1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Đình làng ở thành phố hồ chí minh trong bối cảnh đô thị hóa hiện nay

116 371 4

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 116
Dung lượng 4,64 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nghiên cứu các đặc trưng về đình làng tại Thành phố Hồ Chí Minh,hiểu vị thế của đình làng trong đời sống người dân Thành phố Hồ Chí Minh để tìm giá trị nhằm phát huy và bảo tồn những giá

Trang 1

MỤC LỤC……… 1

MỞ ĐẦU……… .3

1 Lý do chọn đề tài……… 3

2 Mục tiêu nghiên cứu……… 4

3 Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu……… 5

4 Phương pháp nghiên cứu……… 5

5 Lịch sử nghiên cứu vấn đề……….6

6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn……… 8

7 Bố cục của luận văn……… 8

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN……….10

1.1 Cơ sở lý luận……… 10

1.1.1 Khái niệm đình làng……… 10

1.1.2 Nguồn gốc và chức năng đình làng………10

1.1.2.1 Nguồn gốc của đình làng……… 10

1.1.2.2 Chức năng của đình làng……… 12

1.2 Cơ sở thực tiễn……… 14

1.2.1 Tổng quan đình làng ở Thành phố Hồ Chí Minh………14

1.2.2 Một số đình làng ở Thành phố Hồ Chí Minh……… 15

1.2.3 Đô thị hóa ở Thành phố Hồ Chí Minh………39

CHƯƠNG 2: GIÁ TRỊ VĂN HÓA ĐÌNH LÀNG Ở THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH……….42

2.1 Gía trị lịch sử………42

2.2 Gía trị nghệ thuật……… 44

2.2.1 Nghệ thuật kiến trúc……….44

2.2.2 Nghệ thuật trang trí và điêu khắc……….50

2.3 Gía trị tâm linh……… 55

2.4 Gía trị cố kết cộng đồng……….58

2.5 Gía trị giáo dục……… 61

Trang 2

CHƯƠNG 3: BẢO TỒN VÀ PHÁT HUY GIÁ TRỊ VĂN HÓA CỦA ĐÌNH LÀNG TRONG QUÁ TRÌNH ĐÔ THỊ HÓA Ở THÀNH PHỐ

HỒ CHÍ MINH……… 68

3.1 Tác động của đô thị hóa đến đình làng ở Thành phố Hồ Chí Minh…….68

3.1.1 Tác động đến cảnh quan, không gian thờ tự……… 69

3.1.2 Tác động đến kiến trúc………70

3.1.3 Tác động đến hình thức sinh hoạt văn hóa của cộng đồng…….77

3.2 Bảo tồn giá trị văn hóa của đình làng ở Thành phố Hồ Chí Minh trong bối cảnh đô thị hóa……… 78

3.3 Phát huy giá trị văn hóa của đình làng ở Thành phố Hồ Chí Minh trong bối cảnh đô thị hóa……… 85

KẾT LUẬN………88

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO……….92

PHỤ LỤC……… 98

Trang 3

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Trong xu hướng toàn cầu hóa, vấn đề bản sắc văn hóa dân tộc và việc giữ gìn, bảo tồn bản sắc văn hóa dân tộc là mối quan tâm của nhiều quốc gia trong quá trình giao lưu và hội nhập Trong Nghị quyết Trung ương 5 (Khóa VIII), Đảng đã đề ra phương hướng, nhiệm vụ xây dựng và phát triển văn hóa: Xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến đậm đà bản sắc văn hóa dân tộc “Phát triển mà không giữ được bản sắc thì sẽ bị đồng hóa Bị đồng hóa chẳng những dễ đánh mất mình, mà còn để mất đi nhân tố xúc tác

sự phát triển Nhân loại trong sự tồn sinh và phát triển của mình cũng dựa vào

sự sánh vai và cạnh tranh của những bản sắc”[28; tr109].

Văn hóa truyền thống có sức sống mãnh liệt, dù trải qua bao thế kỷ nhưng khi nhắc đến văn hóa làng xã Việt Nam chúng ta vẫn không quên nhắc đến hình ảnh rất đặc trưng “cây đa, bến nước, sân đình”

“Qua đình ngã nón trông đình Đình bao nhiêu ngói thương mình bấy nhiêu” (ca dao)Đình làng là một trong những loại di tích lịch sử văn hóa thuộc loại hình kiến trúc tôn giáo, tín ngưỡng Đó là ngôi nhà chung của cư dân mỗi làng

xã người Việt trước đây, là một trung tâm tín ngưỡng, hoạt động văn hoá, ẩn chứa nhiều giá trị đặc sắc mà chúng ta cần tìm hiểu và nghiên cứu, để góp phần bảo tồn, gìn giữ và phát huy nét đẹp văn hóa trong đời sống tâm linh của con người

Ở Nam bộ và Thành phố Hồ Chí Minh, hình ảnh mái đình đã trở nên quen thuộc trong tâm trí của nhiều người Đình không chỉ là nơi thờ tự những bậc thánh nhân và những người có công với làng xã, mà còn là nơi gắn kết cộng đồng, gởi gắm niềm tin và lưu giữ ký ức về làng quê của mỗi con người Thời kỳ đầu mở đất, lưu dân phải chống chọi với nhiều thế lực của tự nhiên,

Trang 4

với rừng sâu nước độc Vì thế, việc hình thành làng xã và xây dựng đình được xem là những bước cơ bản trong công cuộc định cư

Những ngôi đình Nam Bộ và Thành phố Hồ Chí Minh trải qua bao thăng trầm cùng những biến cố lịch sử Qua hai cuộc chiến tranh chống thực dân Pháp và Mỹ, nhiều ngôi đình ở Sài gòn – Thành phố Hồ Chí Minh bị tàn phá Từ năm 1986, nhà nước Việt Nam thực hiện công cuộc đổi mới đất nước, bước vào công nghiệp hóa - hiện đại hóa Nhiều giá trị văn hóa được phục hồi, nhằm tạo thành nội lực, vừa khẳng định bản sắc văn hóa Việt Nam, vừa vững vàng hòa nhập mà không bị hòa tan với nền văn hóa khác trong bối cảnh toàn cầu hóa

Hiện nay, xu thế phát triển kinh tế, đô thị hóa và quá trình công nghiệp hóa – hiện đại hóa ở Việt Nam những giá trị văn hóa truyền thống và các di sản văn hóa đang đứng trước nguy cơ hủy hoại Giải quyết thỏa đáng mối quan hệ giữa quá trình đô thị hóa, công nghiệp hóa – hiện đại hóa và văn hóa nói chung, giữa bảo tồn di tích lịch sử văn hóa và phát triển đô thị nói riêng là vấn đề mang tính toàn cầu, được quan tâm ở tất cả các quốc gia, đặc biệt là đối với các nước đang phát triển và hội nhập như Việt Nam

Bảo tồn di tích và các giá trị văn hóa truyền thống ngày nay đã trở thành một hoạt động không thể thiếu của xã hội văn minh Bảo tồn với mục đích là giữ gìn, bảo lưu các tài sản văn hóa có giá trị còn góp sức nuôi dưỡng cuộc sống đương đại, đặc biệt là trong lĩnh vực văn hóa tinh thần, để tiếp tục chuyển giao các giá trị ấy cho thế hệ mai sau Công tác bảo tồn mang đậm chất nhân văn, là một nhân tố hết sức quan trọng của sự phát triển bền vững

Từ những lý do nêu trên, tôi chọn đề tài: “Đình làng ở Thành phố Hồ Chí Minh trong bối cảnh đô thị hóa hiện nay” để nghiên cứu làm luận văn tốt nghiệp cao học

2 Mục tiêu nghiên cứu

Mục tiêu nghiên cứu tổng quát

Trang 5

Nghiên cứu các đặc trưng về đình làng tại Thành phố Hồ Chí Minh,hiểu vị thế của đình làng trong đời sống người dân Thành phố Hồ Chí Minh

để tìm giá trị nhằm phát huy và bảo tồn những giá trị văn hóa của đình làng trong bối cảnh đô thị hóa

