên - Yên
Bái của Lộc Thị Hà, Khóa luận tốt nghiệp, Đại học Tây Bắc, năm 2014 Tác giả đã đề
cập về tục tang ma của người Nùng ở huyện Lục Yên tỉnh Yên Bái [15] Luận văn: Kinh
tế, văn hóa huyện Trấn Yên tỉnh Yên Bái thế kỷ XIX của Trần Thị Xuyên, Luận văn thạc
sĩ Lịch sử, Đại học Sư Phạm, Đại học Thái Nguyên, năm 2015 đã nghiên cứu về đặc điểm tự nhiên, thành phần dân tộc, chế độ ruộng đất, kinh tế, cũng như văn hóa nhân dân huyện Trấn Yên thế kỷ XIX Luận văn này giúp tác giả nghiên cứu được những nét tương đồng, khác biệt giữa Lục Yên với các huyện khác trong cùng thời điểm nửa đầu thế kỷ XIX [59]
Như vậy, đã có một số sách, các bài báo đề cập đến từng khía cạnh về chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội của Tuyên Quang nói chung và Lục Yên nói riêng Nhưng đến nay vẫn chưa có một công trình nào nghiên cứu về Lục Yên một cách hệ thống, mặc dù vậy các công trình nêu trên là nguồn tài liệu quý mà tác giả luận văn được kế thừa trong quá trình thực hiện đề tài của mình
3 Mục đích, nhiệm vụ
- Mục đích
Chọn đề tài “Kinh tế, văn hóa châu Lục Yên, tỉnh Tuyên Quang nửa đầu thế
kỷ XIX” để nghiên cứu, tác giả mong muốn nêu lên một cách chân thực, khoa học về
Trang 14kinh tế, nhất là tình hình ruộng đất và văn hóa của Lục Yên nửa đầu thế kỷ XIX Ngoài ra, luận văn cung cấp thêm tư liệu về kinh tế, văn hóa của châu Lục Yên góp phần làm cơ sở nhận thức cho các nhà nghiên cứu, giảng dạy về vấn đề này
- Nhiệm vụ nghiên cứu
Tổng quan về địa bàn nghiên cứu, trình bày lịch sử hành chính huyện Lục Yên, khái quát về tình hình chính trị – xã hội của huyện Lục Yên, đồng thời trình bày một số nét khái quát về các dân tộc ở Lục Yên
Làm rõ tình hình ruộng đất và kinh tế nông nghiệp của châu Lục Yên nửa đầu thế kỷ XIX
Nêu lên những nét cơ bản về văn hóa vật chất và văn hóa tinh thần của nhân dân các dân tộc châu Lục Yên ở nửa đầu thế kỷ XIX
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu
Bao gồm các vấn đề về chế độ sở hữu ruộng đất, kinh tế nông nghiệp, văn hóa vật chất và văn hóa tinh thần của mảnh đất Lục Yên nửa đầu thế kỷ XIX
- Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi không gian: Châu Lục Yên nửa đầu thế kỷ XIX dưới triều Nguyễn thuộc phủ Yên Bình tỉnh Tuyên Quang
Phạm vi thời gian: Nửa đầu thế kỷ XIX, dưới triều Nguyễn
5 Nguồn tư liệu và phương pháp nghiên cứu
5.1 Nguồn tư liệu
- Nguồn tư liệu chung: Đại Việt sử kí toàn thư, Lịch triều hiến chương loại chí,
Việt sử thông giám cương mục, Đồng Khánh địa dư chí, Kiến Văn tiểu lục, Đại Nam nhất thống chí… Những tư liệu trên đã ghi chép tên trấn, tổng, xã thôn thời Gia Long, Minh Mệnh; ghi lại số đinh tô thuế ở địa phương, miêu tả vị trí địa lý, thổ sản, phong tục tập quán … của các địa phương, trong đó có những tư liệu liên quan đến địa bàn nghiên cứu của tác giả luận văn
- Nguồn tư liệu địa phương: Lịch sử Đảng bộ huyện Lục Yên, Yên Bái một thế
kỷ, Lục Yên đất ngọc …Những tài liệu này đã miêu tả vị trí địa lý của Lục Yên xưa và nay, văn hóa của các dân tộc trên mảnh đất Lục Yên
Trang 15- Nguồn tư liệu địa bạ: Luận văn đã sử dụng 15 địa bạ có niên đại Gia Long 4 (1805), 9 địa bạ thời Minh Mệnh 21 (1840) hiện đang được lưu trữ tại Trung tâm lưu trữ Quốc gia I Tất cả những địa bạ trên là nguồn tư liệu chính để tác giả phục dựng lại tình hình ruộng đất và sở hữu ruộng đất ở châu Lục Yên nửa đầu thế kỷ XIX
- Nguồn tư liệu thực địa, điền dã: Tác giả đã thu thập được một số tài liệu trên địa
bàn huyện Lục Yên, đến những làng bản của cộng đồng cư dân thiểu số quan sát, ghi chép về các phong tục tập quán của họ, thu thập các câu chuyện dân ca, ca dao liên quan đến văn hóa cổ truyền của nhân dân Lục Yên trong quá khứ
5.2 Phương pháp nghiên cứu
Để hoàn thiện luận văn, tác giả đã vận dụng các phương pháp sau:
- Phương pháp lịch sử và phương pháp logic được vận dụng để tái hiện quá khứ thông qua tư liệu, đồng thời nhìn nhận vấn đề một cách toàn diện, khách quan
- Trong nghiên cứu về Lục Yên, chúng tôi còn sử dụng phương pháp hệ thống – cấu trúc Với phương pháp này, đối tượng nghiên cứu được coi như một hệ thống riêng gồm những yếu tố hợp thành Về lịch sử nghiên cứu quá trình hình thành và những chuyển thay đổi về địa giới, hành chính, các biến động lịch sử của địa phương Về kinh
tế, gồm có tình hình ruộng đất, kinh tế nông nghiệp, các nghề thủ công nghiệp, hoạt động thương nghiệp và chế độ thuế khóa; Về văn hóa có các yếu tố như: Làng bản và nhà cửa,
ăn uống, các tục lệ xã hội, tín ngưỡng, tôn giáo,… Từ đó rút ra những mối liên hệ tương tác giữa các yếu tố trong một hệ thống
- Phương pháp so sánh được vận dụng nhằm so sánh chọn điểm cùng vấn đề giữa hai thời điểm lịch sử hoặc với huyện khác trong tỉnh nhằm làm rõ hơn đối tượng nghiên cứu Trong luận văn, chúng tôi đã so sánh ruộng đất ở Lục Yên với huyện khác trong khu vực miền núi phía Bắc để rút ra điểm chung, riêng của ruộng đất ở Lục Yên
- Phương pháp bản đồ giúp hình dung cụ thể, sinh động về sự phân bố sông suối và đồi núi…của huyện
- Với giới hạn của đề tài, chúng tôi đặc biệt chú ý khâu giám định tư liệu, nhất là các tư liệu bằng chữ Hán để thấy được mức độ chính xác của nó
- Trong quá trình thực hiện, một số phương pháp khác được sử dụng nhằm thu thập và xử lý tối đa lượng thông tin như: phương pháp hồi cố, thống kê, phân tích, tổng hợp bằng hệ thống các bảng biểu
Trang 16- Phương pháp điền dã giúp tác giả quan sát, phỏng vấn, ghi chép và chụp ảnh những nội dung liên quan đến luận văn
6 Đóng góp của luận văn
Luận văn bước đầu làm rõ hơn các vấn đề kinh tế, văn hóa của châu Lục Yên, tỉnh Tuyên Quang trong nửa đầu thế kỷ XIX Dựa vào nguồn tài liệu khai thác được, luận văn bước đầu khôi phục một cách có hệ thống bức tranh về kinh tế, mối quan hệ tộc người, những vấn đề văn hóa vất chất và văn hóa tinh thần của cộng đồng cư dân, gắn với môi trường sinh thái địa phương, vùng miền, trong thời kì lịch sử xã hội hồi
nửa đầu thế kỷ XIX
7 Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, phụ lục, luận văn được chia làm 3 chương
Chương 1: Khái quát về địa bàn nghiên cứu
