1. Trang chủ
  2. » Kỹ Thuật - Công Nghệ

ĐỒ án tìm HIỂU NHỮNG vấn đề LIÊN QUAN THỬ NGHIỆM ĐỘNG cơ

292 476 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 292
Dung lượng 18,6 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Thử nghiệm động cơ còn giúp đánh giá mức độ hoàn thiện của các sản phẩm được sửdụng trên động cơ như: các loại dầu mỡ bôi trơn, các sản phẩm dùng trong hệ thống làmmát, nhiên liệu.vv… Ng

Trang 1

TRƯỜNG ĐH SƯ PHẠM KỸ THUẬT TP.HCM

KHOA CƠ KHÍ ĐỘNG LỰC

BỘ MÔN ĐỘNG CƠ

NHIỆM VỤ ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP

TÊN ĐỀ TÀI:

Tìm hiểu những vấn đề liên quan đến thử nghiệm động cơ

Sinh viên thực hiện : Trần Năng Phát Huy MSSV: 10605010

Nguyễn Tấn Ngọc MSSV: 10105173 Giảng viên hướng dẫn: GVC.ThS Đỗ Quốc Ấm

I NỘI DUNG:

Nghiên cứu những vấn đề liên quan đến việc thử nghiệm động cơ

II TÀI LIỆU THAM KHẢO:

[1] GVC-ThS Đỗ Quốc Ấm, Giáo trình thử nghiệm động cơ(2007)

[2] Michael Plint - Anthony John Martyr, Engine Testing: Theory and Pratice (2006)

[3] Richard D Atkins, An Introduction to Engine Testing and Development (2009).[4] Tham khảo trên Internet

Tp Hồ Chí Minh, ngày tháng năm 2014

Trang 2

LỜI NÓI ĐẦU

Ngày nay, ô tô đang dần trở nên phổ biến ở Việt Nam Đồng thời, Thủ tướng đã phêduyệt chiến lược phát triển ngành ô tô Việt Nam, đặt mục tiêu năm 2025, 70% xe đượclắp ráp và sản xuất trong nước Điều này đòi hỏi cơ sở hạ tầng phục vụ nghiên cứu và sảnxuất ngành công nghiệp ô tô nước ta cần phải được nâng cao Trái tim của chiếc xe chính

là động cơ Để sản xuất ra được một động cơ đạt mọi tiêu chuẩn cần thiết thì phải thôngqua thử nghiệm Thử nghiệm động cơ là phần rất quan trọng trong quá trình sản xuất vànghiên cứu động cơ Việc thử nghiệm động cơ sẽ giúp ta đánh giá được các ưu điểm vànhược điểm của động cơ, cải thiện chất lượng và giá thành sản xuất

Nhưng thực tế cho thấy, khả năng hiểu biết về một phòng thử nghiệm bao gồmnhững hệ thống gì? hay quy trình làm việc của nó như thế nào? Phương pháp thu thập và

xử lý dữ liệu? Vẫn còn là điều hạn chế cho ngành công nghiệp ô tô nước ta Chính vì lí

do này, nhóm chúng em quyết định chọn đề tài: “ Tìm hiểu những vấn đề liên quan đến thử nghiệm động cơ ” để làm rõ những câu hỏi trên

I Giới hạn đề tài:

Tìm hiểu tổng quan về phòng thử nghiệm

II Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu:

− Tìm hiểu những vấn đề liên quan đến việc thử nghiệm động cơ

III Phương pháp nghiên cứu:

Phương pháp tham khảo, phân tích tài liệu, thu thập các thông tin liên quan

IV Các bước thực hiện:

− Tham khảo tài liệu

− Thu thập thông tin

− Xử lý thông tin

− Sắp xếp và viết báo cáo

V Kế hoạch nghiên cứu:

Đề tài được thực hiện trong vòng 12 tuần

Giai đoạn 1:

− Thu thập tài liệu

− Xác định nhiệm vụ, đối tượng nghiên cứu

− Xác định mục tiêu nghiên cứu

− Phân tích tài liệu

Giai đoạn 2:

− Viết thuyết minh

Trang 3

− Hoàn thiện đồ án

Giai đoạn 2:

− Viết thuyết minh

− Hoàn thiện đồ án

Trang 4

Một lần nữa nhóm chúng em xin gởi lời cám ơn chân thành nhất đến thầy GVC.ThS.

ĐỖ QUỐC ẤM và quý thầy trong khoa cơ khí động lực đã tận tình hướng dẫn và chỉ dạycho chúng em hoàn thành tốt đồ án

Tp Hồ Chí Minh, ngày 25 tháng 07 năm 2014 Sinh viên thực hiện

Trần Năng Phát Huy Nguyễn Tấn Ngọc

Trang 5

NHẬN XÉT CỦA GIẢNG VIÊN HƯỚNG DẪN



Tp Hồ Chí Minh, ngày … tháng năm 2014

Giảng viên hướng dẫn

Trang 6

NHẬN XÉT CỦA GIẢNG VIÊN PHẢN BIỆN



Tp Hồ Chí Minh, ngày … tháng năm 2014

Giảng viên phản biện

Trang 7

MỤC LỤC

Chương 1: MỞ ĐẦU

Trang 8

Chương 1:

MỞ ĐẦU I.1 Các khái niệm chung về thử nghiệm động cơ

Quá trình đưa một loại động cơ mới vào sản xuất ổn định đều phải trải qua hai giaiđoạn chính là thiết kế và thử nghiệm (chế thử, chạy thử) để rút ra những điểm cần hoànchỉnh

Trong quá trình hoạt động, có rất nhiều yếu tố ảnh hưởng đến sự làm việc của động

cơ Những ảnh hưởng này rất phức tạp, khi thiết kế không thể đánh giá đủ Vì vậy việcthử nghiệm động cơ là rất cần thiết Việc chọn phương án thiết kế sơ bộ, thiết kế kỹ thuậtphải kết hợp chặt chẽ với quá trình thử nghiệm mô hình, chế thử, chạy thử, hoàn chỉnhthiết kế rồi cuối cùng mới chế tạo hàng loạt

Thử nghiệm động cơ là một công việc phức tạp, nó thay đổi tuỳ theo mục đích thửnghiệm Tính chất và nhịp độ thử nghiệm hoàn toàn phụ thuộc vào nhịp độ của nền sảnxuất, trạng thái kỹ thuật của loại động cơ mới đó Để việc thử nghiệm đạt chất lượng caothì phải tổ chức thử nghiệm thật chu đáo, kể từ giai đoạn xây dựng phương pháp luận thửnghiệm, lập mô hình thử nghiệm, xây dựng nội dung và đề cương thử nghiệm, trang thiết

bị đo lường, phương pháp xử lí số liệu thống kê thu thập được qua thử nghiệm

Mẫu thử nghiệm được chế tạo trong phân xưởng thử nghiệm của nhà máy sản xuất,trong xí nghiệp chế thử của viện nghiên cứu khoa học hoặc của phòng thiết kế Tuỳ theotính chất phức tạp của sản phẩm, sản phẩm mới hoặc sản phẩm cải tạo, tuỳ theo kinhnghiệm của cán bộ nghiên cứu v v … mà quyết định nội dung thử nghiệm, số lượng mẫuthử, trình tự thử v v … để đánh giá đầy đủ các chỉ tiêu kinh tế- kỹ thuật của sản phẩm dựkiến sẽ được sản xuất hàng loạt

Giai đoạn chế thử được tiến hành nhằm kiểm tra thực tế, các tính năng kinh tế kỹthuật của sản phẩm, thiết lâp các bước công nghệ, hoàn chỉnh thiết kế kỹ thuật (kết cấuvật liệu, dung sai kích thước, tính công nghệ vv …) Khi đó động cơ được tiến hành sảnxuất trên cơ sở một số tổng thành, bộ phận, chi tiết máy có thể được chế tạo trên quytrình công nghệ, dây chuyền sản xuất có sẵn Đồng thời, trong quá trình chế thử này cũng

có thể tìm ra các qui trình công nghệ khác tiên tiến hơn, giải pháp kỹ thuật tối ưu hơn,phương pháp đo, dụng cụ đo lường kiểm tra tốt hơn để làm cơ sở cho việc sản xuất hàngloạt sản phẩm đó sau này Sau giai đoạn chế thử, sản phẩm thể hiện đầy đủ tính năng kinhtế- kỹ thuật, ưu khuyết điểm, sản phẩm sẽ được hoàn chỉnh về mặt kinh tế và công nghệ

Trang 9

sản xuất và được đưa vào sản xuất hàng loạt, trở thành một mặt hàng có đầy đủ giá trịthương phẩm trên thị trường tiêu thụ.

Ngoài việc thử nghiệm gắn liền với từng giai đoạn của quá trình cho ra đời một sảnphẩm mới, việc thử nghiệm các loại động cơ sẵn có cũng có một ý nghĩa rất quan trọng:

• Qua thử nghiệm có thể phát hiện ra những mặt mạnh, mặt yếu, những sai sóttrong thiết kế, kết cấu, công nghệ và vật liệu sử dụng

• Giúp thu thập những kinh nghiệm thiết kế thể hiện trên những động cơ mà ta thửnghiệm

• Kết quả thử nghiệm cho ta số liệu so sánh sản phẩm của ta sản xuất với sảnphẩm có sẵn (thử nghiệm đối chứng)

• Ngoài ra, qua việc thử nghiệm động cơ sẽ giúp xây dựng hay hoàn thiện các quytrình, tiêu chuẩn và các điều kiện làm việc tốt nhất cho việc vận hành và khaithác động cơ

• Các thông tin có được sẽ rất hữu ích cho việc khai thác, sử dụng và hoàn thiệnđộng cơ

Thử nghiệm động cơ sau quá trình sửa chữa hay đại tu cũng đóng một vai trò rất quantrọng Dựa trên các thông số kỹ thuật, người sử dụng và vận hành động cơ có thể đánhgiá tình trạng động cơ và chất lượng sản phẩm sau sửa chữa

Thử nghiệm động cơ còn giúp đánh giá mức độ hoàn thiện của các sản phẩm được sửdụng trên động cơ như: các loại dầu mỡ bôi trơn, các sản phẩm dùng trong hệ thống làmmát, nhiên liệu.vv…

Ngoài ra, với việc công nghệ ngày càng phát triển, việc thử nghiệm động cơ khôngcòn gói gọn chủ yếu về mặt cơ khí, mà còn có sự hỗ trợ từ các phần mềm, các máy tính,máy phân tích hóa học, các linh kiện điện tử, Vì vậy, người kỹ sư ngoài việc nắmvững các thuật cơ bản, cần phải học hỏi thêm các kiến thức và kỹ năng để tránh các saisót làm sai lệch kết quả hoặc gây ra các tai nạn

I.2 Phân loại thử nghiệm

Tuỳ theo mục đích thử nghiệm ta có thể phân loại thử nghiệm động cơ như sau:

I.2.1 Thử nghiệm phục vụ đào tạo

Thử nghiệm động cơ giúp sinh viên nắm vững chắc và hệ thống hoá các kiến thức lýthuyết đã được trang bị trong các môn học chuyên môn:

• Kết cấu động cơ đốt trong

Trang 10

• Nguyên lý động cơ đốt trong.