Mục tiêu nghiên cứu cụ thể

- Nghiên cứu giá trị của đình làng trong đời sống người dân qua khảo sát một số đình tiêu biểu tại Thành phố Hồ Chí Minh

- Đề xuất các giải pháp bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa đình làng ởThành phố Hồ Chí Minh trong bối cảnh đô thị hóa hiện nay

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Nghiên cứu làm rõ đình trong đời sống sinh hoạt văn hóa của cư dân Thành phố Hồ Chí Minh trong bối cảnh đô thị hóa

3.2 Phạm vi nghiên cứu

Về không gian: Đình tại Thành phố Hồ Chí Minh, cụ thể là khảo sát tại quận trung tâm: đình Chí Hòa (phường 12, quận 10), đình cổ nhất: đình Thông Tây Hội (phường 11, quận Gò Vấp), quận ven: đình Bình Hòa (phường 12, quận Bình Thạnh), quận ven: đình Phong Phú (phường 12, quận 9), vùng ven đô: đình Bình Trường (xã Bình Chánh, huyện Bình Chánh)

Về thời gian: Từ năm 1986 cho đến nay

4 Phương pháp nghiên cứu

Để nghiên cứu hoàn thành luận văn, tác giả vận dụng phương pháp so sánh lịch sử Với phương pháp này, tác giả sẽ so sánh về phong cách kiến trúc, nghệ thuật trang trí, hình thức thờ cúng, lễ hội đình ở Thành phố Hồ Chí

Minh, làm rõ những biến đổi của đình Từ đó tìm giải pháp bảo tồn và phát

huy giá trị văn hóa của đình trong bối cảnh đô thị hóa

Ngoài ra phương pháp khảo sát thực địa cũng được vận dụng để thu thập tư liệu thực tiễn của đình ở Thành phố Hồ Chí Minh Tác giả đã thực

Trang 6

hiện khảo sát ở các ngôi đình tiêu biểu ở Thành phố Hồ Chí Minh, gặp gỡ, phỏng vấn thu thập tư liệu từ người dân, thành viên các Ban Trị sự đình và cán bộ địa phương.

5 Lịch sử nghiên cứu vấn đề

Đình làng và các lĩnh vực văn hóa truyền thống có liên quan đến đình làng luôn là đề tài được các nhà nghiên cứu sử học, kiến trúc, mỹ thuật quan tâm

Họa sĩ Lê Thanh Đức với Nét đẹp đình làng Nhà xuất bản Mỹ thuật

giới thiệu bức tranh toàn cảnh với nghệ thuật kiến trúc, điêu khắc truyền thống qua các ngôi đình làng ở Việt Nam

Tác giả Hà Văn Tấn, Nguyễn Văn Kự với “Đình Việt Nam” Nhà xuất

bản Thành phố Hồ Chí Minh 2002 giới thiệu kiến trúc các ngôi đình tiêu biểu

và hội làng truyền thống một số nơi ở Việt Nam

Cuốn “Đình, Chùa, Lăng Tẩm nổi tiếng Việt Nam” của Trần Mạnh

Thường chủ biên, Nhà xuất bản Văn hóa Thông tin năm 1999 đã giới thiệu lịch sử kiến trúc các thành lũy, đền, tháp, đình… trên đất nước Việt Nam từ xưa đến nay, trong đó có một phần giới thiệu về các ngôi đình đã được xếp hạng quốc gia

Đình làng cũng là đề tài được nhà nghiên cứu Trịnh Cao Tưởng quan

tâm nghiên cứu với bài viết: Kiến trúc đình làng trên Tạp chí Khảo cổ học số

2/1989

Cuốn “Sổ tay hành hương đất phương Nam” Nhà xuất bản Văn hóa dân

tộc, 2012 cho ta thấy được phần nào kiến trúc đình Nam Bộ, hiểu rõ hơn về

đồ thờ tự trong ngôi đình Nam Bộ xưa

Trong cuốn “Đình, miếu và lễ hội dân gian Miền Nam” Nhà xuất bản

Đồng Tháp năm 1994, tác giả Sơn Nam đã giới thiệu về nghệ thuật kiến trúc

và trang trí trong các ngôi đình ở Miền Nam

Trang 7

Tác giả Huỳnh Ngọc Trảng với cuốn “Đình Nam Bộ xưa và nay” giới

thiệu nét đẹp đình Nam Bộ qua nghệ thuật kiến trúc, điêu khắc và lễ hội dân gian truyền thống của người dân Nam Bộ

Đối với đình làng ở Thành phố Hồ Chí Minh, trong cuốn “Một số cơ

sở tín ngưỡng dân gian” của Ban Quản lý di tích lịch sử Thành phố Hồ Chí

Minh, năm 2001 đã giới thiệu một cách khái quát những nét tiêu biểu về hoạt động tín ngưỡng dân gian ở Thành phố Hồ Chí Minh

Công trình “Đình ở Thành phố Hồ Chí Minh” Nhà xuất bản Trẻ, năm

2004 của Hồ Tường và Nguyễn Hữu Thế là tập hợp những kiến thức từ thực

tế cũng như từ thư tịch, nhằm giới thiệu đến người đọc kiến trúc đình, tín ngưỡng trong đình, lễ hội đình và đình trong đời sống văn hóa của người dân

ở Thành Phố Hồ Chí Minh

Tác giả Tôn Nữ Quỳnh Trân với cuốn “Văn hóa làng xã trước sự thách

thức của đô thị hóa tại Thành phố Hồ Chí Minh”, Nhà xuất bản Trẻ năm

1999, đề cập đến số phận của đình trước cơn lốc đô thị hóa của Thành phố Hồ Chí Minh.Kiến trúc của đình bị xâm phạm cả về kiểu dáng lẫn về cảnh quan Hiện tượng bê tông hóa, sự thay đổi kiểu dáng qua những lần sửa chữa, sự thu hẹp diện tích làm kiến trúc đình của thành phố ngày càng pha tạp, xa dần sự thống nhất và cổ kính

Luận án tiến sĩ của Quách Thu Nguyệt với “Hội đình của người Việt ở Thành phố Hồ Chí Minh” (Viện Khoa học Xã hội tại Thành phố Hồ Chí Minh, 1996) Tập trung nghiên cứu với các nghi thức, lễ nghi cùng các sinh hoạt tín ngưỡng của người dân Thành phố Hồ Chí Minh, để thấy được đặc trưng văn hóa, cá tính, nét biểu trưng của cư dân thành phố thể hiện qua các sinh hoạt, lễ hội truyền thống trong đình

Nhìn chung các công trình nghiên cứu và bài viết trên đã đề cập khá toàn diện nét đẹp của những ngôi đình làng và đây có thể xem là một đề tài không mới ở hệ thống tổng quát Tuy vậy chưa có một công trình nào chuyên

Trang 8

sâu, nghiên cứu tác động mạnh mẽ của đô thị hóa đến những ngôi đình làng tại Thành phố Hồ Chí Minh

6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn

6.1 Ý nghĩa khoa học

Sau khi nghiên cứu, tìm hiểu chúng ta có cái nhìn toàn diện hơn về di sản văn hóa đình làng Luận văn rút ra những đặc trưng của đình làng, làm rõ vai trò của đình làng trong đời sống văn hóa của người dân, những thay đổi của đình tại Thành phố Hồ Chí Minh dưới tác động của đô thị hóa

6.2 Ý nghĩa thực tiễn

Những nghiên cứu rút ra của tác giả (liên quan góc độ chuyên ngành như: Kiến trúc, mỹ thuật, du lịch) góp phần vào công tác giữ gìn và phát huy giá trị văn hóa của đình tại Thành phố cũng như các di sản văn hóa của dân tộc Việt Nam nói chung

7 Bố cục của luận văn

Ngoài phần Mở đầu, Mục lục, Tài liệu tham khảo, nội dung chính của luận văn được phân bổ trong 3 chương như sau:

Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn

Trong chương này tác giả trình bày một số vấn đề về lý thuyết Đó là các khái niệm cơ bản của đình làng, nguồn gốc ra đời và chức năng của đình làng Trình bày tổng quan đình làng, phân bố đình, một số đình tiêu biểu và bối cảnh đô thị hóa ở Thành phố Hồ Chí Minh từ sau 1986

