Lễ hội không chỉ là loại hình văn hóa dân gian mà còn là nguồn tàinguyên du lịch nhân vãn có vai trò quan trọng, là vật hút của ngành du lịch.Hiện nay, nhiều địa phương trong cả nước đã
Trang 1MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
Dân tộc Việt Nam luôn tự hào về hàng ngàn năm lịch sử dựng nước vàgiữ nước Trong suốt chiều dài lịch sử đó, với bao biến đổi thăng trầm đã đúckết lại thành một nền văn hóa Việt Nam đậm đà bản sắc Trong đó, không thểkhông nhắc đến lễ hội - một nét sinh hoạt văn hóa dân gian Đây cũng làthành tố quan trọng góp phàn tạo nên bức tranh văn hóa đa dạng trong thốngnhất của dân tộc Việt Nam
Lễ hội không chỉ là loại hình văn hóa dân gian mà còn là nguồn tàinguyên du lịch nhân vãn có vai trò quan trọng, là vật hút của ngành du lịch.Hiện nay, nhiều địa phương trong cả nước đã và đang vận dụng nguồn tàinguyên nhân vãn này đưa vào hoạt động du lịch, góp phàn không nhỏ vàoviệc thúc đẩy nền kinh tế phát triển và nâng các lễ hội lên tầm cao mới Theothống kê năm 2004 của Cục Vãn hóa Thông tin cơ sở và Bộ Vãn hóa Thôngtin, cả nước có 8902 lễ hội lớn nhỏ và được phân bố rộng khắp Ở địa phươngnào cũng có lễ hội đặc trưng tiêu biểu của mình
Nằm ở phía tây tỉnh Thanh Hoá, Thọ Xuân là vùng đất “địa linh nhân kiệt'’ có vị thế chiến lược trọng yếu trong sự nghiệp đấu tranh dựng nước và
giữ nước tỉnh Thanh nói riêng, cả nước nói chung Nơi đây không chỉ sản sinh
ra những con người kiệt suất cho dân tộc như: Lê Hoàn, Lê Lợi, Chúa Trịnh,Chúa Nguyễn, mà còn là nơi lưu giữ nhiều giá trị vãn hóa độc đáo, điểnhình là các lễ hội truyền thống của địa phương gắn liền với các vị vua của dântộc và văn nghệ dân gian của con người, mảnh đất nơi đây Tuy nhiên, việc tổchức lễ hội ở đây mới chỉ dừng lại ở quy mô là những lễ hội dân gian mang ýnghĩa văn hóa thuần túy, mà chưa có sự mở rộng hoạt động của các lễ hộithành vật hút của ngành du lịch, hay có cũng chỉ làm một cách hời hợt Bêncạnh đó, vẫn chưa có sự kết hợp giữa các lễ hội nơi đây YỚi những tàinguyên du lịch khác của địa phương để phát triển mạnh mẽ hoạt động du lịch
Trang 2Hay nói cách khác, việc sử dụng tài nguyên văn hóa - lễ hội đưa vào khai tháctrong du lịch của huyện Thọ Xuân còn hạn chế, chưa thực sự được chú trọng.
Xuất phát từ thực tế đó, tôi chọn đề tài “Lễ hội ở huyện Thọ Xuân
-Thanh Hóa với việc phát triển du lịch địa phương”, làm báo cáo khóa luận
tốt nghiệp ra trường của mình, nhằm góp công sức nhỏ bé của mình vào việcgiới thiệu, bảo tồn và khai thác những giá trị văn hóa của lễ hội để phát triển
du lịch của địa phương
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Nhiều người từ lâu đã biết đến Thọ Xuân với những vị anh hùng của dântộc như Lê Lợi, Lê Hoàn, với những di tích Lam Kinh, đền thờ Lê Hoàn,hay những trò diễn xướng dân gian xưa kia dùng để tiến vua, và gắn liền là hệthống lễ hội đặc sắc và phong phú Tuy nhiên, chúng ta chủ yếu mới chỉ cónhững bài viết nghiên cứu đơn lẻ từng lễ hội mà vẫn chưa có công trình nàonghiên cứu tổng quát về các lễ hội và đưa ra những định hướng phát triển dulịch cụ thể cho các lễ hội của huyện
Trong “Non nước Việt Nam”, tác giả Yũ Thế Bình có đề cập đến Lễ hội
Lam Kinh ở Thanh Hóa và vẫn chưa đi sâu nghiên cứu xem hoạt động du lịchcủa lễ hội như thế nào và cũng chưa có sự liên hệ với các lễ hội khác để xâydựng nên hệ thống lễ hội phục vụ du lịch trên địa bàn huyện Thọ Xuân
về các lễ hội ở huyện Thọ Xuân cũng có khá nhiều bài viết của các cánhân, cơ quan vãn hóa đãng trên các trang báo điện tử nhưng hết sức sơ lược,ngắn gọn như:
Lễ hội Lê Hoàn có các bài viết như: Đỗ Phương Thảo với “Lễ hội Lê Hoàn và huyền thoại về ông vua trọng nông” (kinhtenongthon.com.vn); tác giả hoabovai với “Lễ hội Lê Hoàn - âm vang tiếng gọi cội nguồn” (tuoitrethanhhoa.com); hay “Lễ Hội Lê Hoàn ở Thanh Hoả”
(slpc.wordpress.com);
Trang 3Viết về lễ hội Lam Kinh có: Đỗ Như Chung với Lễ hội Lam Kinh từ lễ hội cung đình đến lễ hội dân gianThiên Lam với “Lễ hội Lam Kinh mang đậm nét văn hoả thời Lê” (tin247.com);
Lễ hội Xuân Phả cũng có những bài viết như: “Trò Xuân Phả những điệu múa mặt nạ dị kỳ” (viettems.com) của Huy Thông (2009); “lễ hội Làng Xuân Phả” (2008), (thanhhoafc.net/forum/showthread.php?t=4700); “Phục đựng lễ hội Xuân Phả/Video” (viettems.com) của Bùi Quang Thắng (2010);
Tuy nhiên, những bài viết này chỉ tiến hành mô tả khái quát lại các lễhội, mà không đi sâu vào phân tích những ý nghĩa, vai trò của từng lễ hội,không đánh giá tiềm năng du lịch của từng lễ hội ở mỗi địa phương Mặc dùvậy, đây cũng là những nguồn tài liệu tham khảo quan trọng để chúng tôi tiếnhành nghiên cứu và hoàn thành đề tài khóa luận tốt nghiệp này
3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
3.1.Mục đích nghiên cứu
Khi nhắc đến lễ hội ở huyện Thọ Xuân - Thanh Hóa người ta chỉ biết đếnmột số lễ hội mang tàm quốc gia như Lễ hội Lam Kinh mà không biết đếnnhững lễ hội khác như: Lễ hội Lê Hoàn, lễ hội làng Xuân Phả, là những lễhội cũng có nhiều giá trị đang được bảo tồn và có thể phát triển du lịch Do
đó, khóa luận hoàn thành là nguồn tài liệu góp phần giới thiệu rộng rãi vớimọi người những giá trị văn hóa mà các lễ hội tại huyện Thọ Xuân hiện đanglưu truyền
Là người con của địa phương, việc tìm hiểu về đặc điểm và thực trạnghoạt động của các lễ hội tại huyện Thọ Xuân - Thanh Hóa, giúp bản thân tácgiả hiểu rõ hơn về các lễ hội truyền thống vãn hóa trên mảnh đất quê hươngmình
Đồng thời, với việc nghiên cứu sẽ đưa ra các giải pháp nhằm: Tác độngvào ý thức của người dân địa phương trong việc bảo tồn và phát triển các giá
Trang 4trị vãn hóa; đưa lễ hội của địa phương trở thành tài nguyên phục vụ cho hoạtđộng du lịch, góp phần nâng cao thu nhập và hiệu quả kinh tế của huyện.
3.2.Nhiệm vụ nghiên cứu
Tổng quan những vấn đề về lý luận và thực tiễn liên quan đến hoạt động
du lịch và lễ hội, trên cơ sở đó đánh giá tác động của hoạt động du lịch đối vớikinh tế - xã hội, vãn hóa (lễ hội) và môi trường
Tìm hiểu về các lễ hội tại huyện Thọ Xuân - Thanh Hóa, đồng thời đưa
ra giải pháp, kiến nghị để lễ hội truyền thống của địa phương trở thành lễ hộiphục vụ du lịch mà không làm mất đi tính linh thiêng của lễ hội
4 Đổi tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1.Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu là một số lễ hội truyền thống tiêu biểu có thể pháttriển để phục vụ hoạt động du lịch trên địa bàn huyện Thọ Xuân - Thanh Hóa
4.2.Phạm vi nghiên cứu
Đề tài tìm hiểu khái quát về đặc điểm địa lí, lịch sử, kinh tế - xã hội, vănhóa con người của huyện Thọ Xuân - Thanh Hóa, qua đó hiểu được tác độngcủa nó đối với lễ hội ở đây Nghiên cứu một số lễ hội văn hóa tiêu biểu như:
Lễ hội Lam Kinh, lễ hội Lê Hoàn, lễ hội làng Xuân Phả thuộc địa bàn huyệnThọ Xuân - Thanh Hóa ở các mặt nội dung, hình thức từ khi các lễ hội này rađời và phát triển đến nay
Ngoài ra, đề tài tìm hiểu thực trạng thu hút khách du lịch tại các lễ hội vàphương thức khai thác các lễ hội này đưa vào hoạt động du lịch tại địaphương Đồng thời đưa ra một số giải pháp phát triển du lịch tại lễ hội ởhuyện Thọ Xuân
5 Nguồn tư liệu và phương pháp nghiên cứu
5.1.Nguồn tư liệu
Để thực hiện khóa luận này, chúng tôi sử dụng chủ yếu các nguồn tư liệusau:
Trang 5- Tài liệu thành vãn: Sách chuyên ngành, các công trình nghiên cứu,khóa luận tốt nghiệp, bài viết, sách báo, tạp chí, vãn bản,
- Tài liệu điền dã thu thập được thông qua việc đi thực tế các lễ hội tiêubiểu tại huyện Thọ Xuân - Thanh Hóa và phỏng vấn các cán bộ vãn hóa,những người cao tuổi tại địa phương Đây là nguồn tài liệu quan trọng gópphần không nhỏ vào sự thành công của đề tài
5.2.Phương pháp nghiên cứu
Khi thực hiện đề tài khóa luận tốt nghiệp này, chúng tôi sử dụng nhiềuphương pháp nghiên cứu khác nhau, đó là:
- Phương pháp phân tích, tổng hợp: Phương pháp này được sử dụng
nhằm phân tích, tổng họp các tư liệu, thông tin liên quan đến đề tài giúp chủthể khái quát hóa, mô hình hóa các vấn đề nghiên cứu đạt được mục tiêu đềra
- Phương pháp thống kê: Các số liệu, tư liệu được sưu tầm ở nhiều
nguồn khác nhau và thời gian dài ngắn cũng không giống nhau YÌ thế các tàiliệu đó cần được thống kê lại và xử lý có hệ thống, phục vụ cho quá trìnhnghiên cứu đạt được kết quả cao
- Phương pháp khảo sát thực địa: Sử dụng phương pháp này để lấy
được các số liệu, thông tin phục vụ cho việc trình bày luận cứ, đồng thời kiểmnghiệm độ chính xác, để kết quả nghiên cứu có tính thuyết phục Phươngpháp này đóng vai trò quan trọng, ảnh hưởng đến độ chính xác của đề tài
- Phương pháp phỏng vấn: Đưa ra những câu hỏi đối thoại liên quan
đến lễ hội của địa phương đối với những vị khách tham gia lễ hội, nhữngngười quản lý, cán bộ văn hóa, những người cao tuổi, người làm du lịch đểthu thập thêm thông tin
- Phương pháp chuyên gia: Việc tranh thủ ý kiến của lãnh đạo, chính
quyền, cán bộ nghiên cứu ừong lĩnh vực vãn hóa lễ hội là những kinh nghiệm
Trang 6quý báu để vận dụng vào nghiên cứu Công việc này rút ngắn quá trình điềutra phức tạp, đồng thời bổ sung cho phương pháp điều ừa cộng đồng.
