Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn --- PHẠM VĂN TOÀN NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA CÁC MỨC METHIONINE + CYSTINE/LYSINE KHÁC NHAU TRONG KHẨU PHẦN ĂN ĐẾN KHẢ NĂNG
Trang 1Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn
-
PHẠM VĂN TOÀN
NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA CÁC MỨC
(METHIONINE + CYSTINE)/LYSINE KHÁC NHAU TRONG KHẨU PHẦN ĂN ĐẾN KHẢ NĂNG SẢN XUẤT
THỊT CỦA GÀ LAI (RI X LƯƠNG PHƯỢNG)
NUÔI VỤ HÈ - THU TẠI THÁI NGUYÊN
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NÔNG NGHIỆP
THÁI NGUYÊN - 2016
Trang 2Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn
Trang 3Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn
-
PHẠM VĂN TOÀN
NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA CÁC MỨC
(METHIONINE + CYSTINE)/LYSINE KHÁC NHAU TRONG KHẨU PHẦN ĂN ĐẾN KHẢ NĂNG SẢN XUẤT
THỊT CỦA GÀ LAI (RI X LƯƠNG PHƯỢNG)
Ngành: Chăn nuôi
Mã số: 60.62.01.05
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NÔNG NGHIỆP
Giáo viên hướng dẫn: 1 TS Nguyễn Thị Thúy Mỵ
2 PGS.TS Trần Thanh Vân
THÁI NGUYÊN - 2016
Trang 4Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn
THÁI NGUYÊN - 2016
Trang 5Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này hoàn toàn trung thực và chưa sử dụng cho bảo vệ một học vị nào Các thông tin, tài liệu trình bày trong luận văn này đã được ghi rõ nguồn gốc./
Thái Nguyên, tháng 9 năm 2016
Tác giả
Phạm Văn Toàn
Trang 6Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn
LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành bản luận văn Thạc sĩ khoa học nông nghiệp tôi đã nhận được sự giúp đỡ nhiệt tình của các cơ quan, các cấp lãnh đạo, cá nhân nơi tôi học tập và thực hiện đề tài Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc và kính trọng tới tất cả tập thể, cá nhân đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi trong quá trình học tập
và nghiên cứu
Để có được kết quả như ngày hôm nay, tôi xin trân trọng cảm ơn Ban giám hiệu, phòng Đào tạo trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên; Khoa Chăn nuôi Thú y, cùng tập thể các thầy, cô giáo trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên đã tạo mọi điều kiện thuận lợi cho tôi hoàn thành luận văn này Đặc biệt tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới toàn thể gia đình thầy giáo PGS.TS Trần Thanh Vân và cô TS Nguyễn Thị Thúy Mỵ Sự động viên và tạo điều kiện tốt nhất của gia đình đã giúp tôi thực hiện đề tài nghiên cứu và hoàn thiện bản luận văn này Một lần nữa xin kính chúc thầy cô giáo cùng toàn thể gia đình sức khỏe, hạnh phúc và thành đạt trong công tác giảng dạy
và nghiên cứu
Tôi xin chân thành cảm ơn tới mọi người thân trong gia đình và toàn thề bạn bè, đồng nghiệp đã động viên, chia sẻ giúp đỡ tôi về vật chất và tinh thần
để tôi yên tâm hoàn thành luận văn
Thái nguyên, ngày … tháng… năm 2016
Học viên
Phạm Văn Toàn
Trang 7Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn
Trang 8Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn
MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iv
DANH MỤC BẢNG vii
DANH MỤC HÌNH viii
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT ix
MỞ ĐẦU 1
1 Đặt vấn đề 1
2 Mục tiêu của đề tài 2
3 Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn của đề tài 3
3 1 Ý nghĩa khoa học 3
3.2 Ý nghĩa thực tiễn của đề tài 3
Chương 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4
1.1 Cơ sở khoa học của đề tài 4
1.1.1 Nhu cầu dinh dưỡng của gà thịt và phương pháp xác định 4
1.1.2 Nhu cầu về protein và axit amin của gà thịt và phương pháp xác định 6
1.1.3.Vai trò của các axit amin 8
1.1.4 Khả năng sản xuất thịt của gia cầm và các yếu tố ảnh hưởng 13
1.2 Nguồn gốc, đặc điểm sinh học và khả năng sản xuất của gà Lương Phượng, gà Ri và con lai 19
1.2.1 Nguồn gốc, đặc điểm sinh học và khả năng sản xuất của gà Lương Phượng 19
1.2.2 Nguồn gốc, đặc điểm sinh học và khả năng sản xuất của gà Ri 20
1.2.3.Đặc điểm sinh học và khả năng sản xuất của gà Ri lai 21
1.3 Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước 23
1.3.1 Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài 23
1.3.2 Tình hình nghiên cứu trong nước 25
Chương 2: ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 27
Trang 9Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn
2.1 Đối tượng, địa điểm, thời gian nghiên cứu 27
2.2 Nội dung và phương pháp nghiên cứu 27
2.2.1 Nội dung nghiên cứu 27
2.2.2 Phương pháp nghiên cứu 28
2.3 Các chỉ tiêu và phương pháp theo dõi 32
2.3.1 Theo dõi nhiệt độ và độ ẩm chuồng nuôi 32
2.3.2 Tỷ lệ nuôi sống (%) 32
2.3.3.Khả năng sinh trưởng 32
2.3.4 Khả năng thu nhận và chuyển hóa thức ăn 33
2.3.5 Chỉ số sản xuất (PI) 35
2.3.6 Chỉ số kinh tế (EN) 35
2.4 Khảo sát chỉ tiêu năng suất thịt 35
2.5 Phương pháp xử lý số liệu 36
Chương 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 37
3.1 Nhiệt độ, độ ẩm môi trường tại thời điểm thí nghiệm 37
3.2 Tỷ lệ nuôi sống của gà thí nghiệm qua các tuần tuổi 39
3.3.Khả năng sinh trưởng của gà thí nghiệm 42
3.3.1 Sinh trưởng tích lũy 42
3.3.2 Sinh trưởng tuyệt đối của gà thí nghiệm 45
3.3.3 Sinh trưởng tương đối của gà thí nghiệm 50
3.4 Khả năng thu nhận và chuyển hóa thức ăn của gà thí nghiệm 52
3.4.1 Khả năng thu nhận thức ăn của gà thí nghiệm 53
3.4.2 Tiêu tốn thức ăn cho 1 kg tăng khối lượng 56
3.4.3 Tiêu tốn protein cho 1 kg tăng khối lượng 59
3.4.4 Tiêu tốn năng lượng trao đổi cho 1 kg tăng khối lượng 61
3.5 Năng suất thịt của gà thí nghiệm 63
3.6 Chỉ số sản xuất và chỉ số kinh tế của gà thí nghiệm 65
3.6.1 Chỉ số sản xuất (PI) 65
Trang 10Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn
3.6.2 Chỉ số kinh tế của gà thí nghiệm (EN) 67
3.6.3 Chi phí thức ăn của gà thí nghiệm 68
KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 70
TÀI LIỆU THAM KHẢO 72
PHỤ LỤC 73
Trang 11Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn
DANH MỤC BẢNG
Bảng 1.1 Nhu cầu axit amin không thay thế cho gà thịt 11
Bảng 1.2 Nhu cầu các axit amin thiết yếu so với lysine (NRC, 1994) 12
Bảng 1.3 Tỷ lệ một số axit amin thiết yếu trong protein lý tưởng cho gà thịt broiler 12
Bảng 1.4 Tỷ lệ axit amin thiết yếu so với lysine trong protein lý tưởng của khẩu phần ăn cho gà thịt, (%) 130
Bảng 2.1 Sơ đồ bố trí thí nghiệm 28
Bảng 2.2 Dinh dưỡng của khẩu phần thí nghiệm 29