• Tính toán thiết kế động cơ đốt trong

Giúp chúng ta làm quen với các thiết bị, băng thử, cách thực hiện một thử nghiệm, cácdụng cụ đo và hệ thống các thiết bị phụ trợ trong thử nghiệm động cơ đốt trong

Tạo điều kiện cho chúng ta tiếp cận với các kỹ thuật đo tiên tiến trong thử nghiệmđộng cơ đốt trong Qua đó người học có thể hiểu sâu và hoàn thiện hơn về các kiến thức

đã được học

I.2.2 Thử nghiệm động cơ trong nghiên cứu

I.2.2.1 Thử nghiệm chuyên sâu

Thí nghiệm theo các nội dung nghiên cứu chuyên sâu liên quan đến động cơ đốt trongnhư:

• Nghiên cứu về đường nạp, đường thải, buồng cháy, sự phun nhiên liệu, sự đánhlửa,…ảnh hưởng đến nhiệt động lực hoá học của quá trình cháy nhiên liệutrong xi lanh nhằm nâng cao hiệu suất và công suất động cơ

• Nghiên cứu tối ưu các loại nhiên liệu và dầu mỡ bôi trơn sử dụng trong độngcơ

• Nghiên cứu tính thích nghi của động cơ hoạt động trong mọi điều kiện môitrường và địa lý cụ thể

• Kết quả nghiên cứu được áp dụng nhằm hoàn thiện thiết kế và chất lượng động

cơ từ đó có thể nâng cao tính kinh tế, tính hiệu quả, giảm ô nhiễm môi trường

do khí thải và tiếng ồn gây ra

I.2.2.2 Thử nghiệm nghiên cứu cải tiến

Nhằm tìm ra các giải pháp hoàn thiện kết cấu động cơ, cải tiến các chi tiết hay một hệthống trên động cơ

Các thử nghiệm này có thể thực hiện trên băng thử động cơ hoặc trên từng bộ phậnriêng biệt của động cơ Mở rộng hơn, thử nghiệm động cơ còn bao gồm các nghiên cứuliên quan được tiến hành bên ngoài động cơ trên các mô hình hoá các hệ thống của động

cơ như nạp, thải, hệ thống nhiên liệu, hệ thống điện…

I.2.2.3 Thử nghiệm kiểm định động cơ

Nhằm đánh giá các tính năng kỹ thuật và xác định chất lượng chế tạo của động cơmới và động cơ sau khi sửa chữa, đại tu, hay động cơ sau một khoảng thời gian sử dụng.Qua đó có thể có được một cách tương đối thời hạn sử dụng, thời gian giữa hai kỳ sửachữa lớn Ngoài ra còn có thể đánh giá chất lượng động cơ sau quá trình sửa chữa hay đại

Trang 11

tu Các nhà sản xuất cũng thường dùng hình thức thử nghiệm này để kiểm tra chéo sảnphẩm của mình với sản phẩm của đối thủ.

Các thí nghiệm này thông thường kiểm tra các thông số kỹ thuật cơ bản của động cơ:momen, công suất động cơ, số vòng quay, suất tiêu hao nhiên liệu, lượng tiêu hao dầu bôitrơn, thành phần khí thải

I.3 Các bảng chuyển đổi đơn vị

Bảng chuyển đổi đơn vị:

• Square metre (m2) 1m2 = 10.764 ft2

• Cubic metre (m2) litre (l) 1 m3 = 1000l =35.3 ft3

• Metre per second (m/s) 1 m/s = 3.281 ft/s

• Calorie: là năng lượng cần có để làm tăng nhiệt độ 1gram nước lên 10C

1 cal = 4.1868 J ; 1 kilocalorie (kcal) = 4.1868 kJ

• Áp suất (Pa) 1 Pa = 1 Nm2 = 1,450.10-4 lbt/in2

1 bar (bar) = 105 Pa = 14.5lbf/in2

1 mmH2O =9.81 PaPascal thường được sử dụng làm đơn vị đo ứng suất, tuy nhiên ở đây ta dùng làmđơn vị đo áp suất:

1 atmosphere (atm) tiêu chuẩn (áp suất khí quyển) = 1.01325 bar = 14.69 lbf/in

Áp suất khí quyển bằng với áp suất cột thủy ngân cao 760 mm tại 00C:

1 atmosphere (at) kỹ thuật = 1 bar = 14.5 lbf/in

Ngoài ra, ta cũng thường gặp đơn vị áp suất Torr: 1Torr = 1mmHg =133.32 Pa

Trang 12

1 mm cột nước (mmH2O) = 9.81 Pa (dùng khi đo lưu lượng khí)

Chương 2:

SƠ ĐỒ BỐ TRÍ CHUNG PHÒNG THỬ NGHIỆM ĐỘNG CƠ

II.1 Cách bố trí phòng thử nghiệm động cơ

II.1.1 Tổng quan về phòng thử nghiệm động cơ

Phòng thử nghiệm động cơ là một hệ thống máy móc làm việc tích hợp, bao gồm các

hệ thống hỗ trợ và các thiết bị đo phức tạp, tất cả những công việc trong phòng thử phảidiễn ra như một thể thống nhất Khi nhìn băng thử ở một khía cạnh riêng rẽ như một hệthống nhằm kiểm tra công suất, hệ thống kiểm tra chất lượng khí thải hay tiếng ồn, chúng

ta có thể không nhìn thấy được bức tranh tổng quát Do đó chương này sẽ trình bàynhững vấn đề chính của một phòng thử nghiệm động cơ như: cách bố trí chung, các yêucầu đối với một phòng thử nghiệm, phân loại các phòng thử nghiệm động cơ Ngoài ratrong chương này còn đề cập đến các vấn đề liên quan như: kích thước của một phòngthử nghiệm động cơ, các vấn đề liên quan đến cấu trúc, thiết kế, việc lắp đặt, an toàntrong vận hành, phòng cháy nổ và các vấn đề liên quan khác

Hình 2.1: Hình ảnh tổng thể của một phòng thử nghiệm động cơ

II.1.2 Sơ đồ bố trí phòng thử nghiệm động cơ

Phòng thử nghiệm động cơ thì nó bao gồm nhiều hệ thống máy móc, thiết bị và một

số hệ thống hỗ trợ kèm theo để đảm bảo cho phòng thử hoạt động như một khối thốngnhất trong quá trình thử nghiệm động cơ Tùy theo mục đích, chức năng của phòng thửcũng như việc sử dụng máy đo công suất loại gì mà ta có các phương án bố trí và lắp đặtcác thiết bị trong phòng thử là khác nhau Việc bố trí các thiết bị trong phòng thử hợp lý

Trang 13

là rất quan trọng, điều đó ảnh hưởng đến vấn đề hiệu quả, tiện lợi, thoải mái và an toàntrong quá trình thử nghiệm

Hình 2.2: Phòng thử nghiệm động cơ sử dụng băng thử công suất thủy lực.

Hình 2.3: Phòng thử nghiệm động cơ sử dụng băng thử công suất điện

Trên các bản vẽ 2.2; 2.3 trình bày sơ đồ bố trí chung của các phòng thử nghiệm động

cơ sử dụng thiết bị tạo tải dùng động cơ điện và thiết bị tạo tải thủy lực Từ sơ đồ này tanhận thấy sự khác biệt trong bố trí của chúng không đáng kể Ở phòng thử nghiệm sử

Trang 14

dụng động cơ điện sẽ bố trí thêm các thiết bị để sử dụng năng lượng trong trường hợpđộng cơ điện hoạt động ở chế độ máy phát Ở loại băng thử thủy lực cần phải bố trí cácthiết bị cấp nước và xả nước cho băng thử Ngoài ra ở băng thử sử dụng dòng Foucault,cần phải bố trí một hệ thống làm mát để giải nhiệt cho băng thử

II.2 Các yêu cầu chi tiết đối với một phòng thử nghiệm động cơ

Khi thay đổi về cấu trúc sẽ làm phát sinh nhiều chi phí Những câu hỏi sau cần phảiđược xem xét cẩn thận và phải được trả lời trước khi tiến hành xây dựng phòng thử

- Mục đích hướng đến của phòng thử nghiệm là gì ? Những dự đoán cho những mụcđích xa hơn nữa?

- Hiển thị, phân loại, lưu trữ và xử lý các dữ liệu nhận được sau khi thử nghiệm nhưthế nào?

- Trong tương lai có đòi hỏi lắp đặt thêm các thiết bị mới không và nó sẽ chiếm baonhiêu không gian ?

- Các thiết bị có sẵn trên thị trường? Xem xét cẩn thận các thiết bị và đặc điểm kỹthuật đòi hỏi chi phí vượt trội Các chi phí này có ảnh hưởng lâu dài đến vốn vàchi phí vận hành hay không?

- Các thiết bị sẽ lắp đặt sau này có tương thích với các thiết bị hiện có hay không?

- Động cơ được bố trí và lắp đặt như thế nào? Động cơ có thay đổi thường xuyênkhông và phải sắp xếp như thế nào để vận chuyển nó ra và vào phòng thử mộtcách thuận tiện?

- Có bao nhiêu loại nhiên liệu thường được sử dụng ? Và phải sắp xếp như thế nàotrong trường hợp sử dụng những loại nhiên liệu đặc biệt khác ?