Chương 2: Gía trị văn hóa đình làng ở Thành phố Hồ Chí Minh

Chương này tác giả nghiên cứu về giá trị lịch sử suốt thời kỳ hình thành

và phát triển của đình, giá trị kiến trúc, nghệ thuật trang trí của ngôi đình, giá trị tâm linh từ những buổi đầu khai phá vùng đất mới và giá trị gắn kết cộng đồng, cùng nhau xây dựng làng xã để tưởng nhớ công ơn của Thần Hoàng làng cũng như những bậc thánh hiển linh đến những người có công với nước với dân Ngoài ra nghiên cứu đình còn cho thấy giá trị giáo dục, các thế hệ đi

Trang 9

sau luôn tưởng nhớ đến ông cha để phát huy những giá trị truyền thống tốt đẹp

Chương 3: Bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa của đình làng trong quá trình đô thị hóa Thành phố Hồ Chí Minh

Trong chương này tác giả nêu lên những tác động của đô thị hóa đến đình làng ở Thành phố Hồ Chí Minh như: không gian thờ tự, kiến trúc, hình thức sinh hoạt của cộng đồng Từ đó đưa ra những nội dung, hình thức, giải pháp bảo tồn và phát huy những giá trị văn hóa của đình làng trong bối cảnh

đô thị hóa hiện nay

Trang 10

Đình là một trong những kiến trúc tiêu biểu cho bản sắc văn hóa Việt Nam, mỗi làng Việt Nam đều có một ngôi đình để thờ phụng Thần Thành Hoàng – vị thần phù hộ cho tất cả thành viên trong làng “Đình là nhà công cộng của làng thời trước, dùng làm nơi thờ thần Thành hoàng và họp việc

làng (thường là nhà to, rộng nhất làng)” [Từ điển Tiếng Việt, Hoàng Phê chủ

biên,Viện Ngôn ngữ học – Nhà xuất bản Đà Nẵng, năm 2000]

Đình làng còn là nơi sinh hoạt tinh thần của cộng đồng làng Là nơi gửi gắm tình cảm hay nói đúng hơn là điểm giao cảm chung của mọi thành viên trong cộng đồng để từ đó tạo nên mối gắn kết nhân ái và tình nghĩa Chính vì vậy, môi trường không gian của loại hình kiến trúc này khác hẳn và gần như đối lập với môi trường không gian của các kiến trúc thờ cúng khác” Nó không thể trang trọng và thâm nghiêm quá hoặc cũng không xa cách, cách biệt với thế tục Ngược lại, nó phải hòa nhập vào trong cuộc sống dân dã mà gắn kết với xã hội của làng xóm” [54; tr.35]

1.1.2 Nguồn gốc và Chức năng của đình làng

1.1.2.1 Nguồn gốc của đình làng

Thời điểm xuất hiện và nguồn gốc của đình làng Việt Nam đến nay vẫn

có nhiều giả thuyết khác nhau Từ “đình” xuất hiện sớm nhất trong lịch sử Việt Nam là vào thế kỷ II, thế kỷ III Trong “Lục bộ tập kinh” của Khang Tăng Hội có đoạn: “Đêm đến ông lặng lẽ chốn đi Đi hơn trăm dặm vào nghỉ

ở một ngôi đình trống Người giữ đình hỏi: “Ông là người nào” Ông trả lời:

Trang 11

“Tôi là người xin nghỉ nhờ” [45; tr 19] Chi tiết “ngôi đình trống” trong đoạn văn trên cho ta cơ sở khẳng định đó là trạm nghỉ chân dọc đường, còn chi tiết “người giữ đình” cho ta giả thiết đó là ngôi đình là nhà công cộng của làng xã Tuy nhiên, giả thiết này còn thiếu chắc chắn

Như vậy, đình trạm là hiện tượng phổ biến ít nhiều từ thế kỉ thứ II Thời nhà Đinh, ở cố đô Hoa Lư đã có dựng đình cho sứ thần nghỉ chân trước khi vào chầu vua Đến đời Trần, đình với tư cách là trạm nghỉ chân được ghi trong Đại Việt sử kí toàn thư: “Thượng hoàng xuống chiếu rằng, trong nước

ta, phàm chỗ nào có đình trạm đều phải tô tượng phật để thờ Trước là tục nước ta, sau là vì nắng mưa nên làm đình để cho người ta đi đường nghỉ chân, trát vách bằng vôi trắng gọi là đình trạm” [45; tr 19]

Dưới thời nhà Lê, đình làng đã phát triển Một sự kiện quan trọng dưới thời Lê Thánh Tông đã được Hồng Đức thiên chính ghi chép lại về việc lập đình như sau: “Người giàu đã bỏ tiền làm đình hay công đức làm chùa Thế

mà (người sau giữ việc hậu) không biết đền đáp ơn đức, chỉ lừa người lấy của, chẳng bao lâu, tình nhạt lễ bạc, quên cả lời đoan, sinh thói bạc ác hoặc bỏ cả giỗ chạp, không như đời trước, hoặc là làm cỗ bàn không như khoán ước, hoặc năm thì trước năm thì sau, không đúng tháng hoặc trẻ thì lạy lớn thì không, chẳng đồng lòng Vậy con cháu đặt hậu ở đình hay ở chùa mà thấy kẻ giữ ở hậu có trái lễ thì trình báo với nha môn để thu lại tiền công đức” [45; tr 15-16]

Đình làng Việt Nam như một kiến trúc văn hóa bản địa nhưng nó không phải gắn liền với thời nguyên thủy xa xưa mà trải qua những biến đổi tiệm tiến trong dòng chảy lịch sử từ cái đình trạm có chức năng thế tục để dần dần có thêm tín ngưỡng thờ Phật vào thời Trần và rồi đảm nhận chức năng làm nơi thờ Thành hoàng để rồi từ đó, ngôi đình làng trở thành biểu tượng văn hóa, tâm linh, tín ngưỡng quan trọng trong đời sống làng xã người Việt vào thế kỷ XV

Trang 12

đã mang đến cho người dân cảm giác yên tâm vững vàng vì cả làng đang sống trong sự che chở của Thành hoàng

Chính vì lẽ đó mà ngôi đình trở thành nơi linh thiêng, trang nghiêm của làng và từ đây mọi sinh hoạt văn hóa của làng đều được tổ chức tại đình làng Đình trở thành nơi cố kết cộng đồng, là nơi mọi người dân trong làng thể hiện tinh thần đoàn kết, trách nhiệm trong việc thờ tế Thành hoàng cũng như mọi sinh hoạt văn hóa khác

làng [PGS TS Phan An, Tính cộng đồng làng xã như một giá trị Việt Nam và

Trang 13

những hệ quả của nó, “Kỷ yếu hội thảo in thành sách “Một số vấn đề về hệ giá trị Việt Nam trong giai đoạn hiện tại”]

Đình làng thực sự là trụ sở hành chính - nơi mọi công việc về hành chính của làng đều được tiến hành ở đó Từ việc xét xử các vụ tranh chấp, phạt vạ, khao vọng, từ thu tô thuế đến việc bắt lính, bỏ các xuất phu đinh Chủ thể tiến hành các hoạt động hành chính ở đình làng là các vị có chức danh Chánh tổng, Lý trưởng, Phó lý, Trưởng tuần và các viên quan của Hội đồng hương kì, kì mục Cơ sở để giải quyết các công việc của làng được dựa vào lệ làng hoặc hương ước Hương ước là một hình thức luật tục Gắn với hoàn cảnh, phong tục, tập quán lâu đời của từng làng mà nhân dân có các bộ luật nhà nước không thể bao quát được

Chức năng văn hóa

Đình làng là trung tâm sinh hoạt văn hóa của cả làng “Cây đa, bến

nước, sân đình” đã đi vào tâm hồn của người dân quê

Về mặt kiến trúc đình là một trong những công trình kiến trúc quan trọng của làng, là bộ mặt của làng nên việc xây dựng đình to đẹp, cho uy nghi,

bề thế luôn được cộng đồng người dân trong làng chú trọng, chính vì thế trong dân gian lưu truyền những câu: “To như cái đình”; “To như cột đình”,