Bảng 2 3 Công thức phối trộn thức ăn của khẩu phần thí nghiệm (%) 30
Bảng 2.4 Lịch sử dụng vắc-xin 31
Bảng 3.1 Nhiệt độ, ẩm độ môi trường tại thời điểm nuôi thí nghiệm 37
Bảng 3.2 Tỷ lệ nuôi sống cộng dồn của gà thí nghiệm 39
Bảng 3.3 Khối lượng cơ thể gà thí nghiệm qua các tuần tuổi 44
Bảng 3.4 Sinh trưởng tuyệt đối của gà thí nghiệm 46
Bảng 3.5 Sinh trưởng tương đối của gà thí nghiệm 51
Bảng 3.6.Khả năng thu nhận thức ăn của gà thí nghiệm 53
Bảng 3.7 Tiêu tốn thức ăn cộng dồn cho 1 kg tăng khối lượng của gà thí nghiệm 56 Bảng 3.8 Tiêu tốn protein cho 1 kg tăng khối lượng của gà thí nghiệm 59
Bảng 3.9 Tiêu tốn năng lượng cho tăng khối lượng của gà thí nghiệm 62
Bảng 3.10 Kết quả mổ khảo sát gà thí nghiệm(n = 3) 64
Bảng 3.11 Chỉ số sản xuất của gà thí nghiệm (PI) 66
Bảng 3.12 Chỉ số kinh tế của gà thí nghiệm 67
Bảng 3.13 Chi phí thức ăn/kg tăng khối lượng của gà thí nghiệm 68
Trang 12Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn
DANH MỤC HÌNH
Hình 1.3 Hình ảnh gà Ri lai 21
Hình 2 1 Gà Ri lai (Ri x Lương Phượng) mới nở 27
Hình 3.1 Đồ thị khối lượng cơ thể gà thí nghiệm qua các tuần tuổi 45
Hình 3.2 Biểu đồ sinh trưởng tuyệt đối của gà thí nghiệm 50
Hình 3.3 Biểu đồ sinh trưởng tương đối của gà thí nghiệm 52
Trang 13Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn
Trang 14MỞ ĐẦU
1 Đặt vấn đề
Trong chăn nuôi gia cầm gà là một đối tượng được quan tâm nghiên cứu
và phát triển mạnh mẽ, bởi vì chúng có nhiều đặc tính nổi trội hơn các loại gia cầm khác Chúng có sức sống tốt, khả năng tận dụng thức ăn cao, tốc độ sinh trưởng nhanh, khả năng thích ứng rộng với khí hậu và nhiều điều kiện chuồng nuôi của Việt Nam Đã có nhiều giống gà được nuôi ở nước ta với nhiều mục đích sản xuất khác nhau Một trong những giống gà được nghiên cứu và nuôi phổ biến đem lại hiệu quả sản xuất và kinh tế rất cao cho người chăn nuôi, đó
là gà Ri và con lai của gà Ri
Hiện nay đã có nhiều công trình nghiên cứu về lai tạo, khả năng sinh trưởng, chất lượng của gà Ri (R) lai với gà Lương Phượng (LP) và loại gà này cũng đã nuôi phổ biến ở nhiều địa phương Lê Huy Liễu (2004) [12] khẳng định, gà lai F1 (♂ Lương Phượng x ♀ Ri) và F1 (♂ Kabir x ♀ Ri) nuôi thịt ở Thái Nguyên quanh năm đều có khả năng thích ứng và sinh trưởng tốt, năng suất thịt cao hơn gà nội (gà Ri), chất lượng thịt tốt ngang bằng gà Ri, gà Lương Phượng và gà Kabir Hồ Xuân Tùng (2009) [32] cho biết, các tính trạng năng suất như khả năng sinh trưởng, sinh sản, tỷ lệ nuôi sống, sức đề kháng với bệnh tật của gà lai F1 (LP x R) và F1 (R x LP) hầu như tương đương nhau và đều cao hơn gà Ri Trong hai tính trạng chính là khả năng sinh trưởng đối với gà thịt và sản lượng lượng trứng đối với gà đẻ, nếu so với gà Lương Phượng thì khả năng sinh trưởng mới đạt 67,7 %, sản lượng trứng đạt
79 %, nhưng so với gà Ri thì khối lượng cơ thể lúc 19 tuần tuổi cao hơn 28 - 35,8 % và sản lượng trứng đến 52 tuần tuổi cao hơn 14,5 - 16 % Số lượng đàn gà của Việt Nam năm 2012 là 223,7 triệu con (Trung tâm thông tin PTNNNT, 2013) [29], trong đó gà lai có ½ máu gà nội, đặc biệt là gà Ri lai có
số lượng đáng kể trong tổng số đàn gà thịt của Việt Nam
Để chăn nuôi gia cầm đạt hiệu quả kinh tế cao phải chọn được loại thức ăn hỗn hợp có hàm lượng dinh dưỡng phù hợp với vật nuôi, vì thức ăn chiếm gần
70 % trong giá thành của sản phẩm Cân bằng dinh dưỡng để đáp ứng nhu cầu
Trang 15của gia cầm là biện pháp tăng năng suất sản phẩm và tăng hiệu quả sử dụng thức
ăn Việc nghiên cứu về dinh dưỡng, thiết lập, bố trí khẩu phần ăn hợp lý cho các loại gia cầm là một trong những đề tài được nghiên cứu không ngừng Những nghiên cứu về thức ăn và dinh dưỡng cho vật nuôi đều hướng tới một mục đích chung, đó là: Nâng cao giá trị sản xuất đối với vật nuôi, hạ thấp được giá thành sản phẩm
Tác giả Trần Thanh Vân và cs (2015) [35] đã nghiên cứu và công bố mức dinh dưỡng thích hợp cho gà F1 (Ri x Lương Phượng) và đề nghị cần nghiên cứu thêm tỷ lệ (methionine + cystine)/lysine Theo Lê Đức Ngoan,
2002 [23], lysine và methionine là hai axit amin (aa) giới hạn đầu tiên trong hầu hết các loại thức ăn cho gia cầm của Việt Nam; nếu khẩu phần thiếu cystine hoặc dạng cystine trao đổi của nó thì cystine sẽ được tổng hợp từ methionine; do đó, nhu cầu methionine phụ thuộc vào hàm lượng cystine hoặc cystine trong khẩu phần và hai aa này luôn luôn đi chung với nhau; tuy nhiên, methionine lại không được tổng hợp từ cystine, vì vậy methionine phải luôn luôn có mặt để đáp ứng nhu cầu của con vật
Theo Nguyễn Duy Hoan (2010) [6], khi nhiệt độ môi trường tăng cao, gia cầm có khuynh hướng ăn ít hơn để giảm sinh nhiệt, lúc này lượng aa ăn vào không đủ cho nhu cầu sản xuất, khi đó sẽ xuất hiện một số axit amin có giới hạn
Xuất phát từ các lý do trên, tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Nghiên cứu ảnh hưởng của các mức (methionine + cystine)/lysine khác nhau trong khẩu phần ăn đến khả năng sản xuất thịt của gà lai (Ri x Lương Phượng) nuôi vụ Hè – Thu tại Thái Nguyên”
2 Mục tiêu của đề tài
- Đánh giá ảnh hưởng của các mức (methionine + cystine)/lysine khác nhau trong khẩu phần ăn đến khả năng sản xuất thịt của gà lai (Ri x Lương Phượng) nuôi vụ Hè – Thu
- Từ kết quả thực hiện có những khuyến cáo bổ ích cho người chăn nuôi
Trang 163 Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn của đề tài
3 1 Ý nghĩa khoa học
Xác định mức methionine + cystine)/lysine thích hợp cho gà Ri lai ( Ri x Lương Phượng) nuôi vụ Hè - Thu, để xây dựng công thức thức ăn cho gà Ri lai nuôi theo mùa vụ ở miền Bắc Việt Nam
- Góp phần thay đổi cơ cấu khẩu phần nuôi gà Ri , sử dụng nguyên liệu sẵn có tại địa phương nhằm giảm chi phí giá thành của sản phẩm Góp phần phát triển chăn nuôi gà Ri lai theo hướng an toàn sinh học, bền vững
- Kết quả nghiên cứu làm tài liệu tham khảo phục vụ cho công tác giảng dạy và nghiên cứu tiếp theo
3.2 Ý nghĩa thực tiễn của đề tài
- Góp phần nâng cao hiệu quả chăn nuôi gà Ri lai (♂ Ri x ♀ Lương Phượng) bằng việc sử dụng đúng tỷ lệ các axit amin thiết yếu hợp lý
- Các nhà sản xuất thức ăn chăn nuôi, nông dân có thể ứng dụng kết quả nghiên cứu để sản xuất, kinh doanh mang lại hiệu quả kinh tế cao hơn
- Xác định được khẩu phần ăn có giá thành rẻ nhất phù hợp với kinh tế nông hộ miền núi, là cơ sở để xây dựng quy trình chăn nuôi gà Ri lai cho các