- Có đủ điện và nước cung cấp cho khu vực này không? Chất lượng nước như thếnào? Điện thế khu vực đặt băng thử có ổn định hay không? Có sử dụng động cơđiện (trên băng thử ) ở chế độ máy phát hay không ?

Trang 15

- Tác động đến môi trường như thế nào ? Tiếng ồn và khói thải của động cơ có phải

là vấn đề hiện tại hay không ? Nước thải sẽ xử lý như thế nào?

- Có các yêu cầu riêng về luật lệ của địa phương về cháy nổ, an toàn lao động, môitrường, điều kiện làm việc?

II.2.2 Các thông số đo đạc

Tuỳ thuộc vào quy mô, yêu cầu và chức năng của một phòng thử nghiệm động cơ,thông thường các thông số sau sẽ được tiến hành đánh giá:

- Momen xoắn động cơ

- Số vòng quay động cơ

- Tiêu hao nhiên liệu

- Lượng không khí nạp vào động cơ

- Tỷ lệ hỗn hợp

- Chất lượng khí thải (thành phần các chất CO, HC, NO, SO2., muội than )

- Nhiệt độ và áp suất của một số thiết bị và một số vị trí trên động cơ (nhiệt độbougie, nhiệt độ khí thải, nhiệt độ và áp suất dầu bôi trơn, áp suất trên đường ốngnạp )

- Các thông số về độ ẩm, áp suất, nhiệt độ của khí quyển

- Đối với các thử nghiệm đặc biệt, ví dụ các nghiên cứu về chất lượng dầu bôi trơnmột số thông số khác sẽ được quan tâm như: độ mòn của các chi tiết máy.vv…

II.2.3 Các hệ thống và thiết bị trong phòng thử nghiệm

Phòng thử nghiệm cần phải được trang bị các hệ thống, thiết bị cơ bản sau:

- Băng thử công suất

- Hệ thống cung cấp nhiên liêu

- Hệ thống điều hòa nhiệt độ nước làm mát

- Thiết bị đo, xử lý các số liệu

- Thiết bị đo lưu lượng không khí nạp

- Thiết bị đo nồng độ khí thải

- Thiết bị đo tiêu hao nhiên liệu

Ngoài ra phòng thử cần phải thiết kế một số hệ thống hỗ trợ khác như:

- Hệ thống thông gió và điều hòa không khí

- Hệ thống cung cấp nước làm mát

- Hệ thống khí xả

- Hệ thống lưu trữ, cung cấp, xử lý nhiên liệu và dầu nhớt

Những hệ thống này sẽ được trình bày rõ hơn trong chương 3

Đối với phòng thử phục vụ cho nghiên cứu, để có được kết quả đo chính xác hơn thìngười ta còn trang bị thêm một số hệ thống sau:

- Hệ thống điều hòa nhiệt độ dầu bôi trơn

- Hệ thống điều hòa nhiệt độ nhiên liệu

Trang 16

- Hệ thống điều hòa nhiệt độ phòng thử

- Hệ thống duy trì nhiệt độ nước làm mát động cơ

II.2.4 Vấn đề an toàn

Phòng thử động cơ là một môi trường làm việc khá nguy hiểm Nhiệt độ phòngthử cao, âm thanh khi đang thử nghiệm phát ra rất ồn và không gian làm việc có nhiềunhững ống dẫn và dây cáp Người vận hành rất dễ căng thẳng, mệt mỏi Do đó phòng thửnghiệm cần đảm bảo các chỉ tiêu về: ánh sáng, hệ thống thông gió và điều hòa không khí,

hệ thống chữa cháy, các lối thoát hiểm, các chỉ tiêu về âm thanh, tiếng ồn, khói thải…

Âm thanh từ khu vực điều khiển đến phòng thử phải đủ rõ để người vận hànhthực nghiệm nghe được những yêu cầu trợ giúp

Động cơ dùng trong băng thử có thể không được thiết kế để lắp trên băng thử nên

sẽ có một số khó khăn khi gá lắp Khớp nối giữa động cơ và băng thử động lực có thểkhông chịu đựơc trong điều kiện quá tải Người thiết kế phải lường trước những hư hỏng

có thể có đó

II.3 Thiết kế của một số phòng thử nghiệm điển hình

II.3.1 Kiểu thiết kế cơ bản

Có nhiều trường hợp chúng ta chỉ cần thử tải của động cơ, để đạt mục đích kinh tếnhất, phòng thử cần bố trí các khu vực thích hợp với những thiết bị kèm theo

- Hệ thống cấp nước và thoát nước

- Hệ thống cung cấp nhiên liệu có thể di chuyển được

- Hệ thống thông gió hoàn chỉnh

- Hệ thống dẫn khí thải ra ngoài

- Bộ phận giảm âm

- Những thiết bị an toàn và phòng chống cháy nổ

Trang 17

Hình 2.4: Băng thử động cơ di động

Hình 2.4 Là một kiểu lắp đặt điển hình, bao gồm các thành phần sau:

- Bệ đỡ di động cho động cơ và băng thử;

- Hệ thống làm mát động cơ;

- Hệ thống thải;

- Bảng điều khiển kiểm soát

Băng thử tải công suất loại này được lắp đặt trên trục ra của động cơ, qua một khớp nối, trục khủyu được liên kết với đĩa ly hợp Trong một số trường hợp cần thiết băng thử tải công suất này có thể lắp đặt mà không cần tháo động cơ ra khỏi ô tô bằng cách hạ trụccác đăng xuống và gắn băng thử lên một bệ đỡ đã được bắt vít với gầm xe

Hệ thống làm mát động cơ bao gồm một khoang chứa nước, nó thích hợp để dẫn nướclàm mát qua áo nước Nước làm mát băng thử đi từ dòng cung cấp chính và đi ra hệthống thải, hoặc nó có thể được lưu dẫn bởi một máy bơm trong thùng đựng nước thải

Hệ thống làm mát động cơ gồm một cột làm mát duy trì nhiệt độ ở mức ổn định Để tránhlãng phí, nước làm mát sẽ được dẫn ra thùng nước thải Trong một số trường hợp, người

ta sử dụng lưới tản nhiệt kết hợp với động cơ được thử nghiệm và được gắn phía trướccủa một cánh quạt có tốc độ quay không đổi

Bảng điều khiển phải đáp ứng những yêu cầu tối thiểu sau:

Hiển thị được mô men và số vòng quay, đồng hồ đo áp lực dầu bôi trơn, đo lượngnhiên liệu, thiết bị điều khiển đóng mở động cơ

Việc điều chỉnh van điều khiển lưu lượng băng thử và cánh bướm ga động cơ đượcdẫn động bằng dây cáp hoặc bằng điện

Ứng dụng:

- Kiểm tra động cơ xe tải hoặc xe buýt sau khi sửa chữa lớn hoặc đại tu;

- Điều chỉnh động cơ xe đua,xe quân sự;

- Kiểm tra, xây dựng lại báo cáo về chất lượng khí thải đối với các yêu cầu pháp lý

II.3.2 Tổng quát phòng thí nghiệm động cơ có công suất từ 50 đến 450KW

Phòng thí nghiệm thường được xây dựng theo kiểu nhiều lớp, kề sát nhau và trêncùng một hàng Một loại phòng thí nghiệm phổ biến là một buồng điều khiển chung chohai phòng thử ở hai bên

Trang 18

Hình 2.5: Phòng thử dùng chung buồng điều khiển

Loại này có số lượng nhiều nhất Hình 2.6 là hình tổng thể của phòng thử, hình 2.7 là

bộ gá động cơ và máy đo công suất Những phòng thử như vậy, thường động cơ và máy

đo công suất được lắp thẳng hàng Động cơ vào phòng thử qua cửa lớn ở phía sau, ngườivận hành đi vào bằng cửa khác gần bàn điều khiển Hầu hết các dụng cụ gắn trên tường,máy đo khói, đồng hồ tiêu hao nhiên liệu được đặt cùng một phía ở xa cửa vào phòngthử Cửa quan sát phía trước bàn điều khiển, thường được lắp kính hai lớp nhằm giảmtiếng ồn

Hình 2.6: Phòng thử có công suất từ 50 đến 300 kW

Trang 19

Hình 2.7: Bệ đỡ động cơ và băng thử

Đối với những băng thử có công suất lớn hơn 150 KW, có một đường ray lắp cần trụcđược đặt bên trên bệ thử để có thể nhấc, giữ động cơ và máy đo công suất động cơ.Thông tin về điều kiện làm việc của động cơ được truyền về một bảng thông tin (có thể dichuyển được) Cáp nhiều lõi được sử dụng để dẫn tín hiệu đến bàn điều khiển

Khói thải từ động cơ có thể dẫn lên phía trên Trong một số trường hợp khí thải có thểdẫn xuống phía dưới nền nhà Đường dẫn khí thải đôi khi được bố trí cả hai bên của băngthử Mỗi một đường khí xả nên có một van một chiều (dạng cánh bướm) không cho khí

xả hồi về

Hình 2.8: Phòng thử nghiệm có bệ thử nằm lệch với trục phòng

Trang 20

Phòng thử có thể dễ dàng thay đổi với những động cơ khác nhau, nhưng số lần thayđổi thường không quá một tuần một lần Một bệ đỡ động cơ được chỉ ra trên hình 2.6 cóthể lắp cho nhiều động cơ khác nhau, tuy nhiên gá lắp động cơ tốn thời gian khá lâu.Một hệ thống kiểm soát đi kèm với phòng thử nghiệm động cơ có nhiều mục đích cóthể rất phức tạp, phụ thuộc vào các loại phép thử mà lựa chọn cho phù hợp

Có nhiều cách lắp đặt khác nhau Trên hình 2.6, bệ thử đồng trục với phòng, kiểu nàythường được sử dụng Một lựa chọn khác là bệ thử nằm lệch với trục của phòng, nhưhình 2.8 điều này giúp việc quan sát dễ dàng hơn nhưng phải đặc biệt chú ý đến vấn đề

an toàn và khả năng chịu lực của cửa sổ quan sát, loại này thích hợp cho những phòngthử kề nhau sử dụng chung bàn điều khiển

Hình 2.9: Bệ thử lệch trục Các ứng dụng:

- Phát triển các bộ phận của động cơ và các tổng thành

- Các phòng nghiên cứu phát triển và các kiểm tra độc lập

- Phát triển nhiên liệu, dầu bôi trơn và các quá trình kiểm tra

- Phục vụ cho huấn luyện và giáo dục

- Dùng trong mục đích quân sự

II.3.3 Phòng thử đặc biệt dùng trong nghiên cứu và phát triển

Thử nghiệm và phát triển động cơ là nhân tố quan trọng của các nhà sản xuất ô tô vàcác công ty dầu bôi trơn

Phòng thử thường có quy mô lớn và được thiết kế thành nhiều buồng giống nhau nhưhình vẽ (hình 2.8) Các động cơ được thử nghiệm thường được lắp trên bàn trượt đã được

Trang 21

tiêu chuẩn hoá và được đưa đến các vị trí quy định bằng cách trượt trên các thanh ray Ởđây nó dễ dàng được liên kết với những băng thử qua những khớp nối.

