Mục đích nghiên cứu Nghiên cứu thực trạng hoạt động của tổ chuyên môn và các biện pháp quản lý hoạt động tổ chuyên môn của hiệu trưởng các trường tiểu học huyện Tứ Kỳ Hải Dương. Đề xuất một số biện pháp quản lý hoạt động tổ chuyên môn của hiệu trưởng để nâng cao hiệu quả của quá trình dạy học trong trường tiểu học huyện Tứ Kỳ Hải Dương.. Xác định cơ sở lý luận của đề tài Đánh giá thực trạng công tác quản lý hoạt động tổ chuyên môn của hiệu trưởng một số trường tiểu học. Đề xuất những biện pháp quản lý hoạt động tổ chuyên môn của hiệu trưởng tiểu học và khảo sát tính khả thi của các biện pháp đó.Cái mới của đề tài Phát hiện thực trạng quản lý hoạt động tổ chuyên môn của hiệu trưởng tiểu học huyện Tứ Kỳ Hải Dương. Đề xuất được các biện pháp quản lý hoạt động tổ chuyên môn của hiệu trưởng trong các trường tiểu học huyện Tứ Kỳ Hải Dương.
Trang 1MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
1.1 Đất nước ta đang bước vào một kỉ nguyên mới, kỉ nguyên đánh dấumột thời kì cả dân tộc đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá nhằm thựchiện mục tiêu "dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh".Đại hội Đảng IX đã khẳng định nguồn nhân lực là nhân tố quyết định sự pháttriển đất nước trong thời kì công nghiệp hoá, hiện đại hoá nên cần tạochuyển biến cơ bản, toàn diện về GD&ĐT Đại hội Đảng X tiếp tục chỉ rõ:
"Giáo dục phải nhằm đào tạo những con người Việt Nam có lý tưởng độc
lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, có phẩm chất tốt đẹp của dân tộc, có năng lực, bản lĩnh để thích ứng với những biến đổi của xã hội trong kinh tế thị trường, những yêu cầu mới của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc".[34]
Như vậy chỉ có phát triển giáo dục thì mới mở ra tương lai tươi sángcho đất nước Bởi lẽ giáo dục nói chung, dạy học nói riêng có vai trò đặt biệtquan trọng trong việc đào tạo nguồn nhân lực cho đất nước Đó là nhữngngười lao động có kỹ thuật - được đào tạo và bồi dưỡng bởi nền giáo dụctiên tiến gắn với khoa học công nghệ hiện đại Mà muốn phát triển giáo dục
và đào tạo thì cần phải chú ý ngay bậc học đầu tiên - bậc học nền tảng - bậctiểu học Nâng cao chất lượng giáo dục tiểu học là tạo ra nền tảng vững chắc
để nâng cao chất lượng giáo dục phổ thông Vì vậy mục tiêu phát triển giáo
dục tiểu học từ nay đến năm 2020, Nghị quyết Trung ương II đã chỉ rõ: "Cần
nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện bậc tiểu học" Để nâng cao chất
lượng giáo dục toàn diện bậc tiểu học, phải xây dựng một nền giáo dục theo
định hướng: "Chuẩn hoá, hiện đại hoá, xã hội hoá"[34] Muốn thực hiệnđịnh hướng này phải giải quyết nhiều vấn đề, trong đó đổi mới công tác quản
lý giáo dục là một giải pháp quan trọng
1.2 Có thể nói, hoạt động chủ yếu trong nhà trường là hoạt độngchuyên môn Các tổ chuyên môn là tổ chức quan trọng và là nòng cốt trongcác nhà trường, Tổ chuyên môn cũng là đơn vị cơ sở gắn bó gần gũi nhất với
Trang 2người giáo viên giảng dạy Ở đây diễn ra mọi hoạt động có liên quan đếntoàn bộ hoạt động nghề nghiệp của người giáo viên Tổ chuyên môn cũng lànơi người giáo viên có thể chia sẻ mọi tâm tư, nguyện vọng cũng như nhữngvấn đề có liên đến nghề nghiệp, đời sống vật chất và tinh thần của mình.Hoạt động của tổ chuyên môn trong nhà trường có vai trò quyết định cho sựphát triển của nhà trường nói riêng và sự phát triển giáo dục nói chung Cóthể nói hoạt động của tổ chuyên môn trong nhà trường là nhân tố quyết địnhtrực tiếp đến chất lượng dạy học của các trường tiểu học hiện nay Do đó,quản lý hoạt động chuyên môn là nhiệm vụ hàng đầu, là trọng tâm trong quátrình quản lý của người hiệu trưởng.
1.3 Chất lượng hoạt động của tổ chuyên môn trong nhà trường phụthuộc rất nhiều vào quá trình quản lý của người hiệu trưởng đối với tổ Các
tổ chuyên môn trong nhà trường do hiệu trưởng thành lập và ra quyết địnhcông nhận để giúp hiệu trưởng thực hiện nhiệm vụ năm học, thực hiệnchương trình đào tạo của nhà trường Sự quản lý của hiệu trưởng đối với tổchuyên môn là kim chỉ nam cho hoạt động của tổ để đạt được mục đích củanhà trường Qua những năm công tác ở trường tiểu học,bản thân tôi thấy rõvai trò quyết định của việc quản lý của hiệu trưởng đối với hoạt động của tổchuyên môn trong việc nâng cao chất lượng dạy học
Xuất phát từ những lý do trên, tôi thấy cần thiết phải nghiên cứu đề tài:
"Biện pháp quản lý hoạt động tổ chuyên môn của hiệu trưởng các trường
tiểu học huyện Tứ Kỳ - Hải Dương".
Trang 33 Đối tượng và khách thể nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Các biện pháp quản lý hoạt động tổ chuyên môn của hiệu trưởng cáctrường tiểu học
3.2 Khách thể nghiên cứu
Công tác quản lý hoạt động tổ chuyên môn của hiệu trưởng các trườngtiểu học
4 Giả thuyết khoa học
Công tác quản lý hoạt động tổ chuyên môn của hiệu trưởng các trườngtiểu học huyện Tứ Kỳ - Hải Dương đã đạt được những kết quả nhất định, làmcho chất lượng dạy học được nâng cao Tuy nhiên, trong quá trình quản lý,còn có những điều chưa phù hợp và bất cập nhất định Nếu đề xuất được cácbiện pháp quản lý phù hợp sẽ nâng cao được chất lượng hoạt động tổ chuyênmôn, nhờ đó nâng cao được chất dạy học của nhà trường
5 Nhiệm vụ nghiên cứu
5.1 Xác định cơ sở lý luận của đề tài
5.2 Đánh giá thực trạng công tác quản lý hoạt động tổ chuyên môn củahiệu trưởng một số trường tiểu học
5.3 Đề xuất những biện pháp quản lý hoạt động tổ chuyên môn củahiệu trưởng tiểu học và khảo sát tính khả thi của các biện pháp đó
6 Phạm vi nghiên cứu
6.1 Giới hạn về đối tượng nghiên cứu
Do điều kiện thời gian đề tài chỉ nghiên cứu các biện pháp quản lý hoạtđộng tổ chuyên môn của hiệu trưởng một số trường tiểu học huyện Tứ Kỳ -Hải Dương thuộc nhóm các trường đạt chuẩn và chưa đạt đạt chuẩn Quốcgia
6.2 Giới hạn về khách thể điều tra
- Đại diện Phòng giáo dục: 03 đồng chí
Trang 4- 47 cán bộ quản lý tổ trưởng chuyên môn của 10 trường tiểu học đạidiện trong huyện Tứ Kỳ - Hải Dương.
- 186 giáo viên trong các trường tiểu học của huyện Tứ Kỳ - HảiDương
6.3 Giới hạn về địa bàn nghiên cứu
10 trường tiểu học đại diện cho nhóm các trường đạt chuẩn và chưa đạtchuẩn Quốc gia trên địa bàn huyện Tứ Kỳ - Hải Dương
7 Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp nghiên cứu lý luận: Phân tích, nghiên cứu các tài liệu cóliên quan
- Phương pháp nghiên cứu thực tiễn: Điều tra viết, tổng kết kinhnghiệm, phương pháp chuyên gia
- Các phương pháp toán thống kê: Dùng một số công thức toán thống kê
để xử lý kết quả nghiên cứu nhằm rút ra kết luận khoa học
8 Cái mới của đề tài
- Phát hiện thực trạng quản lý hoạt động tổ chuyên môn của hiệu trưởngtiểu học huyện Tứ Kỳ - Hải Dương
- Đề xuất được các biện pháp quản lý hoạt động tổ chuyên môn củahiệu trưởng trong các trường tiểu học huyện Tứ Kỳ - Hải Dương
Trang 5Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG
TỔ CHUYÊN MÔN TRONG TRƯỜNG TIỂU HỌC
1.1 Một số nét tổng quan về vấn đề nghiên cứu
GD là một hiện tượng xã hội đặc biệt, được sinh ra và tồn tại cùng với
sự phát triển của xã hội loài người Đó là một HĐ không thể thiếu trong việcphát triển của xã hội loài người vì nó tác động đến mọi HĐ khác trong xãhội Đặc biệt là trong giai đoạn hiện nay, với sự phát triển như vũ bão củakhoa học kĩ thuật và sự bùng nổ của công nghệ thông tin, loài người bướcvào thế kỷ của nền kinh tế tri thức thì GD càng giữ một vị trí quan trọng vàcần thiết hơn bao giờ hết trong chiến lược phát triển đất nước của mọi quốcgia
Hội nghị lần thứ 2 Ban chấp hành Trung uơng Đảng khoá VIII đã chỉ
rõ: "Để thực hiện được mục tiêu chiến lược mà Đại hội VIII đã đề ra cần
phải khai thác và sử dụng nhiều nguồn nhân lực khác nhau, trong đó nguồn lực con người là quý báu nhất, có vai trò quyết định, đặc biệt là đối với nước
ta khi nguồn lực tài chính còn hạn hẹp Nguồn lực đó là người lao động có trí tuệ cao, tay nghề thành thạo, có phẩm chất đẹp, được đào tạo, bồi dưỡng
và được phát huy bởi một nền GD tiên tiến gắn liền với khoa học, công nghệ hiện đại: GD phải làm tốt nhiệm vụ đào tạo nguồn lực cho đất nước, đội ngũ lao động cho khoa học và công nghệ".[40]
Như vậy mục đích của GD ngày nay không đơn thuần là truyền thụ cho
HS những tri thức mà loài người đã tích luỹ được qua nhiều thế hệ mà cònphải bồi dưỡng cho HS biết làm chủ bản thân, độc lập trong suy nghĩ, tíchcực tìm tòi phát hiện ra cái mới trong học tập và nghiên cứu; biết tự giảiquyết những vấn đề mới nảy sinh trong các HĐ hàng ngày của bản thân Đóchính là GD đã trang bị cho họ những năng lực cần thiết của người lao độngmới, lao động có trí tuệ: Năng lực tự học, tự nghiên cứu; năng lực phát hiện
Trang 6và giải quyết các vấn đề mới nảy sinh; năng lực giao tiếp, khả năng sángtạo Để làm được việc này ngành GD nói chung và các nhà QL GD nóiriêng đã tích cực tìm ra được những giải pháp phù hợp để nâng cao chấtlượng GD Và một trong những giải pháp đó chính là đổi mới cơ chế QL GD
từ cấp vĩ mô đến cấp vi mô là các nhà trường Các nhà nghiên cứu đều đãthống nhất chung một quan điểm là làm công tác QL GD phải không ngừngcải tiến nâng cao chất lượng điều hành và QL của mình để qua đó tác độngmột cách có hiệu quả vào quá trình cải tiến chất lượng ở các khâu, các bộphận của hệ thống GD Đặc biệt việc QL HĐ GD trong nhà trường có vai tròquyết định đến chất lượng GD của nhà trường Mà việc QL HĐ GD của nhàtrường chính là QL HĐ của đội ngũ GV trong nhà trường Chính trong cáccông trình nghiên cứu của các nhà nghiên cứu về QL GD Xô Viết đã khẳng
định: "Kết quả toàn bộ hoạt động của nhà trường phụ thuộc rất nhiều vào
việc tổ chức đúng đắn và hợp lý các HĐ của đội ngũ GV".
