1. Trang chủ
  2. » Cao đẳng - Đại học

Giáo dục hành vi ứng xử có văn hoá cho cộng đồng dân cư quận Đồ Sơn thành phố Hải Phòng

106 373 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 106
Dung lượng 920,84 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Giáo dục GD hành vi ứng xử có VH là quá trình tổ chức, yêu cầu, khuyến khích người được giáo dục thực hiện những hành động, việc làm trong cuộc sống của mình phù hợp với các chuẩn mực hà

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI

HOÀNG THỊ PHƯƠNG THANH

GIÁO DỤC HÀNH VI ỨNG XỬ CÓ VĂN HÓA CHO CỘNG ĐỒNG

DÂN CƯ QUẬN ĐỒ SƠN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC

HÀ NỘI, 2017

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI

HOÀNG THỊ PHƯƠNG THANH

GIÁO DỤC HÀNH VI ỨNG XỬ CÓ VĂN HÓA CHO CỘNG ĐỒNG

DÂN CƯ QUẬN ĐỒ SƠN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

Chuyên ngành: Giáo dục và Phát triển cộng đồng

Mã ngành: Thí điểm

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC

Người hướng dẫn khoa học

TS Vũ Thị Ngọc Tú

HÀ NỘI, 2017

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đề tài nghiên cứu “Giáo dục hành vi ứng xử có văn hóa cho cộng đồng dân cư quận Đồ Sơn, thành phố Hải Phòng” dưới sự

hướng dẫn của TS Vũ Thị Ngọc Tú là công trình nghiên cứu khoa học của

riêng tôi Các số liệu có trích dẫn nguồn chính xác, kết quả nghiên cứu nêu trong luận văn là trung thực, chưa từng được công bố trong bất cứ một nghiên cứu nào khác

Tác giả

Hoàng Thị Phương Thanh

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Lời đầu tiên, em xin gửi lời cảm ơn đến TS Vũ Thị Ngọc Tú, người

đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ và động viên em trong suốt quá trình nghiên cứu đề tài luận văn tốt nghiệp này

Em xin bày tỏ lòng cảm ơn chân thành tới các thầy, cô trong Khoa Tâm

lý – Giáo dục học, trường ĐHSP Hà Nội, các đồng chỉ cùng công tác tại đơn vị…., gia đình, bè bạn đã giúp đỡ, động viên, tạo điều kiện cho em trong suốt quá trình nghiên cứu

Mặc dù đã dành nhiều thời gian, công sức và cố gắng rất nhiều, nhưng

do khả năng của bản thân còn hạn chế, kinh nghiệm nghiên cứu khoa học chưa nhiều nên luận văn tốt nghiệp của em còn nhiều thiếu sót, kính mong các thầy, cô góp ý và chỉ bảo để em được tiến bộ và trưởng thành hơn về chuyên môn cũng như về công tác nghiên cứu khoa học

Hà Nội, ngày … tháng … năm 2017

Tác giả luận văn

Hoàng Thị Phương Thanh

Trang 5

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

NXB : Nhà xuất bản

Trang 6

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Con người có hai dòng hoạt động quện chặt vào nhau: Hoạt động với đối tượng (Phản ánh quan hệ chủ thể - khách thể), hoạt động giao tiếp (Phản ánh quan

hệ chủ thể - chủ thể) Hoạt động giao tiếp diễn ra thường nhật ở mỗi người, ở mọi không gian và thời gian Hiệu quả của giao tiếp như thế nào còn tùy thuộc vào

cung cách ứng xử, về nội dung cũng như hình thức biểu hiện

Mọi ứng xử của con người đều có những nguyên tắc nhất định, mỗi cá nhân buộc phải tuân theo mới đạt được hiệu quả là điều khiển được nhận thức, thái độ và hành vi của người khác Đối với mỗi cá nhân trong từng thời điểm, từng hoàn cảnh, cần có những hành vi ứng xử phù hợp Không thể có cách ứng xử chung cho tất cả mọi người, ngay cả đối với bản thân ta tùy từng hoàn cảnh, tâm trạng, mục đich khác nhau cũng có cách ứng xử khác nhau Tuy nhiên, một nét chung nhất có thể dễ nhận thấy, giao tiếp ứng xử của con người - nhân tố trung tâm của xã hội loài người phải tuân theo những chuẩn mực đạo đức, văn hóa của

xã hội [4]

Ứng xử là sự phản ánh của con người đối với sự tác động của người khác đến mình trong một tình huống cụ thể nhất định Nó thể hiện ở chỗ con người không chủ động trong giao tiếp mà chủ động trong phản ứng có sự lựa chọn, có tính toán, thể hiện qua thái độ, hành vi, cử chỉ, cách nói năng - tùy thuộc vào tri thức, kinh nghiệm và nhân cách của mỗi người nhằm đạt kết quả giao tiếp cao nhất Ứng xử là một đề tài muôn thủa của phép “đối nhân xử thế” của người đời

Ở mọi thời đại, mọi quốc gia, trong nền văn hóa của mình đều nói đến phép ứng

xử giữa người với người trong mọi lĩnh vực của cuộc sống Ứng xử là một biểu hiện của giao tiếp, là sự phản ứng của con người trước sự tác động của người khác với mình trong một tình huống nhất định được thể hiện qua thái độ, hành

vi, cử chỉ, cách nói năng của con người nhằm đạt kết quả tốt trong mối quan

hệ giữa con người với nhau Xét trên bình diện nhân cách thì bản chất của ứng

Trang 7

xử chính là những đặc điểm tính cách của cá nhân được thể hiện qua thái độ, hành vi, cử chỉ và cách nói năng của cá nhân với những người xung quanh

Văn hóa (VH) là tổng thể những giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo ra trong quá trình lịch sử Chỉ riêng VH ứng xử, về hình thức

nó làm nên vẻ đẹp kiêu sa và về nội tâm nó làm nên vẻ đẹp phải cảm nhận mới thấy Nhiều thập kỉ qua với lí do này hay lí do khác, bằng cách này cách khác nhiều thói quen tốt tập quán tốt đã bị lãng quên mà nay cần phải được

“tái sinh”, bắt đầu từ “VH xếp hàng”, “VH gõ cửa”, “VH cảm ơn - xin lỗi” với

người dân trong xã hội

Người có VH không nhất thiết phải là người có học vấn Nền tảng của

VH phổ cập mà người ta thường dẫn ra để xem xét là “phông VH”, chính là

văn hóa ứng xử Người xây dựng được cho mình một thói quen và tập quán tốt trong đời sống thường nhật mà ta gọi là nếp sống VH, luôn tự tin và biết tự trọng, không đành lòng làm việc xấu xa vô liêm sỉ, và sẽ bức rức, xấu hổ khôn nguôi khi nghĩ tới việc đã một lần mình làm việc xấu xa đó

Hành vi ứng xử của con người chịu sự chi phối của rất nhiều các yếu tố, trong đó, những kết quả nghiên cứu của nhiều nhà khoa học chỉ ra rằng, nhu cầu được tham gia vào các mối quan hệ xã hội, mức độ gắn bó thân thuộc ảnh hưởng trực tiếp đến hành vi ứng xử của con người trong mối quan hệ với người khác Hành vi ứng xử có VH là những biểu hiện hoạt động bên ngoài của con người, được thể hiện ở lối sống, nếp sống, suy nghĩ và cách ứng xử của con người đối với bản thân, với những người chung quanh, trong công việc và môi trường hoạt động hằng ngày Tuy nhiên hành vi ứng xử có VH của mỗi

cá nhân là khác nhau, nó được hình thành qua quá trình học tập, rèn luyện và trưởng thành của mỗi cá nhân trong xã hội Hành vi ứng xử có VH được coi là các giá trị VH, đạo đức, thẩm mỹ của mỗi cá nhân được thể hiện thông qua thái độ, hành vi, cử chỉ, lời nói của mỗi cá nhân đó Nó được biểu hiện trong mối quan hệ với những người xung quanh, trong học tập, công tác, với bạn bè cùng trang lứa và thậm chí ngay cả với chính bản thân họ

Trang 8

Giáo dục (GD) hành vi ứng xử có VH là quá trình tổ chức, yêu cầu, khuyến khích người được giáo dục thực hiện những hành động, việc làm trong cuộc sống của mình phù hợp với các chuẩn mực hành vi giao tiếp, ứng xử do xã hội qui định

Đồ Sơn là một quận có nhiều tiềm năng phát triển kinh tế - xã hội của thành phố Hải Phòng, trong đó nổi bật là hoạt động dịch vụ, du lịch ngày càng gia tăng Bên cạnh những thành tựu đó, do ảnh hưởng của kinh tế thị trường mối quan hệ giữa con người với con người, nhất là hành vi ứng xử còn tồn tại nhiều nhược điểm những hiện tượng ứng xử vi phạm yêu cầu, chuẩn mực đạo đức xã hội ngày một gia tăng

Việc nghiên cứu bổ sung lí luận, đánh giá thực trạng và đề xuất một số biện pháp giáo dục hành vi ứng xử có VH cho cộng đồng dân cư là vấn đề có

ý nghĩa cấp thiết hiện nay Đặc biệt, tại Việt Nam hiện nay chưa có công trình nào nghiên cứu sâu về vấn đề này trên địa bàn quận Đồ Sơn thành phố Hải Phòng

Xuất phát từ những lí do nêu trên, chúng tôi lựa chọn đề tài “Giáo dục hành vi ứng xử có văn hóa cho cộng đồng dân cư quận Đồ Sơn, thành phố Hải Phòng” để tiến hành nghiên cứu

3.2 Đối tượng nghiên cứu

Biện pháp giáo dục hành vi có VH cho cộng đồng dân cư ở quận Đồ Sơn, thành phố Hải Phòng

4 Giả thuyết khoa học

Trang 9

Hành vi ứng xử của cộng đồng dân cư ở quận Đồ Sơn, thành phố Hải Phòng còn nhiều hạn chế, điều đó ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng và hiệu quả của quá trình giao tiếp, hoạt động của địa phương - nơi có tiền năng dồi dào trong phát triển kinh tế, đặc biệt là du lịch Nếu các ban, ngành, đoàn thể nghiên cứu, xây dựng và áp dụng được những biện pháp mang tính khoa học và hợp lí thì sẽ góp phần nâng cao hiệu quả của công tác giáo dục hành vi ứng

xử có văn hóa cho cộng đồng dân cư, nâng cao năng lực cạnh tranh, góp phần phát triển kinh tế - xã hội của quận Đồ Sơn, thành phố Hải Phòng trong giai đoạn hiện nay