hộ có mức đầu tư thấp, góp phần phát triển chăn nuôi gà Ri lai
- Góp phần đưa chăn nuôi gia cầm vào trở thành nghề, giúp các hộ nông dân sử dụng lao động nhàn rỗi, tạo công ăn việc làm, tận dụng nguồn thức ăn có sẵn ở địa phương để nâng cao hiệu quả chăn nuôi, tăng thu nhập kinh tế hộ, cải thiện đời sống trong nông hộ khu vực miền núi phía Bắc
Trang 17Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 Cơ sở khoa học của đề tài
1.1.1 Nhu cầu dinh dưỡng của gà thịt và phương pháp xác định
1.1.1.1 Nhu cầu về năng lượng của gà thịt và phương pháp xác định
Năng lượng rất cần thiết cho sự duy trì cho mọi hoạt động, sinh trưởng
và phát triển cơ thể Mỗi hoạt động sống của cơ thể động vật đều gắn liền với quá trình sử dụng và trao đổi năng lượng Quá trình này đòi hỏi sự lấy vào các chất dinh dưỡng đề bù đắp vào chỗ vật chất của cơ thể bị đốt cháy, tạo ra năng lượng tích lũy cho cơ thể lớn lên và phát triển được Năng lượng trong thức ăn được tiềm trữ trong các dạng vật chất của thức ăn đó như lipid, protein, carbohydrate (Nguyễn Duy Hoan và cs, 1999 [5])
Nhu cầu năng lượng duy trì cho gà
Để cung cấp đầy đủ chính xác khẩu phần cho gia cầm thì yếu tố đầu tiên
là mức năng lượng thích hợp, cần thiết cho nhu cầu duy trì các hoạt động, sinh trưởng và phát triển của cơ thể Năng lượng cho duy trì bao gồm năng lượng cho trao đổi chất cơ bản và năng lượng cho hoạt động bình thường Nhu cầu năng lượng cho hoạt động bình thường phụ thuộc vào mức độ hoạt động của con vật Điều kiện nuôi dưỡng bình thường thì năng lượng cho hoạt động bằng 50 % năng lượng trao đổi cơ bản
Nhu cầu năng lượng trao đổi cơ bản là nhu cầu dưỡng chất để bù đắp cho
sự tiêu hao năng lượng, đây là các chất dinh dưỡng phân giải lúc đói trong điều kiện tiêu chuẩn không vận động, không làm việc Trong thực tiễn sản xuất, người ta thường tính theo nhu cầu năng lượng cho 1 kg khối lượng trao
theo McDonald và cs (1995), nhu cầu năng lượng trao đổi cơ bản cho 1 kg
Trang 18khối lượng là 72 kcal/ngày, còn 1 kg là 86 kcal/ngày (Nguyễn Đức Hưng, 2006 [7])
Singh (1988) [49] đã đưa ra công thức tính nhu cầu năng lượng thuần cho duy trì (NEm) là:
Năng lượng thuần cho duy trì chiếm 82 % năng lượng trao đổi cho duy trì và năng lượng cho hoạt động sống bình thường bằng 50 % năng lượng trao đổi cơ bản
Dựa vào đó, ta có thể tính được nhu cầu năng lượng duy trì của gà đối với khối lượng khác nhau
Nhu cầu năng lượng cho sản xuất
Nhu cầu năng lượng cho sản xuất phụ thuộc vào loại sản phẩm chăn nuôi Đối với gia súc, gia cầm đang sinh trưởng phụ thuộc vào tăng khối lượng hằng ngày và thành phần thân thịt xẻ, còn đối với gia cầm đẻ trứng nhu cầu này phụ thuộc vào sản lượng, khối lượng trứng và tỷ lệ đẻ của cả đàn (Hội Chăn nuôi Việt Nam, 2001[7])
Nhu cầu năng lượng cho tăng khối lượng:
Theo Bùi Đức Lũng (1995) (Dẫn theo Nguyễn Đức Hưng, 2006 [8]) có thể tính nhu cầu năng lượng cho tăng khối lượng theo công thức:
MEtt=
Trong đó:
MEtt: nhu cầu năng lượng cho tăng khối lượng
Pt: số gam tăng khối lượng/ngày
0,3: % protein trong thịt
Trang 195,7: số kcal/g protein
0,05: % mỡ trong thịt
9,5: số kcal/g mỡ
0,82: hiệu suất sử dụng năng lượng trao đổi cho tăng khối lượng
1.1.2 Nhu cầu về protein và axit amin của gà thịt và phương pháp xác định
Protein là các polymer được tạo nên từ các trình tự xác định các amino acid Protein là hợp chất hữu cơ có ý nghĩa quan trọng bậc nhất trong cơ thể sống Ngoài vai trò là thành phần chính trong cấu trúc của tế bào và mô, protein còn có nhiều chức năng phong phú khác quyết định những đặc điểm
cơ bản của sự sống như sự truyền đạt thông tin di truyền, sự chuyển hóa các chất Protein có vai trò sinh học là: tạo hình, xúc tác, bảo vệ, vận chuyển, vận động, dự trữ và dinh dưỡng, dẫn truyền tín hiệu thần kinh, điều hòa, cung cấp năng lượng (Hồ Trung Thông và cs, 2006 [28])
Axit amin là chất hữu cơ mà phân tử chứa ít nhất một nhóm carboxyl (-
chất là một imino acid) Trong phân tử các aa tồn tại trong tự nhiên, các nhóm –COOH và –NH2 đều gắn với carbon ở vị trí α Hầu hết các aa thu nhận được khi thủy phân protein đều ở dạng L-α Như vậy, các aa chỉ khác nhau ở mạch nhánh (gốc R) Theo quan điểm dinh dưỡng, người ta chia 20 loại aa thường gặp trong protein thành 2 nhóm: aa không thay thế hay còn gọi là aa thiết yếu
và aa thay thế hay còn gọi là aa không thiết yếu Có 8 - 10 loại aa thiết yếu tùy theo từng loại động vật Đối với gia cầm, có 9 - 10 loại aa thiết yếu là: arginine (đối với gà con), histidine, leucine, isoleucine, lysine, methionine, phenylalamine, threonine, tryptophan và valine Axit amin không thiết yếu là những aa mà cơ thể có thể tổng hợp được và đủ đáp ứng nhu cầu của chúng Axit amin không thiết yếu gồm: Glicine, alanine, proline, serine, aspargine, glutamine, aspartate, glutamate Một số aa không được xếp vào nhóm không
Trang 20thay thế hay nhóm thay thế mà chúng được xếp vào nhóm bán thay thế hay bán thiết yếu, bao gồm: Arginine, cystine, tyrosine (Hồ Trung Thông và cs,
2006 [28])
- Vai trò của protein đối với cơ thể gia cầm
Đối với bất kỳ vật nuôi nào, protein trong thức ăn là cơ sở quan trọng nhất của cơ thể gia cầm, protein có hàng loạt các đặc tính không thể có ở bất kỳ một hợp chất hữu cơ nào khác Đối với gia cầm, protein có rất nhiều chức năng và là thành phần chính của xương, dây chằng, lông, da, các cơ quan và cơ Do protein được sử dụng cho duy trì, sinh trưởng và sản xuất nên
nó phải được thường xuyên đưa vào cơ thể Nếu protein ăn vào thấp hơn nhu cầu thì độ sinh trưởng và điều kiện sống của các mô bào sẽ bị ảnh hưởng, dẫn đến sự phát triển chậm các cơ quan cần thiết trong cơ thể (Nguyễn Đức Hưng,
2006 [8]) Protein là thành phần quan trọng của sự sống, tham gia cấu tạo nên tế bào, nó chiếm 1/5 khối lượng cơ thể gia cầm và chiếm 1/7 đến 1/8 khối lượng trứng Protein trong thức ăn có ảnh hưởng rất lớn tới khả năng sản xuất thịt, trứng của gia cầm, khi khẩu phần thức ăn cung cấp đầy đủ protein sẽ cho năng suất sản phẩm cao và ngược lại
Nhu cầu protein cho gà thịt bao gồm nhu cầu cho duy trì, cho tăng trưởng và cho tổng hợp lông Theo Singh (1988) [50], nhu cầu protein tổng thể như sau:
Pr(g)=
Trong đó:
Pr (g): nhu cầu protein cần thiết (g/con/ngày)
P: khối lượng cơ thể (g/con)
P: Tăng khối lượng (g/con/ngày)
0,0016: nhu cầu protein (g) cho duy trì 1 gam