đề xuất định hướng trong việc bảo tồn giữ gìn và khai thác giá trị vãn hóa đểphát triển du lịch
Lễ hội ở huyện Thọ Xuân là mảng đề tài hiện nay còn ít người nghiêncứu, nên nguồn tài liệu vẫn chưa phong phú Do đó, sau khi đề tài hoàn thànhđây sẽ là nguồn tài liệu thành vãn hữu ích cho những ai có nhu cầu nghiêncứu về mảng đề tài lễ hội ở các địa phương
7 Bổ cục đề tài
Ngoài phần mở đầu và phần kết luận, phụ lục và tài liệu tham khảo đề tàikết cấu gồm 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận chung
Chương 2: Lễ hội ở huyện Thọ Xuân - Thanh Hóa
Chương 3: Khai thác lễ hội ở huyện Thọ Xuân - Thanh Hóa vào việcphát triển du lịch địa phương
Trang 7CHƯƠNG 1: Cơ SỞ LÝ LUẬN CHUNG 1.1.Khái quát về du lịch
1.1.1 Các khái niệm cơ bản về du lịch
1.1.1.1 Khải niệm du lịch
Bàn về du lịch có rất nhiều quan niệm khác nhau, mỗi định nghĩa đứngtrên một góc độ, một lập trường quan điểm như: Theo Liên hiệp Quốc tế các
tổ chức lữ hành chính thức: Du lịch được hiểu là hành động du hành đến mộtnơi khác với địa điểm cư trú thường xuyên của mình nhằm mục đích khôngphải để làm ăn, tức không phải để lảm một nghề hay một việc kiếm tiền sinhsống, ; Nhìn từ góc độ kinh tế: Du lịch là một ngành kinh tế, dịch vụ cónhiệm vụ phục vụ cho nhu cầu tham quan giải trí, nghỉ ngơi, có hoặc khôngkết hợp với các hoạt động chữa bệnh, thể thao, nghiên cứu khoa học và cácnhu cầu khác
Nhìn chung, các khái niệm về du lịch là không giống nhau, tuỳ thuộc góc
độ của chủ thể và tuỳ thuộc các mốc thời gian mà khái niệm về du lịch có sự
khác nhau Đối với Việt Nam, theo Luật du lịch năm 2006 định nghĩa: “Du ỉịch ỉà hoạt động của con người ngoài nơi cư trú thường xuyên của mình nhằm thoả mãn nhu cầu tham quan, tìm hiầi, giải trí, nghi dưỡng trong một khoảng thời gian nhất định ” [37, 9].
1.1.1.2 Khải niệm khách du lịch
Theo Luật Du lịch Việt Nam (2006): Khách du lịch là người đi du lịchhoặc kết họp đi du lịch, trừ trường họp đi học, làm việc hoặc hành nghề đểnhận thu nhập ở nơi đến Khách du lịch được phân loại theo hai tiêu chí:Phạm vi lãnh thổ và loại hình du lịch Phân loại theo phạm vi lãnh thổ có dukhách: Quốc tế và nội địa Phân theo loại hình du lịch thì có du khách du lịchsinh thái và du khách du lịch văn hóa
1.1.1.3 Một sổ khải niệm khác
* Sản phẩm du lịch
Trang 8Sản phẩm du lịch là sự kết hợp hàng hóa và dịch vụ trên cơ sở khai thác
hợp lý tài nguyên du lịch nhằm đáp ứng mọi nhu cầu cho du khách trong hoạtđộng du lịch Sản phẩm du lịch = tài nguyên du lịch + hàng hóa và dịch vụ dulịch
Dựa trên các thành phần cơ bản của sản phẩm du lịch và tùy thuộc vàođặc trưng đặc thù của mỗi nước, các nhà du lịch đưa ra một số mô hình: 4S,3H và 6S
vụ lưu trú, ăn uống; nhà hàng chuyên dịch vụ ăn uống cho du khách;
* Tài nguyên du lịch
Tài nguyên du lịch là cảnh quan thiên nhiên, di tích lịch sử, di tích cáchmạng, giá trị nhân văn, công trình lao động sáng tạo của con người có thểđược sử dụng nhằm thỏa mãn nhu cầu du lịch, là yếu tố cơ bản để hình thànhcác điểm du lịch, khu du lịch nhằm tạo ra sự hấp dẫn du khách
* Lữ hành
Trang 9Lữ hành là việc thực hiện chuyến đi du lịch theo kế hoạch, lộ trình,chương trình định trước.
* Cơ sở lưu trú du lịch
Là cơ sở kinh doanh buồng, giường và các dịch vụ khác phục vụ dukhách Cơ sở lưu trú du lịch bao gồm khách sạn, làng du lịch, biệt thự, căn hộ,lều, bãi cắm trại cho thuê, trong đó khách sạn là cơ sở lưu trú chủ yếu
1.1.2.2 Phân loại các loại hình du lịch
Dựa vào các tiêu thức phân loại khác nhau có thể phân du lịch thành cácloại du lịch khác nhau Trong các ấn phẩm về du lịch đã được phát hành, khiphân các loại hình du lịch các tiêu thức phân loại thường được sử dụng nhưsau:
* Căn cứ vào phạm vi lãnh thổ của chuyến đi du lịch
Dựa vào tiêu chí này, du lịch được chia thành hai loại: Loại hình du lịchquốc tế, đây là hình thức du lịch mà ở đó điểm xuất phát và điểm đến củakhách nằm ở lãnh thổ các quốc gia khác nhau, bao gồm có du lịch quốc tế chủđộng và du lịch quốc tế bị động; loại hình du lịch nội địa: Là hình thức đi dulịch mà điểm xuất phát và điểm đến của khách cùng nằm trong lãnh thổ củamột quốc gia
* Căn cứ vào nhu cầu và động cơ làm nảy sinh hoạt động du lịch
Căn cứ vào tiêu chí này, người ta chia ra thảnh các loại hình: Du lịchchữa bệnh; du lịch nghỉ ngơi, giải trí; du lịch thể thao; du lịch văn hoá; du lịch
Trang 100lịch sử; du lịch sinh thái; du lịch công vụ; du lịch tôn giáo; du lịch thăm hỏi,
du lịch quê hương; du lịch quá cảnh Các loại hình du lịch kể trên thườngkhông thể hiện nguyên một dạng nào đầy đủ và rõ rệt, ta thường gặp sự kếthợp của một vài thể loại một lúc như du lịch nghỉ ngơi và du lịch văn hoá, dulịch công vụ YỚi du lịch văn hoá,
* Căn cứ vào hình thức tổ chức chuyển đi
Căn cứ vào hình thức chuyến đi người ta chia thành: Du lịch theo đoàn
và du lịch cá nhân
Ngoài ra, còn căn cứ vào các tiêu chí khác như: Phương tiện giao thôngđược sử dụng, phương tiện lưu trú, thời gian đi du lịch của khách, vị trí địa lícủa nơi đến đi du lịch, mà tương ứng nhiều loại hình khác nhau
1.1.3 Các yếu tổ ảnh hưởng đến du lịch
1.1.3.1 Tài nguyên du lịch
Tài nguyên du lịch là yếu tố cơ bản trong việc kinh doanh du lịch Tuynhiên, tài nguyên du lịch, đặc biệt là tài nguyên du lịch tự nhiên phân bốkhông đồng đều trên lãnh thổ Có những tài nguyên giàu giá trị thu hút nhưngđược phân bố ở những điểm du lịch để phát triển kinh doanh du lịch được.Như yậy, không phải nơi nào giàu tài nguyên du lịch cũng có thể phát triểnthành điểm du lịch để phát triển kinh doanh du lịch được, nhung nhìn chung,việc phát triển kinh doanh du lịch chỉ có thể được thực hiện tại những nơi cótài nguyên du lịch
Tài nguyên du lịch được chia thành tài nguyên du lịch tự nhiên(TNDLTN) và tài nguyên du lịch nhân vãn (TNDLNV)
TNDLTN là tổng thể tự nhiên các thành phần của nó có thể góp phầnkhôi phục và phát triển thể lực, trí tuệ con người, khả năng lao động và sứckhoẻ của họ và được lôi cuốn vào phục vụ cho nhu cầu cũng như sản xuấtdịch vụ du lịch Các thành phần của tự nhiên với tư cách là tài nguyên du lịch
Trang 11và các điều kiện tự nhiên khác; sở thích của những người tìm đến TNDLNVrất phức tạp và rất khác nhau TNDLNV bao gồm: Các di tích lịch sử lịch sử -văn hoá, các lễ hội, các đối tượng du lịch gắn YỚi dân tộc học, các đối tượngvăn hoá - thể thao và hoạt động nhận thức khác.
1.1.3.2 Các điều kiện phát Men du lịch
* Điều kiện về chể độ chỉnh trị - xã hội
Du lịch chỉ có thể phát triển được trong hòa bình, hữu nghị giữa các quốcgia và các dân tộc Ở những nước và những vùng có chế độ chính trị ổn định,tình hình trật tự an toàn xã hội đảm bảo tạo lực hút rất lớn lượng du khách đếntham quan du lịch
Ngược lại, ở những nước, những vùng có sự bất ổn về chính trị, xungđột, chiến tranh sẽ gây ảnh hưởng rất xấu hoặc dẫn đến sự ngừng trệ các hoạtđộng du lịch Các hiện tượng thiên tai như bão, lũ lụt, động đất, hoặc các bệnhdịch như sida, tả, lỵ, sốt rét cũng gây ảnh hưởng xấu đến phát triển du lịch.Một xã hội văn minh, lịch sự, có những nét đẹp ừong phong tục tập quán cũng
là yếu tốt hấp dẫn du khách do đó sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt độngkinh doanh du lịch Đôi khi bản thân chế độ chính trị hiện tại cũng trở thành
Trang 122đối tượng thăm viếng của du khách bởi họ muốn có những nhận xét kháchquan nhất về nó.
* Điều kiện kinh tế
Ngành du lịch của một quốc gia hay vùng phát triển tỉ lệ thuận với trình
độ phát triển kinh tế của quốc gia hay vùng đó Thu nhập bình quân đầu người
là chỉ số tác động trực tiếp đến lượng nhu cầu trong du lịch Các nhà kinh tế
đã thống kê rằng ở các nước có nền kinh tế phát triển, nếu thu nhập tăng lên1% thì chi phí của nhân dân dành cho du lịch tăng lên 1,5% Mức thu nhập lànhân tố kinh tế quan trọng nhất ảnh hưởng tới nhu cầu du lịch
* Điều kiện giao thông vận tải
Giao thông du lịch có tác dụng quan trọng đối với sự phát triển củangành du lịch Sự phát triển của giao thông vận tải thể hiện trên hai mặt: Pháttriển về số lượng hình thành nhiều loại giao thông và sự tăng lên một cáchnhanh chóng số lượng phương tiện vận chuyển, tạo khả năng vận chuyển sốlượng lớn du khách trên thế giới đi du lịch Phát triển về chất lượng củaphương tiện giao thông vận tải tốc độ vận chuyển, đảm bảo an toàn trong vậnchuyển, đảm bảo tiện nghi trong vận chuyển, vận chuyển YỚi giá rẻ
* Chỉnh sách phát Men du lịch
Chiến lược và chính sách phát triển du lịch của một quốc gia, vùng có ýnghĩa cực kì quan trọng, nó tạo động lực thúc đẩy sự phát triển du lịch Chiếnlược phát triển du lịch xác định phương hướng phát triển du lịch dài ngày, đềcập đến những vấn đề tổng thể của phát triển du lịch như chiến lược sản phẩm
du lịch, chiến lược nâng cao chất lượng các dịch vụ du lịch, chiến lược giữ gìntôn tạo và phát triển tài nguyên du lịch, môi trường, chiến lược đầu tư du lịch,chiến lược giáo dục và đào tạo du lịch, chiến lược thị trường du lịch
* Thời gian rỗi
Các chuyến đi du lịch đều được thực hiện ừong thời gian nhàn rỗi củacon người (ngày nghỉ cuối tuần, kì nghỉ phép, thời gian nghỉ lễ, thời gian rỗi
Trang 133trước và sau khi thực hiện công vụ) Mặc dù, có khả năng chi tiêu, có nhu cầu,con người cũng không đi du lịch được nếu không có thời gian rỗi.