5 Nhiệm vụ nghiên cứu

5.1 Hệ thống hóa những vấn đề lí luận cơ bản về GD hành vi ứng xử có

VH cho cộng đồng dân cư

5.2 Khảo sát, phân tích và đánh giá thực trạng GD hành vi ứng xử có

VH cho cộng đồng dân cư ở quận Đồ Sơn, thành phố Hải Phòng

5.3 Đề xuất các biện pháp nâng cao hiệu quả GD hành vi ứng xử có

VH cho cộng đồng dân cư ở quận Đồ Sơn, thành phố Hải Phòng

6 Giới hạn nghiên cứu

6.1 Về nội dung nghiên cứu

Đề tài đi sâu nghiên cứu về giáo dục hành vi ứng xử có văn hóa cho những người làm trong lĩnh vực dịch vụ du lịch trong cộng đồng dân cư quận

Đồ Sơn, thành phố Hải Phòng, từ đó bước đầu đề xuất, khảo nghiệm tính cần thiết cũng như tính khả thi của các biện pháp đó

6.2 Về địa bàn nghiên cứu

Đề tài chỉ khảo sát thực trạng hoạt động giáo dục hành vi ứng xử có văn hóa cho cộng đồng dân cư quận Đồ Sơn, thành phố Hải Phòng

6.3 Về khách thể khảo sát

- Tổng số khách thể: 500 người, trong đó:

+ Người dân: 200 người (100 người làm trong lĩnh vực dịch vụ du lịch

và 100 người không làm trong lĩnh vực này)

Trang 10

+ Cán bộ quản lý: 50 người

6.4 Về thời gian nghiên cứu

Từ tháng 8 năm 2016 đến tháng 3 năm 2017

7 Phương pháp nghiên cứu

7.1.Các phương pháp nghiên cứu lý luận

Để giải quyết các nhiệm vụ nghiên cứu, đề tài sử dụng phối hợp các phương pháp sau:

* Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận

- Phân tích, tổng hợp thông tin liên quan đến vấn đề nghiên cứu có trong các văn kiện, văn bản, tài liệu

- Hệ thống hóa các khái niệm để xây dựng cơ sở lý luận cho đề tài

- Mô hình hóa lí thuyết

7.2 Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn

7.2.1 Phương pháp điều tra

Đề tài xây dựng phiếu hỏi nhằm thu thập các thông tin, số liệu về thực trạng GD hành vi ứng xử có VH cho cộng đồng dân cư ở quận Đồ Sơn,

thành phố Hải Phòng

7.2.2 Phương pháp phỏng vấn

Đề tài thực hiện phỏng vấn nhằm thu thập thông tin về nhận thức, nguyện vọng của các giáo viên,cán bộ quản lí và học viên về thực trạng GD hành vi ứng

xử có VH cho cộng đồng dân cư quận Đồ Sơn, thành phố Hải Phòng Đồng thời

bổ sung, kiểm tra và làm rõ những thông tin đã thu thập được thông qua điều tra bằng phiếu hỏi

Trang 11

7.2.5 Phương pháp tổng kết kinh nghiệm

7.2.6 Phương pháp khảo nghiệm

7.3 Nhóm các phương pháp xử lý số liệu

- Sử dụng thống kê toán học để xử lý các số liệu nghiên cứu

8 Cấu trúc luận văn

Ngoài phần mở đầu, phần kết luận, khuyến nghị, tài liệu tham khảo và các phụ lục, nội dung nghiên cứu đề tài được cấu trúc theo ở 3 chương sau đây:

Chương 1: Cơ sở lí luận về GD hành vi ứng xử có VH cho cộng đồng

dân cư quận Đồ Sơn, thành phố Hải Phòng

Chương 2: Thực trạng GD hành vi ứng xử có VH cho cộng đồng dân

cư quận Đồ Sơn, thành phố Hải Phòng

Chương 3: Biện pháp nâng cao hiệu quả GD hành vi ứng xử có VH

cho cộng đồng dân cư quận Đồ Sơn, thành phố Hải Phòng

Trang 12

Chương I

CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ GIÁO DỤC HÀNH VI ỨNG XỬ CÓ VĂN HÓA

CHO CỘNG ĐỒNG DÂN CƯ 1.1 Sơ lược lịch sử nghiên cứu vấn đề

Những năm gần đây, trong nhiều bài viết, giới nghiên cứu văn hoá có

nói tới cụm từ đời sống, nếp sống văn hoá Đây là cụm từ mới được sử dụng

rộng rãi ở nước ta vào những năm 80, 90 của thế kỷ XX Tiền thân của cụm

từ này là cụm từ đời sống mới, trong tác phẩm “Đời sống mới” của Hồ Chí

Minh, dưới bút danh Tân Sinh được viết vào tháng 3/1947, Người viết:

“Người là gốc của làng, nước Nếu mọi người đều cố gắng làm đời sống mới, thì nhất định dân tộc sẽ phú cường”

Bối cảnh ra đời cụm từ này là dưới sự lãnh đạo của Đảng, nhân dân ta đã vùng lên làm cuộc Cách mạng tháng Tám năm 1945, đánh đổ thực dân Pháp và tầng lớp thống trị phong kiến giành chính quyền về tay nhân dân, khai sinh nước Việt Nam dân chủ cộng hoà (mồng 2 tháng 9 năm 1945) Sau đó, chính quyền nhân dân non trẻ bắt tay vào sự nghiệp kiến quốc và kháng chiến đánh đuổi thực dân Pháp trở lại xâm lược Việt Nam Nhiệm vụ cấp bách đối với văn hoá lúc đó là diệt giặc dốt, cổ động toàn dân tăng gia sản xuất, thực hành tiết kiệm, chống giặc đói, cổ vũ tinh thần yêu nước, chống giặc ngoại xâm, xây dựng đạo đức cách mạng và sửa đổi nề nếp sinh hoạt trong đời sống của mỗi người, mỗi nhà và mỗi cộng đồng làng bản, đơn vị công tác Đây là công việc mới dưới sự lãnh đạo của Đảng, chưa từng có trong các giai đoạn lịch sử trước

đó nên được gọi là xây dựng đời sống mới Đoạn văn mở đầu bài viết xác định mục đích, nội dung của đời sống mới gồm:

Một là, thái độ ứng xử với cái cũ, cái mới trong đời sống của nhân dân một cách hợp tình, hợp lý: "Đời sống mới không phải cái gì cũ cũng bỏ hết Không phải cái gì cũng làm mới Cái gì cũ mà xấu, thì phải bỏ Cái gì cũ mà không xấu, nhưng nhiều phiền phức thì phải sửa đổi cho hợp lý… Cái gì cũ mà tốt, thì phải phát triển thêm Cái gì mới mà hay, thì phải làm " [ 22;6 - 7]

Trang 13

Hai là, gắn văn hóa với lao động sản xuất: “Làm thế nào cho đời sống của dân ta, vật chất được đầy đủ hơn”[ 22;7 ]

Ba là, gắn văn hóa với xây dựng đời sống tinh thần, làm cho dân

ta “tinh thần được vui mạnh hơn” [ 22;7 ]

Bốn là, xây dựng đạo đức mới: “Thực hành đạo đức cách mạng: Cần - Kiệm - Liêm - Chính” [ 22;7 ]

Năm là, xây dựng nếp sống mới: “Việc trước tiên là sửa đổi cách ăn, cách mặc, cách ở, cách đi lại, cách làm việc” [22;8 ]

Trong bối cảnh trình độ học vấn của dân ta còn thấp, Chủ tịch Hồ Chí

Minh đã sử dụng từ "mới" thay cho từ "văn hoá" để cho dân dễ hiểu về xây dựng đời sống văn hoá Có thể coi Đời sống mới là bài viết đầu tiên đặt cơ sở lý luận

cho việc xây dựng đời sống văn hóa ra đời sau Cách mạng Tháng Tám 1945

Đảng và Nhà nước ta đặt vấn đề xây dựng nếp sống văn hóa, xây dựng con người mới Việt Nam trong cả quá trình tiến hành cách mạng: Từ cách mạng dân tộc, dân chủ nhân dân đến cách mạng xã hội chủ nghĩa Quan điểm của Đảng ta chỉ rõ; Phải gắn chặt xây dựng nếp sống mới với xây dựng con người mới

Cho mãi tới những năm 80 của thế kỷ XX, trong chỉ đạo xây dựng đời sống văn hoá, Đảng, Nhà nước vẫn sử dụng từ "mới" được hiểu là kết tinh hàm lượng văn hoá, tri thức, cách tổ chức, giá trị mới trong xây dựng nếp sống, nền văn hoá và con người Ngày 15/1/1975, Ban Bí thư Trung ương Đảng ban hành Chỉ thị số 214/CT-TW về việc thực hiện nếp sống mới trong việc cưới, việc tang, ngày giỗ, ngày hội Văn kiện Đại hội IV (1976) của

Đảng: "Ra sức xây dựng nền văn hoá mới, từng bước xây dựng nước ta thành một xã hội văn hóa cao’’.[2, 12 - 13]

Năm 1980, Ban Chỉ đạo Nếp sống mới Trung ương được thành lập ở các cấp để chỉ đạo vận động xây dựng nếp sống mới, gia đình văn hoá mới

Cụm từ đời sống văn hoá xuất hiện trong văn kiện của Đảng từ Đại hội

IV, có đoạn viết: "Hết sức quan tâm tổ chức tốt đời sống văn hoá ở các vùng

Trang 14

kinh tế mới, các nông trường, lâm trường, công trường ở các vùng dân tộc, ở miền núi và hải đảo" [23;10]

Đến Đại hội V (1982), Đảng ta xác định rõ hơn nhiệm vụ xây dựng đời sống văn hoá, nhất là đời sống văn hoá ở cơ sở, coi đó là một chủ trương quan

trọng, có ý nghĩa chiến lược trong xây dựng văn hoá và con người: "Một nhiệm

vụ của cách mạng tư tưởng và văn hóa là đưa văn hóa thâm nhập vào cuộc sống hằng ngày của nhân dân Đặc biệt chú trọng xây dựng đời sống văn hóa ở

cơ sở, đảm bảo mỗi nhà máy, công trường, lâm trường, mỗi đơn vị lực lượng

vũ trang, công an nhân dân, mỗi cơ quan, trường học, bệnh viện, cửa hàng, mỗi xã, hợp tác xã, phường ấp, đều có đời sống văn hóa" [23, 19 - 21]

Sau Đại hội V, xây dựng đời sống văn hoá ở cơ sở trở thành một phong trào phát triển sâu rộng trên địa bàn dân cư, đơn vị sản xuất, công tác, học tập tác động trực tiếp đến tư tưởng, tình cảm, đạo đức và nhu cầu hưởng thụ, sáng tạo văn hoá trong đời sống của mọi tầng lớp nhân dân Từ đó, khái niệm về đời sống văn hoá ngày một sáng tỏ