“Chuyện tày đình” Kích cỡ, quy mô, hình dáng của đình là niềm tự hào về tài hoa, về tiềm năng, uy thế của nhân dân làng đó Ngoài ra đình làng là nơi tập trung các tác phẩm điêu khắc độc đáo, đề tài thông thường là long, ly, quy, phượng (tứ linh) hay tùng, cúc, trúc, mai; vân mây, song nước, đặc biệt

là hình ảnh về hoạt cảnh dân gian như chọi gà, đánh đu, chèo thuyền, đánh vật… những hình ảnh thân thuộc ở làng quê

Đỉnh cao của các hoạt động văn hóa ở đình làng là lễ hội Làng vào hội cũng được gọi là vào đám, là hoạt động có quy mô và gây ấn tượng nhất trong năm đối với dân làng Ở các làng quê Việt Nam còn có hội chùa, hội đền

Trang 14

nhưng phần lớn là hội làng được diễn ra ở đình làng gắn với đời sống của dân làng Lễ hội bao gồm hai phần chính là: Phần lễ và phần hội:

Lễ là các hoạt động có tính nghi lễ liên quan đến tín ngưỡng

Hội là hoạt động mang tính giải trí, gắn liền với thế tục, nghệ thuật, thể dục, thể thao Nhưng trong một số trò chơi hội làng cũng có ý nghĩa tâm linh, gắn với mục đích cầu mưa, cầu mùa Lễ hội ở làng diễn ra “xuân thu, nhị kì” vào các dịp nông nhàn Lễ hội phần lớn vào tháng Giêng, có nơi vào tháng hai, tháng ba âm lịch Lễ hội thu thường vào tháng bảy, tháng tám Đó là hai

lễ hội lớn, còn trong năm người ta cúng lễ Thành Hoàng làng

Cho đến nay, cúng đình và lễ hội vẫn là hình thức sinh hoạt cộng đồng tiêu biểu ấn tượng nhất của làng xã Trong sinh hoạt tín ngưỡng đó, người dân vẫn tin vào sự phù hộ của các vị thần trong mùa màng và đời sống

Đình làng là một biểu tượng của tính cộng đồng, dân chủ của làng xã Ngôi đình là trung tâm văn hóa của làng mà thể hiện cô đọng nhất là lễ hội

Qua thực tế, không phải ngay từ đầu đình làng đã có đầy đủ các chức năng trên mà những chức năng này dần xuất hiện theo nhu cầu đời sống người dân trong các làng, những chức năng trên không bao giờ tách biệt, mà đan xen hòa quyện, gắn bó với nhau

1.2 Cơ sở thực tiễn

1.2.1 Tổng quan đình làng ở Thành phố Hồ Chí Minh

Theo nhà văn Sơn Nam: “Có đình thì mới tạo được thế đứng, gắn bó vào cộng đồng dân tộc và càn khôn vũ trụ Bằng không thì chỉ là lục bình trôi sông, một dạng lưu dân tập thể” [34; tr.21] Cho nên, họ “lập làng ở đâu dựng đình ở đó” Với người Nam bộ, đình vốn là một hình thái tín ngưỡng dân gian thâm nhập vào đời sống cộng đồng và sớm trở thành biểu tượng văn hóa đặc sắc

Những ngôi đình ở Thành phố Hồ Chí Minh vẫn tiếp nối truyền thống tín ngưỡng Bắc, Trung: Thờ thần Thành Hoàng làng và là công sở của bộ máy

Trang 15

hành chính thôn xã Chức năng công sở này của đình làng đã được nhắc đến với sự kiện Vua Minh Mạng ban hành mười điều giáo hóa dân chúng vào năm 1834: “Dân các xã thôn thì đều đặt một hương án ở gian chính giữa đình làng

để đặt bản huấn điều vua ban Các trưởng mục, than hào xã thôn ấy phải khan

áo chỉnh tề đến sân đình làm lễ năm lạy, rồi chỉ bảo nhân dân theo thứ tự ngồi yên mà nghe, giảng đọc khắp một lượt, xong rồi ra sân làm lễ năm lạy” [54; tr.14]

Thành phố Hồ Chí Minh hiện nay còn khoảng hơn 270 ngôi đình, [Phụ lục 1] nằm rải rác khắp các địa bàn dân cư, ít nhất ở quận Phú Nhuận (chỉ có

1 đình, đình Phú Nhuận), nhiều nhất ở huyện Bình Chánh (khoảng 60 đình), ở trung tâm quận 1 còn khoảng 10 đình Sự phân bố rộng khắp ấy cho thấy đình thần ngày trước có vị trí quan trọng trong đời sống sinh hoạt của dân cư vùng đất Bến Nghé – Gia Định Trong đó có 9 đình được xếp hạng di tích lịch sử văn hóa quốc gia gồm: đình Minh Hương Gia Thạnh (quận 5), Nghĩa Nhuận (quận 5), Bình Đông (quận 8), Phong Phú (quận 9), Chí Hòa (quận 10), Phú Nhuận (quận Phú Nhuận), Thông Tây Hội (quận Gò Vấp), Trường Thọ (quận Thủ Đức), Bình Hòa (quận Bình Thạnh)

1.2.2 Một số đình làng ở Thành phố Hồ Chí Minh

- Đình Thông Tây Hội

Đình Thông Tây Hội được Bộ Văn hóa Thông tin công nhận là di tích kiến trúc nghệ thuật cấp quốc gia năm 1998, là ngôi đình được xem là cổ nhất

ở Thành phố Hồ Chí Minh Chí Minh hiện nay, tọa lạc số 107/1 đường Thống Nhất, Phường 11, quận Gò Vấp, Thành Phố Hồ Chí Minh (hình 1.1)

Tên Thông Tây Hội là do ghép từ tên hai làng Hanh Thông Tây và An Hội Khi hai làng này sát nhập năm 1944 thì đình làng Hanh Thông Tây Hội được chọn làm ngôi đình chung và từ đó mang tên Thông Tây Hội

Đình Thông Tây Hội tọa lạc trên một khu đất rộng 5.188 m2

công trình xây dựng theo kiểu tam quan Đình được lợp bằng ngói âm dương vì kèo chịu

Trang 16

lực bằng gỗ, nền lót gạch tàu, phần kiến trúc của đình tạo thành hai trục song song với nhau

Trục chính là trục dài gồm: võ ca, nhà chầu, tiền điện, chính điện Trục phụ là trục ngắn gồm: nhà hội sở, nhà túc, nhà bếp

Võ ca là nơi xây chầu hát bội trong những dịp lễ Kỳ Yên (hình 1.2) Trung điện và chính điện nối liền nhau bởi không gian bên trong phân biệt nhau bởi hai nóc mái Trong đó có 48 cột, chia thành 8 dãy, mỗi dãy có 6 cột Phần chính điện là nơi quan trọng nhất tôn nghiêm nhất trong ngôi đình Trên nóc chính điện có trang trí lưỡng long triều nguyệt bằng gốm

Chính điện đặt khám thờ Thành Hoàng Bổn Cảnh Khám thờ được trang trí đường diềm với nghệ thuật chạm khắc tinh xảo, theo đề tài lưỡng long triều nguyệt và lân- ly - quy - phượng, sơn son thếp vàng (hình 1.3)

Hai bên khám thờ thần có hai khám thờ nhỏ hơn cũng đươc chạm khắc tinh xảo, đó là bàn thờ hữu ban và tả ban (hình 1.4), (hình 1.5), ( hình 1.5a) Trước ba khám thờ tại chính điện có ba hương án bày đồ tam sự, một lư đồng, hai chân đèn, giá đúc bát nhang lọ hoa, bày võng lọng, lỗ bộ và hai con hạc đứng trên lưng rùa

Hai bên vách tường chính điện được bố trí mỗi bên ba bệ thờ, đó là bệ thờ Phúc Thần, Tiên Sư, Tiền Hiền, Hậu Hiền, liệt sĩ, Bạch Mã

Các đầu kèo ở phần chính điện được chạm khắc đầu rồng, cành mai có

ba bao lam ở giữa chạm theo đề tài mẫu đơn trĩ

Ở giữa chính điện có bức hoành đề: “Chung linh lưu tú” chạm thủng, thiếp vàng, chữ sơn son được khắc nổi lên trên

Cặp đối được làm từ thân cây dừa viết bằng Hán Tự phiên âm

“Hanh phong phúc địa, huy hoàng đáo xứ quảng hồi

Thông hiển đức thiên, đăng chúc dân an cộng lạc.”