Trong nhà trường phổ thông, đội ngũ GV lại được sắp xếp theo từng tổ
CM nên việc QL HĐ của đội ngũ GV đối với người HT chính là QL HĐ của
tổ CM trong nhà trường Suy cho cùng, mục đích của công việc QL này lànhằm hoàn thành tốt nhiệm vụ chính trị của nhà trường: nâng cao chất lượngdạy và học trong nhà trường Điều này đã được khẳng định trong Luật GD
năm 2005: "Tuy không trực tiếp tham gia vào HĐ dạy và học, nhưng cán bộ
QL GD bằng những HĐ QL của mình tác động vào quá trình GD nhằm hướng cho HĐ dạy và học đạt được những mục tiêu yêu cầu của GD và bảo đảm chất lượng GD".[29]
Sau một thời gian học tập và nghiên cứu tại Trường đai học sư phạm HàNội, tôi thấy từ năm 2000 đến nay có khoảng gần 40 đề tài nghiên cứu vềquản lý hoạt động tổ chuyên môn, quản lý hoạt động dạy và học để nâng caochất lượng dạy học trong các nhà trường trong đó các đề tài nghiên cứu vềquản lý chuyên môn ở các ngành học, cấp học đặc biệt là cấp tiểu học gồm:
Quản lý chuyên môn ngành học mầm non:
Trang 7Nguyễn Thị Thuỷ: Các biện pháp nâng cao năng lực quản lý chuyênmôn của hiệu trưởng các trường Mầm non, luận văn Thạc sĩ QLGD- 2002Nguyễn Thị Loan: Một số biện pháp quản lý của hiệu trưởng nhằm tăngcường công tác chuyên môn cho đội ngũ giáo viên Mầm non tỉnh TháiNguyên, luận văn Thạc sĩ QLGD- 2002
Bùi Thị Kim Xuân: Một số biện pháp bồi dưỡng nghiệp vụ quản lý chohiệu trưởng các trường Mầm non Quận Hai Bà Trưng Thành phố Hà Nội,luận văn thạc sĩ QLGD- 2004
Quản lý hoạt động dạy học cấp Tiểu học:
Lê Thị Lan Hương: Một số biện pháp quản lý của hiệu trưởng nhằmnâng cao năng lực chuyên môn cho đội ngũ giáo viên ở trường Tiểu học tỉnhPhú Thọ, luận văn thạc sĩ QLGD - 2001
Nguyễn Thị Thanh Huyền: Nghiên cứu sự thích ứng với hoạt động quản
lý chuyên môn của hiệu trưởng trường Tiểu học tỉnh Thái Bình, luận vănthạc sĩ QLGD - 2001
Viên Thị Dung: Biện pháp quản lý hoạt động dạy học của hiệu trưởngtrường Tiểu học Thành phố Thanh Hoá, luận văn thạc sĩ QLGD - 2003.Phạm Thị Thắng: Quản lý và tổ chức hoạt động giảng dạy của hiệutrưởng Tiểu học, luận văn thạc sĩ QLGD 2003
Phạm Văn Diệp: Một số biện pháp quản lý chuyên môn của hiệu trưởngnhằm nâng cao chất lượng giáo dục Tiểu học miền núi tỉnh Quảng Ninh,luận văn thạc sĩ QLGD - 2004
Quản lý hoạt động giảng dạy cấp trung học cơ sở:
Hà Văn Cung: Một số biện pháp bồi dưỡng năng lực quản lý quá trìnhdạy học của các trường THCS tỉnh Quảng Ninh, luận văn thạc sĩ QLGD -2000
Nguyễn Văn Tiến: Một số biện pháp nâng cao hiệu quả quản lý chuyênmôn của Hiệu trưởng trường THCS ngoại thành Hải Phòng, luận văn thạc sĩQLGD - 2000
Trang 8Nguyễn Minh Ngọc: Các biện pháp nâng cao hiệu quả quản lý chuyênmôn của hiệu trưởng THCS Yên Thành - Nghệ An, luận văn thạc sĩ QLGD -2001.
Tô Minh Đức: Một số biện pháp quản lý hoạt động chuyên môn nhằmnâng cao chất lượng giáo dục ở trường THCS Sông Mã - Sơn La, luận vănthạc sĩ QLGD - 2003
Nguyễn Thị Hải: Một số biện pháp quản lý hoạt động dạy học của hiệutrưởng nhằm nâng cao chất lượng giáo dục ở trường THCS Đông Sơn -Thanh Hoá, luận văn thạc sĩ QLGD - 2003
Trần Thị Vương: Một số biện pháp nâng cao năng lực quản lý chuyênmôn của hiệu trưởng trường THCS Thanh Trì - Hà Nội, luận văn thạc sĩQLGD - 2003
Nguyễn Nho Hoà: Một số biện pháp quản lý hoạt động chuyên môn của
Sở Giáo dục và Đào tạo Quảng Ninh đối với các trường ngoài công lập, luậnvăn thạc sĩ QLGD 2004
Quản lý hoạt động giảng dạy ở cấp Trung học phổ thông:
Nguyễn Khắc Tâm: Một số biện pháp quản lý chuyên môn của hiệutrưởng nhằm góp phần nâng cao hiệu quả học tập cho học sinh THPT tỉnhSơn La, luận văn thạc sĩ QLGD - 2000
Phạm Quỳnh Anh: Hoàn thiện một số biện pháp quản lý hoạt độngchuyên môn của hiệu trưởng trường THPT dân lập Hà Nội, luận văn thạc sĩQLGD - 2000
Ma Trọng Hưng: Các biện pháp quản lý hoạt động giảng dạy của hiệutrưởng nhằm nâng cao kết quả học tập của học sinh THPT miền núi ChiêmHoá - Tuyên Quang, luận văn thạc sĩ QLGD 2002
Nguyễn Sỹ Khiêm: Các biện pháp quản lý hoạt động chuyên môn củahiệu trưởng THPT thị xã Hà Đông - Hà Tây, luận văn thạc sĩ QLGD - 2002.Trần Thị Minh Nguyệt: Một số biện pháp quản lý chuyên môn của hiệutrưởng trường THPT thành phố Thái Nguyên, luận văn thạc sĩ QLGD - 2002
Trang 9Trần Thị Hoài: Những biện pháp tăng cường quản lý hoạt động dạy họccủa hiệu trưởng trường THPT, luận văn thạc sĩ QLGD - 2002.
Phạm Khánh Tường: Các biện pháp quản lý chuyên môn của hiệutrưởng đối với giáo viên mới vào nghề của một số trường THPT ở HảiPhòng, luận văn thạc sĩ QLGD - 2002
Doãn Văn Quân: Các biện pháp tăng cường quản lý hoạt động dạy họccủa hiệu trưởng trường THPT thành phố Hải Phòng, luận văn thạc sĩ QLGD
- 2003
Đỗ Thị Dung: Một số quản lý hoạt động chuyên môn của hiệu trưởngtrường THPT Bán công thành phố Hà Nội, luận văn thạc sĩ QLGD - 2004.Phạm Văn Kính: Một số biện pháp quản lý chuyên môn của hiệu trưởngnhằm nâng cao chất lượng dạy học ở trường THPT Chuyên Hạ Long, luậnvăn thạc sĩ QLGD - 2004
Quản lý hoạt động dạy học Cao đẳng, Đại học, Trung cấp nghề:
Đỗ Thế Dĩnh: Một số biện pháp của hiệu trưởng nhằm tăng cường côngtác quản lý chuyên môn ở trường Thương mại Trung ương IV, luận văn thạc
sĩ QLGD - 2002
Mai Công Khanh: Các biện pháp tăng cường quản lý hoạt động dạy học
ở trường dự bị Đại học dân tộc TW, luận văn thạc sĩ QLGD - 2003
Nguyễn Gia Thịnh: Biện pháp quản lý hoạt động chuyên môn củaTrung tâm Kỹ thuật Tổng hợp - Hướng nghiệp Hải Phòng, luận văn thạc sĩQLGD - 2004
Dương Thuý Giang: Một số biện pháp quản lý hoạt động dạy học KhoaTiểu học, trường Bồi dưỡng cán bộ Giáo dục, luận văn thạc sĩ QLGD - 2004
Tạ Quang Thảo: Một số biện pháp quản lý hoạt động dạy tại trườngTrung học Kinh tế - Kỹ thuật Vĩnh Phúc, luận văn thạc sĩ QLGD - 2004
Có một số đề tài nghiên cứu về biện pháp quản lý hoạt động tổ chuyênmôn của hiệu trưởng trường Mầm non, trường Tiểu học, trường Trung học
cơ sở,trường Trung học phổ thông đó là:
Trang 10Doãn Thị Thanh Phương: Các biện pháp quản lý hoạt động tổ chuyênmôn của hiệu trưởng các trường Mầm non Quận Cầu Giấy - Thành phố HàNội, luận văn thạc sĩ QLGD - 2006.
Đây là một đề tài khá hay bởi tác giả đã đi sâu nghiên cứu về hoạt động
tổ chuyên môn của các trường Mầm non Quận cầu Giấy- Thành phố Hà Nội
Đề tài có thể áp dụng rộng rãi không chỉ trong khu vực thành phố Hà Nội mà
nó còn có thể áp dụng cho đại đa số các trường mầm non của cả nước
Trần Thị Minh Tâm: Biện pháp quản lý tổ chuyên môn của hiệu trưởngtrường Tiểu học Quận Hồng Bàng - Thành phố Hải Phòng, luận văn thạc sĩQLGD - 2006
Đề tài này đã nêu được thực trạng công tác quản lý hoạt động tổ chuyênmôn của hiệu trưởng 10 trường tiểu học trong quận Hồng Bàng- HảiPhòng.Các trường này được tác giả chia thành hai khối trường để nghiên cứu
đó là: Khối các trường đạt tiên tiến xuất sắc và khối trường chưa đạt tiên tiếnxuất sắc Đề tài cũng đã đưa ra các kiến nghị đối với Bộ và Sở Giáo dục-Đào tạo, kiến nghị đối với Phòng giáo dục, đối với các trường tiểu học.Tuynhiên khi đề xuất một số biện pháp quản lý hoạt động tổ chuyên môn củahiệu trưởng tác giả đã đưa ra các biện pháp qúa cụ thể( 7 biện pháp)
Nguyễn Thanh Cao: Biện pháp quản lý của hiệu trưởng đối với hoạtđộng tổ chuyên môn các trường trung học cơ sở huyện Phổ Yên- TháiNguyên, luận văn thạc sĩ QLGD- 2007
Đề tài đã đi sâu nghiên cứu về hoạt động tổ chuyên môn của các trườngtrung học cơ sở và đề xuất một số biện pháp quản lý hoạt động tổ chuyênmôn của hiệu trưởng các trường THCS huyện Phổ Yên- Thái Nguyên Tuynhiên giới hạn về địa bàn nghiên cứu của đề tài lại được chia thành hai vùngmiền khác nhau đó là: Vùng đồng bằng và vùng miền núi Điều này sẽ khôngthuận lợi cho những hiệu trưởng trường khác khi muốn áp dụng đề tài vàothực tế trên địa bàn của mình
Trang 11Hoàng Văn Huân: Một số biện pháp quản lý hoạt động tổ chuyên môncủa hiệu trưởng các trường THPT huyện Quảng Xương - Thanh Hoá, luậnvăn thạc sĩ QLGD - 2005
Như vậy đã có nhiều đề tài nghiên cứu QL CM ở nhiều khía cạnh khácnhau và phân bố ở tất cả các bậc học từ Mầm non, TH, Trung học đến cácTrung tâm dạy nghề cũng như các trường Đại học, Cao đẳng và Trung họcchuyên nghiệp Song việc QL HĐ tổ CM của HT trường TH ở địa bàn huyện
Tứ Kỳ- tỉnh Hải Dương thì chưa có đề tài nào đề cập đến Với mong muốnnghiên cứu Việc quản lý hoạt động tổ chuyên môn của hiệu trưởng cáctrường Tiểu học thuộc hai khối trường: Khối trường đã đạt chuẩn Quốc gia
và khối trương chưa đạt chuẩn.Vì vậy tôi lựa chọn nghiên cứu đề tài "Biện pháp QL HĐ tổ CM của HT các trường TH huyện Tứ Kỳ - Hải Dương".