Chương 2: Kinh tế châu Lục Yên nửa đầu thế kỷ XIX
Chương 3: Văn hóa châu Lục Yên nửa đầu thế kỷ XIX
Trang 20
BẢN ĐỒ HÀNH CHÍNH HUYỆN LỤC YÊN
Nguồn:Tác giả vẽ
Trang 21Chương 1 KHÁI QUÁT VỀ ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU
1.1 Vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên
Lục Yên là một huyện miền núi nằm ở phía Đông Bắc của tỉnh Yên Bái Phía Bắc giáp huyện Quang Bình, huyện Bắc Quang tỉnh Hà Giang; phía Đông giáp huyện Hàm Yên tỉnh Tuyên Quang; phía Tây giáp huyện Bảo Yên tỉnh Lào Cai;
phía Nam giáp huyện Văn Yên, huyện Yên Bình tỉnh Yên Bái Theo sách Đại Nam
nhất thống chí: “Lục Yên ở cách phủ 51 dặm về phía bắc; đông tây cách nhau 125 dặm, nam bắc cách nhau 73 dặm; phía đông đến địa giới huyện Vĩnh Tuy 37 dặm, phía tây đến địa giới huyện Trấn Yên tỉnh Hưng Hóa 88 dặm, phía nam đến địa giới châu Thu 22 dặm, phía bắc đến địa giới huyện Vĩnh Tuy 51 dặm” [34, tr.320] Sách Đồng Khánh địa dư chí cũng chép lại như sau: “Lục Yên là châu do phủ Yên Bình thống hạt Châu lỵ trước kia đặt ở xã Thuận Mục Trước đây giảm bỏ, do phủ Yên Bình kiêm nhiếp Năm Tự Đức 17 (1864) khôi phục lại, sau đó lại dời về đặt ở xã Đào Lâm, tiếp sau lại bị phỉ cướp phá hư hại Châu hạt phía đông giáp giới huyện Vĩnh Tuy, phía tây giáp giới hai huyện châu Trấn Yên, Văn Bàn tỉnh Hưng Hóa, phía nam giáp giới Thu Châu, phía bắc giáp giới hai châu Thủy Vĩ, Văn Bàn tỉnh Hưng Hóa Đông tây cách nhau 3 ngày đường, nam bắc cách nhau 5 ngày đường”
[51, tr.867]
Trải qua những biến động về lịch sử hành chính, địa giới của huyện cũng đã
có sự thay đổi Ngày nay, huyện Lục Yên có tổng diện tích tự nhiên là 81.001,40 ha chiếm 11,76%diện tích toàn tỉnh Yên Bái
Huyện Lục Yên có hệ thống giao thông khá thuận lợi Từ trung tâm huyện
đi tới các huyện bạn như Yên Bình, Văn Yên, thành phố Yên Bái và các huyện Hàm Yên tỉnh Tuyên Quang, Quang Bình tỉnh Hà Giang và Bảo Yên tỉnh Lào Cai một cách thuận tiện Tuyến Quốc lộ 70, tỉnh lộ 171, tỉnh lộ Yên Thế - Vĩnh Kiên
và hệ thống giao thông từ huyện tới trung tâm các xã, đường giao thông liên xã ô
tô đi lại thông suốt nên rất thuận lợi cho việc đi lại và trao đổi hàng hóa giữa các địa phương trong và ngoài huyện Ngoài ra giao thông đường thuỷ qua hồ Thác Bà với huyện Yên Bình và các xã phía Tây Nam của huyện Hệ thống giao thông này
Trang 22đã góp phần tích cực vào việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế của huyện và phát triển dịch vụ thương mại, nâng cao đời sống nhân dân
Về điều kiện tự nhiên, huyện Lục Yên có độ cao phổ biến từ 80m đến dưới 300m; trong đó độ cao trung bình so với mặt nước biển là 100m Địa hình bao gồm thung lũng sông Chảy, cao ở phía Tây - Bắc, thấp dần theo hướng Đông - Nam Trong đó có nhiều dãy núi đá vôi xen kẽ và chia cắt
Theo sách Đồng Khánh địa dư chí, khí hậu của Lục Yên cũng giống Thu Châu và Hàm Yên: “Tháng giêng, tháng hai gió đông thi thoảng gió bắc, nhiều
lạnh rét, ít ấm nóng Trời mây âm u cả tuần, sương mù dày đặc, buổi sáng phải đến giờ Thìn mới thấy mặt trời, mới chừng nửa giờ Thân trời đã tối Đến hạ tuần tháng 3 mới cảm thấy ấm áp Tháng 4,5,6 gió nam nắng gắt Tháng 7,8 mưa lũ, lốc bão Tháng 9,10 ít mưa, nhiều ngày tạnh nắng, đã bắt đầu cảm thấy lạnh Tháng 11,12 gió bấc, rét đậm Đó là khí hậu ấm, mát, lạnh, nóng trong một năm Còn khí lam chướng thì cả bốn mùa đều có Còn thủy triều thì không dâng đến
Các yếu tố khí hậu của huyện Lục Yên mang đặc trưng của khí hậu chuyển tiếp của miền Tây Bắc và Việt Bắc Nhiệt độ trung bình cả năm là 23,90c.Mùa lạnh vào tháng 1 nhiệt độ trung bình là 15,80C Mùa nóng vào các tháng 5,6 nhiệt độ trung bình là 28,30C, cao nhất là khoảng 390C, thấp nhất là 3,10C
Lượng mưa trung bình hàng năm từ 1.500mm đến 2.200mm Mùa mưa bắt đầu vào tháng 5 và kết thúc vào tháng 9 Lượng mưa toàn mùa là 1.629mm, chiếm 76% lượng mưa toàn năm Số ngày mưa trải đều các tháng Mùa khô số ngày mưa
ít nhất cũng xấp xỉ 10 ngày Lượng mưa thấp nhất vào tháng 1 là 24mm và cao nhất vào tháng 7 là 420mm Lượng mưa phùn nhiều hơn các huyện phía Bắc, bình quân mỗi năm có 39,3 ngày mưa phùn Là một trong những huyện có số ngày mưa lớn nhất tỉnh Yên Bái Bình quân mỗi năm có 16,8 ngày mưa trên 50mm và 2,3 ngày mưa trên 100mm [4, tr.10]
Do ảnh hưởng của dãy Hoàng Liên Sơn và hồ Thác Bà nên độ ẩm khá cao, trung bình trong năm là 84%, có lúc lên tới 87%
Nằm ở vị trí nội tuyến, lượng bức xạ mặt trời lớn và khá đồng đều Huyện Lục Yên có số giờ nắng trung bình một năm là 1.511 giờ
Trang 23Vào mùa lạnh, gió mùa đông bắc ở Lục Yên từ tháng 11 đến tháng 3 Trong những ngày mùa đông, hiện tượng sương mù chủ yếu về sáng sớm và chiều tối Trong mùa này có một vài ngày sương muối Gió mùa đông nam từ tháng 4 đến tháng 11 tạo ra sự mát mẻ và mưa Sang đầu thời kỳ mùa hè (tháng 5,6) có gió tây nam xen kẽ tạo khí hậu khô nóng và độ ẩm thấp
Tài nguyên đất có thể phân ra thành hai hệ đất chính đó là đất phù sa do sông Chảy bồi đắp và hệ đất Feralit phát triển trên nền địa chất đa dạng của địa hình đồi núi Đất thung lũng ven sông Chảy, ven hồ có khả năng trồng hoa màu, lúa nước, cây công nghiệp ngắn ngày, gồm nhiều cánh đồng phì nhiêu, vựa lúa của huyện như Mường Lai, Vĩnh Lạc, Liễu Đô, Minh Chuẩn Tổng diện tích tự nhiên của huyện là 81.001,40ha trong đó đất nông nghiệp là 12.792,50ha chiếm 15,8% tổng diện tích tự nhiên, đất lâm nghiệp 57.973,00ha, đất chuyên dùng là 2.283,80ha, đất ở chiếm 795,50 ha
Trước đây, ở Lục Yên diện tích rừng tự nhiên khá rộng với nhiều loại gỗ quý như: lát hoa, sến, táu, chò chỉ và bạt ngàn tre nứa Thú quý có hổ, báo, gấu, cầy hương Nhưng do phá rừng làm nương rẫy và khai thác khá ồ ạt, kéo dài dẫn đến diện tích rừng tự nhiên bị giảm, một số loài thú quý không còn Rừng và tài nguyên rừng là một trong những thế mạnh của huyện Rừng núi Lục Yên có hình dáng khác nhau Có những ngọn núi, hang động được ghi vào sử sách Lê Quý Đôn đã viết: Trên bờ khe Đài Kỵ châu Lục Yên có núi Thần Áo Đen Tương truyền, Vua Áo Đen là một vị tướng, trong một cuôc chiến chống ngoại xâm, ông chiến đấu rất dũng cảm, song do quân ít không chống cự được và phải lui dần, cuối cùng bị vây chặt ở chân dãy núi đá vùng Tân Lĩnh ngày nay Sau những trận kịch chiến, không thể giải vây ông đã hóa đá cùng con ngựa bay lên trên ngọn núi đá Từ đó trở đi, ở vách núi, nơi không có cây cối nào mọc được còn lưu giữ hình bóng của ông và con ngựa Núi đấy được nhân dân trong vùng gọi là núi Thần Áo Đen (hay Vua Áo Đen vì ông mặc y phục màu đen) [32, tr.194,195]
