Xuất phát từ những lí do trên, tác giả chọn đề tài: "Quản lí bồi dưỡng năng lực nghề nghiệp cho đội ngũ giáo viên trường tiểu học quận Thanh Xuân, Hà Nội trong bối cảnh đổi mới giáo dụ
Trang 1UNESCO đã nói về vị thế quan trọng của nhà giáo như sau: “Sự tiến bộ trong
giáo dục phụ thuộc phần lớn vào trình độ và năng lực của đội ngũ nhà giáo nói chung và phẩm chất về mặt nhân văn, sư phạm và kĩ thuật của cá nhân nhà giáo (109, Điều 4) Đảng và Nhà nước ta luôn đề cao vị trí, vai trò của
đội ngũ giáo viên, xem giáo viên như là khâu then chốt để đổi mới hệ thống
giáo dục Văn kiện Đại hội Đảng lần thứ XI năm 2011 đã xác định: “Đổi mới
căn bản, toàn diện nền giáo dục Việt Nam theo hướng chuẩn hóa, hiện đại hóa, xã hội hóa, dân chủ hóa và hội nhập quốc tế, trong đó, đổi mới cơ chế quản lí giáo dục, phát triển đội ngũ giáo viên và cán bộ quản lí giáo dục là khâu then chốt” [9]
1.2 Bước vào thế kỉ 21, với sự phát triển nhanh chóng của tri thức nhân loại trên mọi lĩnh vực, người giáo viên cần phải được cập nhật kiến thức, kĩ năng để đáp ứng yêu cầu đổi mới dạy học và dạy học có hiệu quả Ở Việt Nam, việc bồi dưỡng nâng cao năng lực nghề nghiệp cho đội ngũ giáo viên lại càng cần hơn bao giờ hết khi đất nước đang tiến hành đổi mới căn bản và toàn diện nền giáo dục Một trong những nhiệm vụ trọng tâm của chiến lược phát triển giáo dục là nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên và cán bộ quản lí Để đổi mới căn bản, toàn diện nền giáo dục cần có đội ngũ giáo viên đủ về số lượng, có đạo đức nghề nghiệp, có năng lực chuyên môn đáp ứng yêu cầu mới
1.3 Chất lượng đội ngũ giáo viên phụ thuộc vào chất lượng của quá trình đào tạo ở các trường sư phạm và phụ thuộc vào công tác bồi dưỡng nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ trong quá trình giảng dạy Tuy nhiên, được
Trang 22
đào tạo nghề nghiệp cơ bản trong các trường sư phạm mới chỉ là đào tạo ban đầu để có được những kiến thức và kĩ năng sư phạm cần thiết cho nhiệm vụ dạy học Mặt khác, giáo dục và môi trường giáo dục luôn thay đổi, đòi hỏi người giáo viên phải có những kiến thức và kĩ năng mới Bởi vậy, trong quá trình công tác họ cần thường xuyên phải tích lũy kinh nghiệm, nâng cao năng lực dạy học và giáo dục để thực hiện các mục tiêu giáo dục Trong bối cảnh đổi mới căn bản toàn diện giáo dục và đào tạo, giáo dục phổ thông đang thực hiện bước chuyển từ chương trình giáo dục tiếp cận nội dung sang tiếp cận năng lực người học đòi hỏi người giáo viên không những chỉ có kiến thức, kĩ năng sư phạm cơ bản mà còn phải nắm vững sâu và rộng kiến thức và thành thạo các kĩ năng đó
1.4 Thực tiễn giáo dục của nhà trường trong những năm qua cho thấy, đội ngũ giáo viên nói chung và giáo viên Tiểu học nói riêng, phần lớn có phẩm chất công dân tốt, có tinh thần trách nhiệm, kiên trì, vượt khó vì sự nghiệp giáo dục, đặc biệt là những giáo viên ở vùng khó khăn Tuy nhiên, một số giáo viên đang chỉ dừng lại ở chức năng dạy chữ, dạy kiến thức, nắm được tinh thần, yêu cầu, logic của nội dung dạy học ở sách giáo khoa, nhưng chưa nắm vững tính chỉnh thể của chương trình, thiếu kĩ năng giúp học sinh vận dụng kiến thức môn học vào thực tế, chưa thành thạo trong việc sử dụng các phương pháp dạy học và sử dụng phương tiện dạy học hiện đại, nhất là phương pháp dạy học để phát triển năng lực người học; thiếu kiến thức và kĩ năng đánh giá kết quả giáo dục toàn diện theo tinh thần phát triển năng lực người học Để đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục, đội ngũ giáo viên hiện nay cần được bồi dưỡng để hiểu được những yêu cầu của đổi mới giáo dục, nắm bắt được chương trình sách giáo khoa mới và đặc biệt là phương pháp dạy học
và kiểm tra đánh giá mới nhằm phát triển năng lực của học sinh cũng như có được những kĩ năng cần thiết của giáo viên thế kỉ 21
Trang 33
1.5 Cùng với sự phát triển của giáo dục cả nước, giáo dục của quận
Thanh Xuân những năm gần đây có sự phát triển vượt bậc, luôn đứng trong
“tốp đầu” thành phố Hà Nội về thành tích giáo dục và đào tạo Nhận thức
được tầm quan trọng của công tác bồi dưỡng giáo viên, ngành Giáo dục
Thanh Xuân căn cứ theo Quy chế bồi dưỡng thường xuyên giáo dục mầm
non, phổ thông và giáo dục thường xuyên ban hành kèm theo Thông tư số
26/2012/TT-BGDĐT ngày 10 tháng 7 năm 2012, hàng năm đã triển khai thực
hiện kế hoạch bồi dưỡng cho đội ngũ giáo viên các cấp Nội dung chương
trình bồi dưỡng đối với giáo viên Tiểu học đúng theo quy định trong Chương
trình bồi dưỡng thường xuyên giáo viên Tiểu học ban hành kèm theo Thông
tư số 32/2011/TT-BGDĐT ngày 8 tháng 8 năm 2011 của Bộ trưởng Bộ
GD&ĐT
Nhìn chung, công tác bồi dưỡng giáo viên tuy đã có nhiều cố gắng, nhưng
vẫn còn nhiều bất cập và hạn chế Nội dung bồi dưỡng chưa bám sát nhu cầu
người học, mới tập trung vào một phần của kiến thức môn học, còn nhẹ về kĩ
năng sư phạm Hình thức bồi dưỡng vẫn nghe giảng với số lượng lớn học
viên, phương pháp bồi dưỡng vẫn thuyết trình là chính Vấn đề tự học, tự bồi
dưỡng để nâng cao trình độ, năng lực nghề nghiệp của đội ngũ giáo viên chưa
được tổ chức một cách có hệ thống Đặc biệt, công tác quản lí bồi dưỡng chưa
có những giải pháp mang tính đặc thù theo thực tế địa phương để mang lại
hiệu quả bồi dưỡng như mong muốn
Xuất phát từ những lí do trên, tác giả chọn đề tài: "Quản lí bồi dưỡng
năng lực nghề nghiệp cho đội ngũ giáo viên trường tiểu học quận Thanh
Xuân, Hà Nội trong bối cảnh đổi mới giáo dục” để nghiên cứu, nhằm góp
phần nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên, chất lượng dạy học của các
trường tiểu học quận Thanh Xuân nói riêng và thành phố Hà Nội nói chung
2 Mục đích nghiên cứu
Trang 44
Trên cơ sở nghiên cứu lí luận về quản lí bồi dưỡng năng lực nghề nghiệp cho giáo viên Tiểu học, đánh giá thực trạng quản lí bồi dưỡng năng lực nghề nghiệp cho đội ngũ giáo viên trường Tiểu học quận Thanh Xuân, luận văn đề xuất một số biện pháp quản lí bồi dưỡng năng lực nghề nghiệp cho giáo viên trường Tiểu học nhằm nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục hiện nay
3 Khách thể và đối tượng nghiên cứu
3.1 Khách thể nghiên cứu:
Hoạt động bồi dưỡng năng lực nghề nghiệp cho đội ngũ giáo viên trường Tiểu học
3.2 Đối tượng nghiên cứu:
Biện pháp quản lí bồi dưỡng năng lực nghề nghiệp cho đội ngũ giáo viên trường Tiểu học quận Thanh Xuân, thành phố Hà Nội
4 Giả thuyết khoa học
Trong thời gian qua công tác quản lí bồi dưỡng năng lực nghề nghiệp cho
đội ngũ giáo viên trường Tiểu học đã được thực hiện có hiệu quả, nhưng đứng trước yêu cầu đổi mới giáo dục một cách toàn diện như hiện nay vẫn còn bộc
lộ bất cập và hạn chế Nếu nghiên cứu đề xuất và áp dụng các biện pháp quản
lí bồi dưỡng năng lực nghề nghiệp cho giáo viên trường Tiểu học phù hợp hơn với yêu cầu đổi mới giáo dục, phù hợp với điều kiện của cơ sở giáo dục
sẽ nâng cao được chất lượng đội ngũ giáo viên, từ đó nâng cao chất lượng giáo dục Tiểu học trên địa bàn quận Thanh Xuân, thành phố Hà Nội
5 Nhiệm vụ nghiên cứu
5.1 Nghiên cứu vấn đề lí luận về quản lí bồi dưỡng năng lực nghề nghiệp cho
đội ngũ giáo viên trường Tiểu học
5.2 Đánh giá thực trạng bồi dưỡng năng lực nghề nghiệp của giáo viên Tiểu học và thực trạng quản lí bồi dưỡng năng lực nghề nghiệp cho đội ngũ giáo viên Tiểu học trên địa bàn quận Thanh Xuân, thành phố Hà Nội
Trang 55
5.3 Đề xuất một số biện pháp quản lí bồi dưỡng năng lực nghề nghiệp cho đội ngũ giáo viên trường Tiểu học quận Thanh Xuân, thành phố Hà Nội trong bối cảnh đổi mới giáo dục hiện nay
5.4 Khảo nghiệm tính cần thiết và tính khả thi của biện pháp quản lí bồi dưỡng năng lực nghề nghiệp cho đội ngũ giáo viên trường Tiểu học
7 Phương pháp nghiên cứu
7.1 Nhóm phương pháp nghiên cứu lí luận
- Nghiên cứu các tư liệu, các tài liệu; phân tích và tổng hợp tài liệu; phân loại, hệ thống hóa, khái quát hóa, các tài liệu lí luận, các công trình nghiên cứu, các văn bản liên quan cho việc xây dựng cơ sở lí luận của đề tài
- Các văn bản pháp quy như: chỉ thị, thông tư, quy chế, hướng dẫn, của
Bộ Giáo dục và Đào tạo, Sở Giáo dục và Đào tạo về phát triển năng lực nghề nghiệp cho đội ngũ giáo viên
- Kinh nghiệm thực tế của các nhà nghiên cứu khoa học, các nhà quản lí giáo dục đề cập đến công tác quản lí bồi dưỡng năng lực nghề nghiệp cho đội ngũ giáo viên
7.2 Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn
Trang 6- Phương pháp tổng kết kinh nghiệm: nhằm xác định rõ hiện trạng (điểm mạnh và những hạn chế) về năng lực nghề nghiệp giáo viên Tiểu học từ đó đề xuất các biện pháp bồi dưỡng năng lực đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục
7.3 Nhóm phương pháp xử lí thông tin
Sử dụng các công thức toán thống kê như số trung bình cộng, số trung vị,
hệ số tương quan Spiec man, Pearson, để xử lí kết quả nghiên cứu, trên cơ
sở đó rút ra các nhận xét khoa học về bồi dưỡng năng lực nghề nghiệp và hoạt động quản lí bồi dưỡng năng lực nghề nghiệp cho giáo viên trường tiểu học
8 Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, khuyến nghị, tài liệu tham khảo và các phụ lục, luận văn được trình bày trong 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lí luận về quản lí bồi dưỡng năng lực nghề nghiệp cho
đội ngũ giáo viên trường Tiểu học trong bối cảnh đổi mới giáo dục
Chương 2: Thực trạng quản lí bồi dưỡng năng lực nghề nghiệp cho giáo
viên trường Tiểu học quận Thanh Xuân, thành phố Hà Nội
Chương 3: Biện pháp quản lí bồi dưỡng năng lực nghề nghiệp cho đội
ngũ giáo viên trường Tiểu học quận Thanh Xuân, thành phố Hà Nội trong bối cảnh đổi mới giáo dục
Trang 7
7
Chương 1
CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ QUẢN LÍ BỒI DƯỠNG NĂNG LỰC
NGHỀ NGHIỆP CHO ĐỘI NGŨ GIÁO VIÊN TRƯỜNG TIỂU HỌC
TRONG BỐI CẢNH ĐỔI MỚI GIÁO DỤC 1.1 Tổng quan nghiên cứu vấn đề
1.1.1 Nghiên cứu về quản lí bồi dưỡng giáo viên phổ thông
Công tác quản lí hoạt động bồi dưỡng giáo viên đóng một vai trò hết sức quan trọng trong việc quyết định hiệu quả và chất lượng bồi dưỡng Hàng năm, Bộ GD&ĐT thực hiện các chương trình bồi dưỡng thường xuyên cho giáo viên để nâng cao năng lực chuyên môn nghiệp vụ Thông tư số 26/2012/TT-BGDĐT ngày 10 tháng 7 năm 2012 về việc ban hành Quy chế bồi dưỡng thường xuyên cho giáo viên phổ thông [6], trong đó nhấn mạnh việc quản lí bồi dưỡng thường xuyên, cụ thể: Xây dựng kế hoạch bồi dưỡng thường xuyên theo năm học, bao gồm: kế hoạch của giáo viên, nhà trường, phòng GD&ĐT, Sở GD&ĐT; Tổ chức biên soạn và cung ứng tài liệu bồi dưỡng thường xuyên với nội dung bồi dưỡng ở địa phương; Thực hiện việc thanh, kiểm tra; Bố trí kinh phí và tổng kết báo cáo kết quả bồi dưỡng thường xuyên hàng năm Quy chế quy định việc phân cấp quản lí hoạt động bồi dưỡng, trong đó hiệu trưởng nhà trường đóng một vai trò quan trọng trong việc hướng dẫn giáo viên xây dựng kế hoạch và tổ chức triển khai kế hoạch bồi dưỡng của nhà trường theo thẩm quyền và trách nhiệm được giao
Tác giả Hà Thế Truyền và Đặng Thị Thanh Huyền đã phân tích một trong những năng lực lãnh đạo trường học của hiệu trưởng đáp ứng yêu cầu đổi mới
là: “Hiệu trưởng có kế hoạch tổ chức bồi dưỡng, hỗ trợ chuyên môn cho giáo
viên; khuyến khích giáo viên tích cực học hỏi, thường xuyên dự giờ, trao đổi chia sẻ kinh nghiệm chuyên môn, thiết lập quy trình, công cụ giám sát, đánh giá khen thưởng hợp lí nhằm thúc đẩy giáo viên cải thiện, nâng cao chuyên môn” [32, tr.264-265]
Trang 88
Theo Nguyễn Thị Bình cùng nhóm tác giả: “Công tác quản lí hoạt động
bồi dưỡng phải được hoạch định về kế hoạch, mục tiêu, nội dung, phương thức tổ chức và các điều kiện triển khai hiệu quả Hoạt động bồi dưỡng giáo viên phải được quản lí từ cấp Trung ương đến cấp tỉnh, huyện, trường học Trong đó, cấp Trung ương có vai trò đề xuất chủ trương, hoạch định chính sách, chiến lược, kiểm tra đánh giá; cấp tỉnh, huyện là cấp trung gian; cấp trường quản lí thao tác” [8]
Các tác giả Thái Duy Tuyên và Nguyễn Hồng Sơn chỉ ra rằng: “Để hoạt
động bồi dưỡng có hiệu quả cần thiết lập chính sách bồi dưỡng hợp lí nhằm tạo điều kiện khuyến khích giáo viên tự học, nâng cao trình độ, cần có chính sách khen thưởng để để động viên khuyến khích giáo viên tham gia bồi dưỡng” [30]
Tác giả Lục Thị Nga cho rằng: Tự bồi dưỡng là một trong những phương thức quan trọng nhất để nâng cao năng lực nghề nghiệp của giáo viên và đưa
ra 5 nhóm giải pháp cơ bản để quản lí tốt hoạt động tự bồi dưỡng: “Nhóm 1:
Đổi mới nhận thức, thái độ của giáo viên về vai trò chủ thể của họ trong hoạt động tự bồi dưỡng nghiệp vụ sư phạm; Nhóm 2: Chuyển giáo viên từ người bị quản lí chuyển thành người tự quản lí hoạt động tự bồi dưỡng nghiệp vụ sư phạm; Nhóm 3: Đa dạng hóa hình thức tổ chức tự bồi dưỡng nghiệp vụ sư phạm của giáo viên; Nhóm 4: Xây dựng điều kiện thuận lợi cho giáo viên tự bồi dưỡng nghiệp vụ sư phạm có hiệu quả; Nhóm 5: Tổ chức cho giáo viên tự giám sát, tự kiểm tra đánh giá hoạt động tự bồi dưỡng, tăng cường giám sát
và động viên khen thưởng kịp thời” [26]
1.1.2 Nghiên cứu về quản lí bồi dưỡng giáo viên tiểu học
Phát triển đội ngũ giáo viên mạnh về số lượng và cả chất lượng là vấn đề cốt lõi của việc phát triển giáo dục Chính vì lẽ đó, vấn đề xây dựng, phát triển đội ngũ luôn được các nhà nghiên cứu, các nhà quản lí giáo dục đề cập trong các công trình nghiên cứu khoa học Giáo trình giảng dạy của trường
Trang 99
Đại học sư phạm Hà Nội, Học viện quản lí giáo dục, Viện khoa học giáo dục,
…cũng đã có những công trình nghiên cứu giảng dạy về chuyên đề phát triển nhân sự trong ngành giáo dục Bên cạnh những tác giả nghiên cứu sâu sắc về các hoạt động bồi dưỡng giáo viên phổ thông kể trên, có một số luận văn thạc
sĩ chuyên ngành quản lí giáo dục cũng đã đề cập đến vấn đề phát triển đội ngũ, bồi dưỡng giáo viên ở các trường Tiểu học như:
1 Nguyễn Thị Thúy: Một số giải pháp quản lí nâng cao chất lượng đội
ngũ giáo viên Tiểu học ở huyện Yên Mỹ, tỉnh Hưng Yên, luận văn Thạc sĩ
QLGD – 2011
2 Bùi Quang Vinh: Quản lí hoạt động bồi dưỡng giáo viên Tiểu học của
Phòng Giáo dục và Đào tạo thành phố Ninh Bình, tỉnh Ninh Bình trong giai đoạn hiện nay, luận văn Thạc sĩ QLGD – 2012
3 Lê Thị Hương: Biện pháp phát triển đội ngũ Cán bộ quản lí giáo dục
trường Tiểu học tỉnh Bắc Ninh đến năm 2020, luận văn Thạc sĩ QLGD –
2013
4 Đào Xuân Thắng: Biện pháp quản lí phát triển đội ngũ giáo viên Tiểu
học huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình đến năm 2020, luận văn Thạc sĩ QLGD
– 2013
5 Phạm Minh Thúy: Phát triển đội ngũ giáo viên Tiểu học trên địa bàn
quận Ba Đình dựa trên chuẩn nghề nghiệp, luận văn Thạc sĩ QLGD – 2013
Trong 5 luận văn nghiên cứu về phát triển về đội ngũ giáo viên Tiểu học nói trên, mỗi đề tài nghiên cứu trên một phạm vi khác nhau, thời gian khác nhau, đối tượng cán bộ quản lí, giáo viên và học sinh khác nhau Kết quả nghiên cứu của các đề tài trên đã phần nào làm sáng tỏ về vấn đề xây dựng và phát triển đội ngũ giáo viên các trường Tiểu học ở các địa phương khác nhau Các biện pháp quản lí hoạt động bồi dưỡng giáo viên được các tác giả đề cập đến gồm:1) Lập kế hoạch thực hiện bồi dưỡng; thiết lập cơ chế bồi dưỡng thống nhất từ trung ương đến địa phương; có chính sách, cơ chế bồi dưỡng
Trang 103) Hoạt động tự bồi dưỡng của giáo viên là rất cần thiết
4) Đổi mới công tác quản lí bồi dưỡng, đa dạng hóa các hình thức bồi dưỡng
Các giải pháp này có thể áp dụng nâng cao chất lượng bồi dưỡng giáo viên Tuy nhiên hiện nay, hình thức bồi dưỡng vẫn chủ yếu tập trung qua các chu kì bồi dưỡng thường xuyên mà chưa chú ý đến hình thức bồi dưỡng bằng công nghệ và thiết bị thông tin hiện đại, cũng như tạo môi trường bồi dưỡng thuận lợi cho giáo viên, chưa chú trọng bồi dưỡng giáo viên các kĩ năng dạy học của thế kỉ 21 nhằm phát triển năng lực người học,…
Những hạn chế nói trên đặt ra những yêu cầu nghiên cứu để cải tiến các hoạt động bồi dưỡng và công tác quản lí bồi dưỡng làm cho công tác này đạt được mục tiêu mong muốn và đặc biệt phù hợp với đặc thù địa phương
1.2 Khái niệm cơ bản của đề tài
1.2.1 Quản lí
Quản lí là một chức năng xuất hiện từ khi có xã hội loài người Khi có một tổ chức – Tập hợp người có một mục tiêu chung kết hợp với nhau thông qua hợp tác và phân công lao động để đạt được mục tiêu đó một cách dễ dàng hơn – thì đã có các hoạt động quản lí và nhà quản lí Marx đã đưa ra một ví dụ sinh động về quản lí một tổ chức qua hình ảnh của một dàn nhạc Ở đây hoạt động chỉ huy của nhạc trưởng là hoạt động quản lí
Trang 1111
Để làm chủ được khái niệm rất rộng và trừu tượng của thuật ngữ “Quản lí” cần xem thêm các định nghĩa khác nhau của nó, theo những cách tiếp cận khác nhau Theo quan điểm chính trị - xã hội: “Quản lí là sự tác động liên tục
có tổ chức, có định hướng của chủ thể (người quản lí, tổ chức quản lí) lên khách thể (đối tượng quản lí) về các mặt chính trị, văn hóa, kinh tế,…bằng một hệ thống các luật lệ, các chính sách, các nguyên tắc, các phương pháp và các biện pháp cụ thể nhằm tạo ra môi trường và điều kiện cho sự phát triển của các đối tượng.”