1.2 Một số khái niệm cơ bản liên quan đến đề tài
1.2.1 Quản lý
Trong xã hội loài người, QL là một HĐ bao trùm mọi mặt đời sống xãhội Nó ra đời khi xã hội cần có sự chỉ huy, điều hành, phân công, hợp tác,kiểm tra, chỉnh lý trong lao động tập thể trên một quy mô nào đó để đạt năngsuất cao hơn, hiệu quả tốt hơn, đó là vai trò của người đứng đầu Như vậy
QL là một phạm trù tồn tại khách quan và là một tất yếu lịch sử Loài người
đã trải qua nhiều thời kỳ phát triển với nhiều hình thái xã hội khác nhau, nêncũng đã trải qua nhiều hình thức QL khác nhau Các triết gia, các nhà chínhtrị từ thời cổ đại đến nay đều rất coi trọng vai trò của QL trong sự ổn định vàphát triển của xã hội
Người ta tiếp cận khái niệm QL nhiều cách khác nhau
Đó là: cai quản, chỉ huy, lãnh đạo, chỉ đạo, kiểm tra - theo góc độ tổchức
Theo góc độ điều khiển thì QL là lái, là điều khiển, điều chỉnh
Trang 12Theo cách tiếp cận hệ thống thì QL là sự tác động của chủ thể QL đếnkhách thể QL (hay là đối tượng QL) nhằm tổ chức, phối hợp HĐ của conngười trong quá trình sản xuất - xã hội để đạt được mục đích đã định.
Còn trong quá trình tồn tại và phát triển của QL, đặc biệt trong quá trìnhxây dựng lý luận về QL, khái niệm QL được nhiều nhà lý luận đưa ra, nóthường phụ thuộc vào lĩnh vực HĐ, nghiên cứu của mỗi người
Nhấn mạnh đến vai trò của QL, các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác
-Lênin đã khẳng định: "Bất cứ lao động xã hội hay cộng đồng trực tiếp nào
được thực hiện ở quy mô tương đối lớn đều cần đến sự QL" [11]
Một số tác giả lại quan tâm tới yếu tố gắn kết, phối hợp của các cá thể,hay của các nhóm nhỏ nhằm đạt được mục tiêu của tổ chức Ví dụ, theo
Harold Koontz-1994, trong tác phẩm "Những vấn đề cốt yếu của QL" thì:
"QL là một HĐ thiết yếu, nó đảm bảo phối hợp những nỗ lực cá nhân nhằm
đạt được mục đích của nhóm" [19]
Và theo các nhà xã hội học Kozlova.O.V và Kuznetsov.I.N thì: "QL là
sự tác động có mục đích đến từng tập thể con người để tổ chức và phối hợp
HĐ của họ trong quá trình sản xuất" Định nghĩa này lại gắn quản lý và hoạt
động của cá nhân, tập thể trong quá trình lao động sản xuất
Cũng theo hướng nói đến sự phối hợp của các cá thể trong tổ chức,định
nghĩa do Paul Hersey và Ken Blanc Heard đưa ra trong cuốn "QL nguồn
nhân lực" có những nét khác biệt: "QL là một quá trình cùng làm việc giữa nhà QL với người bị QL, nhằm thông qua HĐ của cá nhân, của nhóm, huy động các nguồn lực khác để đạt mục tiêu của tổ chức" Đặt trong bối cảnh
nghiên cứu về nguồn nhân lực, khái niệm quản lý ở đây được nhìn nhận như
là sự phối hợp của nhiều nguồn lực, trong đó nổi bật lên mối quan hệ giữangười QL và người bị QL
Ở Việt Nam thuật ngữ Quản lý cũng được nhiều học giả quan tâm nghiên cứu
Từ điển tiếng Việt đưa ra định nghĩa về quản lý như sau: "QL là HĐ
của con người tác động vào tập thể người khác để phối hợp điều chỉnh phân
Trang 13công thực hiện mục tiêu chung" Đây là một khái niệm quản lý chung nhất
không nhằm vào một lĩnh vực hay hoạt động cụ thể nào Tuy nhiên nếu xéttheo từng lĩnh vực chuyên biệt, chúng ta có thể tham khảo định nghĩa về quản
lý trong Giáo trình "QL GD và đào tạo" của trường Cán bộ QL GD&ĐT:
+ QL là tác động vừa có tính khoa học, vừa có tính nghệ thuật vào hệthống con người, nhằm đạt các mục tiêu kinh tế - xã hội
+ QL là một quá trình tác động có định hướng, có tổ chức dựa trên cácthông tin về tình trạng của đối tượng, và môi trường nhằm giữ cho sự vậnhành của đối tượng được ổn định và phát triển tới mục tiêu đã định
+ QL là sự tác động có ý thức, hợp quy luật giữa chủ thể QL đến kháchthể QL nhằm đạt tới mục tiêu đề ra
+ QL là sự tác động có tổ chức, có hướng đích của chủ thể QL lên đốitượng QL và khách thể QL, nhằm sử dụng có hiệu quả nhất các tiềm năng,các cơ hội của tổ chức để đạt được mục tiêu đặt ra trong điều kiện biến độngcủa môi trường
Theo tác giả Hà Thế Ngữ và tác giả Đặng Vũ Hoạt cho rằng: "QL là
một quá trình định hướng, quá trình có mục tiêu, QL một hệ thống nhằm đạt được những mục tiêu nhất định".[25]
Tác giả Mai Hữu Khuê lại đưa ra định nghĩa về QL dưới dạng một HĐ
đặc biệt như sau: "HĐ QL là một dạng HĐ đặc biệt của người lãnh đạo
mang tính tổng hợp của các loại lao động trí óc, liên kết bộ máy QL thành một chỉnh thể thống nhất điều hoà phối hợp các khâu và các cấp QL làm cho
HĐ nhịp nhàng đưa đến hiệu quả".[15]
Theo tác giả Nguyễn Bá Sơn - 2000 thì: "QL là sự tác động có hướng
đích của chủ thể QL đến đối tượng QL bằng một hệ thống các giải pháp nhằm thay đổi trạng tháng của đối tượng QL, đưa hệ thống tiếp cận mục tiêu cuối cùng, phục vụ lợi ích của con người."[13] Đây là một định nghĩa
tương đối cụ thể về QL với sự tác động có hướng đích của chủ thể QL
QL nhằm hướng tới mục đích đã đề ra, tác giả Hà Sỹ Hồ có viết: "QL là
một quá trình HĐ có định hướng, có tổ chức, lựa chọn trong các tác động có
Trang 14thể dựa trên các thông tin về tình trạng của đối tượng được ổn định và làm cho nó phát triển tới mục đích đã định".[18]
Từ các định nghĩa nêu trên, dưới các góc độ khác nhau, chúng ta có thểhiểu một cách khái quát là: QL một đơn vị (cơ sở sản xuất, cơ quan, trườnghọc, địa phương, ) với tư cách là một hệ thống xã hội, là khoa học và nghệthuật tác động vào hệ thống, vào từng thành tố của hệ thống bằng phươngpháp thích hợp nhằm đạt được các mục tiêu đề ra
Như vậy, khái niệm QL bao hàm những khía cạnh sau:
- Đối tượng tác động của QL là một hệ thống xã hội hoàn chỉnh nhưmột cơ thể sống gồm nhiều yếu tố liên kết hữu cơ theo một quy luật nhấtđịnh tồn tại trong thời gian, không gian cụ thể Ví dụ: Một doanh nghiệp,một trường học, một cơ quan, một quốc gia,
- Mục tiêu cuối cùng của QL là chất lượng sản phẩm, vì lợi ích phục vụcon người Người QL tựu chung lại là nghiên cứu khoa học, nghệ thuật giảiquyết các mối quan hệ giữa con người với nhau vô cùng phức tạp không chỉgiữa chủ thể với khách thể trong hệ thống mà còn có mối quan hệ tương tácvới các hệ thống khác nhằm hướng đến mục tiêu chung của tổ chức mình.Như vậy, QL còn có thể hiểu là sự tác động có tổ chức, có hướng đíchcủa thủ thể QL đến khách thể QL bao gồm nhiều giải pháp khác nhau thôngqua cơ chế QL nhằm sử dụng có hiệu quả nhất các tiềm năng, các cơ hội của
hệ thống để đạt tới mục tiêu đặt ra trong điều kiện biến động của môi trường.Điều đó cũng xác lập rằng QL phải có một cấu trúc và vận động trong mộtmôi trường xác định Cấu trúc hệ thống QL bao gồm các yếu tố trong sơ đồđơn giản sau:
Trang 15Hình 1: Cấu trúc hệ thống quản lý
Xã hội ngày càng phát triển, các loại hình lao động ngày càng phongphú, phức tạp, tinh vi thì hoạt động quản lý càng có vai trò quan trọng vàquyết định để tổ chức đạt tới mục tiêu bằng con đường ngắn nhất nhưng đạthiệu quả cao nhất
Trong nền văn minh công nghiệp hiện nay các nhà khoa học cho rằng
có năm yếu tố cơ bản tạo thành sức mạnh phát triển của mỗi quốc gia là:vốn, lao động, kỹ thuật công nghệ, tài nguyên và chất xám quản lý, trong đóyêu cầu chất xám quản lý được xếp hàng đầu Điều này được biểu diễn trên
Trang 16Hiện nay QL thường được định nghĩa rõ hơn: QL là quá trình đạt đếnmục tiêu của tổ chức bằng cách vận dụng các HĐ: kế hoạch hoá, tổ chức, chỉđạo và kiểm tra.