Văn kiện đại hội Đảng toàn quốc lần thứ V, Đảng ta đã chỉ ra: “Hoàn cảnh nước ta đòi hỏi và cho phép xây dựng sớm, xây dựng từng bước con người mới, không phải chờ đến sau khi phát triển cao của nền sản xuất lớn xã hội chủ nghĩa”.[22;10]

“Xây dựng nền văn hóa mới và con người mới là điều cần và có thể thực hiện được từng bước, từng phần ngay từ hôm nay Trong chặng đường trước mắt này, có những điều kiện khách quan và chủ quan cho phép chúng ta bước đầu tạo ra một xã hội đẹp về lối sống, về quan hệ giữa người và người, một xã hội trong đó nhân dân lao động cảm thấy sống hạnh phúc, tuy mức sống vật chất còn chưa cao” “… đặt trọng tâm vào nhiệm vụ xây dựng tư tưởng, đạo đức, lối sống và đời sống văn hóa lành mạnh trong xã hội, trước hết trong các tổ chức Đảng và Nhà nước, trong các đoàn thể quần chúng và trong từng gia đình xây dựng nếp sống văn minh trong việc cưới, việc tang,

Trang 15

lễ hội, đẩy lùi hủ tục, các tệ nạn cờ bạc, ma tuý, mại dâm, bạo lực, gây rối trật

tự công cộng”.[22;16 -19 ]

Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI, Đảng định hướng chăm lo phát triển văn hóa: “Củng cố và tiếp tục xây dựng môi trường văn hóa lành mạnh phong phú, đa dạng Đưa phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá” đi vào chiều sâu, thiết thực, hiệu quả, xây dựng nếp sống văn hóa trong các gia đình, khu dân cư, cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp làm cho các giá trị văn hóa thấm sâu vào mọi mặt đời sống, được thể hiện cụ thể trong sinh hoạt, công tác, quan hệ hàng ngày của cộng đồng và từng con người, tạo sức đề kháng đối với sản phẩm độc hại Tiếp tục đẩy mạnh việc giáo dục, bồi dưỡng đạo đức, lối sống có văn hóa; xây dựng nếp sống văn minh trong việc cưới, tang, lễ hội; ngăn chặn và đẩy lùi các hủ tục, bạo lực, gây rối trật tự công cộng, mại dâm ma túy cờ bạc… góp phần giữ gìn và phát triển những giá trị truyền thống của văn hóa, con người Việt Nam…”.[31; 43-50]

Trong Chiến lược phát triển kinh tế-xã hội 2011-2020 với định hướng

“Phát triển toàn diện các lĩnh vực văn hóa, xã hội hài hòa với phát triển kinh tế,… phát huy những giá trị tốt đẹp của các dân tộc, vừa tiếp thu những tinh hoa văn hóa nhân loại; Tập trung xây dựng đời sống, lối sống và môi trường văn hóa lành mạnh, coi trọng văn hóa trong lãnh đạo quản lý, văn hóa trong kinh doanh và văn hóa trong ứng xử Chú trọng xây dựng nhân cách con người Việt Nam về lý tưởng, trí tuệ, đạo đức, lối sống… Nâng cao chất lượng Phong trào Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá, xây dựng xã, phường, khu phố, thôn, bản đoàn kết dân chủ kỷ cương, văn minh, lành mạnh.” [31, 52 - 56 ]

Nghị quyết Trung ương 5, khóa VIII về xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc (1998) đã đề ra 10 nhiệm vụ

cơ bản xây dựng nền văn hóa Việt Nam, xếp nhiệm vụ xây dựng môi trường văn hóa ở vị trí thứ hai sau nhiệm vụ xây dựng con người Nghị quyết đặt ra

mục tiêu của việc xây dựng môi trường văn hóa là: "Tạo ra ở các đơn vị cơ sở

Trang 16

(gia đình, làng, bản, xã, phường, khu tập thể, cơ quan, xí nghiệp, nông trường, lâm trường, trường học, đơn vị bộ đội ), các vùng dân cư (đô thị, nông thôn, miền núi ) đời sống văn hóa lành mạnh, đáp ứng những nhu cầu văn hóa đa dạng và không ngừng tăng lên của các tầng lớp nhân dân" Đồng

thời Nghị quyết trên cũng chỉ ra những vấn đề quan tâm cụ thể của xây dựng

môi trường văn hóa là: "Giữ gìn và phát huy những đạo lý tốt đẹp của gia đình Việt Nam Nêu cao vai trò gương mẫu của các bậc cha mẹ Coi trọng xây dựng gia đình văn hóa Xây dựng mối quan hệ khăng khít giữa gia đình, nhà trường và xã hội [22; 19]

Đẩy mạnh phong trào xây dựng làng, ấp, xã, phường văn hóa, nâng cao tính tự quản của cộng đồng dân cư trong công cuộc xây dựng nếp sống văn minh

Thu hẹp dần khoảng cách đời sống văn hóa giữa các trung tâm đô thị

và nông thôn, giữa những vùng kinh tế phát triển với các vùng sâu, vùng xa, vùng núi, biên giới, hải đảo, giữa các tầng lớp nhân dân

Phát triển và không ngừng nâng cao chất lượng hoạt động của các thiết chế văn hóa ở cơ sở; đầu tư xây dựng một số công trình văn hóa trọng điểm tầm quốc gia Tăng cường hoạt động của các tổ chức văn hóa, nghệ thuật chuyên nghiệp, phát triển phong trào quần chúng hoạt động văn hóa, nghệ thuật".[ 22, 30 - 35]

Quan điểm của Đảng cũng chỉ rõ những nội dung cốt lõi trong xây dựng nếp sống mới đó là:

- Xây dựng đời sống văn hoá ở các đơn vị cơ sở;

- Xây dựng gia đình, cộng đồng dân cư văn hoá;

- Xây dựng nếp sống văn minh;

- Xây dựng và nâng cao chất lượng hoạt động của các thiết chế văn hoá;

- Đẩy mạnh hoạt động của các tổ chức, phong trào văn hoá, văn nghệ

Trang 17

Và quy định rõ nội dung về việc xây dựng nếp sống văn minh trong việc cưới, việc tang và lễ hội nhằm phát huy giá trị văn hóa cổ truyền, đồng thời bài trừ những hủ tục trong các lĩnh vực này

Lịch sử nghiên cứu về văn hóa, xây dựng nếp sống văn hóa Việt Nam, thể hiện sự quan tâm của Đảng và Nhà nước ta về xây dựng con người mới, văn hóa mới, đắp ứng ngày càng cao nhu cầu hội nhập và phát triển của đất nước, qua đó thể hiện rõ vị trí, vai trò, tầm quan trọng của việc xây dựng nếp sống văn hóa cho người dân, trong công cộng xây dựng và bảo vệ tổ quốc Việt Nam xã hộ chủ nghĩa

1.2 Một số khái niệm cơ bản

1.2.1 Giáo dục

Trong cuốn Giáo dục học (tập 1) của Trần Thị Tuyết Oanh (chủ biên) [25] cho rằng: Giáo dục là quá trình tác động có mục đích, có tổ chức, có kế hoạch, có nội dung và bằng phương pháp khoa học của nhà giáo dục tới người được giáo dục trong các cơ quan giáo dục nhằm hình thành nhân cách cho họ

Tác giả Nguyễn Lân trong từ điển tiếng Việt [20] xem: Giáo dục là một quá trình có ý thức có mục đích, có kế hoạch nhằm truyền cho lớp mới những kinh nghiệm đấu tranh và sản xuất, những tri thức về tự nhiên, về xã hội, về tư duy, để họ có thể có đầy đủ khả năng tham gia vào đời sống và đời sống xã hội

Trong cuốn giáo dục học đại cương 1 của tác giả Nguyễn Sinh Huy (chủ biên) [18] lại tiếp cận khái niệm Giáo dục (theo nghĩa rộng) ở phạm vi rộng hơn: Giáo dục là sự hình thành có mục đích và có tổ chức những sức mạnh thể chất và tinh thần của con người, hình thành thế giới quan, bộ mặt đạo đức và thị hiếu thẩm mĩ cho con người; với nghĩa rộng nhất, khái niệm này bao hàm cả giáo dưỡng, dạy học và tất cả những yếu tố khác tạo nên những nét tính cách và phẩm hạnh của con người, đáp ứng yêu cầu của kinh

tế xã hội

Dù xét trên các góc độ, phạm vi khác nhau, chúng ta có thể nhận thấy:

Trang 18

Giáo dục là một quá trình toàn vẹn hình thành nhân cách, được tổ chức một cách có mục đích và kế hoạch, thông qua các hoạt động và quan hệ giữa người giáo dục và người được giáo dục, nhằm truyền đạt và chiếm lĩnh những kinh nghiệm xã hội loài người

Như vậy: Giáo dục luôn là một quá trình có mục đích, có kế hoạch, là quá trình tác động qua lại giữa nhà giáo dục và người được giáo dục

Thông qua quá trình tương tác giữa người giáo dục và người được giáo dục để hình thành nhân cách toàn vẹn (hình thành và phát triển các mặt đạo đức, trí tuệ, thẩm mĩ, thể chất, lao động) cho người được giáo dục

Theo nghĩa rộng này, giáo dục bao hàm cả giáo dưỡng, dạy học và giáo dục theo nghĩa hẹp (tất cả những yếu tố trên tạo nên nét tính cách và phẩm hạnh của con người, đáp ứng yêu cầu kinh tế xã hội)

Giáo dục (theo nghĩa rộng) không bó hẹp ở phạm vi là người được giáo dục đang trong tuổi học (dưới 25 tuổi) và giáo dục không chỉ diễn ra trong nhà trường Ngày nay, chúng ta hiểu giáo dục là cho tất cả mọi người, được thực hiện ở bất cứ không gian và thời gian nào thích hợp với từng loại đối tượng bằng các phương tiện khác nhau, kể cả các phương tiện truyền thông đại chúng (truyền hình, truyền thanh, video, trực tuyến qua inernet,…) với các hình thức đa dạng, phong phú Ngoài ra quá trình giáo dục không ràng buộc về độ tuổi giữa người giáo dục với người được giáo dục

Giáo dục theo nghĩa hẹp

Như phần khái niệm theo nghĩa rộng đã trình bày ở trên, Giáo dục (theo nghĩa hẹp) là một bộ phận cấu thành nên quá trình giáo dục tổng thể (rộng): Là quá trình hình thành niềm tin, lí tưởng, động cơ, tình cảm, thái

độ, những nét tính cách, nhân cách, những hành vi và thói quen cư xử đúng đắn trong xã hội, thuộc các lĩnh vực tư tưởng - chính trị, đạo đức, lao động

và học tập, thẩm mĩ, vệ sinh,…

Như vậy, chúng ta nhận thấy quá trình giáo dục theo nghĩa hẹp có chức năng vượt trội là hình thành nhân cách cho con người Nó được thực hiện trên