* Sự sẵn sàng đón tiếp du khách
Các cơ sở yật chất - kĩ thuật và cơ sở hạ tầng là toàn bộ phương tiện yậtchất tham gia vào việc tạo ra và thực hiện dịch vụ hàng hóa du lịch nhằm đápứng mọi nhu cầu của du khách Thành phần của cơ sở yật chất kĩ thuật baogồm các cơ sở công trình kĩ thuật thuộc ngành du lịch; các cơ sở, công trìnhthuộc ngành khác có tham gia vào hoạt động du lịch như giao thông, thươngnghiệp, dịch vụ công cộng; tài nguyên du lịch là thành phần đặc biệt của cơ sởvật chất kĩ thuật du lịch, chúng cũng là phương tiện vật chất để thỏa mãn nhucầu của du khách
Ngoài cơ sở vật chất - kỹ thuật, điều kiện kinh tế, tổ chức thì lực lượnglao động cũng góp phàn quan trọng trong việc đón tiếp khách Bởi du lịch làmột ngành sử dụng lực lượng lao động to lớn Trong du lịch bao gồm nhiềungành nghề và trình độ chuyên môn hết sức khác nhau Mặt khác, quá trìnhcung ứng dịch vụ du lịch là quá trình tiếp xúc trực tiếp giữa khách hàng vànhân viên cung ứng, vì vậy thái độ và trình độ của nhân viên sẽ quyết địnhchất lượng phục vụ và hiệu quả kinh doanh
Cho dù các yếu tố trên đều ảnh hưởng đến sự phát triển kinh doanh dulịch thì tài nguyên du lịch vẫn là yếu tố quan trọng, là cơ sở cho việc pháttriển kinh doanh du lịch Đặc biệt, ngày nay xu hướng du lịch văn hoá đangphát triển mạnh, tài nguyên du lịch văn hoá đang được khai thác triệt để Vỉvậy, khi khai thác tài nguyên du lịch, chúng ta cần phải đảm bảo có một sựtương xứng giữa khai thác và bảo vệ tài nguyên du lịch đồng thời bảo vệ môitrường
1.1.4 Tác động của du lịch đến kinh tế, văn hóa -xã hội và môi trường
1.1.4.1 Tác động đến kỉnh tể
Trang 14Du lịch phát triển sẽ thúc đẩy sự phát triển của các địa phương làm dulịch Du lịch phát triển sẽ góp phàn tạo công ăn việc làm cho cư dân địaphương, qua đó nâng cao đời sống, nâng cao thu nhập cho họ và gia đình họ.Không những thế, thông qua công việc, qua giao lưu tiếp xúc trình độ văn hoácủa con người ngày càng phát triển, phong phú, nền vãn hoá giữa các địaphương, các dân tộc được giao thoa học hỏi lẫn nhau Đối với các nhà sảnxuất, kinh doanh thì du lịch phát triển sẽ góp phần tăng thu nhập, tăng lợinhuận, còn đối với chính quyền sở tại thì du lịch phát triển sẽ góp phàn tăngthu nhập từ thuế, từ đó lại quay trở lại phát triển du lịch địa phương.
Du lịch phát triển sẽ góp phần kích thích đầu tư Khi du lịch phát triểnthu nhập của các chủ thể sẽ tăng, từ đó họ quay trở lại đầu tư phát triển dulịch Đối với chính quyền sở tại, với Nhà nước thì đó là đầu tư xây dựng, pháttriển cơ sở hạ tàng và kiến trúc thượng tàng Đối với các doanh nghiệp thì đó
là đầu tư mở rộng, đầu tư làm mới các doanh nghiệp Đối với cư dân địaphương thì đó là đầu tư phát triển các làng nghề thủ công truyền thống, cácphong tục tập quán,
Du lịch phát triển góp phần giải quyết việc làm cho người lao động Khi
du lịch phát triển nhu cầu hàng hoá, dịch vụ tăng, từ đó đòi hỏi phải có mộtlực lượng lao động lớn, nhất là khi mà ngành du lịch là ngành kinh tế dịch vụchỉ đáp ứng chủ yếu là du lịch và thức ăn, do đó nó đòi hỏi nhiều lao động vàtrong nhiều trường họp không thể cơ giới hoá được như các ngành sản xuất
Trang 155vật chất khác Do vậy, việc phát triển du lịch là tạo thêm nhiều chỗ làm và tạođiều kiện tăng thu nhập cho nhân dân địa phương.
Du lịch quốc tế còn là phương tiện tuyên truyền và quảng cáo không mấttiền cho đất nước du lịch chủ nhà Khi khách đến du lịch, khách có điều kiệnlàm quen với một số mặt hàng ở đó và mua các hàng hoá ấy về nước mình.Theo cách này, du lịch quốc tế góp phàn tuyên truyền cho nền sản xuất củanước du lịch chủ nhà
Du lịch tác động gián tiếp tạo hiệu quả số nhân trong du lịch Du lịchphát triển, tiêu dùng hàng hoá, dịch vụ tăng qua đó tạo thu nhập cho các chủthể trong nền kinh tế; du lịch phát triển, nhu cầu tái sản xuất, đầu tư tăng qua
đó tăng hiệu quả số nhân về Yốn; du lịch phát triển còn làm tăng nhu cầu laođộng qua đó góp phần tăng hiệu quả số nhân về lao động
* Tác động tiêu cực
Bên cạnh các mặt tích cực đó sự phát triển của du lịch cũng có nhữngmặt trái gây ảnh hưởng không tốt đến sự phát triển kinh tế xã hội của nơi làm
du lịch Du lịch phát triển, sẽ góp phần làm tăng số lượng tiền lưu thông, qua
đó làm cho đồng tiền mất giá, từ đó dẫn đến lạm phát Du lịch phát triển sẽgây ảnh hưởng đến khả năng tiêu dùng của cư dân địa phương nơi làm dulịch Khi du lịch phát triển, các sản phẩm dịch vụ có giá trị sử dụng cao, do đó
cư dân địa phương phải sống với mức sống cao hơn so với mức sống xã hộicho phép (chi phí trên một đơn yị sản phẩm lớn hơn mức cơ bản) và họ phảiphụ thuộc vào nhu cầu của khách du lịch từ nơi khác đến
1.1.4.2 Tác động đến vãn hoả - xã hội
* Tác động tích cực
Du lịch quốc tế phát triển góp phần mở rộng, củng cố các mối quan hệkinh tế quốc tế trên các hướng: Ký hợp đồng trao đổi khách giữa các nước,tham gia các tổ chức quốc tế về du lịch, họp tác quốc tế về giao thông, vậnchuyển khách trong du lịch, hợp tác quốc tế trong lĩnh vực xây dựng, phát
Trang 166triển, tuyên truyền, quảng bá du lịch Du lịch góp phàn phục hồi sức khoẻ vàtăng cường sức sống cho người dân Trong một chừng mực nào đó, du lịch cótác động hạn chế bệnh tật, kéo dài tuổi thọ và khả năng lao động của conngười, nhất là đối với các bệnh như tim mạch, thần kinh, du lịch rất có hiệuquả.
Trong thời gian đi du lịch, khách thường sử dụng các dịch vụ, hàng hoá
và thường tiếp xúc với cư dân địa phương Thông qua các cuộc giao tiếp đó,trình độ văn hóa của khách và người bản xứ được nâng cao, đồng thời giúp họxích lại gàn nhau hơn, đoàn kết hơn và làm phong phú thêm khả năng thẩm
mỹ của con người khi họ được tham quan các kho tàng, các danh thắng, củađất nước Du lịch phát triển góp phần khai thác, bảo tồn các di sản văn hoádân tộc, góp phần bảo vệ, tôn tạo và phát triển môi trường tự nhiên
Du lịch quốc tế có vai trò quan trọng trong việc giáo dục tinh thần quốc
tế, cho các dân tộc, làm cho mọi người gần gũi nhau hơn, góp phần bìnhthường hoá quan hệ quốc tế, góp phần cũng cố hoà bình quốc tế và tăng thêmtình hữu nghị giữa các dân tộc anh em
* Tác động tiêu cực
Du lịch phát triển cũng có thể tác động không tốt đến văn hoá - xã hội,nhất là thuần phong mỹ tục của dân tộc Do nhìn nhận đạo đức khác nhau,một số du khách không thấy hành động, cử chỉ, cách ăn mặc của mình làkhông phù hợp với phong tục, truyền thống của cư dân nơi du lịch Sự học hỏitheo mốt của một bộ phận cư dân bản xứ, đặc biệt là giới thanh thiếu niên.Không những thế, khi du lịch phát triển, vì mục đích kinh tế trước mắt, cáchoạt động văn hoá, tinh thần được trình diễn một cách thiếu tự nhiên hoặcchuyên nghiệp, hoặc mang ra làm trò cười cho du khách
Du lịch phát triển, các tệ nạn xã hội như cờ bạc, rượu chè, mại dâm, lan tràn nhanh chóng, gây ảnh hưởng tới trật tự, an ninh nơi làm du lịch Dulịch là con đường mà các thế lực phản động thường hay sử dụng để tuyên
Trang 177truyền, kích động Đội lốt du khách chúng thâm nhập sâu vào nước đến đểmóc nối xây dựng cơ sở.
1.1.4.3 Tác động đến môi trường
* Tác động tích cực
Hoạt động du lịch tạo ra hiệu quả tốt đối với việc sử dụng hợp lý và bảo
vệ tối ưu các nguồn tài nguyên và môi trường Biểu hiện rõ rệt nhất của hoạtđộng du lịch là vấn đề bảo tồn môi trường Du lịch góp phàn tích cực vào việcbảo vệ tồn các vườn quốc gia, các khu bảo tồn tự nhiên, các khu rừng văn hóa
- lịch sử - môi trường, tu bổ, bảo vệ hệ thống đền đài lịch sử kiến trúc mỹthuật
Du lịch góp phàn tích cực tu sửa phát triển cảnh quan đô thị, cảnh quantại các điểm du lịch như tu sửa nhà cửa cũ thành những cơ sở du lịch mới, cảithiện môi trường cho cả du khách và cư dân địa phương bằng cách gia tăngphương tiện vệ sinh, cung cấp nước, đường sá, thông tin, năng lượng, nhà cửađưa đến sự kiểm soát ở các điểm du lịch nhằm bảo vệ môi trường
* Tác động tiêu cực
Cường độ hoạt động du lịch ở một vùng, một địa phương càng mạnh thìtác động môi trường càng lớn và dẫn đến sự xung đột giữa du lịch và môitrường Tác động tiêu cực thể hiện trên các mặt sau: Gia tăng mức độ tắcnghẽn giao thông, gia tăng ô nhiễm không khí, nước, tiếng ồn, thay đổi cảnhquan thiên nhiên và sự thay đổi sự quân bình môi sinh đối YỚi môi trườngsống của sinh vật, gia tăng chi phí ngăn ngừa, tắc nghẽn giao thông và ônhiễm ở địa phương, chi phí tạo ra các khu vực bảo tồn trên lãnh thổ của khunghỉ dưỡng, chi phí thực hiện các dự án cải thiện, chi phí thực hiện việc bảotồn, lịch sử và văn hóa
Tóm lại, với những gì du lịch làm được cho kinh tế văn hóa xã hội sẽ lànền tảng để du lịch ngày càng phát triển hơn Tuy nhiên, nó cũng có ảnhhưởng không nhỏ tới môi trường, vì yậy, việc khai thác và bảo yệ môi trường
Trang 188phải luôn luôn gắn liền với nhau Hai vấn đề này tác động qua lại lẫn nhau vàđều nhằm mục đích làm giàu đẹp cho đất nước.