Có nghĩa là:

Tốt lành phúc đất, huy hoàng khắp chốn điểm tô

Trang 17

Sáng sủa đức trời, no ấm nhân dân an lạc [35; tr.123]

Đình Thông Tây Hội thờ thần Thành Hoàng Bổn Cảnh - vị thần đó là Đông Chinh Vương và Dực Thánh Vương con vua Lý Thái Tổ

Cùng thờ chung trong đình còn có: Thần Phúc Đức, Thần Nông, Thần

Hổ, Ngũ Hành, Bà Chúa Xứ, Tiên Sư, Tiền Hiền, Hậu Hiền

Ngày lễ lớn nhất trong năm là lễ Kỳ Yên được tổ chức trong hai ngày 14,15 tháng 8 âm lịch Cùng với hoạt động tín ngưỡng thờ cúng của nhân dân, đình Thông tây hội là nguồn tư liệu phong phú sinh động phản ánh về đời sống kinh tế văn hóa của cư dân vùng Gò Vấp, một vùng dân cư hình thành tương đối sớm ở Sài Gòn - Gia Định Trong đình còn lưu giữ 37 hiện vật cổ

có giá trị

(hình 1.1) Đình Thông Tây Hôi, quận Gò Vấp( Nguồn: Tác giả)

Trang 18

(hình 1.2) Võ ca đình Thông Tây Hội.(Nguồn: Tác giả)

(hình 1.3) Chánh điện đình Thông Tây Hội ( Nguồn: Tác giả)

Trang 19

(hình 1.4) Bàn thờ bên phải ( Nguồn: Tác giả)

Trang 20

(hình 1.5a) ( Nguồn: Tác giả)

- Đình Chí Hòa

Đình Chí Hòa tọa lạc số 475/77 Đường Cách Mạng Tháng Tám, Phường 12, Quận 10, Thành Phố Hồ Chí Minh Ngày 28 tháng 6 năm 1996,

Bộ trưởng Bộ Văn hóa thông tin ký Quyết định số 1460- QĐ/VH, công nhận

đình Chí Hòa là di tích kiến trúc nghệ thuật cấp Quốc Gia (hình 1.6a), ( hình

1.6b)

Đình Chí Hòa được xây dựng trên gò cao thuộc thôn Hòa Hưng xưa, có địa danh gò “Bầu Tròn” Đình là nơi thực hiện đời sống tâm linh tưởng nhớ vị Thần đã che chở cho thôn Hòa Hưng bình an, mưa thuận gió hòa và tưởng nhớ các vị Tiền Hiền, Hậu Hiền có công mở đất và xây dựng đình

Thần cai quản thôn Hòa Hưng được vua Tự Đức phong sắc đầu năm

1853 và được bá tánh thờ cúng tại Đình Chí Hòa là Thần Thành Hoàng Bổn Cảnh Tại sân đình có bức bình phong, mặt trước thờ thần hổ đắp nổi, mặt sau thờ vị thần Nông, hai bên có kỳ lân phủ phục

Trang 21

Võ ca của đình có hai bức tranh vẽ treo hai bên vách miêu tả ngôi trường và lớp học của cụ Võ Trường Toản để ghi nhận và biết ơn công đức của Võ Tiên Sinh trong sự nghiệp đào tạo nhân tài cho hậu thế Tại đây có câu điếu của học trò khóc thầy

“Sinh tiền giáo huấn đắc nhân, vô tử như hữu tử Một hậu thanh danh tạ thế, tuy vong giả bất vong”

Trên bàn thờ có hương án, lư đồng, bình hoa,… được bài trí tôn nghiêm theo quan niệm “Đông Bình, Tây Quả” các bức hoành, đôi bao lam là những tác phẩm điêu khắc có giá trị cao về văn học nghệ thuật

Ôm chính điện là hai dãy nhà Đông Lang và Tây Lang, Đông Lang có khoảng đất trống phía là nơi nối chính điện với nhà túc bằng cửa hông, phiá sau là phòng nghỉ của ông từ giữ đình Tây Lang là nơi để long kiệu cùng một

số đồ dùng phục vụ rước sắc thần trong dịp lễ Kỳ Yên hàng năm

Đông Lang thờ Tiền Hiền, Hậu Hiền Bên trái và bên phải, bàn thờ chính tại nhà túc có hai bàn thờ Tả Ban và Hữu Ban, phía trên tường, mỗi bàn

Trang 22

thờ có bức tranh vẽ bằng sơn dầu với cảnh đường đất đỏ, núi sông, ngôi đình, mái nhà gợi nhớ kỷ niệm về quê hương, cội nguồn

Là một trong những đình ở thành phố Sài Gòn xưa, tuy có trùng tu từng phần theo thời gian khác nhau, đình Chí Hòa vẫn giữ được nét kiến trúc cổ xưa của Đình Nam Bộ

Cấu trúc khối nhà của đình có chính điện võ ca, võ quy và nhà túc Chính điện là nhà ba gian vẫn còn bốn cột có đường kính 30cm cao trên 4m Phần dưới cột nơi tiếp xúc nền nhà được kê đá có hình khối vuông nhằm chống ẩm mục, mối mọt Cột được liên kết với xà, kèo, đòn tay bằng phương pháp đục mộng, chêm nêm theo kỹ thuật thủ công với những đường nét hoa văn hoàn hảo

Kết cấu tứ trụ tạo thành bộ khung giữ, chống đỡ vững chắc cho mái nhà Mái đình lợp ngói âm dương, chính giữa bờ nóc được trang trí “lưỡng long tranh châu” cùng hai chim phụng làm bằng gốm ở hai bên Đầu đao bốn góc được tạo khắc hình đầu rồng, chân xòe ba móng thể hiện thứ bậc vị thần được vua phong

Cũng như các đình làng khác ở Việt Nam, nét hay nét đẹp của đình Chí Hòa vẫn giữ được các nghi thức lễ hội truyền thống Lễ hội chính trong năm

là lễ Kỳ Yên, lễ được tổ chức trong ba ngày 16, 17,18 tháng 2 âm lịch

Trong quá trình tồn tại, đình thần thôn Hòa Hưng luôn gắn liền với những sự kiện lịch sử tại thành phố Trước 1792, đình là nơi thầy Võ Trường Toản mở các lớp dạy “Tri ngôn”, “Dưỡng Khí” Học trò của cụ có nhiều người thành danh như Trịnh Hoài Đức, Lê Quang Định, họ để lại cho đời những tác phẩm có giá trị lớn như “Gia Định thành thông chí”, “Đại Việt thống nhất dư địa chí”

Tưởng nhớ Võ tiên sinh như bậc Tiền Hiền có công hun đúc hào khí trung dũng, khí tiết, trọng nghĩa khinh tài của người Nam Bộ, hội đình đã đúc tượng Võ tiên sinh và thờ cúng tại đình Chí Hòa

Trang 23

Trải qua gần 200 năm tồn tại trên mảnh đất đầy biến động đình Chí Hòa luôn gắn liền với đời sống văn hóa cộng đồng dân cư nơi đây Đình Chí Hòa vẫn giữ được cấu trúc cơ bản cùng những hiện vật đồ vật cổ quý hiếm, những nghi lễ thờ cúng, lễ hội cổ truyền của người Việt tại Thành Phố Hồ Chí Minh

(hình 1.6a) Đình Chí Hòa, quận 10

(hình 1.6b) Đình Chí Hòa, quận 10

Trang 24

(hình 1.7)

(hình 1.8)

Trang 25

Cổng đình được xây dựng theo kiểu Tam Quan Có bia Ông Hổ, hai bên là Miếu Ngũ Hành và Miếu Thần Nông, sân đình rộng lát gạch tàu