Trang 19

cơ sở vừa tác động đến ý thức, vừa tác động đến hành vi; vừa lĩnh hội hệ thống tri thức và giá trị, vừa thể nghiệm những kinh nghiệm thực tiễn bản thân; vừa trau dồi học vấn, vừa tham gia hoạt động xã hội tập thể

Để thực hiện quá trình giáo dục (theo nghĩa hẹp) cần phải tiến hành nhiều nội dung giáo dục như: Giáo dục đạo đức, giáo dục thẩm mĩ, giáo dục lao động, giáo dục thể chất, giáo dục hiểu biết quốc tế (hoà bình, hữu nghị, khoan dung, môi trường, dân số,…) giáo dục an toàn giao thông, giáo dục giới tính, Thông qua các

hệ thống các phương pháp giáo dục khác nhau và thường được tiến hành thông qua sinh hoạt tập thể, các hoạt động xã hội, lao động công ích, các hoạt động dạy học, các hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp,…

1.2.2 Văn hóa

Bất kỳ một quốc gia, dân tộc nào cũng đều có một nền văn hóa riêng,

nó ra đời và phát triển gắn liền quá trình hình thành và phát triển của dân tộc

Trong nghiên cứu về văn hóa nhiều học giả cho rằng văn hóa (hiểu theo nghĩa rộng) nói chung bao gồm tất cả những giá trị vật chất và tinh thần Theo nghĩa rộng nhất của nó, văn hóa bao gồm những sáng tạo về vật chất và tinh thần của con người trong quá trình cải tạo hiện thực khách quan Những tri thức, các kết quả của hoạt động cải tạo xã hội và tự nhiên là thành phần của văn hóa Văn hóa không tự hạn chế vào một số biểu hiện của đời sống tinh thần Nó là toàn bộ cuộc sống; cả vật chất, tinh thần của từng cộng đồng người Như vậy, có thể khẳng định rằng: tất cả những gì không phải là thiên nhiên đều là văn hóa

Văn hóa tinh thần cũng được hiểu theo hai nghĩa cơ bản rộng và hẹp Theo nghĩa rộng, văn hóa được hiểu là toàn bộ những giá trị, những hoạt động tinh thần của con người Taylor cho rằng “Văn hóa hiểu theo nghĩa rộng nhất của nó là toàn bộ phức thể bao gồm hiểu biết, tín ngưỡng, nghệ thuật, đạo đức, luật pháp, phong tục và những khả năng và tập quán khác mà con người có được với tư cách là một thành viên của xã hội” Tiêu biểu cho cách hiểu này là A.K Vlêđốp: “Việc coi văn hóa tinh thần

Trang 20

chỉ là tổng hợp những giá trị tinh thần là phiến diện Văn hóa tinh thần như là sự hoạt động sáng tạo tích cực của con người, như là sự sản xuất cất giữ và sử dụng những giá trị tinh thần”

Theo nghĩa hẹp, các tác giả cho rằng văn hóa tinh thần là những dấu ấn tinh thần, những giá trị tinh thần đặc thù của một quốc gia dân tộc nhằm phân biệt dân tộc này với dân tộc khác Tiêu biểu cho cách hiểu này là khái niệm văn hóa của UNESCO được thừa nhận rộng rãi: Văn hóa là “tổng thể sống động các hoạt động sáng tạo của con người đã diễn ra trong quá khứ cũng như đang diễn ra trong hiện tại Qua hàng thế kỷ các hoạt động sáng tạo ấy đã cấu thành nên một hệ thống các giá trị, truyền thống thị hiếu thẩm mỹ và lối sống

mà dựa trên đó từng dân tộc khẳng định bản sắc riêng của mình” [19]

Văn hóa là một hệ thống hữu cơ những giá trị vật chất và tinh thần do con người, loài người sáng tạo, tích lũy thông qua hoạt động thực tiễn trong suốt quá trình lịch sử của mình Con người là sản phẩm cao nhất của tự nhiên

và văn hóa là sản phẩm đặc sắc nhất của con người Có thể nói văn hóa là sự hóa thân của đời sống, nó thấm vào mọi lĩnh vực hoạt động của con người, nó xuyên suốt cơ thể xã hội, nó biểu hiện trình độ người, trình độ xã hội, văn minh quốc gia, văn minh nhân loại

khác” [Wikibedia, the free encyclopedia] Trong khái niệm này, điều đáng

chú ý, được nhấn mạnh: cộng đồng là “cơ thể sống”, có sự “tương tác” của các thành viên Tuy nhiên, các nhà khoa học, trong khái niệm này không chỉ

cụ thể “cái này” với “cái khác” là cái gì, con gì Đó có thể là các loại thực vật, cũng có thể là các loại động vật, cũng có thể là con người – cộng đồng người

Trang 21

Cộng đồng là hình thức chung sống trên cơ sở sự gần gũi của các thành viên về mặt cảm xúc, hướng tới sự gắn bó đặc biệt mật thiết (gia đình, tình bạn cộng đồng yêu thương) được chính họ tìm kiếm và vì thế được con người cảm thấy có tính cội nguồn Và cộng đồng được xem là một trong những khái niệm nền tảng nhất của xã hội học, bởi vì nó mô tả những hình thức quan hệ

và quan niệm về trật tự, không xuất phát từ các tính toán lợi ích có tính riêng

lẻ và được thỏa thuận theo kiểu hợp đồng mà hướng tới một sự thống nhất về tinh thần - tâm linh bao quát hơn và vì thế thường cũng có ưu thế về giá trị

Cộng đồng người có tính đa dạng, tính phức tạp hơn nhiều so với các cộng đồng sinh vật khác Trong đời sống xã hội, khái niệm cộng đồng có nhiều tuyến nghĩa khác nhau đồng thời cộng đồng cũng là đối tượng nghiên cứu của nhiều ngành khoa học khác nhau: xã hội học, dân tộc học, y học…

Khi nói tới cộng đồng người, người ta thường quy vào những “nhóm xã hội” có cùng một hay nhiều đặc điểm chung nào đó, nhấn mạnh đến đặc điểm chung của những thành viên trong cộng đồng

Theo quan điểm Mác – Xít, cộng đồng là mối quan hệ qua lại giữa các

cá nhân, được quyết định bởi sự cộng đồng hóa lợi ích giống nhau của các thành viên về các điều kiện tồn tại và hoạt động của những người hợp thành cộng đồng đó, bao gồm các hoạt động sản xuất vật chất và các hoạt động khác của họ, sự gần gũi các cá nhân về tư tưởng, tín ngưỡng, hệ giá trị chuẩn mực cũng như các quan niệm chủ quan của họ về các mục tiêu và phương tiện hoạt động

Quan niệm về cộng đồng theo quan điểm Mác – Xít là quan niệm rất rộng, có tính khái quát cao, mang đặc thù của kinh tế - chính trị Dấu hiệu đặc trưng chung của nhóm người trong cộng đồng này chính là “điều kiện tồn tại

và hoạt động”, là “lợi ích chung”, là “tư tưởng”, “tín ngưỡng” “giá trị”chung…Thực chất đó là cộng đồng mang tính giai cấp, ý thức hệ

Xuất phát từ tiếng La tinh, “cộng đồng” – communis có nghĩa là

“chung/công cộng/được chia sẻ với mọi người hoặc nhiều người” Đặc điểm/

Trang 22

dấu hiệu chung của cộng đồng này chính là đặc điểm để phân biệt nó với cộng đồng khác

Dấu hiệu/ đặc điểm để phân biệt cộng đồng này với cộng đồng khác có thể là bất cứ cái gì thuộc về con người và xã hội loài người, màu da, đức tin, tôn giáo, lứa tuổi, ngôn ngữ, nhu cầu, sở thích nghề nghiệp… nhưng cũng có thể là vị trí địa lý của khu vực (địa vực), nơi sinh sống của nhóm người đó như làng xã, quận huyện, quốc gia, châu lục… Những dấu hiệu này chính là những ranh giới để phân chia cộng đồng

Theo từ điển xã hội học của Harper Collins, cộng đồng được hiểu là

“mọi phức hợp các quan hệ xã hội được tiến hành trong lĩnh vực kinh cụ thể, được xác định về mặt địa lý, hàng xóm hay những mối quan hệ mà không hoàn toàn về mặt cư trú, mà tồn tại ở một cấp độ trừu tượng hơn”

Tóm lại, trong đời sống xã hội, cộng đồng là một danh từ chung chỉ tập hợp người nhất định nào đó với hai dấu hiệu quan trọng: 1/ họ cùng tương tác với nhau; 2/ họ cùng chia sẻ với nhau (có chung với nhau) một hoặc một vài đặc điểm vật chất hay tinh thần nào đó

* Phân loại cộng đồng

Tùy theo mục đích nghiên cứu mà người ta phân loại cộng đồng theo những dấu hiệu khác nhau Trong một số tài liệu, người ta lại chia cộng đồng

theo 2 nhóm như sau [21]:

- Nhóm cộng đồng theo địa vực: thôn xóm, làng bản, khu dân cư, phường xã, quận huyện, thị xã, thành phố, khu vực, châu thổ cho đến cả quả địa cầu của chúng ta Ở nước ta, ở quy mô tỉnh, thành phố thì chúng ta có 63 tỉnh, thành phố, theo quy mô xã phường thì chúng ta có trên chục ngàn xã, phường, ở quy mô thôn xóm, khu dân cư (nhỏ hơn xã phường) thì chúng ta có hàng trăm ngàn cộng đồng

- Nhóm cộng đồng theo nền văn hóa: nhóm này bao gồm: cộng đồng theo hệ tư tưởng, văn hóa, tiểu văn hóa, đa sắc tộc, dân tộc thiểu số… Nhóm

Trang 23

này cũng có thể bao gồm cả cộng đồng theo nhu cầu và bản sắc như cộng đồng người khuyết tật, cộng đồng người cao tuổi

- Nhóm cộng đồng theo tổ chức: được phân loại từ các tổ chức không chính thức như tổ chức gia đình, dòng tộc, hội hè cho đến những tổ chức chính thức chặt chẽ hơn như các tổ chức đoàn thể, các tổ chức chính trị, tổ chức hành chính nhà nước, tổ chức kinh tế, tổ chức hiệp hội nghề nghiệp, xã hội… từ phạm vi nhỏ ở một đơn vị hoặc trong phạm vi quốc gia cho đến phạm vi quốc tế