1.2.Khái quát về lễ hội
1.2.1 Khái niệm lễ hội
1.2.1.1 Khải niệm "lễ”
“Lễ” theo từ điển tiếng Việt là những nghi thức tiến hành nhằm đánh
dấu hoặc kỷ niệm một sự việc, sự kiện có ý nghĩa nào đó Trong thực tế ‘7e”
có nhiều ý nghĩa và một lịch sử hình thành khá phức tạp Chữ “/e” được hìnhthảnh và biết tới từ thời nhà Chu (thế kỷ XII trước công nguyên) Lúc đầu chữ
“/ễ” được hiểu là lễ vật của các gia đình quý tộc, nhà Chu cúng tế thần tổ tông
gọi là tế lễ Dần dàn, chữ “lễ” được mở rộng nghĩa là hình thức, phép tắc để
phân biệt trên, dưới, sang, hèn, thứ bậc lớn nhỏ thân sơ trong xã hội khi đãphân hoá thảnh đẳng cấp Cuối cùng khi xã hội đã phát triển thì ý nghĩa của “/I” càng được mở rộng như lễ Thành hoàng, lễ Gia tiên, lễ cầu an, lễ cầumưa,
Do ngày càng mở rộng phạm vi nên đến đây ‘7e” đã mang ý nghĩa baoquát mọi nghi thức ứng xử của con người YỚi tự nhiên và xã hội Như vậy, ta
có thể đi đến một khái niệm chung: “zễ” là hệ thống các hành vi, động tácnhằm biểu hiện lòng tôn kính của con người đối YỚi thần linh, phản ánhnhững ước mơ chính đáng của con người trước cuộc sống mà bản thân họchưa có khả năng thực hiện
1.2.1.2 Khải niệm “hội’’
“Hội” là đám vui đông người gồm hai đặc điểm là đông người, tập trung
trong một địa điểm và vui chơi YỚi nhau Nhưng nếu chỉ có vậy nhiều khichưa thành “ãọỉ” phải bao gồm các yếu tố sau đây mới đủ ý nghĩa của nó: (1)
“hội” phải được tổ chưc nhân dịp kỷ niệm một sự kiện quan trọng nào đó liên quan đến bản làng, cộng đồng dân tộc, (2) “hör đem lại lợi ích tinh thần cho mọi thành viên của cộng đồng “Hội” có nhiều trò vui náo nhiệt như câu ca
Trang 19dao đã từng YÍ “vui xem hát, nhạt xem bơi, tả tơi xem hộĩ\ Đây là sự cộng
cảm cần thiết của phương diện tâm lý sau những ngày tháng lao động vất vảvới những khó khăn trong cuôc sống hàng ngày mà ai cũng phải trải qua Đếnvới “Âộỉ” mọi người sẽ được giải toả thăng bằng trở lại
Như vậy, khái niệm “hội” được tập trung lại như sau: “Hội” là sinh hoạt
văn hoá tôn giáo nghệ thuật của cộng đồng xuất phát từ nhu cầu cuộc sống, sựtồn tại và phát triển của cộng đồng, sự bình yên cho từng cá nhân hạnh phúccho từng dòng họ, từng gia đình Sự sinh sôi nảy nở của gia súc, sự bội thucủa những mùa màng mà bao đời nay đã quy tụ vào niềm mơ ước chung với 4
chữ “Nhân - Khang - Vật - Thịnh”.
1.2.1.3 Mối quan hệ giữa "lễ” và “hội”
Qua các lễ hội truyền thống Việt Nam ta có thể rút ra được mối quan hệkhăng khít giữa lễ và hội Trong thưc tế, giữa lễ và hội có mối quan hệ khótách rời, chúng luôn hoà quyện với nhau Neu chỉ có hội mà không có lễ thìmất vẻ cung kính trang nghiêm và ngược lại nếu chỉ có lễ mà không có hội thìkhông còn vui nữa Vì vậy, mối quan hệ giữa lễ và hội là không thể tách rời,chúng ho à quyện đan xen vào nhau
Trên cơ sở ấy chúng ta nhận thấy rằng người nông dân Viêt Nam đã sángtạo lễ hội như cuộc sống thứ hai của mình, đó là cuộc sống hội hè đình đámsống động đậm màu sắc dân gian Phần cuộc sống đó thuộc về những ước mơ,những khát vọng hướng tới cái Chân - Thiện - Mỹ Ở đó cái đẹp của cuộcsống thực được bộc lộ hết mình trong sự hoà họp giữa con người với tự nhiên,
sự ngưỡng mộ, tri âm với các lực lượng thần thánh siêu nhiên đã có công xâydựng và bảo vệ làng bản Vỉ thế lễ hội mang tính nhân văn sâu sắc đem lạiniềm hy vọng cho con người, mà con người thì không bao giờ lại không cầnthiết tin và hy vọng
Trang 200Như vậy, chúng ta thấy lễ và hội có mối quan hệ chặt chẽ khăng khítYỚi nhau Chúng luôn song hành và cùng tồn tại YỚi nhau Ở đâu có lễ thì ở
đó có hội và ngược lại
1.2.2 Phân loại lễ hội
Có nhiều cách để phân loại lễ hội, ở mỗi tiêu chí khác nhau thì phân loại
lễ hội khác nhau Dưới góc độ xã hội người ta chia lễ hội thành lễ hội mangtính chất quốc gia, dân tộc hay quốc tế Năm 1989, Đinh Gia Khánh căn cứvào tính chất tôn giáo chia lễ hội thành hai loại đó là lễ hội tôn giáo haykhông tôn giáo Lễ hội cũng có thể chia thành 3 loại đó là: Lễ hội liên quanđến cuộc sống trong quan hệ YỚi môi trường tự nhiên (lễ hội cầu mưa, hộixuống đồng, hội cơm mới, hội đua ghe, ); lễ hội liên quan đến cuộc sốngtrong quan hệ YỚi môi trường xã hội (kỷ niệm các anh hùng dựng nước, giữnước - hội Đền Gióng, hội Đền Hùng, hội đền Hai Bà Trưng, hội Tây Sơn,hội Đống Đa, ); lễ hội liên quan đến đời sống cộng đồng hay các lễ hội tôngiáo và văn hóa (hội chùa Hương, hội chùa Thày, hội Phủ Giày, hội núi BàĐen, lễ hội La Vang, Phục sinh, )
Để phân chia lễ hội, người ta dựa vào nhiều căn cứ khác nhau Dưới làcách phân loại lễ hội theo mục đích tổ chức và thời gian hình thành, phát triểncủa lễ hội
1.2.2.1 Căn cứ theo mục đích tổ chức
Ở nước ta lễ hội là sinh hoạt văn hoá vô cùng phong phú và đa dạng màlại thường đan xen hoà lẫn vào nhau về cả nội dung lẫn hình thức Yì yậy,việc phân loại lễ hội càng trở nên cần thiết trong quá trình tìm hiểu nghiêncứu Thường người ta chia lễ hội làm 5 loại: Lễ hội nông nghiệp, lễ hội phồnthực giao duyên, lễ hội văn nghệ, lễ hội thi tài, lễ hội lịch sử
Theo tác giả Hoàng Lương trong cuốn “Lễ hội truyền thống của các dân tộc thiểu số ở miền Bắc Việt Nam” đã phân lễ hội ra làm 2 loại chính: Lễ hội
Trang 211liên quan đến tín ngưỡng cầu mùa; lễ hội tưởng nhớ người có công với dântộc.
Lễ hội liên quan đến tín ngưỡng cầu mùa: Đây là loại lễ hội phổ biến
nhất ở các dân tộc Nội dung lễ hội được thể hiện một cách sinh động ở cácnghi thức: Lễ thức liên quan đến chu trình sản xuất nông nghiệp; lễ thức cầuđảo; lễ rước thờ cúng hồn lúa; Những lễ hội trên đều mang tính chất tín
ngưỡng cầu mùa mong sao mùa màng “'phong đăng hoà cốc”, người an vật
thịnh, ngành nghề phát triển
Lễ hội liên quan đển việc tưởng niệm công lao các vị danh nhân văn ho
ả, anh hùng dân tộc, các vị thành hoàng và các chư vị thảnh phật Loại lễ hội
này đều thờ cúng di tích liên quan đến các vị nhiên thần và nhân thần đã cócông khai sơn phá thạch, xây dựng gìn giữ bảo vệ làng xóm và các chư vịthần phật có công khai minh, khai mang đền chùa giúp dân diệt ác trừ tà, bảo
vệ cái thiện
1.2.2.2 Căn cứ vào thời gian hình thành và phát triển của lễ hội
Hiện nay, mỗi khi nhắc đến lễ hội ở nước ta mọi người đều nghĩ ngayđến các lễ hội truyền thống đã có từ xa xưa Tuy nhiên, khi phân loại lễ hộitheo thời gian hình thành và phát triển của xã hội người Việt thì người ta chia
ra thành lễ hội truyền thống và lễ hội hiện đại
Lễ hội truyền thống là loại lễ hội sinh hoạt văn hoá sản phẩm tinh thần
của con người, là dịp con người được trở về với cội nguồn tự nhiên hay cộinguồn dân tộc đều mang ý nghĩa thiêng liêng trong tâm trí mỗi người dân ViệtNam Đen với lễ hội truyền thống, con người sẽ thấy mực thước hơn, sốngthoải mái hơn, cảm thấy mọi khó khăn ngày thường tan biến hết Đây làkhông gian linh thiêng mọi người có thể cầu mong những điều may mắn,mong cuộc sống ấm no hạnh phúc
Lễ hội hiện đại là loại lễ hội mang tính kinh tế thương mại cao, thông
thường nội dung gắn với các nhân yật lịch sử, liên quan dến cách mạng và
Trang 222kháng chiến, là các cuộc cho liên hoan du lịch triển lãm Lễ hội hiện đại ra đờivào thời gian cách mạnh tháng Tám năm 1945 Chủ yếu gắn liền với nhân vật
và sự kiện lịch sử liên quan đến cách mạng: Ngày 2 tháng 9 (quốc khánh),ngày 30 tháng 4 (giải phóng miền nam) Lễ hội vãn hoá thể thao, liên hoan dulịch, hội chợ là những hình thức của lễ hội hiện đại Đây là những hoạt độngmang tính kinh tế gắn với việc phát triển kinh tế của vùng miền hay ngànhnghề mục đích chủ yếu là khuyếch trương quảng bá sản phẩm, hình ảnh,thương hiệu và tôn vinh những giá trị của làng nghề, những lễ hội này phảnánh nhu cầu và xu thế phát triển của thời đại mới Qua đó lễ hội tạo ra những
cơ hội mới, kí kết hợp đồng kinh tế và nhận biết được xu thế phát triển của xãhội từ đó định hướng phát triển lễ hội cho phù họp
1.2.3 Chức năng, vai trò và tác động của lễ hội
1.2.3.1 Chức năng của lễ hội
Trong các nền vãn hóa ở các không gian và thời gian khác nhau, luôn cómột biểu thị chung, mang tính nhân loại: Lễ hội truyền thống Sinh thànhtrong các lễ hội cổ truyền, các lễ hội truyền thống trải qua nhiều biến thiênlịch sử và vẫn tồn tại bền vững trong các xã hội hiện đại Tính bền vững ấycủa lễ hội được lí giải bằng nhiều lí lẽ khác nhau, trong đó các lí giải theoquan điểm chức năng luận dường như có sức thuyết phục hơn cả
Ở Việt Nam, nhiều nhà nghiên cứu văn hóa đã tập trung vào hướng phântích này, tuy nhiên vẫn chưa có sự thống nhất cao về số lượng cũng như tínhchất của chức năng lễ hội cổ truyền, về số lượng, nhiều nhà nghiên cứu chorằng, lễ hội cổ truyền có hai chức năng, có người chia thành ba chức năng, vềtính chất, các ý kiến cũng còn rất khác nhau Một cách tổng quan, có thể liệt
kê những ý kiến khác nhau ấy về chức năng của lễ hội truyền thống thànhnhững chức năng sau: Củng cố những mối liên hệ giữa các nhóm, khẳng địnhtinh thần cộng đồng; khẳng định trình độ văn hóa của một cộng đồng và giaolưu văn hóa trên quy mô xã hội; phản ánh và bảo lưu truyền thống; tuyên
Trang 233truyền giáo dục; hưởng thụ và giải trí; đáp ứng nhu cầu về đời sống tinh thần;nhận thức xã hội; chức năng tâm linh; nhận thức cộng cảm.