Mặt bằng kiến trúc được chia làm hai trục chính song song với nhau có trục chính và trục phụ Trục chính có Tiền điện, Trung điện, Chính điện Trục phụ nằm bên trái có: Nhà túc, nhà kho, nhà bếp Giữa hai trục có khoảng trống Thiên Tỉnh

Tiền Điện hình chữ nhật, kiểu nhà ba gian hai chái Tiền Điện có hai cửa, mỗi cửa có hai cánh sơn son Từ Tiền điện nhìn vào trong có thể thấy bốn hang cột cao thẳng tắp, đen bóng có đường kính khoảng 0,35m – 0,4m cao 6m Bộ cột như vậy rất hiếm trong các công trình cổ tại Thành phố Hồ Chí Minh

Tại Tiền điện có đặt long đình, long đình bằng gỗ sơn son thếp vàng được làm như mái đình thu nhỏ

Trên mái Trung điện ở giữa được trang trí lưỡng long tranh châu, hai bên là cá chép hóa long bằng gốm tráng men Mái đình không cong như các đình, chùa cổ ở miền Bắc, các nét không bay lượn cầu kỳ mà chắc khỏe Đây

là đặc điểm chung của các công trình kiến trúc cổ miền Nam

Trên mái Trung điện có hai tầng, làm theo kiểu mái chồng diềm

Trang 26

Trung điện có mái cao nhất, có bốn bàn thờ Phía ngoài là bàn nghi án, bên trong có ba bàn thờ, ở giữa là bàn thờ Hội đồng ngoại, bên trái là bàn thờ Đông Hiến, bên phải là bàn thờ Tây Hiến

Chính điện được dựng theo kiểu tứ tượng, các xà gồ bằng gỗ, vì kèo kẻ chuyển kết hợp với tường hồi chịu lực

Mái Chính điện chỉ có một tầng thấp hơn mái Trung điện, không gian nơi đây bị hạn chế tối đa ánh sang từ bên ngoài đưa vào Nơi thờ cúng thần linh ánh sáng vầng được tạo ra một cách mờ ảo cùng với khói hương nghi ngút

Trước Chính điện đặt bàn thờ hội đồng nội Trên có bài vị đề: “Cung Thỉnh Đại Càn Quốc Gia Nam Hải Thần Chiêu Linh ứng Tứ Vị Thánh Nương Vương” [35; tr.47] Bài vị được đặt trên ngai chạm đầu rồng phía trước ngai

là bộ bát bửu

Cuối chính điện đặt bàn thờ thần, trên đặt bài vị để chữ “Thần” và bốn bài vị khác Hai bên khám thờ thần là khám thờ nhỏ giống nhau, một bên là bàn thờ hữu ban, một bên là bàn thờ tả ban, phía trên khám thờ chạm hoa văn cành lá cách điệu lưỡng long triều nguyệt đường nét thanh mảnh

Hai bên chính điện có mõ lớn, chiêng, bạch mã, trong chính điện có hai cặp câu đối hình lòng máng được sơn son thiếp vàng:

Cặp thứ nhất

- Thoại khí yết kim lư, đẩu chuyển trinh hồi anh phong nhược kiến

- Tường vân phủ tử các, đăng oanh chúc hoảng miếu mạo thường tân

Nghĩa là:

- Khí đẹp soi sáng lư vàng, ngôi sao sáng lặn rồi mọc thấy như anh

phong hiển hiện

- Mây lành bao quanh gác tía, đèn đuốc sáng choang rực rỡ, xem như miếu mạo mới toanh [35; tr 48]

Cặp thứ hai:

Trang 27

- Vọng lục hiệp chi dao, hải bất dương ba hàm mong thánh đức

- Thống tứ dân chi chúng, nhơn giai bị tranh ích túy thần hưu

Trên chính điện còn có ba bức hoành

- “Cầu chi tất linh” (có cầu ắt ứng 1980)

- “Thành tài phụ tướng” (đất này đã vun trồng nên vị tướng 1925)

- “Thần tứ phong cương” (thần ban cho cương thổ này 1938) [14; tr

50]

Bên trục phụ có nhà túc, nhà kho và nhà bếp Đây là một dãy nhà ba gian hai chái, chạy dài song song với trục chính giữa trục phụ và trục chính có khoảng trống làm sân thiên tỉnh Nhà túc là nơi ban quản lý đình làm việc, tiếp khách

Tại nhà túc có ba bàn thờ (hình 1.10)

-Giữa: Bàn thờ tiền hiền và hậu hiền

-Bên phải: Bàn thờ anh hùng liệt sĩ

-Trái: Tiền vãn, hậu vãn

Nhìn chung, đình Bình Hòa cũng như hầu hết các ngôi đình khác ở Thành phố Hồ Chí Minh, đều có vẻ đẹp mộc mạc giản dị, mọi sự trang trí đều

tập trung và các đồ thờ cúng bên trong (hình 1.11)

Toàn bộ ngôi đình lợp ngói âm dương, hệ thống vì kèo bằng gỗ cửa bằng gỗ sơn son

Đình Bình Hòa thờ Thành Hoàng Bổn Cảnh theo tục thờ thần của

người Việt Nam (hình 1.12) Thờ thần ở đình Bình Hòa được vua Tự Đức

phong sắc vào năm 1853 Vị thần được thờ tại đình gồm có:

Trang 28

- Quản Giới Bổn Sứ Thành Hoàng Đại Vương

- Kinh Đô Dục Lộ Thành Hoàng Đại Vương

- Bổn Sứ Cao Các Quảng Độ

- Châu Du Thành Hoàng Đại Vương

- Đại Cân Quốc Gia Nam Hải, Chiêu Linh Ứng Tứ Vị Thánh Nương Vương

Ngoài ra tại đình còn thờ Tiền Hiền, Hậu Hiền, Tiền Vãn, Hậu Vãn Hàng tháng đình Bình Hòa cúng 2 ngày 15 và 30

Sự thờ cúng tại đình Bình Hòa đã duy trì theo tục lệ cổ truyền của đình Việt Nam Đình là sự hiện diện của văn hóa làng xã được duy trì và phát huy tính tích cực trong chế độ mới Các nghi lễ thờ cúng đã được giản lược để phù hợp với hoàn cảnh mới trong môi trường đô thị

(hình 1.9a)

Trang 29

(hình 1.9b)

(hình 1.10)

Trang 30

(hình 1.11)

(hình 1.12)

Trang 31

Lúc đầu, đình tọa lạc bên bờ kênh Đôi, đến khoảng năm 1917, đình được dời đến vị trí hiện nay

Đình Phong Phú thuộc loại di tích kiến trúc nghệ thuật, diện tích khoảng 600 m2

Các thành phần kiến trúc võ ca, tiền điện, chính điện được xây dựng theo kiểu nhà năm gian, tiếp nối nhau trên một trục dọc, riêng nghĩa

từ xây theo kiểu nhà ba gian, nằm bên trái chính điện

Võ ca và mỗi điện thờ đề có nóc mái riêng, lợp ngói ống, đỡ lấy lớp mái này là bộ cột, kèo, rui làm bằng gỗ Trước võ ca là khoảng sân nhỏ đặt bàn thờ Thiên phụ địa mẫu đối diện với bức phù điêu Thần Hổ tên vách mặt tiền Bên trên phù điêu Thần Hổ có hàng chữ “Đình Phong Phú”

Tiền điện bày ba hương án ở gian giữa và hai gian bên; hương án giữ thờ Thần hoàng, hai bên trái phải là án thờ Tả ban, Hữu ban

Chính điện là nơi được bài trí trang trọng nhất trong đình Ở ba cửa võng trước chính điện trang trí ba bao lam chạm trổ các đề tài mẫu đơn – trĩ, mai – điểu… Trên các thân cột treo các cặp liễn đối chạm chìm chữ Hán, sơn

son thếp vàng (hình 1.14a), (hình 1.14b)

Gần cuối chính điện có năm khám thờ bày thành một hàng ngang Khám thờ Thần Thành Hoàng Bổn Cảnh được bày ở gian giữa Khám thờ Tả ban và Hữu ban đặt ở hai bên trái phải gian thờ Thần