Cũng có thể phân loại cộng đồng theo đặc điểm khác biệt về kinh tế -

Như vậy, cộng đồng là một đơn vị hành chính, kinh tế - xã hội có tính độc lập tương đối so với các cộng đồng khác trong một quốc gia Trong mỗi cộng đồng có các thành viên cộng đồng là các cá nhân hoặc gia đình đang sinh sống trên địa bàn, có những tổ chức hành chính nhà nước, tổ chức xã hội

mà các thành viên cộng đồng tham gia sinh hoạt trên địa bàn dân cư, các tổ chức kinh tế, dịch vụ mà thành viên cộng đồng tham gia làm việc (cũng có thể thành viên không làm việc ở đó)

Ở Việt Nam ngày nay, các tổ chức chính trị - xã hội đó có thể là các tổ chức trong khối Mặt trận tổ quốc xã phường: Đoàn thanh niên Cộng sản Hồ

Trang 24

Chí Minh phường/ xã; Hội/ Chi hội Phụ nữ; Hội/ chi hội người cao tuổi; Hội/ chi hội Cựu chiến binh; Hội nông dân (đối với địa bàn nông thôn); tổ chức tôn giáo (nếu có)… Tổ chức chính quyền: Ủy ban nhân dân; Hội đồng nhân dân; một số tổ chức kinh tế địa phương: Hợp tác xã nông nghiệp; Hợp tác xã thủ công, Doanh nghiệp… Các đơn vị sự nghiệp trên địa bàn có Trạm Y tế xã/ phường; bệnh viện, trường học; tổ chức Đảng, chi bộ Đảng

Ứng xử không chủ động trong giao tiếp, không chủ động tạo ra hành động nhưng chủ động trong thái đọ, phản ứng trước những thái độ, hành vi,

cử chỉ của người khác trong một tình huống cụ thể nào đó

Ứng xử được thể hiện trong một tình huống giao tiếp cụ thể Song không phải mọi sự giao tiếp đều có sự ứng xử xảy ra

Tâm lí học ứng xử là một khoa học nghiên cứu những tri thức tâm lí cần thiết để phản ứng sự tác động của một tình huống giao tiếp cụ thể, lựa chọn thái độ, hành vi, cử chỉ, cách nói năng thích hợp nhằm đạt kết quả trong giao tiếp giữa người và người (đồng cảm lẫn nhau)

Theo nhà nghiên cứu, ứng xử là sự phản ứng của con người đối với sự tác động từ thế giới xung quanh, từ người khác và từ chính bản thân mình

Trang 25

trong một tình huống cụ thể Nó được thể hiện qua thái độ, hành vi, cử chỉ, cách nói năng - tùy thuộc vào tri thức, kinh nghiệm và nhân cách của mỗi người

1.2.4 Hành vi, hành vi ứng xử có văn hóa

Hành vi

Hành vi là toàn bộ những phản ứng, cách ứng xử của con người biểu

hiện ra bên ngoài trong một hoàn cảnh cụ thể nhất định với sự điều khiển, điều chỉnh của tâm lý, ý thức người đó

Hành vi văn hóa

Hành vi văn hóa là cách ứng xử của con người trong một hoàn cảnh nhất định bị chi phối bởi hệ thống giá trị văn hóa của dân tộc (hay một nhóm người trong đó) mà cốt lõi là giá trị đạo đức và giá trị thẩm mỹ, khiến cho cách ứng xử mang đặc thù của dân tộc ấy

Hành vi ứng xử có văn hóa

Hành vi ứng xử văn hóa là những biểu hiện hoạt động bên ngoài của con người, được thể hiện ở lối sống, nếp sống, suy nghĩ và cách ứng xử của con người đối với bản thân, với những người chung quanh, trong công việc và môi trường hoạt động hằng ngày Tuy nhiên hành vi ứng xử văn hóa của mỗi

cá nhân là khác nhau, nó được hình thành qua quá trình học tập, rèn luyện và trưởng thành của mỗi cá nhân trong xã hội Hành vi ứng xử văn hóa của tuổi trẻ được coi là các giá trị văn hóa, đạo đức, thẩm mỹ của mỗi cá nhân được thể hiện thông qua thái độ, hành vi, cử chỉ, lời nói của mỗi cá nhân đó Nó được biểu hiện trong mối quan hệ với những người chung quanh, trong học tập, công tác, với bạn bè cùng trang lứa và thậm chí ngay cả với chính bản thân họ Về hành vi ứng xử có văn hóa của giới trẻ hiện nay, có nhiều ý kiến khác nhau Tuy nhiên cần có cái nhìn khách quan khi đề cập về vấn đề này

Có thể nói, tuổi trẻ ngày nay phần đông là những con người năng động, có kiến thức rộng, sống có hoài bão và lý tưởng, đồng thời không ngừng học hỏi vươn lên để dựng xây đất nước Nhìn chung họ có những cách ứng xử tích

Trang 26

cực, phù hợp với truyền thống, đạo lý dân tộc Giới trẻ ngày nay phần đông đã thể hiện trách nhiệm với xã hội, với chính bản thân mình, không ngừng học hỏi, vươn lên, sống có hoài bão, lý tưởng rõ ràng

1.2.5 Giáo dục hành vi ứng xử có văn hóa cho cộng đồng dân cư

Bên cạnh những biểu hiện của hành vi ứng xử có văn hóa, hiện nay vẫn còn một bộ phận trong giới trẻ có những hành vi ứng xử thiếu văn hóa Ðối với bản thân họ không có ý chí phấn đấu, sống buông thả, sa đà vào các tệ nạn xã hội: cờ bạc, ma túy, mại dâm Ðây hoàn toàn là những biểu hiện của nếp sống xa lạ, sai trái, đi ngược với truyền thống văn hóa dân tộc Hiện tượng các bạn trẻ, thậm chí là học sinh THPT văng tục, chửi thề; ngang nhiên vi phạm luật lệ giao thông; có thái độ không đúng mực với người già; hành động thiếu văn hóa nơi công cộng còn khá phổ biến

Trong bối cảnh xã hội hiện nay chúng ta cần có sự nhìn nhận nghiêm túc về vấn đề này Việc giáo dục hành vi ứng xử văn hóa cho giới trẻ cần được quan tâm đúng mức Chúng ta cần có những biện pháp thích hợp nhân rộng, tuyên dương những hành vi ứng xử đẹp tuân theo các chuẩn mực, vừa phù hợp với văn hóa, đạo đức truyền thống của Việt Nam, vừa phù hợp với các chuẩn mực của xã hội hiện đại

Hành vi ứng xử văn hóa là kết quả của quá trình nhận thức, tình cảm, ý chí, niềm tin của con người trong quá trình sống, học tập và lao động Cho nên để vun đắp hành vi ứng xử đạo đức trong giới trẻ, trước hết những người đi trước phải biết tác động một cách phù hợp vào nhận thức, tình cảm, ý chí và hành động của giới trẻ để họ từng bước nâng cao nhận thức, bồi dưỡng tình cảm, hình thành niềm tin và có những hành vi ứng xử đẹp trong cuộc sống Có rất nhiều những việc làm cụ thể và thiết thực để hướng giới trẻ có cách ứng xử văn hóa: nêu gương của những người chung quanh để làm chuyển biến nhận thức giới trẻ; phát động các phong trào thi đua trong mọi lĩnh vực để hướng

họ vào những hành động tốt; ngoài ra còn sử dụng những tấm gương gần gũi như bạn bè, người thân, những tấm gương điển hình cùng trang lứa để tác

Trang 27

động lên nhận thức, tình cảm và nhất là khơi gợi lòng tự trọng của họ; tổ chức các Diễn đàn thanh niên nói về sống đẹp, sống có ích, sống có văn hóa Bên cạnh đó, cần có sự quan tâm đúng mức, hướng dẫn, giúp đỡ và tháo gỡ những khó khăn, điều chỉnh những hành vi ứng xử không đẹp nảy sinh trong quá trình giới trẻ tham gia vào những quan hệ xã hội

1.3 Bản chất của ứng xử

1.3.1 Mọi ứng xử của con người đều xuất phát từ cái tâm, cái tình

Mỗi cây mỗi hoa, mỗi người mỗi tính Tâm lí con người vô cùng phức tạp và phong phú Chúng ta khó có thể tìm được sự giống nhau toàn diện về mặt tâm

lí của một người này với một người khác Sự khác nhau đó thể hiện rõ trong cung cách ứng xử cũng thể hiện cái tâm của mỗi con người trong cuộc sống

xã hội Có người ứng xử với người khác xuất phát từ cái tâm nhân hậu Cái tâm nhân hậu xui khiến người ta ứng xử với người đời một cách độ lượng, nhân đạo và tôn trọng nhân cách của người khác Trong quan hệ với người khác, anh ta dễ cảm thông, chia sẻ với những rủi ro, bất hạnh của họ, vui sướng vì những thành công của người khác, luôn luôn mong muốn mọi người tiến bộ, thành đạt Những người này thường xây dựng được những quan hệ thân thiết trong cuộc sống và công việc

Trong cuộc sống có một số người ứng xử với người khác xuất phát từ cái tâm không nhân hậu (ác tâm) Sự ác tâm xui khiến những người này ứng xử với người đời một cách ti tiện, ích kỉ, vô nhân đạo và thiếu tôn trọng nhân cách người khác, anh ta không biết cảm thông, chia sẻ với người khác về những rủi

ro, bất hạnh của họ, đố kị với những thành đạt của người khác, không muốn người khác hơn mình Trong nói năng, ứng xử họ thường không xúc phạm đến lòng tự trọng của người khác, nói xấu, coi thường họ Chính cái tâm độc địa đó đã mang lại cho những con người này những quan hệ không lấy gì làm đẹp đẽ trong cuộc sống và công việc

Cái tâm chỉ dẫn cho con người cung cách ứng xử, nhưng sắc thái biểu hiện ra bên ngoài thì mỗi người một khác: người thì sôi nổi, người thì trầm lặng nhu

Trang 28

mì Trên thực tế không có ai giống ai trong cung cách ứng xử Sự đa dạng đó

đã được nhà văn Lê Lựu khái quát trong tác phẩm “Mở rừng” như sau: tất cả mọi hoàn cảnh, mọi tầng lớp một cách cụ thể cả, sống như thế nào vẫn có nhược điểm của nó Anh sống sôi nổi dễ bảo thủ Anh lành dễ cục và ù lì, anh thông minh tháo vát dễ láu cá, giả dối Anh tiếp xúc ít thì sâu nhưng đơn điệu, hiểu biết hẹp Anh quan hệ nhiều dễ chàng màng, khách sáo, người tốt nhiều nhất thấm được nhiều cái tình trong mỗi cách sống Nhưng nói gì thì nói chủ yếu bậc nhất vẫn là cái tình”

Ứng xử là cái biểu hiện ra biên ngoài của cái tâm, cái tình của con người, là thước đo lòng người, nhưng không hẳn mọi ứng xử đều nói lên được cái tâm của con người Điều quan trọng là phải xem sự ứng xử đó là hiện tượng hay bản chất Điều này thật không dễ, nhất là đối với những người hời hợt, bàng quan