Trang 210,18: tỷ lệ protein trong thịt
0,04: tỷ lệ lông gà so với P gà dưới 4 tuần
0,07: tỷ lệ lông gà so với P gà từ 4 tuần tuổi
0,82: tỷ lệ protein trong lông
0,64: hiệu quả sử dụng protein của gà thịt
1.1.3.Vai trò của các axit amin
Axit amin là thành phần cấu trúc cơ bản của protein, theo Từ Quang Hiển, Phan Đình Thắm (2002) [4] thì vai trò các axit amin trong cơ thể rất đa dạng, là thành phần chủ yếu của protein, axit amin là yếu tố không thể thiếu được trong thức ăn của gia cầm Axit amin giữ vai trò quan trọng đối với cơ thể gia cầm, nhu cầu protein trong khẩu phần ăn cho gia cầm thực chất là các axit amin thay thế và không thay thế Ngày nay với sự tiến bộ khoa học kỹ thuật đã phát hiện trong các loại sản phẩm từ mọi sinh vật, có trên 200 axit amin, riêng trong cơ thể động vật xác định được 23 - 25 axit amin và được phân chia theo 2 nhóm, nhóm axit amin không thay thế gồm 10 axit amin thiết yếu mà
cơ thể gia cầm nhất thiết phải lấy từ thức ăn vào do cơ thể không tự tổng hợp được, nhóm axit amin thay thế gồm 13 - 15 axit amin mà cơ thể gia cầm và các động vật khác tự tổng hợp được từ các sản phẩm trung gian trong quá trình trao đổi axit amin như: Axit béo, các hợp chất amino Trong nhóm axit amin không thay thế, có 2 axit amin quan trọng nhất trong khẩu phần ăn là:
Lysine: Là một trong 10 axit amin không thể thay thế quan trọng đối
với vật nuôi Nó có tác dụng làm tăng tốc độ sinh trưởng, tăng sức sản xuất thịt Lysine còn cần thiết cho sự tổng hợp nucleotit, hồng cầu và sự trao đổi bình thường của protein Nếu thiếu nó trong thức ăn thì hoạt động sống của gia cầm bị giảm sút Yêu cầu lysine trong thức ăn cho gà phụ thuộc vào giống, tuổi và tình trạng sản xuất Việc xác định đúng nhu cầu lysine cho mỗi giai đoạn của gà rất cần thiết, bởi vì lysine là điểm nút quan trọng trong mẫu protein lý tưởng Người ta thường dựa vào nhu cầu lysine để xác định nhu cầu các axit amin khác cho gà
Trang 22Lysine có tác dụng tăng khả năng sinh trưởng, tăng sức sản xuất trứng, cần thiết cho sự tổng hợp nucleoprotein, hồng cầu, tạo sắc tố melanin của da, lông Nếu thiếu lysine sẽ làm đình trệ sinh trưởng, giảm năng suất trứng, thịt của gia cầm giảm lượng hồng cầu, huyết sắc tố và tốc độ chuyển hóa Trong khẩu phần thức ăn nhu cầu lysine cho gia cầm phụ thuộc vào giống, tuổi, và tính năng sản xuất, gà thịt yêu cầu 1,1 – 1,2 %, gà đẻ 0,75 – 0,85 %, vịt thịt 0,8 % Theo Bùi Đức Lũng và cs (1995) [13] nếu lysine bổ sung quá thừa cũng gây tác hại cho gia cầm Nếu hàm lượng lysine trong thức ăn hỗn hợp quá cao sẽ biểu hiện bệnh lý làm gia cầm bị cong ở các chi
Methiomine
Methionine có ảnh hưởng lớn tới sự phát triển của cơ thể, đến chức năng của gan và tuyến tụy, cùng với cystein tạo lông vũ có tác dụng điều hòa trao đổi lipit, chống mỡ hóa gan cần thiết cho sinh sản tế bào tham gia tích cực vào đồng hóa dị hóa vật chất trong cơ thể, nếu thiếu methiomine gây mất tính thèm ăn thái hóa cơ, thiếu máu, nhiễm mỡ gan, làm giảm quá trình phân hủy độc chất thải ra trong quá trình trao đổi chất Ngoài ra nhu cầu axit amin phụ thuộc vào sự có mặt của các chất khác có trong thức ăn người ta thấy rằng hàm lượng gossipol cao sẽ làm giảm bớt khả năng hấp thụ lysine, nếu trong khẩu phần thiếu B12 và S sẽ làm tăng nhu cầu về methionine và thiếu vitamin
PP sẽ làm tăng nhu cầu về tryptophan
Theo Trần Thanh Vân và cs (2015) [34] cho biết methionine, cystine, xisteamine có vai trò quan trọng trong oxy hóa khử; khi thêm methionine vào khẩu phần ăn của gà sinh sản sẽ làm tăng tỷ lệ thụ tinh và ấp nở, tăng tỷ lệ đẻ, giảm chi phí thức ăn
Tóm lại các axit amin đều có vai trò hết sức quan trọng đến cơ thể gia cầm, cần phải cung cấp đầy đủ chất dinh dưỡng và cân đối các axit amin nhằm giúp cho sự sinh trưởng và năng suất cao ở gia cầm
Trang 23Khả năng sinh trưởng của gia cầm liên quan mật thiết với hàm lượng các axit amin không thay thế trong khẩu phần Nếu aa không thay thế trong khẩu phần thấp, gà sẽ giảm tốc độ sinh trưởng và hiệu quả chuyển đổi thức ăn thấp Với các khẩu phần cùng lượng aa không thay thế, gà sẽ có cùng lượng aa ăn vào cùng lượng mà không phải cùng năng lượng (Skinner và cs, 1991, dẫn theo, Nguyễn Đức Hưng, 2006 [8]) Khẩu phần ăn của vật nuôi hầu hết đáp ứng đủ số lượng aa không thiết yếu hoặc đủ số lượng amin cho sự tổng hợp các aa không thiết yếu kể cả trong trường hợp hàm lượng protein trong khẩu phần thấp, do đó sự quan tâm trong dinh dưỡng là dành cho các aa thiết yếu (Hồ Trung Thông và cs, 2006 [28])
Để xác định nhu cầu một axit amin thiết yếu nào đó thì phải tiến hành thí nghiệm nuôi dưỡng Vật nuôi được nuôi với khẩu phần các tỷ lệ axit amin khác nhau và axit amin còn lại được giữ nguyên Xác định tăng khối lượng và hiệu quả sử dụng thức ăn để xác định mức aa phù hợp Tuy nhiên, giữa các axit amin có sự tương tác với nhau Như vậy, xác định nhu cầu aa đơn độc rất phức tạp Ở gà nhu cầu lysine tăng khi khẩu phần thấp methionine, arginine
và vitamin B.complex Sự tương tác gây ra do sự chuyển đổi một axit amin này thành một axit amin khác Nếu khẩu phần thiếu cystine hoặc dạng cystine trao đổi của nó thì cystine sẽ được tổng hợp từ methionine Do đó, nhu cầu methionine phụ thuộc vào hàm lượng cystine hoặc cystine trong khẩu phần và hai axit amin này luôn luôn đi chung với nhau Vì vậy, thuật ngữ nhu cầu methionine và cystine được sử dụng Tuy nhiên, methionine lại không được tổng hợp từ cystine, vì vậy methionine phải luôn luôn có mặt một phần để đáp ứng nhu cầu của con vật Phenylalanine và tyrosine có quan hệ tương tự Ở
gà, glicine và serine có thể chuyển đổi cho nhau Nếu protein được sử dụng cho sản sinh năng lượng thì nhu cầu axit amin cũng sẽ thay đổi Axit amin được sử dụng nhiều nhất trong thiết lập nhu cầu dinh dưỡng là lysin Trong
Trang 24thực tế, các axit amin trong khẩu phần luôn vượt ra ngoài tỷ lệ mong muốn vì vậy sử dụng bị thiếu hụt so với nhu cầu Axit amin bị thiếu hụt đó gọi là axit amin giới hạn Lysine và methionine là hai axit amin giới hạn đầu tiên trong hầu hết các loại thức ăn gia súc Việt Nam (Lê Đức Ngoan, 2002 [23])
Cystine
