1. Trang chủ
  2. » Cao đẳng - Đại học

Giáo dục giá trị gia đình truyền thống cho thiếu niên trong cộng đồng dân cư phường quang trung, quận hồng bàng, thành phố hải phòng

109 329 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 109
Dung lượng 1 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Gia đình là một tế bào của xã hội, nơi duy trì nòi giống, là môi trường quan trọng hình thành, nuôi dưỡng và giáo dục nhân cách con người, bảo tồn và phát huy văn hóa truyền thống tốt đẹ

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI

ĐỖ THANH PHƯỢNG

GIÁO DỤC GIÁ TRỊ GIA ĐÌNH TRUYỀN THỐNG CHO THIẾU NIÊN TRONG CỘNG ĐỒNG DÂN CƯ PHƯỜNG QUANG TRUNG, QUẬN HỒNG BÀNG,

THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

Chuyên ngành: Giáo dục và phát triển cộng đồng

Mã ngành: Thí điểm

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC

Người hướng dẫn khoa học: TS Dương Giáng Thiên Hương

HÀ NỘI - 2017

Trang 2

LUẬN VĂN ĐÃ ĐƯỢC HOÀN THÀNH TẠI TRƯỜNG ĐHSP HÀ NỘI

Người hướng dẫn khoa học:

TS Dương Giáng Thiên Hương

Phản biện 1: PGS TS Nguyễn Thị Yến Phương Phản biện 2: TS Nguyễn Thị Nhân Ái

Luận văn được bảo vệ trước Hội đồng chấm luận văn thạc sĩ

tại trường ĐHSP Hà Nội Vào hồi: 10h 30 ngày 27 tháng 6 năm 2017

Có thể tìm hiểu luận văn tại:

- Thư viện trường ĐHSP Hà Nội

- Thư viện Khoa Tâm lí - Giáo dục học, Trường ĐHSP Hà Nội

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan bản luận án này là kết quả nghiên cứu của cá nhân tôi Các số liệu và tài liệu được trích dẫn trong luận án là trung thực Kết quả nghiên cứu này không trùng với bất cứ công trình nào đã được công bố trước

Trang 4

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

Trang 5

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Sinh thời chủ tịch Hồ Chí Minh từng nói “Nhiều gia đình cộng lại mới thành xã hội, gia đình tốt thì xã hội mới tốt, xã hội tốt thì gia đình càng tốt Hạt nhn của xã hội là gia đình” Theo lời Bác, ngày 28/6/2000, Ban Bí thư Trung ương Đảng có ban hành Chỉ thị số 55-CT/TW về tăng cường sự lãnh đạo của các cấp ủy Đảng của cơ sở đối với công tác bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em Trong Cương lĩnh xây dựng đất nước thời kỳ tiến lên chủ nghĩa xã hội của Đảng Cộng sản Việt Nam có đoạn: “Gia đình là cái nôi nuôi dưỡng cả đời người, là môi trường quan trọng giáo dục nếp sống và hình thành nhân cách” Cũng trong Công ước của Liên hiệp quốc về quyền trẻ em (1989) cũng có viết:

“Việc giáo dục trẻ em (trong gia đình) phải được hướng tới phát triển tối đa nhân cách”

Gia đình Việt Nam được hình thành và phát triển với những chuẩn mực giá trị tốt đẹp góp phần xây dựng bản sắc văn hóa dân tộc Những giá trị truyền thống quý báu như lòng yêu nước, yêu quê hương, yêu thương đùm bọc lẫn nhau, thủy chung, hiếu nghĩa, hiếu học, cần cù sáng tạo trong lao động, bất khuất, kiên cường vượt qua mọi khó khăn, thử thách đó được gia đình Việt Nam giữ gìn, vun đắp và phát huy trong suốt quá trình lịch sử dựng nước và giữ nước

Gia đình là một tế bào của xã hội, nơi duy trì nòi giống, là môi trường quan trọng hình thành, nuôi dưỡng và giáo dục nhân cách con người, bảo tồn và phát huy văn hóa truyền thống tốt đẹp, chống lại tệ nạn xã hội, tạo nguồn nhân lực phục vụ sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc Mỗi quốc gia, mỗi dân tộc muốn tồn tại và phát triển đều phải biết chăm sóc và bảo vệ gia đình Gắn với Cuộc vận động “Xây dựng nhân cách người Việt Nam từ giáo dục đạo đức, lối sống trong gia đình” chuyển tải thông điệp mỗi người Việt Nam hãy trân trọng hơn những giây phút sum họp bên bữa cơm gia đình hạnh phúc, đầm ấm, đồng thời nêu cao các giá trị vô giá của gia đình, đó là tình cảm của ông bà, cha mẹ, con

Trang 6

cháu, vợ chồng, anh em cùng lòng tôn kính các bậc sinh thành, tình yêu thương con trẻ Không chỉ vậy, gia đình cũng góp phần xây dựng, tô thắm, làm rạng rỡ thêm bản sắc văn hoá dân tộc; là nơi giữ gìn, vun đắp, phát huy những giá trị truyền thống quý báu của người Việt được lưu truyền qua hàng ngàn năm lịch

sử

Hiện nay, trước sự tác động mạnh mẽ của kinh tế thị trường và xu hướng toàn cầu hoá, giá trị gia đình truyền thống đang có nhiều vận động và biến đổi Bên cạnh sự hình thành những giá trị mới phù hợp với xã hội hiện đại, một số giá trị truyền thống tốt đẹp đó bị xâm hại và có nguy cơ bị mai một đi

Phường Quang Trung nằm ở khu vực trung tâm của quận Hồng Bàng được thành lập từ tháng 4/1988 với diện tích 13,4 ha bao gồm 7 tuyến phố Quang Trung, Phan Bội Châu, Kỳ Đồng, Trần Quang Khải, Lý Thường Kiệt, Phạm Bá Trực và Tam Bạc; trong đó có một tuyến đường mẫu của Thành phố và Quận (đường Quang Trung) Trên địa bàn phường, phía Bắc tiếp giáp Phường Minh Khai; phía nam giáp phường An Biên (quận Lê Chân), phía Đông giáp phường hoàng Văn Thụ, phía Tây giáp phường Hạ Lý Toàn phường có 1.424 hộ dân với tổng số 6.152 nhân khẩu phân bổ tại 11 tổ dân phố Từ điều kiện địa lý, kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội cho thấy vấn đề giáo dục giá trị truyền thống gia đình

ở phường Quang Trung cần hết sức chú trọng và quan tâm

Qua tìm hiểu, chúng tôi nhận thấy rằng chưa có một công trình nào nghiên cứu sâu về việc giáo dục giá trị gia đình truyền thống cho thiếu niên tại một khu dân cư cụ thể Ở một cồng đồng dân cư gần gũi, các gia đình thường có sự ảnh hưởng nhau về lối sống và cách giáo dục con cái Từ đó chúng ta có thêm một cái nhìn về vai trò của gia đình nói riêng và toàn xã hội nói chung trong giáo dục các giá trị văn hoá truyền thống Vì vậy, việc đi tìm hiểu giáo dục giá trị gia đình truyền thống cho thiếu niên trong cộng đồng dân cư tại cụm phường Quang Trung, quận Hồng Bàng, thành phố Hải Phòng là một việc làm cần thiết

Ý thức được tầm quan trọng của gia đình trong việc giữ gìn các giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc, góp phần xây dựng gia đình văn hóa, góp phần nâng cao vai trò của giáo dục đối với việc xây dựng và giữ gìn văn hóa gia đình,

Trang 7

nền tảng của văn hóa dân tộc, tôi lựa chọn đề tài “Giáo dục giá trị gia đình

truyền thống cho thiếu niên trong cộng đồng dân cư phường Quang Trung, quận Hồng Bàng, thành phố Hải Phòng ” làm luận văn tốt nghiệp của mình.

2 Mục đích nghiên cứu

Nghiên cứu lý luận và phân tích thực trạng giáo dục giá trị gia đình

truyền thống cho thiếu niên trong cộng đồng dân cư ở phường Quang trung, quận Hồng Bàng, thành phố Hải Phòng nhằm đề xuất các biện pháp giáo dục và gìn giữ các giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc, góp phần xây dựng gia đình văn hóa và xã hội văn minh, đậm đà bản sắc dân tộc

3 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Hệ thống hóa lý luận về giáo dục giá trị gia đình truyền thống Việt Nam

- Phân tích thực trạng giáo dục giá trị gia đình truyền thống ở phường Quang Trung, quận Hồng Bàng, thành phố Hải Phòng

- Đề xuất một số biện pháp giáo dục giá trị gia đình truyền thống ở phường

Quang Trung, quận Hồng Bàng, thành phố Hải Phòng

4 Đối tượng và khách thể nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu:

Biện pháp giáo dục giá trị gia đình truyền thống ở phường Quang Trung, quận Hồng Bàng, thành phố Hải Phòng

4.2 Khách thể:

Quá trình giáo dục giá trị gia đình truyền thống cho thiếu niên

5 Giả thuyết nghiên cứu

Trong bối cảnh hội nhập văn hóa và WTO, vấn đề giáo dục giá trị truyền thống gia đình có vai trò đặc biệt quan trọng để giữ gìn bản sắc văn hóa Việt Nam Tuy nhiên, Giáo dục giá trị gia đình truyền thống cho thiếu niên chưa được quan tâm đúng mức nên một số giá trị truyền thống tốt đẹp đó bị xâm hại

và có nguy cơ bị mai một Nếu đề xuất được một số biện pháp phù hợp với đặc điểm cộng đồng, văn hóa cộng đồng…giữ gìn các giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc thì sẽ góp phần xây dựng cộng đồng gia đình văn hóa ở phường Quang Trung, quận Hồng Bàng, thành phố Hải Phòng

Trang 8

6 Phạm vi nghiên cứu

- Về nội dung nghiên cứu: Giáo dục giá trị gia đình truyền thống

- Về địa bàn nghiên cứu: Đề tài triển khai ở phường Quang Trung, quận

Hồng Bàng, thành phố Hải Phòng

7 Phương pháp nghiên cứu

Kết hợp các nhóm nghiên cứu sau:

7.1 Nhóm phương pháp nghiên cứu lý thuyết

7.2 Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn

8 Cấu trúc của luận văn

Ngoài mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục, luận văn dự kiến được trình bày trong ba chương:

Chương 1: Cơ sở lý luận về giáo dục giá trị gia đình truyền thống cho

thiếu niên trong cộng đồng dân cư

Chương 2: Thực trạng giáo dục giá trị gia đình truyền thống cho thiếu niên

ở phường Quang Trung, quận Hồng Bàng, thành phố Hải Phòng

Chương 3: Một số biện pháp giáo dục giá trị gia đình truyền thống cho thiếu niên ở phường Quang Trung, quận Hồng Bàng, thành phố Hải Phòng

Trang 9

CHƯƠNG 1

CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ GIÁO DỤC GIÁ TRỊ GIA ĐÌNH TRUYỀN THỐNG

CHO THIẾU NIÊN TRONG CỘNG ĐỒNG DÂN CƯ

1.1 Tổng quan nghiên cứu vấn đề

1.1.1 Nghiên cứu ở nước ngoài

Các hình thức tổ chức các gia đình đã biến dạng theo lịch sử, và vì thế người ta không dễ gì đồng ý với nhau về định nghĩa của gia đình, ngay cả định nghĩa của George Murdock, một chuyên gia Hoa Kỳ về lịch sử xã hội Murdock định nghĩa gia đình là một nhóm xã hội được xác định bởi một nơi cư trú chung

có sự cộng tác và tái sản xuất về kinh tế, bao gồm những người trưởng thành của hai giới, trong đó có ít nhất là hai người duy trì mối quan hệ tình dục được xã hội công nhận và một hoặc nhiều đứa trẻ, là con đẻ hay con nuôi của những người trưởng thành có mối quan hệ như vợ chồng với nhau.[18,54] Theo định nghĩa này, gia đình được tạo thành từ những người sống chung với nhau trong một thời gian kéo dài Họ được gắn kết bởi những thỏa thuận pháp lý hay những cam kết tình cảm, hoặc cả hai Và cuối cùng, họ có thể chăm sóc cho một hoặc nhiều hơn các thân quyến phụ thuộc là trẻ con, người tàn tật hay già cả Định nghĩa trên đã bỏ qua nhiều vai trò và chức năng căn bản của gia đình, cũng như không cho thấy sự phân công trách nhiệm vốn là thực tế trong các gia đình, vì

do đó, mà nảy sinh ra trong lịch sử các chế độ mẫu hệ, phụ hệ và gia trưởng Quan trọng hơn, định nghĩa trên không chứng tỏ đươc tính chất nòng cốt của gia đình vốn mang trong chính nó mối tương quan hòa thuận và gia giáo, thông qua giáo dục Dầu sao ý tưởng chính vẫn là sự gắn kết trong cuộc sống vật chất và tinh thần, nhờ sự gắn kết này mà các quyền lợi của cá nhân và gia đình được bảo đảm.Tình yêu và trách nhiệm trong hôn nhân là phẩm chất chính yếu và tốt đẹp nhất của đời sống gia đình