Và dù thế nào ta cũng cần lưu ý rằng:

“Sông sâu còn có kẻ dò

Lòng người ai tỏ mà đo cho tường”

Chúng ta đừng hi vọng hiểu biết hết lòng người

1.3.2 Một số thuộc tính tâm lí cần có trong ứng xử

Ứng xử sao cho “vừa lòng nhau” điều đó không phải dễ Để làm được điều

đó, con người cần phải có ít nhất những thuộc tính tâm lí dưới đây:

a Năng lực quan sát đối tượng

Khả năng định hướng ban đầu: khuôn mặt, dáng người, cách nói, điệu bộ Người xưa đã dạy “trông mặt mà bắt hình dong” Chính điều này giúp chúng

ta biết cách ứng xử với từng người, giúp chunga ta nắm được tỉ mỉ hành vi của đối tượng và dùng những tài liệu quan sát được phục vụ cho giao tiếp ban đầu Nghĩa là giúp ta có những phán đoán sơ bộ ban đầu về chân dung của đối tượng tiếp xúc

Trang 29

b Kĩ năng biểu hiện những ý nghĩ, tình cảm, nhận thức của mình với người khác - làm cho họ ngay từ đầu đã có cảm tình và đồng cảm với ta Chính điều này giúp con người đạt kết quả trong ứng xử

c Tôn trọng nhân cách của người giao tiếp

Đó là sự thiện cảm khi tiếp xúc và nhìn nhận cái tốt ở họ là cơ bản, không định kiến Gớt - nhà thơ - nhà triết học Đức đã dạy: nên đối xử với anh ta tốt hơn cái mà đáng ra ah ta không được hưởng Bởi lẽ trong xã hội, viji thế có thể khác nhau, nhưng nhân cách là bình đẳng

d Năng lực tự chủ trong các tình huống giao tiếp

Có thể nói làm chủ được mình là một điều kiện quan trọng để thành công trong giao tiếp - ứng xử Bởi một lẽ, trong cuộc sống hàng ngày không ai hoàn toàn suôn sẻ Hơn nữa, cuộc sống phẳng lặng ngày này qua ngày khác thì đến một lúc nào đó cuộc sống trở nên tẻ nhạt Những lúc thăng, trầm, khi thành công, thất bại hoặc bị xúc phạm thanh danh mà ta không làm chủ được mình, nói năng quá lời, làm những điều dại dột thì các quan hệ của ta với người khác không còn được như trước

1.4 Vài nét khái quát về đặc điểm của cộng đồng dân cư ở địa phương

Cộng đồng dân cư được xem xét trong luận văn này là cộng đồng dân cư tại các địa phương (xã, phường)

Điều kiện y tế, văn hóa, giáo dục còn gặp nhiều khó khăn Trình độ dân trí chưa cao Điều đó dẫn đến những hạn chế nhất định như tiếp cận và vận dụng các tiến bộ khoa học, kĩ thuật, công nghệ vào các hoạt động lao động, sản xuất và sinh hoạt và những yếu tố mới của sự phát triển văn hóa

Điều kiện kinh tế của một bộ phận không nhỏ dân cư còn thấp, Cùng với

sự hạn chế về trình độ dân trí khiến cho người dân trong cộng đồng chưa tham gia một cách thường xuyên vào các hoạt động chung

1.5 Giáo dục hành vi ứng xử có văn hóa cho cộng đồng dân cư

Trang 30

1.5.1 Tầm quan trọng của gáo dục hành vi ứng xử có văn hóa cho cộng đồng dân cư

Gáo dục hành vi ứng xử có văn hóa cho cộng đồng dân cư có ý nghĩa cực

kỳ quan, nó giúp cho mỗi cá nhân và cả cộng đồng thực hiện được những hành

vi ứng xử với tự nhiên, với xã hội, với người khác và với chính bản thân mình phù hợp với những yêu cầu, chuẩn mực đạo đức, văn hóa mà xã hội đã quy định; nó là cơ sở để mỗi người dân tôn trọng lẫn nhau, hiểu biết lẫn nhau, đồng cảm, chia sẻ những công việc chung của cộng đồng, góp phần làm cho cộng đồng của mình ngày một phát triển

1.5.2 Mục tiêu, nội dung và phương pháp giáo dục môi trường cho cộng đồng dân cư các xã ven biển

1.5.2.1 Mục tiêu gáo dục hành vi ứng xử có văn hóa cho cộng đồng dân cư

Giáo dục là quá trình hoạt động có ý thức, có mục đích của con người nhằm giúp cho mỗi cá nhân và cộng đồng có sự chuyển biến tích cực tư nhận thức đến thái độ, tình cảm và những hành động tương ứng đối với những vấn

đề của xã hội trong hiện tại và tương lại Mục đích giáo dục được cụ thể thành các mục tiêu giáo dục cụ thể tương ứng với các mặt kiến thức; thái độ, tình cảm và kĩ năng, hành vi, thói quen

Gáo dục hành vi ứng xử có văn hóa cho cộng đồng dân cư cũng mang những đặc tính chung của quá trình giáo dục Mục đích của quá trình gáo dục

hành vi ứng xử có văn hóa cho cộng đồng dân cư là nhằm giúp cho người dân

trong cộng đồng có được nhận thức đầy đủ về văn hóa, ứng xử, hành vi ứng

xử văn hóa; có thái độ, tình cảm đúng đắn và rèn luyện cho họ những kĩ năng, hành vi, thói quen tích cực trong giao tiếp, ứng xử, không ngừng hoàn thiện nhân cách của mình nói riêng, góp phần phát triển đời sống văn hóa của cộng đồng dân cư nói chung

Mục đích gáo dục hành vi ứng xử có văn hóa cho cộng đồng dân cư

được cụ thể hóa thành các mục tiêu sau:

- Về kiến thức:Người dân trong cộng đồng biểu được:

Trang 31

+ Những kiến thức cơ bản có liên quan đến văn hóa, ứng xử, hành vi ứng

xử có văn hóa

+ Ý nghĩa và sự cần thiết của việc thực hiện hành vi ứng xử có văn hóa + Các cách thức thực hiện hành vi ứng xử có văn hóa

- Về kĩ năng: Người dân trong cộng đồng có khả năng:

+ Tự nhận xét, đánh giá hành vi ứng xử của bản thân

+ Nhận xét, đánh giá hành vi ứng xử của người khác

+ Xử lí các tình huống liên quan đến giao tiếp, ứng xử

+ Đánh giá được thực trạng hành vi ứng xử của cộng đồng dân cư

+ Thực hiện được các hành động cụ thể để xây dựng và phát triển đời sống văn hóa trong cộng đồng dân cư

- Về thái độ: Người dân trong cộng đồng bày tỏ được những thái độ,

tình cảm:

+ Thái độ tự giác, tích cực thực hiện hành vi ứng xử có văn hóa

+ Đồng tình đối với những hành vi ứng xử có văn hóa; phê phán những hành vi ứng xử thiếu văn hóa

+ Yêu quý, tôn trọng những người xung quanh, yêu quý thiên nhiên, đất nước

1.5.2.2 Nội dung giáo dục môi trường cho cộng đồng dân cư các xã ven biển

Cũng giống như các quá trình giáo dục khác, gáo dục hành vi ứng xử có

văn hóa cho cộng đồng dân cư là quá trình có nội dung cụ thể Nội dung gáo dục hành vi ứng xử có văn hóa cho cộng đồng dân cư là hệ thống tri thức có

liên quan đến môi trường và bảo vệ môi trường mà người dân các xã ven biển cần phải nắm vững để biến nó thành ý thức, thái độ và hành vi cá nhân

Nội dung gáo dục hành vi ứng xử có văn hóa cho cộng đồng dân cư được

cụ thể hóa thành từng mặt phù hợp với trình độ, lứa tuổi, phù hợp với từng tình huống giáo cụ thể

Trang 32

Gáo dục hành vi ứng xử có văn hóa cho cộng đồng dân cư bao gồm

những nội dung cơ bản sau:

- Bồi dưỡng cho cộng đồng dân cư hệ thống kiến thức về văn hóa, ứng

xử, hành vi ứng xử có văn hóa

- Hình thành cho cộng đồng dân cư thói quen thực hiện hành vi ứng xử

có văn hóa

- Giáo dục cho cộng đồng dân cư ý thức tham gia tích cực vào các hoạt

động giữ gìn và phát triển cộng đồng văn hóa tại địa phương

- Giáo dục cho cộng đồng dân cư ý thức tuyên truyền, vận động mọi người

trong gia đình, đoàn thể, làng xóm, địa phương thực hiện hành vi ứng xử có văn hóa ở mọi nơi, mọi lúc, xây dựng cộng đồng văn minh, văn hóa

1.5.2.3 Phương pháp giáo dục hành vi ứng xử văn hóa cho cộng đồng dân cư

Phương pháp giáo dục hành vi ứng xử văn hóa cho cộng đồng dân cư đề

cập đến hệ thống những tác động của các lực lượng giáo dục đến người dân trong cộng đồng thông qua tổ chức các hoạt động đa dạng nhằm giúp họ hình thành ý thức tự giác, thái độ đúng đắn và hành vi ứng xử có văn hóa đối với

tự nhiên, xã hội, đối với người khác và đối với chính bản thân mình Phương

pháp giáo dục hành vi ứng xử văn hóa cho cộng đồng dân cư ở đây về thực

chất là phương pháp tổ chức các hoạt động trong cuộc sống hằng ngày cho cộng đồng dân cư

Chúng ta có thể thấy rằng, phương pháp giáo dục hành vi ứng xử văn

hóa cho cộng đồng dân cư luôn chịu sự chi phối của mục đích, nội dung giáo

dục hành vi ứng xử văn hóa cho cộng đồng dân cư, cùng với những đặc điểm của cộng đồng dân cư Do đó, người làm công tác giáo dục hành vi ứng xử

văn hóa cho cộng đồng dân cư ngoài việc căn cứ vào mục đích, nội dung giáo

dục, còn phải căn cứ vào đặc điểm tâm sinh lí lứa tuổi, giới tính, trình độ nhận thức của cộng đồng dân cư trong các tình huống cụ thể để lựa chọn các

Trang 33

phương pháp giáo dục hành vi ứng xử văn hóa cho cộng đồng dân cư mang

tính phù hợp, hiệu quả

Trong giáo dục hành vi ứng xử văn hóa cho cộng đồng dân cư có thể sử

dụng các phương pháp giáo dục như: phương pháp đàm thoại, phương pháp giảng giải, phương pháp tranh luận, phương pháp nêu gương, phương pháp tổ chức cho người dân tham gia vào các hoạt động thực tiễn; phương pháp khen thưởng, phương pháp trách phạt, phương pháp thi đua