Chế độ thủy văn của huyện Lục Yên khá phong phú nhờ hệ thống sông, suối, ngòi phân bổ đều, nguồn nước dồi dào phục vụ nhu cầu của đời sống sinh hoạt của nhân dân và các ngành kinh tế quốc dân, có tiềm năng thủy lợi, thủy điện Sông Chảy
Trang 24(tên cổ là Trôi Hà hoặc sông Đạo Ngạn) là một phụ lưu lớn của sông Lô bắt nguồn từ vùng Tây Côn Lĩnh chạy theo hướng Tây Bắc - Đông Nam qua địa phận huyện dài 60
km, sách Đại Nam nhất thống chí :“Sông Chảy cũng gọi sông Trôi, ở cách châu Lục
Yên 60 dặm về phía Đông Bắc, phát nguyên từ châu Thủy Vĩ tỉnh Hưng Hóa, chảy vào địa phận châu Lục Yên rồi chảy qua địa phận châu Thu làm sông Đạo Ngạn, lại chảy 80 dặm, rồi vào địa phận tỉnh Sơn Tây Bờ phía hữu thuộc địa phận hai huyện
Lưu vực sông Chảy được giới hạn khá rõ, phía bắc là vùng núi cao trên 1.500m Địa hình của lưu vực thấp dần từ Bắc - Tây Bắc xuống Nam - Đông Nam Phía Tây là dãy Con Voi cao từ 700m đến 1.450m Hướng dốc địa hình đã tạo ra hướng chảy ở trung, hạ lưu là Tây Bắc - Đông Nam Do sông Chảy xâm thực trên một nền đá rắn kết tinh nên có thác ghềnh Mùa mưa dòng chảy xiết nhưng thác ghềnh không nhiều vì vậy thuyền, bè đi lai tương đối thuận tiện Ngoài sông Chảy, Lục Yên còn có hệ thống ngòi, rạch khá phong phú như ngòi Trúc Lâu, ngòi Vàn, ngòi Đại Cại, Khánh Thiện… lớn nhất là ngòi Biệc (tên cổ là Bích Đà) Bắt nguồn từ vùng núi cao Mai Sơn, Lâm Thượng chảy dọc thung lũng Bắc Pha, xuống làng Mường, làng Ói đổ vào sông chảy tại cửa Đầu Đồng xã Ngọc Chấn huyện Yên Bình
Ngoài hệ thống sông ngòi, hiện nay Lục Yên còn có hệ thống ao, hồ khá phong phú, tiêu biểu là hồ Thác Bà Hồ nằm trên địa phận hai huyện Yên Bình và Lục Yên của tỉnh Yên Bái, được hình thành khi đắp đập ngăn dòng sông Chảy để xây dựng Nhà máy thủy điện Thác Bà đầu tiên của miền Bắc, hoàn tất vào năm
1970 Đây là là một trong ba hồ nước nhân tạo lớn nhất Việt Nam, bao phủ hơn 1.300 hòn đảo lớn nhỏ Diện tích vùng hồ trải rộng 23.400ha, diện tích mặt nước đạt 19.050ha, kéo dài khoảng 80km, mực nước dao động từ 46m - 58m, chứa được 3 - 4
tỉ mét khối nước Ngoài dòng sông Chảy là nơi cung cấp nước chủ yếu, hồ Thác Bà còn có các sông lớn như ngòi Hành, ngòi Cát đổ về, bồi lắng phù sa quanh năm, tạo điều kiện cho hệ động thực vật phát triển phong phú
Những yếu tố về khí hậu, đất đai, thổ nhưỡng, chế độ thủy văn đã tạo nên nhiều yếu tố thuận lợi cho Lục Yên xây dựng cơ cấu kinh tế Nông - Lâm - Ngư - Công nghiệp và dịch vụ khai khoáng Lục Yên là nơi sản xuất lúa lớn thứ hai của
Trang 25tỉnh Yên Bái Bên cạnh cây lúa còn có điều kiện phát triển mạnh cây lạc, ngô, đỗ tương Đặc biệt với những vùng được thiên nhiên ưu đãi đất đai thích hợp, còn có thế mạnh phát triển vườn cam, hồng đặc sản mang tính chất hàng hóa Về chăn nuôi, ngoài việc phát triển đàn lợn, trâu mang tính chất truyền thống, còn có nhiều tiềm năng tăng nhanh về sản lượng nuôi đánh bắt cá
Bên cạnh những thuận lợi kể trên, địa phương cũng chịu nhiều hậu quả do đặc điểm của thời tiết gây ra Mùa đông nhiều đợt gió lạnh buốt tràn về gây ra sương muối, đầu mùa hè những đợt gió tây nóng, ảnh hưởng đến sức khỏe con người, súc vật và cây trồng Thiên tai như hạn hán, lũ lụt, mưa đá, sương muối
đã gây ảnh hưởng đến đời sống và sản xuất của nhân dân trong huyện, đặc biệt là đối với nông nghiệp, lâm nghiệp
Tài nguyên, khoáng sản cũng là một trong những tiềm năng, thế mạnh của huyện Về khoáng sản quý có pirit, phôtphorit, đá quý, than, đã được xác định trữ lượng và bước đầu đi vào khai thác Vàng sa khoáng phân bố ở nhiều vùng Đặc biệt một số vật liệu xây dựng như đá hoa, đá vôi, đá trắng chất lượng cao, cát, sỏi có trữ lượng lớn Cũng chính vì vậy mà Lục Yên được mệnh danh là vùng đất Ngọc
thế k
Thời thuộc Minh Minh Thành Tổ xuống chiếu đổi nước ta làm quận Giao Chỉ
Trang 26như một địa phương của nhà Minh Dưới quận, nhà Minh lập ra 15 phủ gồm 36 châu,
181 huyện và 5 châu trực thuộc thẳng vào quận; trong đó Tuyên Quang thuộc châu Tuyên Hóa, rồi phủ Tuyên Hóa trực thuộc quận Giao Chỉ
Theo Minh thực lục: Năm Vĩnh Lạc thứ 5 (1407) đổi trấn Tuyên Quang thành
châu Tuyên Hóa Châu Tuyên Hóa lĩnh 9 huyện: Khoáng, Đương Đạo, Văn Yên, Bình Nguyên, Để Giang, Thu Vật, Đại Man, Dương, Ất Năm Vĩnh Lạc thứ 6 (1408): Thăng châu Tuyên Hóa thành phủ Tuyên Hóa, vẫn gồm 9 huyện như trước Năm Vĩnh Lạc thứ 17 (1419) sáp nhập huyện Văn Yên vào huyện Khoáng; huyện Ất vào huyện Để Giang[47, tr.260]
Thời Lê sơ, cả nước chia làm 5 đạo: Nam đạo, Bắc đạo, Đông đạo, Tây đạo, Hải đạo và chia các lộ, trấn, phủ, châu, huyện lệ thuộc vào các đạo Tuyên Quang thuộc vào Tây đạo
Thừa Tuyên Quang có 1 phủ, 1 huyện, 5 châu: Phủ Yên Bình; Huyện Phúc Yên (Hàm Yên); 5 châu: Thu Vật, Lục Yên, Đại Man (Chiêm Hóa), Vị Xuyên, Bảo Lạc [8, tr 143]
Sau năm 1802, vua Gia Long bắt tay vào củng cố bộ máy cai trị từ trung ương đến địa phương Vùng đất Lục Yên, Gia Long vẫn theo lệ cũ của nhà Lê giữ nguyên như vậy
Theo sách Đại Nam nhất thống chí:“Tên châu đặt từ thời Lê Quang Thuận, do
thổ tù nối đời quản trị; bản triều đầu đời Gia Long vẫn theo như thế; năm Minh Mệnh thứ 16 đổi đặt lưu quan, lãnh 6 tổng, gồm 27 xã thôn; năm Tự Đức thứ 4, bỏ tri châu do phủ kiêm nhiếp Châu lị ở xã Thuận Mục nay bỏ” [34, tr.321] Cũng theo
sách Đồng khánh địa dư chí, châu Lục Yên có 6 tổng gồm 27 xã Các tổng, xã của
châu Lục Yên như sau:
Tổng Bì Hạ: Bì Hạ, Dự Vi, Vĩnh Lạc, Cổ Văn, Từ Hiếu, Liễu Đô
Tổng Trúc Lâu: Trúc Lâu, Động Quan, Tô Trà, Tô Mậu
Tổng Lâm Trường Thượng: Lâm Trường Thượng, Lâm Trường Trung, Tòng Lệnh, Đào Lâm, Minh Chuẩn
Trang 27Tổng Lâm Trường Hạ: Lâm Trường Hạ, Đà Dương, Thản Cù, Nhân Mục, Thuận Mục