Cystine có thể được tổng hợp từ methionine Cystine và dạng oxy hóa của nó là cystine có thể đáp ứng được 50 % nhu cầu tổng lượng amino acid chứa lưu huỳnh (methionine + cystine) Bằng cách này, cystine có thể làm giảm nhu cầu đối với methionine Tương tự như đối với nhóm amino acid chứa lưu huỳnh, phenylalanine có thể đáp ứng nhu cầu của tổng lượng phenylalanine và tyrosine (axit amin có nhân thơm) vì sự chuyển hóa phenylalanine có thể tạo thành tyrosine Tyrosine có thể đáp ứng tối thiểu 50
% tổng nhu cầu của hai loại axit amin này nhưng nó không phải là nguồn duy nhất và không thể thay thế cho phenylalanine vì nó không thể chuyển được thành phenylalanine (Hồ Trung Thông và cs, 2006 [28])
Bảng 1.1 Nhu cầu axit amin không thay thế cho gà thịt
Axit amin Duy trì (mg/kgP/ngày) Tăng trưởng (g/100 g
Trang 25Bảng 1.2 Nhu cầu các axit amin thiết yếu so với lysine (NRC, 1994) Axit
amin Lysine Arginine Threonine Valine Methionine Cystine
(Nguồn: Nguyễn Đức Hưng, 2006 [8])
Theo đề nghị của các nhà dinh dưỡng tại hội thảo về dinh dưỡng vật nuôi
ở Việt Nam năm 1997, hãng Degusa đã khuyến cáo: Khi xây dựng khẩu phần
ăn cho gia cầm nên sử dụng lysine là cột mốc chuẩn 100 % để so sánh với các
aa khác, mối quan hệ này được thể hiện trong bảng 1.3
Bảng 1.3 Tỷ lệ một số axit amin thiết yếu trong protein lý tưởng cho gà thịt
(Nguồn: Degussa, 1997 – dẫn theo Nguyễn Duy Hoan, 2010 [6])
Schutte và De Jong (2008) đã đề xuất một số tỷ lệ axit amin được cho là hợp lý thể hiện bảng 1.4
Trang 26Bảng 1.4 Tỷ lệ aa thiết yếu so với lysine trong protein lý tưởng của khẩu
21-42 ngày
0-21 ngày
21-42 ngày
0-21 ngày
0-42 ngày Lysine
(Nguồn: Schutte và De Jong, 2008 – dẫn theo Nguyễn Duy Hoan, 2010 [6])
1.1.4 Khả năng sản xuất thịt của gia cầm và các yếu tố ảnh hưởng
1.14.1 Phương pháp đánh giá sinh trưởng
- Sinh trưởng:
Ở vật nuôi từ khi hình thành phôi tới khi trưởng thành, khối lượng và thể tích cơ thể tăng lên Điều này trước tiên là số lượng tế bào tăng lên về số lượng, các cơ quan bộ phận trong cơ thể đều có sự tăng lên về khối lượng và kích thước Từ đó, dẫn đến khối lượng và thể tích của cơ thể tăng lên Sự lớn lên của cơ thể là do sự tích lũy các chất hữu cơ thông qua việc trao đổi chất Trần Đình Miên và cs (1992) [21] đã khái quát: “Sinh trưởng là một quá trình tích lũy chất hữu cơ thông qua trao đổi chất, là sự tăng lên về chiều cao, chiều
Trang 27dài, bề ngang, khối lượng của từng cơ quan, bộ phận cũng như toàn bộ cơ thể trên cơ sở tính di truyền từ đời trước”
Theo Johanson L (1972) [9] thì cường độ phát triển qua giai đoạn bào thai và giai đoạn sau khi sinh có ảnh hưởng tới chỉ tiêu phát triển con vật Nhìn từ khía cạnh giải phẫu sinh lý, thì sinh trưởng của các mô diễn ra theo trình tự như sau:
+ Hệ thống tiêu hóa, nội tiết
70 ngày tuổi khối lượng tất cả các cơ quan của gà trống đạt 530 g, của gà mái đạt 467 g (Ngô Giản Luyện, 1994 [16])
Qua những nghiên cứu cho thấy cơ sở sinh trưởng gồm hai quá trình: Tế bào sinh sản và tế bào phát triển Tất cả các đặc tính của gia súc, gia cầm như ngoại hình, thể chất, sức sản xuất đều được hoàn chỉnh dần trong suốt quá trình sinh trưởng, các đặc tính này tuy là một sự tiếp tục thừa hưởng các đặc tính di truyền của bố mẹ, nhưng hoạt động mạnh yếu còn do tác động của môi trường
1.1.4.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến sức sản xuất thịt gia cầm
- Ảnh hưởng của dòng, giống, tính biệt
Mỗi giống có tốc độ sinh trưởng nhất định Sự sai khác về tốc độ sinh trưởng là do bản chất di truyền quy định Đặc điểm di truyền của giống và ngoại cảnh có tác động qua lại với nhau, nghĩa là, cùng một kiểu gen nhưng ở điều kiện môi trường khác nhau thì có tốc độ sinh trưởng khác nhau Cho nên
Trang 28việc cần thiết phải tạo ra môi trường phù hợp với kiểu gen đó để phát huy tối
đa tiềm năng di truyền của giống Jaap và Moris (1973) [44] đã phát hiện ra những sai khác trong cùng một giống về cường độ sinh trưởng
Khảo sát khả năng sinh trưởng của 3 dòng gà Plymouth Rork thì dòng TĐ9 có khả năng sinh trưởng tốt nhất Đến tuần tuổi thứ 8, dòng TĐ9 có khối lượng sống vượt dòng TĐ8 là 12,90 % và vượt TĐ3 17,40 %, (Lê Hồng Mận,
và cs 1996 [19])
Sự sai khác về sinh trưởng và khối lượng cơ thể còn chịu ảnh hưởng của tính biệt, thông thường con trống phát triển hơn con mái: Ở gà hướng thịt, giai đoạn 60 – 70 ngày tuổi con trống nặng hơn con mái 180 – 250 g (Trần Thanh Vân và cs, 2015 [34])
Chambers (1990) [41] cho biết: Có nhiều gen ảnh hưởng tới sự sinh trưởng chung, có gen ảnh hưởng tới một vài tính trạng riêng lẻ Godfry và Raap (1952) và nhiều tác giả cho rằng nhiều hơn 15 gen quy định tốc độ sinh trưởng
Như vậy, các nhà nghiên cứu chứng minh rằng sự khác biệt về tốc độ sinh trưởng do di truyền, mà cơ sở di truyền đó là gen, có ít nhất một gen về sinh trưởng liên kết với giới tính nên con trống thường lớn hơn con mái Điều này chứng tỏ di truyền có ảnh hưởng rất lớn tới quá trình sinh trưởng
- Ảnh hưởng của chế độ dinh dưỡng:
Chế độ dinh dưỡng ảnh hưởng tới sự phát triển từng mô khác nhau gây nên sự biến động trong quá trình phát triển và có sự khác nhau giữa mô này
và mô khác Chế độ dinh dưỡng không những ảnh hưởng tới sinh trưởng mà còn làm biến động di truyền về sinh trưởng
Lê Hồng Mận và cs (1993) [18] cho biết: Nhu cầu protein thích hợp cho
gà broiler cho năng suất cao đã được xác định, các tác giả nhấn mạnh, tỷ lệ giữa năng lượng và protein trong thức ăn là rất quan trọng Để phát huy khả
Trang 29năng sinh trưởng tối đa cần phải cung cấp đầy đủ chất dinh dưỡng với sự cân bằng nghiêm ngặt giữa protein, axit amin với năng lượng
- Ảnh hưởng của các yếu tố môi trường
* Ảnh hưởng của nhiệt độ môi trường:
Nhiệt độ môi trường ảnh hưởng tới khả năng sinh trưởng rất rõ rệt, đặc biệt là giai đoạn gà con Với gà con nhiệt độ ngày thứ nhất cần đảm bảo 32 -
34 oC; ngày thứ 2 - 7 là 30 oC ; tuần thứ hai là 26 oC; tuần thứ 3 là 22 oC tuần thứ 4 là 20 oC
Theo Lê Hồng Mận và cs, (1993) [18] thì nhiệt độ tối ưu chuồng nuôi với
gà sau 3 tuần tuổi là 18 - 20 oC Nhiệt độ môi trường cao, ảnh hưởng rất lớn tới nhu cầu năng lượng trao đổi (ME) và protein thô (CP) của gà broiler Do vậy, nhu cầu tiêu thụ thức ăn của gà chịu sự chi phối nhiều của nhiệt độ môi trường Trong điều kiện nhiệt độ khác nhau thì tiêu thụ thức ăn cũng khác nhau
Trong điều kiện khí hậu nước ta thì gà broiler nuôi vụ hè thì cần phải tăng mức ME và CP cao hơn vụ xuân 10 - 15 % (Bùi Đức Lũng, Lê Hồng Mận, 2003 [14])