Bệ thử hệ thống động lực (bao gồm động cơ cộng với hộp số) thường được thiết kếthích hợp với các dạng bố trí khác nhau của hệ thống động lực và được gắn trên một bệlớn Các cách bố trí bệ thử:

• Động cơ nằm ngang cộng với hộp số dẫn động hai băng thử

• Khả năng hoạt động của hệ thống khí thải

• Băng thử hoạt động trong bốn góc phần tư

Những cuộc thử nghiệm tại đây thường thường phục vụ cho các yêu cầu sau:

- Nâng cao hiệu suất trong việc sử dụng nhiện liệu

- Cải thiện chất lượng khí thải

- Nâng cao khả năng ổn định và khả năng điều khiển động cơ

Các ứng dụng:

- Thường dùng ở các bộ phận nghiên cứu và phát triển của các công ty ôtô hay tạicác công ty dầu nhờn

- Các phòng thí nghiệm và kiểm tra có quy mô quốc gia

Hình 2.10: Phòng thử đặc biệt dùng cho nghiên cứu và phát triển

Trang 22

II.3.4 Băng thử có trục nghiêng

Trong thực tế có nhiều trường hợp động cơ gắn trên ô tô, phải hoạt động trong các vịtrí có độ dốc lớn Để nghiên cứu ảnh hưởng của độ dốc đến tình trạng hoạt động của động

cơ Người ta thiết kế những băng thử có thể giữ cho động cơ hoạt động ở một độ dốc nhấtđịnh Các băng thử loại này thường dùng các động cơ tạo tải là động cơ điện (DC hayAC)

II.3.5 Phòng thử nghiệm dùng trong sản xuất

Những phòng thử loại này khá đặc biệt Đối tượng để kiểm tra là những động cơ hoànthành và chạy thử trong một thời gian rất ngắn, thời gian hoạt động cho động cơ xăng là6.5 phút, và động cơ diesel là 20 phút

Toàn bộ quy trình điều khiển động cơ, lắp đặt ống dẫn và ống thoát nước làm mát vàcác trang thiết bị khác, trình tự kiểm tra đều phải được tự động hóa, sự can thiệp bởingười điều khiển được giới hạn, chỉ để giải quyết những hư hỏng và kiểm tra những rò rĩ,tiếng ồn khác thường Phòng thử được trang bị những chương trình để nhận ra các saikhác so với động cơ tiêu chuẩn, mức độ hoàn thiện của các tiêu chuẩn đã đặt ra nhằmkhắc phục những sai sót

Các ứng dụng:

Phòng thử dùng trong sản xuất nhằm kiểm tra các thông số sau:

- Thời gian khởi động động cơ

- Mômen xoắn của trục khuỷu

- Khoảng thời gian để áp suất dầu đạt đến mức cần thiết

- Chất lượng khí thải

II.4 Môt số lưu ý về cấu trúc

II.4.1 Quy mô thực hiện phòng thử

Trong quá trình thiết kế một phòng thử một số yếu tố về tiện ích cơ bản cần phải chúý:

- Cách bố trí, phương tiện vận chuyển, đường vận chuyển ứng với từng giai đoạncủa công việc

- Những công việc sữa chữa gì, cách mang thiết bị ra vào khi kiểm tra

- Quy trình điều chỉnh của động cơ

- Hệ thống gá lắp động cơ, chiều cao băng thử, phương tiện vận chuyển bệ đỡ, thiết

bị móc, xe chuyên chở tự động

Trang 23

- Lắp đặt và tháo động cơ ngay tại băng thử hay điều khiển từ xa

- Những thuận lợi trong bảo trì và hệ thống phát hiện lỗi

- Phương pháp đo, cách điều khiển và lưu trữ dữ liệu

Quy mô kiểm tra sẽ trở nên khó khăn hơn, đặc biệt là trên những động cơ được trang

bị nhiều bộ phận và những bộ phận đó có thể gây khó khăn cho việc bảo trì Kết cấu theocụm của các thiết bị cho phép dễ dàng cho việc sửa chữa (thay thế theo cụm)

II.4.2 Kích thước tổng thể của phòng thử

Kích thước của một phòng thử phải đủ rộng để tạo sự thoải mái khi thao tác và antoàn khi di chuyển vào ra các thiết bị Thể tích phòng càng nhỏ thì càng khó kiểm soátviệc thông khí dưới những điều kiện thử tải khác nhau Một nguyên tắc là phải có một lối

đi rộng chừng 1m xung quanh bệ thử, trần nhà của phòng thử phải đủ cao để có thể nhấcmáy đo công suất vuợt qua đỉnh của động cơ Trong những bệ thử động cơ gắn trên ô tôphải có đủ không gian để lắp hệ thống xả, gọi là chiều dài phụ của phòng thử

Chiều cao phòng thử được xác định bởi các yếu tố thiết kế bao gồm cả dầm cầu trục.Thông thường chiều cao phòng thử từ 4m – 4,5m

Khi thiết kế phòng thử cần xem xét các khu vực sau:

- Phòng thử nghiệm động cơ hoặc hệ thống truyền lực

- Buồng điều khiển

- Không gian các phòng dịch vụ và thiết bị hỗ trợ khác

- Phòng hội thảo, khu vực lắp bệ thử nghiệm động cơ

- Khu vực nhà kho

Sau đây là một số kích thước tiêu chuẩn được sử dụng rộng rãi:

- Dài 6,5m x rộng 4m x cao 4m: phòng thử dùng cho động cơ Diesel có công suấtnhỏ và lắp băng thử đo dòng focault

- Dài 6,7m x rộng 6,4m x cao 4,7m: phòng thử dùng cho động cơ xăng với băng thửđiện AC, hệ thống làm mát và điều hòa không khí đặc biệt

- Dài 7,8m x rộng 6m x cao 4,5m: phòng thử dùng cho động cơ có công suất250kW, gồm băng thử và thiết bị đo lường khí thải

- Dài 9m x rộng 6m x cao 4,2m: Bệ đỡ động cơ và hộp số được cải tiến với haibăng thử công suất xếp theo hình chữ T Phòng điều khiển chạy dọc theo chiều dàibức tường

Khi tiến hành xây dựng một phòng thử nghiệm thì ta phải xác định phòng thử dùng đểthử nghiệm loại động cơ nào, công suất bao nhiêu để lực chọn mặt bằng xây dựng cho

Trang 24

thích hợp, đồng thời có những tính toán dự phòng cần thiết để phù hợp với những động

cơ và những phụ kiện có kích cỡ khác nhau Mặt khác ta cũng phải lựa chọn khu vực xâydựng phòng thí nghiệm phải thông thoáng, gần đường di chuyển và các nguồn cung cấpđiện, nước và cách xa khu vực dạy lý thuyết, văn phòng.Một vấn đề nữa là phải chú ýđến kích cỡ của máy đo công suất (có kể đến kích cỡ của cánh tay đòn đo momen và cácthiết bị kèm theo)

II.4.3 Hệ thống an toàn

Phòng thử nghiệm động cơ thường bố trí các nút tắt khẩn cấp, các nút này thường cókích thước lớn và bố trí ở những vị trí dễ thấy Chúng thường được bố trí cả trên bàn điềukhiển và ngay trên băng thử Các nút này có chức năng: Ngắt hệ thống cung cấp nhiênliệu, ngắt hệ thống đánh lửa hoặc nguồn điện cung cấp cho băng thử

II.4.4 Chức năng dừng khẩn cấp

Chức năng dừng khẩn cấp là một hệ thống dây cáp đặc biệt của hệ thống giám sát báođộng được trang bị trong phòng điều khiển Trong thực tế, đó là một hệ thống tắt máyđược điều khiển bởi người giám sát Các thiết bị điện trang bị cho hệ thống có vai tròquan trọng như hệ thống cảnh báo cháy nổ

Hệ thống dừng khẩn cấp có thể được hiểu như là một chuỗi các công tắc chuyển mạch

mà trong đó tất cả các công tắc này phải được đóng lại trước khi động cơ đánh lửa hoặccác quá trình khác được khởi động Khi ta nhấn nút, chuỗi công tắc sẽ được kích hoạt,các quá trình lập tức bị ngắt và chuỗi công tắc chỉ được mở ra khi ta thiết lập lại các quátrình (khởi động lại động cơ)

Chức năng này cho phép nhân viên làm việc trên bất kì một bộ phận nào trong phòngthử nghiệm Việc sử dụng chức năng dừng khẩn cấp như là một thiết bị tự bảo vệ mình,chỉ bằng một thao tác, đó là ấn nút

Chức năng chính của hệ thống dừng khẩn cấp là ngắt điện tất cả các thiết bị liên quantrực tiếp đến hoạt động của động cơ Trong trường hợp này, băng thử công suất đượcchuyển sang tình trạng “ không làm việc”, nhiên liệu cung cấp cũng sẽ bị ngắt đi; quạtthông gió ngừng hoạt động Nhưng những dịch vụ hỗ trợ khác không bị ảnh hưởng và hệthống chữa cháy không bị ngừng hoạt động

Các động cơ xăng có thể được ngừng khẩn cấp bằng cách ngắt nguồn điện đến mạchđánh lửa Động cơ Diesel yêu cầu phức tạp hơn: một van điện từ được nối với hệ thống

Trang 25

dừng khẩn cấp và có chức năng dừng bơm nhiên liệu lại, không cấp nhiên liệu cho động