Mỗi phương pháp giáo dục bao giờ cũng có những ưu điểm và tồn tại những nhược điểm Do đó, để giáo dục hành vi ứng xử văn hóa cho cộng

đồng dân cư đạt được hiệu quả cao nhất cần đảm bảo những yêu cầu cần thiết

trong việc lựa chọn và sử dụng phối hợp các phương pháp giáo dục

1.5.3 Các hình thức tổ chức hoạt động gáo dục hành vi ứng xử có văn hóa cho cộng đồng dân cư

1.5.3.1 Các hình thức tổ chức hoạt động gáo dục hành vi ứng xử có văn hóa cho cộng đồng dân cư

Về mặt lí luận, hoạt động là phương tiện hữu hiệu để giáo dục cho con

người Để quá trình giáo dục hành vi ứng xử văn hóa cho cộng đồng dân cư

đạt được chất lượng và hiệu quả, người làm công tác giáo dục cần tổ chức các loại hình hoạt động khác nhau cho người dân trong cộng đồng

Các hoạt động giáo dục hành vi ứng xử văn hóa được tổ chức cho người dân trong cộng đồng theo nhiều hình thức khác nhau Hình thức tổ chức hoạt động thường được hiểu là sự biểu hiện bề ngoài của hoạt động Mỗi hình thức hoạt động giáo dục được tiến hành theo một trình tự xác định

Giáo dục hành vi ứng xử văn hóa cho cộng đồng dân cư có thể được

thực hiện bằng các hình thức tổ chức như:

- Giáo dục hành vi ứng xử văn hóa cho cộng đồng dân cư thông qua

hoạt động tuyên truyền giáo dục về văn hóa, ứng xử, hành vi ứng xử có văn hóa thông qua các phương tiện thông tin đại chúng;

- Giáo dục hành vi ứng xử văn hóa cho cộng đồng dân cư thông qua các

Trang 34

buổi tọa đảm, hội thảo, sinh hoạt chuyên đề về về văn hóa, ứng xử, hành vi ứng

xử có văn hóa tại địa phương

- Giáo dục hành vi ứng xử văn hóa cho cộng đồng dân cư thông qua các

hội thi tìm hiểu về văn hóa, ứng xử, hành vi ứng xử có văn hóa

- Giáo dục hành vi ứng xử văn hóa cho cộng đồng dân cư thông qua hoạt

động khen thưởng và kỉ luật có liên quan đến việc thực hiện hành vi ứng xử

Mỗi hình thức tổ chức giáo dục bao giờ cũng có những ưu điểm và tồn tại những nhược điểm Do đó, để giáo dục hành vi ứng xử văn hóa cho cộng

đồng dân cư đạt được hiệu quả cao nhất cần lựa chọn và sử dụng phối hợp các

hình thức tổ chức giáo dục khác nhau

1.5.3.2 Các chủ thể gáo dục hành vi ứng xử có văn hóa cho cộng đồng dân cư

Người làm công tác giáo dục hành vi ứng xử văn hóa cho cộng đồng dân

cư là chủ thể của quá trình giáo dục và giữ vai trò chủ đạo trong quá trình giáo dục Vai trò chủ đạo trong quá trình giáo dục Họ vừa là người lựa chọn nội dung, phương pháp, các hình thức tổ chức giáo dục và tổ chức, hướng dẫn quá trình giáo dục hành vi ứng xử văn hóa cho cộng đồng dân cư, đồng thời là người tổ chức, thực hiện kiểm tra, đánh giá kết quả của quá trình giáo dục Trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, kinh nghiệm giáo dục hành vi ứng xử văn hóa cho cộng đồng dân cư, cùng với ý thức trách nhiệm trong quá trình công tác của người làm công tác giáo dục ảnh hưởng rất lớn đến người dân trong cộng đồng và quyết định sự thành bại của quá trình giáo dục hành vi ứng xử văn hóa cho cộng đồng dân cư Do đó, những người làm công tác giáo dục hành vi ứng xử văn hóa cho cộng đồng dân cư cần thường xuyên

tu dưỡng đạo đức, nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ và tinh thần trách nhiệm trong công tác giáo dục của mình

Giáo dục hành vi ứng xử văn hóa cho cộng đồng dân cư có nhiều lực lượng tham gia, chúng ta có thể kể đến những lực lượng sau:

- Đội ngũ cán bộ quản lí, giáo viên của các nhà trường

Trang 35

- Lãnh đạo các cấp ủy Đảng, chính quyền địa phương

- Cán bộ Phòng Văn hóa - Thông tin

- Cán bộ Phòng Tư pháp

- Cán bộ công an là đại diện của cơ quan thực thi pháp luật

- Cán bộ cơ quan quân đội

- Cán bộ Hội nông dân

- Cán bộ Hội Liên hiệp phụ nữ

1.6 Các yêu tố ảnh hưởng đến gáo dục hành vi ứng xử có văn hóa cho cộng đồng dân cư

Giáo dục hành vi ứng xử văn hóa cho cộng đồng dân cư chịu ảnh hưởng của các yếu tố cơ bản sau:

- Cơ chế chính sách có liên quan đến gáo dục hành vi ứng xử có văn hóa cho cộng đồng dân cư

- Trình độ chuyên môn nghiệp vụ và ý thức trách nhiệm của các lực lượng gáo dục hành vi ứng xử có văn hóa cho cộng đồng dân cư:

- Nội dung gáo dục hành vi ứng xử có văn hóa cho cộng đồng dân cư

- Phương pháp gáo dục hành vi ứng xử có văn hóa cho cộng đồng dân cư

- Hình thức tổ chức gáo dục hành vi ứng xử có văn hóa cho cộng đồng dân cư

- Hoạt động kiểm tra, đánh giá kết quả gáo dục hành vi ứng xử có văn hóa cho cộng đồng dân cư

- CSVC, trang thiết bị, phương tiện gáo dục hành vi ứng xử có văn hóa cho cộng đồng dân cư

- Kinh phí tổ chức các hoạt động gáo dục hành vi ứng xử có văn hóa cho cộng đồng dân cư

Tính tích cực của người dân trong các hoạt động bảo vệ môi trường

Trang 36

Tiểu kết chương 1

Giáo dục hành vi ứng xử có văn hóa cho cộng đồng dân cư là vấn đề được nhiều nhà khoa học quan tâm, nghiên cứu, tuy nhiên, số lượng và chất lượng các công trình nghiên cứu đã có chưa thực sự tương xứng với vai trò và tầm quan trọng của vấn đề này Trong đó, giáo dục hành vi ứng xử có văn hóa cho cộng đồng dân cư chưa nhận được nhiều sự quan tâm, nghiên cứu của các nhà khoa học

Công tác giáo dục hành vi ứng xử có văn hóa cho cộng đồng dân cư nhằm giúp cho người dân trong cộng đồng có được nhận thức đầy đủ về văn hóa, ứng xử, hành vi ứng xử có văn hóa; có thái độ, tình cảm đúng đắn và rèn luyện cho họ những kĩ năng, hành vi ứng xử tích cực, góp phần phát triển cá nhân và cộng đồng dân cư

Để giáo dục hành vi ứng xử có văn hóa cho cộng đồng dân cư đạt được chất lượng và hiệu quả cần xác định được đầy đủ, đúng đắn các thành tố của quá trình này; đồng thời cần xác định được các yếu tố ảnh hưởng đến quá trình giáo dục hành vi ứng xử có văn hóa cho cộng đồng dân cư

Kết quả nghiên cứu ở chương 1 là cơ sở lí luận quan trọng để chúng tôi tiếp tục nghiên cứu thực trạng và biện pháp giáo dục hành vi ứng xử có văn hóa cho cộng đồng dân cư quận Đồ Sơn, thành phố Hải Phòng ở các chương tiếp theo

Trang 37

Chương 2

THỰC TRẠNG GIÁO DỤC HÀNH VI ỨNG XỬ CÓ VĂN HÓA CHO CỘNG ĐỒNG DÂN CƯ QUẬN ĐỒ SƠN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG 2.1 Sơ lược đặc điểm kinh tế - xã hội của quận Đồ Sơn, thành phố Hải Phòng

* Hành chính

Quận Đồ Sơn có 4.237,29 ha diện tích tự nhiên và 51.417 người Quận

có 7 phường: Bàng La, Hợp Đức, Minh Đức, Ngọc Hải, Ngọc Xuyên, Vạn Hương, Vạn Sơn

* Lịch sử

Biệt thự Bảo Đại tại Đồ Sơn

Đồ Sơn là bãi biển nổi tiếng từ thời nhà Nguyễn và thời Pháp thuộc Cũng được nhắc đến trong truyện Trống mái (1936) của nhà văn Khái Hưng Thị xã Đồ Sơn được thành lập ngày 14 tháng 3 năm 1963 trên cơ sở tách khu vực Đồ Sơn và 2 xã: Vạn Sơn, Ngọc Hải thuộc huyện Kiến Thụy; cũng từ

đó, thành lập 4 phường Vạn Hương, Vạn Sơn, Ngọc Hải, Ngọc Xuyên Ngày 7 tháng 4 năm 1966, chuyển xã Bàng La thuộc huyện Kiến Thụy vào thị

xã Đồ Sơn Ngày 5 tháng 3 năm 1980, sáp nhập vào huyện Kiến Thụy thành huyện Đồ Sơn, gồm 1 thị trấn Đồ Sơn và 24 xã: Bàng La, Anh Dũng, Hưng Đạo, Đa Phúc, Hải Thành, Tân Thành, Hòa Nghĩa, Hợp Đức, Đông Phương,

Trang 38

Đại Đồng, Hữu Bằng, Thuận Thiên, Ngũ Phúc, Kiến Quốc, Thụy Hương, Thanh Sơn, Đại Hà, Ngũ Đoan, Tân Trào, Đoàn Xá, Đại Hợp, Tú Sơn, Tân Phong, Minh Tân Huyện lị đặt tại thị trấn Núi Đối (xã Thanh Sơn - thành lập năm 1986) Tháng 6 năm 1988, tách huyện Đồ Sơn thành hai đơn vị hành chính như cũ là huyện Kiến Thụy và thị xã Đồ Sơn Từ đó, thị xã Đồ Sơn có 4 phường: Ngọc Hải, Vạn Sơn, Vạn Hương, Ngọc Xuyên và 1 xã Bàng La Ngày 12 tháng 9 năm 2007, thị xã Đồ Sơn được nâng cấp lên thành quận Đồ Sơn theo Nghị định số 145/2007/NĐ-CP của Chính phủ Việt Nam (bao gồm

xã Hợp Đức thuộc huyện Kiến Thụy và chia thành 2 phường: Hợp Đức và Minh Đức; chuyển xã Bàng La thành phường Bàng La)