Các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác – Lênin cho rằng: Quản lí xã hội một cách khoa học là sự tác động có ý thức của chủ thể quản lí đến từng bộ phận hay những hệ thống khác nhau của xã hội trên cơ sở vận dụng đúng đắn những quy luật và xu hướng khách quan vốn có của nó nhằm đảm bảo cho nó hoạt động và phát triển tối ưu theo mục đích đặt ra
Một số tác giả của Việt Nam cho rằng: “Cán bộ quản lí còn được hiểu với nghĩa tương đương như thuật ngữ Manager trong tiếng Anh, đó là người điều hành, nhà quản lí Họ là những người có chức trách và nhiệm vụ điều khiển,
tổ chức và phối hợp thực hiện hoạt động chuyên môn trong một khâu, một công đoạn, một chương trình, dự án…”
Từ các định nghĩa trên ta có thể hiểu khái niệm “Quản lí” như sau: Quản lí bao giờ cũng là hoạt động hướng đích: có mục đích, có tổ chức,
có các tác động tương ứng, phù hợp, nhằm hướng dẫn, điều khiển những đối tượng quản lí để đạt tới những mục tiêu định sẵn
Quản lí có thể là khoa học, là nghệ thuật sử dụng các nguồn lực sao cho
hiệu quả nhất mà chi phí thấp nhất
Quản lí tạo ra mối quan hệ hữu cơ giữa chủ thể quản lí (người quản lí, tổ chức quản lí) và khách thể quản lí (hay còn gọi là đối tượng quản lí) Chủ thể quản lí tạo ra các tác động quản lí, còn khách thể quản lí tạo ra các sản phẩm
Trang 12Tóm lại, ta có thể quan niệm rằng: Quản lí được tiến hành trong một
nhóm tổ chức hay một nhóm xã hội, tức là hoạt động quản lí chỉ cần thiết và tồn tại đối với một nhóm người Quản lí là nghệ thuật thực hiện mục tiêu thông qua người khác Quản lí là phương thức tốt nhất để đạt được mục tiêu chung của một nhóm người, một tổ chức hay một cơ quan
1.2.2 Bồi dưỡng
Theo quan niệm của UNESCO thì bồi dưỡng với ý nghĩa nâng cao năng lực nghề nghiệp, quá trình này chỉ diễn ra khi cá nhân và tổ chức có nhu cầu nâng cao kiến thức hoặc kĩ năng chuyên môn nghiệp vụ của bản thân nhằm đáp ứng nhu cầu lao động nghề nghiệp
Theo Từ điển Giáo dục học của Nhà xuất bản Từ điển Bách khoa [20,tr.30] định nghĩa bồi dưỡng như sau:
- Bồi dưỡng (theo nghĩa rộng): là quá trình giáo dục, đào tạo nhằm hình
thành nhân cách và những phẩm chất riêng biệt của nhân cách theo hướng mục đích đã chọn
- Bồi dưỡng (theo nghĩa hẹp): Trang bị thêm kiến thức, kĩ năng nhằm mục
đích nâng cao và hoàn thiện năng lực hoạt động trong các lĩnh vực cụ thể
Trong luận văn này, tác giả cho rằng: Bồi dưỡng là hoạt động tổ chức
nhằm trang bị thêm kiến thức, kĩ năng giúp hoàn thiện và nâng cao năng lực nghề nghiệp trong công tác của người giáo viên tiểu học trong bối cảnh đổi mới giáo dục
Trang 1313
Tác giả Nguyễn Minh Đường cho rằng: “Bồi dưỡng có thể coi là quá trình cập nhật kiến thức và kĩ năng còn thiếu hoặc đã lạc hậu trong một cấp học, một bậc học và thường được xác định bằng một chứng chỉ” [16,tr.13]
Từ các luận điểm trên, tác giả cho rằng khái niệm bồi dưỡng được nhìn nhận theo nhiều góc độ và mức độ rộng hẹp khác nhau, nhưng chung quy lại
có thể coi Bồi dưỡng chính là quá trình bổ sung, cập nhật kiến thức và kĩ
năng nhằm nâng cao tay nghề cho người lao động, đáp ứng một cách tốt nhất yêu cầu năng lực chuyên môn, nghiệp vụ của mỗi cá nhân gắn liền với sự phát triển của tổ chức
Như vậy, bồi dưỡng được hiểu là quá trình học tập của mỗi người diễn ra đồng thời với hoạt động nghề nghiệp, là quá trình đào tạo và tự đào tạo trong thời gian làm việc, gắn với ý nghĩa học tập suốt đời Đây là một nhu cầu tất yếu để nâng cao năng lực của mỗi cá nhân đáp ứng yêu cầu công tác của mình Việc đào tạo trong các nhà trường chỉ là đào tạo ban đầu, theo sự phát triển của xã hội, mỗi người lao động nghề nghiệp cần phải bổ sung thêm những kiến thức, kĩ năng còn thiếu hoặc những kiến thức, kĩ năng mới theo sự đòi hỏi trình độ chuyên môn, nghiệp vụ của mỗi ngành, mỗi nghề gắn liền với
sự phát triển của tổ chức
1.2.3 Năng lực
Năng lực (competency) là một thuật ngữ được dùng phổ biến ở trong khoa học và cả trong cuộc sống hàng ngày Có nhiều cách tiếp cận khái niệm này, chẳng hạn:
Theo Từ điển Tiếng Việt năm 1996: “Năng lực là phẩm chất tâm lí, sinh lí tạo ra cho con người khả năng hoàn thành một loạt hoạt động nào đó với chất lượng cao hay năng lực là khả năng, điều kiện chủ quan hoặc tự nhiên sẵn có
để thực hiện một hoạt động nào đó”.[27] Mỗi người có một năng lực riêng bắt nguồn từ tâm, sinh lí và quá trình rèn luyện, học tập mà tạo nên thể hiện qua kết quả hoạt động thể lực, trí lực và nghề nghiệp của mỗi cá nhân
Trang 1414
Theo Từ điển tâm lí học của Vũ Dũng năm 2008: “Năng lực là tập hợp các tính chất hay phẩm chất của tâm lí cá nhân, đóng vai trò là điều kiện bên trong, tạo điều kiện thuận lợi cho việc thực hiện tốt một dạng hoạt động nhất định” [11] Năng lực là gắn liền với những đặc điểm riêng và khả năng của mỗi người Điều kiện bên trong được hiểu gồm tri thức, kĩ năng, kĩ xảo, kinh nghiệm, động cơ và ý chí của mỗi cá nhân
Năng lực mang dấu ấn cá nhân, khi nói đến năng lực một cách cụ thể đó
là khả năng hoàn thành công việc tốt nhất Tác giả Phạm Thị Minh Hạnh cho rằng “Người có năng lực là người đạt hiệu suất và chất lượng hoạt động cao trong các hoàn cảnh khách quan và chủ quan như nhau” [19]
Từ những nhận xét và phân tích trên, theo tác giả: Năng lực là tổng thể
những phẩm chất tâm lí, sinh lí, tri thức, kĩ năng, thái độ và kinh nghiệm của một cá nhân có khả năng hoàn thành một hoạt động với chất lượng cao
cơ sở hiểu biết, kĩ năng, kĩ xảo và kinh nghiệm cũng như sự sẵn sàng hành động Mô hình cấu trúc năng lực nghề nghiệp bao gồm bốn thành phần cơ bản: Năng lực chuyên môn, năng lực phương pháp, năng lực xã hội và năng lực riêng, hay nói cách khác: bốn thành phần năng lực này “gặp” nhau tạo thành năng lực nghề nghiệp
Tác giả Phạm Tất Dong định nghĩa: Năng lực nghề nghiệp là sự tương ứng giữa những đặc điểm tâm sinh lí của con người với những yêu cầu do nghề đặt ra [6, tr.72]
Trang 1515
Trong giáo dục, thuật ngữ “năng lực nghề nghiệp” dùng để mô tả khả năng thực hiện nhiệm vụ của nghề đạt các tiêu chuẩn về năng lực được xác định đối với vị trí làm việc Quan niệm này đòi hỏi một nhà giáo dục/nhà sư phạm cần sử dụng hiệu quả các nguồn kiến thức, kĩ năng cùng với thái độ, giá trị, trách nhiệm bản thân để thực hiện thành công các nhiệm vụ dạy học, giáo dục học sinh và giải quyết các vấn đề phát sinh trong thực tiễn triển khai hoạt động giáo dục trong điều kiện cụ thể của môi trường hoạt động và trong bối cảnh thay đổi Năng lực của một nhà giáo dục là tổ hợp các kiến thức, kĩ năng
và thái độ mà người đó tích lũy được trong quá trình được đào tạo và trải nghiệm nghề giáo viên và vận dụng để thực hiện một nhiệm vụ giáo dục hay triển khai các hoạt động sư phạm trong quá trình thực hiện giáo dục người học trong một bối cảnh nhất định Để thực hiện một nhiệm vụ, một công việc của một nhà giáo dục có thể đòi hỏi nhiều năng lực khác nhau như: năng lực chuyên môn, năng lực dạy học, để cá nhân đó khi giải quyết các vấn đề của hoạt động nghề giáo viên một cách có hiệu quả
Năng lực nghề nghiệp được xem như là sự tích hợp sâu sắc giữa các thành
tố kiến thức – kĩ năng – thái độ làm nên khả năng để thực hiện một công việc hay nhiệm vụ trong thực tiễn hoạt động nghề nghiệp Các thành tố này không tồn tại riêng lẻ mà chúng hòa quyện, đan xen vào nhau tạo nên một cấu trúc là một tổ hợp những thành tố quan hệ chặt chẽ với nhau để tạo ra một thể thống nhất toàn vẹn Năng lực nói chung và năng lực nghề nghiệp nói riêng vốn không có sẵn trong con người, không phải là những phẩm chất bẩm sinh mà
nó được hình thành và phát triển qua hoạt động học tập, lao động và trong hoạt động nghề nghiệp Trong quá trình làm việc, năng lực này tiếp tục được phát triển và hoàn thiện
Như vậy, bất cứ năng lực nghề nghiệp nào cũng đều tích hợp kiến thức,
kĩ năng và thái độ: các năng lực thực hành, giao tiếp, giải quyết vấn đề và các
kĩ năng trí tuệ; thái độ lao động nghề nghiệp; khát vọng học tập và cải thiện;
Trang 1616
khả năng thích ứng để thay đổi; khả năng áp dụng kiến thức vào công việc; ý thức và khả năng hợp tác, làm việc cùng với người khác trong tổ, nhóm Trong đó các thành tố kĩ năng thực hành là biểu hiện cao nhất của năng lực nghề nghiệp Quá trình hình thành năng lực nghề nghiệp phải gắn với luyện tập, thực hành theo các công việc thuộc nghề nào đó và đảm bảo thực hiện với chất lượng cao và có hiệu quả