Tổng Lương Sơn: Lương Sơn, Phúc Khánh, Canh Quan, Lâm Vân
Tổng Nghĩa Đô: Nghĩa Đô, Xuân Kỳ, Vị Thượng [51, tr 867, 868]
Thời Pháp thuộc, sau khi đánh chiếm các tỉnh Nam Kỳ và Bắc Kỳ, năm
1887, thực dân Pháp đánh chiếm Lục Yên, thiết lập bộ máy cai trị mới Ngày 11 tháng 4 năm 1900, Toàn quyền Đông Dương ra Nghị định thành lập tỉnh Yên Bái, huyện Lục Yên trực thuộc tỉnh Yên Bái [4, tr 37]
Tháng 7 năm 1945, huyện Lục Yên thuộc tỉnh Tuyên Quang và đến tháng 12 lại trở về tỉnh Yên Bái Đến năm 1965 huyện Lục Yên được tách ra thành 2 huyện
là Lục Yên và Bảo Yên
Ngày 27 tháng 12 năm 1975, trên cơ sở sáp nhập các tỉnh Lào Cai, Yên Bái, Nghĩa Lộ (các huyện Mù Căng Chải, Văn Chấn, Trạm Tấu, Than Uyên) thành lập tỉnh Hoàng Liên Sơn Lục Yên thuộc tỉnh Hoàng Liên Sơn
Ngày 12 tháng 8 năm 1991, kỳ họp thứ 9 Quốc hội khóa VIII ra nghị quyết chia tỉnh Hoàng Liên Sơn để tái lập tỉnh Lào Cai và tỉnh Yên Bái, huyện Lục Yên thuộc tỉnh Yên Bái [4, tr.16]
Hiện nay, huyện Lục Yên có 24 đơn vị hành chính với 1 thị trấn Yên Thế và
23 xã: Tân Phượng, Lâm Thượng, Khánh Thiện, Minh Chuẩn, Khai Trung, Mai Sơn, An Lạc, Tô Mậu, Tân Lĩnh, Yên Thắng, Minh Xuân, Mường Lai, Khánh Hoà, Động Quan, Tân Lập, Liễu Đô, Vĩnh Lạc, Minh Tiến, Trúc Lâu, Phúc Lợi, Trung Tâm, Phan Thanh, An Phú Với 261 thôn bản, cụ thể:
- Xã An Lạc (7 thôn): Làng Đũng, Làng Hốc, Làng Chà Trong, Làng Chà Ngoài, Làng Hàm Rồng, Khe Điểu, Lâm Sinh
- An Phú (14 thôn): Thôn Khau Cuồng, Thôn Khau Xén, Nà Hà, Đồng Dân, Tổng Khuyển, Khau Vi, Nà Lại, Khau Ca, Làng Sóa, Nà Dụ, Lũng Đẩy, Cao Khánh,
Mỏ Cao, Tân Lập
- Liễu Đô (11 thôn): Tân Quang, Tiền Phong, Đồng Tâm, Cây Mơ, Cây Thị,
Nà Nọi, Chính Quân, Kha Bán, Cốc Bó, Ngòi Tàu, Ngòi Kèn
- Động Quan (16 thôn): Khe Đươn, Đồng cò, Khe Nàng, Thâm Lương, Khe
Trang 28Chay, Khe Lác, Đồng Sát, Nà Hốc, Đồng Rèn, Khe Dầu, Nà Trú, Làng Tại, Làng Nong, Làng Tăm, Làng Thêm, Hồng Quang
- Tân Phượng (8 thôn): Bó My 1, Bó My 2, Khiểng Khun 1, Khiểng Khun 2, Lũng Cọ 1, Lũng Cọ 2, Khe Bín 1, Khe Bín 2
- Lâm Thượng (18 bản): Bản Lẹng, Bản Khéo, Bản Tông Pắng A, Bản Tông Pắng B, Bản Tông Cại, Bản Tông Pình, Bản Nặm Chắn, Bản Hin Lạn A, Bản Hin Lạn B, Nản Thâm Pất, Bản Chang, Bản Nà Pồng, Bản Nà Kèn, Bản Nà Bẻ, Bản Nặm Chọ, Bản Muổi, Bản Thâm Lay, Bản Nà Kéo
- Khánh Thiện (16 thôn): Hua Tông, Tông Luông, Nà Tông, Tông Mộ, Tông Áng, Đon Po, Tạng Tát, Nà Lạn, Làng Giàu, Tông Quan, Nà Luồng, Khe Phay, Reo Nác, Nà Bó, Nà Khang, Khuôn Co
- Minh Chuẩn (9 thôn): Khuổi Khít, Co Cại, Đồng Kè, Ngòi Nạc, Nà Phung, Làng Bướm, Làng Khánh Trong, Làng Khánh Ngoài, Sân Tập
- Khai Trung (5 thôn): Giáp Chảy, Giáp Luồng, Giáp Cang, Tát Én, Khe Lùng
- Mai Sơn (8 thôn): Sơn Hạ, Sơn Đông, Sơn Nam, Sơn Trung, Sơn Bắc, Sơn Thượng, Sơn Tây, Đán Đăm
- Tô Mậu (3 bản, 9 xóm): Bản Mường, Bản Thắm, Bản Chang, Xóm Lợi Hà, Xóm Hin Lặp, Xóm Soi Cậu, Xóm Gốc Diễn, Xóm Cửa Ngòi, Xóm Nà Hỏa, Xóm
Nà Pan, Xóm Nà Hốc, Xóm Nà Ó
- Tân Lĩnh (18 thôn): Hin Trang, Chuông Trong, Chuông Ngoài, Làng Mo, Làng Cốc, Bến Mảng, Cẩu Vè, Thâm Rằng, Sâng Ngoài, Sâng Trong, Sâng Chang, Ngọc Minh, Bến Lăn, Trần Phú, Khuôn Thống, Bản Ính, Xóm Tía, Xóm Ngõa
- Yên Thắng (có 8 thôn): Đồng Cáy, Hin Lò, Làng Già, Làng Phạ, Làng Thọc, Thoi Xóa, Nà Khao, Thâm Pồng
- Minh Xuân (13 thôn): Nà Khà, Nà Vài, Bản Cố, Bản Yên, Tông Pha, Tông Cụm, Chang Thành, Bó Ngược, Bản Giạng, Tông Cáy, Tông Poọng, Đon Cạng, Bản Ất
- Mường Lai (22 thôn): Nà Chao, Từ Hiếu, Nà Khoang, Nà Chèn, Nà Bó, Nà Quành, Khau Quảng, Roong Loỏng, Nà Thợ, Nà Bái, Bản Cạu, Roong Đeng, Nà Vân, Tặng An, Nà Va, Nà Chùa, Nà Cáy, Nà Ngàm, Thâm Bưa, Khuôn Thếp, Nà Nhàn 1, Nà Nhàn 2
Trang 29- Khánh Hoà (7 thôn): Kim Long, Làng Chạp, Khe Pắng, Làng Khương, Làng Nộc, Khe Chung, Tát Kiêu
- Tân Lập (11 thôn): Bản São, Bản Xiêng 1, Bản Xiêng 2, Bản Tại, Bản Chang, Bản Hạ, Bản Lũng, Bản Ao Sen, Bản Thanh Giang, Bản Cát 1, Bản Cát 2
- Vĩnh Lạc (11 thôn): Yên Phú, Làng Tả, Yên Thịnh, Làng Mường, Bó Luông, Bến Muỗm, Pù Thạo, Vĩnh Đông, Loong Xe, Bó Mạ, Làng Mác
- Minh Tiến (14 thôn): Làng Mang, Làng Mang, Khuôn Pục, Làng Quỵ, Tông Táng, Khau Sảo, Làng Trạng, Khau Dự, Khau Phá, Làng Ven, Làng Chang, Khe Vai, Khau Nghiềm, Sắc Phất
- Trúc Lâu (11 thôn): Cửa Khập, Tu Trạng, Bản Chang, Khe Giang, Tông Châng, Trung Tâm, Nà Hiên, Bản Lẫu, Bản Pạu, Bản Riềng, Bản Lạn
- Phúc Lợi (4 thôn): Thôn Túc, Thôn Thuồng, Thôn Thuồng, Thôn Vàn
- Trung Tâm (10 thôn): Thôn Sâm Trên, Thôn Sâm Dưới, Thôn Sài Lớn, Thôn Khe Vầu, Thôn Làng Lạnh, Thôn Khe Hùm, Thôn Sài Trên, Thôn Sài Dưới, Thôn Ngòi Thìu, Thôn Làng Đát
- Phan Thanh (8 thôn): Thôn Bản Kè, Bản Năn, Bản Chang, Bản Thủy Văn, Bản Hốc, Bản Xả, Thôn Bản Ro, Bản Dầu [93]
1.3 Các thành phần dân tộc
Lục Yên cũng như các huyện khác của tỉnh Yên Bái, là mảnh đất vốn có lịch
sử lâu đời Từ xa xưa đã có sự tồn tại của con người
Từ tháng 10 năm 1963 đến tháng 12 năm 1964, các nhà khảo cổ học đã khai quật di chỉ tại hang Hùm (địa phận xã Tân Lập ngày nay) Tại hang Hùm, hàng ngàn hóa thạch của 30 loài được phát hiện, đặc biệt việc tìm thấy những chiếc răng hàm của người khôn ngoan đã chứng tỏ Lục Yên là vùng đất có người của thời kì đồ
đá cũ tồn tại và phát triển [4, tr.16]
Văn hóa đá mới mà tiêu biểu là giai đoạn hậu kỳ đá mới được tìm thấy ở nhiều điểm thuộc lưu vực sông Chảy Đặc trưng nổi bật của thời kỳ này là rìu bôn
có vai, tìm thấy ở Lũng Ro (Phan Thanh), Khuôn Thống (Tân Lĩnh)
Những dấu tích của thời đại kim khí cũng tìm thấy ở Lục Yên với trống đồng Ngòi Vặc (nay thuộc xã Minh Xuân) mang phong cách của trống đồng Đông Sơn
Trang 30Như vậy là các di chỉ khảo cổ học thuộc văn minh sông Hồng của thời đại Hùng Vương đã có mặt ở các vùng đất trong đó có Lục Yên Con người ở đây đã rời hang động trong rừng, núi xuống cư trú ở vùng thấp và các dải đất ven sông Chảy để canh tác Họ dùng rìu đá mài, rìu đồng để làm đất Khi kỹ thuật luyện kim phát triển xuất hiện thêm lưỡi cày, lưỡi cuốc Nghề gốm, sành, sứ xuất hiện đáp ứng nhu cầu sinh hoạt của con người Các nhà khảo cổ học đã tìm thấy những đồ dùng bằng gốm, sành với nhiều niên đại khác nhau ở Tân Lĩnh, Yên Thắng, Tân Lập