Trang 32

Hai bên ngoài sát vách tường bên trái là nơi thờ Chúa Sinh Nương Nương đối xứng với gian thờ Ngũ Hành Nương Nương ở sát vách tường bên phải Bên trái chính điện có cửa vào gian nghĩa từ, nơi thờ các vị có công với làng xã, đình miếu

Ở giữa nhà nghĩa từ là bàn thờ và tượng Địa Tạng Vương Bồ Tát Các

vị thần được thờ trong đình:

- Thần Thành Hoàng Bổn Cảnh: vị thần phù hộ cho nhân dân

- Tả ban Hữu ban: các vị phò tá của Thần thành hoàng bổn cảnh

- Ngũ Hành Nương Nương: năm vị nữ thần tượng trương cho ngũ hành (kim, mộc, thủy, hỏa, thổ)

- Quan Thánh Đế Quân: tức Quan Vũ hay Quan Vân Trường, là biểu tượng các đức trí, nhân, dũng, nghĩa

- Phúc đức chính thần: thần bảo hộ đất đai

Các hiện vật trong đình:

- Khám thờ, bài vị, long vị, tượng thần (gỗ - thạch cao)

- Khám thờ, bài vị thờ tả ban, hữu ban (gỗ)

- Khám thờ, bộ tượng Chúa sinh nương nương (gỗ, thạch cao)

- Bộ tượng 12 Mụ bà (thạch cao)

- Khám thờ, tượng thờ Ngũ hành nương nương (gỗ)

- Binh khí, bát bủu, đỉnh trầm, lư hương, liễn đối, hoành phi, phù điêu (gỗ)

Hàng năm, đình có 15 lễ hội, cúng tế nhưng lễ Kỳ Yên (ngày 17 tháng giêng) được tổ chức long trọng nhất Đình Phong Phú được xây dựng cách nay đã gần hai trăm năm, mang nhiều giá trị lịch sử - văn hóa, nổi bật nhất là giá trị kiến trúc nghệ thuật

Tuy được dời đến vị trí hiện đại vào đầu thế kỷ XX, đình Phong Phú vẫn giữ được kiến trúc nhà gỗ năm gian, mái ngói và kết cấu mặt bằng truyền thống của đình làng Nam Bộ Nội thất đình được bài trí trang nghiêm, hài hòa

Trang 33

với các khám thờ, bao lam, hoành phi, liễn đối,… sơn son thếp vàng, chạm khắc tinh xảo với các đề tài mẫu đơn - trĩ, mai - điểu, trúc - hạc và các câu đối mang nội dung ca ngợi thần thánh, cầu mong làng xã bình yên, thịnh vượng,… Các hiện vật bằng đồng như đỉnh trầm hình trái đào, đỉnh trầm mắt tre, bộ binh khí, bộ bát bửu thể hiện nghệ thuật đúc đồng đầu thế kỷ XX

Việc thờ cúng ở đình Phong Phú thể hiện sự hiện diện của người Hoa trong cộng đồng dân cư tại khu vực Các vị thần thánh như Quan Thánh Đế Quân, Chúa Sinh Nương Nương được thờ ở chính diện thể hiện sự biến chuyển giao lưu tín ngưỡng của cư dân

(hình 1.13) ( Nguồn: Tác giả)

Trang 34

(hình 1.14a) ( Nguồn: Tác giả)

(hình 1.14b) ( Nguồn: Tác giả)

Trang 35

- Đình Bình Trường

Đình Bình Trường tọa lạc tại ấp 1 xã Bình Chánh huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh cách quận lộ 1A khoảng 500m về phía Tây Bắc cũng như bao ngôi đình khác, đầu tiên đình Bình Trường được xây dựng bằng vật liệu đơn giản như tranh, tre, nứa, lá,… Năm Giáp Thìn 1844, đình được trùng

tu quy mô (hình 1.15)

Đến năm 1936 có Ông Hồ Văn Nhơn thấy ngôi đình quá thấp và xuống cấp đã phát tâm vận động dân làng đóng góp tài lực, vật lực nâng cao ngôi chính tẩm, đồng thời tái thiết xây dựng võ ca võ quy và nhà hội

Đình Bình Trường nằm trên khu đất thoáng và rộng, phong cảnh đẹp Đình có bốn ngôi nóc xếp đọi, phía trước là võ ca, phía trong là võ quy, kế tiếp là chính tẩm là ngôi nhà tứ trụ Hệ thống dàn trò làm bằng danh mộc, cột

kê cao Trước sân đình là một bức bình phong xây bằng gạch, mặt ngoài vẽ hình một mãnh hổ biểu tượng đất đai, cầu mong âm dương hòa hợp, mưa thuận gió hòa, mặt trong là thờ thần Nông, ngoài bức bình phong là một cái

ao nhỏ nhằm tạo thế tụ thủy cầu mong mang lại thịnh vượng cho thôn làng

Hai bên bức bình phong là hai ngôi miếu nhỏ Một ngôi miếu thờ thần Bạch Mã Thái Giám, một miếu thờ Ngũ Hành Nương Nương Cạnh miếu Ngũ Hành Nương Nương có một đài tưởng niệm các liệt sĩ của xã

Cổng đình làm theo kiểu Tam Quan ghi ba chữ lớn “Đình Bình Trường” bằng chữ quốc ngữ và chữ Hán

Chính điện đình Bình Trường có hình vuông Khám thờ thần Thành Hoàng chạm trổ sơn son thếp vàng đặt ngay giữa, phía trước khám thờ là một hương án với đầy đủ những đồ thờ cúng như: cặp chân đèn, bát nhang, đỉnh trầm, bình hoa, đĩa trái cây, hộp đựng sắc phong phủ vải đỏ, cặp rồng, cặp tượng hạc đứng trên rùa bằng gỗ, đối xứng qua hương án Thần Thành Hoàng

là hai cặp lọng màu vàng và màu đỏ, phía trước hương án là một đỉnh nhang sơn màu vàng lộng lẫy Hai bên trái và phải là hai hương án thờ Tả Ban và

Trang 36

Hữu ban sơn son thếp vàng, chạm khắc mỹ thuật cùng với đồ thờ cúng trang nghiêm

Vách trái và vách phải của chính điện có bốn hương án thờ Tiền Hiền, Hậu Hiền, Tả Thanh Long, Hữu Bạch Hổ Toàn khu vực chính điện trang trí

ba bức bao lam sơn son thếp vàng chạm khắc trên gỗ, đề tài hoa điểu, nét chạm chất phác, cùng hai cặp đối ca tụng công đức Thần Thành Hoàng và hai bức hoành phi

Thần Thành Hoàng của đình Bình Trường có sắc phong của vua Tự Đức ban vào năm 1852 Thần Thành Hoàng của đình Bình Trường vốn là một

vị đã có công khai phá vùng đất này từ những ngày mở đất phương nam đồng thời có công tích gìn giữ mảnh đất trù phú này trước sự giành giật của các thế lực xâm lược Đình Bình Trường còn thờ Tiền Hiền, Hậu Hiền là những dòng

họ có công quy dân lập làng (hình 1.16), (hình 1.17)

Cho đến nay mặc dù đã trải qua một số lần trùng tu sửa chữa nhưng với những bản sắc khá độc đáo về mặt kiến trúc trang trí, bài trí cũng như trên lĩnh vực tín ngưỡng, lễ hội, đình Bình Trường là một trong số ít ngôi đình của Thành phố Hồ Chí Minh còn lại tiêu biểu cho dạng thức đình làng phổ biến khắp Nam Bộ

(hình 1.15)

Trang 37

(hình 1.16) ( Nguồn: Tác giả)

(hình 1.17) ( Nguồn: Tác giả)

Trang 38

1.2.3 Đô thị hóa ở Thành phố Hồ Chí Minh

Đô thị hoá là một quá trình tập trung dân cư đô thị Đồng thời đó là quá

trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng sản xuất nông nghiệp giảm, sản xuất phi nông nghiệp tăng Bộ mặt đô thị ngày càng hiện đại, không gian đô thị mở rộng Trong đó, dân cư đô thị là một điểm dân cư tập trung phần lớn những người dân lao động phi nông nghiệp, sống và làm việc theo kiểu thành thị