Mặc dù có nhiều quan niệm khác nhau nhưng hầu hết các khái niệm đều
có chung một số quan điểm: Năng lực nghề nghiệp bao gồm một loạt các kiến thức, kĩ năng, thái độ hay các đặc tính cá nhân khác cần thiết để thực hiện công việc thành công và sự áp dụng các kiến thức và kĩ năng đó trong việc thực hiện công việc đạt tiêu chuẩn theo yêu cầu Từ những quan niệm ở trên, khái niệm “năng lực nghề nghiệp” dùng trong nghiên cứu của luận văn này
được hiểu như sau: Năng lực nghề nghiệp là các tổ hợp của ba thành tố kiến
thức, kĩ năng và thái độ nghề nghiệp mà mỗi cá nhân cần có để hoàn thành được những nhiệm vụ và công việc của mỗi nghề đạt chuẩn quy định trong những điều kiện nhất định
1.2.5 Năng lực nghề nghiệp của giáo viên tiểu học
Theo cách hiểu truyền thống, năng lực của giáo viên nói chung và giáo viên Tiểu học nói riêng được biểu hiện qua kết quả lao động sư phạm và được đánh giá theo các tiêu chuẩn, tiêu chí cơ bản của viên chức giáo viên phổ thông bao gồm: phẩm chất và năng lực (hay còn gọi là đức và tài) là hai bộ phận có quan hệ mật thiết với nhau, chúng tạo nên cấu trúc nhân cách của người giáo viên Nói đến phẩm chất là nói đến hệ thống những thuộc tính tâm
lí biểu hiện các mối quan hệ xã hội cụ thể của mỗi người, thường được biểu hiện ở thái độ, hành vi ứng xử Khi nói đến năng lực là nói đến những thuộc tính cá nhân tạo cho con người khả năng hoàn thành một loại hoạt động nào
đó với chất lượng cao Phẩm chất và năng lực luôn hòa quyện vào nhau, chi phối lẫn nhau Phẩm chất của người giáo viên bao gồm các thành tố: thế giới
Trang 1717
quan (đó là thành tố nền tảng, định hướng thái độ, hành vi ứng xử của giáo viên trước các vấn đề của tự nhiên, xã hội, nghề nghiệp), lòng yêu mến học sinh (một phẩm chất đạo đức cao quý của con người và một phẩm chất đặc trưng trong cấu trúc nhân cách của người giáo viên) và lòng yêu nghề Còn năng lực của Giáo viên Tiểu học bộc lộ trong các lĩnh vực hoạt động (giảng dạy, phát triển chuyên môn, phát triển nghề nghiệp) và gắn với một số kĩ năng tương ứng
Theo mô hình năng lực, năng lực nghề nghiệp giáo viên Tiểu học là một
tổ hợp giữa các kiến thức, kĩ năng, thái độ (động lực, niềm tin, giá trị và lợi ích của mỗi cá nhân), chúng được chuyển hóa thành năng lực hoạt động cụ thể của cá nhân nhằm giúp cho giáo viên thực hiện các vai trò nhà sư phạm, nhà khoa học, chuyên gia qua việc tổ chức thành công, hiệu quả các hoạt động dạy học, giáo dục, hoạt động thực hành cho học sinh theo các yêu cầu đặt ra đối với từng nội dung hoạt động nhằm đạt được mục tiêu giáo dục cho học sinh trong nhà trường Khác với quan niệm về năng lực giáo viên truyền thống cả hai nhân tố phẩm chất và năng lực hòa trộn vào nhau
+ Kiến thức nghề (Knowledge):
Hoạt động chủ đạo của người giáo viên là giảng dạy, truyền đạt kiến thức
của mình tới học sinh, vì vậy người giáo viên phải nắm vững hệ thống kiến thức chuyên sâu về các môn học và chương trình lớp học được phân công giảng dạy, kiến thức về người học cũng như khả năng sư phạm và hiểu biết các lĩnh vực xã hội
+ Kĩ năng nghề nghiệp (Skills):
Kĩ năng nghề nghiệp là một thành phần quan trọng tạo nên năng lực sư
phạm để giúp giáo viên đạt hiệu quả cao trong quá trình hoạt động sư phạm, bao hàm kĩ năng giảng dạy, kĩ năng giáo dục, kĩ năng ứng dụng công nghệ thông tin vào giảng dạy, kĩ năng hoạt động xã hội và nhiều kĩ năng bổ trợ
Trang 1818
khác Kĩ năng nghề của người giáo viên được hình thành và phát triển trong quá trình đào tạo và hoạt động nghề nghiệp giáo viên
+ Thái độ đối với nghề (Attitudes):
Tác giả Nguyễn Minh Đường cho rằng “thái độ” của người giáo viên chính là phẩm chất (đạo đức nghề nghiệp) trong cấu trúc nhân cách của người giáo viên Đạo đức nghề nghiệp là phẩm chất quan trọng hành đầu đối với người giáo viên, nó là nền tảng, động lực thôi thúc trách nhiệm, nhiệt huyết để mỗi nhà giáo phấn đấu hoàn thành sự nghiệp của mình với nghề cao quý trong
xã hội, với nhiệm vụ cao cả là “dạy chữ” và “dạy người” Người giáo viên cần
có phẩm chất tốt Đó là lòng yêu nghề, tâm huyết và trách nhiệm với những nhiệm vụ mà nghề nghiệp đặt ra, thương yêu, tôn trọng, đối xử công bằng với học sinh, công bằng trong giảng dạy và giáo dục, đánh giá đúng thực chất năng lực của người học, có tinh thần đoàn kết, hợp tác, chia sẻ và giúp đỡ đồng nghiệp trong quá trình thực hiện nhiệm vụ giáo dục, đào tạo; có ý thức xây dựng tập thể; có lối sống lành mạnh, có tác phong mẫu mực, làm việc khoa học
Thước đo về năng lực nghề nghiệp, hay “định lượng hóa” năng lực nghề nghiệp bằng Chuẩn nghề nghiệp Trước bối cảnh đổi mới giáo dục đòi hỏi người giáo viên Tiểu học phải có thêm những năng lực mới để thực hiện dạy học, giáo dục theo hướng phát triển năng lực người học Vì vậy, Chuẩn nghề nghiệp giáo viên Tiểu học (2007) cần phải được điều chỉnh và bổ sung những tiêu chuẩn, tiêu chí mới đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục
1.3 Giáo dục tiểu học trong hệ thống giáo dục quốc dân
1.3.1 Mục tiêu của giáo dục tiểu học
Theo Khoản 2 Điều 27 Luật Giáo dục thì mục tiêu của Giáo dục Tiểu học
là: “Giáo dục Tiểu học nhằm giúp học sinh hình thành những cơ sở ban đầu
cho sự phát triển đúng đắn và lâu dài về đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mĩ và các kĩ năng cơ bản để học sinh tiếp tục học trung học cơ sở.”
Trang 19- Chuẩn bị tốt cho học sinh Tiểu học tiến đến 100% học 2 buổi/ngày
- Thực hiện dạy học theo chương trình sách giáo khoa mới, đổi mới phương pháp dạy và học
- Dạy đủ các môn bắt buộc và tự chọn
- Xây dựng và đánh giá trường Tiểu học theo chuẩn quốc gia ở mức độ 1, tiến đến mức độ 2, xây dựng các điều kiện đảm bảo cho việc giáo dục – đào
tạo học sinh về các mặt: đức, trí, thể, mĩ,… và các kĩ năng cơ bản
1.3.2 Vai trò của giáo dục tiểu học trong hệ thống giáo dục quốc dân
Điều 2 Luật phổ cập giáo dục đã nêu: “Giáo dục tiểu học là bậc học nền
tảng của hệ thống giáo dục quốc dân…” Bậc Tiểu học là bậc học đầu tiên
của hệ thống giáo dục, bậc học đào tạo những cơ sở ban đầu cơ bản và bền vững cho trẻ tiếp tục học lên bậc học trên, giúp trẻ hình thành những cơ sở ban đầu, những đường nét cơ bản của nhân cách Do vậy giáo dục ở bậc Tiểu học có tính chất đặc biệt, có bản sắc riêng, với tính sư phạm đặc trưng
Theo Khoản a Điều 26 Luật Giáo dục thì: “Giáo dục Tiểu học được thực
hiện trong năm năm học, từ lớp một đến lớp năm Tuổi của học sinh vào học lớp một là sáu tuổi.” Đây là cấp học bắt buộc đối với mọi công dân
Trong hệ thống giáo dục quốc dân, Giáo dục Tiểu học có một vị trí đặc biệt quan trọng, bởi đây là bậc học “nền móng” để xây dựng một “ngôi nhà
mới - con người mới” Đối tượng của bậc học này là trẻ em chập chững cắp
sách đến trường để học những lễ nghi, ứng xử ở nhà trường, gia đình và xã hội; những kiến thức văn hoá và khoa học cơ bản đầu tiên Các em đến trường với tuổi thơ tràn đầy sức sống và với tâm hồn trong trắng Trách nhiệm của thầy cô và nhà trường là không chỉ giữ cho những tâm hồn ấy mãi trong sáng,
Trang 2020
mà còn dạy dỗ, rèn luyện, hun đúc và ươm mầm ước mơ để mai sau các em sẽ trở thành những công dân có đức có tài phục vụ đất nước, phục vụ nhân dân Bậc Tiểu học - bậc học đầu tiên gánh vác nhiệm vụ lớn lao ấy Thầy cô giáo Tiểu học là người thầy đầu tiên thực hiện sứ mạng rất đỗi thiêng liêng và vinh quang ấy nên phải là người tài đức vẹn toàn; có tình thương yêu, lòng tin và
sự tôn trọng đối với các em; đối xử công bằng, dân chủ và tế nhị với tất cả các
em Với các em học sinh Tiểu học, thầy cô giáo là thần tượng, là tấm gương sáng soi đường cho các em đến tương lai
1.3.3.Nội dung chương trình giáo dục Tiểu học
Theo Khoản 1 Điều 28 Luật Giáo dục (2009) thì nội dung của Giáo dục
Tiểu học là: “Giáo dục Tiểu học phải đảm bảo cho học sinh có hiểu biết đơn
giản, cần thiết về tự nhiên, xã hội và con người; có kĩ năng cơ bản về nghe, nói, đọc, viết và tính toán; có thói quen rèn luyện thân thể, giữ gìn vệ sinh; có hiểu biết ban đầu về hát, múa, âm nhạc, mĩ thuật.”