Nhưng với Trost, tác giả của tác phẩm Married and Unmarried Cohabitation đã cho ta một nhận định khác về hai quan hệ chủ yếu nhất “quan

hệ vợ chồng” và “quan hệ bố mẹ - con cái.”[dẫn theo 39, 44] Theo Trost, khi nói về

Trang 10

gia đình người ta thường nghĩ tới một nhóm người sống chung một mái nhà, có mối quan hệ huyết thống qua hôn nhân hay cam kết Ta cũng nghĩ tới gia đình như một tập thể có mục đích chung là nuôi nấng dậy dỗ, kế thừa truyền thống, giá trị và trách nhiệm đối với hạnh phúc của các thành viên gia đình Sự gắn bó với nhau và chung lưng đấu cật là để phong phú hóa cuộc sống của gia đình và của mỗi thành viên Tiến sĩ Mortimer J Adler, trong tác phẩm Great ideas from the great books đã thừa nhận rằng từ thế chiến thứ II, cuộc sống gia đình có một tầm quan trọng rất lớn, ngay cả những người trí thức và bọn trẻ con cũng muốn

có một cuộc sống gia đình lành mạnh Trong các thời đại và những nơi chốn khác nhau thì gia đình có khác nhau về tổ chức, điều hành và vai trò xã hội, nhưng luôn luôn có chức năng căn bản là sinh sản và nuôi dưỡng Đây là mục đích tự nhiên của gia đình.[dẫn theo 39, 62]

Chúng ta có lẽ dễ đồng thuận hơn khi hiểu gia đình là một nhóm căn bản

xã hội, hình thành qua một nghi lễ được xã hội hay truyền thống thừa nhận Như

nhân; Chức năng giáo dục (Xã hội hóa), giáo dục và truyền ban những giá trị được gia đình, gia tộc hay cộng đồng xã hội thừa nhận; Chức năng lao động: nuôi sống mọi người trong gia đình bằng đóng góp công và sức lao động Chức năng tôn giáo, tín ngưỡng: gia đình là nơi tôn kính, thờ tự, (đặc biệt trong các gia đình theo đạo thờ kính ông bà), bảo tồn và lưu truyền niềm tin tín ngưỡng cho các thế hệ kế tục Những giá trị của gia đình trên, dĩ nhiên chưa phải là tất

cả nếu nhìn dưới góc độ giá trị của cộng đoàn nhân vị, sự sống và dâng hiến phục vụ, dầu sao, cũng đã kết thành ý nghĩa phổ quát của cơ cấu gia đình; chính những giá trị nầy làm nên nét đặc trưng của hôn nhân và gia đình

1.1.2 Nghiên cứu ở Việt Nam

Cho đến nay đó có nhiều công trình khoa học nghiên cứu về gia đình dưới nhiều góc độ và quy mô khác nhau Liên quan đến đề tài của luận văn có thể

phân chia các công trình này thành các nhóm cơ bản sau:

Trang 11

Nhóm nghiên cứu về giáo dục giá trị truyền thống

1 Trần Văn Giàu (1980), “Giá trị tinh thần truyền thống của dân tộc Việt Nam”,

Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội

2 Nguyễn Trọng Đệ chủ biên (1994), “Giáo dục gia đình”, Hội Tâm lý - Giáo

dục học Nghệ An xuất bản

3 Đỗ Lai Thuý (1996) đã đề cập: Sự phát triển của ý thức cá nhân qua mẫu

người văn hoá, trong sách "Các giá trị truyền thống và con người Việt Nam hiện nay”, tập II, đề tài KX-07-02, Hà Nội

4 Nguyễn Hồng Hà (2001), “Văn hóa truyền thống dân tộc với việc giáo dục thế

hệ trẻ”, Viện Văn hoá (thuộc Trường Đại học Văn hoá), Nxb Văn hoá - thông

tin, Hà Nội

5 Mai Quỳnh Nam chủ biên (2002) “Gia đình trong tấm gương xã hội học”,

Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, đã tập hợp những nghiên cứu của các tác giả trongViện Xã hội học và các cộng tác viên của Viện về gia đình Cuốn sách này gồm có 5 phần và trong đó có 2 phần là: Gia đình và các ảnh hưởng văn hoá, sự biến đổi và các quan hệ trong gia đình đã đề cập rất sâu về giáo dục gia đình và vai trò của trẻ em trong gia đình hiện nay Đây thực sự là một tài liệu quý báu định hướng cho tôi chọn đề tài trên làm luận văn của mình

Ngoài ra còn rất nhiều các tác giả khác nghiên cứu về vấn đề giáo dục gia

đình như: Nguyễn Lan Phương với bài “Nhận xét về sự chuyển đổi giá trị của

đứa con sau mười năm ở một xã”, Tạp chí Xã hội học số 2 (50), 1995; Phan Đại

Doãn với bài “Chữ hiếu trong quan hệ gia đình, làng xã người Việt truyền

thống”, Tạp chí Dân tộc học số 2, 1992…

Nhóm vấn đề chung về xây dựng và phát triển gia đình Việt Nam có

một số công trình như: “Gia đình Việt Nam ngày nay” Nxb Khoa học xã hội, 1996; “Gia đình Việt Nam trong bối cảnh đất nước đổi mới” của GS Lê Thi, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 2002; “Suy nghĩ về việc xây dựng chiến lược

phát triển gia đình hiện nay” của Lê Thị Quý, Tạp chí Cộng sản, số 30-2003;

“Cuộc sống và biến động của hôn nhân gia đình Việt Nam hiện nay” của GS

Lê Thi, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 2007; “Gia đình học” của Đặng Cảnh

Trang 12

Khanh - Lê Thị Quý, Nxb Chính trị - Hành chính, Hà Nội, 2009; “Nghiên cứu

gia đình và giới thời kỳ đổi mới”, Nhiều tác giả, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội,

2010; “Các mối quan hệ trong gia đình Việt Nam: Một số kết quả phân tích sâu

Điều tra gia đình Việt Nam 2006”, Viện Gia đình và Giới, Nxb Bộ Văn hoá, thể

thao và du lịch, Viện Gia đình và Giới, UNICEF Việt Nam, Hà Nội, 2011… Qua các công trình này, các tác giả đó khái quát một cách có hệ thống về sự biến đổi quy mô, cấu trúc, chức năng của gia đình trong công cuộc đổi mới và hội nhập quốc tế Hôn nhân và gia đình đến nay đối với người Việt Nam vẫn có ý nghĩa hết sức quan trọng Tuy nhiên, gia đình Việt Nam đó có những thay đổi về cấu trúc, quy mô, về việc thực hiện các chức năng của gia đình Nhiều khó khăn phức tạp đó nảy sinh trong hoàn cảnh mới, xu hướng ly hôn đang tăng lên, lối sống thực dụng, thế lực đồng tiền len lỏi trong nội bộ các gia đình, sự suy thoái

về đạo đức, sự phân biệt đối xử với phụ nữ, với trẻ em, nạn bạo lực gia đình vẫn đang tồn tại và diễn biến phức tạp trong các gia đình… Những điều đó đó gây nhức nhối và cản trở sự tiến bộ của các thành viên, phá vỡ hạnh phúc gia đình và ảnh hưởng đến sự phát triển bền vững của đất nước

Trên cơ sở xác định thực trạng gia đình Việt Nam, các tác giả đều tập trung vào việc đề ra những phương hướng và giải pháp cơ bản nhằm xây dựng gia đình ấm no, bình đẳng, tiến bộ và hạnh phúc ở nước ta hiện nay Đặc biệt, cần có sự kế thừa những gía trị đạo đức của gia đình truyền thống và tiếp thu những giá trị đạo đức của gia đình hiện đại Vun đắp mối quan hệ giữa các thành viên trong gia đình, không chỉ đòi hỏi chúng ta phải có cái tâm, có thiện ý, xuất phát từ tình cảm và trách nhiệm của mỗi người mà cũng phải có những kiến thức khoa học về tâm sinh lý, về cách tổ chức đời sống gia đình trong bối cảnh đổi mới và hội nhập quốc tế

Nhóm vấn đề quan hệ giới và sự bất bình đẳng, bạo lực gia đình có một

số công trình như: “Một số vấn đề về bạo lực gia đình hiện nay” của Lê Thị Quý, Tạp chí Khoa học và Phụ nữ, số 4 - 1991; “Bất bình đẳng nam nữ nhìn từ

góc độ lịch sử” của Lê Thị Quý, Tạp chí Khoa học về Phụ nữ, số 32-1998; “Phụ

nữ và bình đẳng giới trong đổi mới Việt Nam”, Nxb Phụ nữ, Hà Nội, 1998;

Trang 13

“Bạo lực gia đình - Bất bình đẳng trong quan hệ giới” của Lê Thị Quý, Tạp chí

Khoa học về Phụ nữ, số 42 - 2000; “Bạo lực gia đình - một sự sai lệch giá trị”, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 2007; “Bình đẳng giới ở Việt Nam: Phân tích số

liệu điều tra”, Trần Thị Vân Anh - Nguyễn Hữu Minh (chủ biên), Nxb Khoa

học xã hội, Hà Nội, 2008; “Bạo lực gia đình đối với phụ nữ ở Việt Nam: Thực

trạng, diễn tiến và nguyên nhân”, Nguyễn Hữu Minh; Trần Thị Vân Anh (đồng

chủ biên), Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 2009… Qua các công trình này, các tác giả đó chỉ ra thực trạng, nguyên nhân, ảnh hưởng và hậu quả của sự bất bình đẳng giữa các thành viên, nạn bạo lực gia đình đang diễn biến nghiêm trọng, tác

động xấu đến gia đình và xã hội ở nước ta hiện nay

Nhóm vấn đề tiếp cận và nghiên cứu gia đình dưới góc độ văn hóa và đạo đức gia đình

Dưới góc độ văn hoá có một số công trình như: “Nho giáo và gia đình”,

Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 1995; “Xây dựng gia đình văn hoá trong sự

nghiệp đổi mới”, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1997; “Gia đình và Phụ nữ trong biến đổi văn hóa - xã hội nông thôn” của Nguyễn Linh Khiếu, Nxb Khoa

học xã hội, 2001; “Gia đình, trẻ em và sự kế thừa các giá trị truyền thống”, Đặng Cảnh Khanh: Biên soạn, Nxb Lao động xã hội, Hà Nội, 2003; “Văn hoá

gia đình và xây dựng gia đình văn hoá trong thời kỳ hội nhập quốc tế” của Ths

Trần Thị Tuyết Mai, Tạp chí Cộng sản, số 161-2008… Qua các công trình này, các tác giả đó khái quát được những giá trị văn hoá của gia đình, chỉ ra sự cần thiết phải xây dựng văn hoá gia đình và gia đình văn hoá ở Việt Nam hiện nay

Dưới góc độ đạo đức gia đình có một số công trình như:“Đạo đức mới”

của Vũ Khiêu (Chủ biên), Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 1974;“Quan hệ giữa

đạo đức và kinh tế trong việc định hướng giá trị đạo đức hiện nay” của Nguyễn

Thế Kiệt, Tạp chí Triết học, số 6, 1992; “Quán triệt mối quan hệ giữa kinh tế

với đạo đức” của Nguyễn Ngọc Long, Tạp chí Nghiên cứu lý luận, 1-1987;

“Định hướng giá trị của thanh niên Việt Nam trong điều kiện kinh tế thị trường” của Thái Duy Tuyên, Hà Nội, 1994; “Những vấn đề về đạo đức trong điều kiện kinh tế thị trường” của Viện Thông tin khoa học xã hội, Hà Nội, 1996;

Trang 14

“Vai trò của giáo dục đối với sự phát triển nhân cách trong cơ chế thị trường”

của Nguyễn Văn Phúc, Tạp chí Triết học, số 5, 1996; “Vai trò của gia đình

trong việc xây dựng nhân cách con người Việt Nam” của Lê Thi, Nxb Phụ nữ,

Hà Nội, 1997;“Tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức” của Thành Duy, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1996; “Văn hoá đạo đức Hồ Chí Minh” của Hoàng Chí

Bảo, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2009… Qua các công trình này, các tác giả đó khái quát thực trạng đạo đức của xã hội và gia đình Việt Nam trong điều kiện kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế Đồng thời, chỉ ra những nguyên nhân dẫn đến sự suy thoái về đạo đức và lối sống của giới trẻ hiện nay Từ đó, nhấn mạnh vai trò quan trọng của nhà trường, cộng đồng, xã hội và đặc biệt là vai trò của gia đình trong việc giáo dục đạo đức, lối sống và hành thành nhân cách cho thế hệ trẻ hiện nay

Ngoài một số công trình nêu trên cũng có các luận văn, luận văn nghiên cứu về gia đình, về đạo đức gia đình và giáo dục đạo đức trong gia đình như:

Luận văn thạc sĩ Triết học “Sự tác động của kinh tế thị trường định hướng xã

hội chủ nghĩa đến đạo đức gia đình truyền thống ở Việt Nam” của Nguyễn Thị

Thọ; Luận án tiến sĩ Triết học “Vai trò của gia đình trong việc giáo dục thế hệ

trẻ ở nước ta hiện nay” của Nghiêm Sĩ Liêm, 2000; “Gia đình trong quá trình

đô thị hoá ở Thành phố Hồ Chí Minh” của Nguyễn Tiến Vững, 2005; Luận án

tiến sĩ tâm lý học “Ảnh hưởng của truyền thống gia đình đến định hướng giá trị

cuộc sống của thế hệ trẻ” của Cấn Hữu Hải, 2001…

Các công trình nghiên cứu ngày đã góp phần làm sáng tỏ thêm về mặt lí luận cũng như thực tiễn tầm quan trọng và sự cần thiết của công tác xây dựng gia đình hiện nay Bên cạnh đó, có một số đề tài, công trình cũng đề cập đến vấn

đề bảo tồn, giữ gìn và phát huy những giá trị tốt đẹp của gia đình truyền thống Việt Nam trong công tác xây dựng gia đình những năm gần đây Nhưng do mục đích và nhiệm vụ đặt ra khác nhau, vì vậy chưa có công trình nào nghiên cứu về giáo dục giá trị gia đình truyền thống cho thiếu niên tại một khu dân cư cụ thể Ở một cồng đồng dân cư gần gũi, các gia đình thường có sự ảnh hưởng nhau về lối

Trang 15

sống và cách giáo dục con cái Từ đó chúng ta có thêm một cái nhìn về vai trò của gia đình nói riêng và toàn xã hội nói chung trong giáo dục các giá trị gia đình truyền thống Vì vậy, việc đi tìm hiểu giáo dục các giá trị gia đình truyền thống trong thiếu niên hiện nay qua việc khảo sát tại khu dân cư Quang Trung là một việc làm cần thiết

Các công trình và bài viết của các tác giả trên chính là sự gợi mở, là chìa khoá và thực sự là những tài liệu quý để chúng tôi vận dụng vào trong nghiên cứu của mình

đề được nhiều nhà tư tưởng, nhiều tố chức nghiên cứu vơi những cách tiếp cận phong phúc và đa dạng Tuy nhiên, ở mỗi một hình thái kinh tế- xã hội lại có một phương thức tổ chức xã hội đặc thù và vì vậy phương thức tồn tại của gia đình cũng khác nhau Từ sự khác nhau đó mà cách nhận thức về gia đình của mỗi xã hội cũng không phải là nhất thành bất biến Có thể nói khái niệm “ gia đình” là một khái niệm động và nó không ngừng thay đổi cùng với sự vận động của điều kiện kinh tế - xã hội

Từ những năm 500 trước Công Nguyên, các nhà kinh điển của Nho giáo

đã cho rằng: nhà là mắt xích quan trọng nhất nối kết con người với đất nước và thế giới Tư tưởng này đã được thể hiện rất rõ qua các tác phẩm của hai thời kì Nho giáo nguyên thủy và Hậu Nho giáo với các đại biểu nổi tiếng như Khổng

Tử, Mạnh Tử, .và đã đặt nền móng cho các nghiên cứu về gia đình ở nhiều nước phương Đông, trong đó có Việt Nam

Nho giáo có Tam cương (vua tôi, cha con, vợ chồng) thì đã có hai cương nói về gia đình, Năm luân (vua tôi, cha con, vợ chồng, anh em, bạn bè) thì có ba

Trang 16

luân nói về gia đình Chính vì vậy trong Nho giáo, gia đình có một vị trí hết sức quan trọng giống như một nước cần có kỷ cương và trật tự nhưng kỷ cương và trật tự ấy chỉ có được khi nó được xây dựng từ trong gia đình

Định nghĩa đương đại về gia đình có rất nhiều:

Mác và Ăng-ghen cho gia đình là mối quan hệ giữa chồng và vợ, giữa

cha mẹ và con cái [5] Tuyên bố về tiến bộ xã hội trong phát triển của Liên Hiệp

Quốc định nghĩa “Gia đình là đơn vị cơ bản của xã hội, và là môi trường tự nhiên cho sự phát triển và hạnh phúc của mọi thành viên, nhất là trẻ em”

- xã hội học cho phép nhìn nhận các khía cạnh của gia đình được rõ hơn Các Mác đã tiếp cận gia đình qua chức năng cơ bản và quan trọng của nó, đó là chức năng tái tạo ra con người hay duy trì nòi giống Đồng thời, C.Mác nhấn mạnh những mối quan hệ tình cảm ruột thịt, thiêng liêng trong gia đình như: quan hệ hôn nhân và quan hệ huyết thống Trong tác phẩm “Nguồn gốc của gia đình, của chế độ tư hữu và của nhà nước” (1884) Ph Ăngghen đã làm rõ về vấn đề nguồn gốc của gia đình - đó là sản phẩm của một quá trình phát triển lâu dài và đầy mâu thuẫn của lịch sử gắn liền với sự hình thành của chế độ tư hữu và nhà nước Ông đã làm rõ những khái niệm cơ bản về “hôn nhân”, “gia đình” mà đặc biệt là khái niệm “gia đình” Theo Ph.Ăngghen, “gia đình” thường gắn với hôn nhân và

là khái niệm phát sinh từ chính hôn nhân, tuy nhiên không thể chỉ quy trực tiếp vào hôn nhân Gia đình đòi hỏi phải có hành động tương hỗ giữa các cá thể trong quá trình thoả mãn không chỉ các nhu cầu sinh dục, mà bên cạnh đó còn có

cả các nhu cầu ăn uống, sinh hoạt, giáo dục và tình cảm nữa Đồng thời nó cũng bao gồm cả việc làm kinh tế chung, sinh con đẻ cái và giáo dục chúng Có thể nói đây là những quan điểm có tính chất nền tảng cho các trào lưu nghiên cứu về gia đình sau này

Nhà xã hội học người Nga T.A-pha-na-xê-va cho rằng có ba cách định nghĩa gia đình Một là, “gia đình là một nhóm xã hội nhỏ, liên kết với nhau bằng một chỗ ở, bằng một ngân sách chung, và bằng các mối quan hệ ruột thịt” Hai

là, “gia đình là một nhóm xã hội nhỏ, liên kết với nhau trong một nhà, bằng một

Trang 17

ngân sách chung, và bằng các mối quan hệ giúp đỡ lẫn nhau trên cơ sở tình cảm

và trách nhiệm” Ba là, “Gia đình hiện đại là một nhóm xã hội bao gồm bố mẹ, con cái của một vài thế hệ; các thành viên gia đình có quan hệ ràng buộc về vật chất và tinh thần, theo những mục đích sống có tính nguyên tắc giống nhau về các vấn đề chủ yếu” [dẫn theo 35,46]

Định nghĩa được trích dẫn nhiều nhất trong các sách báo là của hai nhà xã hội học E.Bơ-getx và H.Lốc-cơ: “Gia đình là một nhóm người liên kết với nhau bởi các quan hệ hôn nhân, máu mủ, hay bằng nhận con nuôi, tạo thành một hệ riêng biệt, tác động qua lại và giao tiếp lẫn nhau qua các vai trò xã hội của từng người: là chồng, là vợ, là bố, là mẹ, là con, là anh chị em, Tạo nên một nền văn hoá chung” [5,17] Định nghĩa này vừa nói được cấu trúc của gia đình, vừa chỉ ra mối quan hệ và quan trọng nhất là đã chỉ ra rằng: tổng hoà các thành viên của gia đình bằng giao tiếp và tác động qua lại, đã tạo ra một nền văn hoá

cho đến nay Nếu như trước đây, khái niệm “gia đình” chỉ được hiểu là sự bao hàm của hai người nam nữ khi họ đã cưới nhau và chung sống với con cái, trong

đó người chồng là người trụ cột gia đình và người vợ là người chu toàn công việc gia đình và chăm sóc con cái Song, đến những năm 50 của thế kỉ XX, quan niệm đó đã thay đổi mà xuất hiện những định nghĩa khái quát hơn Gia đình được hiểu là một nhóm xã hội gồm hai hoặc nhiều người gắn bó với nhau bằng quan hệ hôn nhân, quan hệ huyết thống hoặc quan hệ nhận con nuôi nhằm thỏa mãn nhu cầu về xã hội về tái sản xuất dân cư theo cả nghĩa thể xác và tinh thần

Tuy nhiên, cùng với sự thay đổi của điều kiện kinh tế - xã hội, hình thức gia đình cũng đa dạng và phức tạp hơn thì định nghĩa trên dường như cũng trở nên cứng nhắc và chật chội Như vậy, chính sự thay đổi của hình thức gia đình

đã dẫn tới sự biến đổi không ngừng trong những định nghĩa về gia đình Vì vậy,

“gia đình” là một khái niệm động, luôn luôn vận động, và biến đổi Và trước những thách thức của thời đại hiện nay, việc lựa chọn một định hướng chiến lược phát triển cho gia đình là vấn đề đặt ra cho cả nhân loại

Trang 18

Ở Việt Nam, ngay từ rất sớm, những khảo luận và phân tích về gia đình

đã được quan tâm và đặc biệt chú ý Từ thế kỉ XV, Nguyễn Trãi đã viết “Gia huấn ca” với rất nhiều những nguyên tắc xây dựng gia đình và giáo dục gia đình vừa theo quan điểm của Nho giáo vừa thấm nhuần những giá trị truyền thống của dân tộc

Lúc sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng đặc biệt quan tâm đến vấn đề gia đình Trong những bài viết, tác phẩm của mình, Hồ Chí Minh đã khẳng định rất rõ vai trò của gia đình đối với con người và xã hội Theo Người, gia đình chính là cái nôi nuôi dưỡng con người, là nơi con người xây dựng mối quan hệ yêu thương, bình đẳng và hòa thuận

Trên cơ sở kế thừa những tư tưởng đó, trong những năm trở lại đây, xuất hiện khá nhiều các nghiên cứu, công trình khoa học về gia đình dưới nhiều góc

độ khác nhau như: triết học, sử học, dân tộc học, văn học, xã hội học, dân số học, tâm lý học, giáo dục học Điều đó cho thấy, gia đình vẫn là một đề tài khá mới mẻ và giàu giá trị nghiên cứu

Theo Từ điển Tiếng Việt: “Gia đình là tập hợp những người cùng sống chung thành một đơn vị nhỏ nhất trong xã hội, gắn bó với nhau bằng quan hệ

hôn nhân và dòng máu, thường gồm có vợ chồng, cha mẹ và con cái [7, tr.719]

Luật Hôn nhân và Gia đình (năm 2000), khẳng định: “Gia đình là tập hợp những người gắn bó với nhau do quan hệ hôn nhân, quan hệ huyết thống, hoặc

do quan hệ nuôi dưỡng, làm phát sinh các nghĩa vụ và quyền lợi giữa họ với

nhau theo luật định” (Điều 8) [24, tr.15-16]

Từ góc độ Tâm lý học, trong cuốn “Tâm lý gia đình”, tác giả Nguyễn Khắc Viện đã đưa ra định nghĩa: “Gia đình, đó là sự chung sống giữa hai nhóm người, cha mẹ, con cái, nó cùng một mối quan hệ là những người sinh ra và

những người nối dõi [46, tr.20]

Từ góc độ Triết học, Giáo sư Lê Thi quan niệm rằng: "Gia đình" là một khái niệm dùng để chỉ một nhóm xã hội hình thành trên cơ sở quan hệ hôn nhân

và quan hệ huyết thống, nảy sinh quan hệ hôn nhân đó và cùng chung sống Đồng thời gia đình cũng có thể bao gồm một số người được gia đình nuôi

Trang 19

dưỡng, tuy không có quan hệ huyết thống Các thành viên trong gia đình gắn bó nhau về trách nhiệm và quyền lợi [40, tr.42]

Như vậy, dưới những góc độ khác nhau, quan niệm về gia đình cũng khác nhau và sẽ không có một định nghĩa duy nhất về gia đình cho mọi nền văn hóa Tuy nhiên, trên cơ sở lý luận chủ nghĩa xã hội khoa học, đồng thời kế thừa quan

điểm của những nhà nghiên trước, theo tác giả luận văn: Gia đình là một cộng

đồng người đặc biệt, được hình thành, phát triển và củng cố bởi hai mối quan

hệ cơ bản là quan hệ hôn nhân và quan hệ huyết thống Trong gỉa đình, các thành viên có quyền lợi, trách nhiệm và nghĩa vụ với nhau cả về vật chất lẫn tinh thần, cùng thực hiện mục tiều phát triển kinh tế, nuôi dưỡng các thành viên

và xây dựng gia đình bền chặt

Dù cách nhận thức và lí giải về khái niệm gia đình có khác nhau và sẽ luôn vận động, nhưng nói một cách chung nhất chúng ta có thể thấy rằng gia đình Việt Nam thời kì nào cũng vậy đều có vai trò quan trọng đối với mỗi con người cũng như xã hội Từ lúc hình thành cho đến ngày nay, gia đình Việt Nam

dù là truyền thống hay hiện đại thì đều được dựng xây trên cơ sở của mối quan

hệ hôn nhân và huyết thống Đồng thời, vị trí và vai trò của gia đình vẫn không

hề thay đổi, gia đình vẫn là tổ ấm mang lại những giá trị hài hòa trong đời sống vật chất cũng như tinh thần của mỗi con người Tuy nhiên, trước những dấu hiệu của sự khủng hoảng gia đình trong xã hội hiện đại, trở về với các giá trị gia đình truyền thống đang được coi là một trong những phương thức tốt nhất để hướng tới tương lai