Thông thường nhiệt độ cao, khả năng thu nhận thức ăn của gia cầm giảm, chính vì vậy chăn nuôi gia cầm trong điều kiện khí hậu nước ta phải tùy theo mùa vụ, căn cứ vào nhiệt độ từng giai đoạn mà điều chỉnh thức ăn và kỹ thuật chăm sóc cho phù hợp
* Ảnh hưởng của độ ẩm và độ thông thoáng:
Độ ẩm là một trong nhưng yếu tố ngoại cảnh có ảnh hưởng lớn tới sinh trưởng của gia cầm Khi độ ẩm tăng làm cho chất độn chuồng dễ ẩm ướt, thức
hủy axit uric trong phân và chất độn chuồng làm ảnh hưởng tới hô hấp của gà, tăng khả năng nhiễm bệnh cầu trùng, Newcastle, CRD dẫn tới làm giảm khả năng sinh trưởng của gà
Trang 30Ing J E M Whyte (1995) [43] qua nghiên cứu đã cho ra khuyến cáo về thành phần tối đa của chất khí trong chuồng nuôi gia cầm như sau:
NH3 = 0,01 g/m3, H2 S = 0,002 g/m3, CO2 = 0,35 g/m3
Chăn nuôi gia cầm ở nông hộ nước ta chủ yếu là nuôi thông thoáng tự nhiên nên cần đảm bảo ấm vào mùa đông và mát vào mùa hè Về mùa hè, nhiệt độ cao cần bố trí hệ thống quạt để tăng tốc độ gió chống nóng cho gà Mùa đông cần có thiết bị sưởi ấm cho gà
* Ảnh hưởng của chế độ chiếu sáng:
Gà rất nhạy cảm với ánh sáng, mỗi giai đoạn gà cần chế độ chiếu sáng khác nhau Theo khuyến cáo của hãng (Arbor Acers Farms Inc, 1993 [38])
+ Với gà broiler nuôi dài ngày (giết thịt ở 42, 49, 56 ngày tuổi) thì chế
độ chiếu sáng như sau: Ngày thứ 1: 24/24 giờ; ngày thứ 2: 20/24 giờ; ngày thứ 3 đến ngày thứ 15: 12/24 giờ; ngày thứ 19 - 22: 14/24 giờ; ngày thứ 23 - 24: 18/24h; ngày thứ 25 đến kết thúc thời gian chiếu sáng: 24/24 giờ Cường
độ chiếu sáng 3 ngày đầu là 20 lux, từ ngày thứ 4 đến lúc giảm dần còn 5 lux
* Ảnh hưởng của mật độ nuôi nhốt:
Mật độ nuôi nhốt cũng là yếu tố quan để chăn nuôi gà đạt hiệu quả cao Mỗi giai đoạn sinh trưởng, mỗi phương thức nuôi đều có quy định mật độ nuôi nhất định (phương thức chăn thả tự do, bán nuôi nhốt, nuôi nhốt trên đệm lót dày, nuôi nhốt có sân chơi yêu cầu mật độ lần lượt: 0,1; 0,3; 0,35; 0,2
m2/con ) Nếu nuôi quá thưa thì lãng phí diện tích, nhưng nếu nuôi quá dày thì ảnh hưởng đến khả năng sinh trưởng của gà Bởi lẽ, khi mật độ nuôi nhốt cao thì chuồng nhanh bẩn, lượng khí thải NH3, CO2, H2S cao và quần thể vi sinh vật phát triển làm ảnh hưởng tới khả năng tăng khối lượng và sức khỏe của đàn gà, gà dễ bị cảm nhiễm bênh tật, tỷ lệ đồng đều thấp, tỷ lệ chết cao cuối cùng làm giảm hiệu quả trong chăn nuôi Ngược lại, mật độ nuôi nhốt
Trang 31thấp thì tăng chi phí chuồng trại cao Do vậy tùy theo mùa vụ tuổi gà và mục đích sử dụng cần có mật độ chăn nuôi thích hợp
Theo Van Horne (1991) [49]: Khi nuôi gà ở mật độ đông thì hàm lượng
NH3, CO2, H2S được sinh ra trong chất độn chuồng cao Mật độ gà đông thì lượng bài tiết thải ra nhiều hơn, trong khi đó gà cần tăng cường trao đổi chất nên lượng nhiệt thải ra cũng nhiều, do đó nhiệt độ chuồng tăng, từ đó sẽ ảnh hưởng tới việc tăng khối lượng của gà và làm tăng tỷ lệ chết khi mật độ chuồng nuôi quá cao cùng nhiệt độ không khí cao
Theo Beremski Ch (1978) [40] thí nghiệm nuôi 4 nhóm gà broiler trên nền chuồng có đệm lót, ở mật độ là 20, 22, 18 và 16 con/m2 ở giai đoạn 6, 7, 8 tuần tuổi, với cùng thức ăn hỗn hợp Mật độ chuồng nuôi đã không ảnh hưởng chỉ số so sánh các sản phẩm lúc 7 tuần tuổi Tỷ lệ tăng trưởng giảm theo sự tăng mật độ đàn ở giai đoạn vỗ béo lúc 8 tuần tuổi, tiêu tốn thức ăn/kg tăng khối lượng tăng, nhưng tỷ lệ thịt xẻ không bị ảnh hưởng bởi mật độ đàn Tăng mật độ nuôi lúc 6 đến 8 tuần tuổi đã làm giảm sự tăng trưởng như tăng sản phẩm thịt trên đơn vị diện tích nền chuồng bằng 7,0 tới 9,3 % ở tuần tuổi 6, 7
và đến 20,7 % ở tuần tuổi 8
* Ảnh hưởng mật độ bãi thả:
Trong chăn nuôi gà thả vườn thì mật độ bãi thả có vai trò quan trọng Nếu mật độ chuồng nuôi cao, không có bãi chăn thả thì chuồng nhanh bẩn, gà chen nhau, hàm lượng khí NH3, CO2 trong chuồng cao, làm giảm khả năng thu nhận thức ăn, ảnh hưởng tới độ đồng đều của đàn gà, làm tăng tỷ lệ chết, dễ gây bệnh dịch cho đàn gà làm chất lượng thịt không ngon, làm giảm hiệu quả kinh tế của chăn nuôi
Theo Nguyễn Thị Hải và cs, (2006) [3] khi nghiên cứu ảnh hưởng của phương thức nuôi tới khả năng sinh trưởng gà Sasso thương phẩm có kết quả như sau: Vụ đông 10 tuần tuổi lô nuôi nhốt gà có khối lượng bình quân là 2645,98 g, lô bán nuôi nhốt đạt 2473,39 g Ở vụ Xuân – Hè thì lúc 10 tuần tuổi có khối lượng cơ thể là 2415,40 g ở lô nuôi nhốt và 2291,46 g ở lô bán
Trang 32nuôi nhốt Như vậy sinh trưởng liên quan chặt chẽ tới giống, điều kiện chăm sóc nuôi dưỡng, tiểu khí hậu chuồng nuôi, phòng bệnh Ở nước ta điều kiện khí hậu hai vụ Hè và vụ Đông khác nhau gây ảnh hưởng tới sinh trưởng Nhiệt độ cao làm cho khả năng thu nhận thức ăn giảm
1.2 Nguồn gốc, đặc điểm sinh học và khả năng sản xuất của gà Lương Phượng, gà Ri và con lai
1.2.1 Nguồn gốc, đặc điểm sinh học và khả năng sản xuất của gà Lương Phượng
* Nguồn gốc: Gà Lương Phượng hay còn gọi là Lương Phượng Hoa
Trung Quốc do lai tạo giữa giống gà nội của Trung Quốc và gà nhập nội,
được nhập vào nước ta từ sau năm 1997
1.1 Hình ảnh gà Lương Phượng
* Đặc điểm ngoại hình: Gà có màu lông đa dạng: Vàng đốm đen ở vai, lưng
và đuôi lông Lông cổ có màu vàng ánh kim, búp lông đuôi có màu xanh đen
Dòng mái có màu đốm đen, cánh sẻ là chủ yếu (Nguyễn Đức Hưng, 2006 [8]) Dòng trống chủ yếu có màu nâu nhạt - đốm đen Chân màu vàng, màu đỏ tươi
* Tính năng sản xuất: Gà trống ở độ tuổi trưởng thành, có khối lượng cơ
thể 2.700 g gà mái đạt khối lượng 2.100 g lúc vào đẻ Gà bắt đầu vào đẻ lúc 24 tuần tuổi, sau một chu kỳ khai thác trứng (66 tuần tuổi) đạt 177 trứng, sản xuất
130 gà con 1 ngày tuổi Gà thịt nuôi đến 65 ngày tuổi đạt 1.500 – 1.600 g Tiêu tốn thức ăn 2,4 – 2,6 kg thức ăn/kg tăng khối lượng, nuôi sống trên 95%
Trang 33Gà Lương Phượng có sức kháng bệnh tốt, thích hợp với mọi điều kiện chăn nuôi ở Việt Nam nuôi công nghiệp, bán chăn thả và chăn thả
1.2.2 Nguồn gốc, đặc điểm sinh học và khả năng sản xuất của gà Ri
* Nguồn gốc: Đến nay chưa rõ nguồn gốc của gà Ri Gà Ri phân bố rộng
khắp các vùng trong cả nước, đặc biệt là miền Bắc và miền Trung của Việt Nam
* Đặc điểm ngoại hình: Gà Ri là giống gà nội được nuôi rộng rãi trong
cả nước nhất là các tỉnh phía Bắc Ở các tỉnh phía Nam có tên gọi là gà ta vàng Tùy theo sự chọn lọc trong quá trình chăn nuôi mà giống gà Ri có nhiều loại hình tương đối khác nhau ở mỗi địa phương Tuy vậy, những nét đặc trưng nhất của gà Ri là tầm vóc nhỏ, chân thấp Gà mái có bộ lông vàng nhạt, hoặc vàng nâu có điểm lông ở cổ, lưng Gà trống có bộ lông sặc sỡ nhiều màu hơn Lông cổ đỏ tía hoặc da cam, lông cánh ánh đen ở cả gà trống và con mái