Động cơ Diesel có khả năng bị vượt tốc và sẽ rất nguy hiểm nếu không ngắt tải rakhỏi thiết bị đo sử dụng dòng Foulcault Có hai cách để ngừng động cơ lúc này là ngắtnhiên liệu hoặc tăng đủ tải để làm động cơ ngừng chạy

II.4.5 Hệ thống kiểm soát và an toàn các thiết bị đo lường

Thuật ngữ này bao gồm các công cụ cơ bản và sự kiểm soát cần thiết cho sự an toànkhi động cơ và các thiết bị phòng thử vận hành Không giống như chức năng dừng khẩncấp, các thông số tắt máy được kiểm soát bởi hệ thống điều khiển Hệ thống điều khiển

an toàn thiết bị đo lường có thể được điều khiển bằng phần mềm hoặc các dây tín hiệu.Các tín hiệu sẽ liên tục gửi đến các máy tính, bao gồm cả thiết bị liên quan tới quá trìnhtắt máy động cơ, chẳng hạn như van dập lửa Những tín hiệu sau sẽ kích hoạt hệ thốngnày:

- Tốc độ động cơ quá cao

- Áp suất dầu sau khi khởi động quá thấp

- Lưu lượng nước làm mát và áp suất nén không khí

- Tín hiệu liên quan tới hệ thống báo cháy

- Tình trạng hệ thống thông gió, hệ thống lọc nước thải và van điều tiết lửa

- Trục truyền động bị hư hỏng

- Cửa phòng thử nghiệm và rào chắn bảo vệ

- Đèn báo hiệu/báo động tự động kích hoạt

II.4.6 Máy tính giám sát các tính hiệu báo động

Những tín hiệu cảnh báo chính phải có giới hạn, nếu vượt quá sẽ gây nguy hiểm chonhân viên và các thiết bị đo Trong suốt quá trình thử nghiệm, động cơ và phòng thử đượcgiám sát liên tục bởi máy tính giám sát để mà những hành động tương thích đã được lậptrình sẵn có thể được kích hoạt một hoặc nhiều thông số vượt ra ngoài giới hạn địnhtrước

Hầu hết phần mềm máy tính kiểm tra có bốn mức độ báo động cho mỗi kênh dữ liệu:

Trang 26

II.4.7 Đảm bảo nguồn điện cung cấp

Cần phải cân nhắc, lưu ý về hậu quả do những hư hỏng về nguồn điện cung cấp, hoặccác yếu tố khác, chẳng hạn như là hư hỏng cầu chì Đặc biệt nguy hiểm có thể xảy ra nếucông suất được phục hồi bất ngờ sau khi nguồn điện cung cấp bị hỏng Điều này thực sựrất nguy hiểm Do đó việc cài đặt một nguồn điện cung cấp liên tục (UPS) cho hệ thốngkiểm soát và thiết bị thu thập dữ liệu thực sự là cần thiết

II.4.8 Quan sát và nghe trong quá trình kiểm tra động cơ

Người điều khiển có thể quan sát quá trình làm việc của các thiết bị trong phòng thửqua một tấm kính cường lực, chịu được nhiệt độ cao Độ trong suốt của kính phải luônđảm bảo để cho việc quan sát là tốt nhất

Thông thường đối với những phòng thử hiện đại thì phòng điều khiển và phòng thửnghiệm được bố trí tách biệt nhau Từ đó người điều khiển khó có thể quan sát toàn diệnđộng cơ từ bàn điều khiển Nhưng nhờ vào những thiết bị hiện đại như hệ thống quan sátbằng hình ảnh, người điều khiển có thể kiểm soát được sự vận hành của phòng thử Một

hệ thống cảnh báo toàn diện cũng cần thiết để đề phòng trong những trường hợp khẩncấp

Điều quan trọng ảnh hưởng đến khả năng quan sát phòng thử là trả lời cho câu hỏi:Phải sắp xếp phòng thử như thế nào? Người ta hay quan sát hệ thống lắp đặt động cơ từphía sau, gần cửa vào phòng thử Nhưng từ điểm này khả năng quan sát rất kém

Thông thường người vận hành các thí nghiệm chỉ chú ý đến các chỉ dẫn trên thiết bịhay màn hình hiển thị vì vậy mà không thấy được những thay đổi ở trong phòng thử, ví

dụ như: trong các góc của phòng thử nằm ngoài mắt quan sát theo hướng thẳng Để khắcphục điều đó, có thể treo nhãn hay tín hiệu mà có thể lay động nhờ vào luồng gió thôngkhí

Ngoài ra người ta còn bố trí thêm hệ thống camera để hỗ trợ thêm cho người điềukhiển quan sát những vị trí mà người điều khiển không thể quan sát được khi ngồi ở bànđiều khiển

Việc nghe cũng đóng vai trò quan trọng đối với những người vận hành có kinhnghiệm Âm thanh sẽ giúp cho người vận hành biết được những hư hỏng nhanh, đôi khikhông kịp hiển thị trên các thiết bị kiểm soát.Trong các phòng thử hiện đại, cách âm tốt,người điều khiển rất khó nghe được âm thanh phát ra từ trong phòng thử Vì vậy, có thể

Trang 27

lắp micro trong phòng thử và truyền âm thanh đó ra ngoài loa (được lắp gần bàn điềukhiển) hoặc tai nghe.

II.4.9 Cấu trúc sàn và nền móng

Bên dưới sàn nhà phải được thông khí để tránh sự tích tụ những chất khí có thể gâycháy nổ Thỉnh thoảng phải có thiết bị kiểm soát lượng thông khí này Nhiên liệu sử dụngcho thử nghiệm tránh để chảy ra trên sàn nhà Tốt nhất nên chia nền nhà hai bên bệ thửbằng những đường ngăn để có thể dẫn nước hay chất bẩn ra ngoài

Sàn nhà nên được thiết kế bởi những tấm vật liệu (thường bằng gang) chế tạo sẵn,khối lượng trung bình mỗi tấm khoảng 20Kg Mỗi tấm sẽ có lỗ để có thể nhấc lên được.Điều này giúp dễ dàng cho việc lắp đặt mới các thiết bị khác

Sàn nhà nên được thiết kế theo dạng các tấm vật liệu đúc sẵn và có dự trù cho việc lắpđặt các thiết bị khác như băng thử và động cơ Trên sàn nền bố trí các rãnh dạng chữ T.Các rãnh này sẽ giúp gá lắp băng thử và bệ đỡ động cơ dễ dàng Bề mặt gá lắp động cơcủa các rãnh này cần phải được cân chỉnh về mức độ thẳng hàng (các sai lệch do vặnxoắn có thể gây ra các tác hại lớn ) Tuy nhiên với kết cấu này các chất lỏng (nhiên liệu,nước…) có thể bị giữ lại trong các rãnh này và nó còn gây ra hiện tượng dội âm khi động

cơ và băng thử hoạt động Ngoài ra, nó còn một nhược điểm: hệ số ma sát kém dễ gâytrượt cho người sử dụng và lắp đặt tốn nhiều chi phí

Đối với những phòng thử dùng trong đào tạo thì người ta có thể không cần sử dụngkết cấu nền nhà như trên mà xây dựng các ụ đỡ bằng bê tông và có các vấu để bắt các giá

đỡ các hệ thống và thiết bị Với hệ thống này thì công việc lắp đặt băng thử sẽ khó khănhơn nhưng có ưu điểm là chi phí thấp

Hình 2.11: Sàn nhà kiểu ụ đỡ bằng bê tông

Trang 28

Trần nhà được thiết kế với độ cứng vững cao để đảm bảo cho việc lắp đặt các hệthống liên quan tới nó, chẳng hạn như: hệ thống báo cháy nổ, đường ra của khí thải, ốngthông gió, xà nâng…

II.4.10 Cửa ra vào

Cửa ra vào phải được cách âm và chịu nhiệt, có trọng lượng khá lớn, cần một lực lớnhơn bình thường mới có thể di chuyển chúng, đây là một nguyên tắc an toàn nên nhớ khithiết kế phòng thử Chú ý, lực do tác động từ quạt thông gió gây ra làm tăng sự chênhlệch áp suất giữa bên trong và bên ngoài cửa, có thể gây ra nguy hiểm hoặc không thể mởđược cửa Sự giảm áp trong phòng thử khi thông gió được đề nghị là 50 Pa

Đối với phòng thử thì ta phải luôn thiết kế hai cửa ra vào Một cửa dùng để vậnchuyển động cơ Cửa này nên đặt nơi rộng rãi để thuận tiện cho việc vận chuyển động cơ

ra vào thường xuyên Một cửa nữa được bố trí ở gần buồng điều khiển để người điềukhiển ra vào kiểm tra

Hình 2.12: Thiết kế cửa ra vào

Tất cả những cửa đều phải thiết kế là loại cửa trượt hay mở ra phía ngoài Tuy nhiên,

ở loại cửa trượt có một nhược điểm là tạo ra một khoảng không gian chết trên bức tườngkhi cửa được mở, trên cửa nên có một cửa sổ quan sát nhỏ và có thể có những chỉ dẫncho việc đi lại

Người vận hành phòng thử nên sử dụng hệ thống điều khiển để điều khiển cửa phòngthử và ngăn mọi người đến gần khi hệ thống hoạt động Khi cửa phòng thử nghiệm mở,động cơ nên được để ở chế độ “cầm chừng/không tải”

Trang 29

âm nội bộ, như là sử dụng tấm cách âm 50 mm, để giảm sự dội âm trong phòng thử Cáctấm cách âm có hiệu quả cả trên tường và trần nhà, ngay cả khi các khu vực còn lại được

để hở để lắp đặt các thiết bị

Những năm gần đây xuất hiện loại vật liệu xây dựng đặc biệt, tấm cách âm được kẹpgiữa các tấm kim loại, bên trong được đục lỗ Những tấm này dày 100 mm, có thể sửdụng với các khung thép tiêu chuẩn để xây dựng các phòng thử nghiệm Các tấm cách âmmới này không cách âm tốt như các tấm cách âm khác, nhưng nó giúp việc xây dựngnhanh và đẹp hơn, rất hữu ích khi xây dựng phòng thử trong một tòa nhà Tuy nhiên, cầnphải lên kế hoạch cẩn thận khi gắn cố định các thiết bị nặng vào phòng thử và các điểmkết nối phải được đặt ở các khung thép của phòng thử