Từ những di chỉ, di vật phát hiện ở địa phương cho ta biết một chặng đường kéo dài hàng vạn năm từ thời đồ đá cũ đến thời đồng thau Chứng tỏ Lục Yên nằm trong khu vực địa bàn sinh tồn và phát triển liên tục của người Việt cổ trên đất nước ta Đến nay trên dải đất Lục Yên đã có nhiều dân tộc cùng sinh sống Sự phân bố dân cư - dân tộc mang yếu tố xen kẽ cao, thấp khác nhau
Sách Đồng Khánh địa dư chí có viết: “Châu hạt đều là người Thổ (Tày),
người Nùng, người Mán, chuyên làm ruộng đốn củi Một ít người có học chữ Tục chuộng tiết kiệm, đại để giống phong tục Thu Châu, Hàm Yên” [51, tr.868]
Huyện có 4 dân tộc cùng chung sống là Tày, Dao, Kinh, Nùng và 13 dân tộc khác, như dân tộc: Hoa, Sán Chay, Khơ Mú, Giáy Theo số liệu của Chi cục Thống kê huyện Lục Yên, tính đến tháng 12 năm 2015 toàn huyện có 107.732 nhân khẩu được phân bố theo các dân tộc sau:
Bảng 1.1 Thành phần các dân tộc huyện Lục Yên
Nguồn: Chi cục Thống kê huyện Lục Yên, 2015
Trên cơ sở tư liệu hiện có và kết quả khảo sát thực tế có thể khái quát về các thành phần dân tộc như sau:
Trang 311.3.1 Dân tộc Tày
Dân tộc tày là một cộng đồng thuộc ngôn ngữ Tày – Thái Tộc danh Tày có lẽ bắt nguồn từ cư dân chuyên nghề cày ruộng, mà bộ nông cụ tiêu biểu là cái cày, tiếng Tày - Thái truyền thống gọi cái cày là “Mạc Thay” hay “Thây” rồi biến âm thành Tày hay Thái (cũng có dụng ý như vậy khi người Tày được gọi là Cần Nà, tức người cày ruộng) Từ thế kỉ XV, người Tày còn được gọi là người Thổ để phân biệt giữa thổ quan địa phương với lưu quan người Kinh từ dưới xuôi lên Lưu quan người Kinh bị thổ hóa gọi là Thổ lưu quan Thổ trong trường hợp này được hiểu là người bản xứ hay “thổ địa” Từ 1945 trở lại đây thống nhất cách gọi là dân tộc Tày
Theo số liệu thống kê tỉnh Yên Bái, Dân tộc Tày chiếm khoảng hơn 17% dân
số toàn tỉnh, sống tập trung trong 7 huyện và chủ yếu là ở huyện Lục Yên Ở Lục Yên, dân tộc Tày lại chiếm số dân đông nhất trong huyện (có khoảng 58.068 người, chiếm 53,9%dân số trong toàn huyện)
Địa bàn cư trú của đồng bào Tày phần lớn ở những nơi có điều kiện sản xuất nông nghiệp và thuận lợi giao thông, sống tập trung ở các xã như: xã Tân Lĩnh, Động Quan, Minh Xuân, Tân Lập, Mường Lai Tuy vậy, cũng có những nơi đồng bào Tày sinh sống ở các xã vùng cao như: xã Lâm Thượng, Khánh Thiện Họ sống xen cư với các dân tộc khác trong huyện Kinh tế chủ yếu của người Tày là làm ruộng nước, chăn nuôi gia súc và gia cầm
Người Tày ở Lục Yên có ba bộ phận hợp thành:
Thứ nhất, người Tày hay “Thổ”, là những người đã sinh sống từ lâu đời ở địa phương, tức là người Tày bản địa Qua số liệu thống kê của huyện cũng như qua khảo sát thực tế cho thấy, cư dân Lục Yên chủ yếu là người Tày bản địa Hiện nay chiếm
ưu thế trong tộc người Tày là họ Hoàng (Hiện nay, dòng họ này có nhiều người nắm giữ vai trò lãnh đạo trong huyện với nhiều chức vụ như: Hoàng Văn Đạo - Chánh Thanh tra huyện, Hoàng Văn Số - Trưởng phòng Nông nghiệp và phát triển nông thôn, Hoàng Viễn - Trưởng phòng Tài chính và Kế hoạch )
Thứ hai, là bộ phận người Tày gốc Kinh từ miền xuôi lên theo lệnh của triều
đình, đi dạy học hoặc đi tìm đất để sinh nhai, sau đó ở lại địa phương làm ăn sinh sống với người Tày và đã “Tày hóa” Những người này do sinh sống ở địa phương
Trang 32lâu ngày, một số dòng họ đã trở thành người Tày bản địa, vì thế người Tày ở Lục Yên
có câu “Kinh già hóa Thổ” Cụ thể ở xã Tòng Lệnh (nay là xã Phan Thanh), theo các
cụ cao tuổi kể rằng: Tổ tiên một bộ phận cư dân ở đây có nguồn gốc là người Kinh quê quán ở Hải Dương, Hải Phòng làm nghề đánh cá biển, trong quá trình giao lưu buôn bán lâm thổ sản, ban đầu là buôn bè tre giang (lạt giang) về xuôi, nên gọi là
“Keo mạy ràng” (Kinh buôn giang) Tiếp theo là nhiều lý do khác, họ di cư lên lập nghiệp tại Vạn Thiều, đặt tên cho quần cư của mình là “Vạn” (tức nghề cá) gắn với địa danh sở tại là xã Xuân Thiều rồi thành Vạn Thiều sau này Trải qua nhiều đời, sự giao thoa giữa hai nền văn hóa miền núi và miền biển hòa quyện với nhau, dần dà trở thành người Tày Nhìn chung người Tày thuộc các dòng họ Nguyễn, Đinh, Cao, Vũ,
Hà, Phạm…đều là gốc Kinh[85]
Thứ ba, bộ phận Tày - Nùng từ Quảng Tây, Trung Quốc tới Lục Yên tìm kế lập nghiệp Vùng tả hữu Giang Quảng Tây vốn là vùng quê cha đất tổ của người Tày-Thái Một nhóm họ tự gọi mình là người Tày, còn người Nùng có thể là một bộ phận người Tày lệ thuộc quyền lực của họ Nông, là người của họ Nông, hay Nùng, nên gọi
là họ Nùng Từ thế kỷ XVIII đến đầu thế kỷ XIX, do ách thống trị hà khắc của nhà Thanh, việc làm ăn sinh sống gặp nhiều khó khăn Khởi nghĩa nông dân Thái Bình Thiên Quốc bị triều đình Mãn Thanh đàn áp dã man Nhiều người đã rời bỏ quê hương sang đất Việt Nam trong đó có Lục Yên để tìm kế sinh nhai Họ đã nhanh chóng hòa nhập với các bộ tộc dân tộc Tày bản địa một cách tự nhiên
Trong quá trình lịch sử, dân tộc Tày nói chung và dân tộc Tày ở Lục Yên nói riêng dù là người Tày bản địa “cốc đin mác nhả” hay người Tày gốc Kinh ở miền xuôi lên, người Tày - Nùng từ Trung Quốc sang, đều đã sớm tự nguyện hòa hợp, cố kết lại với nhau thành cộng đồng người Tày
1.3.2 Dân tộc Dao
Hiện nay người Dao ở Lục Yên có số dân đứng thứ hai sau dân tộc Tày, với dân số khoảng 20.576 người (chiếm 19,1% dân số trong toàn huyện) Người Dao vốn không phải cư dân bản địa Về nguồn gốc của người Dao thì trong cộng đồng dân tộc Dao vẫn còn lưu truyền rộng rãi trong truyện Bàn Hồ Bàn Hồ không chỉ là câu chuyện truyền khẩu, mà nó còn được ghi khá chi tiết trong các cuốn bảng văn và trong các cuốn sách cúng của người Dao Quá trình di cư vào Việt Nam có thể bắt
Trang 33đầu từ thế kỷ XIII cho đến những năm 40 của thế kỷ XX Người Dao cư trú ở tây bắc Bắc Bộ, đến Việt Nam vào khoảng thế kỷ XIII và đi theo đường bộ Còn người Dao ở Đông Bắc Bắc Bộ và một số tỉnh trung du cũng bắt đầu đến Việt Nam vào khoảng thế
kỷ XIII cho đến thế kỷ XX, họ đi bằng đường thủy là chủ yếu [11, tr 22] Khi định