Các HĐ kể trên cũng chính là các chức năng của QL Nội dung cụ thểcủa từng chức năng có thể hiểu như sau:
- Chức năng lập kế hoạch:
Là chức năng hạt nhân của quá trình QL Bởi vì kế hoạch là tập hợpnhững mục tiêu cơ bản được sắp xếp theo một trình tự nhất định cùng vớimột chương trình hành động cụ thể để đạt được mục tiêu đã đề ra Kế hoạchđược xây dựng xuất phát từ đặc điểm tình hình cụ thể của tổ chức và nhữngmục tiêu đã định sẵn mà tổ chức có thể hướng tới và đạt được, dưới sự tácđộng có định hướng của người QL
- Chức năng tổ chức:
Là chức năng quan trọng của quá trình QL, đảm bảo tạo thành sứcmạnh của tổ chức để thực hiện thành công kế hoạch đã đề ra Tầm quan
trọng này đã được Lênin khẳng định: "Tổ chức là nhân tố sinh ra hệ toàn
vẹn, biến một tập hợp các thành tố rời rạc thành một thể thống nhất, người
ta gọi là hiệu ứng tổ chức".
Bởi vì chức năng này việc tiến hành sắp xếp, bố trí một cách khoa học
và phù hợp những nguồn lực của hệ thống thành một hệ toàn vẹn nhằm đảmbảo cho chúng hỗ trợ nhau để đạt được mục tiêu của hệ thống một cách hiệu quảnhất
- Chức năng chỉ đạo:
Đây là chức năng đặc thù của người QL, nó biểu hiện rất rõ nét nănglực của người QL Đó là sự điều hành, điều chỉnh HĐ của hệ thống nhằmthực hiện đúng kế hoạch đã đề ra để đạt được mục tiêu đã định Nó đòi hỏingười QL phải luôn theo sát các HĐ, các trạng thái vận hành của hệ thống đểkịp thời phát hiện ra những sai lỗi trong quá trình vận hành của hệ thống vàđưa ra được những biện pháp điều chỉnh, uốn nắn kịp thời sao cho hệ thốngvận hành không làm thay đổi mục tiêu đã định của hệ thống
Trang 17- Chức năng kiểm tra đánh giá:
Người QL muốn hoàn thành được trọng trách của mình một cách cóhiệu quả nhất thì không bao giờ được coi nhẹ chức năng này Bời vì chínhchức năng này giúp cho người QL thu thập được những thông tin ngược từđối tượng QL trong quá trình vận hành của hệ thống Nhờ đó mà đánh giáđược trạng thái vận hành của hệ thống ra sao so với kế hoạch đã đề ra và nhưvậy sẽ đánh giá được kế hoạch khả thi đến mức độ nào? nguyên nhân của sựthành công, thất bại? Cần điều chỉnh, bổ sung những gì vào nội dung kếhoạch để đạt đượuc mục tiêu Và cũng nhờ có chức năng này mà người QLrút ra cho mình những bài học kinh nghiệm để thực hiện các quá trình QLtiếp theo được hiệu quả hơn nữa
Điều cần chú ý đối với người QL là thực hiện mỗi một chức năng làhoàn thành một giai đoạn trong chu kỳ QL Tuy nhiên sự phân chia chu kỳ
QL thành các giai đoạn chỉ có tính chất tương đối để giúp người QL địnhhướng cho HĐ QL của mình Còn trong thực tế, các giai đoạn này gối đầu lênnhau, bổ sung cho nhau, xâm nhập vào nhau Và một yêu cầu không thể thiếuđược để người QL thực hiện được những chức năng trên là thông tin Vì vậy thôngtin được coi như là một công cụ hoặc một chức năng đặc biệt trong chu trình QL
Ta có thể biểu diễn chu trình QL theo sơ đồ sau:
Hình 3: Mối quan hệ của các chức năng trong chu trình quản lý
MÔI TRƯỜNG QUẢN LÝ
Kế hoạch hoá
Thông tin
Chỉ đạo thực hiện
Tổ chức Kiểm tra
Trang 18Tuy nhiên khi nói đến công tác QL chúng ta hiểu ngay là HĐ có liênquan đến đối tượng là con người Vì con người là sự tổng hoà các mối quan
hệ xã hội - theo quan điểm duy vật biện chứng Cho nên trong quá trình điềuhành QL các nhà QL phải biết kế hợp hài hoà các yếu tố tâm lý, xã hội, kinh
tế, GD Hay nói cách khác là cần vận dụng tốt các nguyên tắc sau đây trongquá trình QL:
* Nguyên tắc đảm bảo tính Đảng:
Đảng Cộng sản Việt Nam giữ vị trí then chốt quyết định phương hướng
HĐ tất cả các hệ thống xã hội trên tất cả mọi lĩnh vực đối nội và đối ngoại
Do đó yêu cầu người QL phải coi chủ trương, đường lối chính sách củaĐảng và Nhà nước là kim chỉ nam cho quá trình HĐ của hệ thống Mục tiêu,
lý tưởng của Đảng bao trùm mục tiêu HĐ của hệ thống, đó là: "Dân giàu,
nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh".
* Nguyên tắc tập trung dân chủ:
Tập trung trong QL được hiểu là toàn bộ HĐ của hệ thống được quyếtđịnh, chỉ đạo bởi cơ quan quyền lực cao nhất của hệ thống Đây là cơ quanđược quần chúng trong hệ thống tín nhiệm thay họ đề ra chủ trương, đườnglối, mục tiêu tổng quát và các giải pháp cơ bản để thực hiện mục tiêu đó Tuynhiên tất cả các mục tiêu và giải pháp đó trước khi đưa ra để thực hiện trong
hệ thống thì cần có sự tham gia ý kiến của các thành viên trong hệ thống Đóchính là việc phát huy cao độ quyền làm chủ của họ, huy động được tối đa trítuệ tập thể tham gia xây dựng hệ thống
Đây là nguyên tắc quan trọng đảm bảo sự thành công của HĐ QL Bởi
lẽ trong quá trình QL có sự kết hợp chặt chẽ của cơ quan quyền lực với sứcmạnh và sự sáng tạo của quần chúng trong việc thực hiện mục tiêu QL Vìvậy trong quá trình QL, người QL rất cần phát huy tốt nguyên tắc này Đó làbiết kết hợp hài hoà giữa tập trung và dân chủ, biết lắng nghe và chọn lọc ýkiến của mọi thành viên trong hệ thống, tránh biểu hiện quan liêu, độcquyền, trù dập; cần tạo mọi điều kiện để mọi thành viên có cơ hội bày tỏchính kiến của mình Tuy nhiên, người QL cũng phải biết sử dụng quyền tập
Trang 19trung đúng lúc, đúng chỗ, dám nghĩ, dám làm và dám chịu trách nhiệm vềcác quyết định của mình khi các quyết định đó đều xuất phát vì mục đíchphục vụ con người.
* Nguyên tắc đảm bảo tính khoa học và thực tiễn:
Sự kết hợp của hai phạm trù này mang tính quy luật trong mọi HĐ củacon người, lý luận luôn soi đường, dẫn lối cho thực tiễn và thực tiễn là nơikiểm nghiệm lý luận Vì vậy trong lĩnh vực QL đòi hỏi người QL phải biếtvận dụng hài hoà giữa lý luận và thực tiễn Trên cơ sở lý luận chung về QL
đã tích luỹ được, người QL cần phải biết đặc điểm HĐ của hệ thống mình
QL, cũng như phải nắm được các yếu tố ảnh hưởng đến hệ thống như kinh
tế, chính trị xã hội, điều kiện tự nhiên, đặc thù địa phương Trên cơ sở đómới xây dựng được mục tiêu chiến lược của hệ thống
1.2.2 Quản lý giáo dục
Để tồn tại và phát triển, con người đã phải trải qua quá trình lao động.Chính trong lao động, con người nhận thức được thế giới xung quanh và dândần tích luỹ được những kinh nghiệm Cũng từ đó, con người nảy sinh nhucầu truyền đạt lại những kinh nghiệm đó cho nhau và cho thế hệ sau Đóchúng là nguồn gốc phát sinh hiện tượng GD Hiện tượng này có ý nghĩa đặcbiệt quan trọng đối với xã hội và đối với mỗi cá nhân Nó giúp cho xã hộibảo tồn nền văn hoá nhân loại, đồng thời giúp cho cá nhân phát triển tâm lý,
ý thức cũng như tiềm năng của bản thân Tính đặc thù của quá trình GD làtạo ra một sản phẩm đặc biệt, đó là nhân cách con người phù hợp với yêu cầucủa xã hội Đây là một vấn đề có ý nghĩa cực kỳ quan trọng trong sự tồn tại
và phát triển của xã hội loài người Vì vậy:
Theo M.I.Konđacốp thì: "GD là một hiện tượng xã hội đặc biệt, bản
chất của nó là sự truyền đạt và lĩnh hội kinh nghiệm lịch sử, xã hội của các thế hệ loài người Nhờ có GD mà các thế hệ nối tiếp nhau phát triển tinh hoa văn hoá dân tộc và nhân loại được kế thừa, bổ sung và trên cơ sở đó mà
xã hội loài người không ngừng tiến lên".[20 ].
Trang 20Điều này càng được khẳng định trong thời đại ngày nay, GD đã trởthành động lực, là nhân tố quyết định thúc đẩy sự phát triển của xã hội GD
đã trở thành mục tiêu phát triển hàng đầu của các quốc gia trên thế giới Bởi
vì chỉ có GD mới đào tạo được những người lao động mới - lao động có trítuệ cao đáp ứng yêu cầu của sự phát triển xã hội Chính do vị trí quan trọngnhư vậy của GD nên các nhà nghiên cứu GD đã đưa ra những khái niệmkhác nhau về QL GD
Theo chuyên gia GD Liên Xô M.I.Kônđacôp thì: "QL GD là tập hợp
những biện pháp: tổ chức, phương pháp cán bộ, kế hoạch hoá, nhằm đảm bảo
sự vận hành bình thường của các cơ quan trong hệ thống GD để tiếp tục phát triển và mở rộng hệ thống cả về mặt chất lượng cũng như số lượng" [20].
Theo quan niệm của giáo sư Nguyễn Ngọc Quang: "QL GD là hệ thống
những tác động có mục đích, có kế hoạch hợp quy luật của chủ thể QL nhằm làm cho hệ vận hành theo đường lối và nguyên lý GD của Đảng, thực hiện được các tính chất của nhà trường Xã hội chủ nghĩa Việt Nam, mà tiêu điểm hội tụ là quá trình dạy học, GD thế hệ trẻ, đưa GD tới mục tiêu dự kiến, tiến lên trạng thái mới về chất".[26]
Quan niệm này cũng tương tự như hai quan niệm trên nhưng đã đề cậpđến một mục đích khác đó là việc thực hiện các tính chất của nhà trườngXHCN Việt Nam của QLGD
Cùng hướng suy nghĩ này giáo sư Phạm Minh Hạc lại quan niệm: ''QL
nhà trường là thực hiện đường lối của Đảng trong phạm vi trách nhiệm của mình, tức là nhà trường vận hành theo nguyên lý GD để tiến tới mục tiêu
GD, mục tiêu đào tạo đối với ngành GD, với thế hệ trẻ và với từng HS "[16].
Tác giả Phạm Viết Vượng quan niệm rằng: "Mục đích cuối cùng của
QL GD là tổ chức quá trình GD có hiệu quả để đào tạo lớp thanh niên thông minh, sáng tạo, năng động, tự chủ, biết sống và biết phấn đấu vì hạnh phúc của bản thân và của xã hội".[39 ].