1.2.1.2 Gia đình truyền thống

Như chúng ta đã biết, gia đình giống như là một xã hội thu nhỏ, trong đó hiện diện đầy đủ những quan hệ như: quan hệ kinh tế, quan hệ giáo dục, quan hệ văn hóa Tuy nhiên hiện nay, những biến chuyển của kinh tế - xã hội đã và đang tác động dữ dội vào gia đình trên nhiều phương diện và đưa đến những hệ quả có tính đa chiều Trước những biến đổi đó, đặc biệt là những dấu hiệu của

sự khủng hoảng gia đình trong xã hội hiện đại, thực tiễn đang vang lên những lời kêu gọi chúng ta phải trở về với các giá trị của gia đình truyền thống

Trang 20

Cho đến nay, với rất nhiều những nghiên cứu và công trình khoa học về gia đình, tuy nhiên chúng ta vẫn chưa có một công trình nghiên cứu chuyên biệt nào về gia đình truyền thống tại Việt Nam và chính vì vậy cũng chưa thể nhận diện một cách đầy đủ và sâu sắc về nó Trong lịch sử nghiên cứu về gia đình, chúng ta thường tiếp cận với hai khái niệm được phân tách rõ ràng : gia đình truyền thống và gia đình hiện đại Tuy nhiên, trên thực tế sự phân tách này chỉ

có ý nghĩa tương đối dựa trên sự khác nhau về cấu trúc, quy mô, hình thức tổ chức gia đình cũng như quan niệm sống

Gia đình Việt Nam truyền thống được các nhà nghiên cứu cho là kiểu gia đình chứa nhiều yếu tố dường như bất biến, ít đổi thay Truyền thống là tập hợp những thói quen trong tư duy lối sống và ứng xử của một cộng đồng người nhất định, được hình thành trong lịch sử và trở nên ổn định, được lưu truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác Truyền thống có ba đặc tính cơ bản là tính cộng đồng, tính

ổn định và tính lưu truyền Gia đình Việt Nam truyền thống cũng mang những đặc trưng cơ bản đó Kiểu gia đình này ra đời từ cái nôi của nền văn hóa bản địa

và được bảo lưu từ thế hệ này sang thế hệ khác Như vậy, có thể hiểu gia đình Việt Nam truyền thống là sản phẩm của nền văn minh lúa nước và tồn tại chủ yếu trên địa bàn nông thôn Chính vì vậy có thế nói, tính chất nông nghiệp, nông thôn và Nho giáo là những đặc trưng cơ bản của gia đình Việt Nam truyền thống

Thứ nhất, gia đình Việt Nam truyền thống là sản phẩm của xã hội nông

nghiệp Việt Nam, gắn liền với xã hội nông thôn - nông nghiệp, vì vậy, nó tương đối ổn định và ít có sự biến đổi trước những biến thiên của lịch sử Ra đời trong nền nông nghiệp sản xuất lúa nước, với những công cụ sản xuất thô sơ, lạc hậu lại phải đối mặt với nhiều thiên tai, địch họa nên gia đình Việt Nam truyền thống rất coi trọng sức mạnh cộng đồng Trước hết là cộng đồng gia đình, một cộng đồng tự nhiên bắt nguồn từ những quan hệ gần gũi nhất Trong cộng đồng đó, những con người gắn bó với nhau bằng tất cả những mối liên hệ vật chất cũng như tinh thần Đó là sự gắn bó thủy chung giữa chồng và vợ, là tình yêu thương của cha mẹ với con cái, là sự kính trọng của con cháu đối với cha mẹ, ông bà, tổ

Trang 21

tiên Với đặc điểm của nền sản xuất nông nghiệp nên trong gia đình truyền thống thường có nhiều thế hệ cùng chung sống mà dân gian hay gọi là "tam, tứ đại đồng đường" Trong gia đình, các thành viên liên kết với nhau bằng một chuỗi những quan hệ huyết thống rất chặt chẽ Đây là kiểu gia đình khá phổ biến

ở khu vực đồng bằng Bắc bộ Việt Nam trước đây

Thứ hai, gia đình Việt Nam truyền thống chịu ảnh hưởng mạnh mẽ của

gia đình Nho giáo

Chúng ta không nghi ngờ về những tác động cũng như ảnh hưởng mạnh

mẽ của Nho giáo đến gia đình Việt Nam truyền thống Chính những ảnh hưởng này đã khiến không ít các học giả khi nghiên cứu về gia đình đã đồng nhất gia đình Việt Nam với gia đình Nho giáo Những ảnh hưởng của Nho giáo tới văn hóa gia đình Việt Nam là hết sức to lớn, đặc biệt là trên những chuẩn mực chính thống của thiết chế nhà nước

Trong gia đình truyền thống, trật tự gia đạo, gia phong, gia lễ được coi trọng và quy định chặt chẽ đối với mọi thành viên trong gia đình, trong đó gia đạo được coi là sức mạnh của gia đình Gia đạo được hiểu là đạo đức của gia đình như: đạo hiếu, đạo ông bà, đạo cha con, đạo vợ chồng, đạo anh em Trong

đó đạo hiếu được coi là nền tảng đạo đức của gia đình Cùng với gia đạo, thì gia phong và gia lễ cũng được coi trọng và quy định chặt chẽ đối với mọi thành viên trong gia đình Tuy nhiên, cố Giáo sư Trần Quốc Vượng cũng đã từng khẳng định: "Nho giáo chỉ là lớp phủ bên ngoài và nếu không đi sâu nghiên cứu các giá trị văn hóa truyền thống thì khó mà giải thích được những đặc điểm cơ cấu nội tại của gia đình người Việt" [51, tr.45] Bởi lẽ, Nho giáo khi vào Việt Nam ít nhiều đã mang dấu ấn của những phong tục tập quán lâu đời của người dân nơi đây

Thứ ba, ở Việt Nam, khái niệm gia đình truyền thống còn được hiểu là

kiểu gia đình phụ quyền, kiểu gia đình nói chung của nhân dân lao động trước cách mạng, được hình thành và phát triển lâu dài trong quá trình lịch sử dựng nước và giữ nước

Về mặt lịch sử, đây không phải là hình thức gia đình xuất hiện đầu tiên ở

Trang 22

Việt Nam, nhưng lại là hình thức gia đình tồn tại lâu nhất Với đặc thù ra đời và phát triển trong các cộng đồng làng xã, lại chịu ảnh hưởng sâu sắc bởi các triết

lý của Nho giáo nên đặc điểm nổi bật của gia đình phụ quyền là sự bất bình đẳng trong quan hệ giữa các thành viên, trong đó người đàn ông được coi là chủ gia đình Với sự tác động và ảnh hưởng của tư tưởng Nho giáo, xuất phát từ tư

tưởng: “trọng nam khinh nữ”, trong gia đình Việt Nam truyền thống vị trí của

người nam giới, con trai luôn được coi trọng và có tiếng nói quyết định; còn phụ

Như vậy, gia đình Việt Nam truyền thống là một thể chế đã tồn tại qua hàng nghìn năm, có nền tảng bền vững, được hình thành và phát triển qua quá trình biến đổi lâu dài và sâu sắc trong suốt chiều dài lịch sử Trong loại hình gia đình này có chứa đựng cả những giá trị tích cực và giá trị tiêu cực; nhưng có thể nói rằng, nó là cái nôi chứa đựng những giá trị văn hóa, tinh thần phong phú mang đậm bản sắc dân tộc Những giá trị ấy đã được bảo tồn, gìn giữ trong suốt chiều dài lịch sử, góp phần làm nên bản sắc văn hóa của dân tộc Việt Nam

1.2.2 Giá trị và giá trị truyền thống

1.2.2.1 Giá trị

Theo từ điển Tiếng việt [27,114]

- Giá trị (toán học) - là đại lượng có thể thay đổi được trong toán học

- Giá trị (nhân cách và văn hoá) - là những nguyên tắc, chuẩn mức, tiêu chuẩn chỉ dẫn cho hành động của con người

Trong phạm vi luận văn này chúng tôi nghiên cứu giá trị theo nghĩa giá trị nhân cách, văn hóa

Chúng tôi quan niệm “ giá trị là những nguyên tắc chuẩn mực, tiêu chuẩn chỉ dẫn cho hành động của con người”

Như vậy là, nói đến giá trị là nói đến đánh giá, tìm ra ý nghĩa của sự vật này, sản phẩm kia mà chủ thể quan tâm tới, có ước muốn đạt được để thực hiện một mục đích nào đấy Đó là thái độ (hệ thống thái độ) của từng con người đối với xung quanh, cũng tức là một phần cực kỳ quan trọng trong lối sống, cách

Trang 23

sống Hệ thống thái độ con người, đó là nhân cách của con người, cá tính của nó Trong đó, có cả nhận thức, triết lý, tình cảm, tâm trạng, tâm thế và hành động Tất cả những gì con người đã sống, đang sống và sẽ sống, ta gọi là vốn trải nghiệm Theo lý thuyết hoạt động trong tâm lý học đời người là một dòng hoạt động Dưới góc độ của giá trị học, đời người là tổng các giá trị do người đó tạo nên, tiếp thu, chấp nhận, lấy làm chuẩn mực bằng dòng hoạt động của bản thân Tổng các giá trị này là văn hoá của người đó Trong đời sống hàng ngày con người có các phán đoán về các giá trị: thái độ ủng hộ giá trị này, phản đối giá trị

Cùng với các giá trị cá thể (có chỗ gọi là giá trị nhân cách), có các giá trị của cộng đồng mà ta gọi là các giá trị xã hội, ở đây trình bày khái niệm giá trị xã hội tức là những yếu tố trong đời sống tinh thần được cả xã hội quan tâm, nói một cách chính xác hơn, từ các giá trị này (cùng với các giá trị khác), tạo dựng xã hội, như giá trị dân chủ, niềm tin xã hội của các cộng đồng từ các đơn vị cơ sở đến cộng đồng tộc người Cao hơn nữa, có thể đi đến đưa ra giả định về xu thế của xã hội sẽ tiến tới, như xu thế chuyển từ truyền thống sang trào lưu hiện đại hoá xã hội

Như vậy, do mang những tính chất đặc trưng cho quan hệ chủ thể khách thể của đời sống xã hội nên giá trị là người bạn đồng hành của đời sống con người, kể cả con người sống ở những xã hội cổ xưa, thậm chí ở cả thời kỳ được gọi là mông muội, dã man Đ Điđơrô, đại biểu nổi tiếng của phái Bách khoa Pháp thế kỷ XVIII đã từng cho rằng, bản thân sự tồn tại của con người đã làm xuất hiện sự tồn tại của các giá trị, và con người chính là giá trị cao nhất trong những giá trị có thể có [dẫn theo 14]

Theo cách nhìn của các nhà văn hóa học thì khi nói tới văn hóa như là những giá trị do con người tạo ra trong quá trình ứng xử với tự nhiên, xã hội và chính bản thân mình Theo quy luật của cái đẹp thì văn hóa lại nằm trong chiều sâu tâm thức của người bản ngữ, định hướng cho sự lựa chọn khác nhau của cộng đồng người thuộc các nền văn hóa khác nhau Văn hóa như là sợi dây vô hình ràng buộc con người vào nền văn hóa của anh ta như là một định mệnh

Trang 24

không thể thay đổi được Theo tác giả Phạm Đức Dương, ông đã chia cấu trúc văn hóa thành hai bậc: Cấu trúc bề mặt và cấu trúc chiều sâu Cấu trúc bề mặt bao gồm tất cả các hệ thống ký hiệu văn hoá nằm trên biểu tầng (tức là biểu hiện văn hóa) được thay đổi liên tục, ta gọi đó là những biến số, là những yếu tố động của văn hóa Cấu trúc chiều sâu là bộ phận chìm khó nhìn thấy nằm dưới cơ tầng (tức là nằm trong tâm thức của con người), là yếu tố tĩnh của văn hóa, đó chính

là những hệ giá trị văn hóa [9, tr.83]

Mối quan hệ tương tác giữa cấu trúc bề mặt và cấu trúc chiều sâu như sau: cấu trúc chiều sâu đóng vai trò định hướng và điều chỉnh những biến đổi trên bề mặt Do đó những biến đổi trên bề mặt dù thiên biến vạn hóa như thế nào chăng nữa thì cũng không phải là sự biến đổi hỗn loạn mà có tổ chức, phải tuân theo một trật tự nhất định vừa trực tiếp vừa gián tiếp Các yếu tố trên bề mặt, trong quá trình biến đổi, dần dần thẩm thấu và tác động đến cấu trúc chiều sâu, làm cho cấu trúc này cũng phải biến đổi theo dù rất chậm rãi Do đó giá trị có tính tương đối ổn định, tinh thần được giữ nhưng biểu hiện có sự thay đổi Ví dụ như cùng một giá trị “mẹ thương con”, xưa thì quan niệm “yêu cho roi cho vọt”, ngày nay là bằng sự yêu thương…