Trần của phòng thử thường phải chịu được các thiết bị hỗ trợ, như là các tủ điện lớn.Các kỹ thuật xây dựng hiện đại như sử dụng tấm sàn thép liên hợp, bao gồm một lớp kimloại sàn làm nền cho một lớp bê tông cốt thép được đúc tại chỗ, thường được sử dụng.Một cách khác là sử dụng lớp ván bê tông rỗng lõi nhưng có khả năng cách âm tốt

Trang 30

Hình 2.13: Hai loại vật liệu: tấm sàn thép liên hợp và bê tông rỗng II.4.12 Hệ thống ánh sáng

Ánh sáng thường là xem xét sau cùng nhưng là điều quan trọng sống còn Đèn chiếusáng phải được lắp an toàn sao cho không bị đung đưa do quạt thông gió và cho ánh sángtốt, ổn định mà không gây chói cho phòng điều khiển Vì đèn chiếu sáng có thể hoạt độngtrong một môi trường có đầy hơi xăng dầu nên nó phải đạt được tiêu chuẩn an toàn, dễlau chùi và hoạt động ở nhiệt độ bề mặt vừa phải

Những thiết kế cho hệ thống chiếu sáng là kiến thức chuyên sâu, liên quan đến độchiếu sáng, kích thước tương đối của phòng, độ phản xạ của tường và trần nhà

Đơn vị chiếu sáng trong hệ thống quốc tế gọi là Lux Cường độ tỏa sáng của nguồngọi là độ sáng, được xác định như nguồn phát ra cừơng độ sáng đáng tin cậy Hiệu quảcủa nguồn sáng phụ thuộc vào từng loại nguồn sáng khác nhau và tầm rộng mà nó phátđi

Mã IES đòi hỏi mức độ chiếu sáng phải phù hợp với từng phạm vi chiếu sáng khácnhau Mức độ chiếu sáng hợp lý là khoảng 500 luxơ (đơn vị chiếu sáng) phát ra cho mộtmặt phẳng ngang 500mm trên sàn Trong trường hợp khẩn cấp ánh sáng từ acquy phải

Trang 31

kéo dài khoảng một giờ và có độ sáng từ 30-80 luxơ cung cấp cho cả phòng thử và buồngđiều khiển.

Đèn chiếu sáng có thể điều khiển tắt ngay từ bàn điều khiển, nhằm có thể phát hiệncác tia lửa, những bề mặt nóng đỏ mà ở ánh sáng thường không thể quan sát được Đểđảm bảo an toàn cho người sử dụng nguồn cung cấp cho những bóng đèn không quá110V

II.4.13 Hệ thống vận chuyển, nâng đỡ, lắp đặt động cơ

Mức độ phức tạp của hệ thống dùng để lắp đặt và tháo giỡ động cơ phụ thuộc vào sựthường xuyên thay đổi động cơ thử nghiệm Động cơ tàu thủy loại lớn được lắp một hệthống thử nghiệm tại vị trí của nó ở khâu kiểm tra chất lượng cuối cùng Trong một sốphòng thử phục vụ nghiên cứu, động cơ có thể có nhiều hoặc ít các bộ phận cố định,nhưng phòng thử động cơ trong dây chuyền sản xuất thời gian thử một động cơ có thểtính bằng phút và thời gian để thay đổi động cơ phải giảm xuống ngắn nhất

Với những sự thay đổi không thường xuyên:

Động cơ được lắp trên những bệ đỡ thích hợp sau đó sẽ được cần cẩu đưa vào lắptrong phòng thử nghiệm động cơ Các liên kết giữa động cơ và băng thử sẽ được tiếnhành sau đó

Động cơ sẽ được lắp trên những xe đẩy Động cơ sẽ được lắp với khớp nối trước khiđưa vào phòng thử

Đối với những băng thử dùng trong sản xuất, những liên kết đối với động cơ thườngđược lắp trước khi đưa vào phòng thử nghiệm Động cơ thường được lắp trên một giá đỡ

và được đưa vào phòng thử nghiệm trên các thanh ray, ở đây sẽ có những ụ tự động chophép liên kết giữa động cơ và băng thử trong thời gian ngắn trường hợp này thường sửdụng động cơ với một số động cơ nhất định

Khi lắp động cơ trên băng thử cần phải thực hiện một số liên kết sau: Các khớp nối

và trục, nhiên liệu, nước làm mát, các ống dẫn khí thải và các thiết bị Tất cả các ống nốiphải dễ uốn, chú ý ống khí xả có thể hỏng vì tuổi thọ thấp khi hoạt động ở nhiệt độ cao.Các dây truyền dẫn tín hiệu về hộp hiển thị cần phải được bố trí có thứ tự và tránh xakhỏi các nguồn nhiệt

Ngoài ra trần nhà được thiết kế hệ thống cẩu để nâng máy trong quá trình gá lắp động

cơ thử nghiệm Lưu ý là cẩu nên được lắp theo chiều dọc của động cơ để tạo thuận lợitrong điều chỉnh động cơ đồng trục với băng thử

Trang 32

II.4.14 Vấn đề an toàn

Hư hỏng của trục và khớp nối có thể gây ra những tai nạn nghiêm trọng, thông thườngphải có những bộ phận cách ly giữa người làm việc và các chi tiết quay trên băng thử.Các thiết bị che chắn các chi tiết quay cần phải được kiểm tra việc cọ xát khi chạycầm chừng, khi khởi động và cả khi động cơ hoạt động

II.4.15 Những điều chỉnh

Có một số công việc mà người thực hiện thử nghiệm cần phải làm khi động cơ hoạtđộng trong phòng thử nghiệm ví dụ: thay đổi tốc độ động cơ, điều chỉnh số vòng quaycầm chừng hay kiểm tra rò rỉ nhiên liệu…Để bảo đảm an toàn các thao tác này thườngđược thực hiện từ bàn điều khiển

Tuy nhiên trong phòng thử thường có một tủ điều khiển để người vận hành có thể vừađiều khiển động cơ, vừa có thể quan sát các đáp ứng khác như tốc độ, sự rò rỉ Hệthống điều khiển phải bảo đảm phối hợp chặt chẽ để bảo đảm trong cùng một thời gianđộng cơ chỉ bị tác động từ một vị trí duy nhất (ở trong phòng thử hay ở buồng điềukhiển)

II.5 Kiểm soát cháy nổ

II.5.1 Quy định Châu Âu về an toàn cháy nổ (ATEX) đối với phòng thử nghiệm động cơ

Quy định cháy nổ trong khí quyển ( ATEX_Atmospheric Explosion) đã được giớithiệu như là một phần của sự phối hợp các quy định của châu âu cho các ngành côngnghiệp dễ xảy ra cháy nổ ATEX đưa ra các yêu cầu tổng quát về sự an toàn và sức khỏe

để mọi người làm việc được an toàn và tránh các sự cố

Việc phân loại các khu vực như trong bảng 2.1

USA

Kí hiệu khuvực ATEX

Khí nổ phát

ra trong khíquyển

Ghi chú

Liên tục hoặc trong thời gian dài

> 1000 h/năm

Vùng 1 Thỉnh thoảng 10–1000 h/năm

Trang 33

Vùng 2 Vùng 2

Chỉ trongthời gianngắn

<10 h/năm

Bảng 2.1: Sự phân loại khu vực về cháy nổ theo tiêu chuẩn US và ATEX

Những biện pháp phòng ngừa chính, bao gồm cả nhiên liệu xăng và diesel:

- Không gian phòng thử phải được thông gió đầy đủ

- Theo dõi liên tục và báo động nồng độ hydrocacbon (thông thường sẽ “cảnh báo”tại 20% của hỗn hợp nổ và “tắt máy” tại 40%)

- Theo dõi sự rò rỉ nhiên liệu

- Mức tối đa của nhiên liệu có sẵn trong phòng thử nghiệm trong trường hợp khẩncấp hoặc tình trạng báo động là 10 lít

II.5.2 Hệ thống phun nước áp suất cao

Không giống như hệ thống dập tắt lửa bằng nước khác, ưu điểm của hệ thống này làchúng loại bỏ nhiệt từ các nguồn lửa và môi trường xung quanh Do đó làm giảm nguy cơbắt lửa khi hệ thống tắt đi

Hệ thống phun áp suất cao sử dụng lượng nước rất nhỏ và nước được phun ra dạngsương nên rất tiết kiệm Hơi nước chỉ được phun ra nơi có sự cháy và các thiết bị lân cận

sẽ được bảo vệ khỏi bức xạ nhiệt Hệ thống này rất hiệu quả trong các phòng thử lớn, nơi

mà các nguồn lửa có phạm vi nhỏ so với kích thước phòng thử

Ưu điểm của hệ thống này là chúng loại bỏ khói đen, do đó tường và trần nhà đượcgiữ sạch sẽ Việc kích hoạt hệ thống do vô ý không xảy ra và ngay cả khi xảy ra cũngkhông gây nguy hại cho thiết bị hoặc người Hệ thống hoạt động ngay cả khi cửa phòng

mở, cho phép người thoát khỏi nơi nguy hiểm một cách an toàn

II.5.3 Khí CO2

CO2 được sử dụng để dập tắt những đám cháy chất lỏng CO2 nặng gấp 1,5 lần so vớikhông khí và nó có xu hướng chìm xuống mặt đất Tuy nhiên, CO2 có ảnh hưởng xấu đếncon người, vì vậy trước khi sử dụng, phải có cảnh báo để đảm bảo an toàn cho người vậnhành phòng thử Lưu ý là CO2 được dùng để bao phủ không gian rộng, nếu như nồng độcủa nó khoảng 4% sẽ gây khó thở, từ 10% hay cao hơn, nó có thể làm cho con người bấttỉnh, nếu để lâu sẽ dẫn đến tử vong

Trang 34

Chú thích: Nghị định thư Montreal về các chất làm suy giảm tầng ozone (một nghịđịnh thư của Công ước Vienna về bảo hộ của các tầng ozone) là một hiệp ước quốc tếđược thiết kế để bảo vệ tầng ozone bằng cách loại bỏ dần việc sản xuất nhiều các chấtđược cho là chịu trách nhiệm về sự suy giảm ozone.