Trang 21Từ những quan điểm trên chúng ta có thể khái quát rằng: QL GD là hệthống tác động có mục đích, có kế hoạch hợp quy luật của chủ thể QL nhằmlàm cho hệ vận hành theo đường lối và nguyên lý GD của Đảng, thực hiệnđược các tính chất của nhà trường xã hội chủ nghĩa Việt Nam mà tiêu điểmhội tụ là quá trình dạy học, GD hế hệ trẻ, đưa hệ GD đến mục tiêu dự kiến-lên trạng thái mới về chất.
Trong hệ thống GD, con người giữ vai trò trung tâm của mọi hoạt động.Con người vừa là chủ thể, vừa là khách thể QL Mọi hoạt động GD vàQLGD đều hướng vào việc đào tạo và phát triển nhân cách thế hệ trẻ, bởivậy con người là nhân tố quan trọng nhất trong QLGD
1.2.3 Quản lý nhà trường tiểu học
* Quản lý nhà trường
Trong bối cảnh hiện đại, nhà trường được thừa nhận rộng rãi như mộtthiết chế chuyên biệt của xã hội để GD, đào tạo thế hệ trẻ trở thành nhữngcông dân hữu ích cho tương lai Thiết chế đó có mục đích rõ ràng, có tổ chứcchặt chẽ, được cung ứng các nguồn lực cần thiết cho việc thực hiện chứcnăng của mình mà không một thiết chế nào có thể thay thế được Nhữngnhiệm vụ của nhà trường cũng được đề cập đến từ nhiều khía cạnh khácnhau Việc QL nhà trường cũng có nhiều cách để tiếp cận Bản chất giai cấpcủa nhà trường được khẳng định bởi tính mục đích cũng như cách thức vậnhành của nó và một điều được khẳng định là: Khi nhà trường thực hiện chứcnăng GD trong một xã hội cụ thể, bản sắc văn hoá dân tộc in dấu sâu đậmtrong toàn bộ HĐ của nhà trường
Ở nước ta, hệ thống GD quốc dân bao gồm nhiều bậc học đã được phâncấp QL về CM, nghiệp vụ Trong mỗi bậc học bao gồm các nhà trường củabậc học đó Nhà trường là đơn vị cơ sở cơ bản của hệ thống, có vai trò quantrọng, có ý nghĩa quyết định việc thực hiện mục đích, mục tiêu GD đào tạo
thế hệ trẻ mà kết quả cuối cùng là "dạy tốt, học tốt".
Trang 22Do vậy QL nhà trường là QL GD trong một phạm vi xác định của một đơn vị GD đó là trường học.
Trường học là cơ quan chuyên trách xây dựng con người mới, với nộidung GD được chọn lọc cơ bản và sắp xếp có hệ thống, với phương phápGDkhoa học và đã được kiểm nghiệm thực tiễn, với những phương tiện và điềukiện GD đem lại hiệu quảGD cao, với những nhà sư phạm có nhân cách mẫumực và được trang bị đầy đủ tri thức khoa học GD, với quá trình GD được tổchức liên tục, trường học có trách nhiệm to lớn và vị trí quan trọng hơn cảcác cơ sở, tổ chức khác có chức năng xây dựng người lao động mới
HĐ trung tâm của nhà trường là dạy học và GD (theo nghĩa hẹp) Vì
vậy QL nhà trường thực chất là QL quá trình dạy học, bao gồm: quá trình laođộng sư phạm của người thầy, HĐ học tập của học sinh
Vậy QL nhà trường là QL tập thể GV và HS để chính họ lại QL (với
GV) và tự QL (với học sinh) quá trình dạy học nhằm đào tạo ra sản phẩm là
nhân cách người lao động mới Về cơ bản QL nhà trường khác với QL cáclĩnh vực khác của đời sống xã hội ở đây không đơn giản là thực hiện sựphân công, phối hợp các lực lượng, các mối quan hệ mà là quá trình tác động
có tổ chức sư phạm, có tính hướng đích đến toàn bộ các mặt của quá trình
GD Vì vậy có thể xem trường học vừa có bản chất xã hội, vừa có bản chất
sư phạm Do đó khi QL nhà trường, các nhà QL phải kết hợp hài hoà cáckhoa học như: GD học, xã hội học, tâm lý học, điều khiển học, kinh tế học
QL nhà trường thực chất là QL quá trình hình thành và tự hình thànhnhân cách của học sinh Nếu ngườiHT nắm vững tính chất đặc trưng rất cơbản này của việc QL nhà trường thì sẽ có những biện pháp QL nhà trườnghiệu quả nhất
Viết về QL nhà trường nhấn mạnh tới việc tập hợp và tổ chức các HĐcũng như huy động tối đa các lực lượng đã được tác giả Phạm Viết Vượng
viết như sau: "QL nhà trường là HĐ của các cơ quan QL nhằm tập hợp và
tổ chức các HĐ của GV, HS và các lực lượng GD khác, huy động tối đa các nguồn lực GD để nâng cao GD và đào tạo trong nhà trường [38]
Trang 23Vấn đề này được tác giả giáo sư Nguyễn Ngọc Quang bàn đến một cách
cụ thể hơn Ông viết: "QL nhà trường là tập hợp những tác động tối ưu
(cộng tác, tham gia, hỗ trợ, phối hợp, huy động, can thiệp ) của chủ thể QL đến tập thể GV, HS và các cán bộ khác Nhằm tận dụng các nguồn dự trữ do Nhà nước đầu tư, lực lượng xã hội đóng góp, do lao động xây dựng và vốn lao động có hướng vào việc đẩy mạnh mọi HĐ của nhà trường mà điểm hội
tụ là quá trình đào tạo thế hệ trẻ Thực hiện có chất lượng mục tiêu và kế hoạch đào tạo, đưa nhà trường tiến lên trạng thái mới".[27]
Nhấn mạnh về nguyên lý vận hành của nhà trường theo tác giả Phạm
Minh Hạc thì: "QL nhà trường là thực hiện đường lối GD của Đảng trong
phạm vi trách nhiệm của mình, tức là đưa nhà trường vận hành theo nguyên
lý GD, để tiến tới mục tiêu GD, mục tiêu đào tạo đối với ngành GD, với thế
hệ trẻ và từng học sinh" "Việc QL trường học phổ thông QLHĐ dạy học tức là làm sao đưa HĐ đó từ trạng thái này sang trạng thái khác để dần dần tiến tới mục tiêu GD [16]
Cùng hướng này theo tác giả Trần Kiểm thì: "QL trường học là thực
hiện đường lối của Đảng trong phạm vi trách nhiệm của mình, tức là đưa nhà trường vận hành theo nguyên lý GD, để tiến tới mục tiêu GD, mục tiêu đào tạo đối với ngành GD, với thế hệ trẻ và với từng học sinh".[21]
Đi sâu nghiên cứu về những tác động của chủ thể QL bên trong và bên
mgoài nhà trường giáo trình "QLGD và đào tạo" dùng để bồi dưỡng cán bộ
QL trường TH thì nêu rằng: QL nhà trường bao gồm hai loại tác động sau:+ Tác động của những chủ thể QL bên trên và bên ngoài trường đó lànhững tác động QL của các cơ quan QLGD cấp trên nhằm hướng dẫn và tạođiều kiện cho HĐ giảng dạy, học tập, GD của nhà trường; hoặc những chỉdẫn, những quyết định của các thực thể bên ngoài nhà trường nhưng có liênquan trực tiếp đến nhà trường như cộng đồng được đại diện dưới hình thứcHội khuyến học nhằm định hướng sự phát triển của nhà trường và hỗ trợ, tạođiều kiện cho việc thực hiện phương hướng phát triển đó
Trang 24+ Tác động của những chủ thể QL bên trong nhà trường (bao gồm cácHĐ: QL, GV, QL học sinh, QL quá trình dạy học GD, QL cơ sở vật chấttrang thiết bị trường học, QL tài chính trường học, QL quan hệ giữa nhàtrường và cộng đồng).
Như vậy, QL nhà trường là một HĐ được thực hiện trên cơ sở nhữngquy luật chung của QL, đồng thời có những nét riêng mang tính đặc thù của
GD Do đó QL nhà trường cần vận dụng tất cả các nguyên lý chung của QL
GD để đẩy mạnh mọi HĐ của nhà trường theo mục tiêu đào tạo
Mục đích của QL nhà trường là đưa nhà trường từ trạng thái đang cótiến lên một trang thái phát triển mới bằng phương thức xây dựng và pháttriển mạnh mẽ các nguồn lực phục vụ cho việc tăng cường chất lượng GD.Mục đích cuối cùng của QLGD là tổ chức quá trình GD có hiệu quả để đàotào lớp trẻ thông minh, sáng tạo, năng động, tự chủ, biết sống và phấn đấu vìhạnh phúc của bản thân và của xã hội
Tóm lại: Nhà trường là một thành tố cơ bản của hệ thống GD nên QLnhà trường cũng được hiểu như là một bộ phận của QLGD Thực chất của
QL nhà trường, suy cho cùng là tạo điều kiện cho các HĐ trong nhà trườngvận hành theo đúng mục tiêu, tính chất của nhà trường XHCN ở Việt Nam
* Quản lý trường tiểu học:
Hệ thống GD quốc dân của các nước trên thế giới đều có phân chiathành các bậc học Mỗi bậc học có đặc điểm riêng, một phương thức riêng;mỗi bậc học có mục tiêu GD, có nội dung và phương pháp tổ chức GD đặcthù phù hợp với đặc điểm tâm-sinh lý HS và yêu cầu của xã hội với bậc học
Trang 25Theo tiến sĩ Nguyễn Kế Hào thì các em HS ở lứa tuổi này có những đặcđiểm sau:* Mỗi HSTH là một chỉnh thể, một thực thể hồn nhiên.