Chương trình giáo dục Tiểu học có các môn học bắt buộc sau: Toán, Tiếng Việt, Tự nhiên và xã hội (lớp 1, 2, 3), Khoa học (lớp 4, 5), Lịch sử và Địa lí (lớp 4, 5), Âm nhạc, Mĩ thuật, Thể dục; Môn tự chọn gồm có: Tin học (lớp 3, 4, 5), Ngoại ngữ (lớp 3, 4, 5) Hiện nay, một số trường tổ chức các chương trình liên kết giảng dạy Ngoại ngữ có yếu tố nước ngoài cho học sinh
từ lớp 1 đến lớp 5
Phân phối chương trình các môn ở Tiểu học theo quyết định số 16/2006/QĐ-BGD&ĐT ngày 5/5/2006 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo
Kế hoạch giáo dục tiểu học trong 1 năm học gồm: (Đây là kế hoạch dạy
học tối thiểu)
+ Biên chế năm học: 35 tuần
Trang 2121
+ Số ngày học trong tuần: 5 ngày (số buổi học tối thiểu là 5 buổi,
khuyến khích các trường dạy học nhiều hơn 5 buổi để tiến tới học 2 buổi/ngày
+ Có chỉ dẫn về cách đánh giá kết quả học tập của HS:
- Các môn Toán, Tiếng Việt, Khoa học, Lịch sử và Địa Lý, Tự chọn (Ngoại ngữ, Tin học) đánh giá bằng cho điểm bài kiểm tra định kì giữa học kì (lớp 4, 5) và cuối học kì (lớp 1 – 5) kết hợp với nhận xét của giáo viên
- Các môn học còn lại đánh giá bằng nhận xét của GV
1.4 Năng lực nghề nghiệp của giáo viên Tiểu học trong bối cảnh đổi mới
giáo dục
1.4.1 Yêu cầu đổi mới giáo dục
Nghị quyết số 29 – NQ/TW ngày 4 tháng 11 năm 2013 cả Ban chấp hành Trung ương Đảng về đổi mới căn bản, toàn diện Giáo dục và Đào tạo, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa – hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng XHCN và hội nhập quốc tế Quan điểm chỉ đạo của Đảng: “Đổi mới căn bản, toàn diện Giáo dục và Đào tạo là đổi mới những vấn đề lớn, cốt lõi, cấp thiết, từ quan điểm, tư tưởng chỉ đạo đến mục tiêu, nội dung, phương pháp, cơ chế, chính sách, điều kiện đảm bảo thực hiện; đổi mới từ sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lí của Nhà nước đến hoạt động quản trị của các cơ sở giáo dục – đào tạo và việc tham gia của gia đình, cộng đồng, xã hội và bản thân người học; đổi mới ở tất cả các bậc học, ngành học Trong quá trình đổi mới,
Trang 2222
cần kế thừa, phát huy những thành tựu, phát triển những nhân tố mới, tiếp thu
có chọn lọc những kinh nghiệm của thế giới; kiên quyết chấn chỉnh những nhận thức, việc làm lệch lạc Đổi mới phải bảo đảm tính hệ thống, tầm nhìn dài hạn, phù hợp với từng loại đối tượng và cấp học; các giải pháp phải đồng
bộ, khả thi, có trọng tâm, trọng điểm, lộ trình, bước đi phù hợp.” [29]
Mục tiêu tổng quát và những nội dung cốt lõi đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo là:
Giáo dục con người Việt Nam phát triển toàn diện
Xây dựng nền giáo dục mở, dân chủ, thực học, thực nghiệp (dạy và học thực chất, học đi đôi với hành), có cơ cấu và phương thức hợp lý, gắn với xã hội học tập; bảo đảm các điều kiện nâng cao chất lượng Chuẩn hóa hệ thống giáo dục, hội nhập quốc tế nhưng vẫn giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa
và mang đậm bản sắc dân tộc
Cần chuyển mạnh quá trình giáo dục từ truyền thụ kiến thức sang phát triển toàn diện năng lực và phẩm chất, phát huy tính tích cực, chủ động sáng tạo cho người học
Đổi mới nội dung giáo dục và đào tạo theo hướng tinh giản, cơ bản, hiện đại, phù hợp với thực tiễn Việt Nam, gắn lý thuyết với thực hành ứng dụng, phù hợp với từng cấp, bậc học
Đổi mới phương thức kiểm tra, thi, đánh giá chất lượng giáo dục bảo đảm trung thực, tin cậy; đánh giá kết quả hình thành năng lực, phẩm chất chứ không dừng lại ở đánh giá mức độ lĩnh hội kiến thức của người học
Giải pháp then chốt và khâu đột phá để thực hiện đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo.
Gồm 3 vấn đề: đổi mới tư duy giáo dục; đổi mới quản lý giáo dục và phát triển đội ngũ nhà giáo, cán bộ quản lý giáo dục đáp ứng yêu cầu; Đổi mới kiểm tra, thi và đánh giá kết quả giáo dục là khâu đột phá
Trang 2323
Trong các nhiệm vụ, giải pháp trên, nhiệm vụ và giải pháp “Phát triển đội
ngũ nhà giáo và cán bộ quản lí giáo dục đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục”
nhằm xây dựng đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lí giáo dục đủ về số lượng,
đồng bộ về cơ cấu, gương mẫu về trách nhiệm nghề nghiệp, giỏi về chuyên môn nghiệp vụ; đây là giải pháp then chốt bảo đảm sự thành công của công cuộc đổi mới căn bản, toàn diện Giáo dục – Đào tạo
1.4.2 Yêu cầu đổi mới giáo dục tiểu học
Trước những thách thức của xu thế toàn cầu hóa, việc đổi mới giáo dục phổ thông trong đó có đổi mới giáo dục Tiểu học bao gồm: đổi mới về mục tiêu, nội dung, phương pháp, phương tiện dạy học, cách thức đánh giá kết quả học tập của học sinh Đổi mới giáo dục Tiểu học không còn là công việc riêng của mỗi quốc gia đơn lẻ mà đã đang trở thành mối quan tâm chung của mọi quốc gia trước những thách thức của giai đoạn phát triển mới
- Nâng cao sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước đối với đổi mới giáo dục và đào tạo nói chung và giáo dục Tiểu học (GDTH) nói riêng Quán triệt sâu sắc và cụ thể hóa các quan điểm, mục tiêu, nhiệm vụ, giải pháp đổi mới căn bản, toàn diện nền giáo dục và đào tạo trong hệ thống chính trị, ngành giáo dục và đào tạo và toàn xã hội, tạo sự đồng thuận cao, coi giáo dục
và đào tạo là quốc sách hàng đầu Phát huy sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị, giải quyết dứt điểm những khó khăn, thách thức trong GDTH Đổi mới công tác thông tin và truyền thông để thống nhất về nhận thức, tạo sự đồng thuận và huy động sự tham gia đánh giá, giám sát và phản biện của toàn
xã hội đối với công cuộc đổi mới
- Đổi mới căn bản công tác quản lý GDTH, bảo đảm dân chủ, thống nhất;
tăng quyền tự chủ và trách nhiệm xã hội của các trường tiểu học, nhất là về chương trình, nội dung và coi trọng quản lý chất lượng dạy và học đối với các trường tiểu học Phát huy vai trò của công nghệ thông tin Xác định rõ trách
Trang 2424
nhiệm của các cơ quan quản lý nhà nước về giáo dục, đào tạo và trách nhiệm quản lý theo ngành, lãnh thổ của các ngành, địa phương, mối quan hệ giữa gia đình, nhà trường và xã hội Đẩy mạnh phân cấp, nâng cao trách nhiệm, tạo động lực và tính chủ động, sáng tạo của các trường Tiểu học; chuẩn hóa các điều kiện bảo đảm chất lượng và quản lý quá trình giáo dục; chú trọng quản lý chất lượng đầu ra; xây dựng hệ thống kiểm định độc lập về chất lượng giáo dục Thực hiện nghiêm túc quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm cho các nhà trường, phát huy vai trò của hội đồng trường Thực hiện tốt giám sát của các chủ thể trong nhà trường và xã hội; tăng cường công tác kiểm tra, thanh tra của cơ quan quản lý các cấp; bảo đảm dân chủ, công khai, minh bạch
- Đổi mới chính sách, cơ chế tài chính, huy động sự tham gia đóng góp của
toàn xã hội; nâng cao hiệu quả đầu tư để phát triển GDTH Nhà nước giữ vai trò chủ đạo trong đầu tư phát triển giáo dục Bảo đảm đủ kinh phí hoạt động chuyên môn cho các trường tiểu học công lập Khuyến khích phát triển các loại hình trường ngoài công lập đáp ứng nhu cầu gửi trẻ ở những các phường, thị xã, thị trấn, những nơi có khu - cụm công nghiệp,… Tiếp tục thực hiện mục tiêu kiên cố hóa trường, lớp học; có chính sách hỗ trợ để có mặt bằng xây dựng trường; từng bước hiện đại hóa cơ sở vật chất và thiết bị, đồ dùng
đồ chơi cho các trường tiểu học; bảo đảm cơ bản đáp ứng nhu cầu gửi con của nhân dân Khuyến khích xã hội hóa để đầu tư xây dựng và phát triển các trường chất lượng cao ở cấp tiểu học
- Đổi mới mạnh mẽ và đồng bộ các yếu tố cơ bản của giáo dục tiểu học để nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện theo hướng coi trọng phát triển phẩm chất, năng lực của học sinh; chú trọng giáo dục nhân cách, đạo đức, lối sống, tri thức pháp luật và ý thức công dân; tập trung vào những giá trị cơ bản của văn hóa, truyền thống và đạo lý dân tộc, tinh hoa văn hóa nhân loại, giá trị cốt lõi và nhân văn của chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh Quan tâm thực hành kỹ năng sống cho các em Quan tâm xây dựng năng lực và kỹ
Trang 2525