cư ở Việt Nam, họ có nhiều tên gọi khác nhau: Dao Nhân, Kiềm Miền, Dụ Lẩy Miền,
Ồ Gang Miền, Dụ Kùn Miền, Cần Đông, Cần Khau, Cần Téo Chèn… Người Dao ở Lục Yên chia ra các ngành: Dao Quần Trắng, Dao Quần Chẹt, Dao Làn Tuyển, Dao
Đỏ Tên gọi các ngành Dao hầu hết căn cứ vào trang phục mà đặt tên Tuy tiếng nói
và phong tục tập quán không hoàn toàn giống nhau nhưng các ngành Dao trên rất đoàn kết trong xây dựng bản sắc văn hóa của dân tộc mình Địa bàn cư trú của họ chủ yếu vùng núi thấp, dọc theo các con suối thành các bản riêng biệt, khoảng cách giữa các nhà thưa thớt Họ sống tập trung đông nhất là ở các xã Động Quan, Phúc Lợi, Tân Phượng và Khai Trung Nguồn sống chính của họ là trồng lúa nước, lúa nương, chăn nuôi, trồng cây ăn quả, … Nhìn chung, trình độ canh tác của người Dao ở Lục Yên thấp, nghề phụ không phát triển, chưa biết tận dụng khả năng của đất đai Hiện nay, một số người Dao ở Lục Yên nhờ có thu nhập từ cây quế nên nhiều gia đình khá giả, đây là nghề truyền thống mới được tái lập của người Dao dùng làm của hồi môn cho con cái xây dựng gia đình. Dân tộc Dao ở Lục Yên cũng giống như các dân tộc khác trong huyện đã hòa đồng, gắn kết với nhau
1.3.3 Dân tộc Kinh
Dân tộc Kinh là dân tộc đa số ở Việt Nam với tỷ lệ dân cư đông nhất Người Kinh còn có tên gọi khác là người Việt Còn người Tày thì gọi người Kinh là “Cần Keo”, theo đó các dân tộc khác cũng gọi người Kinh là “Cần Keo”
Ở Lục Yên dân tộc Kinh có số dân đứng thứ 3 trong huyện, dân số là 17.485 (chiếm 16,23%) Về nguồn gốc, họ từ dưới xuôi lên, có bộ phận là những người lên buôn bán Có bộ phận là những người nghèo tha phương cầu thực, lên miền núi làm
ăn Có bộ phận khác là con, cháu của các quan quân nhà Mạc chạy lên lánh nạn Đến thời kỳ nhà Nguyễn, với chính sách lưu quan, những quan lại khi lên Lục Yên đã mang theo cả gia quyến và ở lại đây …
Trong cuộc vận động cách mạng để tiến tới tổng thởi nghĩa tháng Tám năm
1945, số người Kinh lên Lục Yên ngày càng nhiều Đó là những cán bộ, bộ đội đi
Trang 34tuyên truyền vận động cách mạng, tổ chức khởi nghĩa vũ trang, tham gia chiến đấu Bên cạnh đó còn bộ phận những gia đình đi tản cư, rời bỏ vùng bị địch tạm chiếm lên Lục Yên Sau năm 1954, một số cán bộ, bộ đội và những gia đình tản cư trở lại miền xuôi, bên cạnh đó một bộ phận không nhỏ đã ở lại lập nghiệp trên mảnh đất Lục Yên
Vào những năm 60 của thế kỷ XX, với chính sách của nhà nước về “Phát triển kinh tế - văn hóa miền núi” số người Kinh ở đây gia tăng đáng kể
Người Kinh ở Lục Yên sinh sống tập trung đông nhất ở thị trấn Yên Thế Trước đây dân tộc Kinh ở xã Yên Thắng không nhiều như hiện nay, nhưng đến năm
1967 do thực hiện chuyển dân vùng hồ Thác Bà nên nhiều nhân khẩu người Kinh đã chuyển vào xã Yên Thắng (đây là xã có số người Kinh đông nhất sau thị trấn Yên Thế) Ngoài ra, dân tộc Kinh còn cư trú ở các xã: Tân Lĩnh, Minh Xuân, Liễu Đô chủ yếu là người Kinh gốc Hà Đông, Nam Định, Hưng Yên Từ những năm từ năm
1976 đến năm 1985, đồng bào các tỉnh miền xuôi tiếp tục lên xây dựng vùng kinh tế mới thì số lượng người Kinh ở Lục Yên trở nên đông đúc hơn Họ sống xen lẫn với các dân tộc khác trong huyện, chủ yếu sống bằng nghề trồng trọt, chăn nuôi, đặc biệt
họ rất thông thạo việc buôn bán và kinh doanh
Đại bộ phận người Nùng ở Việt Nam nói chung và ở Lục Yên nói riêng, đều
có nguồn gốc từ Quảng Tây (Trung Quốc) Họ di cư sang Việt Nam cách ngày nay khoảng 200 đến 300 năm
Dân tộc Nùng ở Lục Yên có dân số là 11.096 (chiếm 10,3% dân số trong toàn huyện), sống xen kẽ với các dân tộc Tày, Kinh, Dao, Hoa…ở rải rác hầu khắp các xã
trong huyện Nơi tập trung đông nhất là các xã Liễu Đô, Phan Thanh, Yên Thắng,
Tân Lĩnh Họ chủ yếu chuyển cư đến từ Cao Bằng, Tuyên Quang và Hà Giang; có một bộ phận nhỏ người Nùng có nguồn gốc từ người Kinh, trong quá trình sống xen
kẽ và giao lưu văn hóa họ tự nhận mình là người Nùng, nói tiếng Nùng, ăn ở và sinh hoạt theo phong tục người Nùng
Dân tộc Nùng ở Lục Yên chủ yếu thuộc hai nhóm là Nùng An và Nùng Phủ (tên chỉ nhóm địa phương của người Nùng) Người Nùng An và người Nùng Phủ có phong tục tập quán cơ bản giống nhau nhưng có sự khác nhau về tiếng nói Tiếng Nùng An phát âm gần như tiếng Cao Lan - Sán Chay và tiếng Giáy Tiếng nói người
Trang 35Nùng Phủ ảnh hưởng âm sắc của tiếng Tày Ví dụ ông Hoàng Nừng sinh năm 1939, sống tại xã Phan Thanh, là người dân tộc Nùng và là hậu duệ đời thứ 9 sinh sống ở đây, ông có thể nghe và nói được tiếng Tày [90]
Dân tộc Nùng ở Lục Yên mang các họ: Nông, Mông, Hoàng
Do địa bàn cư trú của người Nùng ở nơi có nhiều rừng, núi và ở khoảng giữa
là thung lũng lòng chảo nên đồng bào Nùng rất thành thạo trong khai thác đất đồi, làm nương rẫy, đất bằng trồng lúa nước
Nguồn sống chính người Nùng ở Lục Yên là làm ruộng và trồng các loại hoa màu như: ngô, khoai, sắn cách trồng trọt và công cụ sản xuất giống như người Tày
Tóm lại, các dân tộc ở Lục Yên dù là người dân bản địa hay dân nhập cư, dù là người miền xuôi hay miền ngược nhưng khi cùng chung sống các dân tộc nơi đây đều
có tinh thần đoàn kết, thương yêu giúp đỡ lẫn nhau Tuy khác nhau về ngôn ngữ, phong tục tập quán song họ gắn bó mật thiết với nhau trong lao động sản xuất, kinh doanh, công tác, học tập và sinh hoạt cộng đồng tạo nên nét văn hóa đặc sắc, đa dạng
và phong phú
1.4 Khái quát tình hình chính trị - xã hội
Nhà Nguyễn được thiết lập, vua Gia Long về cơ bản vẫn tiếp tục thực hiện chính sách của nhà Lê ở Bắc Hà, phần lớn có dòng họ thổ tù, lang cun, lang đạo ở các trấn biên giới phía Bắc vẫn chịu nhiều ân sủng của nhà Lê Vì vậy vua Gia Long đã
sử dụng con cháu nhà Lê trong một số công việc Ngoài ra Gia Long còn miễn thuế cho các phiên thần thời Lê Các chính sách này nhằm ngăn chặn những cuộc nổi dậy hay chống đối của các phiên thần nhà Lê Khoảng 20 năm đầu thế kỷ XIX, nhà Nguyễn tiếp tục duy trì chế độ phiên thần cho các thổ tù biên giới, được gọi là thổ quan Năm 1802, các phủ, huyện, châu, thổ dân ở Hưng Hóa, Quảng Yên, Thái Nguyên, Tuyên Quang, Lạng Sơn lấy quan người địa phương quản lãnh (thổ quan) Trong bộ máy chính quyền Gia Long còn đặt chức Man Phủ Sứ để chuyên trách công việc phủ dụ lôi kéo các tộc người miền núi