Khi hệ thống được kích hoạt, phải có cảnh báo để người vận hành rời khỏi khu vực,

hệ thống thông gió phải được ngừng lại, đóng tất cả các cửa và ngắt điện các thiết bị Inergen làm giảm lượng O2 xuống ngưỡng từ 10% đến 15% Ở mức độ này thì con người

có thể hít thở được nhưng không đủ điều kiện để làm bùng phát đám cháy

II.5.7 Bọt

Bọt dập tắt lửa dùng trong các đám cháy động cơ nhưng chúng thích hợp hơn cho việcdập tắt các đám cháy do các dung dịch dễ bắt lửa Bọt sẽ tạo thành lớp màng bảo vệ baophủ bề mặt dung dịch gây cháy khi được sử dụng Một số bột cũng có thể được sử dụng

để chia tách nhanh chóng ngọn lửa ra thành nhiều phần nhỏ để dễ dập tắt Vấn đề bảoquản cần phải rất cẩn thận vì nhiều loại bọt và bột xung khắc với nhau

Trang 35

II.5.8 Thiết bị dò tìm hơi

Thiết bị phòng cháy phát hiện theo sự cài đặt sẵn các mức hơi dầu, hơi hydrocacbon

và các chất khí được sử dụng trong các phòng thử nghiệm động cơ Nó được thiết lập với

độ nhạy cao, thiết bị sẽ báo khi độ bốc hơi của các chất gây cháy trên cao hơn mức độcho phép

II.6 Buồng điều khiển

Phòng điều khiển nên được bố trí một cách thuận tiện và thoải mái nhất có thể vìngười vận hành sẽ dành rất nhiều thời gian trong phòng Ơ đó nên có một mặt bằng làmviệc cách xa trạm điều khiển, nơi mà các cuộc thảo luận có thể được tổ chức Trongphòng có trang bị bảng điều khiển

Không gian bàn điều khiển rất phức tạp với nhiều máy tính và các máy tính này sẽđược dẫn đến một số bảng điều khiển

Một số thiết bị thường được cài đặt trong phòng điều khiển, chẳng hạn như thiết bị đokhí thải, các thiết bị hiển thị kết quả, kết quả đo tiêu hao nhiên liệu, hệ thống thông gió

Do đó cần phải thiết kế sao cho phù hợp với tiêu chuẩn của phòng

Bàn giao tiếp điều khiển các cuộc gọi phải được thiết kế cẩn thận để người điều khiểnthự hiện các thao tác được dễ dàng và phải lường trước không gian cho những bổ sungsau này Mục đích chính của bàn điều khiển là cho phép người vận hành có thể điều khiểntrực tiếp động cơ, hoặc là cho phép quản lý và giám sát hệ thống điều khiển một cách tựđộng Bàn điều khiển này sẽ quản lý những biến đổi chính về momen xoắn và tốc độđộng cơ, và những chỉ báo tương ứng của những biến đổi này Những chỉ báo phụ haynhững tín hiệu cảnh báo như nhiệt độ nước làm mát, áp suất dầu bôi trơn, nhiệt độ khíthải vv đều đóng vai trò rất quan trọng

Hiện nay, nhiều loại hệ thống hiện đại được tích hợp vào bàn điểu khiển, cho phéphiển thị nhiều màn hình cùng lúc, thể hiện các thông số thử nghiệm và các dữ liệu cầnthiết

Kích thước và vị trí cửa sổ quan sát có ảnh hưởng rất lớn đến sự bố trí phòng điềukhiển Cửa sổ quan sát không được phép bố trí đối diện trực tiếp với trục động cơ nhằmbảo đảm an toàn cho người điều khiển Cửa sổ có cấu tạo từ hai đến ba tấm kính cườnglực, dầy khoảng 10 cm, được thiết kế để cách âm, cách nhiệt và bảo đảm an toàn Kíchthước của cửa sổ phải đủ cho người điều khiển quan sát tổng thể phòng thử nghiệm

Trang 36

Sự lựa chọn các loại đồng hồ phụ thuộc vào kiểu điều khiển và loại công việc đượcthực hiện Nếu trong một số trường hợp, người vận hành phải điều khiển động cơ thủcông bằng cần chữ T hoặc vặn bướm ga, người điều khiển cần phải có đồng hồ đo tốc độloại cơ đặt ở nơi dễ nhìn thấy

Khi thiết kế buồng điều khiển cần phải chú ý một số vấn đề sau:

- Các yêu cầu về an toàn lao động

- Mức độ tự động hóa của phòng thử nghiệm động cơ

- Hiển thị các thông số thể hiện các chế độ làm việc của động cơ như: tốc độ,momen

- Hiển thị và cảnh báo của các thông số về đặc tính làm việc của động cơ như: nhiệt

độ nước làm mát, áp suất dầu bôi trơn, nhiệt độ khí thải,

Bàn làm việc của người vận hành được thiết kế sao cho chất lỏng bị đổ ra khi làmviệc không thấm vào các thiết bị điện tử Trong phòng điều khiển nên có hai lối thoáthiểm khẩn cấp Sàn nhà phải thiết kế không trơn trượt

Hình 2.14: Phòng điều khiển

Một số vấn đề cần xem xét về hệ thống máy tính:

• Khả năng của các nhà cung cấp phần mềm, phần cứng địa phương

• Cơ sở (đã được định vị) của các nhà cung cấp tiềm năng

• Mức độ đào tạo và hỗ trợ cần thiết cho các thiết bị đang được quan tâm

• Tính tương thích của hệ thống điều khiển với phần cứng của bên thứ ba

• Module hoặc khả năng nâng cấp của phần mềm và phần cứng

• Điều kiện cần thiết để sử dụng các dữ liệu có sẵn hoặc xuất dữ liệu từ các thiết bị mới đến cơ sở dữ liệu hiện tại

• Dễ dàng tạo ra các thử nghiệm liên tục

• Dễ dàng hiệu chỉnh hình dạng và cấu hình kênh

• Khả năng linh hoạt khi hiển thị thông tin và các tùy chọn khác

Trang 37

Chương 3:

MỘT SỐ HỆ THỐNG CỦA PHÒNG THỬ NGHIỆM ĐỘNG CƠ

III.1 Hệ thống thông gió và điều hòa không khí.

Động cơ đốt trong về bản chất là loại động cơ sử dụng không khí Không khí được sửdụng có thể đến từ hệ thống thông gió hoặc thiết bị xử lý bên ngoài phòng thử nghiệm.Tuy nhiên, dù là từ các nguồn nào, hiệu suất và công suất sinh ra của động cơ đều bị ảnhhưởng bởi điều kiện làm việc, nhiệt độ, áp suất và độ ẩm của khí nạp

Mục đích của hệ thống thông gió và điều hòa không khí là duy trì một môi trường làmviệc chấp nhận được trong phòng thử Phòng thử nghiệm động cơ là một trong nhữngmôi trường yêu cầu khắt khe nhất trong nền công nghiệp Một lượng lớn công suất đượctạo ra trong một khoảng không gian tương đối nhỏ, bề mặt hoạt động ở nhiệt độ cao vàmột lượng lớn nước làm mát, không khí và điện được điều tiết, cùng với sự thay đổi cáctải nhiệt

III.1.1 Phương pháp thông gió phòng thử nghiệm

Trong phần này sẽ đề cập đến một phương pháp được sử dụng phổ biến nhất để loại

bỏ nhiệt tạo ra từ động cơ bên trong phòng thử nghiệm, đó là phương pháp thông giócưỡng bức sử dụng không khí môi trường xung quanh (bên ngoài), không khí được tuầnhoàn bên trong phòng thử thông qua hệ thống điều hòa không khí

Sự lụa chọn phương pháp cuối cùng sẽ bị ảnh hưởng bởi phạm vi của điều kiện môitrường xung quanh, không gian phòng thử và các loại thử nghiệm được thực hiện

Hệ thống thông gió cho các phòng thử nghiệm không chỉ loại bỏ nhiệt mà còn ngănchặn sự gia tăng mức độ nguy hiểm của các chất khí và hơi Các yêu cầu này được xử lýbằng hệ thống lọc khí được thiết kế đặc biệt và đảm bảo đủ luồng không khí thông quaphòng thử Lưu lượng cần thiết để loại bỏ nhiệt được tạo ra bởi một động cơ hoặc xethường cung cấp một luồng không khí đủ để làm sạch hơi xăng và khí thải dưới các điềukiện bình thường, việc điều khiển chính xác lưu lượng khí sẽ đảm bảo làm giảm áp lựccủa môi trường xung quanh đến phòng thử khi phòng thử đang hoạt động, do đó ngănngừa khí bị đẩy vào khu vực làm việc khác

Ngân hàng 2-4 Phòng thí nghiệm 5-10

Trang 38

Quán cà phê 10-12 Văn phòng 5-7Phòng trưng bày 15-20 Nhà vệ sinh 6-10Gara 6-8 Nhà máy 8-10

Nguyên tắc thay đổi khí/ giờMột trong những cách để tăng hiệu quả thông gió, đảm bảo lưu lượng khí thông quaphòng thử, trên đường ống dẫn người ta bố trí các quạt thông gió Điều này còn làm tăngviệc loại bỏ các khí và hơi có khả năng gây cháy nổ bên trong phòng thử về mức thấpnhất Do đó quạt thông gió đóng vai trò rất cần thiết trong hệ thống thông gió

III.1.1.1 Quạt thông gió:

Trong phòng thử nghiệm sử dụng nhiên liệu dễ bay hơi, hệ thống thông gió phải kếthợp với quạt thông gió Mục đích của việc này là để loại bỏ các khí nặng và dễ cháy ởnhững vị trí thấp trong phòng thử Quạt thông gió là yếu tố thiết yếu làm giảm nguy cơcháy nổ trong phòng thử Hệ thống quạt thông gió nên được tích hợp vào buồng điềukhiển để đảm bảo khi phòng thử nghiệm được khởi động, quạt đã hoạt động được ít nhất

10 phút mà không có báo động, trước khi động cơ hoạt động

Công suất của quạt thông gió có thể bị giới hạn bởi các quy định địa phương nhưngtối thiểu phải thay đổi khí 30 lần/giờ