* Mỗi HSTH tiềm tàng một khả năng phát triển
* Mỗi HSTH là một nhân cách đang hình thành
Trẻ em ở độ tuổi HSTH là một thực thể, chỉnh thể trọn vẹn nhưng chưađịnh hình, chưa hoàn thiện mà là thực thể đang lớn lên, đang phát triển ởmỗi trẻ em, các bộ phận, các cơ quan của cơ thể với chức năng riêng cũngphát triển không đều, không tạo được sự hài hoà cân đối ngay Về mặt tâm lýcũng vậy, các quá trình, các thuộc tính tâm lý cũng phát triển không đồngđều, chưa hoàn thiện, chưa hài hoà Có thể nói rằng, những gì con người cóthể có được, về cơ bản, còn đang ở phía trước các em, đang hứa hẹn trongquá trình phát triển của các em
Ba đặc điểm cơ bản trên tạo cho HSTH có tính chất dễ tiếp thu sự nuôidưỡng, sự GD, dễ thích nghi với điều kiện sống và học tập HSTH phát triểntheo hướng hình thành nhân cách, định hình và hoàn thiện dần con ngườimình theo hướng mục tiêu GD Chính vì vậy mà những gì ta đưa đến cho trẻphải được chọn lọc, bảo đảm sự đúng đắn và lành mạnh, phương pháp GDtrẻ cũng phải đúng, phải phù hợp với đặc điểm tâm sinh lý trẻ em
Qua các tài liệu nghiên cứu, qua thực tiễn cho thấy, trẻ em TH ngày nay
không phải chỉ có nhu cầu học 9 môn (theo chương trình quy định) mà các
em còn có mong muốn được tìm hiểu thêm về môi trường xung quanh, đượctham gia các HĐ tập thể, được làm quen với các phương tiện thông tin Ngoài những môn học chính khóa các em HS còn thích được học thêm cácmôn năng khiếu nghệ thuật, ngoại ngữ, tin học Cũng có nhiều HS muốnđược học hoặc tham gia đồng thời nhiều môn, nhiều HĐ Điều đó chứng tỏHSTH có nhu cầu đòi hỏi được phát triển toàn diện
* Mục tiêu của giáo dục tiểu học
Bậc TH có bản sắc riêng và có tính chất độc lập tương đối của nó vì nó
không bắt buộc phụ thuộc vào sự GD của bậc học trước nó (bậc học mầm
non) và các bậc học sau đó Mà ngược lại, các bậc học sau đó phụ thuộc rất
Trang 26nhiều vào hiệu quả GD của bậc TH Điều 27 của Luật GD đã chỉ rõ mục tiêu
của GDTH là: "GDTH nhằm giúp HS hình thành những cơ sở ban đầu cho
sự phát triển đúng đắn và lâu dài về đạo đức, trí tuệ, thể chết, thẩm mĩ và các kỹ năng cơ bản để HS tiếp tục học trung học cơ sở"
Như vậy có thể thấy: "Bậc TH tạo những cơ sở ban đầu rất cơ bản và
bền vững cho trẻ em tiếp tục học lên bậc học trên, hình thành những cơ sở ban đầu, đường nét ban đầu của nhân cách Những gì thuộc về tri thức và kỹ năng, về hành vi và tính người được hình thành và định mình ở HSTH sẽ theo suốt cuộc đời mỗi người (như chữ viết, như kỹ năng thực hiện phép tính, kỹ năng ứng xử trong cuộc sống hàng ngày )Những gì đã được hình thành và định hình ở trẻ em rất khó thay đổi, khó cải tạo lại Đặc điểm này đòi hỏi sự chuẩn xác với tính khoa học và tính nhân văn cao ở một nền GD,
ở nhà trường, ở mỗi GV và mỗi cán bộ QLGD [29]
* Vị trí, nhiệm vụ của trường tiểu học
Trường TH có vị trí và nhiệm vụ đặc biệt quan trọng trong sự nghiệp
"trồng người" Trường TH lần đầu tiên tác động đến trẻ em bằng hình thức nhà trường (bao gồm cả nội dung, phương pháp và tổ chức GD) Trường TH
là nơi đầu tiên tổ chức một cách tự giác HĐ học với tư cách là HĐ chủ đạocho trẻ em cũng như tổ chức một cách tự giác các HĐ khác cho học sinh.Nói cách khác, nhà trường TH là nơi tổ chức một cách tự giác quá trình pháttriển của trẻ em Trường TH là đơn vị cơ sở, là công trình văn hoá - GD bềnvững hấp dẫn các lớp trẻ em, là nơi tạo cho trẻ em hạnh phúc được đi học.Điều 3 trong Điều lệ trường TH đã chỉ rõ nhiệm vụ cơ bản của trường
- QL,GV, nhân viên và học sinh
Trang 27- QL sử dụng đất đai, trường sở, trang thiết bị và tài chính theo quy địnhcủa pháp luật.
- Phối hợp với gia đình học sinh, tổ chức và cá nhân trong cộng đồngthực hiện các HĐGD
- Tổ chức cho GV, nhân viên và HS tham gia các HĐ trong phạm vicộng đồng
- Thực hiện các nhiệm vụ và quyền hạn khác theo quy định của phápluật
*Đặc điểm của giáo viên tiểu học
Nghề dạy học ở bậc TH có những điểm giống với nghề dạy học ở cácbậc học khác nhưng lại có những đặc thù riêng về mặt sư phạm mà ngườigiáo viên ở các bậc học khác không được đào tạo hoặc không có được Các
em HS ở độ tuổi này có quy luật phát triển tâm- sinh lý riêng Đây là lứa tuổiđang tiềm ẩn những khả năng phát triển rất lớn Do vậy thầy giáo phải cótình thương yêu, lòng tin và sự tôn trọng đối với trẻ em, đối xử công bằng,dân chủ, lạc quan và tế nhị trong cách ứng xử, mềm dẻo nhưng lại kiênquyết
Như vậy HĐ sư phạm của người giáo viên TH gồm có: HĐ dạy,HDGD, HĐ tự hoàn thiện CM, nghiệp vụ và HĐ xã hội
Từ cách nhìn nhận về người giáo viên TH trên đây có thể thấy lao độgncủa người giáo viên TH có những đặc điểm riêng, họ là những giáo viênvới
tư cách "ông thầy tổng thể" trong HĐ dạy học Người GVTH không phải chỉ
"dạy chữ" mà phải thực hiện mục tiêu "dạy chữ" trong mục tiêu "dạy người",
phải rèn cho trẻ bắt đầu hình thành tính cách con người Những đặc điểm đólà:
- Đối tượng GD là trẻ em đang ở lứa tuổi hồn nhiên, hiếu động
- Công cụ lao động của người GV là trí tuệ và phẩm chất của chínhmình Người GV dùng trí tuệ và nhân cách của mình để tác động vào đốitượng mà trí tuệ, nhân cách còn đang non trẻ đang cần hình thành và rènluyện Công cụ này sẽ tác động có hiệu quả khi người thầy có uy tín cao về
Trang 28phẩm chất và năng lực Hay nói cách khác là nếu đức và tài của thầy giáocàng cao thì sức thuyết phục HS càng lớn.
- Lao động của người giáo viên có ý nghĩa chính trị và kinh tế to lớn vìgiáo viên tạo ra sức lao động mới trong từng con người nhờ quá trình phứctạp, tinh tế và công phu
- Lao động của người giáo viên đòi hỏi tính khoa học, tính nghệ thuật
và tính sáng tạo
Tóm lại, lao động của người giáo viên, đặc biệt là người giáo viênTH là
một loại hình lao động đặc thù mang tính "khai sáng" cho con người, từng
bước cải thiện con người tự nhiên thành con người xã hội
* Đặc điểm hoạt động quản lí nhà trường tiểu học
Do các đặc thù riêng của nhà trường TH như trên nên ngoài những trithức về kinh tế, xã hội học, GD học, QL hành chính một cơ sở v.v thìngười QL trường TH đòi hỏi phải có những tri thức về: đặc điểm của nhàtrường TH, tâm lý học bậc TH, đặc điểm lao động của người GVTH ; đồngthời phải có kỹ năng giao tiếp và ứng xử với đa dạng các lớp người như: GV,học sinh, phụ huynh, các nhân vật trong cộng đồng có quan hệ trực tiếp hoặcgián tiếp với nhà trường
QL trường TH là quá trình sư phạm diễn ra trong nhà trường TH bằng
cách sử dụng có hiệu quả nhất các đầu vào (cơ sở vật chất, tài chính, nguồn
nhân lực, khoa học công nghệ) để đạt kết quả GD có chất lượng cao nhất khi
sử dụng các phương pháp, phương tiện hiện đại hợp lý và phù hợp vớicácquy luật tâm lý, quy luật GD học để tiến hành việc biến đổi đối tượng GD
từ chưa biết đến biết
Như vậy việc QL nhà trường nói chung, QL trường TH nói riêng phảiđược giao vào tay các nhà QL có tầm nhìn xa và đặc biệt có khả năng tạo giátrị Họ là những người có tư duy sư phạm sâu sắc, biết khuyến khích các giáoviên trong trường phát huy tiềm năng sáng tạo trong HĐ sư phạm của mỗingười; biết tạo lập và nuôi dưỡng, duy trì, phát triển hệ thống các giá trị GD,
Trang 29tương hợp với các giá trị xã hội và ở một mặt nào đó chuẩn bị cho những giátrị xã hội mới.
1.3 Tổ chuyên môn và hoạt động của tổ chuyên môn
1.3.1 Tổ chuyên môn
Theo Quyết định 22/2000/QĐ-BGD&ĐT của Bộ trưởng Bộ GD&ĐT ra
ngày 11/7/2000 "về việc ban hành Điều lệ trường TH" thì ở Điều 16 có nêu rõ:"GV trường TH được tổ chức thành tổ CM theo khối lớp hoặc liên khối
lớp Tổ CM có tổ trưởng và từ một đến hai tổ phó do HT cử".