Nói một cách đầy đủ hơn thì đô thị hoá là một quá trình biến chuyển kinh tế-xã hội-văn hoá và không gian, gắn liền với những tiến bộ về khoa học

kỹ thuật của xã hội loài người, trong đó diễn ra sự phát triển nghề nghiệp mới,

sự chuyển dịch cơ cấu lao động, sự chuyển đối lối sống ngày càng văn minh hơn cùng với sự mở rộng không gian thành hệ thống đô thị, song song với việc tổ chức ranh giới hành chính lãnh thổ và quân sự

Trải qua các giai đọan lịch sử Thành phố Hồ Chí Minh luôn là một

trung tâm kinh tế quan trọng có tầm ảnh hưởng đến một khu vực rộng lớn,

đồng thời có những đặc trưng văn hóa khác với nhiều thành phố khác ở Việt Nam

Với lợi thế của vị trí địa lý thuận tiện cho thông thương và giao lưu kinh tế - văn hóa, là một đô thị trẻ, năng động, sáng tạo, Thành phố Hồ Chí Minh đang đẩy mạnh quá trình đô thị hóa, xây dựng thành phố văn minh hiện đại và hướng đến mục tiêu phát triển bền vững

Từ năm1986, Đảng và Nhà nước đã ban hành chính sách đổi mới, khuyến khích phát triển các thành phần kinh tế Ủy ban nhân dân thành phố, Đảng bộ, Chính quyền và Nhân dân đã tự cho mình một hướng đi thích hợp với thực lực kinh tế của từng quận Kinh tế các quận đã phát triển nhanh chóng theo xu hướng chung là công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp - thương mại - dịch vụ ngày càng chiếm vị trí then chốt

Trang 39

Đô thị hóa đòi hỏi con người phải chuyển động theo tốc độ chuyển động của nó Nơi đã có hiện tượng đô thị hóa, thì nơi ấy đòi hỏi một lối sống khác, một cách ứng xử văn hóa khác, khác hẳn với lối sống, với văn hóa nông thôn trước đây Đô thị hóa tại Thành phố Hồ Chí Minh, với tất cả những hệ quả phức tạp của nó như diện tích nông nghiệp bị thu hẹp dần, dân nhập cư tự

do tăng lên, thu nhập biến đổi đưa đến sự phân tầng xã hội mới, lối sống thay đổi, phong cách hưởng thụ văn hóa hiện đại, đã có tác động mạnh, làm biến đổi văn hóa truyền thống của người Thành phố Hồ Chí Minh [Tôn Nữ Quỳnh

Trân,Văn hóa làng xã trong đô thị hóa,Trung tâm nghiên cứu Đô thị và phát triển, www.vanhoahoc.vn, 2008]

Sự chuyển dịch kinh tế làm thay đổi vị trí quan trọng của cái đình Đình

ở đô thị không như đình trước đây Ngày xưa, đình vốn là sản phẩm của nền kinh tế nông nghiệp, là nơi phân xử các mâu thuẫn trong làng, là nơi hành xử đẳng cấp xã hội Hiện nay, ngôi đình không còn ý nghĩa như thế mà đã trở thành một biểu tượng gắn với tín ngưỡng hơn là với nếp sống thường nhật, những ngôi đình nằm nhỏ bé bên cạnh các ngôi nhà cao tầng lộng lẫy của thời

kỳ đô thị hóa Kiến trúc của đình cũng thay đổi về kiểu dáng lẫn về cảnh quan Hiện tượng bê tông hóa, sự thay đổi kiểu dáng qua những lần sửa chữa,

sự thu hẹp diện tích làm kiến trúc đình của thành phố thiếu sự thống nhất và

cổ kính

Mục tiêu xây dựng Thành phố Hồ Chí Minh (Quyết định TTg phê duyệt nhiệm vụ quy hoạch chung xây dựng thành phố Hồ Chí Minh đến năm 2025) bao gồm: phát triển bền vững, hài hòa giữa phát triển kinh tế với bảo tồn di tích lịch sử, văn hoá và bảo vệ môi trường, bảo đảm an ninh, quốc phòng theo hướng liên kết vùng để trở thành một thành phố văn minh, hiện đại Nhà nước cũng quan tâm nhiều hơn, có kinh phí cho công việc trùng

số1570/QĐ-tu và bảo tồn những di tích lịch sử - văn hóa có giá trị Nhiều ngôi đình đã được công nhận là di tích lịch sử - văn hóa cấp quốc gia và cấp thành phố

Trang 40

TIỂU KẾT:

Có thể nói rằng đình làng được xem là ngôi nhà công cộng của cộng đồng làng xã với ba chức năng chính: hành chính, tôn giáo và văn hóa.Về chức năng hành chính, đình là chỗ để họp bàn các việc làng, để phân xử, kiện…theo những quy định của làng Về chức năng tôn giáo, đình là nơi thờ thần hộ mệnh trong làng, thường là một vị hoặc cũng có khi nhiều vị, gọi là Thành Hoàng làng Về chức năng văn hóa, đình cũng là nơi biểu diễn các tuồng, cải lương, nơi tiến hành các lễ hội, các trò chơi… Trong các hoạt động trong đời sống của người dân, những chức năng trên không tách rời, mà đan xen hòa quyện, gắn bó với nhau Thực tế cho thấy rằng từ đầu đình làng chưa

có đầy đủ các chức năng trên mà những chức năng này dần xuất phát theo nhu cầu của đời sống nhân dân trong các làng

Từ sau thế kỷ XVII, trong quá trình khẩn hoang, ở Thành phố Hồ Chí Minh các nhóm cư dân người Việt đã hình thành các đơn vị cư trú, nhiều ấp hợp lại thành làng hay thôn Mỗi làng đều xây dựng một ngôi đình là ngôi nhà chung của làng, vừa là nơi họp bàn và giải quyết những việc chung của làng,

xã, đồng thời là trụ sở hành chính của làng, duy trì các lễ hội mang tính truyền thống văn hóa tín ngưỡng dân gian của làng

Vấn đề cần quan tâm khi tiến hành đô thị hoá, công nghiệp hoá là sự suy giảm các giá trị văn hoá bản địa Ta có thể thấy sau hơn 30 năm đô thị hoá, Thành phố Hồ Chí Minh là nơi có sự đa dạng văn hoá – xã hội cao nhất

và nhiều giá trị văn hoá truyền thống của chúng ta vẫn giữ gìn được, mặc dù

có không ít những nét văn hoá truyền thống đã bị mai một ít nhiều Dù tập trung cư dân từ các vùng miền khác nhau của đất nước đến làm ăn, sinh sống, nhưng người dân vẫn đối xử với nhau rất nghĩa tình, vẫn tiếp nối truyền thống tín ngưỡng của miền Bắc và miền Trung thờ thần Thành Hoàng và là công sở hành chính thôn xã Ngôi đình ở Thành phố Hồ Chí Minh vẫn tồn tại và chứng kiến bao sự đổi thay của Thành phố

Ngày đăng: 21/06/2017, 20:40

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình  ảnh  đình  làng  đã  trở  nên  quen  thuộc  trong  tâm  trí  của  nhiều  người. Đình là nơi thờ tự những bậc thánh nhân và những người có công với  làng xã, gởi gắm niềm tin và lưu giữ ký ức về làng quê của mỗi con người - Đình làng ở thành phố hồ chí minh trong bối cảnh đô thị hóa hiện nay
nh ảnh đình làng đã trở nên quen thuộc trong tâm trí của nhiều người. Đình là nơi thờ tự những bậc thánh nhân và những người có công với làng xã, gởi gắm niềm tin và lưu giữ ký ức về làng quê của mỗi con người (Trang 55)
Hình ảnh mẫu của một ngôi đình với kiểu kiến trúc truyền thống có đầy - Đình làng ở thành phố hồ chí minh trong bối cảnh đô thị hóa hiện nay
nh ảnh mẫu của một ngôi đình với kiểu kiến trúc truyền thống có đầy (Trang 72)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w