Giá trị có tính giới hạn Trong xã hội thống trị, giá trị tuân theo những quy định của giai cấp thống trị Ví dụ như trước đây trong xã hội quân chủ phong kiến, Nho giáo chiếm một vị trí quan trọng trong đời sống xã hội Do vậy người phụ nữ Việt Nam phải tuân theo những giá trị của Nho giáo mà cụ thể như giá trị: phu xướng phụ tòng, nhưng giá trị đó đã được thay bằng giá trị mới - giá trị công bằng cho người phụ nữ Việt Nam trong xã hội ngày nay

Chúng ta cần phân biệt giá trị và chuẩn mực xã hội Giá trị và chuẩn mực

xã hội không hoàn toàn đồng nhất, vì giá trị là những gì do con người sáng tạo

ra đều được đánh giá bằng thước đo của chuẩn mực theo bậc thang của chúng Giá trị mang tính khái quát là những đối tượng lợi ích của con người và định hướng cho sự ứng xử cộng đồng hay cá nhân, là những biểu thị các quan hệ thực tiễn của con người đối với các sự vật và các hiện tượng xung quanh [32, tr.91] Còn chuẩn mực là cái được chọn làm căn cứ để đối chiếu, đánh giá, để hướng

Trang 25

theo đó mà làm cho đúng và đồng thời là vật được chọn làm mẫu để đo lường [21, tr.28] Vì thế các chuẩn mực đánh giá đạo đức (sự ứng xử xã hội) có tính phổ biến trong tất cả các thành viên trong xã hội, mang tính cộng đồng xã hội Các chuẩn mực đánh giá thẩm mỹ (sự sáng tạo nghệ thuật) ít nhiều mang tính cá thể, phụ thuộc rất nhiều vào cá tính, sở thích, tính cách của người sáng tạo và cả người hưởng thụ Suy cho cùng thì các giá trị nghệ thuật đều là những sáng tạo

cá nhân, nhất là những cá nhân tài ba, do đó chúng không lặp lại, mọi sự lặp lại trong nghệ thuật đều ảnh hưởng đến giá trị sáng tạo

Thông thường các giá trị được đánh giá là hợp chuẩn hay lệch chuẩn: Hợp chuẩn trong trường hợp các sản phẩm văn hóa hay ứng xử phù hợp với những tiêu chuẩn của xã hội, của cộng đồng; Lệch chuẩn khi những hoạt động không theo khuôn phép được định sẵn và có hai tình huống: vì chuẩn cũ đã quá lỗi thời trở thành lực cản của sự cách tân, do đó người sáng tạo phải phá khung để phù hợp với yêu cầu của cuộc sống đã thay đổi; hoặc là những hoạt động sai trái tiêu cực vi phạm những quy ước xã hội

Các giá trị được chắt lọc và được kết tinh thành truyền thống của mỗi dân tộc, được cộng đồng lựa chọn tạo nên bản sắc văn hoá của dân tộc đó và được truyền từ đời này sang đời khác Truyền thống như sợi chỉ đỏ xuyên suốt lịch sử cộng đồng, được gạn đục khơi trong để chỉ giữ lấy những gì là tinh hoa, là vốn quý của dân tộc Do đó, giá trị thực chất là phản ánh quan hệ cơ bản của con người Nó là kim chỉ nam hướng dẫn các thành viên trong cộng đồng phân biệt đúng - sai, thiện - ác, đẹp - xấu để hành động nhằm đưa con người tới sự hoàn thiện thẩm mỹ Các hệ giá trị là nhãn quan giúp con người lựa chọn những gì phù hợp với bản sắc văn hóa cộng đồng, tạo nên những tập quán, những thói quen, những nếp sống đẹp gắn chặt cố kết cộng đồng

1.2.2.2 Giá trị truyền thống

Giá trị truyền thống chính là sự tinh túy của một nền văn hóa, là bản sắc văn hóa, là những hằng số văn hóa thường chỉ tồn tại trong một cấu trúc văn hóa nhất định, một mô thức văn hóa nhất định

Trang 26

Theo tác giả Trần Quốc Vượng và các cộng sự, những hằng số văn hóa Việt Nam là sự không chối từ, là sự cởi mở trong việc tiếp thu tinh hoa văn hóa nước ngoài, vừa là sự hòa điệu với thiên nhiên, vừa là sự đấu tranh với thiên nhiên, là ba nhân tố cơ bản nông dân, nông nghiệp lúa nước của nền văn minh thôn dã Việt Nam, là sự thống nhất và đa dạng của văn hóa 54 tộc người trên đất

nước Việt Nam

Khi phân tích hệ giá trị trong văn hóa truyền thống của người Việt, tác giả Chu Trọng Đệ nhận xét: [13, 72]

- Trong mối quan hệ với tự nhiên, người Việt phụ thuộc vào tự nhiên, nương nhờ tự nhiên hơn là chiếm lĩnh tự nhiên, làm chủ tự nhiên

- Trong mối quan hệ giữa người với người, người Việt tôn trọng cộng đồng hơn cá nhân, ý thức trách nhiệm đối với cộng đồng, coi trọng quá khứ, cội nguồn, tình cảm gắn bó với quê hương, truyền thống yêu nước và tinh thần xả thân vì Tổ quốc đều có liên quan đến ý thức cộng đồng

- Người Việt ưa sự ổn định hơn là sự thay đổi, ưa sự dung hòa hơn là đối kháng, điều này tạo thành truyền thống hiếu hòa, trọng tình cảm hơn lý trí

- Trong tư duy, người Việt thiên về sự nhận thức cái toàn thể hơn là cái bộ phận, cái chung hơn là cái riêng, trong thao tác tư duy thiên về tổng hợp hơn là phân tích

Theo tác giả Nguyễn Xuân Kính, tất cả những cái gọi là hằng số văn hóa, đặc trưng bản sắc văn hóa, hệ giá trị văn hóa mà các học giả văn hóa nêu trên chính là giá trị truyền thống văn hóa của người Việt [29, tr.3-5]

Trong đời sống xã hội, kể cả xã hội đương đại của thời chúng ta cũng như những xã hội đã từng tồn tại trong lịch sử, tại sao hầu hết, nếu không muốn nói

là tất cả những vấn đề thời sự nhất, cấp bách nhất được đặt ra đối với con người, rốt cuộc, lại là những vấn đề thời sự và cấp bách về mặt giá trị?

Ngày nay, khi những tiến bộ về khoa học và công nghệ đã đạt tới mức vượt ra ngoài sự tưởng tượng của không ít người thì cùng với điều đó, sự biến động của xã hội cũng mạnh mẽ và nhanh chóng đến mức không có cơ may nào

mà lại không đi kèm với những nguy cơ Bên cạnh những giá trị về văn minh to

Trang 27

lớn mà con người được hưởng, những hiểm hoạ cũng rình rập một cách thường trực trong tất cả các xã hội, nhất là các xã hội nghèo đói kém phát triển

Như nhiều nhà tư tưởng có uy tín đã khẳng định: lối thoát cho những lo lắng của con người và giá trị của sự phát triển hoá ra nằm ở truyền thống, hay nói một cách thoả đáng hơn, nằm ở văn hoá, mà trong đó truyền thống là một nhân tố đáng kể

Kinh nghiệm các xã hội đã đạt tới trình độ phát triển cao cho thấy rằng: bằng cách không lãng quên truyền thống, khai thác các giá trị nhân bản của truyền thống, làm cho các giá trị hiện đại ăn nhập hoặc không mâu thuẫn với các giá trị truyền thống, đó là con đường tự nhiên và tất yếu mà các xã hội, dù muốn hay không, dù nhận thức được hay chưa nhận thức được, cũng phải thực hiện để đạt tới phát triển bền vững

Nói theo cách của F.Mayơ thì bất cứ một kế hoạch phát triển nào cũng ít nhiều là một cuộc phiêu lưu Nếu muốn cuộc phiêu lưu ấy không trở nên vô vọng, hay khả dĩ có thể tin cậy được, thì truyền thống nhân bản của mỗi cộng đồng phải trở thành linh hồn và chỗ dựa của nó

Như trên đã nói, do hầu hết những vấn đề thời sự và cấp bách của hiện thực được đặt ra đối với con người đều là thời sự và cấp bách về mặt giá trị, nên con người quan tâm đến bản thân sự kiện, trên thực tế không sâu sắc bằng sự quan tâm đến giá trị của các sự kiện, mà nhất là những giá trị có ý nghĩa trực tiếp đối với chủ thể - người quan sát và đánh giá

Đương nhiên, chúng ta biết rằng mỗi bảng giá trị đều có tính độc lập tương đối của nó trong tương quan với các bảng giá trị khác Nhưng sự khác biệt giữa các bảng giá trị không phải lúc nào cũng nói lên sự khác nhau giữa các đối tượng đánh giá, mà trước hết lại thường nói lên sự khác nhau về mặt văn hoá giữa các chủ thể đánh giá Chính vì thế mà đã xuất hiện cái gọi là xung giá trị hoặc hợp giá trị Đây là điều rất đáng phải suy nghĩ một cách sâu sắc hơn khi chúng ta tiếp xúc với hiện tượng những giá trị chung đang xuất hiện một cách khá phổ biến ở cuối thế kỷ XX

Trang 28

Do vậy cần lưu ý rằng, khi người ta nói giữa các bảng giá trị khác nhau, không có giá trị nào cao hơn hay thấp hơn, mà đó là sự bình đẳng giữa các bảng giá trị, thì cũng chỉ nên hiểu đây là một cách nói rất tương đối Nếu cách nói này

là đúng hoặc có phần đúng thì cũng chỉ đúng trong xem xét các giá trị cộng đồng Có lý do khách quan để người ta buộc phải tôn trọng các giá trị dị biệt và độc đáo của các nền văn hoá khác nhau

1.2.3 Giáo dục

Giáo dục được hiểu là hoạt động của một nhóm người được trao truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác thông qua giảng dạy, đào tạo, hay nghiên cứu Giáo dục thường diễn ra dưới sự hướng dẫn của người khác, nhưng cũng có thể thông

suy nghĩ, cảm nhận, hay hành động đều có thể được xem là có tính giáo dục Giáo dục thường được chia thành các giai đoạn như giáo dục tuổi ấu thơ, giáo dục tiểu học, giáo dục trung học, và giáo dục đại học

Về mặt từ nguyên, “ education” trong Tiếng Anh có gốc La-tinh ēducātiō ("nuôi dưỡng, nuôi dạy") gồm ēdūcō ("tôi giáo dục, tôi đào tạo"), liên quan đến

từ đồng âm ēdūcō ("tôi tiến tới, tôi lấy ra; tôi đứng dậy").[2] Trong tiếng Việt,

"giáo" có nghĩa là dạy, "dục" có nghĩa là nuôi (không dùng một mình); "giáo

dục" là "dạy dỗ gây nuôi đủ cả trí-dục, đức-dục, thể-dục."[3]

Quyền giáo dục được nhiều Chính phủ thừa nhận Ở cấp độ toàn cầu, Điều 13 của Công ước Quốc tế về các Quyền Kinh tế, Xã hội và Văn hóa (1966)

hầu hết các nước giáo dục có tính chất bắt buộc cho đến một độ tuổi nhất định, việc đến trường thường không bắt buộc; một số ít các bậc cha mẹ chọn cho con

Giáo dục (theo nghĩa rộng)

Giáo dục: (nghĩa rộng) là quá trình tổ chức một cách có mục đích, có kế

hoạch, thông qua các hoạt động và các quan hệ giữa người giáo dục và người được giáo dục, nhằm phát triển sức mạnh vật chất và tinh thần của thế hệ đang

Trang 29

lớn lên, trên cơ sở giúp họ chiếm lĩnh những kinh nghiệm lịch sử xã hội của loài người

Để hiểu rõ hơn khái niệm Giáo dục (theo nghĩa rộng) cần làm sáng tỏ khái niệm nhân cách và khái niệm xã hội hoá con người

Hình thành nhân cách: Đó là quá trình phát triển con người về mặt sinh lý, tâm lý và mặt xã hội, mang tính chất tăng trưởng về lượng và biến đổi về chất Quá trình này diễn ra do ảnh hưởng của các nhân tố bên trong (bẩm sinh, di truyền, tính tích cực của chủ thể…), và các nhân tố bên ngoài (ảnh huởng của hoàn cảnh tự nhiên và hoàn cảnh xã hội, tác động giáo dục), do ảnh hưởng của các tác động tự phát, ngẫu nhiên (tác động bên trong, bên ngoài chưa được kiểm soát, điều khiển) và các tác động có mục đích, có tổ chức (kiểm soát được, điều khiển được) Quá trình này làm biến đổi đứa trẻ với những tư chất vốn có của con người thành một nhân cách

Giáo dục (theo nghĩa hẹp)