có mào đơn nhiều khía răng cưa, màu đỏ tươi Chân, da, mỏ có màu vàng nhạt Gà Ri mọc lông sớm, chỉ hơn 1 tháng tuổi đã mọc đủ lông (Lê Hồng Mận và Nguyễn Thanh Sơn, 2001 [20])
HÌnh 1.2 Hình ảnh gà Ri
* Tính năng sản xuất: Gà Ri có tuổi đẻ quả trứng đầu tiên sớm khoảng
135 - 140 ngày Sản lượng trứng một năm đạt từ 80 - 120 quả/mái Trứng có khối lượng bé 42 - 45 g, vỏ trứng màu nâu nhạt, tỷ lệ trứng có phôi 89 - 90 %,
Trang 34tỷ lệ ấp nở 80 - 85 % Lúa mới nở gà Ri đạt 25 - 28 g, lúc bắt đầu đẻ khối lượng gà mái khoảng 1200 - 1300 g, lúc trưởng thành đạt 1700 - 1800 g, gà trống 2200 - 2300 g Chất lượng thịt gà Ri thơm ngon và đậm đà Gà Ri có ưu điểm nổi bật là cần cù, chịu khó kiếm ăn, sức chống chịu với thời tiết và bệnh tật cao, gà ấp và nuôi con khéo Tuy khối lượng trứng gà Ri bé, nhưng tỷ lệ lòng đỏ lại cao hơn trứng gà công nghiệp Tỷ lệ lòng đỏ của trứng gà Ri là 34
%, trong khi ở các giống khác chỉ chiếm 27 - 30 % Màu sắc lòng đỏ của trứng gà Ri cũng đậm hơn Có thể nói rằng, trong các giống gà nội, gà Ri có sức đẻ trứng tốt nhất, gà không những đẻ trứng sớm mà thời gian còn kéo dài
Gà Ri không thay lông ồ ạt như các giống gà công nghiệp nên tỷ lệ đẻ đều qua các tháng Tỷ lệ đẻ trung bình trong năm là 36 - 37 %, tuần đẻ cao nhất 20 -
22 % Một ưu điểm nữa của gà Ri so với các giống gà lông màu nhập nội là
có thể khai thác gà mái ở năm thứ hai thậm chí năm đẻ thứ ba Với khẩu phần thức ăn nghèo dinh dưỡng (13 - 14 % đạm) cũng vẫn nuôi được gà Ri đẻ trứng Với những ưu điểm nêu trên, bao đời nay gà Ri là giống vật nuôi phổ biến trong các gia đình nông thôn nước ta (Lê Hồng Mận và Nguyễn Thanh Sơn, 2001 [20])
1.2.3.Đặc điểm sinh học và khả năng sản xuất của gà Ri lai
1.3 Hình ảnh gà Ri lai
Trang 35Hiện nay tại rất nhiều địa phương gà ri đã pha tạp nhiều do lai với một
số giống gà địa phương khác (gà Mía, gà Đông Tảo…) hoặc lai với một số giống gà lông màu nhập nội (gà Tam Hoàng, gà Lương Phượng, gà Kabir…) tạo nên các con lai khác nhau và được người dân gọi tên chung là ga Ri pha
Do sự lai tạo không có định hướng và không có sự chọn lọc nên ngoại hình của gà Ri pha cũng rất đa dạng, năng suất thịt cũng khác nhau khá xa so với
gà Ri thuần Song, nhìn chung gà Ri pha có thể hình to hơn và năng suất thịt cao hơn gà Ri thuần (Lê Hồng Mận và Nguyễn Thanh Sơn, 2001 [20])
Trung tâm nghiên cứu và huấn luyện chăn nuôi từ năm 2001 đã lai tạo tổ hợp gà lai thả vườn (3/4 LP, ¼ Ri) trên cơ sở kết hợp giữa gà kiêm dụng thịt trứng Lương Phượng cho năng suất cao của Trung Quốc với gà Ri cho chất lượng thịt tốt của Việt Nam để phục vụ chăn nuôi nông hộ và trang trại Hiện nay các thế hệ gà lai (3/4 LP, ¼ Ri) tự giao được nuôi nhiều ở các hộ và trang trại chăn nuôi gà thả vườn thuộc các tỉnh Hưng Yên, Hà Nội và Phú Thọ Trong quá trình lai tạo và nuôi triển khai cho thấy gà Ri lai có khả năng sinh trưởng tốt (Nguyễn Huy Đạt và Hồ Xuân Tùng, 2005 [2])
Khối lượng sống ở 11 tuần tuổi của gà Ri là 1016,67 g và gà Ri lai ((3/4
LP, ¼ Ri) là 1479,17 g Như vậy, gà Ri lai có khối lượng sống lớn hơn (462,5 g) so với gà Ri và sự sai khác về khối lượng sống giữa gà Ri lai và gà Ri là rất
rõ ràng (P<0,01) Mặt khác, khối lượng sống giữa các cá thể của cùng một loại gà là khá lớn ở gà Ri (Cv = 25,21 %) và gà Ri lai (Cv = 21,74 %) Điều này có thể được giải thích là do khối lượng gà trống là lớn hơn rất nhiều (P<0,01) so với gà mái Cụ thể, khối lượng mổ khảo sát của gà mái và gà trống ở gà Ri là 800,00 và 1233,33 g; ở gà Ri lai tương ứng là 1191,67 và 1767,67 g (Hồ Xuân Tùng và Phan Xuân Hảo, 2010 [33])
Giữa hai giống gà thì khả năng sản xuất thịt của gà Ri vàng rơm thấp hơn so với gà Ri cải tiến, giữa vụ Đông - Xuân và Hè - Thu khả năng sản xuất thịt của hai giống gà trên ở vụ Đông - Xuân đều tốt hơn so với vụ Hè -
Trang 36Thu Cụ thể tỉ lệ nuôi sống cộng dồn trong vụ Đông - Xuân và Hè - Thu của
gà Ri vàng rơm tương ứng là 93,69 % và 90,30 %; của gà Ri cải tiến tương ứng là 93,94 % và 90,77 % Khối lượng cơ thể của gà Ri vàng rơm và gà Ri cải tiến lần lượt đạt 1740,00; 2087,20 g (Vụ Đông Xuân); 1661,80 và 1973,33g (Vụ Hè - Thu), (Nguyễn Thành Luân, 2015 [16] )
1.3 Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước
1.3.1 Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài
Ngành chăn nuôi thế giới đã và đang phát triển mạnh về số lượng và chất lượng Đặc biệt là các nước phát triển Trung Quốc, Mỹ, Pháp, Hà Lan, Đức Theo tài liệu của FAO (dẫn theo Trần Thanh Vân và cs, 2015 [34]) công bố, đến năm 2013, Thế giới có 23.928,55 triệu gia cầm, trong đó gà là chủ yếu (21.744,60 triệu con), vịt có 1.335,312 triệu con, gà tây có 459,419 triệu con
và ngỗng là 389,456 triệu con Châu Á có số lượng gia cầm nhiều nhất thế giới 13.942,577 triệu con, chiếm 58,27 % toàn thế giới, ít nhất là Châu Phi, chỉ có 1.901,061 triệu con, chiếm 7,94 % của thế giới
Với việc đưa các giống gà siêu thịt như: Hybro (Hv 58 – Hà Lan), AA (Abor Acres, Mỹ) Lohman meat (Đức) các giống hướng trứng như: Goldline
54 (Hà Lan), Leghorn (Italia) giống gà kiêm dụng: Tam Hoàng, Lương Phượng (Trung Quốc), Sasso (Pháp), Kabir (Israel) vào nuôi thâm canh đã đưa năng suất lên cao, song các giống gà trên chỉ thích nghi trong một số điều kiện nhất định của môi trường
Sau những thành công về chăn nuôi công nghiệp ở trình độ cao, từ năm
1980 trở lại đây một số nước như Nhật Bản, Pháp, Isarel có xu hướng thay đổi phương thức chăn nuôi để sản phẩm gia cầm có mùi vị thơm ngon hơn Việc lai tạo các giống gà với nhau cũng đươc thúc đẩy mạnh mẽ nhằm giữ lại các gen quý, cải thiện nhưng tính trạng còn hạn chế và dần hình thành một số giống mới có khả năng sản xuất tốt, đáp ứng nhu cầu nhiều mặt của con người
Trang 37Trung Quốc cũng đã thành công trong việc chọn tạo các giống gà như Tam Hoàng, Ma Hoàng, Lương Phượng, Phật Hoàn Sơn Các giống gà lông màu của Trung Quốc có chất luợng thịt thom ngon, màu lông phù hợp với thị hiếu của nguời tiêu dùng, năng suất trứng đạt 150 - 175 quả/mái/năm, nuôi thịt 70 ngày tuổi đạt 1,6 - 1,8 kg và đặc biệt là phù hợp với phương thức nuôi chăn thả