* Điều kiện tự nhiên

Quận Đồ Sơn có diện tích 46,52 km2, dân số trên 48.272 người Hiện nay Hội Nông dân quận có 7 đơn vị khối phường với 81 chi hội, với tổng số hội viên 7.267 người Với xu thế đô thị hóa nhanh, cơ cấu đội ngũ nông dân cũng có chuyển dịch đáng kể theo hướng tăng ở khu vực công nghiệp, dịch vụ

* Tình hình kinh tế

- Giá trị sản xuất công nghiệp: ước đạt 246,3 tỷ đồng, đạt 104,8% kế

hoạch; tăng 18,3% so với cùng kỳ

- Giá trị sản xuất Nông - Lâm - Thủy sản: ước đạt 748,985 tỷ đồng, đạt 100,3% kế hoạch, tăng 4,6% so với cùng kỳ Giá trị sản xuất nông nghiệp: ước

đạt 136,185 tỷ đồng, đạt 100,7% kế hoạch, tăng 3,1% so với cùng kỳ Tổng diện tích cấy lúa cả năm: ước đạt 1.023,2 ha, bằng 99,05% so với cùng kỳ, sản

Trang 39

lượng đạt 6.480 tấn Giá trị sản xuất thủy sản: ước đạt 610,6 tỷ đồng, đạt

100,3% kế hoạch, tăng 4,9% so với cùng kỳ Sản lượng khai thác thủy sản: ước đạt 11.500 tấn, đạt 90% kế hoạch; tăng 11,7% so với cùng kỳ Sản lượng nuôi trồng thuỷ sản: ước đạt 3.220 tấn, đạt 103,9% kế hoạch; tăng 7,3% so với cùng

kỳ Diện tích nuôi trồng thủy sản: ước đạt 410 ha, đạt 100% kế hoạch Giá trị sản xuất lâm nghiệp: ước đạt đạt 2,2 tỷ đồng, đạt 100% kế hoạch, bằng 100%

so với cùng kỳ

- Tổng vốn đầu tư toàn xã hội: ước đạt 1.900 tỷ đồng, đạt 100% so với

kế hoạch, tăng 22,6% so với cùng kỳ

- Tổng lượt khách du lịch: ước đạt 2,565 triệu lượt, đạt 100,58% kế hoạch, tăng 1,78% so với cùng kỳ Tổng mức bán lẻ hàng hóa: ước đạt 1.025

tỷ đồng, đạt 101,5% kế hoạch, tăng 17,8% so với cùng kỳ; Doanh thu các ngành dịch vụ lưu trú và ăn uống ước đạt 830 tỷ đồng, bằng 101,2% kế

hoạch, tăng 17,2% so cùng kỳ

- Tổng thu ngân sách theo phân cấp trên địa bàn: ước đạt 192,6 tỷ đồng,

đạt 143,6% dự toán thành phố, 115,3% dự toán quận phấn đấu, tăng 1,5% so

với cùng kỳ Trong đó, thu cân đối ngân sách: ước đạt 179,568 tỷ đồng, đạt

143,1% dự toán Thành phố; đạt 116,4% dự toán quận phấn đấu, tăng 0,5% so

với cùng kỳ Chi ngân sách địa phương: ước đạt 294,582 tỷ đồng, đạt 134%

dự toán, tăng 63,6% so với cùng kỳ

* Tình hình văn hóa - xã hội

(Nguồn: Báo cáo Tình hình thực hiện nhiệm vụ kinh tế - xã hội năm

2016, Phương hướng, nhiệm vụ và giải pháp năm 2017 của Quận Đồ Sơn,

thành phố Hải Phòng)

- Tỷ lệ tăng dân số tự nhiên: 0,87%, đạt kế hoạch;

- Mức giảm tỷ suất sinh: 0,05%0, đạt kế hoạch;

- Tỷ lệ hộ nghèo ước giảm còn 2,22 %, tỷ lệ hộ cận nghèo ước giảm còn 2,4 % , đạt kế hoạch

Trang 40

- Giải quyết việc làm cho 1.550 lao động đạt 110,7% kế hoạch năm, tăng 1,03% so với cùng kỳ

- Tỷ lệ chất thải rắn được thu gom và xử lý hợp vệ sinh: 99%, (Kế hoạch 100%)

- Tỷ lệ hộ dân được dùng nước hợp vệ sinh: 100%, đạt kế hoạch

2 Tổ chức và phương pháp nghiên cứu thực trạng

2.2.1 Mục đích khảo sát

Nhằm thu thập các số liệu thực tế và khách quan về thực trạng giáo dục hành vi ứng xử có văn hóa cho cộng đồng dân cư

2.2.2 Nội dung khảo sát

Chúng tôi tiến hành khảo sát nhiều nội dung có liên quan đến thực trạng đề tài nghiên cứu, trong đó, ba nội dung khảo sát chính bao gồm:

- Khảo sát thực trạng nhận thức về giáo dục hành vi ứng xử có văn hóa cho cộng đồng dân cư quận Đồ Sơn, thành phố Hải Phòng

- Khảo sát thực trạng thực hiện giáo dục hành vi ứng xử có văn hóa cho cộng đồng dân cư quận Đồ Sơn, thành phố Hải Phòng

- Khảo sát thực trạng các yếu tố ảnh hưởng đến giáo dục hành vi ứng xử

có văn hóa cho cộng đồng dân cư quận Đồ Sơn, thành phố Hải Phòng

2.2.3 Đối tượng khảo sát

Chúng tôi tiến hành khảo sát trên 50 cán bộ thuộc các cơ quan, ban, ngành, Đoàn thể và 88 người dân tại quận Đồ Sơn, thành phố Hải Phòng

Ngày đăng: 22/06/2017, 11:38

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2.1 Nhận thức về tầm quan trọng của hành vi ứng xử có văn hóa đối với - Giáo dục hành vi ứng xử có văn hoá cho cộng đồng dân cư quận Đồ Sơn thành phố Hải Phòng
Bảng 2.1 Nhận thức về tầm quan trọng của hành vi ứng xử có văn hóa đối với (Trang 41)
Bảng 2.2. Đánh giá về tình trạng hành vi ứng xử của động đồng dân cư tại - Giáo dục hành vi ứng xử có văn hoá cho cộng đồng dân cư quận Đồ Sơn thành phố Hải Phòng
Bảng 2.2. Đánh giá về tình trạng hành vi ứng xử của động đồng dân cư tại (Trang 42)
Bảng 2.4. Nhận thức về tầm quan trọng của giáo dục hành vi ứng xử có văn hóa - Giáo dục hành vi ứng xử có văn hoá cho cộng đồng dân cư quận Đồ Sơn thành phố Hải Phòng
Bảng 2.4. Nhận thức về tầm quan trọng của giáo dục hành vi ứng xử có văn hóa (Trang 44)
Bảng 2.6. Thực trạng thực hiện giáo dục hành vi ứng xử có văn hóa cho cộng - Giáo dục hành vi ứng xử có văn hoá cho cộng đồng dân cư quận Đồ Sơn thành phố Hải Phòng
Bảng 2.6. Thực trạng thực hiện giáo dục hành vi ứng xử có văn hóa cho cộng (Trang 47)
Hình  thành  cho  cộng  đồng  dân - Giáo dục hành vi ứng xử có văn hoá cho cộng đồng dân cư quận Đồ Sơn thành phố Hải Phòng
nh thành cho cộng đồng dân (Trang 48)
Bảng 2.8. Thực trạng các hình thức giáo dục hành vi ứng xử có văn hóa cho - Giáo dục hành vi ứng xử có văn hoá cho cộng đồng dân cư quận Đồ Sơn thành phố Hải Phòng
Bảng 2.8. Thực trạng các hình thức giáo dục hành vi ứng xử có văn hóa cho (Trang 49)
Bảng 2.9.Các lực lượng tham gia giáo dục hành vi ứng xử có văn hóa cho - Giáo dục hành vi ứng xử có văn hoá cho cộng đồng dân cư quận Đồ Sơn thành phố Hải Phòng
Bảng 2.9. Các lực lượng tham gia giáo dục hành vi ứng xử có văn hóa cho (Trang 50)
Bảng 2.12.Thực trạng kết quả giáo dục hành vi ứng xử có văn hóa cho - Giáo dục hành vi ứng xử có văn hoá cho cộng đồng dân cư quận Đồ Sơn thành phố Hải Phòng
Bảng 2.12. Thực trạng kết quả giáo dục hành vi ứng xử có văn hóa cho (Trang 53)
Bảng 2.14. Đánh giá của người dân trong cộng đồng về mức độ ảnh hưởng   của các yếu tố đối với kết quả giáo dục hành vi văn hóa ứng xử cho cộng đồng - Giáo dục hành vi ứng xử có văn hoá cho cộng đồng dân cư quận Đồ Sơn thành phố Hải Phòng
Bảng 2.14. Đánh giá của người dân trong cộng đồng về mức độ ảnh hưởng của các yếu tố đối với kết quả giáo dục hành vi văn hóa ứng xử cho cộng đồng (Trang 55)
Hình  thức  tổ  chức  gáo  dục - Giáo dục hành vi ứng xử có văn hoá cho cộng đồng dân cư quận Đồ Sơn thành phố Hải Phòng
nh thức tổ chức gáo dục (Trang 56)
Bảng 3.2. Tính khả thi của các bi ện pháp giáo dục hành vi ứng xử có văn  hóa cho cộng đồng dân cư quận Đồ Sơn, thành phố Hải Phòng - Giáo dục hành vi ứng xử có văn hoá cho cộng đồng dân cư quận Đồ Sơn thành phố Hải Phòng
Bảng 3.2. Tính khả thi của các bi ện pháp giáo dục hành vi ứng xử có văn hóa cho cộng đồng dân cư quận Đồ Sơn, thành phố Hải Phòng (Trang 75)
2  Hình thành cho cộng đồng dân cư thói quen thực - Giáo dục hành vi ứng xử có văn hoá cho cộng đồng dân cư quận Đồ Sơn thành phố Hải Phòng
2 Hình thành cho cộng đồng dân cư thói quen thực (Trang 88)
Hình  thức  tổ  chức  gáo  dục  hành  vi - Giáo dục hành vi ứng xử có văn hoá cho cộng đồng dân cư quận Đồ Sơn thành phố Hải Phòng
nh thức tổ chức gáo dục hành vi (Trang 93)
2  Hình thành cho cộng đồng dân cư thói quen thực - Giáo dục hành vi ứng xử có văn hoá cho cộng đồng dân cư quận Đồ Sơn thành phố Hải Phòng
2 Hình thành cho cộng đồng dân cư thói quen thực (Trang 97)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w