Cũng trong Điều 16 còn nêu rõ những nhiệm vụ của tổ CM như sau:Xây dựng kế hoạch HĐ chung của tổ, hướng dẫn xây dựng và QL kếhoạch cá nhân của tổ viên theo kế hoạch dạy học, phân phối chương trình vàcác quy định khác của Bộ GD&ĐT
- Tổ chức bồi dưỡng CM nghiệp vụ, kiểm tra, đánh giá chất lượng, hiệuquả giảng dạy và GD của GV theo kế hoạch của nhà trường
- Đề xuất khen thưởng kỷ luật đối với GV
- Giúp HT chỉ đạo các HĐGD khác
- Tổ CM sinh hoạt hai tuần một lần
Như vậy có thể nói tổ CM trong nhà trường TH là đơn vị cơ sở cơ bản
để thực hiện mọi chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng, Nhà nướccũng như của Bộ GD, Sở GD, Phòng GD, địa phương và của nhà trường HĐcủa tổ CM có vai trò quyết định đến chất lượng GD của nhà trường Chính vìvậy nếu HTQL tốt HĐ của tổ CM trong nhà trường thì sẽ nâng cao chấtlượngGD của trường
1.3.2 Hoạt động của tổ chuyên môn
Tổ chuyên môn là nơi trực tiếp thực hiện mọi chủ trương, đường lối,chính sách của Đảng, Nhà nước của Bộ Giáo dục và Đào tạo, của Sở Giáodục, của địa phương, của nhà trường về giáo dục, là nơi trực tiếp thực hiệnmọi qúa trình chỉ đạo đổi mới phương pháp để nâng cao chất lượng dạy và
Trang 30học trong nhà trường Vì vậy hiệu trưởng quản lý tốt hoạt động của tổchuyên môn thì sẽ nâng cao chất lượng dạy và học trong nhà trường
Căn cứ vào những nhiệm vụ của tổ chuyên môn như trình bày ở trên,hoạt động của tổ chuyên môn sẽ là những hoạt động nhằm quản lý và pháttriển chuyên môn của các thành viên trong tổ Đó là những hoạt động:
1 Lập kế hoạch hoạt động và nội dung sinh hoạt của tổ
2 Tổ chức bồi dưỡng thường xuyên về chuyên môn, nghiệp vụ cho cácthành viên trong tổ nhằm phát triển nguồn nhân lực cho tổ
3 Kiểm tra, đánh giá hoạt động chuyên môn của cá nhân trong tổ
4 Tổ chức các hoạt động ngoài giờ lên lớp có liên quan đến chuyênmôn
5 Đánh giá, bình bầu thi đua giữa các cá nhân trong tổ theo các tiêuchí:soạn bài, thực hiện chương trình, thực hiện quy chế chuyên môn, tự học,
tự bồi dưỡng,
1.3.3 Tổ trưởng chuyên môn
Trực tiếp điều hành, theo dõi các HĐ trên của tổ CM là người tổ trưởng
CM Tổ trưởng CM chịu trách nhiệm trước HT về kết quả HĐCM của tổmình phụ trách Do vậy tổ trưởng CM bao giờ cũng là người có năng lực
CM, nghiệp vụ vững nhất trong tổ và cũng là người có phẩm chất đạo đứctốt, có khả năng QL tốt, đặc biệt là người có uy tín cao trong tập thể nhàtrường và tập thể tổ Vì thế công việc của người tổ trưởng CM phải thực hiệnlà:
- Xây dựng kế hoạch hoạt động của tổ và hướng dẫn các tổ viên xâydựng kế hoạch HĐCM của cá nhân
- Chỉ đạo, đôn đốc và giám sát các khâu: soạn, giảng, chấm, chữa, bồidưỡng HS, viết sáng kiến kinh nghiệm
- Lên chương trình giảng dạy trong tuần cho tổ cũng như chương trìnhbồi dưỡng học sinh giỏi, phụ đạo học sinh yếu kém của tổ
Trang 31- Thường xuyên chỉ đạo và giám sát các khâu: soạn, giảng, chấm, chữa
và đánh giá xếp loại học sinh của từng thành viên trong tổ theo đúng các vănbản chỉ đạo của ngành
- Tổ chức sinh hoạt tổ CM hàng tuần một cách có hiệu quả
- Tham gia đoàn thanh kiểm tra toàn diện GV cũng như kiểm trachuyên đề theo quyết định của HT nhà trường
Tóm lại: Tổ trưởng CM chính là cầu nối giữa GV với HT, giúp HTQLtốt HĐCM, nâng cao chất lượng GD của trường
1.4 Hiệu trưởng và việc quản lý hoạt động của tổ chuyên môn
1.4.1 Hiệu trưởng
Điều 54 luật giáo dục năm 2005, khoản 1 có ghi:"HT là người chịu trách
nhiệm QL cácHĐ của nhà trường, do cơ quan Nhà nước có thẩm quyền bổ nhiệm công nhận".[29]
Như vậy, người HT là người đại diện nhà trường thực hiện chức trách
về hành chính trước cơ quan QL trực tiếp với trường TH đó là Uỷ ban nhândân quận (huyện) Để thực hiện chức trách được giao, người HT phải làngười có phẩm chất chính trị, đạo đức tốt, có trình độ CM, nghiệp vụ sưphạm vững vàng, có năng lực QL nhà trường tốt; đảm bảo về sức khoẻ vàđặc biệt là người được tập thể sư phạm nhà trường tín nhiệm
Trong xu thế phát triển xã hội hiện tại, đòi hỏi GD phải đổi mới để đápứng yêu cầu của xã hội thì người HT còn cần phải năng động, nhanh nhạy để
nắm bắt những cơ hội (bên trong cũng như bên ngoài nhà trường) để có thể
tạo điều kiện cho nhà trường xây dựng môi trường sư phạm ngày một tốt hơngóp phần đưa chất lượng GD của nhà trường tiến tới mục tiêu GD toàn diệnnhanh hơn
Để có được điều đó, người HT phải không ngừng học hỏi, suy nghĩ, đầu
tư nghiên cứu để tìm ra được những biện pháp tối ưu giúp cho việc QL nhàtrường có hiệu quả nhất, phù hợp với yêu cầu của xã hội là đào tạo người laođộng mới - lao động có trí tuệ cao
Trang 32Vì vậy mà điều 18 của Điều lệ của trường TH quy định rất rõ:
- HT trường TH là người chịu trách nhiệm QL các HĐ của nhà trường
do Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp huyện (quận) bổ nhiệm đối với trườngcông lập, bán công; công nhận đối với trường dân lập, theo đề nghị củaTrưởng Phòng GD&ĐT
HT trường TH được bổ nhiệm theo nhiệm kỳ 5 năm và không quá 2năm nhiệm kỳ liên tục tại cùng một trường
- HT trường TH phải có thời gian dạy ít nhất 5 năm ( không kể thời gian
tập sự) ở bậc TH hoặc ở bậc học cao hơn và được tín nhiệm về chính trị, đạo
đức và CM, có năng lực QL trường học, có sức khoẻ
- HT trường TH có nhiệm vụ và quyền hạn sau đây:
+ Xây dựng và tổ chức thực hiện kế hoạch năm học
+ Tổ chức bộ máy của trường; thành lập và cử tổ trưởng các tổ CM, tổhành chính - quản trị; thành lập và cử chủ tịch các Hội đồng trong nhàtrường
+ Phân công, QL, kiểm tra công tác của giáo viên, nhân viên; đề nghịvới Trường Phòng GD&ĐT về quyết định tuyển dụng, thuyên chuyển, đề bạtgiáo viên, nhân viên của trường; khen thưởng, thi hành kỷ luật đối với giáoviên, nhân viên theo quy định của Nhà nước
+ QL hành chính, tài chính, tài sản của nhà trường
+ Tổ chức thực hiện quy chế dân chủ trong nhà trường
+ QLHS và các HĐ của HS do nhà trường tổ chức; nhận HS vào học,giới thiệu HS chuyển trường; quyết định khen thưởng, kỷ luật HS; xét duyệtkết quả đánh giá, xếp loại học sinh, danh sách HS lên lớp, ở lại lớp
+ Được dự các lớp bồi dưỡng về chính trị, CM và nghiệp vụ QL trườnghọc; được hưởng cácquyền lợi của HT theo quy định
Từ nhiệm vụ và quyền hạn của HTTH ta có thể thấy được nội dung QLnhà trường của người HTTH bao gồm:
* Quản lý hoạt động dạy học
Trang 33Trong trường học, HĐ dạy học là một HĐ trung tâm Thưc chất quản lýnhà trường cũng chính là quản lý hoạt động dạy học (như đã phân tích ở mục
1.2.3 ở trên) Tác giả Nguyễn Ngọc Quang trong tác phẩm Những khái niệm
cơ bản về lý luận QLGD" đã viết: "về thực chất, QL trường học là QL quá trình dạy học" Có thể nói, mọi nội dung quản lý khác của người HT đều
nhằm phục vụ cho việc quản lý hoạt động dạy học đạt kết quả tốt
Hoạt động dạy học cũng chính là hoạt động chuyên môn quan trọngnhất trong nhà trường Chính vì thế HT quản lý hoạt động dạy học cũngchính là quản lý một mảng hoạt động chuyên môn cơ bản nhất của nhàtrường
Quá trình dạy học là tập hợp những hành động của hai chủ thể: GV vàhọc sinh Trong đó, giáo viên giữ vai trò chủ đạo để tổ chức, hướng dẫn vàđiều khiển, còn HS giữ vai trò chủ động lĩnh hội tri thức, rèn luyện kỹ năng
kỹ xảo và những thái độ hành vi tốt đẹp Bản chất của quá trình dạy học là sựthống nhất biện chứng của dạy và học, nó được thực hiện trong và bằng sựtương tác có tính cộng đồng, hợp tác giữa dạy và học, tuân theo lô gíc kháchquan của nội dung dạy học
Một trong những QL trung tâm của HT là QL quá trình dạy học, người
HT phải QL tốt việc dạy và học thì mới nâng cao được chất lượng GD củanhà trường
* Quản lý các điều kiện dạy học
- QL nhân lực: Là việc bố trí sắp xếp đội ngũ cán bộ GV nhân viêntrong trường một cách hợp lý, sao cho mỗi người đều có điều kiện phát huyhết khả năng của mình HT muốn thực hiện tốt các chức năng QL thì cân xâydựng bộ máy tham mưu giúp việc có hiệu quả từ các Phó HT đến các tổtrưởng CM; đồng thời thực hiện biện pháp uỷ quyền, giao việc hợp lý đểnhững người dưới quyền có cơ hội phát huy được năng lực cá nhân của mìnhnhư tính độc lập, tự chủ, sáng tạo mà vẫn đảm bảo hiệu quả công việc chung
- QL nguồn lực: Bao gồm tài lực và vật lực, đây là điều kiện rất quantrọng trong mọi HĐ của nhà trường Người HT phải biết khai thác, huy động
Trang 34và sử dụng hợp lý, đúng nguyên tắc tài chính các nguồn kinh phí của nhàtrường phục vụ cho các HĐGD Có kế hoạch đầu tư, mua sắm trang thiết bịphụ vụ dạy và học, xây dựng cơ sở vật chất nhà trường để có môi trường sư
phạm lành mạnh, đảm bảo "trường ra trường, lớp ra lớp" tiến tới đạt "trường
chuẩn quốc gia".
- QL công tác hành chính - quản trị: Chỉ đạo công tác hành chính - quảntrị trong nhà trường là một HĐ không thể thiếu của người HT Làm tốt côngtác này là người HT đã xây dựng tốt kỷ cương, nền nếp làm việc của mọi bộphận, mọi thành viên trong nhà trường Muốn vậy người HT cần tổ chức
thực hiện tốt "quy chế dân chủ trong trường học" Đó là muốn xây dựng được
một quy chế làm việc của nhà trường trên cơ sở các văn bản pháp quy củaNhà nước cũng như của ngành, trong đó chỉ rõ nhiệm vụ và quyền hạn củatừng thành viên trong trường, có tiêu chuẩn thi đua, quy định thưởng phạt rõràng Có như vậy mới tạo được điều kiện thuận lợi cho mọi thành viên trongtrường hoàn thành nhiệm vụ của mình
- QL công tác xã hội hoá GD: Xã hội hoá GD là một chủ trương lớn củaĐảng, góp phần tích cực vào việc nâng cao chất lượng GD&ĐT của nhàtrường Vì vậy đòi hỏi HT phải có tầm nhìn xa để làm tốt công tác tham mưukịp thời với lãnh đạo các cấp về những vấn đề có liên quan đến GD của nhàtrường trong những năm và nhiều năm tiếp theo như: Công tác phổ cập GD,công tác xây dựng trường chuẩn quốc gia Đặc biệt phải xây dựng và tạođiều kiện cho Hội cha mẹ HS nhà trường HĐ, tham gia vào việc QLGD họcsinh Thường xuyên chỉ đạo đội ngũ GV làm tốt công tác tuyên truyền trongHội cha mẹ học sinh, giúp mọi người thấy rõ hơn nghĩa vụ và quyền lợi củamình trong việc tham gia cùng với nhà trường GD con em mình nói riêng vàcông tácGD ở địa phương nói chung
* Quản lý môi trường giáo dục:
Mục tiêu cơ bản của GD phổ thông nói chung và của GDTH nói riêng
là hình thành và phát triển nhân cách toàn diện cho học sinh Vì vậy cần tạomọi điều kiện để HS được học tập và rèn luyện trong môi trường GD tốt
Trang 35nhất Điều này đòi hỏi HT phải thường xuyên quan tâm chỉ đạo việc tổ chứccác HĐGD khác trong nhà trường, có sự phối hợp của các đoàn thể, các tổchức trong và ngoài nhà trường để tạo cho nhà trường luôn có một bầukhông khí vui tươi, thoải mái, lôi cuốn HS đến với nhà trường Đó là các HĐ
ngoài giờ lên lớp (ngoài HĐ chủ đạo là dạy học) như HĐ Đoàn đội, tham gia
học tập, tham gia các cuộc thi do các ban ngành tổ chức theo chủ điểm nămhọc hoặc theo các chuyên đề, các phong trào có liên quan đến GD nhân cáchcho HSTH Bởi vì thông qua cácHĐ đó HS được củng cố thêm về các chuẩnmực đạo đức đã được học trong chương trình; đồng thời góp phần bồi dưỡngcho các em tính chủ động, sáng tạo và tình cảm thẩm mỹ, thêm yêu trườnglớp cũng như bạn bè và người thân Đó chính là những phẩm chất đạo đứccủa người lao động mới mà xã hội đặt ra cho ngành GD phải thực hiện đượctrong nhà trường
* Quản lý công tác kiểm tra, đánh giá:
Kiểm tra đánh giá là một chức năng không thể thiếu của QL Sở dĩHĐQL của người HT cần có nội dung kiểm tra đánh giá vì: Kiểm tra, đánhgiá nhằm phát hiện ra cácmối liên hệ ngược, phản ánh hiệu quả của các quyđịnh, các kế hoạch, nội dung, phương pháp GD đã được triển khai có khảnăng thực thi hay không hoặc thực thi ở mức độ nào? Đồng thời cũng pháthiện ra nguyên nhân của việc thực hiện tốt hay thực hiện chưa tốt để HT tìm
ra được biện pháp phát huy (cái tốt) hoặc khắc phục kịp thời (cái chưa tốt)
Kiểm tra, đánh giá nhằm tác động đến hành vi của con người, nâng caotinh thần trách nhiệm của mọi thành viên trong nhà trường với nhiệm vụđược giao Qua việc kiểm tra, đánh giá, HT sẽ phát huy được vai trò của việcđộng viên khen thưởng, khích lệ tính tích cực của con người, nhằm làm cho
bộ máy nhà trường vận hành tốt hơn, hiệu quả hơn Như vậy muốn kiểm tra,đánh giá chính xác HT phải chú ý thu thập, nắm bắt các thông tin một cách
có hệ thống, khách quan, bộc lộ dấu hiệu bản chất của sự việc, có độ tin cậycao
Trang 36Tóm lại: Bốn nội dung QL nhà trường nêu trên của người HT có mốiquan hệ mật thiết, hỗ trợ và thúc đẩy lẫn nhau, trong đó nội dung QLHĐ dạyhọc là nội dung trọng tâm, các nội dung khác đều là tạo điều kiện cho nộidung này thực hiện có hiệu quả Mối quan hệ đó có thể minh hoạ bằng sơ đồdưới đây
Hình 4: Mối quan hệ giữa các nội dung quản lý của hiệu trưởng.