năng thực hành, vận dụng kiến thức vào thực tiễn Tập trung phát triển trí tuệ, thể chất Tăng cường giáo dục thể chất, kiến thức quốc phòng, an ninh và hướng nghiệp Phát triển khả năng sáng tạo, tự học, phát hiện và bồi dưỡng năng khiếu cho học sinh Tiếp tục đổi mới mạnh mẽ phương pháp dạy và học theo hướng hiện đại; phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo và vận dụng kiến thức, kỹ năng của người học; khắc phục lối truyền thụ áp đặt một chiều, ghi nhớ máy móc Tập trung dạy cách học, cách nghĩ, khuyến khích tự học, tạo cơ sở để người học tự cập nhật và đổi mới tri thức, kỹ năng, phát triển năng lực Chuyển từ học chủ yếu trên lớp sang tổ chức hình thức học tập đa dạng, chú ý các hoạt động xã hội, ngoại khóa, nghiên cứu khoa học Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin và truyền thông trong dạy và học Dạy ngoại ngữ và tin học theo hướng chuẩn hóa, thiết thực, bảo đảm năng lực sử dụng của các em Tiếp tục đổi mới đánh giá kết quả học tập, rèn luyện theo hướng phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo và năng lực tự học của người học theo Thông tư 30/2014/TT-BGDĐT ngày 28/8/2014 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo và Thông tư 22/2016/TT-BGDĐT ngày 22/9/2016 về sửa đổi, bổ sung một số điều của qui định đánh giá học sinh tiểu học ban hành kèm theo Thông tư 30
Trên cơ sở mục tiêu đổi mới giáo dục và đào tạo, xác định rõ và công khai mục tiêu, chuẩn đầu ra của giáo dục tiểu học trên cơ sở chuẩn kiến thức, chuẩn kỹ năng Coi đó là cam kết bảo đảm chất lượng của cả hệ thống và từng trường; là căn cứ giám sát, đánh giá chất lượng giáo dục tiểu học
-Phát triển đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý, đáp ứng yêu cầu đổi mới GDTH Xây dựng quy hoạch, kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ giáo viên
và cán bộ quản lý GDTH đáp ứng yêu cầu đổi mới Thực hiện chuẩn hóa đội ngũ giáo viên tiểu học, cán bộ quản lý các trường tiểu học Tiến tới tất cả các giáo viên tiểu học phải có trình độ từ đại học trở lên, có năng lực sư phạm, đào tạo và bồi dưỡng nghiệp vụ quản lý cho 100% CBQL các cơ sở GDTH
Trang 2626
Tăng cường công tác bồi dưỡng thường xuyên cho giáo viên và cán bộ quản
lý, cập nhật kiến thức, kỹ năng và đánh giá kết quả học tập, rèn luyện của giáo viên theo yêu cầu nâng cao chất lượng, trách nhiệm, đạo đức và năng lực nghề nghiệp để thực hiện chương trình GDTH theo quy định Thực hiện chế
độ ưu đãi, cơ chế miễn nhiệm, bố trí công việc khác hoặc kiên quyết đưa ra khỏi ngành đối với những người không đủ phẩm chất, năng lực, không đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ; bảo đảm bình đẳng giữa nhà giáo trường công lập và nhà giáo trường ngoài công lập về tôn vinh và cơ hội đào tạo, bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ,
1.4.3 Năng lực nghề nghiệp của giáo viên Tiểu học trong bối cảnh đổi mới giáo dục
1.4.3.1 Nội dung năng lực nghề nghiệp của giáo viên Tiểu học trong bối cảnh đổi mới giáo dục
Trong xu thế toàn cầu hóa, giáo dục Việt Nam cần đẩy nhanh tiến trình đổi mới để rút ngắn khoảng cách về trình độ phát triển giáo dục so với các nước trong khu vực và trên thế giới Với xu thế giáo dục nhân văn hiện nay đòi hỏi phải thay đổi cách tiếp cận quá trình giáo dục Các tác động của bối cảnh giáo dục đòi hỏi sự thay đổi giáo dục và sự đáp ứng của giáo viên để thực hiện những thay đổi này
Mục tiêu giáo dục thay đổi theo tiếp cận phát triển năng lực người học sẽ đặt ra những yêu cầu cao về năng lực của người giáo viên Tiểu học Muốn đổi mới, người thầy phải có kiến thức, nắm vững các phương pháp dạy học, kĩ thuật dạy học, có kĩ năng sử dụng phương tiện dạy học, áp dụng CNTT và truyền thông vào dạy học một cách nhuần nhuyễn Giáo viên không chỉ là người truyền thụ kiến thức mà còn đóng vai trò tổ chức, kiểm tra, định hướng học tập cho học sinh, không đơn thuần chuyền tải những kiến thức “có sẵn” ở SGK mà phải chủ động xây dựng các chủ đề và tổ chức dạy học có hiệu quả Đồng thời, giáo viên cần có những kiến thức, kĩ năng để thực hiện vai trò chỉ
Trang 2727
đạo hướng dẫn, phối hợp hoạt động trong điều kiện mở về không gian, thời gian, quy mô, đối tượng và số lượng người học tham gia hoạt động trải nghiệm sáng tạo
Bên cạnh đó, giáo dục Tiểu học có tính chất đặc biệt, có bản sắc riêng, người giáo viên Tiểu học trước hết phải là nhà giáo dục, có tác động tích cực đến học sinh thông qua bản thân nhân cách của mình Bản thân nhân cách của người giáo viên có vai trò như một năng lực tổng hợp Bởi vậy, người giáo viên cần có những năng lực nghề nghiệp mới kết hợp với những năng lực truyền thống Như vậy, theo chúng tôi, cấu trúc năng lực nghề nghiệp của người giáo viên Tiểu học trong bối cảnh đổi mới giáo dục bao gồm:
2) Năng lực giáo dục:
Giáo viên có khả năng xây dựng được kế hoạch giáo dục thể hiện được mục tiêu, nội dung, phương pháp giáo dục đảm bảo tính khả thi, phù hợp với đặc điểm học tập của học sinh và môi trường giáo dục, huy động và phối hợp
Trang 2828
các lực lượng giáo dục trong và ngoài nhà trường một cách hiệu quả; tổ chức thực hiện tốt nhiệm vụ giáo dục thông qua dạy học và thông qua các hoạt động giáo dục khác; biết vận dụng các nguyên tắc, phương pháp và hình thức
tổ chức giáo dục; có phương pháp kiểm tra đánh giá kết quả học tập, rèn luyện năng lực và phẩm chất của học sinh một cách chính xác, khách quan, công bằng
Đối với giáo viên Tiểu học đây là năng lực đặc biệt quan trọng vì sự phát triển về các mặt của học sinh ở lứa tuổi tiểu học diễn ra rất nhanh, nhưng lại không đồng đều
3) Năng lực bồi dưỡng và tự bồi dưỡng:
Giáo viên có ý thức và tinh thần học tập, rèn luyện để nâng cao phẩm chất chính trị, đạo đức, chuyên môn, nghiệp vụ; Có phương pháp tự học, tự rèn luyện, tự đánh giá năng lực bản thân; Có tinh thần hợp tác, kĩ năng làm việc nhóm và hỗ trợ đồng nghiệp trong hoạt động chuyên môn
4) Năng lực nghiên cứu, ứng dụng khoa học sư phạm vào thực tế dạy học, giáo dục:
Giáo viên có năng lực nghiên cứu khoa học sư phạm ứng dụng, viết sáng kiến kinh nghiệm và biết vận dụng các sáng kiến kinh nghiệm vào thực
tế dạy học, giáo dục trong nhà trường
5) Năng lực đánh giá:
Đó là năng lực nhìn nhận sự thay đổi trong nhận thức, kĩ năng, thái độ và tình cảm của học sinh Năng lực đánh giá giúp nhìn nhận tính đúng đắn của chẩn đoán và đáp ứng
6) Năng lực giao tiếp và năng lực chính trị, xã hội:
Giáo viên có kĩ năng định hướng và định vị trong giao tiếp giữa giáo viên với học sinh, giữa giáo viên với đồng nghiệp, phụ huynh và với cộng đồng; có năng lực tự ứng xử đối với bản thân; năng lực trao đổi thông tin và thu nhận thông tin; có khả năng thực hiện công việc phối hợp với gia đình, địa phương
Trang 2929
trong việc hỗ trợ, giám sát việc học tập, rèn luyện của học sinh nhằm huy động tối đa các nguồn lực trong cộng đồng phát triển nhà trường; có năng lực hoạt động chính trị, xã hội trong và ngoài nhà trường nhằm phát triển nhà trường và cộng đồng Đó là năng lực tạo nên những điều kiện thuận lợi cho giáo dục trong nhà trường và từ cuộc sống bên ngoài nhà trường,
Trên đây là những nét đặc trưng nhất về năng lực nghề nghiệp giáo viên Tiểu học trong bối cảnh đổi mới giáo dục, là những yếu tố cấu thành cấu trúc năng lực nghề nghiệp của người giáo viên Tiểu học Tuy nhiên, cấu trúc năng lực không chỉ dừng lại ở những yếu tố này Để cấu trúc năng lực trở thành một công cụ đánh giá giáo viên Tiểu học cũng như hiệu quả quản lí bồi dưỡng năng lực nghề nghiệp cho đội ngũ giáo viên Tiểu học cần được bổ sung và tiếp tục hoàn thiện
1.4.3.2 Khung năng lực nghề nghiệp của giáo viên Tiểu học trong bối cảnh đổi mới giáo dục
+ Trong giai đoạn hiện nay, chất lượng giáo viên Tiểu học thể hiện ở các mức độ được quy định trong Chuẩn nghề nghiệp giáo viên Tiểu học do Bộ GD&ĐT ban hành kèm theo Quyết định số 14/2007/QĐBGD&ĐT, bao gồm
ba lĩnh vực: Lĩnh vực phẩm chất chính trị, đạo đức lối sống; lĩnh vực kiến
thức và lĩnh vực kĩ năng sư phạm Cụ thể như sau: 1) Các yêu cầu thuộc lĩnh
vực phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống: Nhận thức tư tưởng chính trị với
trách nhiệm của một công dân, một nhà giáo đối với nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; Chấp hành pháp luật, chính sách của Nhà nước; Chấp hành quy chế của ngành, quy định của nhà trường, kỉ luật lao động; Đạo đức, nhân cách và lối sống lành mạnh, trong sáng của nhà giáo, tinh thần đấu tranh chống các biểu hiện tiêu cực, ý thức phấn đấu vươn lên trong nghề nghiệp, sự tín nhiệm của đồng nghiệp, học sinh và cộng đồng; Trung thực trong công tác, đoàn kết trong quan hệ đồng nghiệp, phục vụ nhân dân và học sinh