Tóm lại, lễ hội là phương thức toàn diện để đối tượng hóa, hiện thực hóa
hệ giá trị cộng đồng thông qua sự thực hành những nghi thức trong lễ vànhững khuôn mẫu ứng xử ngoài lễ như những cuộc ăn uống vui chơi Cuộcsống luôn có những biến động thay đổi, lễ hội cũng yậy luôn biến đổi để thíchứng với cuộc sống Tuy nhiên, lễ hội sẽ không mất đi bởi lễ hội có chức năngđặc thù thỏa mãn được nhu cầu vãn hóa tổng họp của cộng đồng và phù họpvới nhu cầu cố kết của bất cứ cộng đồng nào, trong bất kì hoàn cảnh nào
1.2.3.2 Vai trò của lễ hội
Lễ hội có nhiều ý nghĩa to lớn, lễ hội thể hiện tư tưởng, tình cảm, thái độcủa người dân đối với thế giới đã khuất Thông qua lễ hội con người tưởngnhớ tới công đức, ông bà tổ tiên thông qua việc thờ cúng Lễ hội cũng là địađiểm để mọi người thi thố tài năng, nơi đó có nhiều trò chơi dân gian như:Đua thuyền, đánh đu, ném còn, hát giao duyên, hát đối đáp, hát bài chòi, đánh
cờ người, chính những trò chơi dân gian này tạo điều kiện để người dân gầngũi nhau hơn, hiểu nhau và cùng nhau tham gia tích cực để dành chiến thắngtrong các trò chơi
Lễ hội quả thật là một điểm văn hoá sống, một bảo tàng sống của ngườiViệt từ cổ đại đến nay, có tác dụng bảo lưu phát triển bản sắc văn hoá Đốivới mỗi người, lễ hội trở nên thân thiết, là nỗi nhớ thiêng liêng, mãnh liệt, lànơi con người kì thác mọi niềm vui, nỗi buồn Đây còn là biểu hiện giá trị củamột cộng đồng: Thông qua vui chơi, con người lấy lại thăng bằng sau nhữngkhó khăn lo toan của cuộc sống thường nhật; sức cố kết của lễ hội đã làm xoadịu những đố kị, có khi cả những hận thù diễn ra trong những quan hệ hàngngày, lễ hội là dịp để hoàn thiện các chủng loại văn hoá; là dịp để con ngườivươn lên đời sống văn hoá cao hơn và bộc lộ hết tinh hoa của mình Lễ hộicòn là nơi nhắc nhở người ta sống trật tự, mực thước góp phần làm cho cuộc
Trang 244sống tốt đẹp hơn Là nơi thể hiện năng khiếu thẩm mĩ của cộng đồng, tất cảphải được chuẩn bị hết sức chu đáo Đồng thời cũng khuyến khích tài nănglao động và vui chơi, đề cao cái cao cả, cái bi, cái hài của cuộc sống.
Như vậy, chúng ta thấy rằng vai trò của lễ hội rất quan trọng, không chỉtrong đời sống hàng ngày, thể hiện ý nghĩa văn hoá mà nó còn là một trongnhững khuôn mẫu chuẩn mực để con người noi theo Muốn cho lễ hội nước tamãi giữ được bản sắc chúng ta cần khắc phục một số mặt tiêu cực như thươngmại hoá các hoạt động mê tín dị đoan, tệ nạn đánh bạc tập quán lạc hậu,
1.2.3.3 Tác động của lễ hội
* Đổi với kỉnh tế.
Ngày nay khi xã hội phát triển, đời sống con người được nâng cao thì dulịch ừở thành quan ừọng nhất ừong ngoại thương nền kinh tế mở cửa và làmột hiện tượng kinh tế phổ biến Đối với một số quốc gia, du lịch là nguồnthu ngoại tệ quan trọng ừong ngoại thương Tại nhiều quốc gia trên thế giới,
du lịch đã trở thành ngành kinh tế mũi nhọn hàng đầu Đặc biệt du lich lễ hộilàm cho nền kinh tế tăng trưởng khá cao, tạo sự thu hút cho khách đi du lịch
Lễ hội cũng góp phần làm cho cuộc sống của người dân được cải thiện.Vào mùa hội những mặt hàng dịch vụ được tăng lên cao tạo điều kiện chongười dân xo á đói giảm nghèo, không những vậy, lễ hội còn tác động đến dulịch Lễ hội là loại kinh tế mở, nó vừa giới thiệu quảng bá được những chươngtrình du lịch hấp dẫn với du khách, tạo sự giao lưu đan xen giữa các vùngmiền góp phàn làm cho kinh tế phát triển hơn nữa làm giàu cho kho tàng vănhoá, bản sắc dân tộc, tăng doanh thu cho các công ty du lịch Lễ hội thay đổidiện mạo của các điểm du lịch, xóa đi sự nhàm chán đơn điệu của các điểm dulịch Hoạt động này còn là nơi trưng bày và trình diễn các sản phẩm truyềnthống của địa phương người ta gọi là kinh tế xuất khẩu tại chỗ, tạo điều kiệntốt để kinh doanh, là cơ hội để đón nhiều đối tượng khách từ nhiều vùng miền
Trang 25cả nước, tạo tăng doanh thu cho địa phương đó và cũng làm cho đất nước đóphát triển
* Đổi với chỉnh trị - xã hội
Mặt khác, lễ hội mang tính đối ngoại, là nơi giao lưu tình bạn giữa cácnước nên góp phàn làm cho đất nước ổn định Ví dụ, Thánh Gióng mặc dù chỉ
là sự biểu tượng huyền thoại nhưng sự nghiệp đánh giặc của Gióng là sựnghiệp của cả nước, khơi gợi lại niềm tự hào của cả dân tộc đã từng có thời kìanh hùng chống lại giặc ngoại xâm Hơn nữa, mở hội Gióng là đề cao khátkhao ước mơ mong có sức mạnh phi thường để chiến thắng mọi kẻ thù Sứcmạnh đó thực ra là sức mạnh của cuộc chiến tranh nhân dân cũng như sứcmạnh của chính trị-xã hội trong thời bình
Lễ hội còn ảnh hưởng đến xã hội vì giá trị xã hội thể hiện ở cộng đồng,qua lễ hội đã thể hiện được cuộc sống mực thước, mọi người hướng thiện vàsống khoan dung hơn, cao thượng hơn và sự nhân đạo của nhân dân ta Nếukhông có lễ hội, xã hội ít đi tính cộng đồng, con người ít quan tâm y à sống ít
kỷ hơn Chính vì yậy, lễ hội ảnh hưởng lớn đến chính trị - xã hội
* Đối với văn hoả
Lễ hội là một công cụ văn hoá đa năng để giới thiệu những cái hay cáiđẹp của đất nước con người trong thời đại mới Lễ hội ảnh hưởng lớn đến vănhoá vì khi đến lễ hội con người sẽ sống hòa đồng hơn, vui yẻ hơn, nói nănglịch sự hơn
Trong lễ hội, người ta thường khai thác giá trị truyền thống, văn hóa ẩmthực, thủ công mĩ nghệ nên các văn hoá của lễ hội góp phàn làm cho lễ hộiphong phú hơn, hấp dẫn hơn Đặc biệt, khi tham gia lễ hội du khách có dịptham gia các trò chơi dân gian, họ gặp gỡ giao lưu các nền văn hoá với nhau.Thông qua nghi thức cúng tế, dâng hương, rước kiệu, du khách có thể hiểuđược nét vãn hoá đặc sắc góp phần làm giàu vốn tri thức của họ
1.3.Mối quan hệ giữa lễ hội và du lịch
Trang 261.3.1 Tác động của lễ hội đến du lịch
Trong điều luật 79 của luật du lịch Việt Nam đã xác định rõ, Nhà nước tổchức hoạt động hướng dẫn du lịch xúc tiến du lịch với các nội dung tuyêntruyền giao tiếp rộng rãi về đất nước, con người Việt Nam, danh lam thắngcảnh, di tích lịch sử, Do đó, lễ hội sẽ làm cho du lịch phát triển hơn, lễ hộilàm cho du lịch trở nên hấp dẫn tạo cho số lượng khách đông hơn Du kháchđến lễ hội đông kéo theo những nhu cầu khác nhau, khi đó những mặt hàngngành du lịch tăng lên
Bản chất của du lịch Việt Nam là du lịch văn hoá, du lịch Việt Nammuốn phát triển tất yếu phải khai thác sử dụng giá trị văn hoá truyền thống,cách tân và hiện đại hoá sao cho phù hợp hiệu quả, trong đó có kho tàng lễ hộitruyền thống Đây là một thành tố đặc sắc văn hoá Việt Nam cho nên pháttriển du lịch lễ hội chính là lễ hội sử dụng ưu thế của du lịch Việt Nam trongviệc thu hút và phục vụ khách du lịch Mùa lễ hội cũng là mùa du lịch tạo nênhình thức du lịch lễ hội mang bản sắc văn hóa dân tộc được thể hiện qua cácsắc thái văn hoá các địa phương, vùng miền phong phú đặc sắc
1.3.2 Tác động của du lịch đến lễ hội
Lễ hội và du lịch luôn luôn có sự tác động qua lại với nhau và cùng nhauphát triển làm hoàn thiện hơn ngành du lịch Trước hết, hoạt động du lịch cónhiều tác động tích cực đối với lễ hội Du lịch có những đặc trưng riêng làmcải biến hay làm hấp dẫn hơn lễ hội truyền thống Du lịch mang đến nguồn lợikinh tế cao cho các địa phương có lễ hội, du lịch tạo việc làm cho người dânđịa phương thông qua dịch vụ như: Yận chuyển khách, bán hàng hoá, đồ lưuniệm, Nhân dân vùng có lễ hội vừa quảng bá hình ảnh vãn hoá về đời sốngmọi mặt của địa phương mình, vừa có dịp giao lưu, học hỏi tinh hoa vãn hoáđem đến từ du khách
Bên cạnh những tác động tích cực còn có những tác động tiêu cực của dulịch đối với lễ hội Với thời gian và không gian hữu hạn của các lễ hội truyền
Trang 277thống vốn chỉ phù hợp với điều kiện riêng của các địa phương, thực tế, khikhách du lịch tới đông sẽ ảnh hưởng thay đổi, đôi khi đảo lộn các hoạt độngbình thường của địa phương nơi có lễ hội.