1.4.2 Hiệu trưởng quản lý hoạt động tổ chuyên môn
Hoạt động chuyên môn là hoạt động quan trọng của nhà trường, thựchiện công tác quản lý hoạt động tổ chuyên môn góp phần thực hiện mục tiêucủa nhà trường Hiệu trưởng bố trí, sắp xếp tổ chức bộ máy, phân côngnhiệm vụ cho giáo viên theo các tổ chuyên môn, quản lý hoạt động của tổchuyên môn bao gồm các nhiệm vụ sau:
- Quản lý, chỉ đạo việc lập kế hoạch hoạt động giảng dạy của từng giáoviên và của cả tổ Kế hoạch thực hiện đổi mới giáo dục phổ thông, đổi mớinội dung, phương pháp dạy học
- Quản lý việc lập kế hoạch, tổ chức bồi dưỡng và tự bồi dưỡng cho giáoviên nhằm nắm vững, hiểu rõ ý đồ nội dung sách giáo khoa môn mình phụtrách, cũng như những kiến thức nâng cao đáp ứng yêu cầu
QL MÔI TRƯỜNG GIÁO DỤC
QL ĐIỀU KIỆN DẠY HỌC QL KIỂM TRA, ĐÁNH GIÁ
QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC
Trang 37- Quản lý việc lập kế hoạch, phương án tổ chức các chuyên đề, nâng caonăng lựcc sư phạm cho các thành viên trong tổ, tổ chức thao giảng, thi giáoviên dạy giỏi nhằm nâng cao trình độ tay nghề cho các thành viên.
- Chỉ đạo tổ trưởng quản lý các thành viên trong tổ, giám sát lẫn nháu vềviệc sử dụng thiết bị đồ dùng dạy học, việc soạn bài, kiểm tra, đánh giá chođiểm, xếp loại học sinh, thực hiện quy chế chuyên môn đúng quy định
- Quản lý việc tham gia viết sáng kiến kinh nghiệm, để ứng dụng tronggiảng dạy nhằm đẩy mạnh phong trào thi đua “hai tốt” trong nhà trường củacác tổ chuyên môn
- Quản lý các tổ chuyên môn tham gia vào các hoạt động chung của nhàtrường như: Công tác giáo dục ngoài giờ lên lớp, công tác phổ cập, công tác
xã hội hoá giáo dục…
Để làm tốt nhiệm vụ này, hiệu trưởng nhà trường luôn phải phấn đấu rènluyện, am hiểu về nội dung, chương trình của các học mà mình phải chỉ đạo,nẵm vững được đặng trưng phương pháp của từng bộ môn, thường xuyênphải cập nhật kiến thức về đổi mới phương pháp, đổi mới nội dung chươngtrình, thực sự là con chim đầu đàn trong tập thể sư phạm nhà trường, từ đó
có những giải pháp chỉ đạo tổ chuyên môn hoạt động có hiệu quả, giúp chotừng thành viên trong hội đồng nhà trường hoàn thành nhiệm vụ Đồng thờiđòi hỏi người hiệu trưởng phải có năng lực tổ chức, điều hành để đội ngũ tổtrưởng chuyên môn thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của tổ chuyên môn, từ đónâng cao chất lượng hoạt động của tổ chuyên môn, góp phần nâng cao chấtlượng giáo dục của nhà trường
Trang 38Hình 5: Sơ đồ quản lý hoạt động tổ chuyên môn trong nhà trường
1.4.3 Biện pháp quản lý hoạt động tổ chuyên môn
1.4.3.1 Biện pháp
Theo Từ điển Tiếng Việt do nhóm biên soạn Nguyễn Ngọc Bích, TrầnThu Hằng, Chu Anh Tuấn, Quang Uý, Quang Minh – Nhà xuất bản Từ điểnBách khoa – Hà Nội – 2005
Biện pháp: Cách hành động lựa chọn sao cho phù hợp với mục đích.Biện pháp tích cực là phòng bệnh, bất đắc dĩ mới chữa bệnh
Biện pháp: Hành động có cơ sở pháp lý hay dựa trên một quyền lực.Biện pháp thi hành kỷ luật
1.4.3.2 Biện pháp quản lý
Là tổ hợp các cách thức tiến hành của chủ thể quản lý nhằm tác độngđến đối tượng quản lý để đạt được mục tiêu quản lý
1.4.3.3 Biện pháp quản lý hoạt động tổ chuyên môn của hiệu trưởng
Định nghĩa biện pháp quản lý hoạt động tổ chuyên môn: Là tổ hợp tácđộng có định hướng của hiệu trưởng đến đối tượng quản lý, nhằm đưa hoạtđộng giáo dục của nhà trường đạt đến mục tiêu giáo dục dã định
Ban giám hiệu(Hiệu trưởng)
Tập thể giáo viên
Nhiệm vụ dạy học
Tổ trưởng tổ 2
Tổ trưởng tổ 1
Trang 39Để quản lý tổ hoạt động của tổ chuyên môn, hiệu trưởng có thể sử dụngcác biện pháp sau:
- Quản lý kế hoạch hoạt động tổ chuyên môn
- Quản lý nội dung sinh họat tổ chuyên môn
- Quản lý việc thực hiện nội dung, chương trình và phương pháp giảngdạy theo quy định của Bộ giáo dục & Đào tạo
- Quản lý việc thực hiện đổi mới chương trình giáo dục phổ thông
- Quản lý việc kiểm tra, đánh giá học sinh của tổ chuyên môn
- Quản lý việc tự học, tự bồi dưỡng giáo viên của tổ chuyên môn
- Quản lý việc sử dụng thiết bị dạy học của tổ chuyên môn
- Quản lý hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp, giáo dục hướng nghiệp
- Quản lý việc kiểm tra, đánh giá thực hiện kế hoạch chuyên môn
Tuy nhiên, trong thời kỳ đổi mới của đất nước, việc "mở cửa" và "hội
nhập" là cần thiết, người HT cũng rất cần phải thường xuyên cập nhật cho
mình những thông tin mới nhất về các thành tựu GD của các nước trên thếgiới, trong khu vực và ở những trường điển hình tiên tiến trong nước cũngnhư ở địa phương để có thể vận dụng linh hoạt vào công tác QL nhà trườngcủa bản thân
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1
Quản lý đã và đang khẳng định vai trò của nó trong mọi mặt của đờisống xã hội Quản lý nói chung vàn quản lý nhà trường nói riêng, đặc biệt lànhà trường tiểu học đòi hỏi người hiệu trưởng phải nắm thật vững những vấn
đề cơ bản về khoa học quan lý nói chung và quản lý nhà trường tiểu học nóiriêng Đó là các khái niệm về quản lý, quản lý giáo dục, quản lý nhà trườngtiểu học; nhiệm vụ quyền hạn của người hiệu trưởng trường tiểu học, đặcđiểm cơ bản của HS tiểu học, công việc của người GV tiểu học, nhiệm vụcủa tổ chuyên môn và của tổ trưởng chuyên môn Đồng thời cũng đòi hỏihiệu trưởng phải không ngừng học hỏi để nâng cao trình độ, trau dồi chomình năng lực QL nhà trường Trên cơ sở đó vận dụng một cách linh hoạt,sáng tạo trong QL hoạt động tổ chuyên môn của trường mình nhằm thựchiện được mục tiêu GD đã đề ra
Trang 40Chương 2 THỰC TRẠNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ CỦA HIỆU
TRƯỞNG ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG TỔ CHUYÊN MÔN CÁC TRƯỜNG TIỂU HỌC HUYỆN TỨ KỲ - HẢI DƯƠNG
2.1 Khái quát tình hình kinh tế, chính trị - xã hội và sự nghiệp giáo dục của huyện Tứ Kỳ - Hải Dương.
2.1.1 Vị trí địa lý
Huyện Tứ Kỳ nằm ở phía Đông Nam của tỉnh Hải Dương, chạy dài25km từ xã Ngọc Sơn (giáp thành phố Hải Dương) ở phía Bắc đến thôn HữuChung xã Hà Thanh ở phía Nam (giáp huyện Vĩnh Bảo - Hải Phòng ngăncách bởi sông Luộc); phía Đông giáp với huyện Thanh Hà ngăn cách bởisông Thái Bình; phía Tây giáp huyện Gia Lộc; phía Tây - Nam giáp huyệnNinh Giang
Vị trí địa lý của huyện tạo thuận lợi cho việc giao lưu phát triển kinh tế,
xã hội Chạy dọc huyện là tuyến đường tỉnh 191 mới được nâng cấp Tuyếnđường này giúp cho việc giao thông từ huyện đến thành phố Hải Dương ởphía Tây Bắc và đến quốc lộ 10 ở phía Nam rất thuận tiện
Giao thông từ các xã trong huyện sang huyện Gia Lộc, Ninh Giang ởphía Tây, Tây Nam rất dễ dàng Riêng ở phía Đông ngăn cách với huyệnThanh Hà bởi sông Thái Bình, thuận lợi cho việc khai thác giao thông đườngthuỷ, mở các bến, bãi
Tổng diện tích đất tự nhiên của huyện là 170,066 km2 (Phụ lục số 2,kèm theo thống kê diện tích đất tự nhiên và số dân của từng xã, thị trấn).Diện tích đất nông nghiệp 115,7 km2, đất ở 14,11 km2, đất mặt nướcchuyên dùng 13,16 km2
Trên địa bàn huyện có hai con sông lớn chảy qua, ngoài sông Thái Bìnhdài 31,7 km còn có sông Luộc dài 10,3 km Hai con sông này tạo cho huyện