Trang 3030
2) Các yêu cầu thuộc lĩnh vực kiến thức: Kiến thức cơ bản; Kiến thức về
tâm lí học sư phạm và tâm lí học lứa tuổi, giáo dục tiểu học; Kiến thức về kiểm tra, đánh giá kết quả học tập, rèn luyện của học sinh; Kiến thức phổ thông về chính trị, xã hội và nhân văn, kiến thức liên quan đến ứng dụng CNTT, ngoại ngữ, tiếng dân tộc; Kiến thức địa phương về nhiệm vụ chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội của tỉnh, huyện, xã nơi giáo viên công tác
3) Các yêu cầu thuộc lĩnh vực kĩ năng sư phạm: Lập được kế hoạch dạy
học, biết cách soạn giáo án theo hướng đổi mới; Tổ chức và thực hiện các hoạt động dạy học trên lớp phát huy được tính năng động sáng tạo của học sinh; Công tác chủ nhiệm lớp, tổ chức các hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp; Thực hiện thông tin hai chiều trong quản lí chất lượng giáo dục, hành vi trong giao tiếp, ứng xử có văn hóa và mang tính giáo dục; Xây dựng, bảo
quản và sử dụng có hiệu quả hồ sơ giáo dục và giảng dạy
+ Trên cơ sở phân tích nội dung năng lực nghề nghiệp giáo viên Tiểu học
trong bối cảnh đổi mới giáo dục ở mục 1.4.3.1 ở trên, dựa trên các yêu cầu của Chuẩn giáo viên Tiểu học, cần cụ thể hóa khung năng lực nghề nghiệp
giáo viên Tiểu học trong bối cảnh đổi mới giáo dục như sau:
Bảng 1.4 Năng lực nghề nghiệp của giáo viên Tiểu học trong bối cảnh đổi mới giáo dục
1 Năng lực dạy học
1.1 Năng lực tìm hiểu đối tượng và môi trường dạy học
1.2 Năng lực xây dựng kế hoạch dạy học
1.3 Năng lực đảm bảo kiến thức môn học
1.4 Năng lực soạn giáo án (thiết kế bài dạy) phát triển năng lực cho học sinh
1.5 Năng lực tổ chức các hoạt động học tập phát triển năng lực cho học
Trang 312.1 Năng lực tìm hiểu đối tượng và môi trường giáo dục
2.2 Năng lực xây dựng kế hoạch các hoạt động giáo dục
2.3 Năng lực giáo dục thông qua dạy học
2.4 Năng lực phối hợp tổ chức các hoạt động giáo dục trải nghiệm sáng tạo trong và ngoài nhà trường
2.5 Năng lực giáo dục học sinh khuyết tật
3 Năng lực học và tự học để phát triển nghề nghiệp
3.1 Năng lực sử dụng CNTT và truyền thông để khai thác các nguồn tư liệu dạy học và tham gia các khóa học bồi dưỡng
3.2 Năng lực tự học, tự bồi dưỡng và tự đánh giá năng lực bản thân
4 Năng lực nghiên cứu, ứng dụng khoa học sư phạm vào thực tiễn
4.1 Năng lực phát hiện và giải quyết những vấn đề nảy sinh trong thực tế dạy học, giáo dục
4.2 Năng lực sử dụng các phương pháp nghiên cứu khoa học
4.3 Năng lực viết sáng kiến kinh nghiệm, chuyên đề chuyên môn
5 Năng lực giao tiếp và năng lực xã hội
5.1 Năng lực giao tiếp với học sinh, đồng nghiệp, phụ huynh học sinh 5.2 Năng lực làm việc hợp tác nhóm
5.3 Năng lực tham gia các hoạt động chính trị, xã hội trong và ngoài nhà
Trang 3232
trường nhằm phát triển nhà trường và cộng đồng, góp phần xây dựng
xã hội học tập
6 Năng lực công nghệ thông tin và ngoại ngữ
6.1 Biết và sử dụng thành thạo vi tính trong dạy học và nghiên cứu
6.2 Biết và sử dụng một ngoại ngữ trong giao tiếp, học tập, nghiên cứu
1.5 Nội dung quản lí bồi dưỡng năng lực nghề nghiệp cho đội ngũ giáo viên trường Tiểu học
1.5.1 Quản lí xây dựng chương trình, nội dung bồi dưỡng năng lực nghề nghiệp cho đội ngũ giáo viên trường Tiểu học
Nội dung chương trình bồi dưỡng năng lực nghề nghiệp cho giáo viên Tiểu học là tổng thể những kiến thức, kĩ năng và thái độ trong đó chú trọng vào những kĩ năng mới, những thao tác nghiệp vụ về dạy học, giáo dục phong phú, đa dạng, linh hoạt nhằm thay đổi mạnh mẽ năng lực đội ngũ giáo viên đáp ứng yêu cầu dạy học, giáo dục theo hướng phát triển năng lực người học Nội dung chương trình phải đạt được những yêu cầu sau: mục tiêu chương trình thể hiện nhu cầu bồi dưỡng, các kiến thức có tính liên thông, tích hợp, tính phân hóa, tính đặc thù bộ môn, vùng miền; khung chương trình thiết kế theo hướng mở, đòi hỏi được nâng cấp, phát triển và cải tiến liên tục sau mỗi khóa bồi dưỡng; nội dung chương trình theo hướng phục vụ cho người tự học, tăng cường tính chủ động sáng tạo và nhằm phát huy năng lực của người học
1.5.2 Tổ chức thực hiện chương trình bồi dưỡng năng lực nghề nghiệp cho đội ngũ giáo viên trường Tiểu học
Xác định nhu cầu bồi dưỡng năng lực nghề nghiệp cho đội ngũ giáo viên trường Tiểu học:
Nhu cầu bồi dưỡng là những phẩm chất, năng lực mà người giáo viên còn thiếu cần phải được cập nhật, bổ sung và nâng cao để thực hiện tốt nhiệm
Trang 3333
vụ của mình Nói cách khác, đó là sự khác biệt hay là khoảng cách giữa một bên là yêu cầu của công việc và bên kia là năng lực cần đáp ứng của người thực hiện công việc Như vậy nhu cầu bồi dưỡng của giáo viên chính là những nội dung cần bồi dưỡng mà giáo viên mong muốn được học tập thông qua các chương trình bồi dưỡng
Để xác định được nhu cầu bồi dưỡng, trước hết cần xác định rõ những năng lực mà giáo viên cần có, những nhiệm vụ mà giáo viên cần làm để hoàn thành công việc đạt chuẩn theo quy định Bên cạnh đó nhà quản lí phải xác định được những năng lực hiện có của người giáo viên, những nhiệm vụ hiện thời mà người giáo viên có thể thực hiện được để đáp ứng yêu cầu đổi mới
Từ hai yếu tố trên xác định được sự khác biệt giữa yêu cầu và thực tế thực hiện công việc để xác định được nhu cầu bồi dưỡng Sự khác biệt càng lớn thì nhu cầu bồi dưỡng càng cao, càng cấp thiết trong việc thu hẹp và san bằng khoảng cách này
Có nhiều hình thức xác định nhu cầu bồi dưỡng: tổ chức khảo sát, thông qua sinh hoạt tổ chuyên môn, căn cứ kết quả đánh giá của nhà trường, tự đánh giá của mỗi cá nhân trước bối cảnh đổi mới Theo các nhà nghiên cứu trong
và ngoài nước, hình thức phổ biến nhất để đánh giá nhu cầu bồi dưỡng là khảo sát bằng phiếu về nhu cầu chuyên môn được bồi dưỡng, đó là các chủ đề giáo viên muốn tham gia, hình thức bồi dưỡng, thời gian, địa điểm phù hợp và những khó khăn của học khi tham gia bồi dưỡng Phiếu khảo sát thể hiện các nhu cầu cụ thể mà giáo viên mong muốn ở các mức độ khác nhau
1.5.3 Chỉ đạo hoạt động bồi dưỡng năng lực nghề nghiệp cho đội ngũ giáo viên trường Tiểu học
Chỉ đạo về thực chất là những hành động xác lập quyền chỉ huy và sự can thiệp của người lãnh đạo trong toàn bộ quá trình quản lí, chính là việc huy động mọi lực lượng vào việc thực hiện và điều hành các hoạt động để hoàn
Trang 34+ Sử dụng các phương pháp quản lí để điều hành quá trình bồi dưỡng:
Phối hợp các phương pháp quản lí trong việc điều hành như phương pháp hành chính, phương pháp tâm lí xã hội, phương pháp kinh tế để điều hành các hoạt động bồi dưỡng diễn ra một cách thuận lợi Đó là việc giao nhiệm vụ cho từng bộ phận, cá nhân một cách khoa học, không chồng chéo, theo đúng chức năng nhiệm vụ trong mối quan hệ hợp tác giữa lãnh đạo – các bộ phận, các bộ phận – giáo viên, giáo viên – giáo viên Đồng thời, cán bộ quản lí phải thường xuyên động viên, khuyến khích tinh thần để tạo động cơ làm việc cho các thành viên trong tổ chức và niềm đam mê học tập cho đội ngũ giáo viên tham gia bồi dưỡng để biến mục tiêu bồi dưỡng chung thành nhu cầu hoạt động của mỗi người
+ Giám sát và điều chỉnh hoạt động bồi dưỡng:
Giám sát và điều chỉnh hoạt động bồi dưỡng là quá trình hoạt động của cán bộ quản lí nhằm theo dõi việc thực hiện nhiệm vụ của các bộ phận, cá nhân để phát hiện ra những mặt tích cực cần phát huy; những hạn chế, sai lệch cần khắc phục; từ đó đưa ra các quyết định điều chỉnh kịp thời và phù hợp cho quá trình quản lí bồi dưỡng đang diễn ra và cơ sở thiết lập quá trình bồi dưỡng tiếp theo
Thực hiện quá trình giám sát theo nhiều hình thức như: quan sát, thu thập thông tin về khóa bồi dưỡng, các khiếu nại hay ý kiến của học viên về nội dung chương trình, phương pháp, hình thức, thời gian bồi dưỡng và mức độ
Trang 3535
đáp ứng của CSVC, phương tiện dạy học, CNTT và truyền thông, khả năng kết nối với thực tiễn dạy học trong lớp học, sự điều hành của ban tổ chức, kinh phí,…
1.5.4 Kiểm tra, đánh giá kết quả chương trình bồi dưỡng năng lực nghề nghiệp cho đội ngũ giáo viên trường Tiểu học
Kiểm tra, đánh giá nhằm giúp cho các nhà quản lí giáo dục biết được mức
độ thực hiện các hoạt động theo kế hoạch bồi dưỡng, đồng thời đánh giá được những quyết định có phù hợp với thực tế hay không, trên cơ sở đó điều chỉnh các hoạt động, giúp đỡ hay thúc đẩy các cá nhân, tập thể để đạt được mục tiêu Kiểm tra không những để đánh giá thực trạng hoạt động bồi dưỡng mà còn là cơ sở để thực hiện cho một chu trình quản lí bồi dưỡng tiếp theo Việc thực hiện kiểm tra công tác quản lí bồi dưỡng giáo viên là một quá trình được thực hiện theo các bước sau:
+ Xây dựng các tiêu chuẩn:
Thiết lập chuẩn đánh giá dựa trên các tiêu chí thực hiện mục tiêu bồi
dưỡng Nội dung bao gồm:
- Đánh giá phản ứng của người học: Học viên đánh giá như thế nào về hoạt động bồi dưỡng vào các thời điểm trước, trong, cuối khóa bồi dưỡng và vào những thời điểm sau bồi dưỡng
- Đánh giá kết quả học tập: Xác định học viên đã tiếp thu những gì từ khóa học; kiểm tra kiến thức, kĩ năng, thái độ và đối chiếu với những mục tiêu
đã đề ra
- Đánh giá những thay đổi trong công việc: Xác định người học áp dụng những điều đã học vào dạy học, giáo dục như thế nào và những thay đổi đối với việc thực hiện dạy học, giáo dục
- Đánh giá về mức độ thực hiện công tác quản lí hoạt động bồi dưỡng: Đánh giá về mục tiêu bồi dưỡng; Công tác lập kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo bồi dưỡng; Nội dung, chương trình bồi dưỡng; Tổ chức đổi mới phương pháp và
Trang 3636
hình thức bồi dưỡng; Việc huy động các nguồn lực phục vụ, tạo môi trường thuận lợi cho hoạt động bồi dưỡng
+ Lựa chọn nội dung, hình thức và phương pháp kiểm tra, đánh giá:
Tiến hành lựa chọn nội dung, hình thức và phương pháp đánh giá phù hợp Thu thập thông tin thường xuyên qua nhiều phương diện, đối tượng khác nhau để có kết quả đánh giá khách quan, chân thực Hoạt động kiểm tra đánh giá bồi dưỡng trên nguyên tắc là thực hiện nhiều lần ở những thời điểm khác nhau: trước bồi dưỡng, trong quá trình bồi dưỡng và sau khi kết thúc bồi dưỡng
+ Xây dựng lực lượng kiểm tra, đánh giá:
Để thực hiện việc kiểm tra đánh giá có hiệu quả đòi hỏi phải xây dựng được lực lượng tham gia vào quá trình kiểm tra đánh giá Mỗi bộ phận, cá nhân thực hiện các nội dung, phương thức đánh giá theo vai trò, trách nhiệm của mình
+ Sử dụng kết quả kiểm tra đánh giá để điều chỉnh công tác quản lí bồi dưỡng:
Kết quả kiểm tra đánh giá được đối chiếu với các mục tiêu, tiêu chuẩn đã
đề ra để phân tích những mặt mạnh và yếu của quá trình bồi dưỡng Từ đó, các nhà quản lí đưa ra các quyết định cần thiết để điều chỉnh những sai lệch trong quá trình thực hiện bồi dưỡng
1.5.5 Quản lí cơ sở vật chất, các điều kiện phục vụ bồi dưỡng năng lực nghề nghiệp cho đội ngũ giáo viên trường Tiểu học
Cơ sở vật chất, phương tiện, thiết bị dạy học có ảnh hưởng rất lớn đến chất lượng bồi dưỡng Có thiết bị dạy học tốt thì giảng viên mới có thể triển khai được quá trình dạy học khoa học, lôi cuốn được đa số người học tham gia thực sự vào quá trình học tập và học viên cũng có cơ hội tự khai thác và tiếp nhận tri thức dưới sự hướng dẫn của người dạy một cách tích cực
Trang 3737
Áp dụng CNTT và truyền thông trong bồi dưỡng sẽ giúp giảng viên đổi mới phương pháp dạy học, học viên đổi mới phương pháp học với nhiều hình thức phong phú Nhờ có CNTT và truyền thông, giáo viên cũng có thể thực hiện việc học tập mọi nơi, mọi lúc, mọi lĩnh vực và học suốt đời Internet chứa đựng nguồn tài nguyên tri thức vô tận, nguồn học liệu phong phú mà mỗi giáo viên có thể khai thác học tập, trao đổi với đồng nghiệp, các nhà khoa học trong nước và trên thế giới, giúp cho mỗi giáo viên có nhiều cách lựa chọn hình thức phương pháp, kết hợp nhiều hình thức phương pháp phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh của mình
Lập kế hoạch quản lí CSVC, các điều kiện TBDH trước mắt, lâu dài phục
vụ cho việc bồi dưỡng năng lực nghề nghiệp cho đội ngũ giáo viên trường Tiểu học Phát huy tối đa hiệu quả sử dụng CSVC, các thiết bị dạy học, góp phần nâng cao chất lượng bồi dưỡng
1.6 Các yếu tố ảnh hưởng đến quản lí bồi dưỡng năng lực nghề nghiệp cho đội ngũ giáo viên trường Tiểu học
Người CBQL phải có trình độ chuyên môn nghiệp vụ và có kiến thức về quản lí mới thực hiện tốt chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn của mình Người CBQL phải có những kĩ năng quản lí, biết kết hợp giữa lí luận và thực tiễn, vận dụng sáng tạo, linh hoạt vào hoàn cảnh cụ thể mới có thể đạt được mục tiêu bồi dưỡng đã đề ra
Trang 3838
1.6.1.2 Năng lực, nhận thức của đối tượng bồi dưỡng
Hiện nay, phát triển đội ngũ giáo viên Tiểu học hướng tới xây dựng đội
ngũ đủ về số lượng, đồng bộ về cơ cấu, loại hình trong đó đặc biệt quan tâm đến chất lượng công tác bồi dưỡng năng lực nghề nghiệp đáp ứng được yêu cầu đổi mới giáo dục Tuy nhiên, công tác này đạt hiệu quả hay không còn phụ thuộc nhiều vào một số yếu tố chủ quan như: lòng yêu nghề; nhu cầu học tập, bồi dưỡng; ý thức tự trau dồi phẩm chất năng lực, trình độ chuyên môn của mỗi giáo viên Chủ tịch Hồ Chí Minh từng dạy “đã là nhà giáo phải yêu người, yêu nghề, yêu trường, yêu chủ nghĩa xã hội, điều này có ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng giáo dục – đào tạo” Yêu nghề, yêu người là cơ sở để các thầy, cô yên tâm công tác, say mê, toàn tâm, toàn ý với công việc; biết
vươn lên, nâng cao năng lực, đáp ứng yêu cầu nghề nghiệp
Mức độ thành thạo nghề nghiệp, trình độ nhận thức, năng lực vận dụng cũng ảnh hưởng không nhỏ tới chất lượng đội ngũ Một kiến thức uyên bác hay một lí thuyết dù hay đến mấy mà chưa đem vào vận dụng thực tiễn thì cũng vô ích Sự vận dụng các kiến thức vừa là mục đích, vừa là điều kiện cần thiết giúp người giáo viên nhớ lâu kiến thức, thấy kiến thức đó là cần thiết và đồng thời tạo ra sự thành thạo trong nghề nghiệp
Bên cạnh đó, yếu tố tuổi đời, sức khỏe, giới tính và điều kiện kinh tế gia đình là những yếu tố mà các nhà quản lí cần tính đến trong việc sử dụng và phát triển nguồn nhân lực giáo viên
1.6.2.Yếu tố khách quan
1.6.2.1 Điều kiện phát triển kinh tế - xã hội của địa phương
Điều kiện phát triển kinh tế của địa phương, cơ cấu, sự phân bố và đặc điểm của dân số, tính đặc thù của vùng miền, trình độ dân trí ảnh hưởng trực tiếp đến sự phát triển của giáo dục địa phương Điều kiện phát triển kinh tế -
xã hội của địa phương thuận lợi tác động tích cực đến việc hoạch định cơ chế,
Trang 3939
chính sách, huy động CSVC, phương tiện dạy học, nguồn kinh phí thực hiện bồi dưỡng
1.6.2.2 Mức độ đáp ứng cơ sở vật chất và phương tiện dạy học
Đổi mới phương pháp bồi dưỡng, hình thức bồi dưỡng và kiểm tra đánh giá gắn liền với sự đáp ứng những điều kiện CSVC và các phương tiện dạy học Khi CSVC và phương tiện dạy học đáp ứng yêu cầu bồi dưỡng thì hoạt động bồi dưỡng sẽ diễn ra đúng theo kế hoạch, hỗ trợ tích cực cho giảng viên
và học viên hoàn thành tốt nhiệm vụ của mình
1.6.2.3 Chế độ, chính sách về bồi dưỡng
Trong các giải pháp bồi dưỡng năng lực cho đội ngũ giáo viên, cần có những cơ chế chính sách đãi ngộ, chính sách đào tạo, bồi dưỡng tốt để từ đó tạo động lực cho giáo viên tích cực rèn luyện phẩm chất, nâng cao năng lực nghề nghiệp Theo thứ trưởng Bộ GD&ĐT Nguyễn Vinh Hiển, nếu không tạo được một cơ chế sử dụng, đánh giá, đãi ngộ tương xứng thì nhà giáo không yên tâm sống với nghề và điều này ảnh hưởng đến sự thành bại của công cuộc đổi mới giáo dục vì giáo viên chính là lực lượng thực hiện đổi mới
Việc bồi dưỡng năng lực nghề nghiệp cho đội ngũ giáo viên Tiểu học là một điều tất yếu nhằm đáp ứng yêu cầu của giáo dục hiện đại Yếu tố văn hóa, chính trị, phong tục tập quán của địa phương và sự quan tâm, phối hợp của phụ huynh học sinh cũng như cộng đồng trong hoạt động giáo dục có ảnh hưởng không nhỏ đến đội ngũ giáo viên Vì vậy, để đạt hiệu quả cao nhất trong công tác bồi dưỡng năng lực cho đội ngũ nhà giáo, các nhà quản lí cần biết phối hợp và phát huy ảnh hưởng của các lực lượng này vì đây là một nhiệm vụ cần sự quan tâm không chỉ của ngành giáo dục mà của toàn xã hội,
Trang 40
40
Tiểu kết chương 1
Chương 1 của đề tài đã đề cập đến những nội dung sau:
Tổng hợp một số lí luận có liên quan đến vấn đề bồi dưỡng năng lực nghề nghiệp cho giáo viên Tiểu học như: năng lực, năng lực nghề nghiệp, quản lí bồi dưỡng năng lực nghề nghiệp cho giáo viên Tiểu học trong bối cảnh đổi mới giáo dục, nội dung các năng lực cần bồi dưỡng, các yếu tố chủ quan và khách quan ảnh hưởng đến công tác bồi dưỡng…Dựa trên nền tảng lí luận đó, tác giả có cơ sở để điều tra, khảo sát, phân tích thực trạng việc bồi dưỡng năng lực nghề nghiệp cho đội ngũ giáo viên Tiểu học ở quận Thanh Xuân –