Hoạt động du lịch với những đặc thù riêng của nó làm biến dạng các lễhội truyền thống Vì lễ hội truyền thống có đặc tính mở thì vẫn còn những hạnchế nhất định về điều kiện kinh tế, văn hoá xã hội cổ truyền Nay hoạt động
du lịch mang tính liên chất, liên ngành, liên vùng, xã hội hoá cao, sẽ lảmmất đi sự cân bằng dẫn đến phá vỡ các khuôn mẫu truyền thống của địaphương trong quá trình diễn ra lễ hội Hiện tượng thương mại hoá các hoạtđộng lễ hội như: Lừa đảo, bắt chẹt khách để thu lợi nhuận tạo hình ảnh xấulàm cho du khách có cảm giác hụt hẫng trước một không gian linh thiêng màtính tôn nghiêm vẫn chưa được kiểm soát chặt chẽ, làm cho khách đi màkhông muốn quay lại lần sau Du khách đến YỚi lễ hội kéo theo những nhucầu mất cân đối trong quan hệ cung cầu dẫn đến tình trạng ô nhiễm môitrường sinh thái nhân văn Bản sắc văn hoá của vùng miền có nguy cơ bị
“mờ” do kết quả của sự giao thoa văn hoá thiếu lành mạnh không thể tránhkhỏi đem đến từ một bộ phận du khách
CHƯƠNG 2: LẺ HỘI Ở HUYỆN THỌ XUÂN - THANH HÓA2.1.Huyện Thọ Xuân và tiềm năng du lịch
2.1.1 Khái quát huyện Thọ Xuân - Thanh Hóa
2.1.1.1 Điều kiện tự nhiên
* Vị trí địa ỉỷ
Huyện Thọ Xuân, nằm về phía tây bắc thành phố Thanh Hóa, với tọa độđịa lý 19°50’ bắc và 105°25’ - 105°30’ đông Phía tây bắc giáp huyện NgọcLặc, nam giáp huyện Triệu Sơn, tây giáp Thường Xuân, đông - đông bắc giápYên Định, đông - đông nam giáp Thiệu Hóa Với diện tích tự nhiên là 30.035
ha, hiện nay toàn huyện có 38 xã và 3 thị trấn trực thuộc đơn vị hành chínhcấp huyện
Trang 28Ở vào vị trí cửa ngõ nối liền đồng bằng với trung du miền núi, lại códòng sông Chu - con sông lớn thứ hai của tỉnh đi qua từ đầu cho đến cuốihuyện, có sân bay quân sự Sao Vàng, có đường Hồ Chí Minh và quốc lộ 47chạy qua, Thọ Xuân đã thực sự trở thành vùng đất mở, rất thuận lợi cho việchội nhập, giao lưu với tất cả các vùng miền trong và ngoài tỉnh Từ Thọ Xuâncũng có đường qua vào Nghệ An, rồi từ Thọ Xuân cũng qua đất bạn Lào, nếu theo đường sông Chu gặp sông Mã ở ngã ba Giàng, chúng ta có thể đếnđược hầu khắp các vùng trong và ngoài tỉnh
Chính vì có vị trí địa lý đặc biệt như vậy, đã tạo cho huyện Thọ Xuânnhiều thế mạnh và sắc thái riêng mà nhiều vùng đất không có Vị trí đó đã tạo
ra bản sắc vãn hóa riêng có của huyện và đây cũng là thế mạnh để Thọ Xuân
phát triển kinh tế Trong suốt trường kì lịch sử, vùng đất của “thiên thời - địa lợi - nhân hòa” này đã trở thành điểm hẹn lý tưởng để các dòng người từ nơi
khác đổ về, khai thác lập nghiệp, sinh tồn và phát triển thành một huyện ThọXuân giàu đẹp như hôm nay
* Địa hình
Là huyện đồng bằng nối liền miền núi và trung du, địa hình của ThọXuân có thể chia thành hai dạng địa hình cơ bản, đó là vùng trung du đồi núithấp và vùng đồng bằng rộng lớn tiêu biểu của xứ Thanh
Vùng trung du gồm 13 xã nằm về phía Tây Bắc và Tây Nam của huyện.Đây là vùng đồi thoải có độ cao từ 15 - 150m, thích hợp cho việc trồng cácloại cây công nghiệp, cây ăn quả, lâm nghiệp, Vùng đồng bằng: Gồm 27 xã,
1 thị trấn nằm hai phía tả và hữu ngạn sông Chu, có độ cao từ 6m - 17m.Vùng này được chia thành 2 tiểu vùng: Tiểu vùng hữu ngạn sông Chu và tiểuvùng tả ngạn sông Chu Địa hình Thọ Xuân đa dạng có tác động lớn đến việc
bố trí khu dân cư, đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng, bố trí vùng chuyên canh vàthâm canh lớn, phát triển công nghiệp, nông nghiệp, tạo tiền đề cho phát huylợi thế, phát triển nền kinh tế phong phú, đa dạng
Trang 29* Khỉ hậu
Là vùng tiếp giáp giữa hai nền khí hậu của đồng bằng Bắc Bộ và khu IV
cũ, là sự nối tiếp giữa đồng bằng với trung du miền núi, nền khí hậu củahuyện Thọ Xuân vẫn là nền khí hậu của khu vực nhiệt đới gió mùa Nhungngoài những yếu tố chung, khí hậu ở đây vẫn có những yếu tố khác biệt, đặcthù riêng Nhiệt độ không khí bình quân năm 23,4°C; nhiệt độ cao tuyệt đối41,1°C; thấp tuyệt đối 4,l°c Biên độ nhiệt ngày - đêm 6,6°c Độ ẩm khôngkhí bình quân 86% Lượng mưa bình quân 1,642mm, năm cao nhất 2.947mm,năm thấp nhất 1.459mm Tổng số giờ nắng trung bình trong năm 1.680 giờ sốngày có sương mù trong năm tập trung vào các tháng 11 và 12, từ 6
- 8 ngày, sương mù xuất hiện làm tăng độ ẩm không khí và đất
* Thuỷ văn - Sông ngòi
Thọ Xuân nằm trong vùng thuỷ văn sông Chu, có 3 con sông chảy qua:sông Chu, sông Hoàng, sông cầu Chày
Sông Chu: Bắt nguồn từ Mường Sang, cách sầm Nưa (Lào) 15km Toàn
bộ chiều dài sông 270km, diện tích lưu vực 7500km2; phần chảy qua huyệnThọ Xuân dài 29,4km Lượng nguồn có độ dốc lớn, lòng sông sâu, bề ngangsông hẹp, dòng chảy uốn khúc, bắt nguồn từ những vùng núi trọc cao, làmcho nước sông không ổn định giữa mùa mưa và mùa khô cạn
Sông Cầu Chày: Bắt nguồn từ dãy núi Ngọc Khê, huyện Ngọc Lặc, chảyqua 2 huyện Thọ Xuân và Yên Điên Định có chiều dài 87km, diện tích lưuvực 551 km2, trong đó, đoạn chảy qua địa phận huyện Thọ Xuân 24km
Sông Hoàng (hay còn gọi là sông Nhà Lê): Bắt nguồn từ dãy núi phíaTây nông trường Sao Vàng, chiều dài 81km, diện tích lưu vực 105km, lưulượng lũ lớn nhất 76,5m3/s, lưu lượng kiệt 0,lm3/s Lòng sông quanh co uốnkhúc, sông ngắn nên lũ tập trung khá nhanh dễ gây ngập úng
Nhìn chung, hệ thống sông ngòi ở Thọ Xuân rất phong phú, có nướcquanh năm Tổng lượng nước trên các sông đều lớn, khả năng lợi dụng nước
Trang 300nguồn còn nhiều tiềm năng như đập Bái Thượng (ở Sông Chu), đập cầu Nha(ở sông cầu Chày) Bên cạnh đó, trên địa bàn huyện còn có nhiều hồ, ao nằmphân tán rải rác.
* Rừng và tài nguyên khoảng sản
Tài nguyên rừng của Thọ Xuân chủ yếu là rừng trồng mới được khôiphục, động yật hầu như không có Kết quả kiểm tra rừng năm 2008, ThọXuân có 2.799,62ha rừng, ừong đó đất rừng sản xuất là 2672,84ha, đất rừngphòng hộ 107,78ha, đất rừng đặc dụng 19,0ha Trữ lượng rừng 12.391m3trong đó: Bạch đàn 9349m3, xà cừ và lim 468m3 và gần 100 triệu cây ừe, nứa,luồng có cấp tuổi 2 năm
Khoáng sản ở Thọ Xuân, chủ yếu là khoáng sản phi kim loại như: Đávôi, đá xây dựng tập chung ở các xã Thọ Lâm, Xuân Phú, Xuân Thắng, XuânChâu Ngoài ra còn có đá, sỏi, cát xây dựng tập trung ở các xã ven sông Chu
và đất sét làm gạch ngói ở nhiều xã trong huyện Tài nguyên khoáng sản ởThọ Xuân tuy không phong phú và đa dạng về loại hình so với những vùngđất khác, nhưng khoáng sản ở Thọ Xuân vẫn là nguồn lực quan trọng và tolớn để tận dụng khai thác trong vùng
Tóm lại, với các yếu tố cơ bản của vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên đãtrình bày ở trên, chúng ta thấy Thọ Xuân có đủ những điều kiện thuận lợi đểphát triển kinh tế nông - lâm nghiệp và du lịch theo hướng hiện đại hóa mộtcách toàn diện, bền vững Mặc dù còn có những khó khăn bất cập, song bằng
sự phấn đấu bền bỉ, kiên trì, với nghị lực phi thường cộng với sự thông minhsáng tạo và năng động, lãnh đạo và người dân huyện Thọ Xuân đang phấn đấuđưa huyện phát triển ngày một giàu đẹp hơn trên tất cả các mặt kinh tế, xãhội, vãn hóa, an ninh quốc phòng
2.1.1.2 Lịch sử hình thành huyện
Nhìn trên bản đồ huyện Thọ Xuân ngày nay, xét về phạm vi cương vựclãnh thổ, về cơ bản vùng đất Thọ Xuân hiện tại Yốn là đất của huyện Lôi
Trang 311Dương thuộc phủ Thọ Xuân (năm Minh Mệnh thứ 2 - 1821) và một phầnhuyện Thụy Nguyên, về tên huyện Thọ Xuân, thấy xuất hiện trong cơ cấu tổchức hành chính dưới thời Lê Sơ Sau nhiều lần tách nhập địa chính, từ năm
1945, tên huyện Thọ Xuân được gọi như ngày nay
Là một vùng đất có lịch sử phát triển lâu đời, YÌ vậy ngay từ rất sớmThọ Xuân đã là vùng đất thuận lợi cho sự cư trú của con người, không nhữngthế đây còn là nơi được các nhà khảo cổ phát hiện sự ẩn chứa nhiều tầng vănhóa
Qua nghiên cứu của các nhà khoa học, dấu vết của Vãn hóa Sơn Vỉ đã
được xác định trên vùng đất Thọ Xuân ngày nay Trên các đồi gò thấp thuộccác xã phía bắc sông Chu như: Xuân Thiên, Xuân Lập, Xuân Minh, các nhàkhảo cổ đã phát hiện ra một số công cụ đá mang dấu ấn văn hóa Sơn Yi, đó lànhững công cụ bằng đá cuội được ghè đẽo thô sơ Các loại công cụ đá nguyênthủy này được các nhà khảo cổ học gọi là các công cụ có lưỡi dọc, công cụhình mũi nhọn,
Tiếp theo văn hóa Sơn Yi, vãn hóa Đông Sơn cũng hiện diện trên địa bàn
huyện Thọ Xuân Dấu tích vãn hóa Đông Sơn được phát hiện ngày càng nhiềuthuộc các xã: Xuân Lập, Xuân Thiên, Xuân Thành, Hạnh Phúc, Tại các xãnày, ngoài các di yật tiêu biểu của vãn hóa Đông Sơn như cán dao hình người,trống đồng, thạp đồng, đồ trang sức, đồ gốm, còn phát hiện được một số tích
cư trú lâu dài của chủ nhân thời kì này
Đặc biệt, ở Thọ Xuân còn là nơi phát hiện được nhiều trống đồng - sảnphẩm tiêu biểu của nền vãn minh Đông Sơn, trống đồng được phát hiện ở các
xã Hạnh Phúc, Xuân Lập và Bàn Thạch đó là loại trống đồng có kích thướclớn, hoa vãn phong phú như: Hình mặt trời, hình chữ V lồng, hoa vãn hìnhchùn, Ngoài trống đồng còn phát hiện được một số dao găm hay thạp đồng,thố đồng có kích thước lớn và hoa vãn độc đáo Với dấu vết của những nền
Trang 322vãn hóa như Sơn Vi, Đông Sơn, Thọ Xuân được biết đến như một vùng đất cólịch sử phát triển lâu đời, xuyên suốt chiều dài lịch sử.