Dưới thời vua Gia Long chính quyền địa phương về cơ bản vẫn được tổ chức như triều Lê - Trịnh ở miền Bắc Năm 1820, Minh Mệnh lên ngôi vua, một mặt ông tiếp tục duy trì chính sách của vua cha, mặt khác tăng cường sự kiểm soát của chính quyền trung ương đến địa phương
Trang 36Nếu như đầu thời nhà Nguyễn vẫn duy trì chế độ “phiên thần”, thổ quan thì giờ đây Minh Mệnh từng bước xóa bỏ chế độ này và thực hiện biện pháp người Kinh và người Thổ cùng cai trị Năm 1821, Minh Mệnh nghị chuẩn cho tạm đặt các chức cai châu biên giới Những chức này triều đình cho phép các quan đứng đầu trấn chọn người có năng lực ở địa phương đảm nhiệm
Năm 1827, Minh Mệnh xóa bỏ chức quan: Tuyên úy đại sứ, Tuyên úy sứ, châu thảo sứ, phòng ngự đồng tri, phòng ngự thiêm sự trao cho các thổ tù cai trị ở miền núi được đặt ra từ đầu thời Nguyễn thay bằng các chức tri phủ, tri huyện, huyện thừa như ở khu vực đồng bằng Nhưng các viên quan này đều do người địa phương phụ trách có thêm chữ “Thổ” ở đằng trước (Thổ tri phủ, Thổ tri huyện ) Đến năm 1829, Minh Mệnh ban hành chính sách khá cứng rắn đối với tầng lớp thổ tù: Trong thành hạt theo công việc nhiều hay ít, dân số đông hay thưa nên đặt thổ tri châu, tri huyện, huyện thừa, lại mục thì định rõ ràng Không cứ thổ ty, hào mục cứ trong hạt ai là người có trách nhiệm, tài năng cần cán, vốn được nhân dân tin phục thì chọn cử tâu lên, không được theo trước xưng là tập quản Việc phân định chức vụ theo số dân hết sức rõ ràng: đinh từ 5.000 người, ruộng từ 500 mẫu trở lên thì đặt 1 Thổ tri châu, huyện đặt 1 Thổ tri huyện cùng thổ lại mục đều 1 người: đinh từ 100 người, ruộng từ 100 mẫu trở lên thì đặt 1 Thổ tri châu, huyện đặt 1 Thổ huyện thừa; đinh điền không đủ 100 thì đặt 1 thổ lại mục [36, tr 862]
Năm 1831, Minh Mệnh giải thích rõ ràng việc bãi bỏ chế độ thổ ty thế tập ở các trấn biên giới vì: Lệ thế tập đời xưa là để đền công nhưng con cháu công thần, nếu có người hư hỏng triều đình cũng phải truất bãi thì lại thương tổn đến ân điển
Ví như nhà Hán phong tước hầu chỉ vạch núi thề sông mà thề nhưng mới chỉ vài đời chỉ còn ba, bốn người thì sách thề cũng chỉ là hão Chẳng gì bằng luận công phong tước cho công thần ấy, còn con cháu thì tùy tài chức, thế là giữ cho trọn vẹn
cứ gì phải thế tập mới là đền công [37, tr 224]
Trong thời kì đầu Gia Long chia cả nước ra làm: Gia Định thành gồm 5 trấn, Bắc Thành gồm 11 trấn Đến năm 1831 - 1832, Minh Mệnh đã tiến hành một cuộc cải cách hành chính địa phương, xóa bỏ các tổng trấn, đổi các dinh trấn thành tỉnh chia cả nước thành 30 tỉnh và một phủ Thừa Thiên
Đối với các châu miền núi, tri châu thường do các tù trưởng, thổ tù, lang đạo quản lãnh Ở miền thượng du, tình hình chính trị thường không ổn định nên
Trang 37các vua Nguyễn cử quan lại người Kinh lên, có nhiệm vụ chủ yếu là đề xuất việc thu thuế, dò thám và đàn áp âm mưu phản loạn Một số tù trưởng trung thành ở các địa phương xa xôi hiểm yếu được triều đình dựa vào và ban cho quyền hạn đặc biệt, phong làm ngự sử Bên cạnh đó thường đặt một viên quan kinh gọi là chiêu thảo sứ hoặc man phủ sứ Các chức này gọi là Lưu quan [56, tr.157] Chính sách Lưu quan đã được Minh Mệnh mô phỏng theo chính sách của Ung Chính đối với các dân tộc thiểu số vùng phía Nam Trung Hoa để ngăn chặn xu hướng “li tâm” Ông cho rằng đây là một biện pháp tích cực mà “quyền hành nặng nhẹ kiềm chế lẫn nhau, chức tước lớn nhỏ ràng buộc lấy nhau thực chất là một chính sách hay trong việc trị dân, nếu mô phỏng mà làm thì nhiều lợi lắm”[56, tr 158]
Sau đó vua lại ra chỉ dụ: Các thổ châu, huyện ở Hưng Hóa, Tuyên Quang, Thái Nguyên, Lạng Sơn, Cao Bằng cho chọn bổ lưu quan, vì trước đây có vụ Nông Văn Vân châu huyện ở các tỉnh còn nhiều chỗ khuyết, nên không thể không đặt những viên chức sung vào, chứ không phải muốn đổi thổ quan và cho theo về lưu quan, nhất nhất theo y phong tục kinh đâu Chẳng những trong bọn thổ quan, những người quy thuận, hết lòng trung, yên phận mình, giữ phép nước, đều chuẩn cho vẫn để giữ chức, mà cả đến thổ ty, thổ mục, hễ ai một dạ trung thành, kính cẩn, không có điều gì khác, cũng sẽ được tùy tài cất dùng, không sao cả Nay người Kinh, người Thổ cùng ở xen nhau, chính mong rằng lâu ngày, người Thổ sẽ tiêm nhiễm thói tục người Kinh, được hun đúc theo đường thiện, cùng hưởng phúc thái bình Các đốc phủ, bố, án ở Thượng Ty cũng nên để tâm răn bảo rõ lại, không nên sinh sự yêu cầu hà khắc, cũng không nên hờ hững không quan tâm Nếu lưu quan thuộc tỉnh hạt mình có xảy ra tệ nhũng nhiễu gì thì phải lập tức nghiêm ngặt tham hặc, không được tư vị che đậy chút nào, quyết không nên coi nhau như kẻ Tần người Việt, làm ngơ như không nghe thấy[38, tr 633, 634]
Chính sách Lưu quan đã đem lại những hiệu quả thiết thực thể hiện được sức mạnh của triều đình từ trung ương đến địa phương Tuy nhiên chính sách này
đã đụng chạm tới những quyền lợi của các thổ tù, tù trưởng Vì vậy nó vấp phải sự chống đối của một số tù trưởng mà nổi bật là Nông Văn Vân nên chế độ Lưu quan không phải được thực hiện ngay trong một lúc trong tất cả các địa phương miền núi khu vục phía Bắc mà phải trải qua nhiều giai đoạn khác nhau
Trang 38Trong thời gian từ năm 1828 đến năm 1837, Minh Mệnh chỉ thực thi ở huyện châu nào khuyết chức thổ quan thì chọn một lưu quan bổ sung, còn thì giữ, chỉ đặt thêm một chức Lưu quan để cùng hợp đồng với thổ quan mà làm việc Từ
đó về sau có khuyết thì bổ sung Đến năm 1838, chế độ Lưu quan mới được thực hiện một cách triệt để Những viên Lưu quan này nằm trong bộ máy quan lại thống nhất, đại diện cho triều đình để quản đất, quản dân, thu tô thuế và tuyển lính, lao dịch Tuy nhiên đến thời Thiệu Trị năm 1844, nhà Nguyễn vẫn phải cho đặt lại chức thổ quan ở các châu huyện biên cương phía Bắc, phải đến thời Tự Đức thì việc đặt thổ quan mới bị bãi bỏ trong cả nước
Ngày 1/9/1858 thực dân Pháp xâm lược nước ta, vừa đánh dẹp các cuộc nổi dậy, thực dân Pháp vừa ra sức củng cố những vùng đất đã bình định xong Năm