Đó là một bộ phận của quá trình sư phạm, là quá trình hình thành những

cơ sở khoa học của thế giới quan, niềm tin, lý tưởng, động cơ, tình cảm, thái độ, những tính cách, những hành vi, thói quen cư xử đúng đắn trong xã hội, kể cả việc phát triển và nâng cao thẻ lực

Chức năng trội của quá trình giáo dục (theo nghĩa hẹp) chỉ được thực hiện

trên cơ sở vừa tác động đến ý thức, vừa tác động đến tình cảm và hành vi

1.2.4 Cộng đồng dân cư

Theo quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin, Cộng đồng là mối quan hệ qua lại giữa các cá nhân, được quyết định bởi sự cộng đồng hóa lợi ích giống nhau của các thành viên về các điều kiện tồn tại và hoạt động của những người hợp thành cộng đồng đó, bao gồm các hoạt động sản xuất vật chất và các hoạt động khác của họ Sự gần gũi các cá nhân về tư tưởng, tín ngưỡng, hệ giá trị chuẩn mực cũng như các quan niệm chủ quan của họ về các mục tiêu và phương tiện hoạt động

Trong các cuốn từ điển tiếng Việt, không có khái niệm cộng đồng dân cư

mà chỉ có khái niệm về cộng đồng hay cộng đồng xã hội Theo Từ điển tiếng

Trang 30

Việt, cộng đồng được hiểu là "chung nhau và công khai” Theo Từ điển Bách Khoa Việt Nam, cộng đồng xã hội là một tập đoàn người, có những dấu hiệu, những đặc điểm xã hội chung về thành phần giai cấp, nghề nghiệp, địa điểm sinh

tụ và cư trú Cũng có những cộng đồng xã hội bao gồm cả một dòng họ, một sắc tộc, một dân tộc Như vậy, cộng đồng xã hội bao gồm một loạt yếu tố xã hội chung mang tính phổ quát Đó là những mặt cộng đồng về kinh tế, địa lý, ngôn ngữ, văn hóa, tín ngưỡng, tâm lý, lối sống Những yếu tố này trong tính tổng thể của nó tạo nên tính ổn định và bền vững của một cộng đồng xã hội Khẳng định tính thống nhất của một cộng đồng xã hội trên một quy mô lớn, cũng đồng thời phải thừa nhận tính đa dạng và nhiều màu sắc của các cộng đồng xã hội trên những quy mô nhỏ hơn [27]

* Trình độ phát triển của cộng đồng dân cư quy định hình thức tổ chức,

quy mô và kết cấu của gia đình:

Quan điểm duy vật lịch sử đã chỉ ra rằng, gia đình là những hình thức phản ánh đặc thù của trình độ phát triển kinh tế Trong tiến trình lịch sử nhân loại, các phương thức sản xuất lần lượt thay thế nhau, dẫn đến sự biến đổi về hình thức tổ chức, quy mô và kết cấu gia đình Từ gia đình tập thể – với hình thức quần hôn, huyết thống; gia đình cặp đôi với hình thức hôn nhân đối ngẫu; đến gia đình cá thể với hình thức hôn nhân một vợ một chồng Từ gia đình một

vợ một chồng bất bình đẳng sang gia đình một vợ một chồng, vợ chồng bình đẳng Tất cả những bước tiến trong gia đình đều phụ thuộc vào những bước tiến trong sản xuất, trong trình độ phát triển kinh tế, chính trị, văn hóa, cộng đồng dân cư của mỗi thời đại lịch sử

Đặc điểm, đạo đức, lối sống trong gia đình cũng bị chi phối bởi những quan

hệ cộng đồng dân cư Vì vây, trong mỗi chế độ cộng đồng dân cư khác nhau, có quan điểm khác nhau về tiêu chuẩn đạo đức, lối sống …

* Tính độc lập tương đối của gia đình:

Trang 31

Mặc dù, gia đình và cộng đồng dân cư có mối quan hệ biện chứng với nhau, nhưng gia đình vẫn có tính độc lập tương đối của nó Bởi vì gia đình và quan hệ gia đình còn bị chi phối bởi các yếu tố khác như tôn giáo, truyền thống, pháp luật … vì vậy, mặc dù cộng đồng dân cư có nhưng thay đổi nhưng một số

gd vẫn lưu giữ những truyền thống của gia đình

Trong công cuộc đổi mới, con người vừa là mục tiêu vừa là động lực của

sự phát triển, gia đình là điểm xuất phát như Nghị quyết Trung ương 5 của Đảng đã chỉ rõ: cần “giữ gìn và phát huy những đạo lý tốt đẹp của gia đình Việt Nam Nêu cao vai trò gương mẫu của các bậc cha mẹ, coi trọng xây dựng gia đình văn hóa” Trong đó, mục tiêu xây dựng gia đình văn hóa phải gắn với một trong những tiêu chí cơ bản là thực hiện nghiêm chỉnh chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước

1.2.5 Thiếu niên

Tuổi thiếu niên (Học sinh Trung học cơ sở (THCS) Là một giai đoạn phát triển của đời người, giai đoạn giữa tuổi nhi đồng (học sinh Tiểu học) và tuổi thanh niên

Tuy quan niệm về tuổi thiếu niên, tuổi vị thành niên, và tuổi học sinh THCS không đồng nhất với nhau, nhưng nhìn ở góc độ giáo dục cũng không có

sự khác biệt lớn

- Vị thành niên là một khái niệm chưa được thống nhất Theo Tổ chức Y

tế Thế giới (WHO) lứa tuổi 10 - 19 tuổi là độ tuổi vị thành niên Thanh niên trẻ

là lứa tuổi 19 - 24 tuổi Chương trình Sức khỏe sinh sản/Sức khỏe tình dục vị thành niên-thanh niên của khối Liên minh châu Âu (EU) và Quỹ Dân số Liên Hiệp Quốc (UNFPA) lấy độ tuổi 15 - 24 tuổi

Ở Việt Nam vị thành niên là lứa tuổi từ 10 đến 18 tuổi Thanh niên là từ

16 - 24 tuổi Trẻ em được luật pháp bảo vệ chăm sóc giáo dục là dưới 16 tuổi

Về mặt luật pháp vị thành niên là dưới 18 tuổi

Hội KHHGĐVN xác định vị thành niên - thanh niên là 10 - 24 tuổi Vị thành niên:10 - 19 tuổi, chia làm 2 giai đoạn:

Trang 32

giai đoạn đầu từ 10 - 14 tuổi

giai đoạn sau từ 15 - 19 tuổi

Thanh niên:19 - 24 tuổi

Thanh thiếu niên:10 - 24 tuổi

- Lứa tuổi HSTHCS có vị trí đặc biệt trong quá trình phát triển của trẻ em

Vị trí đặc biệt này được phản ánh bằng những tên gọi như:”thời kỳ quá độ” “thời

kỳ chuyển tiếp”,”thời kỳ trung gian”,”lứa tuổi bắc cầu” từ trẻ sang người lớn, hoặc tuổi khó bảo,”tuổi khủng hoảng”…những tên gọi này nói lên tính phức tạp

và tầm quan trọng của lứa tuổi THCS trong quá trình phát triển của trẻ em

* Ý nghĩa và tầm quan trọng của lứa tuổi học sinh THCS được thể hiện ở nội dung cơ bản của sự khác biệt đặc thù so với các lứa tuổi khác trong sự phát triển

về mọi mặt: thể chất, trí tuệ, đạo đức xã hội Ở tất cả các mặt này đều diễn ra sự phát triển mạnh mẽ nhưng thiếu cân đối Điều cơ bản là, những cấu tạo mới về chất được hình thành, những yếu tố mới của sự trưởng thành được xuất hiện do kết quả của sự biến đổi cơ thể, của ý thức, của các kiểu quan hệ với người lớn, với bạn bè, của hoạt động học tập , hoạt động xã hội…

Lứa tuổi thiếu niên cũng là lứa tuổi học sinh THCS, cấp học phổ cập, nên giai đoạn phát triển này của đời người được gọi chung là lứa tuổi học sinh THCS

Khái niệm tuổi thiếu niên hay tuổi học sinh THCS không thể diễn đạt bằng định nghĩa ngắn gọn, mà chỉ nên xem xét, tiếp cận nó qua nội dung được trình bày ở

những mục trên đây

1.3 Các giá trị cơ bản của gia đình truyền thống

1.3.1 Cơ sở hình thành những giá trị của gia đình truyền thống

Văn hóa gắn bó với một cộng đồng người và là sản phẩm của một cộng đồng người Nhưng các cộng đồng người không cô lập về văn hóa với các cộng đồng người khác, mà luôn diễn ra quá trình trao đổi văn hóa Cho nên văn hóa được hình thành và phát triển dựa trên hai yếu tố: đó là yếu tố bản địa và quá trình tiếp xúc văn hóa Văn hóa gia đình Việt Nam truyền thống được hình thành trên cơ sở kết hợp giữa nền văn hóa bản địa nảy sinh từ xã hội sản xuất nông

Trang 33

nghiệp lúa nước với hệ thống tư tưởng Nho giáo Trung Quốc với triết lý đạo Phật về gia đình Xã hội càng phát triển, sự tiếp xúc văn hóa càng tăng lên Gia đình Việt Nam không chỉ tiếp xúc với mô hình gia đình Nho giáo Trung Quốc

mà sau này còn tiếp xúc với văn hóa Pháp, văn hóa xã hội chủ nghĩa, văn hóa

Mỹ và các nước phương Tây

Sự tiếp xúc văn hóa dẫn đến việc học hỏi lẫn nhau giữa các nền văn hóa Hai điều kiện để các nền văn hóa thâm nhập lẫn nhau đó là có một quá trình tiếp xúc lâu dài và có sự tự nguyện của nền văn hóa bản địa để biến cái ngoại sinh thành cái nội sinh Đó là quá trình thích ứng và biến đổi hay còn gọi là quá trình tiếp biến văn hóa Đây là qui luật của bất kỳ nền văn hóa nào để tồn tại và phát triển Và đó cũng là tính tương đối của văn hóa Nhờ co tính tương đối văn hóa

mà con người có thể hiểu được nền văn hóa khác và có thể tiếp thu được những tinh hoa của nền văn hóa khác làm phong phú cho nền văn hóa của chính mình Ngày nay một nền văn hóa có thể tồn tại song hành cả những giá trị truyền thống

và những giá trị hiện đại, vừa giữ gìn, duy trì kế thừa truyền thống, vừa biến đổi

để phát triển văn hóa Đó là tính liên tục và sự biến đổi của văn hóa

Những nét đẹp văn hóa của gia đình truyền thống Việt Nam sẽ còn lưu giữ và lưu giữ được bao nhiêu? Giá trị đó có ảnh hưởng như thế nào trong xu thế phát triển mới của xã hội, đặc biệt trước những biến đổi rất lớn của cơ chế kinh

tế thời hội nhập? đây là một trong những đề tài lớn đang được xã hội hết sức quan tâm

Xã hội chuyển đổi bao giờ cũng đặt ra sự chuyển đổi chung của những giá trị, chuẩn mực Các giá trị, chuẩn mực là đặc trưng của văn hóa Sự biến đổi này nằm ở hai dạng thức Đó là duy trì hoặc cải tạo, thay thế những giá trị cũ, lạc hậu, không thích hợp với xã hội mới và tạo ra giá trị mới

Việc duy trì các giá trị cũ là điều tự nhiên của văn hóa, chứ không phải cố gắng để cho nó tồn tại Văn hóa là một sự tiếp nối Ngày xưa người ta sống như thế nào thì bây giờ người ta vẫn tiếp tục sống như thế và chỉ thay đổi những gì không thích hợp Sự tiếp nối này giúp cho văn hóa không bị đứt đoạn, bảo đảm

Trang 34

sự ổn định của xã hội Bởi vì những giá trị, chuẩn mực được tạo ra từ rất lâu đời, nếu đột ngột bỏ đi thì tạo ra cú sốc Mặt khác, văn hóa truyền thống có nhiều mặt tích cực cần được phát huy trong xã hội hiện đại Ví dụ chuyện tình nghĩa

vợ chồng là một giá trị đạo đức rất cao đẹp của người xưa Người ta lấy nhau trước hết vì cái tình nhưng sống với nhau rồi thì sinh ra cái nghĩa CÓ cái nghĩa thì vợ chồng mới sống với nhau được, mới cảm thông và chia sẻ với nhau mọi chuyện, vượt qua khó khăn và cả những cám dỗ nữa Câu thành ngữ “tham vàng

bỏ ngãi” là người xưa muốn lên án những người chạy theo lợi ích vật chất mà quên mất tình nghĩa vợ chồng

1.3.2 Các giá trị cơ bản của gia đình truyền thống

Giá trị đạo đức của gia đình: Ở các gia đình truyền thống bất kể thành

phần các dân tộc, tầng lớp trong xã hội đều coi trọng đạo đức Đạo đức là cốt lõi của cuộc sống gia đình Đạo đức được thấm nhuần sâu rộng trong mỗi thành viên gia đình nhất là các bậc ông bà, cha mẹ đến con cái trưởng thành, tạo nên nếp sống có tôn ti trật tự “kính trên nhường dưới”, coi trọng tình nghĩa, hiếu khách tạo cho mỗi gia đình các dân tộc nói chung một cuộc sống tình cảm, ấm