Bước vào thế kỉ X - thế kỉ có những chuyển biến đáng kể trên tất cả cácmặt của đời sống kinh tế, chính trị, vãn hóa - xã hội, trong đó Thanh Hóa (tứcChâu Ái bấy giờ) là một trong những vùng đất sôi động nhất Nói đến sự cốnghiến của Thanh Hóa ở giai đoạn này phải nhắc đến Lê Hoàn - một nhân vậtlịch sử YĨ đại, người con anh hùng quê ở làng Trung Lập, huyện Thọ Xuân
Lê Hoàn đã có công giúp Đinh Bộ Lĩnh dẹp loạn mười hai sứ quân, dẹp tannội loạn trong triều đình và đánh tan hai cuộc xâm lược của Chiêm Thành vàquân Tống Hiện nay, trên mảnh đất Thọ Xuân, nhân dân vẫn tổ chức lễ hội
Lê Hoàn vào ngày giỗ tỗ của vua hàng năm
Sự hưng thịnh và suy tàn của một triều đại phong kiến là điều tất yếu củalịch sử Trong dòng chảy hào hùng và đầy biến động đó, triều Tiền Lê dần suytàn, thay vào đó là các triều Lý - Trần - Hồ Đến thế kỉ XV, Minh Thảnh Tổ(1403 - 1424) phái 80 vạn quân sang xâm lược Đại Việt, sau khi nhà Hồnhanh chóng suy tàn, một thời kì lịch sử mới bắt đầu, thời kì đánh đuổi giặcMinh giành độc lập cho dân tộc Chính những tháng ngày này, lòng yêu nướccủa nhân dân ta sục sôi tạo thành một làn sóng mạnh mễ quy tụ về vùng đấtLam Sơn (Thọ Xuân), dưới ngọn cờ của người anh hùng Lê Lợi và tạo nênkhởi nghĩa Lam Sơn huyền thoại Sau mười năm kháng chiến chống quânMinh thắng lợi, Lê Lợi lập nên nhà Hậu Lê kéo dài 360 năm hiển hách, đây làcội nguồn các cuộc ra đi, ừao đổi in đậm mãi trong truyền thuyết và sử sáchViệt Nam Sự ra đời và tồn tại của nhà Hậu Lê đã để lại cho thế hệ sau một ditích có giá trị to lớn về lịch sử - văn hóa, đó là khu di tích Lam Kinh, đặc biệtmột văn hóa phi yật thể - lễ hội Lam Kinh hiện đang thu hút sự quan tâm đầu
tư của lãnh đạo các cấp và nhân dân ừong cả nước
Cuối thế kỉ XIX, khi thực dân Pháp xâm lược Việt Nam, cũng trong tìnhhình chung của cả nước, nhân dân Thọ Xuân bị bóc lột nặng nề Thực dân
Trang 333Pháp chiếm hết đất đai, khai thác khoáng sản, lâm sản, đầu tư vào giao thôngvận tải như xây dựng cầu Phủ, cầu Vàng, cầu Phúc Như, đặc biệt cho xâydựng đập Bái Thượng trên sông Chu với mục đích tưới tiêu Chính điều này
đã thúc đẩy nhiều phong trào yêu nước bùng nổ
Đảng Cộng Sản Việt Nam ra đời 3/2/1930 là một bước ngoặt vĩ đại củacách mạng Việt Nam và dưới sự lãnh đạo của Đảng đã đưa cách mạng ViệtNam giành thắng lợi, với những chiến thắng như Cách mạng tháng Tám 1945,Điện Biên Phủ 7/1954 và đỉnh cao là đại thắng mùa xuân 1975 Trong khôngkhí hào hùng chung của dân tộc, Thọ Xuân bước vào những ngày khôi phục
và xây dựng kinh tế xã hội, những đổi mới quan trọng giúp Thọ Xuân đạtđược nhiều thành tựu trên mọi mặt
Như vậy, qua lịch sử huyện Thọ Xuân chúng ta thấy rằng đây là vùng đất
có bề dày truyền thống yêu nước, truyền thống lịch sử lâu đời Sự lớn mạnhcủa hệ thống Đảng, chính quyền, đoàn thể và tinh thần cách mạng cao củaquần chúng nhân dân mà sự nghiệp đổi mới của Thọ Xuân giành được nhiềuthắng lợi Đây sẽ là tiền đề để những giá trị văn hóa truyền thống của huyệntiếp tục được xây dựng, phát triển và lưu truyền cho các thế hệ sau
2.1.1.3 Điều kiện kỉnh tể, xã hội
Bước vào thời kỳ đổi mới, Thọ Xuân vẫn luôn xác định “Nông nghiệp là mặt trận hàng đầu” Nhưng YỚi sự gia đời và hoạt động của khu công nghiệp
mía đường Lam Sơn và nhà máy giấy Mục Sơn đã có tác dụng làm thay đổicục diện kinh tế cho 15 xã và vùng bán sơn địa và miền núi của huyện
về nông - lâm nghiệp, nông nghiệp có sự chuyển đổi nhanh chóng về cơcấu cây trồng, vật nuôi phù hợp theo xu hướng sản xuất hàng hóa ở các vùngchuyên canh, thâm canh Năng suất lúa và cây lương thực tăng lên rõ rệt Sảnlượng mía đường nguyên liệu đạt hơn 223 nghìn tấn/năm về chăn nuôi: Cơcấu đàn gia súc, gia cầm được thay đổi cơ bản theo hướng năng suất và chấtlượng, về lâm nghiệp: Huyện đã chuyển nhanh từ khai thác sang trồng mới,
Trang 344phủ xanh đất trống đồi trọc, khoanh nuôi chăm sóc,bảo yệ rừng, nâng cao hiệuquả kinh tế lâm nghiệp.
về công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp: Giá trị sản xuất bình quân hàng
năm trên 19,2% Các ngành nghề truyền thống như: Cót na, cót ép, gạch ngói,
cơ khí tiếp tục phát triển cả quy mô, số lượng và chất lượng Nghề trồng dâunuôi tằm đã bắt đầu được khôi phục với tiềm năng đầy triển yọng Các nghềnhư làm bột giấy, nghề mộc cao cấp, nghề xẻ xuất khẩu, phát triển nhanhchóng
Các hoạt động dịch vụ - thương mại phát triển ngày một nhiều ở khắpcác địa phương trong huyện bình quân tăng 19%/ năm Tổng mức bán lẻ hànghóa và dịch vụ tiêu dùng xã hội hàng năm đạt 643 tỷ đồng trở lên Hoạt độngdịch vụ du lịch và dịch vụ lễ hội ngày càng tạo sức hút như ở khu di tích lịch
sử Lam Kinh, khu di tích lịch sử Lê Hoàn và lãng mộ vua Lê Dụ Tông Hoạtđộng tài chính, ngân hàng và tín dùng đều có sự đổi mới, tích cực huy dộngvốn trong nhân dân, đầu tư hiệu quả cho các doanh nghiệp và hộ gia đình làmkinh tế Hiện tại, đời sống của nhân dân được cải thiện rõ rệt, số hộ giàu vàkhá ngày một tăng
Trong những năm gần đây, thực hiện các chủ trương chính sách pháttriển kinh tế - xã hội của Đảng và Nhà nước, đặc biệt là Hội nghị Ban chấp
hành Trung ương lần thứ V (Khoá IX tháng 2/2002) về “Đay nhanh công nghiệp hoả, hiện đại hoả nông nghiệp nông thôn thời kỳ 2001 - 2010”, huyện
Thọ Xuân đã tập trung vào đầu tư xây dựng cơ sở vật chất kỳ thuật hạ tầngphục vụ sản xuất và nhu cầu đi lại của người dân, các công trình hạ tầng ngàycàng được đầu tư, nâng cấp Hệ thống giao thông trên địa bàn huyện đượchình thành và phân bố hợp lý Trên địa bàn huyện hiện có 1.209km đường bộ,bao gồm hệ thống quốc lộ, tỉnh lộ, đường huyện, đường xã quản lý Trong đó:Đường quốc lộ 4 tuyến; quốc lộ 47, quốc lộ 506, quốc lộ 15, đường Hồ ChíMinh đi qua huyện YỚi chiều dài 36,2km, hầu hết các con đường đã được trải
Trang 355nhựa Có 2 tuyến sông đi qua gồm: Sông Chu và sông cầu Chày Nhìn chung,
hệ thống giao thông trên địa bàn huyện được phân bố hợp lý, phục vụ tốtnhững yêu cầu đi lại và giao lưu hàng hoá trong vùng, tuy nhiên một số tuyếnđường còn hẹp, chất lượng xấu, càn quan tâm đầu tư cải tạo và nâng cấp
Hệ thống y tế từ huyện đến cơ sở được cũng cố, cơ sở yật chất, trangthiết bị kỹ thuật được tăng cường; tinh thần trách nhiệm và ý thức phục vụđược nâng cao Hiện nay huyện có 1 bệnh viện, 3 phân viện và 41 ừạm xá xãvới tổng số 268 giường bệnh; toàn huyện có 290 cán bộ y tế, trong đó có 244
y, bác sỹ Công tác phòng chống dịch bệnh, yệ sinh môi trường được triểnkhai thực hiện có hiệu quả, tim chủng mở rộng được tiến hành thường xuyênhàng năm, ngăn ngừa có hiệu quả một số loại dịch bệnh phát sinh trên địabàn
về văn hóa thể thao, đến hết năm 2008 toàn huyện có 41 nhà văn hoá xã, thị ừấn, 1 nhà văn hoá huyện và 180 nhà văn hoá thôn, làng, khu phố (chiếm
46% tổng số thôn) Phòng đọc sách báo thông thường được sử dụng chung vớinhà văn hoá thôn Những năm gần đây ngành vãn hoá đã có nhiều cố gắngtrong xây dựng nếp sống vãn hoá ở nông thôn, động viên các địa phương xâydựng các công trình vãn hoá Tất cả các xã, thị trấn trong huyện đã có sân vậnđộng, điểm vui chơi thể dục thể thao
Do thực hiện tốt chương trình phổ cập giáo dục và chăm sóc sức khoẻnhân dân nên chất lượng dân số của huyện không ngừng được nâng cao.Huyện đã đạt phổ cập giáo dục trung học cơ sở đúng độ tuổi, có 40 trường đạtchuẩn Quốc gia, trong đó 4 trường mầm non, 28 trường tiểu học, 8 trườngtrung học cơ sở Trẻ em trên địa bàn được quan tâm ngày càng tốt hơn, toàndiện hơn
Toàn huyện có 101 trạm biến áp với tổng dung lượng đạt 26.220KVA,tăng 14% so năm 2000 Tổng chiều dài đường dây 358km Đen nay trên địabàn huyện 100% số xã, thị trấn đã được sử dụng điện lưới quốc gia, ngành
Trang 366điện cơ bản đã cung cấp đủ nguồn điện phục vụ phát triển kinh tế - xã hội vàđời sống dân sinh.