1886, thực dân Pháp xâm lược Yên Bái Ngày 31/7/1887, thực dân Pháp đánh chiếm huyện Lục Yên
Ngày 20/8/1891 Toàn quyền Đông Dương ra Nghị định thành lập 4 đạo quan binh ở vùng núi Tây Bắc và Đông Bắc thuộc Bắc Kì Ngày 9/9/1891, toàn quyền Đông Dương quy định địa bàn Đạo quan binh thứ 3 ở Yên Bái Ngày 11- 4 – 1900, thực dân Pháp thành lập tỉnh Yên Bái gồm có phủ Trấn Yên, hai châu Văn Chấn, Văn Bàn và thị xã tỉnh lỵ đặt tại làng Yên Bái Từ năm 1910 – 1920, Pháp chuyển châu Lục Yên (tỉnh Tuyên Quang) và châu Than Uyên (tỉnh Lai Châu) vào tỉnh Yên Bái
Về xã hội, Lục Yên là một huyện miền núi phát triển dựa trên cơ sở kinh tế nông nghiệp, xã hội nông thôn, vì thế ở nửa đầu thế kỷ XIX, các thành phần trong
xã hội Lục Yên cũng gồm 2 tầng lớp chính: thống trị và bị trị
Tầng lớp thống trị gồm các Tri phủ, Tri châu, Tri huyện, Tổng trưởng, Cai tổng Ngoài ra còn một đội ngũ chức dịch địa phương không nằm trong hệ thống quan lại nhưng có ảnh hưởng chính trị rất lớn, đó là các chức sắc ở làng xã như Xã trưởng (thời Gia Long), Lý trưởng (Minh Mệnh), các dịch mục, thôn trưởng, khán thủ Bên cạnh đó là một bộ phận địa chủ nhiều ruộng đất (ruộng đất có thể do làm ăn khai phá, mua tậu, cũng có thể là binh lính chức dịch được nhà nước cấp, cũng không loại trừ khả năng do cậy quyền thế mà chiếm được), hình thức bóc lột là phát canh thu tô, lác đác cũng có vài người cho vay lãi và cầm cố ruộng đất Tuy nhiên, đội ngũ
Trang 39địa chủ ở Lục Yên nói riêng và ở Yên Bái nói chung không nhiều, mức độ bóc lột không tàn khốc như ở các tỉnh miền xuôi Đó là do quá trình tập trung ruộng đất ở Lục Yên không lớn, đồng thời trong quá trình cai trị, bóc lột còn thể hiện phần nào tình cảm họ hàng, làng xóm, cộng đồng
Tầng lớp bị trị gồm nông dân tự canh, nông dân lĩnh canh và người ở
Một đặc điểm cơ bản của chế độ sở hữu ruộng đất ở Lục Yên là sở hữu ruộng đất tư rất lớn Cơ sở của nền sản xuất nông nghiệp là sở hữu tư về ruộng đất, chính vì vậy mà tầng lớp nông dân tự canh chiếm ưu thế, người nông dân cày cấy trên mảnh ruộng của mình (ruộng chủ yếu do khai phá, được thừa kế), chịu nghĩa vụ nộp tô thuế cho nhà nước cũng như các nghĩa vụ đi lính, phu phen
Nông dân lĩnh canh là một bộ phận dân cư không có ruộng phải cày cấy trên ruộng đất của địa chủ, quan lại chịu nghĩa vụ tô thuế với địa chủ, lệ thuộc vào địa chủ
vì ruộng đất, chịu nghĩa vụ với nhà nước
Người ở là thành phần bần cùng nhất trong xã hội, do làm ăn phá sản thiếu nợ
mà người nông dân phải đi ở đợ cho địa chủ, thổ hào
Trong xã hội của đồng bào Lục Yên đã có sự phân hóa giàu nghèo, xuất hiện địa chủ, phú nông dù không nhiều như ở miền xuôi Mối quan hệ xã hội cơ bản là mối quan hệ gắn bó cộng đồng của các tộc người Trong các thành phần xã hội của huyện Lục Yên còn có một bộ phận không nhỏ là các thày mo, then, pụt, tào Dù họ không thoát ly sản xuất nông nghiệp, nhưng do hành nghề cúng bái nên nắm, giữ thế lực thần quyền, chi phối đời sống tín ngưỡng của đồng bào địa phương, được nhân dân kính trọng, vì thế chính quyền phong kiến cũng phải kiêng nể họ phần nào
Với một địa bàn có đông đồng bào dân tộc thiểu số sinh sống, thực dân Pháp thực hiện chính sách khai thác ráo riết làm cho đời sống của đồng bào các dân tộc huyện Lục Yên ngày càng cùng cực
Thuế và phu là hai hình thức bóc lột dã man nhất của thực dân Pháp đối với người dân Lục Yên Tùy từng thời kỳ thực dân Pháp điều chỉnh các mức thu nhằm tăng mức thuế Chế độ thuế khóa của thực dân Pháp đưa người dân Lục Yên vào chỗ điêu đứng Năm 1932, châu Lục Yên có khoảng 12.000 nhân khẩu nhưng chúng đã thu được 40.000 đồng tiền thuế các loại Gần 2/3 số nhân khẩu của châu lâm vào tình trạng thiếu đói, cùng quẫn
Trang 40Hàng năm thiếu đói từ 5 đến 7 tháng Bước đầu ở Lục Yên đã có sự phân hóa xã hội thành các tầng lớp như: Tầng lớp địa chủ: Là con cháu thế tập nhiều thế
hệ tù trưởng Là lớp người buôn bán Là chủ nợ Là binh lính sĩ quan mãn hạn trở
về địa phương Tầng lớp ấy chia thành bộ phận “cựu chức” đã kinh qua các chức dịch lớn bé khác nhau Bộ phận “đương chức” là đại diện cho bộ máy chính quyền cai trị ở địa phương có quyền lực đối với nhân dân Hình thức áp bức bóc lột của
họ đối với nhân dân là: Phát canh ruộng đất, cho vay mượn trâu, bò làm sức kéo
để thu tô, thu tức Phạt vạ, triết công, gán nợ cao nhất là lao dịch không công.Tuy nhiên tầng lớp địa chủ, phú nông ở Lục Yên không nhiều, tính cố kết cộng đồng còn đậm nét nên từ ngày có Đảng họ sớm đi theo cách mạng, hòa nhập vào lộ trình đấu tranh xây dựng và bảo vệ đất nước của nhân dân
Nông dân: là tầng lớp cơ bản của xã hội Họ làm ruộng và có nghĩa vụ đóng thuế, đi phu, đi lính Do thiếu ruộng đất nên một số phải nhận thêm ruộng của địa chủ cấy rẽ, nộp tô với tỷ lệ từ 3/10 đến 5/10 tùy theo các loại ruộng khác nhau Ở vùng cao, nông dân ít ruộng phải làm nương rẫy, nộp thuế, làm lao dịch, tô hiện vật Nông dân nói chung phải lao động không công cho chức dịch từ 20-30 ngày trong năm gọi là “phu đài” Một bộ phận nhỏ quá nghèo khổ, không có ruộng phải
đi ở cho địa chủ, kỳ mục, chức dịch trở thành kẻ hầu hạ, họ là tầng lớp cố nông Tầng lớp nông dân ở Lục Yên chiếm hầu hết dân số, có tư liệu sản xuất ở mức độ khác nhau Bản chất thật thà, chất phác, cần cù lao động Họ sẵn sàng đứng lên đấu tranh, tham gia vào các cuộc nổi dậy theo thủ lĩnh của họ
Trong xã hội cũ xuất hiện số ít tiểu thương, tiểu chủ xuất thân từ những người nông dân ở xuôi lên, Hoa kiều nơi khác đến buôn bán nhỏ, mở quầy hàng hoặc hoặc sản xuất một số mặt hàng thủ công, chế biến lương thực, thực phẩm cung ứng nhu cầu nhân dân Những người này cũng chịu chính sách thuế khóa nặng nề như thuế môn bài, thuế chợ, thuế thân, thuế nhà ở
Có một bộ phận khác là hương sư, ký bưu điện, ký nhà thương, học sinh, là những người có ít nhiều tri thức Vì vậy, nhiệt tình theo cách mạng, một số trở
thành cốt cán của Đảng
Trước cách mạng tháng Tám, dưới ách thống trị của thực dân, Pháp tấng lớp thống trị ở Lục Yên chỉ chiếm số lượng ít, nhưng nắm quyền thực lực, chi phối