Ống thông gió cũng nên được kéo dài đến các vị trí thấp nhất trong phòng thử Ở một

số thiết kế, quạt thông gió có thể dùng để pha loãng khí thải.Dòng khí từ quạt thông gióđược tính vào dòng thoát khí chính và phải được cân bằng bởi thể tích bổ sung thêm từcác hệ thống cân bằng Dòng khí bổ sung có thể lấy từ dòng khí nạp hoặc từ các quạt đầuvào Dù bằng bất cứ cách nào, khi phòng thử hoạt động và cửa đóng, áp suất chân khôngphải trong khoảng 30-50 Pa so với môi trường xung quanh, nếu lớn hơn sẽ khó mở cửa

III.1.1.2 Các nguồn nhiệt trong phòng thử nghiệm:

Nguồn gốc nhiệt sinh ra trong phòng thử là từ hệ thống nước làm mát của động cơ, hệthống khí xả và băng thử là chủ yếu Khoảng 40% lượng nhiệt từ động cơ được thải ra từ

hệ thống nước làm mát và từ 10% đến 30% lượng nhiệt được thải ra từ hệ thống khí xả.Động cơ diesel toả ra lượng nhiệt khoảng 60 đến 70 % nhiệt sinh ra trong quá trình cháy

và động xăng khoảng 70 đến 80% Ngoài ra đối với các loại băng thử thuỷ lực, băng thửdùng dòng foucault (eddy current) thì lượng nhiệt này còn lớn hơn đối với hệ thống nướclàm mát Ngoài ra một lượng nhiệt sinh ra do các thiết bị sử dụng trong phòng thửnghiệm động cơ như các bóng đèn chiếu sáng, quạt làm mát, thiết bị đo,…

Trang 39

Hình 3.1: Mô phỏng nhiệt của phòng thử toả ra

III.1.1.2.1 Động cơ

Đã có nhiều đánh giá về sự truyền nhiệt ra môi trường xung quanh từ động cơ làmmát bằng nước và hệ thống xả của nó đã được công bố Một tài liệu được trích dẫn chothấy năng lượng nhiệt được tạo ra từ một lượng nhiên liệu bị tổn thất tối đa 15%, chia đềucho cả đối lưu và bức xạ Nó tương ứng với 30% công suất phát ra từ động cơ diesel và40% đối với động cơ xăng.Ví dụ về 40% (0.4/1 kW): 0.1 kW/1 kW cho động cơ, 0.3kW/1 kW cho hệ thống xả Trong trường hợp động cơ làm mát bằng không khí, nhiệt thải

ra từ động cơ sẽ tăng lên 0.7 kW/1 kW và diesel là 0.9 kW/ 1 kW Lượng nhiệt thoát ra từquá trình cháy được chuyển qua nước làm mát trong động cơ làm mát bằng nước haychuyển qua môi trường xung quanh trong động cơ làm mát bằng không khí

Thiết bị đo công suất làm mát bằng nước, dù là thủy lực hay dòng Foucault, thườngchạy ở mức nhiệt độ trung bình và thất thoát nhiệt không vượt quá 5% công suất phanh.Thường thì các thiết bị đo AC và DC làm mát bằng không khí thất thoát nhiệt vào khoảng6-10%

III.1.1.2.2 Một số nguồn phát nhiệt khác:

Trang 40

Các bóng đèn chiếu sáng, quạt làm mát, thiết bị đo cũng truyền nhiệt vào không khí.Năng lượng được lấy đi để dẫn động quạt thông gió cũng tương tự như vậy: nó hao phíbằng với nhiệt trong không khí được xử lý bằng quạt.

Bộ trao đổi nhiệt thứ cấp sử dụng để kiểm soát nhiệt độ nước làm mát và dầu sẽđóng góp thêm vào tổng tải nhiệt Ở đây, các ống dẫn không cách nhiệt không chỉ làmtăng thêm nhiệt độ mà còn ảnh hưởng đến sự kiểm soát nhiệt độ trong phòng thử

III.1.1.2.3 Tỏa nhiệt từ phòng thử-tính toán tải nhiệt

Nhiệt độ phòng thử thường cao hơn mức bình thường so với các môi trường côngnghiệp khác Vì vậy, trong một số trường hợp có sự truyền nhiệt đáng kể qua tường vàtrần phòng thử tùy thuộc vào hình dạng của phòng thử nhưng sự tổn thất đó có thể bỏ quađược; ngoại trừ trường hợp phòng thử được cấu thành từ những thiết bị riêng biệt

Các giá trị cơ sở được đề nghị sử dụng khi thiết kế hệ thống thông gió phòng thử được

ΔT:

HL: tổng tải nhiệt (kW)

Nhiệt độ tăng ΔT=100C là một chuẩn vừa phải cho thiết kế Khi giá trị ΔT tăng thì sẽ

làm giảm lưu lượng tương ứng Tuy nhiên, việc giảm lưu lượng không khí có hai ảnhhưởng đến nhiệt độ chung phòng thử: nhiệt độ đầu ra càng cao, nhiệt độ trung bình phòngthử càng cao, trong khi lưu lượng không khí nhỏ làm giảm vận tốc trong phòng thử; làm

Ngày đăng: 23/06/2017, 07:37

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 2.5: Phòng thử dùng chung buồng điều khiển - ĐỒ án tìm HIỂU NHỮNG vấn đề LIÊN QUAN THỬ NGHIỆM ĐỘNG cơ
Hình 2.5 Phòng thử dùng chung buồng điều khiển (Trang 18)
Hình 3.12:  Sơ đồ hệ thống nước làm mát hở. - ĐỒ án tìm HIỂU NHỮNG vấn đề LIÊN QUAN THỬ NGHIỆM ĐỘNG cơ
Hình 3.12 Sơ đồ hệ thống nước làm mát hở (Trang 57)
Hình 3.14: Phòng thử trong ví dụ III.3 Hệ thống khí thải. - ĐỒ án tìm HIỂU NHỮNG vấn đề LIÊN QUAN THỬ NGHIỆM ĐỘNG cơ
Hình 3.14 Phòng thử trong ví dụ III.3 Hệ thống khí thải (Trang 59)
Hình 5.17: Đường đặc tính momen – số vòng quay và công suất – theo số vòng - ĐỒ án tìm HIỂU NHỮNG vấn đề LIÊN QUAN THỬ NGHIỆM ĐỘNG cơ
Hình 5.17 Đường đặc tính momen – số vòng quay và công suất – theo số vòng (Trang 93)
Hình 6.3: Sơ đồ tính giá trị điện dung trên hai bản cực. - ĐỒ án tìm HIỂU NHỮNG vấn đề LIÊN QUAN THỬ NGHIỆM ĐỘNG cơ
Hình 6.3 Sơ đồ tính giá trị điện dung trên hai bản cực (Trang 107)
Hình 6.5: Dụng cụ đo theo kiểu trọng lượng - ĐỒ án tìm HIỂU NHỮNG vấn đề LIÊN QUAN THỬ NGHIỆM ĐỘNG cơ
Hình 6.5 Dụng cụ đo theo kiểu trọng lượng (Trang 109)
Hình 8.2 Mối quan hệ giữa lượng khí thải và tỷ lệ không khí/nhiên - ĐỒ án tìm HIỂU NHỮNG vấn đề LIÊN QUAN THỬ NGHIỆM ĐỘNG cơ
Hình 8.2 Mối quan hệ giữa lượng khí thải và tỷ lệ không khí/nhiên (Trang 123)
Hình 8.12: Dải hấp thụ của một số khí trong phạm vi bước sóng từ 2 đến 6 m - ĐỒ án tìm HIỂU NHỮNG vấn đề LIÊN QUAN THỬ NGHIỆM ĐỘNG cơ
Hình 8.12 Dải hấp thụ của một số khí trong phạm vi bước sóng từ 2 đến 6 m (Trang 143)
Hình 9.4: Sơ đồ phân loại nguyên lí của thiết bị đo áp suất - ĐỒ án tìm HIỂU NHỮNG vấn đề LIÊN QUAN THỬ NGHIỆM ĐỘNG cơ
Hình 9.4 Sơ đồ phân loại nguyên lí của thiết bị đo áp suất (Trang 155)
Hình 10.3: Quá trình truyền nhiệt trong buồng cháy động cơ. - ĐỒ án tìm HIỂU NHỮNG vấn đề LIÊN QUAN THỬ NGHIỆM ĐỘNG cơ
Hình 10.3 Quá trình truyền nhiệt trong buồng cháy động cơ (Trang 177)
Hình 10.5: Sơ đồ phân loại thiết bị đo nhiệt độ - ĐỒ án tìm HIỂU NHỮNG vấn đề LIÊN QUAN THỬ NGHIỆM ĐỘNG cơ
Hình 10.5 Sơ đồ phân loại thiết bị đo nhiệt độ (Trang 181)
Hình 10.28: Phương pháp lắp ống bảo vệ nhiệt kế vào dòng chảy. - ĐỒ án tìm HIỂU NHỮNG vấn đề LIÊN QUAN THỬ NGHIỆM ĐỘNG cơ
Hình 10.28 Phương pháp lắp ống bảo vệ nhiệt kế vào dòng chảy (Trang 208)
Hình 10.53: Sơ đồ nguyên lí thiết bị đo lắp nhiệt kế bán dẫn. - ĐỒ án tìm HIỂU NHỮNG vấn đề LIÊN QUAN THỬ NGHIỆM ĐỘNG cơ
Hình 10.53 Sơ đồ nguyên lí thiết bị đo lắp nhiệt kế bán dẫn (Trang 230)
Hình 11.3:  Sự thay đổi của hiệu suất nhiệt khí lý tưởng so với tỉ số nén - ĐỒ án tìm HIỂU NHỮNG vấn đề LIÊN QUAN THỬ NGHIỆM ĐỘNG cơ
Hình 11.3 Sự thay đổi của hiệu suất nhiệt khí lý tưởng so với tỉ số nén (Trang 236)
Hình 11.4: Không gian điều khiển các dòng năng lượng của băng thử động cơ - ĐỒ án tìm HIỂU NHỮNG vấn đề LIÊN QUAN THỬ NGHIỆM ĐỘNG cơ
Hình 11.4 Không gian điều khiển các dòng năng lượng của băng thử động cơ (Trang 237)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w