về hệ thống thông tin liên lạc, bưu chính viễn thông, toàn huyện đã có 7
bưu cục, 35 điểm đã có bưu điện văn hoá xã Mạng cố định gồm có 20 trạmchuyển mạch (tổng đài) phục vụ cho 41 xã, thị trấn Trong đó có 6 trạmchuyển mạch có thiết bị DSLAM phục vụ cho chuy cập Internet tốc độ cao(ADSL) Mạng di động có trạm phát sóng của Vinaphone, Mobiphone,Viettel,
Hiện nay toàn huyện có 23 chợ, trong đó có 15 chợ bán kiên cố (tổngdiện tích 59.369m2), 6 chợ tạm (tổng diện tích 23.649m2) Cùng YỚi sự tăngtrưởng kinh tế, cung ứng hàng hoá đang dàn được cải thiện, hàng hoá đượctrao đổi rộng khắp, đặc biệt hàng ho á cung ứng cho vùng sâu, vùng xa ngàycàng được quan tâm hơn
2.1.1.4 Đặc điểm văn hóa, dân cư
Dân số toàn huyện năm 2008 là 239,6 nghìn người, dân tộc Kinh là chủyếu, chiếm khoảng 80% dân số, dân tộc Mường, Thái chiếm 20%
Thọ Xuân là địa bàn có lịch sử phát triển lâu đời, nơi diễn ra nhiều sựkiện lịch sử sôi động, phong phú và hiển hách Có thể thấy trên bức tranh toàncảnh từ những dấu vết hoạt động chủ yếu của con người cổ xưa trong nền vănhóa Sơn Yi đến trang mở nước đầu tiên của sự hình thành nền văn minh dântộc: Yăn minh Đông Sơn Trong chặng đường lịch sử phát triển, bằng đấutranh và lao động sáng tạo, nhiều thế hệ người Thọ Xuân đã kế tiếp nhau đổ
mồ hôi, máu xương và nước mắt để tạo dựng nên mảnh đất này không ítnhững kỳ tích, dẫu phải trải qua biết bao thăng trầm lịch sử Chính vì thế ThọXuân không chỉ được biết đến với vùng đất cổ, có truyền thống lịch sử, vãnhóa phong phú mà còn là quê hương của nhiều danh nhân đất nước, nhiều hàokiệt qua các thời đại, đặc biệt thời Tiền Lê và Hậu Lê Tiếp nối truyền thốngvãn hóa của cha ông, con người huyện Thọ Xuân có tinh thần hiếu học, đỗ đạt
Trang 377làm quan nhiều Từ thời phong kiến đã có nhiều danh nhân nổi tiếng như: LêQuan Sát, Lê Hoàn, Lê Lợi, Nguyễn Nhữ Lãm, Lê Sao, Hiện nay, có trườngtrung học cơ sở Lê Thánh Tông và trường trung học phổ thông Lê Lợi nổitiếng vì tiếng vì tinh thần hiếu học và chất lượng giáo dục tốt, luôn được giảicao trong các kì thi học sinh giỏi quốc gia, cống hiến cho đất nước nhiều nhântài.
Thọ Xuân cũng là nơi có nhiều di tích lịch sử được công nhận và xếphạng quốc gia như: Khu di tích lịch sử Lam Kinh (được xếp hạng năm 1962);
di tích lịch sử kiến trúc đền thờ Lê Hoàn (xã Xuân Lập); đền thờ và lăng mộThứ quốc công Nguyễn Nhữ Lãm (tại xã Thọ Diên và Xuân Lập); quần thể ditích cách mạng xã Xuân Hòa; Ngoài ra, Thọ Xuân còn có nhiều di tích đượcxếp hạng cấp tinh như: Đền thờ khắc Quốc công Lê Văn An (làng Diên Hào -
xã Thọ Lâm); đền thờ Quốc Mau (làng Thịnh Mỹ - xã Thọ Diên);
2.1.2 Tiềm năng du lịch Thọ Xuân - Thanh Hỏa
2.1.2.1 Tiềm năng du lịch tự nhiên
* Sông Chu
Sông Chu là nhánh sông lớn nhất trong hệ thống sông Mã và là sông lớnthứ hai ở Thanh Hóa Sông có chiều dài 325km, phát nguyên từ cao nguyênsầm Nưa (Lào) trên độ cao 1 lOOm rồi trườn mình theo hướng tây bắc - đôngnam, đến Hường Mình (Nghệ An) thì chuyển hướng sang hướng tây đông đểchảy qua các huyện Thường Xuân, Thọ Xuân, Thiệu Hóa rồi nhập vào sông
Mã ở Ngã Ba Đầu (hay gọi là Ngã Ba Giàng)
Từ xưa đến nay, sông Chu luôn luôn đóng một vai trò hết sức quan trọng
về rất nhiều mặt đối lập với vùng đất huyện Thọ Xuân Chính sông Chu đã tạo
ra cho Thọ Xuân một khu vực đồng bằng phù sa mới tiêu biểu và rộng lớn vàobậc nhất của xứ Thanh trong suốt hàng ngàn năm lịch sử Trong bề dày thờigian, trong chiều dài lịch sử, dòng sông đã ừở thành con đường đưa các dòng
họ và các dòng người từ các phương ừời trong, ngoài xứ Thanh về đây khai
Trang 388phá, lập nghiệp Chính dòng sông này cũng tạo ra sự giao lưu, hội nhập vớicác vùng miền khác một cách thuận lợi Vỉ thế mà vùng đất này cứ đời nối đờiphát triển liên tục, nhanh chóng thành một vùng quê giàu, đẹp của xứ Thanhvới ruộng đất bát ngát và bãi mầu xanh biếc đôi bờ, rồi các làng xóm trù phú
và các công trình chinh phục cuộc sống, chinh phục thiên nhiên của con người
cứ mọc lên liên tiếp để đến hôm nay trở thành niềm tự hào lớn Đây cũngchính là tiềm năng du lịch đáng quan tâm khi Thọ Xuân phát triển du lịch
* Rùng ở khu di tích lịch sử Lam Kinh
Khu di tích lịch sử Lam Kinh nằm trên phạm vi lãnh thổ xã Xuân Lam,thị trấn Lam Sơn Hiện nay, diện tích rừng trồng cũ trước 1990 là 11 l,6ha vàrừng trồng mới là 175,4ha, cộng lại là 287ha Rừng ở đây chủ yếu là loại cây
lá rộng thường xanh như lim, lát, trò trĩ, phù hợp với rừng di tích Riêngtrung tâm khu điện Lam Kinh ở chân núi Dầu với diện tích lên 41ha đã trởthành khu vực có rừng cây tốt xum xuê Vào cánh rừng này, chúng ta có cảmtưởng như đi trong rừng Cúc Phương và Bến En vậy Hiện tại, Ban quản lýkhu di tích Lam Kinh vẫn tiếp tục bảo vệ và chăm sóc rừng cây một cách chặtchẽ số cây lim tái sinh và những cây hỗn hợp khác mọc lên ngày một nhiều
và tỏa tán khá rộng Trong những ngày hè có gió tây oi bức, đi trong rừng câynày, với cảnh rừng - hồ - núi và di tích, tiềm năng du lịch ở khu vực này sẽcàng trở nên phong phú, sinh động hơn bao giờ hết
* Các ngọn núi
- Núi Chủ Sơn (còn gọi là núi Chẩu, núi Chủa hay núi Chúa)
Núi thuộc quản lý của thị trấn Sao Vàng, xưa kia núi này thuộc về làngThủy Chú, tổng Kiên Thạch, huyện Lôi Dương Theo giáo sư Trần QuốcVượng nhận định thì chính Chủ Sơn (núi Chủ) là tiền án của khu sơn lăng vàđiện miếu Lam Kinh Đây chính là ngọn núi đá YÔi hiếm hoi, gồm ba ngọnlớn mọc lên sừng sững ở vùng đồi thấp phía tây nam huyện Thọ Xuân Núi có
Trang 39bề thế Yà đây chính là một danh sơn rất đáng tự hào của cả Thọ Xuân nóiriêng và Thanh Hóa nói chung.
- Núi Lam Sơn (hay còn gọi là Núi Dầu)
Ngọn núi này thời Lam Sơn dấy nghĩa bình Ngô đã để lại nhiều truyềnthuyết về việc thu nạp các nghĩa sĩ từ các vùng miền trong nước về nhưchuyện Lê Lợi cho thắp đèn dầu ở trên núi để làm hiệu cho nghĩa quân tụ về,hoặc chuyện bà hàng dầu vì bán dầu cho nghĩa quân bị giặc Minh giết hại nênsau khi giành được thắng lợi, mở ra vương triều Lê, Lê Lợi đã cho làm giỗ bàhàng dầu Vỉ vậy, qua nhiều thế kỷ, ở trong, ngoài vùng Lam Sơn và xứ
Thanh rộng lớn vẫn còn truyền nhau câu ngạn ngữ “Hăm mốt Lẽ Lai, hăm hai
Lẽ Lợi, hãm ba giỗ mụ hàng dầu” là vì thế Cũng theo truyền thuyết vì ý
nghĩa trên mà Lê Lợi đặt tên cho núi Lam Sơn là núi Dầu Trong dân gian lại
có cách giải thích khác, núi Dầu có nghĩa là núi “giàu” vì ngày Lam Sơn khởi
nghĩa, dân chúng nhiều nơi mang rất nhiều của cải, lương thực đến đây ủng
hộ nghĩa quân, Vì tự hào với ngọn núi thiêng này mà trong ca hò dân gianThanh Hóa đã có câu:
“Núi Lam cao ngất nước Nam
Có ông Lê Lợi trong ngàn bước ra”
Đây không chỉ là nơi có nhiều ý nghĩa lịch sử mà ngọn núi này YỚichiều cao gần 200m có nhiều cây xanh bao phủ, cảnh trí thiên nhiên thơmộng Mặt khác lại nằm trong quần thể khu di tích Lam Kinh, do đó đây là
Trang 400nơi lý tưởng để cho khai thác vào hoạt động du lịch, hình thành khu cắm trại,
du lịch sinh thái trong vùng
2.1.2.2 Tiềm năng du lịch nhân văn
* Di tích lịch sử - văn hóa
Huyện Thọ Xuân - vùng đất có bề dày truyền thống lịch sử và văn hóahàng nghìn năm Chính vì vậy, nơi đây còn lưu giữ nhiều công trình lịch sửvăn hóa tiêu biểu cho thời kì dựng nước và giữ nước của cha ông ở vùng đấtnày Hiện nay, các nhà ngiên cứu đã tổng họp được tổng số 312 di tích nhưsau:
Bảng 2.I.2.2 Hệ thống di tích lịch sử - vãn hóa của huyện Thọ Xuân
Các di tích lịch sử ở đây mang nhiều giá trị lịch sử văn hóa của địaphương Đây sẽ là nguồn tài nguyên du lịch nhân văn phong phú để khai tháccho việc phát triển du lịch ở địa phương Dưới đây là một số di tích tiêu biểu:
- Khu di tích lịch sử Lam Kinh