Bên cạnh chọn tạo ra các giống gà có năng suất, chất lượng cao và xây dựng hệ thống giống hình tháp, các hãng gia cầm trên thế giới đều nghiên cứu để đưa vào các giống gà các tính trạng liên kết với giới tính như: Tốc độ mọc lông cánh và màu sắc lông lúc 01 ngày tuổi Các tính trạng này được chọn lọc và đưa vào các dòng thuần để khi kết hợp tạo ra gà bố mẹ có khả năng phân ly trống mái lúc 01 ngày tuổi, giúp cho việc phân tách gà trống và mái dễ dàng
Rece, Lott và Deaton (1985) [45], đã khẳng định: Hiệu quả sử dụng thức
ăn của gà Broiler tăng khi tăng hàm lượng protein trong khẩu phần Còn tác giả Summer và Leeson (1984) [46], lại thấy lượng thức ăn ăn vào của gà Broiler tăng theo mức tăng của protein, song dừng lại ở mức 22 % Baghel và Pradhan (1989) [39], cho biết gà sinh trưởng phát triển tốt nhất ở mức năng lượng 2800 kcal/kg và mức protein 23 %; 22 % và 18 % ứng với 3 giai đoạn nuôi Khi tăng năng lượng trong khẩu phần sẽ làm tăng tích luỹ mỡ Ngược lại, khi tăng protein trong khẩu phần sẽ làm tăng tỷ lệ nước và protein trong thịt, nhưng làm giảm lượng mỡ và năng lượng trong thịt Việc bổ sung aa có ảnh hưởng đến tăng khối lượng và hiệu quả sử dụng protein và khối lượng gà lúc kết thúc cả hai giai đoạn Hơn thế nữa, kết quả còn cho thấy gà broiler ăn khẩu phần có tỷ lệ protein thô thấp (18 % CP giai đoạn khởi động và 16 % giai đoạn kết thúc) có bổ sung aa tốt hơn so với gà ăn khẩu phần có tỷ lệ protein thô 20 % ở giai đoạn khởi động và 18 % ở giai đoạn kết thúc nhưng không được bổ sung aa
Trang 38Như vậy, nghiên cứu về chế độ dinh dưỡng cho gà broiler ở nước ngoài
đã được nhiều tác giả nghiên cứu Tuy nhiên, đối với giống gà Ri lai chỉ có ở Việt nam, nên chưa có công trình nào được nghiên cứu ở nước ngoài trên đối tượng này
1.3.2 Tình hình nghiên cứu trong nước
Theo Nguyễn Đức Hưng (2006) [8], có một số công trình nghiên cứu về dinh dưỡng trong chăn nuôi gia cầm đã được công bố như sau: Xác định mức protein thích hợp cho gà nuôi thịt 1 - 8 tuần tuổi của Nguyễn Nghi (1988) [29] Hiệu quả sử dụng L - lysine và D.L - methionine cho gà broiler, gà đẻ của (Bùi Đức Lũng và cs, 1995 [12])
Nhiều nghiên cứu xác định tỷ lệ protein, lysine, methionine, và cystine thích hợp trong thức ăn hỗn hợp của gà broiler nuôi theo mùa vụ đã rút ra kết luận: Đối với gà trống và gà mái broiler thì cả mùa Đông và mùa Hè đều có thể nuôi bằng thức ăn hỗn hợp có 22 - 20 - 18 % protein; 1,10 - 1,00 - 0,90 % lysine; 0,52 - 0,47 - 0,42 % methionine và 0,75 - 0,68 - 0,61 % met + cys cho
ba giai đoạn nuôi 0 - 3; 4 - 6 và trên 7 tuần tuổi Tăng tỷ lệ lysine, methionine
và cystine trong thức ăn hỗn hợp làm giảm tỷ lệ mỡ bụng của gà broiler
Lê Hồng Mận và cs, (1996) [19] đã tiến hành thí nghiệm trên đàn gà broiler 1 - 3 tuần tuổi theo tỷ lệ; DL - methionine 0,1 % và lysine 0,3 % (khẩu phần cơ sở chứa 0,4 % methyonine, 1,1 % lysine và 18 % protein) Kết quả thí nghiệm cho thấy tăng khối lượng và tiêu tốn thức ăn của gà bằng với khẩu phần chứa 23 % protein mà không bổ sung hai loại axit amin trên Theo Trần Quốc Việt và cs, 2001 [36] nhận xét thì không có sự khác biệt về tốc độ sinh trưởng của gà Kabir qua các giai đoạn khi được nuôi dưỡng bằng khẩu phần
có mức năng lượng cao và thấp, nhưng có sự khác nhau rõ rệt về tốc độ sinh trưởng giữa các lô được ăn khẩu phần có mức lysine tiêu hóa khác nhau thuộc
cả hai nhóm có mức năng lượng khác nhau Các tác giả đã rút ra kết luận: Khẩu phần thức ăn của gà Kabir nuôi thịt không cần mức năng lượng cao như
Trang 39gà công nghiệp (AA hay ISA…) Tuy nhiên, để đạt tốc độ sinh trưởng cao, gà Kabir vẫn cần được nuôi dưỡng bằng khẩu phần có tỷ lệ lysine tiêu hóa tương đối cao Từ 0 - 4 tuần tuổi, nếu nuôi gà V135 bằng khẩu phần không cân đối các axit amin, thì mức protein 24 % và tỷ lệ ME/CP là 125 - 131 cho tốc độ sinh trưởng cao nhất, và tiêu tốn thức ăn thấp nhất
Hồ Xuân Tùng và Phan Xuân Hảo (2010) [33] khi nghiên cứu về năng suất và chất lượng thịt của gà Ri và gà Ri lai (3/4 LP, ¼ Ri), các tác giả đã kết luận: Khối lượng sống, thân thịt, thịt ngực và thịt đùi ở gà Ri lai lúc 11 tuần tuổi (lần lượt là 1479,17; 1140,00; 1019,17; 84,01 và110,75 g) là cao hơn rất
rõ ràng (P<0,01) so với gà Ri (tương ứng là 1016,67; 784,17; 688,33; 49,20
và 70,13 g) Chất lượng thịt của gà Ri lai đảm bảo chất lượng tốt và tương đương gà Ri, tuy nhiên thịt gà Ri lai mềm hơn so với thịt gà Ri Giá trị pH 24, màu sáng (L) và độ mềm thịt ngực ở gà Ri lai là 5,77; 48,52 và 2,15 kg; ở gà
Ri lai lần lượt tương ứng là 5,83; 49,62 và 1,73 kg Sử dụng gà Ri lai có thể làm tăng năng suất thịt so với gà Ri mà không làm ảnh hưởng đến chất lượng thịt Theo Trần Thanh Vân và cs (2015) [35] thì gà Lương Phượng dễ nuôi,
có tính thích nghi cao, chịu đựng tốt khí hậu nóng ẩm, đòi hỏi chế độ dinh dưỡng không cao, có thể nuôi nhốt bán công nghiệp hay thả vườn Do có ưu điểm trên hiện nay gà Lương Phượng đã được nuôi nhiều ở trang trại và hộ gia đình ở nông thôn cũng như thành thị được nhiều người ưa chuộng
Theo Đào Văn Khanh, 2000 [10] các giống gà lông màu được nuôi tại Thái Nguyên như: Kabir, Lương Phượng, Tam Hoàng được nuôi nhiều ở các địa phương đều thích nghi với điều kiện nuôi chăn thả và có mức nhiễm bệnh thấp dễ nuôi, giống Kabir có sức sinh trưởng nhanh nhất sau đó đến Lương Phượng, Tam Hoàng, tiêu tốn thức ăn của cả ba đều thấp, rất phù hợp với điều kiện chăn nuôi ở nông thôn
Nhìn chung, các tác giả nghiên đã cứu về nhiều về gà Ri lai, nhưng chủ yếu tập trung vào lai tạo, khả năng sản xuất, chất lượng thịt
Trang 40Chương 2 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Đối tượng, địa điểm, thời gian nghiên cứu
- Gà thí nghiệm là gà lai F1 (♂ Ri x ♀ Lương Phượng) nuôi từ 1 ngày
tuổi, mua giống tại Viện Chăn nuôi Quốc gia
Hình 2 1 Gà Ri lai (Ri x Lương Phượng) mới nở
- Thức ăn chăn nuôi: được phối trộn từ các nguyên liệu phổ biến mua trên thị trường
* Địa điểm, thời gian nghiên cứu
- Địa điểm nghiên cứu
- Thí nghiệm được bố trí tại trang trại VM - xã Quyết Thắng - TP Thái Nguyên
- Các mẫu phân tích (thức ăn) được phân tích tại Viện khoa học sự sống Đại học Thái Nguyên
- Thời gian
Từ tháng 6 năm 2015 đến tháng 9 năm 2015
2.2 Nội dung và phương pháp nghiên cứu
2.2.1 Nội dung nghiên cứu
Nghiên cứu ảnh hưởng của các mức (methionine + cystine)/lysine khác nhau đến khả năng sản xuất thịt của gà Ri lai (Ri x Lương Phượng ) nuôi vụ
Hè - Thu