êm Nó được biểu hiện ở chỗ tình nghĩa vợ chồng thủy chung, thương yêu gắn

bó suốt đời; sự yêu thương và đức hy sinh cao cả của cha mẹ với con cái; sự hiếu thảo, tinh thần trách nhiệm phông dưỡng ông bà, cha mẹ; sự gắn bó, đoàn kết giúp đỡ lẫn nhau giữa các anh chị em ruột thịt trong nhà, làng xã, họ mạc

* Giá trị giáo dục của gia đình: Đây là giá trị cơ bản góp phần nuôi

dưỡng, giáo dục nhân cách, tạo dựng giá trị văn hóa cho mỗi con người từ nhỏ (Dạy con từ thuở còn thơ) Thông qua các phương thức giáo dục tổng hợp với nhiều nội dung, phương pháp khác nhau (giáo dục trực tiếp thông qua các hoạt động cụ thể như ăn uống, sinh hoạt, lao động và giáo dục gián tiếp thông qua các lời khuyên răn, dạy bảo; bài hát, ca dao, đồng dao, tục ngữ, trò chơi, hành vi người lớn,…) là giáo dục con cái làm người sẽ tạo lập những tiền đề cơ bản trong việc hình thành đạo đức, tình thương yêu, trách nhiệm, kỹ năng sống và nghị lực của mỗi con người Vì vậy, Bác Hồ đã cho rằng: trong giáo dục, nếu

Trang 35

thiếu sự giáo dục gia đình hoặc giáo dục gia đình không phù hợp sẽ hạn chế nhiều đến kết quả giáo dục

* Giá trị tâm lý, tình cảm gia đình: Trong chu kỳ đời sống mỗi con người, gia

đình bao giờ cũng là tổ ấm của mọi thành viên Đây là nơi mỗi con người sinh

ra, lớn lên, trưởng thành, lên lão và từ giã cõi đời hoặc tạo lập một gia đình mới cho các thế hệ con cháu kế tiếp theo chu kỳ đời người Dù ở môi trường cuộc sống thuộc thành phần xã hội nào, không gian cư trú nào thì ở mỗi gia đình trong đó mọi thành viên từ già đến trẻ, nam đến nữ, khỏe mạnh hay ốm đau đều nhận được sự quan tâm, chăm sóc, chở che, nương tựa, giúp đỡ, chỉ bảo, chia sẻ

từ khi lọt lòng đến khi nhắm mắt xuôi tay trở về cát bụi sống cùng tiên tổ Gia đình là nơi mỗi thành viên hoàn toàn yên tâm nghỉ ngơi, dưỡng hồi sức khỏe, ổn định tư tưởng, tinh thần

* Giá trị ý thức cộng đồng của gia đình: Gia đình không chỉ là tế bào mà còn là

một cộng đồng, một hình ảnh thu nhỏ của xã hội Do đó, từ sinh hoạt đời sống gia đình đã tạo dựng ý thức cộng đồng qua mối quan hệ tình cảm của mỗi thành viên Từ mối quan hệ tình cảm gia đình và ý thức cộng đồng làm cho các thành viên từng lứa tuổi, giới tính hòa nhập vào đời sống sinh hoạt cộng đồng làng xã

và xã hội (Làng - Nước) tạo nên tình cảm và ý thức cộng đồng được thể hiện bằng sự quan tâm, đùm bọc giúp đỡ lẫn nhau trong lúc khó khăn hoạn nạn và thực hiện trách nhiệm, nghĩa vụ của mỗi người đối với mọi người, cộng đồng,…

1.4 Mối quan hệ giữa gia đình và cộng đồng dân cư

* Gia đình là tế bào của xã hội (cộng đồng dân cư)

Gia đình có vai trò rất quan trọng đối với sự phát triển của cộng đồng dân

cư, là nhân tố tồn tại và phát triển của cộng đồng dân cư, là nhân tố cho sự tồn tại và phát triển của cộng đồng dân cư nơi gia đình đó sinh sống, học tập và làm việc Gia đình như một tế bào tự nhiên, là đơn vị nhỏ nhất để tạo nên cộng đồng dân cư Không có gia đình để tái tạo ra con người thì cộng đồng dân cư không

Trang 36

tồn tại và phát triển được Chính vì vật, muốn cộng đồng dân cư tốt thì phải xây dựng gia đình tốt

Tuy nhiên mức độ tác động của gia đình đối với cộng đồng dân cư còn phụ thuộc vào bản chất của từng chế độ cộng đồng dân cư Trong các chế độ cộng đồng dân cư dựa trên chế độ tư hữu về tư liệu sx, sự bất bình đẳng trong quan hệ gia đình, quan hệ cộng đồng dân cư đã hạn chế rất lớn đến sự tác động của gia đình đối với cộng đồng dân cư

Gia đình là cầu nối giữa cá nhân và cộng đồng dân cư

Mỗi cá nhân chỉ có thể sinh ra trong gia đình Không thể có con người sinh ra từ bên ngoài gia đình Gia đình là môi trường đầu tiên có ảnh hưởng rất quan trọng đến sự hình thành và phát triển tính cách của mỗi cá nhân Và cũng chính trong gia đình, mỗi cá nhân sẽ học được cách cư xử với người xung quanh

và cộng đồng dân cư

Gia đình là tổ ấm mang lại các giá trị hạnh phúc

Gia đình là tổ ấm, mang lại các giá trị hạnh phúc, sự hài hòa trong đời sống của mỗi thành viên, mỗi công dân của cộng đồng dân cư Chỉ trong gia đình, mới thể hiện mối quan hệ tình cảm thiêng liêng giữa vợ và chồng, cha mẹ

và con cái

Gia đình là nơi nuôi dưỡng, chăm sóc những công dân tốt cho cộng đồng dân cư Sự hạnh phúc gia đình là tiền đề để hình thành nên nhân cách tốt cho những công dân của cộng đồng dân cư Vì vậy muốn xây dựng cộng đồng dân cư thì phải chú trọng xây dựng gia đình Hồ chủ tịch nói: “Gia đình tốt thì cộng đồng dân cư tốt, nhiều gia đình tốt cộng lại thì làm cho cộng đồng dân cư tốt hơn”

Trang 37

Xây dựng gia đình là một trách nhiệm, một bộ phận cấu thành trong chỉnh thể các mục tiêu phấn đấu của cộng đồng dân cư, vì sự ổn định và phát triển của cộng đồng dân cư

Thế nhưng, các cá nhân không chỉ sống trong quan hệ gia đình mà còn có những quan hệ cộng đồng dân cư Mỗi cá nhân không chỉ là thành viên của gia đình mà còn là thành viên của cộng đồng dân cư Không thể có con người bên ngoài cộng đồng dân cư Gia đình đóng vai trò quan trọng để đáp ứng nhu cầu

về quan hệ cộng đồng dân cư của mỗ cá nhân

Ngược lại, bất cứ cộng đồng dân cư nào cũng thông qua gia đình để tác động đến mỗi cá nhân Mặt khác, nhiều hiện tượng của cộng đồng dân cư cũng thông qua gia đình mà có ảnh hưởng tích cực hoặc tiêu cực đến sự phát triển của mỗi cá nhân về tư tưởng, đạo đức, lối sống

1.5 Các yếu tố ảnh hưởng đến giáo dục giá trị gia đình truyền thống cho thiếu niên

1.5.1 Yếu tố khách quan

1.5.1.1 Nhà trường, thầy cô

Nhà trường là một tổ chức xã hội đăc thù với cấu trúc tổ chức chặt chẽ, có nhiệm vụ chuyên biệt là giáo dục, đào tạo thế hệ trẻ trở thành những công dân đáp ứng được những yêu cầu của xã hội Vị trí, uy tín và việc duy trì nề nếp, kỉ cương, tổ chức thực hiện các hoạt đông giáo dục, bầu không khí sư phạm của nhà trường có ảnh hưởng không nhỏ dến sự hình thành và phát triển nhân cách của học sinh

Trong nhà trường, đội ngũ giáo viên đóng vai trò hết sức quan trọng Họ

là những người trực tiếp giảng dạy, giáo dục học sinh Thầy cô giáo, đặc biệt là thầy cô chủ nhiệm có thể nắm bắt được diễn biến tâm lí phức tạp cũng như kịp thời tư vấn, uốn nắn những hành vi đạo đức của học sinh tuổi mới lớn Tấm gương về nhân cách, đạo đức và năng lực của thầy cô có ảnh hưởng trực tiếp

và lâu dài đến ý thức và sự rèn luyện ý thức đạo đức của học sinh THCS

Trang 38

1.5.1.2 Bạn bè

Để đạt được sự độc lập, được thích nghi với cái mới, được chia sẻ và được khẳng định mình cũng như đáp ứng những nhu cầu tình cảm và sự thay đổi lớn của sinh lí, TN - HS thường thích giao lưu với bạn bè và có nhu cầu tình bạn khác giới cao

Bạn bè cùng lứa tuổi là những người có nhiều điểm chung về môi trường, điều kiện sống, quan niêm, nhận thức, tình cảm và sở thích Họ có thể chia sẻ, giúp đỡ nhau trong mọi mặt của đời sống

Với học sinh THCS , quan hệ bạn bè là một trong những quan hệ chủ đạo, rất phong phú và phức tạp Những ảnh hưởng của mối quan hệ bạn bè này đến đạo đức và sự phát triển nhân cách của các em có tính chất hai mặt rất rõ rệt Có bạn, chọn được bạn tốt là điều kiện thuận lợi để các em học tập, rèn luyện, phát triển nhân cách cũng như đứng vững trước những tác động không tích cực của nhóm bạn xấu, những cám dỗ của tệ nạn xã hội

1.5.1.3 Môi trường sống

Lứa tuổi thiếu niên, đánh đấu những bước phát triển lớn về mặt xã hội của TN- HS Các em có xu hướng thoát khỏi phạm vi gia đình, thích nghi với những cái mới của cuộc sống bên ngoài gia đình và nhà trường, khám phá và phát triển

kĩ năng mới để tự khẳng định mình

Môi trường sống, tình hình kinh tế, văn hoá, xã hội, những quan niệm đạo đức, lối sống của thời đại có ảnh hưởng rất lớn dến nhận thức, tình cảm và hành

vi đạo đức của học sinh trung học phổ thông, kể cả mặt tích cực và tiêu cực của

nó Thậm trí nếu không có định hướng giáo dục, biện pháp ngăn ngừa thì những cái xấu, mặt trái trong đời sống xã hội thường có nguy cơ xâm nhập và gây ảnh hưởng nghiêm trọng, đánh gục sự phát triển nhân cách của các em bởi lúc này

các em rất thích khám phá điều mới lạ, bất ngờ, thích có một “lối sống hiện đại”,

theo mốt, thoả mãn cái tôi của mình… trong khi các kĩ năng sống cơ bản lại

chưa được chuẩn bị

1.5.1.4 Yếu tố văn hóa, chính trị, bối cảnh xã hội

Trang 39

Chỉ thị số 49-CT/TW, ngày 21 - 5 - 2005 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam nhấn mạnh: “trong thời gian tới, nếu chúng ta không quan tâm củng cố, ổn định và xây dựng gia đình, những khó khăn và thách thức nêu trên sẽ tiếp tục làm suy yếu gia đình…” Vì thế, xây dựng gia đình văn hóa mới là một việc làm mang tính chiến lược, cấp bách nhằm giữ gìn, phát huy bản sắc văn hóa dân tộc, góp phần quan trọng vào việc xây dựng đất nước Xây dựng gia đình văn hóa mới trong giai đoạn hiện nay còn có ý nghĩa chiến lược đối với việc xây dựng truyền thống văn hóa gia đình trong tương lai

Trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế, vấn đề mở rộng giao lưu văn hóa - giáo dục với các nước, tiếp thu những yếu tố tiến bộ của các thành tựu giáo dục nhân loại trở thành vấn đề quan trọng để phát triển nền giáo dục nước nhà Hội nhập tạo điều kiện cho sinh viên tiếp thu văn minh của nhân loại, học tập và ứng dông những tiến bộ khoa học và công nghệ trên thế giới, trở nên tự tin hơn với một tầm nhìn xa hơn hướng ra thế giới Song, hội nhập cũng làm nảy sinh nhiều tiêu cực và tệ nạn xã hội Một bộ phận sinh viên đang bị ảnh hưởng bởi lối sống ngoại lai, buông thả, quay lưng với những giá trị văn hoá truyền thống của dân tộc Cuộc sống dư giả về vật chất khiến một bộ phận của giới trẻ chấp nhận lối sống hưởng thụ, ích kỉ, đặt cái riêng trên cái chung, đặt lợi ích cá nhân trước lợi ích tập thể, chối bỏ trách nhiệm với cộng đồng, sống không

có lý tưởng và mơ ước

1.5.2 Yếu tố chủ quan

1.5.2.1 Tâm lý lứa tuổi thiếu niên

Tuổi thiếu niên được xác định trong khoảng từ 11-15 tuổi Đây là giai đoạn có nhiều thay đổi cả về tâm sinh lý và xã hội dẫn đến những biến đổi sâu sắc về mặt tâm lý, nhân cách Giai đoạn tuổi thiếu niên thường được gắn với những cách gọi như "tuổi bất trị", " khủng hoảng tuổi thiếu niên" Việc nắm được những đặc điểm tâm lý của lứa tuổi này là rất cần thiết để các bậc cha mẹ

có cách đối xử tác động tới con phù hợp

Sự phát triển về mặt xã hội:

Địa vị của các em trong gia đình đã thay đổi, được gia đình thừa nhận là

Trang 40

một thành viên tích cực, được giao nhiệm vụ cụ thể, được tham gia bàn bạc một

số công việc của gia đình

Ở nhà trường, hoạt động học tập có nhiều thay đổi tác động mạnh đến đời sống tâm lý của các em

Ngoài xã hội lứa tuổi này được thừa nhận như một thành viên tích cực, tham gia hoạt động công tác xã hội Vì thế mối quan hệ của các em được mở rộng, tầm hiểu biết, kinh nghiệm sống, nhân cách của các em được phát triển phong phú hơn so với các giai đoạn trước

Sự phát triển của các quá trình nhận thức:

- Tri giác: khối lượng tri giác tăng lên, có trình tự, có kế hoạch và hoàn thiện

hơn, có khả năng phân tích và tổng hợp phức tạp khi tri giác sự vật và hiện tượng

- Trí nhớ: trí nhớ dần dần mang tích chất có điều khiển, điều chỉnh và có tổ chức

- Tư duy: đặc điểm nổi bật của hoạt động tư duy là sự thay đổi mối quan hệ giữa

tư duy hình tượng sang tư duy trừu tượng, khái quát mà sự chiếm ưu thế của tư duy trừu tượng là đặc điểm cơ bản về hoạt động tư duy ở lứa tuổi này.Tính phê phán của tư duy cũng được phát triển

Đời sống tình cảm:

Tình cảm của các em sâu sắc, phong phú, đa dạng và phức tạp hơn ở giai đoạn trước Tuy nhiên rất dễ xúc động, mang tính bồng bột, dễ bị kích động, vui buồn chuyển hoá nhanh chóng Trong mối quan hệ với bạn bè xuất hiện tình cảm khác giới, có nguyện vọng được bạn khác giới quan tâm, yêu thích Tình cảm bắt đầu phục tùng ý chí, tình cảm đạo đức phát triển mạnh, tình cảm bạn bè, tình tập thể, tình đồng chí cũng được phát triển Xuất phát từ việc coi trọng tình bạn, muốn giao tiếp với bạn cùng tuổi mà ở các em có nguyện vọng được khẳng định

vị trí của mình trong tập thể Các em có khát vọng mạnh mẽ đó là muốn chiếm

vị trí được tôn trọng trong nhóm bạn bè cùng tuổi Nguyện vọng này thể hiển nhu cầu tự khẳng định và có ý nghĩa quan trọng trong sự phát triển tâm lý, nhân cách của thiếu niên Các em có cảm xúc nặng nề nếu quan hệ với bạn bị tổn

Ngày đăng: 22/06/2017, 12:32

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Toffler A (1991), Làn súng thứ ba, Nxb Thông tin lý luận, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Làn súng thứ ba
Tác giả: Toffler A
Nhà XB: Nxb Thông tin lý luận
Năm: 1991
2. Đào Duy Anh (2002), Việt Nam văn hoá sử cương, Nxb Thành phố Hồ Chí Minh tái bản, Thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Việt Nam văn hoá sử cương
Tác giả: Đào Duy Anh
Nhà XB: Nxb Thành phố Hồ Chí Minh tái bản
Năm: 2002
3. Phan Kế Bính (1990), Việt Nam phong tục, Nxb Thành phố Hồ Chí Minh tái bản, Thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Việt Nam phong tục
Tác giả: Phan Kế Bính
Nhà XB: Nxb Thành phố Hồ Chí Minh tái bản
Năm: 1990
4. Nguyễn Thanh Bình (1993), “Một kiểu bỏn con”, Báo Phụ nữ Việt Nam, ngày 26.9 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một kiểu bỏn con”, "Báo Phụ nữ Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Thanh Bình
Năm: 1993
5. C.Mác và Ăngghen toàn tập (1992), tập 21 bản dịch, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: C.Mác và Ăngghen toàn tập
Tác giả: C.Mác và Ăngghen toàn tập
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 1992
7. Phan Đại Doãn (1992), “Chữ hiếu trong quan hệ gia đình, làng xã người Việt truyền thống”, Tạp chí Dân tộc học,(2) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chữ hiếu trong quan hệ gia đình, làng xã người Việt truyền thống”, Tạp chí "Dân tộc học
Tác giả: Phan Đại Doãn
Năm: 1992
8. Nguyễn Đăng Duy (2001), Một số vấn đề về văn hoá Việt Nam truyền thống và hiện đại, Nxb Lao động, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vấn đề về văn hoá Việt Nam truyền thống và hiện đại
Tác giả: Nguyễn Đăng Duy
Nhà XB: Nxb Lao động
Năm: 2001
9. Ngô Tuấn Dung (2000), “Gia đình của cư dân ở thành phố Hà Nội hiện nay, xét từ góc độ tâm lý xã hội”, Báo Phụ nữ Việt Nam, ngày 14.2 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Gia đình của cư dân ở thành phố Hà Nội hiện nay, xét từ góc độ tâm lý xã hội”, "Báo Phụ nữ Việt Nam
Tác giả: Ngô Tuấn Dung
Năm: 2000
10. Phạm Đức Dương (2003), Văn hoá Việt Nam trong bối cảnh Đông Nam Á, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hoá Việt Nam trong bối cảnh Đông Nam
Tác giả: Phạm Đức Dương
Nhà XB: Nxb Khoa học xã hội
Năm: 2003
11. Quang Đạm (1986), “Thử miêu tả bản sắc dân tộc, bản sắc văn hoá Việt Nam”, Tạp chí Nghiên cứu Văn hoá nghệ thuật, (4) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thử miêu tả bản sắc dân tộc, bản sắc văn hoá Việt Nam”, Tạp chí" Nghiên cứu Văn hoá nghệ thuật
Tác giả: Quang Đạm
Năm: 1986
12. Đảng Cộng sản Việt Nam (1991), Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội: Văn kiện Đại hội đại biểu, Nxb Sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội: Văn kiện Đại hội đại biểu
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Sự thật
Năm: 1991
13. Nguyễn Trọng Đệ chủ biên (1994), Giáo dục gia đình, Hội Tâm lý giáo dục Nghệ An xuất bản, Nghệ An Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo dục gia đình
Tác giả: Nguyễn Trọng Đệ chủ biên
Năm: 1994
14. Trần Độ (1986), “Về bản sắc của văn hoá Việt Nam”, Tạp chí Nghiên cứu Văn hoá nghệ thuật, (4) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về bản sắc của văn hoá Việt Nam"”", Tạp chí "Nghiên cứu Văn hoá nghệ thuậ
Tác giả: Trần Độ
Năm: 1986
15. Phùng Ngọc Đức (2000), “Hôn nhân và gia đình thời hiện đại”, Báo Pháp luật, chuyên đề tháng 3 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hôn nhân và gia đình thời hiện đại"”, Báo Pháp luật
Tác giả: Phùng Ngọc Đức
Năm: 2000
16. Trần Văn Giàu (1980), Giá trị tinh thần truyền thống của dân tộc Việt Nam, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giá trị tinh thần truyền thống của dân tộc Việt Nam
Tác giả: Trần Văn Giàu
Nhà XB: Nxb Khoa học xã hội
Năm: 1980
17. Giắc-cơ Xa-brăng (Jacques Sabran) (1995), Từ điển xã hội học, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển xã hội học
Tác giả: Giắc-cơ Xa-brăng (Jacques Sabran)
Nhà XB: Nxb Khoa học xã hội
Năm: 1995
19. Nguyễn Hồng Hà (2001), Văn hoá truyền thống dân tộc với việc giáo dục thế hệ trẻ, Viện Văn hoá (thuộc Trường Đại học Văn hoá Hà Nội) và Nxb Văn hoá thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hoá truyền thống dân tộc với việc giáo dục thế hệ trẻ
Tác giả: Nguyễn Hồng Hà
Nhà XB: Nxb Văn hoá thông tin
Năm: 2001
20. Hirschman, Ch. & Vũ Mạnh Lợi (1994), “Gia đình và cơ cấu hộ gia đình Việt Nam, vài nột đại cương từ một cuộc khảo sát xã hội dân số gần đây”, Tạp chí Xã hội học,(3) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Gia đình và cơ cấu hộ gia đình Việt Nam, vài nột đại cương từ một cuộc khảo sát xã hội dân số gần đây”, Tạp chí" Xã hội học
Tác giả: Hirschman, Ch. & Vũ Mạnh Lợi
Năm: 1994
21. Hồ Chí Minh (1949), Thư gửi hội nghị cán bộ phụ trách nhi đồng, tháng 11/1949 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thư gửi hội nghị cán bộ phụ trách nhi đồng
Tác giả: Hồ Chí Minh
Năm: 1949
22. Hồ Chí Minh về bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em (1999), Nxb Chính trị quốc gia Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hồ Chí Minh về bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em
Tác giả: Hồ Chí Minh về bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 1999

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2.1. Mức độ cần thiết của việc GDGTGĐTT - Giáo dục giá trị gia đình truyền thống cho thiếu niên trong cộng đồng dân cư phường quang trung, quận hồng bàng, thành phố hải phòng
Bảng 2.1. Mức độ cần thiết của việc GDGTGĐTT (Trang 49)
Bảng 2.2. Mức độ quan trọng của GDGTGĐTT - Giáo dục giá trị gia đình truyền thống cho thiếu niên trong cộng đồng dân cư phường quang trung, quận hồng bàng, thành phố hải phòng
Bảng 2.2. Mức độ quan trọng của GDGTGĐTT (Trang 50)
Bảng 2.3. Khảo sát mức độ nhận thức các nội dung GDGTGĐTT - Giáo dục giá trị gia đình truyền thống cho thiếu niên trong cộng đồng dân cư phường quang trung, quận hồng bàng, thành phố hải phòng
Bảng 2.3. Khảo sát mức độ nhận thức các nội dung GDGTGĐTT (Trang 51)
Bảng 2.4. Khảo sát mức độ tham gia của các lực lượng trong việc  GDGTGĐTT - Giáo dục giá trị gia đình truyền thống cho thiếu niên trong cộng đồng dân cư phường quang trung, quận hồng bàng, thành phố hải phòng
Bảng 2.4. Khảo sát mức độ tham gia của các lực lượng trong việc GDGTGĐTT (Trang 53)
Bảng 2.5. Các phương pháp giáo dục giá trị truyền thống gia đình - Giáo dục giá trị gia đình truyền thống cho thiếu niên trong cộng đồng dân cư phường quang trung, quận hồng bàng, thành phố hải phòng
Bảng 2.5. Các phương pháp giáo dục giá trị truyền thống gia đình (Trang 55)
Bảng 2.7. Nguyên nhân ưu điểm của công tác GDGTGĐTT của các trường học - Giáo dục giá trị gia đình truyền thống cho thiếu niên trong cộng đồng dân cư phường quang trung, quận hồng bàng, thành phố hải phòng
Bảng 2.7. Nguyên nhân ưu điểm của công tác GDGTGĐTT của các trường học (Trang 60)
Sơ đồ 3.1. Mối quan hệ giữa các biện pháp   3.4. Khảo nghiệm tính cần thiết và tính khả thi của các biện pháp Giáo dục  giá trị gia đình truyền thống - Giáo dục giá trị gia đình truyền thống cho thiếu niên trong cộng đồng dân cư phường quang trung, quận hồng bàng, thành phố hải phòng
Sơ đồ 3.1. Mối quan hệ giữa các biện pháp 3.4. Khảo nghiệm tính cần thiết và tính khả thi của các biện pháp Giáo dục giá trị gia đình truyền thống (Trang 77)
Bảng 3.1: Kết quả khảo sát về tính cần thiết của các biện pháp - Giáo dục giá trị gia đình truyền thống cho thiếu niên trong cộng đồng dân cư phường quang trung, quận hồng bàng, thành phố hải phòng
Bảng 3.1 Kết quả khảo sát về tính cần thiết của các biện pháp (Trang 78)
Bảng 3.2: Kết quả khảo sát về tính khả thi của các biện pháp - Giáo dục giá trị gia đình truyền thống cho thiếu niên trong cộng đồng dân cư phường quang trung, quận hồng bàng, thành phố hải phòng
Bảng 3.2 Kết quả khảo sát về tính khả thi của các biện pháp (Trang 80)
Bảng 3.3:  Tổng hợp mức độ cần thiết và khả thi của các biện pháp - Giáo dục giá trị gia đình truyền thống cho thiếu niên trong cộng đồng dân cư phường quang trung, quận hồng bàng, thành phố hải phòng
Bảng 3.3 Tổng hợp mức độ cần thiết và khả thi của các biện pháp (Trang 81)

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm