Kế toán trong các TĐKT được nhiều tác giả nghiên cứu, lựa chọn làm Luận án tiến sĩ, đặc biệt là hợp nhất BCTC trong các TĐKT, TCT hoạt động theo mô hình CTM - CTC là vấn đề được nhiều tá
Trang 1HỌC VIỆN TÀI CHÍNH - -
NGUYỄN THỊ NGA
HOÀN THIỆN TỔ CHỨC CÔNG TÁC KẾ TOÁN
TRONG TẬP ĐOÀN CÔNG NGHIỆP THAN - KHOÁNG SẢN
VIỆT NAM
LUẬN ÁN TIẾN SĨ KINH TẾ
HÀ NỘI - 2017
HỌC VIỆN TÀI CHÍNH - -
LUẬN ÁN TIẾN SĨ KINH TẾ
Người hướng dẫn khoa học: 1 PGS.TS CHÚC ANH TÚ
2 PGS.TS NGUYỄN THỊ PHƯƠNG HOA
HÀ NỘI - 2017
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan bản luận án là công trình nghiên
cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả nêu trong luận án
là trung thực và có nguồn gốc rõ ràng
TÁC GIẢ LUẬN ÁN
Nguyễn Thị Nga
Trang phụ bìa Lời cam đoan Mục lục Danh mục các chữ viết tắt Danh mục các bảng Danh mục các sơ đồ
MỞ ĐẦU 1
Chương 1: LÝ LUẬN CHUNG VỀ TỔ CHỨC CÔNG TÁC KẾ TOÁN TRONG CÁC TẬP ĐOÀN KINH TẾ 15
1.1 KHÁI QUÁT CHUNG VỀ TẬP ĐOÀN KINH TẾ 15
1.1.1 Khái niệm và đặc điểm của Tập đoàn kinh tế 15
1.1.2 Vai trò của Tập đoàn trong nền kinh tế 20
1.1.3 Mô hình tổ chức quản lý kinh tế trong Tập đoàn kinh tế 21
1.1.4 Mối quan hệ giữa các thành viên trong Tập đoàn kinh tế 24
1.2 THÔNG TIN KẾ TOÁN VÀ VAI TRÒ CỦA THÔNG TIN KẾ TOÁN TRONG TẬP ĐOÀN KINH TẾ 26
1.2.1 Khái quát thông tin kế toán và vai trò của thông tin kế toán trong Tập đoàn kinh tế 26
1.2.2 Khái quát về tổ chức công tác kế toán trong Tập đoàn kinh tế 30
1.3 NỘI DUNG TỔ CHỨC CÔNG TÁC KẾ TOÁN TRONG TẬP ĐOÀN KINH TẾ 36
1.3.1 Tổ chức bộ máy kế toán 37
1.3.2 Tổ chức thu nhận thông tin kế toán 44
1.3.3 Tổ chức hệ thống hóa, xử lý thông tin kế toán 52
1.3.4 Tổ chức phân tích và cung cấp thông tin kế toán 56
1.3.5 Tổ chức lưu trữ tài liệu kế toán và công tác kiểm tra kế toán 62
1.4 KINH NGHIỆM VỀ TỔ CHỨC CÔNG TÁC KẾ TOÁN CỦA MỘT SỐ NƯỚC TRÊN THẾ GIỚI, MỘT SỐ TẬP ĐOÀN KINH TẾ LỚN TẠI VIỆT NAM VÀ BÀI HỌC KINH NGHIỆM CHO TẬP ĐOÀN CÔNG NGHIỆP THAN - KHOÁNG SẢN VIỆT NAM 64
1.4.1 Kinh nghiệm về tổ chức công tác kế toán của một số nước trên thế giới 64
Trang 3tế lớn tại Việt Nam 69
1.4.3 Bài học kinh nghiệm về tổ chức công tác kế toán cho Tập đoàn công nghiệp Than - Khoáng sản Việt Nam 73
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 75
Chương 2: THỰC TRẠNG TỔ CHỨC CÔNG TÁC KẾ TOÁN TRONG TẬP ĐOÀN CÔNG NGHIỆP THAN - KHOÁNG SẢN VIỆT NAM 76
2.1 KHÁI QUÁT VỀ TẬP ĐOÀN CÔNG NGHIỆP THAN - KHOÁNG SẢN VIỆT NAM 76
2.1.1 Quá trình hình thành và phát triển 76
2.1.2 Chức năng nhiệm vụ của Tập đoàn công nghiệp Than - Khoáng sản Việt Nam 77
2.1.3 Đặc điểm tổ chức hoạt động sản xuất kinh doanh của Tập đoàn công nghiệp Than - Khoáng sản Việt Nam 79
2.1.4 Đặc điểm cơ cấu tổ chức quản lý của Tập đoàn công nghiệp Than - Khoáng sản 82
2.1.5 Đặc điểm tổ chức quản lý và hoạt động ảnh hưởng đến tổ chức công tác kế toán trong Tập đoàn công nghiệp Than - Khoáng sản Việt Nam 89
2.2 THỰC TRẠNG TỔ CHỨC CÔNG TÁC KẾ TOÁN TRONG TẬP ĐOÀN CÔNG NGHIỆP THAN - KHOÁNG SẢN VIỆT NAM 91
2.2.1 Tổ chức bộ máy kế toán 93
2.2.2 Tổ chức thu nhận thông tin kế toán 105
2.2.3 Tổ chức hệ thống hóa, xử lý thông tin kế toán 107
2.2.4 Tổ chức phân tích và cung cấp thông tin kế toán 113
2.2.5 Tổ chức công tác kiểm tra kế toán 129
2.3 ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG TỔ CHỨC CÔNG TÁC KẾ TOÁN TRONG TẬP ĐOÀN CÔNG NGHIỆP THAN - KHOÁNG SẢN VIỆT NAM 130
2.3.1 Những ưu điểm 130
2.3.2 Những hạn chế 132
2.3.3 Nguyên nhân của những hạn chế 136
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 139
KẾ TOÁN TRONGTẬP ĐOÀN CÔNG NGHIỆP THAN - KHOÁNG SẢN VIỆT NAM 140
3.1 ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN TẬP ĐOÀN CÔNG NGHIỆP THAN - KHOÁNG SẢN VIỆT NAM 140
3.2 YÊU CẦU CƠ BẢN VÀ NGUYÊN TẮC HOÀN THIỆN TỔ CHỨC CÔNG TÁC KẾ TOÁN TRONG TẬP ĐOÀN CÔNG NGHIỆP THAN - KHOÁNG SẢN VIỆT NAM 141
3.2.1 Yêu cầu cơ bản hoàn thiện tổ chức công tác kế toán trong Tập đoàn công nghiệp Than - Khoáng sản Việt Nam 141
3.2.2 Nguyên tắc hoàn thiện tổ chức công tác kế toán trong Tập đoàn công nghiệp Than - Khoáng sản Việt Nam 145
3.3 CÁC GIẢI PHÁP ĐỂ HOÀN THIỆN TỔ CHỨC CÔNG TÁC KẾ TOÁN TRONG TẬP ĐOÀN CÔNG NGHIỆP THAN - KHOÁNG SẢN VIỆT NAM 147
3.3.1 Hoàn thiện tổ chức bộ máy kế toán 147
3.3.2 Hoàn thiện tổ chức thu nhận thông tin kế toán 152
3.3.3 Hoàn thiện tổ chức hệ thống hóa, xử lý thông tin kế toán 154
3.3.4 Hoàn thiện tổ chức phân tích và cung cấp thông tin kế toán 159
3.3.5 Hoàn thiện tổ chức công tác kiểm tra kế toán 166
3.4 ĐIỀU KIỆN THỰC HIỆN CÁC GIẢI PHÁP 168
3.4.1 Điều kiện về phía Nhà nước 168
3.4.2 Điều kiện về phía Tập đoàn công nghiệp Than - Khoáng sản Việt Nam 170
KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 172
KẾT LUẬN 173
DANH MỤC CÔNG TRÌNH ĐÃ CÔNG BỐ CỦA TÁC GIẢ 174
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 175
PHỤ LỤC 180
Trang 4BCĐKT : Bảng cân đối kế toán
BCĐKTHN : Bảng cân đối kế toán hợp nhất
BCKQHĐKD : Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh
BCKQHĐKDHN : Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh hợp nhất
BCLCTT : Báo cáo lưu chuyển tiền tệ
BCLCTTHN : Báo cáo lưu chuyển tiền tệ hợp nhất
BCTC : Báo cáo tài chính
BCTCHN : Báo cáo tài chính hợp nhất
Bảng 2.1: Hình thức sổ kế toán trong Tập đoàn công nghiệp Than -
Khoáng sản Việt Nam 112
Bảng 2.2: Bảng tổng hợp chỉ tiêu phân tích Báo cáo tài chính hợp nhất
của Tập đoàn công nghiệp Than - Khoáng sản Việt Nam 128
Bảng 3.1: Bảng đề xuất bổ sung một số chỉ tiêu trong phân tích
BCTCHN tại Tập đoàn 164
Trang 5DANH MỤC CÁC SƠ ĐỒ
Trang
Sơ đồ 1.1: Mô hình tổ chức bộ máy kế toán tập trung 40
Sơ đồ 1.2: Mô hình tổ chức bộ máy kế toán phân tán 41
Sơ đồ 1.3: Mô hình tổ chức bộ máy kế toán vừa tập trung vừa phân tán 42
Sơ đồ 2.1: Sơ đồ tổ chức Tập đoàn công nghiệp Than - Khoáng sản Việt Nam 83
Sơ đồ 2.2: Sơ đồ quản lý và điều hành của Tập đoàn công nghiệp Than - Khoáng sản Việt Nam 85
Sơ đồ 2.3: Sơ đồ tổ chức bộ máy kế toán tại CTM Tập đoàn công nghiệp Than - Khoáng sản Việt Nam 100
Sơ đồ 2.4: Sơ đồ tổ chức bộ máy kế toán tại các đơn vị hạch toán phụ thuộc CTM Tập đoàn công nghiệp Than - Khoáng sản Việt Nam 101
Sơ đồ 2.5: Sơ đồ bộ máy kế toán tại các Tổng công ty trong Tập đoàn công nghiệp Than - Khoáng sản Việt Nam 102
Sơ đồ 2.6: Sơ đồ tổ chức bộ máy kế toán tại các CTC trong Tập đoàn công nghiệp Than - Khoáng sản Việt Nam 103
Sơ đồ 2.7: Sơ đồ tổ chức bộ máy kế toán tại các đơn vị sự nghiệp có thu trong Tập đoàn công nghiệp Than - Khoáng sản Việt Nam 104
Sơ đồ 2.8: Sơ đồ quy trình lập BCTCHN 123
Sơ đồ 3.1: Tổ chức bộ máy kế toán tại CTM theo hướng chuyên môn hóa 148
MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Trong những năm gần đây, thực hiện chủ trương của Đảng và Nhà nước, các Tổng công ty Nhà nước từng bước xây dựng, củng cố để hình thành các TĐKT lớn mạnh, có năng lực cạnh tranh trên thị trường trong nước và quốc tế Theo chủ trương này, một số TCT Nhà nước trong những ngành then chốt sau khi được cổ phần hoá, sắp xếp lại đã hoạt động rất có hiệu quả và đóng góp đáng kể vào sự tăng trưởng của nền kinh tế quốc dân tạo tiền đề cho sự ra đời của một số TĐKT Nhà nước Việc hình thành các TĐKT theo mô hình CTM - CTC đã bước đầu được hình thành và phát triển, từ đó vấn đề nâng cao hiệu quả quản lý đối với các TĐKT được đặt ra như một tất yếu khách quan Trong đó, sử dụng công cụ kế toán - một công cụ quan trọng của hệ công cụ quản lý kinh tế cần phải được nghiên cứu, tổ chức hợp lý
và khoa học, vận dụng vào thực tiễn đạt hiệu quả cao nhất Tuy nhiên trên thực tế, bên cạnh các kết quả đạt được, việc quản lý các TĐKT ở nước ta thông qua công cụ
kế toán còn nhiều bất cập, chưa đi vào nề nếp Đặc biệt là vấn đề tổ chức công tác kế toán, vấn đề cung cấp thông tin KTTC và KTQT phục vụ cho công tác quản trị trong các TĐKT Tổ chức công tác kế toán trong các TĐKT là vấn đề mới mẻ còn có nhiều quan điểm chưa thống nhất cần được nghiên cứu một cách căn bản, có hệ thống Trong những năm qua, cùng với quá trình đổi mới phương thức tổ chức SXKD; cơ chế quản lý kinh tế đáp ứng yêu cầu của quá trình hội nhập và phát triển của các doanh nghiệp, công tác kế toán được quan tâm, đổi mới và hoàn thiện Với việc ban hành Luật kế toán, hệ thống chuẩn mực và sửa đổi Chế độ kế toán theo hướng tiếp cận với các thông lệ chuẩn mực kế toán quốc tế đã từng bước đáp ứng yêu cầu quản lý
Hơn 20 năm qua, kể từ khi hoạt động theo mô hình Tập đoàn (từ tháng 10 năm
1994 đến nay), Tập đoàn công nghiệp Than - Khoáng sản Việt Nam đã đạt sản lượng khai thác trên 500 triệu tấn, trở thành một trong những TĐKT mạnh của đất nước, được Nhà nước giao trọng trách chính trong việc thực hiện quy hoạch phát triển ngành Than, ngành công nghiệp khai thác Bauxit - alumin - nhôm, ngành công nghiệp Titan và một số ngành công nghiệp khai thác khoáng sản khác Tập đoàn công nghiệp Than - Khoáng sản Việt Nam là một TĐKT đa ngành, đa lĩnh vực được xếp hạng trong 10 doanh nghiệp Nhà nước lớn nhất trong giai đoạn 2005-2015 Do vậy,
Trang 6ban lãnh đạo Tập đoàn rất cần các thông tin khác nhau để đánh giá hiệu quả hoạt
động của Tập đoàn, trong đó có thông tin kế toán cung cấp Tập đoàn công nghiệp
Than - Khoáng sản Việt Nam với số lượng lớn đơn vị thành viên với cơ cấu tổ chức
đa dạng, phức tạp, với quy mô hoạt động đa dạng, do vậy đòi hỏi tổ chức công tác kế
toán không chỉ trong phạm vi nhỏ hẹp một đơn vị mà phải được tổ chức khoa học,
hợp lý trên toàn hệ thống trong Tập đoàn Tuy nhiên việc tổ chức công tác kế toán
trong Tập đoàn công nghiệp Than - Khoáng sản Việt Nam còn những hạn chế cần
phải nghiên cứu hoàn thiện Do đó việc nghiên cứu thực trạng và đề ra các giải pháp
hoàn thiện tổ chức công tác kế toán trong Tập đoàn công nghiệp Than - Khoáng sản
Việt Nam là vấn đề vô cùng cần thiết cả về mặt lý luận và thực tiễn Xuất phát từ vấn
đề nêu trên, nghiên cứu sinh đã lựa chọn đề tài:“Hoàn thiện tổ chức công tác kế
toán trong Tập đoàn công nghiệp Than - Khoáng sản Việt Nam” làm đề tài nghiên
cứu luận án tiến sĩ
2 Tổng quan về các đề tài nghiên cứu
Tổ chức công tác kế toán trong doanh nghiệp là một khâu của công tác tổ
chức, quản lý và có ý nghĩa hết sức quan trọng trong việc nâng cao hiệu quả quản lý
của doanh nghiệp Xuất phát từ thực tế trên, đã có một số đề tài nghiên cứu khoa học
cấp Bộ, cấp ngành, cấp cơ sở; luận án tiến sĩ; bài báo đăng tạp chí kỷ yếu hội thảo
khoa học quan tâm đến vấn đề tổ chức công tác kế toán trong các doanh nghiệp
2.1 Các công trình nghiên cứu trên thế giới
Mô hình CTM - CTC ở các nước phát triển trên thế giới đã có từ lâu nhưng
chủ yếu trong lĩnh vực kinh tế tư nhân Do đặc điểm về tổ chức quản lý kinh doanh
khác biệt đã chi phối đến đặc điểm tổ chức công tác kế toán trong các doanh nghiệp
hoạt động theo mô hình này, mà cụ thể là chi phối đến tổ chức bộ máy kế toán và
công tác kế toán phục vụ cho việc lập và trình bày BCTCHN Do đó, có nhiều nghiên
cứu ở các nước tập trung vào hai nội dung này của tổ chức công tác kế toán trong các
CTM - CTC
Có thể kể đến một số nghiên cứu trên thế giới như sau:
Nghiên cứu của Christine Windbichler (2000), "Corporate Group Law for
Europe": Comments on the Forum Europaeum’s Principles and Proposals for a
European Corporate Group Law, European Business Organization Law Review 1:
265-286 (“Luật Tập đoàn kinh tế châu Âu”: Các nguyên tắc và đề xuất về Luật Tập
đoàn kinh tế và các tổ chức kinh doanh tại Châu Âu, tóm tắt số 265- 286) Trong nghiên cứu này, tác giả đã đề cập đến các quy định của Liên minh Châu Âu về tổ chức hoạt động trong các TĐKT Trong đó, có đề cập đến các quy định về tổ chức công tác kế toán trong các tập đoàn
Nghiên cứu của Colpan A M and Hikino T (2010), "Foundations of Business
Groups: Towards an Integrated Framework" in The Oxford Handbook of Business
Groups, Colpan et al (eds.) Oxford University Press Tạm dịch là Colpan A.M và Hikino T (2010) "Cơ sở của Tập đoàn kinh tế: Hướng tới một cơ cấu thống nhất" Trong đề tài này, tác giả đã nghiên cứu cơ sở hình thành các TĐKT, đồng thời đề xuất một số kiến nghị để hoàn thiện công tác quản lý trong các TĐKT trong đó có đề xuất về tổ chức bộ máy kế toán và các quy định về kế toán
Nghiên cứu của Belenzon, Patacconi, Zelner (2013), "Identifying archetypes:
an empirical study of business group structure in 16 developed countries" (Nghiên
cứu thực nghiệm về cấu trúc Tập đoàn kinh tế tại 16 quốc gia phát triển) Trong công trình này, các tác giả có đề cập đến cấu trúc thường thấy của các tập đoàn ở 16 quốc gia phát triển như Mỹ, Pháp, Nhật, Úc… trong đó có đề cập đến những ảnh hưởng của cấu trúc tập đoàn đến tổ chức bộ máy quản lý của tập đoàn
Từ những nghiên cứu trên có thể rút ra một số nhận xét sau:
Trên thế giới không có quy định chính thức về tổ chức bộ máy kế toán Tùy thuộc vào quy mô của từng tập đoàn, yêu cầu về tổ chức thông tin tài chính theo lĩnh vực, bộ phận, khu vực địa lý mà có tổ chức bộ máy kế toán phù hợp Nhưng nhìn chung, tổ chức bộ máy kế toán theo mô hình CTM - CTC tại hầu hết các nước trên thế giới đều có đặc điểm sau:
- Do CTM và CTC chỉ có quan hệ về vốn, CTM và các CTC là các pháp nhân độc lập, nên thông thường, kế toán của CTM và CTC chỉ có quan hệ nghiệp
vụ và giám sát lẫn nhau mà không có quan hệ chi phối theo hình thức mệnh lệnh hành chính
- Việc lập BCTCHN rất phức tạp nên bộ máy kế toán phục vụ cho việc lập và trình bày BCTCHN trong nhiều tập đoàn còn lớn hơn bộ máy kế toán phục vụ cho công tác lập BCTC của riêng CTM
BCTCHN phản ánh tình hình biến động tài sản và nguồn vốn tại một thời điểm và tình hình kết quả hoạt động trong kỳ của một nhóm các công ty có quan hệ
Trang 7sở hữu vốn lẫn nhau và trình bày chúng như thể là BCTC của một thực thể pháp lý
duy nhất Do việc lập và trình bày BCTCHN chỉ nhằm mục đích quản lý trong nội bộ
doanh nghiệp và phục vụ các cổ đông nên BCTCHN không mang tính pháp lý và
phạm vi các công ty phải lập và trình bày BCTCHN cũng bị thu hẹp hơn
Các nước trên thế giới có quy định khác nhau về phạm vi các công ty phải lập
và trình bày BCTCHN Nhưng nhìn chung phần lớn các quốc gia đều tuân thủ các
quy định về lập và trình bày BCTCHN của Ủy ban chuẩn mực kế toán quốc tế Một
số nước không áp dụng toàn bộ hoặc một phần các quy định của Ủy ban chuẩn mực
kế toán quốc tế thì phạm vi các công ty phải lập BCTCHN có thể khác biệt
Về nội dung hệ thống BCTCHN thì hiện nay theo thông lệ quốc tế và hầu hết
các quốc gia trên thế giới như Anh, Mỹ, Úc, Pháp, Nhật… BCTCHN bao gồm 05 báo
cáo chính, đó là: BCĐKTHN, BCKQKDHN, BCLCTTHN, BTMBCTCHN, Báo cáo
biến động VCSH
Nguyên tắc, thủ tục và quy trình lập BCTC nhìn chung được các nước tuân thủ
thống nhất theo quy định của Ủy ban chuẩn mực kế toán quốc tế
2.2 Các công trình nghiên cứu trong nước
2.2.1 Các công trình nghiên cứu về tổ chức công tác kế toán trong
doanh nghiệp
Trước năm 2000 đã có những công trình nghiên cứu khoa học ứng dụng vấn
đề lý luận vào thực tiễn và đã đạt được hiệu quả nhất định Như đề tài “Tổ chức công
tác kế toán ở công ty xây dựng 405 Thành phố Việt Trì” của GS,TS Ngô Thế Chi và
nhóm tác giả Nội dung chủ yếu được đề cập là vận dụng lý luận chung về tổ chức
công tác kế toán để tổ chức công tác kế toán tại Công ty xây dựng 405 Đề tài nghiên
cứu đã được Công ty xây dựng 405 triển khai thực hiện và đem lại những hiệu quả
nhất định song vẫn chưa khắc phục được vấn đề về KTQT
Luận án tiến sĩ kinh tế “Hoàn thiện tổ chức công tác kế toán trong các doanh
nghiệp vừa và nhỏ nhằm tăng cường công tác quản trị doanh nghiệp” của tác giả
Ngô Thị Thu Hồng (2007) Luận án nghiên cứu những vấn đề lý luận về quản trị
doanh nghiệp và tổ chức công tác kế toán trong doanh nghiệp nói chung và trong các
doanh nghiệp nhỏ và vừa Qua thực trạng về đặc điểm tổ chức SXKD và thực trạng tổ
chức công tác kế toán trong các doanh nghiệp nhỏ vừa tại Việt Nam, tác giả đã phân
tích đánh giá thực trạng đó trên cả hai phương diện là KTTC và KTQT; để đề xuất
các giải pháp cơ bản hoàn thiện tổ chức công tác kế toán trong các doanh nghiệp nhỏ vừa tại Việt Nam Luận án của tác giả chỉ giới hạn nghiên cứu trong các doanh nghiệp nhỏ và vừa thuộc các loại hình thuộc các loại hình SXKD khác nhau
“Tổ chức công tác kế toán trong doanh nghiệp” của tác giả Lưu Đức Tuyên và
Ngô Thị Thu Hồng (2011) Nội dung cuốn sách đề cập đến nội dung tổ chức công tác
kế toán trong doanh nghiệp theo quy trình kế toán Bên cạnh đó, các tác giả có đưa ra các quy định pháp lý về kế toán ở Việt Nam hiện nay để tổ chức công tác kế toán trong doanh nghiệp Tuy nhiên, các tác giả mới đề cập đến tổ chức công tác kế toán nói chung, chứ chưa giải quyết được tổ chức công tác kế toán trong TĐKT đặc biệt là
tổ chức lập BCTCHN để cung cấp thông tin cho các nhà quản trị trong Tập đoàn
Luận án tiến sĩ “Tổ chức công tác kế toán trong các công ty chứng khoán Việt
Nam” của tác giả Nguyễn Mạnh Thiều (2011) Tác giả đã hệ thống hoá và phân tích
những lý luận cơ bản về tổ chức công tác kế toán trong các công ty chứng khoán, trong đó nêu bật những nghiệp vụ mới phát sinh trên thị trường chứng khoán Trên cơ
sở thực trạng tổ chức công tác kế toán tại một số công ty chứng khoán Việt Nam, tác giả đã đề xuất hệ thống các giải pháp hoàn thiện tổ chức công tác kế toán trong các công ty chứng khoán hiện nay theo các nội dung mới chủ yếu: Hoàn thiện mô hình công ty chứng khoán; nâng cao vai trò của tổ chức công tác kế toán; hoàn thiện theo từng nội dung tổ chức công tác kế toán
“Tổ chức công tác kế toán doanh nghiệp” của nhóm tác giả Đại học Kinh tế
Thành phố Hồ Chí Minh (2012), do tác giả Nguyễn Phước Bảo Ấn chủ biên Cuốn sách chủ yếu đề cập đến nội dung tổ chức công tác trong doanh nghiệp trong điều kiện ứng dụng công nghệ thông tin như tổ chức thu thập dữ liệu, xây dựng quy trình lập và luân chuyển chứng từ kế toán theo chu trình kinh doanh, tổ chức cung cấp thông tin kế toán, tổ chức bộ máy kế toán
Luận án tiến sĩ kinh tế “Hoàn thiện tổ chức công tác kế toán trong các công ty
cổ phần sản xuất Xi măng Việt Nam” của tác giả Ngô Thị Thu Hương (2012) đã hệ
thống hoá được các vấn đề lý luận về công ty cổ phần và tổ chức công tác kế toán trong các công ty cổ phần Thông qua khảo sát thực tế về tổ chức công tác kế toán trong một số công ty cổ phần sản xuất xi măng Việt Nam, luận án đã phân tích những
ưu điểm, những hạn chế và nguyên nhân chủ yếu của những hạn chế trong tổ chức công tác kế toán; từ đó đề xuất hoàn thiện tổ chức công tác kế toán trong các công ty
Trang 8cổ phần sản xuất xi măng Việt Nam, nhằm đảm bảo cung cấp thông tin cho các nhà
quản trị doanh nghiệp
2.2.2 Các công trình nghiên cứu về tổ chức công tác kế toán trong Tập
đoàn kinh tế
Cùng với sự phát triển của nền kinh tế, các TĐKT, các TCT hoạt động theo
mô hình CTM - CTC ra đời và ngày càng khẳng định được vai trò quan trọng của
mình trong nền kinh tế Yêu cầu về cung cấp thông tin kế toán phục vụ quản trị doanh
nghiệp và các đối tượng có liên quan đòi hỏi các nghiên cứu khoa học đi sâu và nhiều
lĩnh vực hoạt động của nền kinh tế Một trong những giải pháp để nâng cao hiệu quả
trong hoạt động quản lý kinh tế đó là phải quan tâm nghiên cứu hoàn thiện công cụ kế
toán, đặc biệt là về tổ chức công tác kế toán trong TĐKT Vì vậy, đã có nhiều tác giả
quan tâm, đi sâu nghiên cứu các vấn đề liên quan đến TĐKT, mô hình CTM - CTC,
tổ chức công tác kế toán trong các TĐKT
“Xây dựng mô hình tổ chức công tác kế toán doanh nghiệp theo loại hình công
ty mẹ, công ty con ở Việt Nam” - Đề tài nghiên cứu khoa học cấp Bộ của nhóm tác giả
Học viện Tài chính (2004), do PGS.TS Đoàn Xuân Tiên chủ biên Ngoài thực trạng
vấn đề chuyển đổi doanh nghiệp từ mô hình Liên hiệp xí nghiệp sang mô hình Tổng
công ty Nhà nước tiến tới mô hình TĐKT đề tài tập trung nên ra thực trạng tổ chức
công tác ở các TCT tại Việt Nam Ngoài những nội dung về kinh nghiệm quốc tế về
tổ chức bộ máy kế toán theo mô hình CTM - CTC đồng thời làm rõ mối quan hệ tài
chính, hạch toán và kiểm soát, chi phối trong nội bộ TCT hoặc trong một TĐKT Đề
tài đã góp phần trong việc xây dựng mô hình tổ chức công tác kế toán cho các doanh
nghiệp theo loại hình CTM - CTC, đặc biệt trong việc tổ chức BCTC và BCTCHN
“Lập báo cáo tài chính hợp nhất theo chuẩn mực kế toán Việt Nam - VAS25”
của nhóm các tác giả Ngô Thế Chi, Trương Thị Thuỷ, Lê Văn Liên, Nguyễn Thị
Hồng Vân (2006) Cuốn sách chỉ ra các phương pháp cụ thể lập BCTCHN theo chuẩn
mực kế toán Việt Nam số 25, quy trình, phương pháp lập BCTCHN trong TĐKT, các
CTM - CTC trên các khía cạnh cụ thể như phạm vi hợp nhất BCTC, niên độ hợp
nhất, sự hoà hợp chính sách hợp kế toán giữa CTM và CTC Tuy nhiên, còn một số
vấn đề chưa được giải quyết trong cuốn sách như các vấn đề về lập BCLCTTHN, các
vấn đề về CTC ở nước ngoài…
Luận án tiến sĩ kinh tế “Hoàn thiện tổ chức công tác kế toán trong các doanh
nghiệp thuộc Tập đoàn Dầu khí quốc gia Việt Nam” của tác giả Trần Hải Long
(2011) Luận án đã làm sáng tỏ thêm những vấn đề lý luận về TĐKT và tổ chức công tác kế toán trong các doanh nghiệp thuộc TĐKT tuy nhiên chưa chỉ rõ điểm khác biệt giữa tổ chức công tác kế toán trong các doanh nghiệp thông thường so với các doanh nghiệp thuộc TĐKT Luận án đề xuất những giải pháp cơ bản nhằm hoàn thiện tổ chức công tác kế toán trong các doanh nghiệp thuộc Tập đoàn Dầu khí Quốc gia Việt Nam Tuy nhiên luận án mới chỉ đề cập đến tổ chức công tác kế toán trong các doanh nghiệp thuộc Tập đoàn Dầu khí Quốc gia Việt Nam mà chưa đề cập đến việc tổ chức công tác kế toán trong CTM cũng như việc thu thập, xử lý thông tin kế toán để lập BCTCHN của toàn Tập đoàn
Luận án tiến sĩ “Hoàn thiện tổ chức công tác kế toán ở các Tập đoàn kinh tế
Việt Nam theo mô hình công ty mẹ công ty con” của tác giả Nguyễn Tuấn Anh
(2011) Tác giả đã làm rõ tính tất yếu khách quan của việc hình thành và phát triển các TĐKT theo mô hình CTM - CTC, cũng như ý nghĩa của tổ chức công tác kế toán trong các TĐKT theo mô hình CTM - CTC Thông qua thực trạng về tổ chức công tác kế toán trong các TĐKT, đề xuất các giải pháp nhằm góp phần hoàn thiện tổ chức công tác kế toán trong các TĐKT Việt Nam Trong luận án, tác giả đề cập về tổ chức công tác KTTC chung cho các TĐKT Việt Nam như Tập đoàn Điện lực Việt Nam, Tập đoàn Bưu chính viễn thông Việt Nam, Tập đoàn Dầu khí Quốc gia Việt Nam…
mà chưa đi sâu nghiên cứu cho một TĐKT cụ thể
Luận án tiến sĩ “Hoàn thiện tổ chức công tác kế toán trong các doanh nghiệp
thuộc Tập đoàn Dệt May Việt Nam” của tác giả Phạm Thị Minh Tuệ (2015) Tác giả
tập trung phân tích đặc điểm của mô hình quản lý trong các TĐKT và sự ảnh hưởng của nó đến tổ chức công tác kế toán, từ đó chỉ ra sự khác biệt của tổ chức công tác kế toán trong doanh nghiệp thông thường với các doanh nghiệp thuộc TĐKT Trên cơ sở khảo sát thực trạng tại các doanh nghiệp thuộc Tập đoàn Dệt May Việt Nam, tác giả
đề xuất các giải pháp hoàn thiện Luận án của tác giả mới chỉ nghiên cứu tổ chức công tác kế toán trong các doanh nghiệp thuộc chuỗi cung ứng hàng dệt may thuộc Tập đoàn Dệt May Việt Nam, chứ chưa nghiên cứu về tổ chức công tác kế toán trong toàn Tập đoàn
Trang 9Kế toán trong các TĐKT được nhiều tác giả nghiên cứu, lựa chọn làm Luận
án tiến sĩ, đặc biệt là hợp nhất BCTC trong các TĐKT, TCT hoạt động theo mô
hình CTM - CTC là vấn đề được nhiều tác giả khai thác nghiên cứu, như luận án
tiến sĩ kinh tế “Vận dụng chuẩn mực hợp nhất báo cáo tài chính để tổ chức hệ
thống báo cáo tài chính ở Tập đoàn Bưu chính viễn thông Việt Nam” của tác giả
Chúc Anh Tú (2009); “Hoàn thiện kế toán hợp nhất kinh doanh tại Tập đoàn Dầu
khí quốc gia Việt Nam” của tác giả Bùi Thị Ngọc (2012); “Báo cáo tài chính hợp
nhất - Những vấn đề lý luận thực trạng và giải pháp cho Tập đoàn kinh tế Hồng
Hà” của tác giả Đoàn Thị Dung (2012) Bên cạnh đó đầu tư tài chính trong các
doanh nghiệp theo mô hình CTM - CTC ở Việt Nam cũng được nghiên cứu với
Luận án “Hoàn thiện kế toán hoạt động đầu tư tài chính trong các doanh nghiệp
theo mô hình công ty mẹ - công ty con ở Việt Nam hiện nay” của tác giả Đặng
Ngọc Hùng (2011)
2.2.3 Các công trình nghiên cứu liên quan đến Tập đoàn công nghiệp Than
- Khoáng sản Việt Nam
Trong hơn 20 năm qua, kể từ khi hoạt động theo mô hình Tập đoàn, Tập đoàn
công nghiệp Than - Khoáng sản Việt Nam đã đạt sản lượng khai thác trên 500 triệu
tấn, trở thành một trong những TĐKT mạnh của đất nước Do vậy Tập đoàn đã thu
hút được sự quan tâm của khá nhiều nhà nghiên cứu, với một số công trình Luận án
tiến sĩ
Luận án tiến sĩ “Tổ chức công tác kế toán quản trị chi phí sản xuất và tính giá
thành sản phẩm trong các doanh nghiệp khai thác than” của tác giả Trần Văn Hợi
(2007) Tác giả đi sâu nghiên cứu nội dung KTQT chi phí và giá thành trong doanh
nghiệp khai thác than Tác giả tiếp cận KTQTchi phí dưới góc độ KTTC, chủ yếu
phục vụ ghi nhận thông tin chi tiết chi phí hỗ trợ thực hiện phần hành kế toán chi phí
và giá thành trong doanh nghiệp khai thác than
Luận án tiến sĩ “Hoàn thiện kế toán quản trị chi phí, giá thành sản phẩm trong
các doanh nghiệp khai thác than thuộc Tập đoàn công nghiệp Than - Khoáng sản
Việt Nam” của tác giả Phạm Thị Hồng Hạnh (2008) Công trình nghiên cứu vấn đề lý
luận cơ bản về KTQT chi phí, giá thành trong doanh nghiệp Thông qua thực trạng
KTQT chi phí, giá thành sản phẩm trong các doanh nghiệp khai thác than thuộc Tập
đoàn công nghiệp Than - Khoáng sản Việt Nam tác giả đề xuất một số giải pháp hoàn thiện các nội dung tổ chức KTQT chi phí và tính giá thành
Luận án tiến sĩ “Hoàn thiện hệ thống Báo cáo tài chính hợp nhất của Tập
đoàn công nghiệp Than - Khoáng sản Việt Nam” của tác giả Nguyễn Thị Kim Oanh
(2015) đã hệ thống hóa được các vấn đề lý luận cơ bản về TĐKT, hệ thống BCTCHN của các TĐKT Luận án đã khái quát quá trình hình thành và phát triển, đặc điểm hoạt động SXKD ảnh hưởng đến hệ thống BCTCHN của Tập đoàn Trên cơ sở nghiên cứu thực trạng, tác giả đã đề xuất những giải pháp nhằm hoàn thiện về cơ sở pháp lý và BCTCHN của Tập đoàn
2.2.4 Tổng hợp đánh giá các công trình nghiên cứu đã tiếp cận
Có thể thấy rằng các công trình nghiên cứu đề cập ở trên đi sâu nghiên cứu tổ chức công tác kế toán nói chung tại doanh nghiệp hoặc tại các doanh nghiệp thuộc các lĩnh vực khác nhau như xi măng, chứng khoán
Về TĐKT, đã có các nghiên cứu liên quan đến công tác kế toán như lập BCTCHN, kế toán hoạt động đầu tư tài chính
Mặc dù đã có nhiều nghiên cứu về tổ chức công tác kế toán trong các TĐKT, nhưng những năm qua thực hiện chủ trương đổi mới, tái cơ cấu TĐKT, hoạt động SXKD của các TĐKT có nhiều thay đổi Do vậy nhiều nội dung của các công trình nghiên cứu về tổ chức công tác kế toán trong các TĐKT không còn phù hợp với thực tiễn hiện nay Bên cạnh đó, các đặc điểm trong hoạt động SXKD, tổ chức quản
lý của các TĐKT ảnh hưởng đến tổ chức công tác kế toán cần phải được nghiên cứu làm rõ
Tập đoàn công nghiệp Than - Khoáng sản Việt Nam là TĐKT đa ngành, được liên kết theo cả chiều dọc và chiều ngang, có đặc điểm tổ chức SXKD, tổ chức quản
lý vừa phức tạp vừa đa dạng, có đặc điểm tổ chức công tác kế toán rất khác biệt so với các TĐKT mà các tác giả trước đây đã thực hiện nhưng chưa có công trình nghiên cứu trong nước về tổ chức công tác kế toán trong Tập đoàn công nghiệp Than
- Khoáng sản Việt Nam
Xuất phát từ khoảng trống trong các công trình nghiên cứu đã phân tích ở trên,
tác giả đã lựa chọn đề tài nghiên cứu của luận án tiến sĩ là “Hoàn thiện tổ chức công
tác kế toán trong Tập đoàn công nghiệp Than - Khoáng sản Việt Nam”
Trang 10Từ quá trình tìm hiểu về đề tài nghiên cứu, Luận án sẽ tập trung vào các vấn đề
chính như sau:
- Khái quát về TĐKT, thông tin kế toán trong TĐKT, phân tích những đặc
trưng của TĐKT ảnh hưởng đến tổ chức công tác kế toán Luận án tập trung nghiên
cứu nội dung tổ chức công tác kế toán trong TĐKT
- Trên cơ sở khảo sát thực trạng tổ chức công tác kế toán trong Tập đoàn công
nghiệp Than - Khoáng sản Việt Nam, Luận án đưa ra những đánh giá về ưu điểm,
hạn chế và chỉ rõ nguyên nhân của những hạn chế đó từ đó đề xuất những giải pháp
cơ bản hoàn thiện tổ chức công tác kế toán trong trong Tập đoàn công nghiệp Than -
Khoáng sản Việt Nam
3 Mục đích nghiên cứu của luận án
- Về mặt lý luận: Đề tài tập trung hệ thống hóa, phân tích làm sáng tỏ thêm
những vấn đề lý luận về TĐKT; làm rõ những đặc trưng của TĐKT ảnh hưởng đến tổ
chức công tác kế toán trong TĐKT; nghiên cứu các nội dung tổ chức công tác kế toán
trong TĐKT
- Về mặt thực tiễn: Từ khảo sát, phân tích, đánh giá đúng thực trạng về tổ
chức công tác kế toán trong Tập đoàn công nghiệp Than - Khoáng sản Việt Nam;
luận án chỉ rõ những ưu điểm, hạn chế và nguyên nhân của những hạn chế Trên cơ
sở đó, luận án đề xuất giải pháp để hoàn thiện tổ chức công tác kế toán trong Tập
đoàn công nghiệp Than - Khoáng sản Việt Nam
4 Đối tuợng và phạm vi nghiên cứu của luận án
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Luận án nghiên cứu tổ chức công tác kế toán trong Tập đoàn công nghiệp
Than - Khoáng sản Việt Nam
4.2 Phạm vi nghiên cứu
- Về nội dung nghiên cứu:
Luận án tập trung nghiên cứu tổ chức công tác kế toán trong Tập đoàn công
nghiệp Than - Khoáng sản Việt Nam; cũng như tổ chức thu nhận, xử lý thông tin kế
toán giữa công ty mẹ và các công ty con trong Tập đoàn nhằm phục vụ cho việc lập
báo cáo toàn Tập đoàn Luận án nghiên cứu tổ chức công tác kế toán cả trên góc độ
kế toán tài chính và kế toán quản trị
- Về không gian nghiên cứu: luận án nghiên cứu trong Tập đoàn công nghiệp Than - Khoáng sản Việt Nam
- Về thời gian nghiên cứu: Luận án nghiên cứu, khảo sát thực tế, thu thập thông tin, số liệu về tổ chức công tác kế toán trong Tập đoàn công nghiệp Than - Khoáng sản Việt Nam trong giai đoạn từ năm 2013 đến 2015, và lấy số liệu năm
2015 để minh hoạ
5 Phương pháp nghiên cứu của luận án
Quá trình nghiên cứu được chia làm 3 giai đoạn:
Giai đoạn 1: Nghiên cứu lý luận chung về tổ chức công tác kế toán trong các
Tập đoàn kinh tế
Giai đoạn 2: Khảo sát thực trạng tổ chức công tác kế toán trong Tập đoàn
công nghiệp Than - Khoáng sản Việt Nam
Giai đoạn 3: Phân tích, xử lý số liệu từ đó rút ra những kết luận về những nội
dung nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu vừa mang tính lý luận, vừa mang tính ứng dụng, do đó để đạt được mục tiêu nghiên cứu đề ra, tác giả kết hợp sử dụng các phương pháp nghiên cứu khác nhau như:
- Phương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sử, nghiên cứu lý luận kết hợp với điều tra khảo sát thực tế để phân tích, so sánh, tổng hợp, thống kê
- Phương pháp quy nạp, phương pháp suy luận logic, phương pháp tổng hợp
để tổng hợp các công trình nghiên cứu đã công bố có liên quan đến luận án, tổng hợp các quan điểm cũng như kinh nghiệm về tổ chức công tác kế toán của các nước phát triển
- Phương pháp tra cứu tài liệu:
Tác giả sử dụng phương pháp tra cứu tài liệu để nghiên cứu lý luận về vấn
đề liên quan tới nội dung nghiên cứu từ các nguồn: Hệ thống sách chuyên môn, chuyên khảo được biên dịch, tạp chí chuyên ngành trong và ngoài nước, các công trình nghiên cứu khoa học khác như: Luận án, đề tài khoa học… để có thể khẳng định và khái quát lại những mặt đạt được của các công trình từ đó tìm ra điểm trống nghiên cứu
Trang 11- Phương pháp thu thập dữ liệu:
Để hoàn thành được mục tiêu nghiên cứu đề ra và trả lời được các câu hỏi
nghiên cứu, luận án tiến hành thu thập các dữ liệu sơ cấp và dữ liệu thứ cấp
+ Đối với dữ liệu sơ cấp:
Nguồn dữ liệu sơ cấp được tác giả thu thập thông qua các phiếu điều tra, khảo
sát, lấy ý kiến chuyên gia tại 33 đơn vị trong Tập đoàn công nghiệp Than - Khoáng
sản Việt Nam (Phụ lục 1.3) Để phù hợp với mục tiêu thu thập thông tin, Phiếu điều
tra khảo sát được thiết kế thành 2 dạng:
Dạng 1 (Phụ lục 1.1a): Phiếu điều tra khảo sát dành cho bộ phận kế toán Tác
giả gửi tổng số 66 phiếu khảo sát tới 33 đơn vị trong Tập đoàn (mỗi đơn vị gửi 2
phiếu điều tra khảo sát), kết quả thu về 58 phiếu, đạt tỷ lệ 87,9%
Dạng 2 (Phụ lục 1.1b): Phiếu điều tra khảo sát dành cho nhà quản trị doanh
nghiệp (Lãnh đạo đơn vị, cán bộ công nhân viên các phòng ban chức năng: Phòng kế
hoạch, phòng vật tư, phòng kỹ thuật ) Tác giả gửi 66 phiếu khảo sát tới 33 đơn vị
trong Tập đoàn (mỗi đơn vị gửi 2 phiếu), kết quả thu về 50 phiếu, đạt tỷ lệ 75,8%
Bên cạnh đó, tác giả tập trung trao đổi trực tiếp, phỏng vấn và lấy ý kiến các
nhà quản trị, các giám đốc tài chính, các kế toán trưởng tại CTM Tập đoàn công
nghiệp Than - Khoáng sản Việt Nam, các kế toán viên tại một số đơn vị hạch toán
phụ thuộc và các CTC trong Tập đoàn
Với phương pháp phỏng vấn trực tiếp, đối tượng phỏng vấn được tác giả chia
thành những nhóm chính: Nhà quản trị (bên cần thông tin kế toán) và nhóm nhân viên
kế toán (cung cấp thông tin kế toán)
+ Đối với dữ liệu thứ cấp:
Số liệu thứ cấp gồm các tài liệu liệu liên quan đến tổ chức công tác kế toán
trong Tập đoàn công nghiệp Than - Khoáng sản Việt Nam như:
Tài liệu văn bản trong khung pháp lý hiện hành của Việt Nam: Luật kế toán
Việt Nam, hệ thống chuẩn mực, chế độ kế toán hướng dẫn về tổ chức công tác kế
toán trong doanh nghiệp
Tài liệu về hoạt động SXKD, tổ chức quản lý của Tập đoàn
Tài liệu về tổ chức công tác kế toán tại CTM Tập đoàn, các đơn vị hạch toán
phụ thuộc, các CTC: hệ thống chứng từ, hệ thống tài khoản, hệ thống sổ kế toán, hệ
thống BCTC riêng, hệ thống Báo cáo quản trị, BCTCHN
Các tài liệu, số liệu này được các đơn vị cung cấp hoặc được nghiên cứu sinh thu thập khai thác từ các công trình nghiên cứu trước, website
- Phương pháp xử lý dữ liệu:
Sau mỗi cuộc phỏng vấn và phiếu điều tra thu về, thông tin được tác giả lựa chọn, phân loại sắp xếp một cách có hệ thống dưới dạng văn bản theo từng chủ đề Bên cạnh đó, kết hợp với số liệu từ việc điều tra quan sát, phỏng vấn trực tiếp, tác giả
sử dụng phần mềm Excel để tổng hợp các phiếu điều tra, xử lý, phân tích số liệu Kết
quả điều tra được trình bày trên bảng tính Excel dưới dạng bảng biểu
- Phương pháp phân tích số liệu:
Phương pháp so sánh được tác giả sử dụng nhằm đánh giá các tài liệu, kiểm chứng để nghiên cứu, tổng kết thực trạng, phân tích làm nổi bật thực trạng các vấn đề nghiên cứu, xác định rõ những nguyên nhân làm cơ sở đề xuất phương hướng, yêu cầu, nguyên tắc và các giải pháp hoàn thiện tổ chức công tác kế toán trong Tập đoàn
công nghiệp Than - Khoáng sản Việt Nam
Ngoài ra, tác giả sử dụng các các phương pháp khác như phương pháp quy nạp, phương pháp suy luận logic, phương pháp tổng hợp để tổng hợp các công trình nghiên cứu đã công bố có liên quan đến luận án, tổng hợp các quan điểm cũng như kinh nghiệm về tổ chức công tác kế toán của quốc tế Những phương pháp này còn được sử dụng ở chương 2 nhằm tổng hợp các kết quả điều tra và đưa ra các phân tích, đánh giá, nhận định về thực trạng về tổ chức công tác kế toán trong Tập đoàn công nghiệp Than - Khoáng sản Việt Nam, qua đó tìm ra những tồn tại để đề xuất các giải pháp hoàn thiện
6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận án
- Ý nghĩa về mặt khoa học:
Luận án là tài liệu nghiên cứu khoa học cho các vấn đề lý luận về tổ chức công tác kế toán trong các doanh nghiệp nói chung và trong các TĐKT hoạt động theo mô hình CTM - CTC nói riêng Lý luận trong luận án có thể là tiền đề và cơ sở để hoàn thiện và bổ sung lý luận về tổ chức công tác trong các loại hình doanh nghiệp khác
- Ý nghĩa về mặt thực tiễn:
Luận án đã nghiên cứu các đặc điểm tổ chức quản lý và hoạt động đặc trưng của Tập đoàn công nghiệp Than - Khoáng sản Việt Nam ảnh hưởng đến tổ chức công tác kế toán
Trang 12Luận án đã khảo sát, phân tích thực trạng tổ chức công tác kế toán trong Tập
đoàn công nghiệp Than - Khoáng sản Việt Nam theo các nội dung: tổ chức bộ máy kế
toán, tổ chức thu nhận thông tin kế toán, tổ chức hệ thống hoá và xử lý thông tin kế
toán, tổ chức phân tích và cung cấp thông tin kế toán, tổ chức lưu trữ tài liệu kế toán
và công tác kiểm tra kế toán Kết quả đánh giá chỉ ra được những ưu điểm cũng như
những hạn chế và nguyên nhân của những hạn chế này
Trên cơ sở các kết quả nghiên cứu, khảo sát và đánh giá, luận án đề xuất
những phương hướng, các giải pháp thiết thực để hoàn thiện tổ chức công tác kế toán
trong Tập đoàn công nghiệp Than - Khoáng sản Việt Nam
Hơn nữa, luận án cũng cung cấp thông tin để các tổ chức đào tạo tư vấn, thiết kế
chương trình đào tạo, cập nhật kiến thức cho các cán bộ kế toán, các nhà quản lý
doanh nghiệp sao cho phù hợp với thực tế tổ chức công tác kế toán trong giai đoạn
hiện nay
7 Kết cấu của luận án
Ngoài phần mở đầu và kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, luận
án bao gồm 3 chương:
Chương 1: Lý luận chung về tổ chức công tác kế toán trong các Tập đoàn
kinh tế
Chương 2: Thực trạng tổ chức công tác kế toán trong Tập đoàn công nghiệp
Than - Khoáng sản Việt Nam
Chương 3: Hoàn thiện tổ chức công tác kế toán trong Tập đoàn công nghiệp
Than - Khoáng sản Việt Nam
Chương 1
LÝ LUẬN CHUNG VỀ TỔ CHỨC CÔNG TÁC KẾ TOÁN
TRONG CÁC TẬP ĐOÀN KINH TẾ
1.1 KHÁI QUÁT CHUNG VỀ TẬP ĐOÀN KINH TẾ
1.1.1 Khái niệm và đặc điểm của Tập đoàn kinh tế
1.1.1.1 Khái niệm Tập đoàn kinh tế
Hiện nay, mô hình TĐKT đang dần trở nên phổ biến và đóng vai trò quan trọng trong nền kinh tế ở nhiều nước trên thế giới Tuy nhiên, ở Việt Nam và nhiều nước trên thế giới, TĐKT được hiểu theo nhiều cách khác nhau
Quan niệm về TĐKT có sự thay đổi và khác nhau theo thời gian, điều kiện, trình độ phát triển kinh tế, sự phân công chuyên môn hoá, hợp tác hoá giữa các doanh nghiệp, cách tiếp cận và mục tiêu quản lý ở mỗi nước Điều đó lý giải vì sao cho đến nay không có định nghĩa thống nhất về TĐKT
Tại Châu Âu và Hoa Kỳ, các TĐKT được hình thành một cách chính thức từ sau cuộc cách mạng công nghiệp Trước hết có thể kể đến hình thức “Cartel” Đây là hình thức TĐKT theo một ngành chuyên môn hóa, nó chỉ bao gồm các công ty sản xuất một loại sản phẩm hoặc dịch vụ kinh doanh nhằm mục đích hạn chế sự cạnh tranh bằng thỏa thuận thống nhất về giá cả, phân chia thị trường tiêu thụ, nguyên liệu, thống nhất về chuẩn mực, mẫu mã, kiểu dáng, kích cỡ sản phẩm, dịch vụ Trong Cartel, các công ty tham gia vẫn giữ nguyên tư cách pháp nhân và tính độc lập về kinh tế bị hạn chế bởi các hợp đồng kinh tế [Vũ Duy Từ, 2002]
Một dạng đặc biệt của Cartel là Syndicate và Trust Điểm khác biệt căn bản của so với Cartel là trong Syndicate có một văn phòng chung do một ban quản trị điều hành và tất cả các công ty phải tiêu thụ hàng hóa của họ qua kênh văn phòng này Điều này làm cho các đơn vị thành viên vân giữ nguyên tính độc lập về sản xuất nhưng mất tính độc lập về thương mại Với hình thức Trust, liên kết trong tập đoàn không chỉ ở khâu tiêu thụ mà còn ở khâu sản xuất Trust bao gồm nhiều doanh nghiệp công nghiệp do một ban quản trị thống nhất điều khiển Khác với Cartel và Syndicate, các đơn vị thành viên trong Trust đều mất quyền độc lập cả về sản xuất và thương mại [Vũ Duy Từ, 2002]
Trang 13Một hình thức tập đoàn cũng được hình thành rất sớm là “Consordium”,
Consordium là từ gốc Latinh có nghĩa là “đối tác, hiệp hội hoặc hội” được sử dụng để
chỉ một tập hợp của hai hay nhiều thực thể kinh tế nhằm mục đích tham gia hoạt động
chung hoặc đóng góp nguồn lực để đạt được mục tiêu chung Consordium được xác
lập trên cơ sở hợp đồng, trong đó quy định rõ quyền và nghĩa vụ của công ty thành
viên tham gia [Vũ Duy Từ, 2002]
Tại khu vực Bắc Mỹ và Châu Âu, đầu thế kỷ XX đã hình thành mô hình tập
đoàn theo hình thức “Concern” Đây là hình thức được áp dụng phổ biến hiện nay ở
nhiều nước dưới hình thức CTM đầu tư vào CTC Mục tiêu của việc thành lập
Concern là tạo thế lực tài chính mạnh để phát triển kinh doanh nhằm hạn chế rủi ro
đồng thời hỗ trợ mạnh mẽ trong nghiên cứu khoa học, ứng dụng công nghệ mới,
phương pháp quản lý hiện đại Các CTC là thành viên của Concern hoạt động trên
nhiều lĩnh vực Các CTC chịu trách nhiệm hữu hạn trên phần vốn kinh doanh của
mình và giữ tính độc lập về pháp lý, nhưng phụ thuộc vào Concern về mục tiêu hoạt
động nhằm thực hiện lợi ích chung giữa CTM và CTC thông qua các hợp đồng kinh
tế, các khoản vay tín dụng hoặc đầu tư Đây là một mô hình có nhiều tác dụng tích
cực, có nhiều khả năng hoạt động tốt, thúc đẩy sự phát triển và liên kết giữa các công
ty [Vũ Duy Từ, 2002]
Sự phát triển cao hơn của các liên kết trong TĐKT dẫn đến sự mở rộng về
phạm vi liên kết Liên kết trong các tập đoàn trước đây chỉ là các liên kết đơn giản
theo từng khâu của quá trình kinh doanh thì ngày nay đã phát triển thành các liên kết
phức tạp bao gồm cả liên kết về hoạt động SXKD và liên kết về tài chính Đây là cơ
sở hình thành các TĐKT theo hình thức “Conglomerate” Conglomerate là tập đoàn
kinh doanh được hình thành bằng cách thu hút những công ty có lợi nhuận cao nhất
và các ngành có hiệu quả hoạt động cao nhất thông qua thị trường chứng khoán Khác
với concern, mô hình Conglomerate là tập đoàn đa ngành, các công ty thành viên có
ít mối quan hệ về công nghệ sản xuất và khâu tiêu thụ nhưng lại có mối liên hệ chặt
chẽ về mặt tài chính Chính vì thế mà mô hình tập đoàn này thường gắn bó chặt chẽ
với ngân hàng và tổ chức tài chính [Vũ Duy Từ, 2002]
Tại một số quốc gia phát triển ở Châu Á, các TĐKT cũng hình thành và phát
triển từ rất sớm Ở Nhật Bản, “Keiretsu” là thuật ngữ được sử dụng để chỉ các TĐKT
Keiretsu là một nhóm các doanh nghiệp độc lập về mặt pháp lý nắm giữ cổ phần của
nhau và thiết lập được mối quan hệ mật thiết về nguồn vốn, về nhân lực, công nghệ, cung ứng nguyên vật liệu, tiêu thụ sản phẩm Ở Hàn Quốc, tập đoàn thường được gọi
là “Chaebol” Chaebol được sử dụng để chỉ liên kết gồm nhiều công ty hình thành quanh một CTM Trong Chaebol, các công ty thành viên trong tập đoàn thường nắm giữ cổ phần hoặc vốn góp của nhau và do một gia đình điều hành Còn theo quan điểm của các nhà kinh tế Trung Quốc, Tập đoàn doanh nghiệp là một tổ hợp kinh doanh tập hợp các doanh nghiệp có liên quan với nhau bởi một CTM CTM của mỗi tập đoàn doanh nghiệp sẽ hoạt động như là hạt nhân của tập đoàn, còn các CTC và các doanh nghiệp có liên quan khác đều là các pháp nhân được pháp luật công nhận, chia sẻ tất cả các quyền dân sự có liên quan và chịu trách nhiệm dân sự phát sinh Những công ty trực thuộc hoặc các đơn vị không phải là pháp nhân sẽ không phải là các thành viên độc lập của tập đoàn Bản thân tập đoàn không phải là các pháp nhân [Nguyễn Thị Hồng Thuý, 2010]
Ở Việt Nam, mô hình TĐKT mới được ứng dụng và đang trong giai đoạn thí điểm thành lập, song khái niệm về TĐKT đã được ghi nhận tại Điều 188 Luật Doanh nghiệp năm 2014 “Tập đoàn kinh tế, TCT thuộc các thành phần kinh tế là nhóm công
ty có mối quan hệ với nhau thông qua sở hữu cổ phần, phần vốn góp hoặc liên kết khác TĐKT, TCT không phải là một loại hình doanh nghiệp, không có tư cách pháp nhân, không phải đăng ký thành lập theo quy định của Luật này”
Như vậy, TĐKT là một thực thể kinh tế có quy mô lớn, bao gồm các tổ chức thành viên hoạt động trong cùng một ngành hoặc nhiều ngành khác nhau trong một phạm vi quốc gia hoặc nhiều quốc gia, có mối quan hệ chặt chẽ với nhau về lợi ích kinh tế, tài chính, kỹ thuật - công nghệ, nghiên cứu phát triển, đào tạo thông tin và thị trường Mục tiêu chính của các TĐKT là tối đa hóa lợi nhuận và không ngừng nâng cao khả năng cạnh tranh của TĐKT trên cơ sở phối hợp, sử dụng hợp lý mọi nguồn lực của các đơn vị thành viên đặc biệt là nguồn lực tài chính
Từ các phân tích trên đây có thể đưa ra một khái niệm chung nhất về TĐKT như sau: TĐKT là một tổ hợp các công ty hoạt động trong một ngành hay những ngành khác nhau trong phạm vi một nước hay nhiều nước, trong đó có một CTM nắm quyền kiểm soát, chi phối hoạt động của các CTC về tài chính và chiến lược phát triển TĐKT vừa có chức năng kinh doanh, vừa có chức năng liên kết kinh tế nhằm tạo nên sức mạnh lớn hơn để tăng cường khả năng cạnh tranh và tối đa hóa lợi nhuận
Trang 141.1.1.2 Đặc điểm của Tập đoàn kinh tế
Dù là tên gọi khác nhau với hình thức tổ chức và nội dung liên kết hoạt
động không giống nhau, nhưng TĐKT có chung một số đặc điểm và vai trò cơ bản
như sau:
- Tập đoàn kinh tế không có tư cách pháp nhân
TĐKT là một tổ hợp các công ty hoạt động trong một hay nhiều ngành khác
nhau trong phạm vi một hay nhiều nước không có tư cách pháp nhân Mỗi đơn vị
thành viên của tập đoàn là một pháp nhân độc lập Vì vậy, các doanh nghiệp trong tập
đoàn, kể cả CTM và các công ty thành viên bình đẳng với nhau trước pháp luật Do
không có tư cách pháp nhân nên Tập đoàn không phải chịu trách nhiệm liên đới trước
trách nhiệm và nghĩa vụ của các công ty khác CTM và các doanh nghiệp thành viên
tự chịu trách nhiệm về việc đầu tư, kinh doanh trong giới hạn của khoản vốn do mình
bỏ ra
- Tập đoàn kinh tế là một tổ hợp các doanh nghiệp có quy mô lớn
TĐKT có quy mô lớn về vốn, lao động và doanh thu và thường hoạt động kinh
doanh trong nhiều ngành, nhiều lĩnh vực với phạm vi rộng, ở nhiều quốc gia, nhiều
khu vực khác nhau Đặc điểm này vừa tạo điều kiện thuận lợi trong kinh doanh
nhưng cũng là một trong những khó khăn, thách thức cho Tập đoàn Với lợi thế về
vốn và nhân lực, TĐKT sẽ có điều kiện tổ chức SXKD đa dạng về sản phẩm, đổi mới
quy trình công nghệ, áp dụng tiến bộ khoa học và nâng cao năng lực cạnh tranh
- Tập đoàn kinh tế đa dạng về cơ cấu tổ chức
TĐKT bao gồm các doanh nghiệp thành viên có tư cách pháp nhân, trong đó
thường có một số doanh nghiệp có tiềm lực nhất giữ vai trò nòng cốt, trụ cột được gọi
là CTM, các doanh nghiệp thành viên trong Tập đoàn chịu sự chi phối của CTM về
vốn, phương hướng, mục tiêu, chiến lược và kế hoạch kinh doanh, chính sách, giá cả,
thị trường CTM trong tập đoàn có thể thực hiện một trong hai chức năng là chức
năng SXKD và chức năng đầu tư tài chính hay kinh doanh vốn đầu tư vào các doanh
nghiệp khác Việc đầu tư vốn phải lập cơ chế CTM - CTC với sự liên kết quan trọng
là vốn và thiết lập cơ cấu quản lý pháp nhân trong nội bộ Tập đoàn Mối liên kết được
duy trì hoặc chấm dứt thông qua việc CTM đầu tư hoặc rút vốn CTC Quyền lợi của
CTM và CTC được đảm bảo thông qua cơ chế phân chia lợi nhuận sau thuế theo tỷ lệ
vốn góp của các bên
- Tập đoàn kinh tế đa dạng về hình thức sở hữu
Thông thường các TĐKT thuộc sở hữu hỗn hợp của nhiều chủ sở hữu và được tổ chức dưới nhiều hình thức công ty cổ phần hoặc của gia đình, nhưng cũng có thể là một chủ sở hữu ở CTM Phần lớn các TĐKT trên thế giới hiện nay có nguồn gốc từ những công ty thuộc sở hữu tư nhân hoặc gia đình Trong quá trình phát triển
và mở rộng quy mô sản xuất, các công ty đó dần dần trở thành các TĐKT Đồng thời, quá trình mở rộng quy mô của Tập đoàn cũng gắn liền với quá trình thay đổi cơ cấu
sở hữu và chịu sự ảnh hưởng của sự phát triển thị trường
- Tập đoàn kinh tế đa dạng về hình thức liên kết
Hình thức liên kết của TĐKT thể hiện có TĐKT liên kết theo chiều ngang, có TĐKT liên kết theo chiều dọc, có TĐKT liên kết hỗn hợp, có TĐKT liên kết chặt chẽ
và có TĐKT liên kết không chặt chẽ Mỗi hình thức liên kết đều có ý nghĩa riêng nhưng vẫn phải đảm bảo thực hiện được đầy đủ nhiệm vụ của TĐKT
- Tập đoàn kinh tế đa dạng về phương thức điều hành
Với các TĐKT hình thành do liên kết không chặt chẽ thì việc điều hành Tập đoàn chủ yếu thông qua hiệp thương, qua các thỏa ước hoặc hợp đồng kinh tế, cơ quan đầu não Tập đoàn có tư cách pháp nhân Với các TĐKT được hình thành do liên kết chặt chẽ thì việc điều hành ở mức độ chặt chẽ hơn Cơ quan đầu não của Tập đoàn được đặt tại một công ty có quyền kiểm soát, chi phối các công ty khác trong Tập đoàn Cơ quan quyền lực cao nhất của Tập đoàn là Hội đồng thành viên - CTM CTM là công ty TNHH có từ hai thành viên trở lên hoặc Đại hội đồng cổ đông của CTM nếu CTM được tổ chức theo công ty cổ phần Quyền kiểm soát của CTM được ghi nhận trong điều lệ của các CTC trong Tập đoàn và quản lý tập trung một số mặt quan trọng như huy động vốn, sử dụng vốn, bảo toàn và mức sinh lời của vốn, xây dựng chiến lược phát triển, chiến lược thị trường, chiến lược đầu tư, chiến lược đào tạo
- Tập đoàn kinh tế có chức năng đa dạng
TĐKT vừa thực hiện chức năng kinh doanh vừa thực hiện chức năng liên kết kinh tế nhằm tăng cường, tích tụ, tập trung sản xuất và khả năng cạnh tranh, tối đa hóa lợi nhuận của cả Tập đoàn Về ngành và lĩnh vực kinh doanh, hầu hết các TĐKT đều hoạt động đa ngành, đa lĩnh vực nhưng có một số Tập đoàn hoạt động trong một ngành, một lĩnh vực nhất định Mặc dù kinh doanh đa ngành, đa lĩnh vực, song
Trang 15TĐKT vẫn thường xoay quanh một hoặc một số ít các ngành hàng hoặc công nghệ
chủ chốt Trong các đơn vị thành viên của Tập đoàn, ngoài các công ty sản xuất ra,
một điều khá phổ biến là thường có các đơn vị thành viên phi sản xuất như các công
ty tài chính, cho thuê tài chính, các doanh nghiệp bảo hiểm, các công ty thương mại,
các cơ sở nghiên cứu phát triển
1.1.2 Vai trò của Tập đoàn trong nền kinh tế
Sự hình thành và phát triển của TĐKT là xu thế tất yếu của quá trình hội nhập
và phát triển, có vai trò quan trò quan trọng việc phát triển kinh tế của đất nước, đặc
biệt là trong điều kiện hội nhập kinh tế Thế giới và khu vực hiện nay Vai trò đó thể
hiện trên các mặt chủ yếu sau đây:
- Tập đoàn kinh tế làm tăng sức mạnh kinh tế và khả năng cạnh tranh của cả
Tập đoàn cũng như của từng công ty thành viên
TĐKT cho phép huy động được nguồn lực vật chất cũng như con người vào
quá trình SXKD tạo ra sự hỗ trợ tích cực trong việc cải tổ cơ cấu sản xuất, hình thành
những công ty hiện đại, quy mô lớn có tiềm lực kinh tế mạnh
TĐKT được hình thành và phát triển sẽ tạo điều kiện huy động và tập trung
được nguồn lực bền vững về vốn, về nhân lực và cách thức quản lý, từ đó sẽ tạo điều
kiện cho việc nâng cao sức cạnh tranh trên thương trường, bởi Tập đoàn có đủ sức
trang bị cơ sở vật chất kỹ thuật, đổi mới quy trình công nghệ, đổi mới sản phẩm và
phương pháp quản lý SXKD
- Tập đoàn kinh tế giúp điều hòa vốn
Thành lập TĐKT là một đòi hỏi thực tế và khách quan nhằm khắc phục khả
năng hạn chế về vốn của từng công ty cá biệt Đối với TĐKT, nguồn vốn được huy
động từ các công ty thành viên và được tập trung vào những công ty những dự án
hiệu quả nhất, khắc phục tình trạng vốn bị phân tán nằm ở từng công ty nhỏ TĐKT
với khả năng điều hành và quản lý tốt, giúp nguồn vốn huy động được sử dụng hiệu
quả, đem lại lợi nhuận cho công ty thành viên cũng như trong Tập đoàn
- Tập đoàn kinh tế thúc đẩy phát triển khoa học công nghệ
TĐKT với quy mô hoạt động lớn, khả năng huy động nguồn lực thuận lợi,
chính là giải pháp hữu hiệu, tích cực cho đẩy mạnh nghiên cứu, triển khai ứng dụng
khoa học công nghệ mới vào SXKD của các công ty thành viên TĐKT có cơ sở vật
chất đủ điều kiện đáp ứng các yêu cầu cho việc triển khai các hoạt động nghiên cứu
hoa học Mặt khác TĐKT với nguồn vốn lớn có khả năng trích lập các quỹ nghiên cứu khoa học từ nhiều nguồn khác theo quy định của pháp luật Chính những điều đó
sẽ tạo điều kiện cho việc thúc đẩy phát triển khoa học và công nghệ
- Tập đoàn kinh tế có lợi thế trong ứng dụng và chuyển giao công nghệ
TĐKT với đặc điểm có quy mô lớn, địa bàn hoạt động rộng giúp chuyển giao công nghệ từ nước ngoài một cách có hiệu quả Trong điều kiện đa dạng hóa, đa phương hóa các quan hệ quốc tế hiện nay, TĐKT có lợi thế trong việc áp dụng tiến
bộ khoa học tiên tiến của thế giới, đặc biệt là việc ứng dụng và chuyển giao công nghệ, đổi mới quy trình quản lý theo phương thức hiện đại Sự phối hợp và thống nhất giữa các công ty thành viên trong TĐKT tạo điều kiện thuận lợi trong chuyển giao công nghệ với chi phí thấp nhất, giảm lãng phí về vốn, tập trung được nguồn lực vào thực hiện những mục tiêu chiến lược có lợi cho toàn Tập đoàn Sự hợp tác trong ứng dụng và chuyển giao khoa học và công nghệ trong TĐKT tạo điều kiện cho các doanh nghiệp thành viên có điều kiện đưa nhanh những kết quả của nghiên cứu khoa học vào thực tiễn nhằm nâng cao hiệu quả SXKD của bản thân các doanh nghiệp thành viên cũng như cả TĐKT
- Tập đoàn kinh tế có sức mạnh thống trị khi tham gia cạnh tranh quốc tế
Trong xu thế toàn cầu hóa hiện nay, vấn đề cạnh tranh quốc tế được nhiều quốc gia quan tâm với mục tiêu chiếm lĩnh được lợi thế trên trường quốc tế Chính TĐKT của tất cả các nước đóng vai trò hàng đầu trong cạnh tranh quốc tế, bởi vì, chỉ TĐKT mới có đầy đủ năng lực tạo ra sản phẩm mới mà thị trường quốc tế đòi hỏi, giới thiệu công nghệ và sản phẩm mới tiên tiến nhất của đất nước đó cho toàn thế giới, thiết lập các doanh nghiệp hoặc tổ chức thành viên hoạt động ở nước ngoài dưới dạng công ty đa quốc gia
1.1.3 Mô hình tổ chức quản lý kinh tế trong Tập đoàn kinh tế
Trong TĐKT, quản lý kinh tế là một chức năng quan trọng trong hoạt động quản lý và điều hành chung của Tập đoàn như: quản lý nhân sự, quản lý marketing, quản lý chiến lược Quản lý kinh tế trong TĐKT xét về bản chất chính là quản lý các hoạt động tài chính của TĐKT Do đó, tương ứng với các hoạt động tài chính của TĐKT thì quản lý tài chính của TĐKT bao gồm các nội dung sau:
- Quản lý huy động sử dụng vốn của TĐKT
- Quản lý doanh thu của TĐKT
Trang 16- Quản lý chi phí của TĐKT
- Quản lý lợi nhuận và phân phối lợi nhuận của TĐKT
Các nội dung quản lý tài chính này được tổ chức quản lý tập trung tại CTM
hoặc từng đơn vị thành viên, từng CTC tùy theo mô hình tổ chức và cấu trúc của
từng TĐKT Mô hình tổ chức quản lý tài chính của TĐKT có thể theo các hình thức
dưới đây:
Mô hình tổ chức quản lý tài chính theo cấu trúc nhất nguyên và tập
trung quyền lực
Trung tâm của cấu trúc này là văn phòng của Tập đoàn với cơ cấu bao gồm
Ủy ban điều hành và một số phòng ban chức năng phụ trách những lĩnh vực chuyên
biệt như SXKD, tài chính Văn phòng của Tập đoàn là cơ quan quản lý của Tập đoàn
được tổ chức tại CTM Văn phòng này không có tư cách pháp nhân độc lập Tính
chất nhất nguyên của mô hình này thể hiện ở chỗ toàn bộ hoạt động của văn phòng và
hoạt động SXKD của Tập đoàn đặt dưới sự lãnh đạo và quản lý trực tiếp của Tổng
giám đốc Văn phòng là trung tâm đầu tư và trung tâm lợi nhuận của Tập đoàn, thể
hiện sự quản lý tập trung đối với các đơn vị kinh doanh cấp dưới, thông qua các
phòng, ban chức năng để phục vụ cho công tác quản lý các hoạt động của Tập đoàn
Phạm vi áp dụng tổ chức quản lý tài chính theo mô hình này phù hợp với
những Tập đoàn có quy mô không lớn, có hoạt động SXKD tương đối đồng nhất
(hoặc nếu có đa dạng hóa thì cũng là sự kéo dài cơ học của ngành chủ đạo)
Tổ chức quản lý tài chính mô hình này có ưu điểm là đảm bảo cho sự quản lý
điều hành tập trung, thống nhất và kịp thời của lãnh đạo Tập đoàn (văn phòng Tập
đoàn) đối với việc xây dựng, thực thi và điều chỉnh kế hoạch tài chính, kế hoạch
SXKD cũng như các hoạt động hàng ngày của Tập đoàn Đồng thời, tổ chức quản lý
tài chính theo mô hình này cũng đảm bảo sự quản lý, điều hành tập trung, thống nhất
và kịp thời các hạng mục đầu tư quan trọng, các hoạt động tài chính chủ yếu của Tập
đoàn và tạo sự linh hoạt và chủ động trong việc phân phối các nguồn lực tài chính
giữa các bộ phận trong Tập đoàn
Tuy nhiên, tổ chức quản lý tài chính theo mô hình này thường có nguy cơ tập
trung quá nhiều vào công việc quản lý tài chính mang tính sự vụ dẫn đến việc xem
nhẹ vai trò của công tác hoạch định chiến lược và xây dựng kế hoạch tài chính, kế
hoạch kinh doanh dài hạn do việc hợp nhất giữa các chức năng xây dựng chiến lược,
ra quyết định đầu tư với chức năng chỉ đạo các hoạt động hàng ngày của ban lãnh đạo Tập đoàn Bên cạnh đó thì việc phân bổ các nguồn tài chính và phân phối lợi nhuận giữa các bộ phận trong Tập đoàn hoàn toàn do văn phòng Tập đoàn quyết định bằng biện pháp mệnh lệnh hành chính, do đó, rất có thể làm hạn chế tính năng động và động lực phấn đấu của các đơn vị thành viên trong Tập đoàn Do vậy, trên thế giới hầu như các Tập đoàn không áp dụng mô hình quản lý kinh tế này
Mô hình tổ chức quản lý tài chính theo cấu trúc không tập trung
Theo mô hình này, cơ cầu tổ chức bao gồm một văn phòng và các doanh nghiệp thành viên Văn phòng chịu trách nhiệm tiến hành thực hiện quản lý và điều phối chung của cả Tập đoàn, không thực hiện quản lý trực tiếp hoạt động của các doanh nghiệp thành viên Mỗi doanh nghiệp đều có tư cách pháp nhân, đều có quyền
tự chủ khá cao về tài chính và được quyền chủ động tổ chức thực hiện quản lý tài chính của đơn vị mình Dạng phổ biến nhất theo cấu trúc “holding” là mô hình CTM
- Con Theo mô hình này, các CTC đề có bộ máy quản lý tài chính riêng CTM sở hữu toàn bộ hoặc một tỷ lệ nhất định vốn cổ phần trong các CTC và chỉ thực hiện quản lý tài chính thông qua đánh giá chỉ số lợi nhuận trên vốn cổ phần của CTC không thực hiện quản lý tài chính trực tiếp từng nội dung hoạt động tài chính của các CTC Trong mô hình tổ chức quản lý này, tùy theo tình chất của CTM là công ty nắm vốn hay là công ty vừa nắm vốn vừa trực tiếp kinh doanh để có thể tổ chức bộ phận quản lý tài chính riêng và quản lý trực tiếp theo từng nội dung và quản lý cụ thể đối với hoạt động SXKD của CTM
Mô hình tổ chức quản lý tài chính theo cấu trúc hỗn hợp
Mô hình quản lý này là sự kết hợp của hai mô hình trên, phù hợp với những Tập đoàn có quy mô lớn, đòi hỏi vừa tập trung vừa phân quyền nhưng phải nhằm tới hiệu quả tổng thể
Tính chất tập trung thể hiện ở việc tổ chức quản lý tập trung tại cơ quan văn phòng Tập đoàn đối với chiến lược, kế hoạch hoặc quyết định đầu tư mới hoặc rút khỏi thị trường, phân bổ nguồn tài chính và điều hành các giao dịch trong nội bộ Tập đoàn Công tác quản lý tài chính tập trung này không chỉ dựa trên việc quản lý những hoạt động tài chính mà quan trọng hơn nó gắn kết những hoạt động mày với việc thực hiện chiến lược kinh doanh và tối ưu hóa hiệu quả hoạt động của Tập đoàn
Trang 17Tính chất phân quyền thể hiện ở chỗ các CTC hoặc chi nhánh của Tập đoàn có
quyền tổ chức bộ máy quản lý tài chính của mình và có quyền tự chủ về tài chính Có
thể coi đây là các trung tâm lợi nhuận và là trung tâm giá thành Cơ cấu bộ máy tổ
chức tài chính của Tập đoàn theo mô hình này gồm 3 cấp:
- Cấp thứ nhất là HĐQT và cơ quan điều hành của Tập đoàn Đây là cơ quan
đầu não ra quyết định cao nhất trong Tập đoàn, chịu trách nhiệm xây dựng các chiến
lược, kế hoạch tài chính, điều phối các giao dịch nội bộ Tập đoàn
- Cấp thứ hai là các ban chức năng về kế hoạch tài chính, kiểm soát, kiểm
toán giúp HĐQT xây dựng chiến lược, điều hành các giao dịch nội bộ và giám sát
tài chính đối với công ty con
- Cấp thứ ba là bộ phận quản lý tài chính của các CTC trong Tập đoàn Bộ
phận này trực tiếp thực hiện quản lý từng hoạt động tài chính cụ thể của đơn vị mình
Mô hình này hiện nay đang được áp dụng phổ biến tại các TĐKT trên thế giới
và tại các TĐKT ở Việt Nam
1.1.4 Mối quan hệ giữa các thành viên trong Tập đoàn kinh tế
Quan hệ giữa các thành viên trong TĐKT thông thường bao gồm các quan hệ
giao dịch kinh doanh, tài chính, phân phối lợi ích, trao đổi thông tin, nhân sự, văn hóa
Tập đoàn Đó là mối quan hệ giữa CTM và các CTC, giữa các doanh nghiệp trong
Tập đoàn
- Quan hệ giao dịch kinh doanh: Trong nội bộ Tập đoàn có các loại giao dịch
kinh doanh như mua bán hàng hóa, quyền sở hữu và các loại tài sản khác, cung cấp
và nhận các dịch vụ, thanh toán các khoản nợ thay mặt một đơn vị hoặc một bên
khác CTM và các doanh nghiệp thành viên đều là chủ thể độc lập trong thị trường,
hoạt động theo mục tiêu của thị trường Các giao dịch kinh doanh trong nội bộ Tập
đoàn cũng cần phải tuân thủ các quy tắc của thị trường, đảm bảo nguyên tắc tự
nguyện, bình đẳng và cùng có lợi, song cũng cần có những bảo hộ, ưu đãi theo những
nguyên tắc nhất định
- Quan hệ tài chính: Tương tự như quan hệ kinh doanh, các giao dịch tài chính
giữa các doanh nghiệp trong Tập đoàn phải được báo cáo đầy đủ và công khai hoàn
toàn CTM chịu trách nhiệm đôn đốc, chỉ đạo, giám sát hiệu quả kinh tế và tình hình
đảm báo giá trị, giá trị gia tăng Về chế độ kê khai tài chính, CTM và các doanh
nghiệp thành viên của Tập đoàn phải kê khai quyết toán tài chính dựa theo mối quan
hệ về tài chính giữa các đơn vị này Đối với Tập đoàn có CTM hoàn toàn vốn Nhà nước thì CTM phải tổng hợp báo cáo quyết toán tài chính của các CTC hoàn toàn vốn của CTM và CTC có cổ phần chi phối của CTM và báo cáo lên cơ quan đại diện chủ
sở hữu (BTC hoặc bộ ngành chủ quản)
- Quan hệ đầu tư: Để đáp ứng nhu cầu về vốn, các doanh nghiệp trong Tập đoàn phải tự tìm nguồn vốn bằng cách giao dịch với các ngân hàng hoặc thị trường vốn bởi vì CTM không có đủ lượng tài chính để thỏa mãn tất cả các nhu cầu của các công ty thành viên Trong quan hệ đầu tư CTM xác định các chỉ tiêu mang tính vĩ mô như: Mức vay vốn thích hợp, các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả hoạt động chính để vay vốn CTM chỉ giám sát hiệu quả hoạt động còn lãnh đạo CTC chịu trách nhiệm hoàn toàn việc triển khai thực hiện các chỉ tiêu này
Để đảm bảo cho Tập đoàn sử dụng vốn có hiệu quả, CTM có thể chú ý đến việc cơ cấu lại khoản vay vốn tồn đọng bằng cách rút bớt khoản vốn không hiệu quả
để tập trung vào những khoản vốn mang lại hiệu quả theo cách thức:
+ Tập trung vốn cho các doanh nghiệp thành viên có khả năng phát triển + Hỗ trợ hoặc một số doanh nghiệp chủ chốt trong Tập đoàn đạt được yêu cầu của thị trường và thỏa mãn điều kiện lưu thông tiền tệ
+ Đầu tư dây chuyền kỹ thuật cao, sản phẩm tốt
- Quan hệ về tài sản và quản lý kinh tế: CTM và CTC là những pháp nhân kinh tế độc lập, đều có quyền bình đẳng trước pháp luật Giữa CTM và CTC là quan
hệ giữa chủ đầu tư và doanh nghiệp được đầu tư Giữa các doanh nghiệp này tồn tại quyền tài sản Giữa các CTM và các CTC dựa vào quản trị tài chính, hình thức đầu
tư và góp vốn của CTM vào CTC Ngoài ra, CTM còn có thể hỗ trợ kỹ thuật cho các CTC
- Quan hệ hạch toán: CTM và các CTC đều là những pháp nhân kinh tế, thực hiện hạch toán độc lập, đều phải lập BCTC theo luật định Tùy thuộc vào hình thức
cụ thể của từng đơn vị thành viên trong tập đoàn (Doanh nghiệp nhà nước, công ty cổ phần, công ty liên doanh, công ty trách nhiệm hữu hạn ) mà đơn vị kế toán sẽ hoạt động theo luật và phải tuân thủ quy chế tài chính tương ứng Bộ máy kế toán tại mỗi công ty thành viên chịu trách nhiệm tổ chức thu nhận, xử lý, hệ thống hóa và cung cấp thông tin hoạt động SXKD độc lập, cung cấp thông tin phục vụ lập báo cáo hợp nhất của Tập đoàn
Trang 181.2 THÔNG TIN KẾ TOÁN VÀ VAI TRÒ CỦA THÔNG TIN KẾ TOÁN
TRONG TẬP ĐOÀN KINH TẾ
1.2.1 Khái quát thông tin kế toán và vai trò của thông tin kế toán trong
Tập đoàn kinh tế
Kế toán là việc thu thập, xử lý, kiểm tra, phân tích và cung cấp thông tin kinh
tế, tài chính dưới hình thức giá trị, hiện vật và thời gian lao động Do vậy, kế toán là
công cụ không thể thiếu được trong hệ thống công cụ quản lý của doanh nghiệp, kế
toán còn là khoa học thu nhận, xử lý và cung cập thông tin về tài sản, sự vận động
của tài sản, các hoạt động kinh tế tài chính trong doanh nghiệp, nhằm kiểm tra, giám
sát toàn bộ hoạt động kinh tế, tài chính của doanh nghiệp
Chức năng của nhà quản trị là lập kế hoạch, tổ chức điều hành, kiểm tra đánh
giá và ra quyết định Các nhà quản trị phải sử dụng các loại thông tin khác nhau để
thực hiện chức năng của mình, như: Thông tin kế hoạch, thông tin về môi trường
xung quanh doanh nghiệp và thông tin thực hiện Để quản lý, nhà quản trị phải sử
dụng hệ thống thông tin kế hoạch, thông tin môi trường xung quanh và thông tin thực
hiện Thông tin thực hiện bao gồm các tài liệu kế toán, thống kê Muốn chỉ đạo, giám
sát, kiểm tra, phân tích, đánh giá một cách đúng mức tình hình hoạt động SXKD, nhà
quản trị phải dựa vào tài liệu thực hiện, đặc biệt là các thông tin do kế toán cung cấp,
là thông tin về sự vận động của các đối tượng kế toán Đó là thông tin được hình
thành từ các nghiệp vụ kinh tế, tài chính đã phát sinh và thực sự hoàn thành trong quá
trình hoạt động của đơn vị
Như Các Mác đã nhấn mạnh: kế toán như là một phương tiện kiểm soát và
tổng kết quá trình sản xuất, trên ý niệm càng trở nên cần thiết chừng nào mà quá trình
sản xuất càng có quy mô xã hội, càng mất tính chất thuần túy cá thể Như vậy, có thể
khẳng định rằng, kế toán có vai trò rất quan trọng trong công tác quản lý, chức năng
của kế toán là cung cấp thông tin cho quản lý, nếu thiếu thông tin kế toán, nhà quản lý
không thể điều hành được hoạt động SXKD của mình Giữa quản trị doanh nghiệp và
thông tin kế toán có mối quan hệ chặt chẽ, đó là:
- Thông tin kế toán phục vụ cho việc lập kế hoạch của doanh nghiệp: Lập kế
hoạch là việc thiết lập những việc cần làm, những nguồn lực cần huy động, thời gian
làm hực hiện, những chỉ tiêu kinh tế kỹ thuật tài chính cần đạt được Kế hoạch có thể
chia thành kế hoạch dài hạn, kế hoạch trung hạn, kế hoạch ngắn hạn Để lập kế hoạch
hợp lý, khoa học, nhà quản trị phải sử dụng những chỉ tiêu định mức kỹ thuật đã có,
sử dụng thông tin kế toán để phân tích tình hình thực hiện kế hoạch của những kỳ trước, phân tích những thay đổi hiện tại, trên cơ sở đó mới lập kế hoạch tương lai
- Với chức năng tổ chức và điều hành: nhà quản trị cần một lượng thông tin rất lớn, đặc biệt là những thông tin phát sinh hàng ngày để kịp thời điều chỉnh, tổ chức hoạt động, như: thông tin về giá thành, thông tin về giá bán, thông tin về lợi nhuận Những thông tin này phải do kế toán chịu trách nhiệm thu thập hàng ngày hoặc định kỳ
- Với chức năng kiểm tra: để đảm bảo tính khả thi khi lập kế hoạch thì phải so sánh giữa kế hoạch với thực tế kỳ trước, hoặc để đánh giá tình hình thực hiện kế hoạch phải so sánh với thực tế kế hoạch Kế toán cung cấp cho các nhà quản trị những thông tin thực tế, mức chênh lệch giữa thực tế với kế hoạch, giúp nhà quản trị điều chỉnh kịp thời, đảm bảo tiến độ thực hiện kế hoạch
- Với chức năng ra quyết định: thông tin kế toán thường là nhân tố chính trong việc ra quyết định của nhà quản trị, điều này được thể hiện rất rõ qua bản chất của thông tin kế toán Thông tin kế toán là nguồn thông tin mang tính chính xác cao, kịp thời và hữu ích nhất so với thông tin từ những lĩnh vực, chuyên ngành khác Và đồng thời nó luôn phản ánh tình hình thực tế theo những tiêu chuẩn, phương pháp quy định mang tính thống nhất cao, đồng nhất và được thực hiện khá linh hoạt, phổ biến Đặc biệt, trong môi trường kinh doanh hiện nay khi mà toàn cầu hóa về kinh tế ngày càng phát triển và lan rộng, sự mở rộng đầu tư, giao lưu kinh tế giữa các quốc gia, sự cạnh tranh giũa các doanh nghiệp ngày ngày càng khốc liệt, sự ra đời ngày càng nhiều các công cụ quản lý, hỗ trợ công tác quản lý thì nhu cầu về thông tin kế toán phải linh hoạt, kịp thời, đơn giản, hữu ích giúp nhà quản trị có quyết định đúng đắn cho hoạt động SXKD càng trở nên cần thiết
Như vậy, chức năng của kế toán là cung cấp và truyền đạt thông tin kinh tế về
tổ chức cho các đối tượng sử dụng khác nhau; mục đích của kế toán nhằm cung cấp các thông tin hữu ích cho việc ra các quyết định kinh tế, cho việc đánh giá hiệu quả SXKD của tổ chức Thông tin kế toán phục vụ cho cả trong và ngoài doanh nghiệp Dựa trên đặc điểm này, kế toán được chia thành hai loại chính: Loại kế toán cung cấp thông tin cho nhà quản lý, điều hành hoạt động trong nội bộ doanh nghiệp, gọi là
Trang 19KTQT, kế toán cung cấp thông tin cho đối tượng chủ yếu bên ngoài doanh nghiệp
được gọi là KTTC
Kế toán tài chính: KTTC là công cụ của quản lý nhằm thực hiện quá trình
tổng hợp, đo lường, truyền đạt tình hình tài chính của doanh nghiệp Quá trình tổng
hợp và đo lường này được thực hiện theo một trình tự do chế độ kế toán quy định
Các chế độ kế toán được xây dựng căn cứ trên Chuẩn mực kế toán của mỗi quốc gia
có hướng tới sự hoà hợp với các chuẩn mực, thông lệ quốc tế Việc thực hiện các
khâu công việc từ tổ chức thu thập thông tin kế toán, tổ chức hệ thống hoá và xử lý
thông tin kế toán, tổ chức phân tích và cung cấp thông tin kế toán cho các đối tượng
cần sử dụng phải đảm bảo tính trung thực, khách quan Các đối tượng sử dụng thông
tin kế toán, bao gồm: chủ sở hữu, nhà quản lý, khách hàng và các cơ quan quản lý
Nhà nước
- Chủ sở hữu: là nguời có quyền sở hữu đối với hoạt động kinh doanh của
doanh nghiệp (như các cổ đông, nguời góp vốn liên doanh, Nhà nước trong các doanh
nghiệp có 100% vốn Nhà nước và các công ty cổ phần…), họ quan tâm tới lợi ích
sinh ra từ vốn kinh doanh và đây là căn cứ để họ đề ra các quyết định kinh doanh cần
thiết, bao gồm cả quyết định phân chia lợi tức cho họ Đồng thời qua việc phân tích
thông tin của KTTC họ có thể đánh giá được năng lực, trách nhiệm của các bộ phận
quản lý ở doanh nghiệp
- Ngân hàng và các nhà cung cấp tín dụng: Mối quan tâm của họ hướng chủ
yếu vào khả năng trả nợ của doanh nghiệp Vì vậy, họ đặc biệt chú ý tới số tiền và các
tài sản khác để có thể chuyển thành tiền nhanh Từ đó, phân tích khả năng thanh toán
tức thời của doanh nghiệp Đồng thời các chủ ngân hàng và các nhà tín dụng cũng rất
quan tâm tới tổng số vốn của doanh nghiệp Bởi vì, đây là khoản bảo hiểm cho họ
trong trường hợp doanh nghiệp gặp rủi ro Chủ ngân hàng và các nhà tín dụng sẽ
không cho doanh nghiệp vay, nếu thấy doanh nghiệp không có khả năng thanh toán
Muốn biết tình hình thanh toán của doanh nghiệp phải phân tích thông tin từ KTTC
của doanh nghiệp
- Nhà cung cấp vật tư, hàng hoá: Đối với các nhà cung cấp vật tư, hàng hoá,
dịch vụ… họ quyết định xem có cho phép khách hàng sắp tới được mua chịu hàng
hoá, dịch vụ của họ hay không Nhóm người này cũng như chủ ngân hàng, họ cần
biết khả năng thanh toán của doanh nghiệp hiện tại và tương lai
- Các nhà đầu tư: mối quan tâm của họ hướng tới các yếu tố như sự rủi ro, thời gian hoàn vốn, mức sinh lợi, khả năng thanh toán vốn… Vì vậy, họ cần những thông tin về tình hình tài chính, tình hình hoạt động, kết quả kinh doanh và khả năng tăng trưởng của doanh nghiệp Ngoài ra, các nhà đầu tư cũng rất quan tâm tới việc điều hành hoạt động và tính hiệu quả cho các nhà đầu tư Với lý do trên, họ phải sử dụng thông tin kế toán của doanh nghiệp để phân tích và ra quyết định
- Các cơ quan Nhà nước: cần số liệu kế toán để tổng hợp cho ngành và địa phương Trên cơ sở đó, phát triển và đánh giá nhằm định ra các chính sách kinh tế thích hợp để thúc đẩy SXKD phát triển Đặc biệt, các cơ quan thuế địa phương và trung ương đều dựa vào thông tin của kế toán để tính thuế, đặc biệt là thuế thu nhập Các cơ quan này thường lấy số liệu thu nhập chưa phân phối được thể hiện trên BCTC trừ đi các khoản miễn giảm thuế theo luật định để xác định mức thu nhập chịu thuế Thông tin KTTC cung cấp cho các đối tượng sử dụng thông tin qua hệ thống BCTC như: BCĐKT, BCKQKD, BCLCTT, BTMBCTC
Kế toán quản trị: KTQT là một phân hệ của hạch toán kế toán, nó ra đời và
phát triển là kết quả tất yếu của quá trình phát triển hệ thống hạch toán kế toán gắn với sự phát triển của hệ thống quản lý ở các tổ chức trong nền kinh tế xã hội Có nhiều quan điểm khác nhau về KTQT, tuy nhiên có thể chia thành hai quan điểm: Quan điểm thứ nhất cho rằng: KTQT là hệ thống đo lường, thu thập, tổng hợp,
xử lý, cung cấp thông tin (thông tin tài chính và thông tin phi tài chính) phục vụ cho Ban lãnh đạo trong việc lập kế hoạch, điều hành, theo dõi thực hiện kế hoạch, quản lý hoạt động kinh doanh trong phạm vi nội bộ doanh nghiệp
Quan điểm thứ hai cho rằng: KTQT là việc ghi chép kế toán nhằm thu thập, tổng hợp, xử lý, truyền đạt các thông tin chi tiết, cụ thể về hoạt động kinh tế tài chính của doanh nghiệp để phục vụ yêu cầu quản lý và điều hành hoạt động SXKD Theo quan điểm này, KTQT trước hết phải là kế toán, có liên hệ mật thiết với hệ thống KTTC, ghi chép phản ánh những số liệu chi tiết cả về chỉ tiêu số lượng và giá trị, nhằm cung cấp các thông tin chi tiết hơn cho quản lý mà KTTC chưa cung cấp được KTQT đồng nghĩa với kế toán chi tiết, là một bộ phận của KTTC ở doanh nghiệp Để phục vụ quản trị kinh doanh ở doanh nghiệp phải sử dụng nhiều loại thông tin khác nhau như thông tin của hạch toán thống kê, của hạch toán nghiệp vụ hoặc còn bao gồm nhiều công việc như lập kế hoạch, định mức, dự toán, kiểm soát chi phí, xác
Trang 20định các phương án đầu tư vốn… mà các công việc này không hoàn toàn thuộc phạm
vi của KTQT
Như vậy, KTQT là một khoa học thu nhận, xử lý và cung cấp thông tin về hoạt
động SXKD một cách chi tiết phục vụ cho nhà quản trị trong việc lập kế hoạch và
quản lý hoạt động kinh tế tài chính trong nội bộ doanh nghiệp KTQT không chỉ thu
nhận, xử lý và cung cấp thông tin về các nghiệp vụ kinh tế đã thực sự hoàn thành, ghi
chép hệ thống hoá trên các sổ sách kế toán mà còn xử lý và cung cấp thông tin này,
KTQT phải sử dụng các phương pháp khoa học để phân tích, xử lý chúng một cách
cụ thể phù hợp với nhu cầu thông tin của nhà quản trị Hệ thống hoá thông tin theo
một trình tự dễ hiểu và giải trình quá trình phân tích theo các chỉ tiêu cụ thể, phục vụ
cho công tác quản trị doanh nghiệp KTQT cung cấp những thông tin về hoạt động
kinh tế tài chính trong phạm vi yêu cầu quản lý nội bộ của doanh nghiệp Những
thông tin đó có ý nghĩa với những người, những bộ phận và những nhà điều hành
quản lý doanh nghiệp Vì vậy, có thể nói rằng KTQT là phương tiện cung cấp thông
tin cho các nhà quản lý, giúp cho họ ra các quyết định trong nội bộ doanh nghiệp
KTQT là một bộ phận của công tác kế toán nói chung và có một chức năng quan
trọng không thể thiếu được đối với hệ thống quản lý doanh nghiệp
Như vậy, thông tin kế toán cần thiết cho rất nhiều đối tượng sử dụng khác
nhau, vì đó là căn cứ quan trọng cho mọi quyết định kinh doanh của doanh nghiệp và
các đối tượng liên quan tới doanh nghiệp Để đảm bảo các quyết định kinh doanh đạt
được hiệu quả cao, thông tin kế toán cần có chất lượng, hữu ích cho mọi đối tượng sử
dụng thông tin
1.2.2 Khái quát về tổ chức công tác kế toán trong Tập đoàn kinh tế
Để phát huy chức năng, vai trò quan trọng của kế toán trong công tác quản lý
hoạt động sản xuất, kinh doanh trong các TĐKT, đòi hỏi phải tổ chức công tác kế
toán một cách khoa học, hợp lý nhằm cung cấp thông tin đáp ứng yêu cầu của các đối
tượng quan tâm
Xuất phát từ bản chất của kế toán là một hệ thống thông tin kinh tế, tài
chính của doanh nghiệp và kiểm tra, kiểm soát các hoạt động kinh tế của doanh
nghiệp bằng hệ thống các phương pháp của mình, có thể thấy: Tổ chức công tác kế
toán là việc tổ chức vận dụng các phương pháp kế toán để liên kết các yếu tố cấu
thành, các công việc của kế toán nhằm thực hiện tốt các nhiệm vụ của kế toán trong doanh nghiệp
Tổ chức công tác kế toán ở doanh nghiệp là tổ chức việc thu nhận, hệ thống hóa và cung cấp thông tin về hoạt động của doanh nghiệp Tổ chức công tác kế toán trong doanh nghiệp phải giải quyết được cả hai phương diện: Tổ chức thực hiện các phương pháp kế toán, các nguyên tắc kế toán và các phương pháp, phương tiện tính toán nhằm đạt được mục đích của công tác kế toán và tổ chức bộ máy kế toán nhằm liên kết các nhân viên kế toán thực hiện tốt công tác kế toán trong doanh nghiệp [Lưu Đức Tuyên và Ngô Thị Thu Hồng, 2011]
Có nhiều cách tiếp cận và luận giải khác nhau về tổ chức công tác kế toán, nhưng đều có mục đích chung là hướng tới việc sắp xếp, tổ chức các công việc mà kế toán cần phải thực hiện tốt chức năng tổ chức thu nhận, xử lý, phân tích và cung cấp thông tin kinh tế tài chính một cách kịp thời, đầy đủ phục vụ cho việc điều hành hoạt động SXKD cả ở tầm vĩ mô và vi mô
Nghiên cứu sinh xin được đưa ra quan điểm: Tổ chức công tác kế toán là việc
tổ chức, sắp xếp nhân sự theo từng phần hành kế toán, sử dụng các phương pháp kế toán phù hợp với việc thu nhận, xử lý, phân tích và cung cấp thông tin kinh tế tài chính, phù hợp với đặc điểm cụ thể của doanh nghiệp nằm đáp ứng nhu cầu thông tin phục vụ công tác quản lý trong doanh nghiệp
Do những đặc trưng của hoạt động tổ chức quản lý SXKD, phạm vi, địa bàn hoạt động và nhu cầu thông tin trong TĐKT có sự khác biệt so với doanh nghiệp nên
tổ chức công tác kế toán trong TĐKT mang những nét đặc thù riêng
TĐKT là một chủ thể kinh tế, nhưng không phải là chủ thể pháp lý và không
có tư cách pháp nhân Bởi vậy tổ chức công tác kế toán ở cả TĐKT với tư cách một thực thể kinh tế hợp nhất sẽ không mang tính pháp lý Tất cả các công ty thành viên của tập đoàn đều là những chủ thể pháp lý riêng rẽ nên các thành viên này thực hiện hạch toán độc lập theo chế độ kế toán đặc thù tương ứng, phù hợp qui chế tài chính hiện hành đối với từng loại hình doanh nghiệp trong tập đoàn CTM và các CTC đều
có tổ chức bộ máy kế toán riêng và đều phải lập BCTC theo luật định (BCTC riêng rẽ) Mọi nghiệp vụ kinh tế - tài chính phát sinh giữa các đơn vị thành viên đều phải được kế toán của công ty thành viên thu nhận, xử lý, cung cấp như đối với các nghiệp
vụ kinh tế - tài chính phát sinh với pháp nhân ở ngoài tập đoàn
Trang 21Mặt khác, do TĐKT là một chủ thể kinh tế, hợp nhất bởi các công ty có mối
liên kết gắn chặt với lợi ích đầu tư tài chính nên nhu cầu thông tin của các đối tượng
sử dụng thông tin kế toán không chỉ dừng lại ở phạm vi từng đơn vị thành viên riêng
lẻ mà còn mở rộng ra phạm vi toàn tập đoàn Điều đó ảnh hưởng trực tiếp đến vấn đề
tổ chức cung cấp thông tin kế toán ở CTM - CTC Ngoài việc tổ chức thực hiện chế
độ BCTC của riêng từng công ty thành viên còn phải tổ chức cung cấp thông tin về tổ
hợp CTM - CTC với tư cách một thực thể kinh tế thống nhất, thông qua việc lập và
trình bày các BCTCHN mà ở đó các giao dịch nội bộ tập đoàn sẽ được loại trừ
Đặc trưng của Tập đoàn kinh tế ảnh hưởng đến tổ chức công tác kế toán
Để phục vụ cho việc điều hành SXKD quản lý tài chính của các thành viên
trong Tập đoàn, cần phải xây dựng một hệ thống quản lý điều hành thống nhất, áp
dụng chung cho các đơn vị thành viên, đặc biệt trong lĩnh vực tài chính và thông tin
quản lý, cụ thể như: Xây dựng hệ thống tài chính kế toán phù hợp, hệ thống thông tin
quản lý chuẩn cho toàn bộ tập đoàn, sử dụng các mẫu biểu báo cáo và các quy trình
chuẩn, thiết kế và thử nghiệm cơ chế kiểm soát… Do những khác biệt về tổ chức
quản lý kinh doanh, phạm vi và địa bàn hoạt động và nhu cầu thông tin kế toán trong
TĐKT dẫn đến tổ chức công tác kế toán trong TĐKT có những đặc trưng riêng:
Thứ nhất, tổ chức công tác kế toán ở cả TĐKT với tư cách một thực thể kinh
tế sẽ không mang tính pháp lý TĐKT được xét là một chủ thể kinh tế, nhưng không
phải là một chủ thể pháp lý, do vậy TĐKT không có tư cách pháp nhân Các đơn vị
thành viên trong TĐKT là từng chủ thể pháp lý riêng rẽ, nên thực hiện hạch toán độc
lập, mỗi đơn vị đều có bộ máy kế toán riêng và đều phải lập hệ thống BCTC riêng
theo quy định Mọi nghiệp vụ kinh tế, tài chính phát sinh giữa các đơn vị thành viên
đều phải được kế toán tại các đơn vị thành viên thu nhận, xử lý, phân tích và cung cấp
thông tin như đối với các nghiệp vụ kinh tế, tài chính phát sinh với các nghiệp vụ
kinh tế, tài chính phát sinh với pháp nhân ngoài TĐKT
Thứ hai, thông tin được cung cấp không chỉ là các thông tin riêng về từng đơn
vị thành viên mà còn cần phải được tổ chức cung cấp thông tin về từng đơn vị thành
viên mà còn cần tổ chức cung cấp thông tin về toàn bộ TĐKT TĐKT là một tổ hợp
CTM - CTC nên phải cung cấp thông tin về tổ hợp này với tư cách một thực thể kinh
tế thống nhất Quyền lợi của các nhà đầu tư và đối tác của CTM gắn liền với hoạt
động của tổ hợp CTM - CTC (thực thể hợp nhất), do vậy thông tin về thực thể hợp
nhất này cần thiết phải được cung cấp để đánh giá được khả năng tài chính của CTM
do ảnh hưởng của hoạt động các CTC mà CTM đầu tư và kiểm soát Từ sự cần thiết phải cung cấp thông tin về một tổ hợp các đơn vị thành viên trong TĐKT dẫn đến mối quan hệ hạch toán giữa CTM và các CTC chủ yếu là mối quan hệ trong việc thu nhận, xử lý thông tin phục vụ cho việc cung cấp thông tin tổng hợp về cả TĐKT
Thứ ba, trong TĐKT, các đơn vị thành viên là các pháp nhân kinh tế, thực
hiện hạch toán độc lập và đề phải lập BCTC theo luật định, các BCTC này gọi là các BCTC riêng Tuy nhiên, vì TĐKT là một chủ thể kinh tế, có các đơn vị thành viên gắn chặt với nhau vì lợi ích đầu tư tài chính nên ảnh hưởng rất lớn đến vấn đề tổ chức cung cấp thông tin kế toán ra bên ngoài, nhu cầu sử dụng thông tin các các đối tượng quan tâm không chỉ dừng lại ở phạm vi từng đơn vị thành viên riêng lẻ mà mở rộng
ra phạm vi toàn Tập đoàn Vì lý do này mà điểm khác biệt giữa doanh nghiệp thông thường và TĐKT là: ngoài việc các đơn vị thành viên lập và trình bày BCTC riêng biệt như một đơn vị riêng lẻ, toàn bộ Tập đoàn còn phải tổ chức lập và trình bày một BCTC chung, để cung cấp thông tin tổng hợp về hoạt động của toàn bộ Tập đoàn với
tư cách một thực thể thống nhất - được gọi là BCTCHN
Thứ tư, TĐKT không tổ chức bộ máy kế toán chung Mỗi thành viên là một
pháp nhân kinh tế độc lập nên có bộ máy kế toán riêng, do TĐKT không có tư cách pháp nhân nên không thể thiết lập một bộ máy kế toán chung cho cả Tập đoàn mà chỉ có sự liên kết chặt chẽ giữa bộ máy kế toán của CTM với CTC về công tác hợp nhất BCTC
Ý nghĩa tổ chức công tác kế toán trong Tập đoàn kinh tế
Để quản lý tình hình tài chính cũng như tình hình SXKD trong các TĐKT thì công tác kế toán phải được chú trọng và không ngừng nâng cao chất lượng Công tác
kế toán không chỉ là việc ghi chép, phản ánh đơn thuần mà kế toán phải thực sự là hệ thống thông tin chính xác, trung thực, kịp thời giúp nhà quản trị đưa ra quyết định quản lý, điều hành hoạt động của doanh nghiệp Đặc biệt là đối với TĐKT, các thông tin kế toán của doanh nghiệp trong Tập đoàn cần được cung cấp đầy đủ, trung thực, kịp thời cho việc tổng hợp thông tin chung toàn Tập đoàn nhằm đáp ứng yêu cầu quản lý, điều hành chung của Tập đoàn
Như vậy, để đạt được yêu cầu trên đòi hỏi mỗi TĐKT phải tổ chức công tác kế toán khoa học và hợp lý, phù hợp với đặc điểm của mình Điều này có ý nghĩa quan
Trang 22trọng, giúp nâng cao hiệu quả quản lý kinh tế ở các doanh nghiệp nói riêng và trong
Tập đoàn nói chung Ý nghĩa của tổ chức công tác kế toán trong các TĐKT thể hiện
trên các mặt chủ yếu sau:
- Đảm bảo cung cấp chính xác, kịp thời và đầy đủ các thông tin kinh tế, tài
chính của đơn vị cho các đối tượng quan tâm giúp họ đưa ra các quyết định đúng
đắn, kịp thời Tổ chức công tác kế toán khoa học sẽ cung cấp thông tin đầy đủ, kịp
thời, chính xác cho hoạt động quản lý Những nghĩa vụ về tài chính không thể được
đảm bảo một cách đầy đủ nếu thiếu thông tin và giám sát thông tin
- Đảm bảo ghi chép, theo dõi, phản ánh và giám sát chặt chẽ các loại tài sản,
nguồn vốn kinh doanh của doanh nghiệp, giúp cho việc nâng cao hiệu quả sử dụng
vốn, nguồn vốn trong các doanh nghiệp Trong kế toán, mọi nghiệp vụ kinh tế đều
được ghi chép đầy đủ, liên tục, có hệ thống trên cơ sở các chứng từ hợp pháp, hợp lệ
Điều này làm tăng vai trò kiểm tra giám sát của kế toán
- Giúp cho kế toán thực hiện tốt yêu cầu, chức năng và nhiệm vụ của mình
trong hệ thống các công cụ quản lý Tổ chức công tác kế toán không đơn thuần là tổ
chức một bộ phận quản lý, mà nó bao hàm cả tính nghệ thuật trong việc xác lập yếu
tố, điều kiện cũng như các mối liên hệ qua lại, các tác động trực tiếp hoặc gián tiếp
đến hoạt động kế toán, giúp cho kế toán phát huy tối đa chức năng, nhiệm vụ vốn có
của mình
- Giúp cho doanh nghiệp có được bộ máy kế toán gọn nhẹ, hoạt động hiệu
quả, nâng cao hiệu suất và hiệu quả hoạt động của bộ máy kế toán Tổ chức công tác
kế toán khoa học sẽ tạo dựng được bộ máy kế toán gọn nhẹ, hoạt động hiệu quả, tiết
kiệm thời gian, nhân lực, góp phần giảm chi phí
Nguyên tắc tổ chức công tác kế toán trong Tập đoàn kinh tế
Tổ chức công tác kế toán trong TĐKT phải tuân thủ các nguyên tắc sau:
Một là, tổ chức công tác kế toán phải tuân thủ Luật kế toán, chuẩn mực kế
toán, các chế độ chính sách kinh tế, tài chính, kế toán và các chính sách vĩ mô của
Nhà nước đã ban hành
Luật kế toán, chuẩn mực kế toán và các chính sách, chế độ kế toán nhà nước
ban hành là cơ sở pháp lý cho công tác kế toán và công tác quản lý tài chính trong
doanh nghiệp cũng như trong các TĐKT Tất cả các đối tượng thuộc phạm vi điều
chỉnh của Luật kế toán phải chấp hành đầy đủ các quy định của Luật này, đó là văn bản có tính pháp lý cao nhất hiện nay về kế toán
Chuẩn mực kế toán gồm những nguyên tắc và phương pháp kế toán cơ bản để ghi sổ kế toán và lập BCTC một cách thống nhất nhằm cung cấp đầy đủ, kịp thời thông tin về hoạt động SXKD cho các đối tượng sử dụng
Chế độ kế toán là những quy định và hướng dẫn về kế toán đối với một hoặc một số công việc cụ thể do cơ quan quản lý nhà nước về kế toán hoặc cơ quan được
ủy quyền ban hành
Vì vậy, trong hoạt đông kinh tế tài chính, các đơn vị kế toán phải chấp hành một cách nghiêm túc Tuy nhiên, trong quá trình tổ chức công tác kế toán, các TĐKT phải căn cứ vào đặc điểm hoạt động SXKD và yêu cầu quản lý cụ thể của đơn vị mình để tổ chức hợp lý, khoa học và phù hợp nhằm đáp ứng yêu cầu thông tin kịp thời, trung thực và tin cậy phục vụ công tác quản lý và điều hành quá trình SXKD
Hai là, tổ chức công tác kế toán phải phù hợp với đặc điểm tổ chức sản xuất,
tổ chức quản lý, đặc điểm hoạt động và trình độ chuyên môn nghiệp vụ của đội ngũ người làm kế toán
Mỗi doanh nghiệp hoạt động trên những lĩnh vực khác nhau đều có những đặc điểm riêng về tổ chức quản lý, về trình độ quản lý, đồng thời có quy mô hoạt động và yêu cầu quản lý cụ thể khác nhau Do đó, tổ chức công tác kế toán trong các TĐKT muốn đạt được hiệu quả cao cần phải căn cứ vào đặc điểm tổ chức SXKD và đặc điểm tổ chức quản lý Điều này rất quan trọng trong khi thực hiện tổ chức công tác kế toán của mỗi TĐKT
Ba là, tổ chức công tác kế toán phải đảm bảo nguyên tắc thống nhất giữa
công tác kế toán và công tác quản lý, cung cấp kịp thời, trung thực và đầy đủ các thông tin về hoạt động SXKD phục vụ yêu cầu quản lý chung Tuy nhiên, mỗi bộ phận chức năng khác nhau đảm bảo những nhiệm vụ khác nhau Các bộ phận này cần phải cung cấp những thông tin phù hợp với chức năng, nhiệm vụ của mình phục
vụ cho công tác điều hành, quản lý chung của TĐKT TĐKT gồm nhiều công ty thành viên, mỗi công ty lại gồm nhiều bộ phận quản lý khác nhau, thực hiện chức năng, nhiệm vụ độc lập Vì vậy, tổ chức công tác kế toán phải chú ý giải quyết tốt mối quan hệ giữa các bộ phận trong từng công ty thành viên nhằm đảm bảo đồng bộ
Trang 23trong việc thu nhận, xử lý, phân tích và cung cấp thông tin phục vụ cho quản lý
chung toàn Tập đoàn
Bốn là, tổ chức công tác kế toán phải đảm bảo nguyên tắc tiết kiệm và hiệu
quả Tất cả các công việc liên quan đến quá trình lựa chọn các phương án SXKD,
công tác tổ chức quản lý nói chung và công tác tổ chức kế toán nói riêng cần đảm bảo
tính tính tiết kiệm, giảm thiểu chi phí, có lãi và tính khả thi Tổ chức công tác kế toán
trong các TĐKT cũng là một trong những phương án tổ chức công việc, tổ chức nhân
sự chuyên môn nên cũng cần phải tuân thủ nguyên tắc tiết kiệm, nâng cao hiệu quả và
ứng dụng Có như vậy mới đảm bảo cho việc tổ chức công tác kế toán một cách khoa
học, hợp lý mang lại hiệu quả thiết thực
1.3 NỘI DUNG TỔ CHỨC CÔNG TÁC KẾ TOÁN TRONG TẬP ĐOÀN
KINH TẾ
Tổ chức công tác kế toán trong doanh nghiệp cũng như trong các TĐKT bao
gồm nhiều nội dung khác nhau, các nội dung này phải được tổ chức một cách khoa
học và hợp lý để tổ chức công tác kế toán khoa học, hợp lý
Nội dung tổ chức công tác kế toán bao gồm:
- Tổ chức bộ máy kế toán là việc tổ chức việc thực hiện toàn bộ công việc kế
toán ở doanh nghiệp; tổ chức trang bị sử dụng các phương tiện kỹ thuật tính toán
nhằm nâng cao hiệu suất của nhân viên kế toán, tổ chức bồi dưỡng nâng cao trình độ
nghề nghiệp cho các nhân viên kế toán
- Tổ chức thu nhận thông tin về các nghiệp vụ kinh tế, tài chính phát sinh ở
doanh nghiệp và kiểm tra tính hợp pháp, hợp lý của các nghiệp vụ đó Muốn thực
hiện điều đó phải tổ chức hạch toán ban đầu để ghi nhận thông tin vào chứng từ kế
toán và tổ chức luân chuyển chứng từ kế toán để kiểm tra và ghi sổ kế toán kịp thời
- Tổ chức hệ thống hóa xử lý thông tin kế toán nhằm đáp ứng được những yêu
cầu của thông tin kế toán Muốn thực hiện điều đó phải tổ chức thực hiện các phương
pháp kế toán, các nguyên tắc kế toán, tổ chức hệ thống sổ kế toán để có thể hệ thống
hóa thông tin kế toán
- Tổ chức phân tích và cung cấp thông tin kế toán phục vụ cho quản lý kinh tế
tài chính vĩ mô và vi mô Muốn thực hiện điều đó phải tổ chức việc lập các báo cáo
kế toán định kỳ các báo cáo kế toán nội bộ, bao gồm cả báo cáo định kỳ và báo cáo
nhanh theo yêu cầu quản lý của Nhà nước và của nội bộ doanh nghiệp
- Tổ chức lưu trữ tài liệu kế toán và công tác kiểm tra kế toán nhằm đảm bảo thực hiện đúng đắn các chế độ về quản lý kinh tế, tài chính nói chung và Luật kế toán, chuẩn mực và chế độ kế toán nói riêng
Tổ chức công tác KTTC và tổ chức công tác KTQT đều có mục đích chung là đảm bảo cho kế toán thực sự là công cụ có hiệu lực nhất trong hệ thống công cụ quản
lý Về lý luận cũng như thực tế, tổ chức công tác kế toán có thể được thực hiện theo các mô hình sau:
- Tổ chức theo mô hình tách biệt giữa KTTC và KTQT
- Tổ chức theo mô hình hỗn hợp giữa kế KTTC và KTQT
- Tổ chức theo mô hình hỗn hợp: là mô hình kết hợp hai mô hình nêu trên, nghĩa là một số phần hành kế toán chủ yếu sẽ tổ chức tách biệt giữa KTTC và KTQT,
còn các phần hành khác theo mô hình kết hợp
Mỗi mô hình tổ chức kế toán trên đều có những ưu điểm và nhược điểm riêng
đã được một số đề tài nghiên cứu ứng dụng vào thực tế Tuy nhiên, đối với các TĐKT, do tính chất đặc thù của loại hình kinh doanh, đặc thù về quy mô nên áp dụng hình thức tổ chức hỗn hợp giữa KTTC và KTQT là hợp lý Vì vậy, tác giả chỉ đi sâu nghiên cứu tổ chức công tác KTTC và KTQT theo mô hình hỗn hợp
1.3.1 Tổ chức bộ máy kế toán
TĐKT là một chủ thể kinh tế nhưng không phải là chủ thể pháp lý, nó không
có tư cách pháp nhân Tất cả các đơn vị thành viên trong Tập đoàn đều là những chủ thể pháp lý riêng rẽ nên chúng thực hiện hạch toán độc lập theo chế độ kế toán đặc thù tương ứng, phù hợp với quy chế tài chính hiện hành đối với từng loại hình doanh nghiệp trong tập đoàn CTM và các CTC đều tổ chức bộ máy kế toán riêng và đều phải lập BCTC
Bộ máy kế toán của các đơn vị thành viên trong TĐKT là tập hợp những người làm kế toán tại doanh nghiệp cùng với các phương tiện trang thiết bị dùng để ghi chép, tính toán xử lý toàn bộ thông tin liên quan đến công tác kế toán tại doanh nghiệp từ khâu thu nhận, kiểm tra, xử lý đến khâu tổng hợp, cung cấp những thông tin kinh tế về các hoạt động của đơn vị Vì vậy, việc tổ chức cơ cấu bộ máy kế toán sao cho hợp lý, gọn nhẹ nhưng vẫn hoạt động có hiệu quả là điều quan trọng để cung cấp thông tin kế toán một cách kịp thời, trung thực và đầy đủ, hữu ích cho các đối tượng sử dụng thông tin, đồng thời phát huy và nâng cao trình độ nghiệp vụ, hiệu quả
Trang 24lao động của nhân viên kế toán Đơn vị tổ chức bộ máy kế toán như thế nào phù hợp
với việc đơn vị lựa chọn hình thức tổ chức công tác kế toán Nội dung của tổ chức bộ
máy kế toán bao gồm những công việc chính sau:
Lựa chọn mô hình tổ chức bộ máy kế toán trong các TĐKT
Trong TĐKT, CTM và các CTC đều là những pháp nhân kinh tế, thực hiện
hạch toán độc lập TĐKT không có tư cách pháp nhân nên không có bộ máy kế
toán chung cho cả TĐKT, mà chỉ có sự liên kết chặt chẽ giữa bộ máy kế toán của
CTM với các CTC về công tác hợp nhất BCTC Mỗi doanh nghiệp thành viên là
những pháp nhân độc lập đều có bộ máy kế toán riêng chịu trách nhiệm về công
tác kế toán của mình Việc lập và trình bày BCTCHN là do bộ máy kế toán của
CTM thực hiện
Sự phân công những người làm kế toán đảm nhận các phần hành kế toán cụ
thể trong bộ máy kế toán được thực hiện theo nguyên tắc nhất định và phải có sự
kết hợp giữa khối lượng công việc, tính phức tạp của công việc và trình độ của
người làm kế toán Công tác kế toán bao gồm KTTC và KTQT Trong KTTC, cần
tổ chức phân công giữa các phần hành kế toán cụ thể, đảm bảo thống nhất số liệu kế
toán tổng hợp và số liệu kế toán chi tiết nhằm cung cấp đầy đủ, kịp thời các thông
tin cần thiết phục vụ cho việc lập BCTC định kỳ của tập đoàn Trong KTQT, cần tổ
chức phân công thu nhận, xử lý và cung cấp thông tin theo yêu cầu quản lý các chỉ
tiêu quản trị cụ thể Việc phân công, phân nhiệm đối với các phần hành cụ thể của
bộ máy kế toán phải đảm bảo mối quan hệ hữu cơ giữa các phần hành kế toán Đặc
biệt, để việc lập BCTCHN được đơn giản, thuận tiện, đáp ứng đòi hỏi về chất lượng
cũng như tiến độ thì tổ chức kế toán lập BCTCHN cần được thực hiện thống nhất
trên phạm vi toàn bộ tập đoàn và không có sự tách biệt đáng kể giữa kế toán CTM,
CTC hay kế toán hợp nhất BCTC Trong quá trình tổ chức công tác kế toán tại các
CTC, công ty liên kết thì mục tiêu phục vụ cho quá trình hợp nhất cũng là mục tiêu
bắt buộc
Bộ máy kế toán của CTM có nhiệm vụ trước hết là phân công công việc cho
cán bộ kế toán tại CTM Bên cạnh đó, do có chức năng quản lý nên bộ máy kế toán
CTM còn tổ chức, điều hành và thực hiện các nội dung tổ chức công tác kế toán của
tập đoàn, đồng thời có nhiệm vụ hướng dẫn, kiểm tra công tác kế toán phục vụ việc
lập BCTCHN toàn Tập đoàn
Bộ máy kế toán của CTC ngoài việc thực hiện công việc kế toán như các doanh nghiệp thông thường, còn có nhiệm vụ báo cáo thông tin về CTM để hợp nhất BCTC Công việc cụ thể của CTC bao gồm:
- Thực hiện công tác kế toán, thống kê và tài chính liên quan đến các hoạt động của CTC và lập BCTC riêng
- Tổng hợp thông tin của đơn vị mình, giải trình những thông tin cần thiết gửi
về CTM phục vụ lập BCTCHN Bộ phận kế toán CTC cần tuân thủ các nguyên tắc và chính sách kế toán chung mà CTM đã đề ra nhằm thực hiện một cách thống nhất về quy trình, thời hạn, nội dung thông tin phục vụ lập BCTCHN
Bộ máy kế toán của CTM và các CTC có thể được thực hiện theo một trong ba
mô hình: mô hình tổ chức bộ máy kế toán tập trung, mô hình tổ chức bộ máy kế toán phân tán, mô hình tổ chức bộ máy vừa tập trung vừa phân tán
- Mô hình tổ chức bộ máy kế toán tập trung: tại các doanh nghiệp, phòng kế
toán được tổ chức theo các bộ phận kế toán, mỗi bộ phận thực hiện các phần hành
kế toán cụ thể Toàn bộ công việc xử lý thông tin được phản ảnh vào sổ kế toán đến lập BCTC toàn doanh nghiệp được tập trung ở phòng kế toán trung tâm Nếu doanh nghiệp có đơn vị hạch toán phụ thuộc thì các đơn vị này đều không tổ chức kế toán riêng mà chỉ bố trí nhân viên làm nhiệm vụ hạch toán ban đầu, thu nhận, kiểm tra, phân loại và định kỳ chuyển chứng từ kế toán cùng các báo cáo kế toán về văn phòng kế toán trung tâm để xử lý và tổng hợp thông tin Ưu điểm của mô hình này
là đảm bảo cho sự lãnh đạo, tập trung, thống nhất công tác kế toán, thuận lợi cho việc kiểm tra, kiểm soát, xử lý và cung cấp thông tin một cách kịp thời Tuy nhiên
mô hình này không phù hợp với doanh nghiệp có địa bàn hoạt động rộng, nếu áp dụng sẽ tạp nhuợc điểm lớn trong công tác kiểm tra, kiểm soát của nguời quản lý đối với công tác kế toán nói riêng và hoạt động kinh tế nói chung tại các đơn vị phụ thuộc Vì vậy mô hình này chủ yếu được áp dụng cho các doanh nghiệp có quy mô nhỏ và vừa, địa bàn hoạt động phân tán nhưng đã trang bị phương tiện kỹ thuật ghi chép, tính toán hiện đại
Mô hình tổ chức bộ máy kế toán tập trung có thể được minh hoạ theo Sơ đồ 1.1:
Trang 25Sơ đồ 1.1: Mô hình tổ chức bộ máy kế toán tập trung
- Mô hình tổ chức bộ máy kế toán phân tán: là mô hình mà các doanh nghiệp,
tổ chức một phòng kế toán trung tâm và các phòng kế toán ở các đơn vị phụ thuộc
Phòng kế toán trung tâm thực hiện các phần hành kế toán phát sinh tại doanh nghiệp,
đồng thời hướng dẫn, kiểm tra các báo cáo kế toán do các đơn vị phục thuộc; thu
nhận, kiểm tra các báo cáo kế toán do các đơn vị phụ thuộc gửi đến và tổng hợp lập
BCTC riêng toán doanh nghiệp Các đơn vị phụ thuộc có tổ chức bộ máy kế toán
riêng, thực hiện toàn bộ công tác kế toán tại đơn vị mình từ khâu hạch toán ban đầu,
ghi sổ kế toán đến lập các báo cáo kế toán thuộc phạm vi đơn vị mình theo sự phân
cấp của phòng kế toán trung tâm, định ký gửi về phòng kế toán trung tâm để tổng hợp
chung toàn doanh nghiệp Với ưu điểm lớn là công tác kế toán gắn liền với hoạt động
SXKD của đơn vị phụ thuộc, tạo điều kiện thuận lợi cho công tác kế toán kiểm tra,
kiểm soát trực tiếp các hoạt động kinh tế, tài chính, phục vụ kịp thời cho lãnh đạo ở
các đơn vị phụ thuộc, mô hình này phù hợp với các doanh nghiệp có quy mô lớn, địa
bàn hoạt động phân tán nhưng chưa trang bị phương tiện kỹ thuật hiện đại có sự phân
cấp quản lý tương đối toàn diện cho các bộ phận phụ thuộc Tuy nhiên, mô hình này
cũng có nhược điểm là bộ máy kế toán đòi hỏi số lượng cán bộ kế toán lớn, công việc
kế toán thực hiện tại nhiều địa phương khác nhau hạn chế sự kiểm tra, chỉ đạo sát sao
của ban lãnh đạo đối với toàn bộ hoạt động của doanh nghiệp
KẾ TOÁN VỐN BẰNG TIỀN VÀ THANH
KẾ TOÁN CHI PHÍ GIÁ THÀNH
KẾ TOÁN TỔNG HỢP VÀ KIỂM TRA
Mô hình tổ chức bộ máy kế toán phân tán có thể được minh hoạ theo Sơ đồ 1.2:
Sơ đồ 1.2: Mô hình tổ chức bộ máy kế toán phân tán
- Mô hình tổ chức bộ máy kế toán vừa tập trung vừa phân tán: là sự kết hợp
hai mô hình trên Đặc điểm của mô hình này là các doanh nghiệp, có một số bộ phận phân cấp và một số bộ phận không phân cấp hay phân cấp đến một mức độ nhất định Theo đó, doanh nghiệp tổ chức một phòng kế toán trung tâm; đối với các đơn vị phụ thuộc lớn, đủ trình độ quản lý được phân cấp quản lý kinh tế tài chính nội bộ ở mức
độ cao thì tổ chức bộ máy kế toán riêng, thực hiện toàn bộ công việc kế toán phát sinh ở đơn vị mình, định kỳ lập các báo cáo kế toán gửi về phòng kế toán trung tâm; còn đối với các đơn vị trực thuộc nhỏ hoặc chưa đủ trình độ quản lý, chưa được phân cấp quản lý kinh tế tài chính nội bộ ở mức độ cao thì không tổ chức bộ máy kế toán riêng mà chỉ bố trí nhân viên kế toán làm nhiệm vụ hạch toán ban đầu, định kỳ chuyển chứng từ kế toán về phòng kế toán trung tâm Phòng kế toán trung tâm thực hiện công việc kế toán phát sinh ở đơn vị chính và ở các đơn vị phụ thuộc không tổ chức bộ máy kế toán riêng; đồng thời hướng dẫn thu nhận, kiểm tra báo cáo kế toán
do các đơn vị phụ thuộc có tổ chức bộ máy kế toán riêng gửi đến, tổng hợp số liệu lập báo cáo kế toán của đơn vị đồng thời lập báo cáo kế toán tổng hợp toàn doanh nghiệp Với sự kết hợp hai mô hình vừa tập trung và phân tán, mô hình này tạo điều kiện cho
KẾ TOÁN TRƯỞNG
KẾ TOÁN VỐN BẰNG TIỀN VÀ THANH TOÁN
BỘ PHẬN KIỂM TRA
KẾ TOÁN
KẾ TOÁN TỔNG HỢP
BỘ PHẬN
KẾ TOÁN VĂN PHÒNG TRUNG TÂM
KẾ TOÁN ĐƠN VỊ PHỤ THUỘC A
KẾ TOÁN ĐƠN VỊ PHỤ THUỘC B
Trang 26kế toán gắn liền với hoạt động của đơn vị, kiểm tra, giám sát chặt chẽ các hoạt động
phục vụ quản lý có hiệu quả trong doanh nghiệp Tuy vậy, bộ máy kế toán theo mô
hình vừa tập trung vừa phân tán còn khá cồng kềnh, vì vậy thích hợp với các doanh
nghiệp có quy mô lớn, hoạt động trên địa bàn vừa tập trung vừa phân tán, các đơn vị
phụ thuộc được hạch toán, quản lý ở các mức độ khác nhau
Mô hình tổ chức bộ máy kế toán vừa tập trung vừa phân tán có thể được minh
hoạ theo Sơ đồ 1.3:
Sơ đồ 1.3: Mô hình tổ chức bộ máy kế toán vừa tập trung vừa phân tán
Tổ chức công tác kế toán tài chính và kế toán quản trị
Công tác kế toán trong mỗi doanh nghiệp bao gồm KTTC và KTQT, do đó tổ
chức bộ máy kế toán phải đáp ứng đồng thời yêu cầu của KTTC và KTQT Trong
KTTC, cần tổ chức phân công giữa các phần hành KTTC cụ thể, đảm bảo thống nhất
số liệu kế toán tổng hợp và kế toán chi tiết nhằm cung cấp đầy đủ, kịp thời các thông
tin cần thiết phục vụ cho việc lập BCTC định kỳ Trong KTQT cần tổ chức phân
công thu nhận, xử lý và cung cấp thông tin theo yêu cầu quản lý các chỉ tiêu quản trị
cụ thể Việc phân công, phân nhiệm đối với các phần hành cụ thể của bộ mày kế toán
phải đảm bảo mối quan hệ hữu cơ giữa các phần hành kế toán Trong quá trình tổ
KẾ TOÁN TRƯỞNG
KẾ TOÁN VỐN BẰNG TIỀN VÀ THANH TOÁN
BỘ PHẬN TỔNG HỢP KIỂM TRA
KẾ TOÁN ĐƠN VỊ PHỤ THUỘC
- Mô hình kết hợp giữa KTTC và KTQT: là việc kết hợp bộ phận KTTC và KTQT trong hệ thống kế toán của toàn doanh nghiệp, trong từng nội dung tổ chức công tác kế toán đều có sự kết hợp chặt chẽ giữa KTTC và KTQT Mô hình này có
ưu điểm là có thể tiết kiệm chi phí, nhân lực cho tổ chức bộ máy kế toán, tuy nhiên bộ phận KTQT không được chuyên môn hoá nên hiệu quả cung cấp thông tin không cao như mô hình tách biệt
- Mô hình hỗn hợp: là mô hình kết hợp hai hình thức tách biệt và kết hợp trên Đối với các phần hành kế toán mà hai bộ phận này có liên quan với nhau về nội dung thì
áp dụng mô hình kết hợp, còn với các phần hành kế toán mà hai bộ phận này có sự khác biệt hoặc những những phần hành kế toán có đặc thù riêng thì được tổ chức theo mô hình tách biệt Áp dụng mô hình hỗn hợp sẽ vận dụng được cả hai mô hình tách biệt và kết hợp một cách linh hoạt, nhưng đòi hỏi nhân sự về kế toán phải có trình độ chuyên môn, việc phân công, phân nhiệm phải phù hợp và kết hợp hài hoà các bộ phận kế toán
Trang bị các phương tiện để phục vụ công tác kế toán trong TĐKT
Theo xu hướng phát triển công nghệ thông tin hiện nay, các phương tiện máy tính tiên tiến, hiện đại sẽ thay thế phương pháp ghi chép thủ công, trở thành công cụ
hỗ trợ đắc lực cho công tác kế toán Vì vậy, từng bước trang bị các phương tiện kỹ thuật tiên tiến sẽ giúp cho bộ máy kế toán hoàn thành các công việc kế toán với chất lượng cao và tiết kiệm chi phí Ứng dụng tin học vào công tác kế toán là việc thiết kế các chương trình theo đúng nội dung và trình tự hạch toán của các phương pháp kế toán để thu nhận, tính toán, xử lý và cung cấp các thông tin cần thiết cũng như việc áp dụng các phương tiện kỹ thuật để thực hiện các mục đích của chương trình đã được thiết kế Việc ứng dụng công nghệ thông tin trong công tác kế toán đem lại ý nghĩa thiết thực sau:
Trang 27- Giúp cho việc thu nhận, xử lý và cung cấp thông tin trong TĐKT được nhanh
chóng, kịp thời, chất lượng và đáp ứng các yêu cầu quản lý
- Giúp công tác lưu trữ, bảo quản, tra cứu các tài liệu, số liệu, các thông tin
kinh tế, tài chính trong TĐKT được thuận lợi, an toàn, với khối lượng thông tin lớn
- Giúp cho việc thiết lập, soạn thảo, chuyển tiếp dữ liệu qua các báo cáo kế
toán trong các đơn vị trong TĐKT được nhanh chóng, chính xác, tiết kiệm thời gian
và chi phí; đảm bảo nâng cao hiệu quả của công tác kế toán
- Tạo điều kiện để tổ chức tốt công tác phân tích hoạt động kinh tế và hoàn
thành tốt chức trách, nhiệm vụ của cán bộ kế toán
Ứng dụng tin học vào công tác kế toán là việc áp dụng các chương trình phần
mềm để giảm bớt hoặc thế thao tác thủ công trong công tác kế toán Tuy nhiên, máy
tính và kỹ thuật tin học chỉ là công cụ, phương tiện hỗ trợ cán bộ kế toán trong công
tác kế toán Do vậy, cần thiết nhất vẫn là đội ngũ cán bộ kế toán có trình độ, chuyên
môn nghiệp vụ Tổ chức công tác kế toán trong điều kiện ứng dụng công nghệ thông
tin cần có những đặc điểm riêng, phù hợp với điều kiện sử dụng, khai thác các
phương tiện tính toán hiện đại
1.3.2 Tổ chức thu nhận thông tin kế toán
Thu nhận thông tin kế toán là công việc khởi đầu của toàn bộ quy trình kế
toán, có ý nghĩa quyết định tới tính trung thực, khách quan của thông tin kế toán cung
cấp Để thực hiện điều này thì công việc đầu tiên là phải thiết lập hệ thống chứng từ
kế toán
Chứng từ kế toán vừa là phương tiện thông tin, vừa là phương tiện để chứng
minh bằng văn bản có tính hợp pháp của các nghiệp vụ kinh tế tài chính phát sinh và
thực sự hoàn thành
Tổ chức thu nhận thông tin dựa vào chứng từ kế toán là công việc chủ yếu của
công tác xây dựng hệ thống thông tin kế toán Nội dung của công việc này là tổ chức
hạch toán ban đầu ở các đơn vị của TĐKT
Tổ chức xây dựng hệ thống danh mục chứng từ kế toán và các biểu
Căn cứ vào hệ thống chứng từ kế toán do BTC ban hành, mỗi đơn vị thành viên trong TĐKT lựa chọn những chứng từ kế toán cần vận dụng phù hợp với hoạt động của từng đơn vị thành viên, bao gồm:
Hệ thống chứng từ áp dụng trong CTM và các CTC:
+ Các chứng từ cung cấp thông tin cho việc tổ chức ghi nhận, xử lý và cung cấp thông tin lên BCTC riêng của CTM và các CTC như: chứng từ lao động tiền lương; chứng từ hàng tồn kho; bán hàng; tiền; tài sản cố định và các chứng từ liên quan khác
+ Các chứng từ cung cấp thông tin cho việc lập BCTCHN ở tập đoàn (CTM): Các CTC cũng phải là đơn vị kế toán có trách nhiệm cung cấp thông tin cho CTM để CTM tổng hợp và lập BCTCHN toàn Tập đoàn Vì vậy, hệ thống các chứng từ mà CTC cung cấp cho CTM cũng tuân thủ tính thống nhất của toàn tập đoàn Các giao dịch nội bộ, các khoản đầu tư vốn, các khoản phân phối, CTC cũng phải tổ chức chi tiết trên hệ thống chứng từ mới tạo điều kiện cung cấp thông tin cho CTM lập BCTCHN
Về quy định trình tự luân chuyển chứng từ khoa học, phục vụ cho việc ghi sổ
kế toán, lưu trữ và bảo quản an toàn chứng từ kế toán của đơn vị theo quy định pháp luật Để xây dựng kế hoạch, quy trình luân chuyển chứng từ hợp lý cần dựa vào những căn cứ sau:
- Căn cứ vào quy mô hoạt động, đặc điểm tổ chức quản lý và tổ chức SXKD của doanh nghiệp
- Căn cứ vào tình hình thực tế về tổ chức bộ máy kế toán, mối quan hệ giữa các bộ phận trong bộ máy kế toán và tổ chức hệ thống thông tin trong doanh nghiệp
- Căn cứ vào đặc điểm của từng loại chứng từ và các loại nghiệp vụ kinh tế mà chứng từ phản ánh
Trang 28- Đặc biệt với các chứng từ, tài liệu phục vụ cho việc lập BCTCHN thì kế toán
tập đoàn - CTM phải căn cứ vào điều kiện cụ thể (cấu trúc tập đoàn ngang hay dọc;
tập đoàn có tổ chức mạng nội bộ WAN hay chỉ là mạng cục bộ, ) để qui định trình
tự luân chuyển chứng từ giữa các đơn vị thành viên trong tập đoàn cụ thể
Hệ thống chứng từ cung cấp thông tin cho việc lập BCTCHN tại CTM:
- Trường hợp có giao dịch mua, bán nội bộ giữa các bên liên quan (mua bán
tài sản, hàng hoá giữa CTM với CTC, giữa CTC với CTC trong cùng Tập đoàn; hoặc
mua bán tài sản giữa bên liên doanh với cơ sở liên doanh đồng kiểm soát, ) cần ghi
chi tiết trên chứng từ để ghi sổ phục vụ làm căn cứ loại bỏ khi lập BCTCHN
- Trường hợp có giao dịch đầu tư vốn vào CTC, công ty liên kết, cơ sở liên
doanh đồng kiểm soát; các giao dịch về phân phối lợi nhuận giữa các đơn vị trong
Tập đoàn cũng như được phân phối lợi nhuận từ các công ty liên kết, liên doanh Các
chứng từ này không những CTM là đối tượng chịu trách nhiệm lập BCTCHN phải tổ
chức mà các đơn vị thành viên cũng phải có trách nhiệm tổ chức cung cấp thông tin
cho bộ phận lập BCTCHN của Tập đoàn
Các chứng từ thuộc nội dung kể trên có thể là: Biên bản bàn giao vốn, tài sản
cùng các chứng từ phiếu chi, phiếu xuất kho (để góp vốn); bảng kê chi tiết bán hàng
nội bộ Tập đoàn; biên bản xác nhận công nợ nội bộ giữa các thành viên trong Tập
đoàn; quyết định phương án phân phối lợi nhuận sau thuế của các đơn vị trong Tập
đoàn đã được đại hội đồng cổ đông và HĐQT thông qua; thông báo phương án phân
phối lợi nhuận sau thuế của các công ty liên kết, của cơ sở kinh doanh đồng kiểm
soát; báo cáo chi tiết về bán hàng hoá, tài sản trong nội bộ Tập đoàn; các chứng từ
thu (phiếu thu, giấy báo có ) về việc đã nhận các khoản được phân phối trong tập
đoàn; và các tài liệu về BCTC riêng của các đơn vị thành viên Tập đoàn, bảng tổng
hợp các bút toán điều chỉnh, bảng tổng hợp các chỉ tiêu hợp nhất,
Tổ chức hạch toán ban đầu, lập chứng từ kế toán để ghi nhận các
nghiệp vụ kinh tế phát sinh
Tổ chức hạch toán ban đầu là ghi nhận tất cả các nghiệp vụ kinh tế tài chính
phát sinh tại các bộ phận vào chứng từ kế toán Các nghiệp vụ kinh tế, tài chính phát
sinh ở nhiều địa điểm, thời điểm khác nhau, liên quan đến nhiều bộ phận khác nhau
đòi hỏi kế toán phải quy định, hướng dẫn cách ghi chép trên chứng từ kế toán một
cách cụ thể, chi tiết đảm bảo cho các chứng từ kế toán được lập đúng yêu cầu của pháp luật và chính sách, chế độ kế toán của Nhà nước, làm căn cứ đáng tin cậy để ghi
sổ kế toán Hạch toán ban đầu không hoàn toàn do nhân viên kế toán thực hiện mà có thể do các đối tượng khác tiến hành Tổ chức thu nhận thông tin vào chứng từ kế toán
là một công việc chủ yếu của của công tác xây dựng thông tin kế toán
Nội dung của công việc này là: tổ chức hạch toán ban đầu ở các bộ phận trong doanh nghiệp và tổ chức thực hiện nghiệp vụ nội sinh
Tổ chức hạch toán ban đầu ở các bộ phận trong doanh nghiệp hay là tổ chức
hạch toán ban đầu các nghiệp vụ ngoại sinh là công việc khởi đầu của quy trình kế
toán nhưng không hoàn toàn do nhân viên kế toán thực hiện, mà có thể do nhân viên
ở các bộ phận trong đơn vị thực hiện với sự hướng dẫn của kế toán trưởng Nội dung công việc chủ yếu của tổ chức hạch toán ban đầu bao gồm:
- Quy định việc sử dụng các mẫu chứng từ ban đầu thích hợp với từng loại nghiệp vụ kinh tế, tài chính phát sinh
Đối với TĐKT, hệ thống chứng từ áp dụng cho TĐKT được lựa chọn thống nhất, đồng thời quy định, hướng dẫn các bộ phận liên quan ghi chép đúng, chính xác, đầy đủ các yếu tố trên chứng từ kế toán Đặc biệt trong CTM và các công ty thành viên, mỗi chứng từ cần được quy định chặt chẽ, chi tiết hơn về cách thức ghi từng chỉ tiêu cụ thể phục vụ cho việc ghi sổ kế toán và cung cấp thông tin BCTCHN của tập đoàn Chẳng hạn, trong trường hợp có giao dịch kinh tế giữa các bên liên quan, cần ghi chi tiết trên chứng từ để ghi sổ phục vụ làm căn cứ loại trừ khi lập BCTCHN Kế toán cần cụ thể hoá và bổ sung thêm một số nội dung trên chứng từ để phục vụ cho việc nhận diện, thu thập thông tin quá khứ, chi tiết theo mục tiêu quản lý Bên cạnh
đó, KTQT của CTM cần sử dụng rộng rãi các chứng từ hướng dẫn, cụ thể hoá hệ thống chứng từ hướng dẫn, chọn lọc, bổ sung, sửa đổi các chỉ tiêu trên chứng từ cho phù hợp với nội dung KTQT, thiết kế một số chứng từ kế toán cần thiết để phản ánh các nội dung thông tin thích hợp theo yêu cầu của quản trị tập đoàn
- Quy định và hướng dẫn người chịu trách nhiệm ghi nhận thông tin về nghiệp
vụ kinh tế, tài chính phát sinh vào chứng từ ban đầu ở từng bộ phận
- Phân công kế toán viên chịu trách nhiệm thu nhận và kiểm tra các chứng từ ban đầu đảm bảo tính trung thực của thông tin về các nghiệp vụ kinh tế, tài chính phát sinh
Trang 29Theo yêu cầu và xử lý thông tin kế toán, trong quá trình thu thập thông tin,
phát sinh các nghiệp vụ chỉ do kế toán thực hiện gọi là nghiệp vụ nội sinh Tổ chức
thực hiện thu nhận thông tin về các nghiệp vụ nội sinh phát sinh trong quá trình xử lý
thông tin kế toán do các kế toán viên trực tiếp thực hiện trên cơ sở số liệu, thông tin
kế toán đã được hệ thống hoá từ các chứng từ ban đầu, hoặc phải tính toán, xác định
một số khoản mục chi phí kinh doanh trong kỳ trên cơ sở các dự toán, các kế hoạch,
gồm các nội dung chủ yếu như:
- Quy định việc sử dụng các mẫu chứng từ thích hợp đối với từng loại nghiệp
vụ nội sinh để ghi nhận thông tin, làm căn cứ ghi sổ kế toán trước khi khoá sổ Các
mẫu chứng từ này thường được gọi là các Bảng kê, các Bảng phân bổ, các Bảng tổng
hợp và phân bổ
- Phân công từng bộ phận kế toán, từng kế toán viên thực hiện từng nghiệp vụ
xử lý thông tin kế toán phù hợp với chức năng, nhiệm vụ
Về việc lập chứng từ trong TĐKT, tùy theo điều kiện cụ thể, chứng từ kế toán
có thể lập thủ công hoặc lập bằng máy Việc lập các chứng từ kế toán cũng có thể sử
dụng các chứng từ thủ công (chứng từ trên giấy) hoặc chứng từ điện tử
Tổ chức kiểm tra, hoàn thiện chứng từ kế toán
Tổ chức kiểm tra kế toán là công việc quan trọng của người làm kế toán nó
quyết định tính trung thực của số liệu kế toán Trước khi ghi sổ kế toán, người làm kế
toán phải kiểm tra thông tin về các nghiệp vụ kinh tế tài chính phát sinh phản ánh trên
các chứng từ kế toán Đây là công việc thường xuyên và cần thiết nhằm đảm bảo tính
chính xác cho việc ghi chép và cung cấp thông tin Kiểm tra chứng từ kế toán có ý
nghĩa quyết định đối với chất lượng của công tác kế toán, vì vậy cần phải thực hiện
nghiêm túc trước khi tiến hành ghi sổ kế toán
Để công tác kiểm tra chứng từ kế toán được hiệu quả cần tổ chức phân công,
phân nhiệm cho từng người làm kế toán một cách khoa học, hợp lý, đảm bảo tính
hiệu quả
Nội dung kiểm tra chứng từ kế toán trước khi ghi sổ kế toán, bao gồm:
- Kiểm tra tính đúng đắn của nghiệp vụ kinh tế, tài chính phát sinh ở đơn vị
nhằm loại trừ những sai sót, những hiện tượng giả mạo chứng từ để tham ô hoặc
thanh toán khống;
- Kiểm tra tính hợp pháp của nghiệp vụ kinh tế, tài chính phát sinh phản ánh trong chứng từ kế toán nhằm đảm bảo tuân thủ các chế độ kế toán, thể lệ về quản lý kinh tế, tài chính hiện hành, hạn chế hành vi vi phạm làm tổn hại đến tài sản của đơn vị;
- Kiểm tra tính hợp lý của nghiệp vụ kinh tế tài chính phát sinh phản ánh trong chứng từ kế toán Tính hợp lý đòi hỏi nội dung thông tin về nghiệp vụ kinh tế phát sinh phải phù hợp với kế hoạch, với dự toán, phù hợp với định mức kinh tế, kỹ thuật, phù hợp với giá cả thị trường
- Kiểm tra tính trung thực của các chỉ tiêu hiện vật và giá trị;
- Kiểm tra việc tính toán các chỉ tiêu phản ánh trong chứng từ kế toán nhằm đảm bảo tính chính xác của số liệu kế toán;
- Kiểm tra việc ghi chép đầy đủ các yếu tố của chứng từ nhằm đảm bảo tính pháp lý của chứng từ kế toán
Sau khi kiểm tra các chứng từ kế toán, các chứng từ kế toán được phân loại theo địa điểm phát sinh, theo tính chất của từng loại chứng từ… Việc ghi sổ kế toán phụ thuộc vào từng hình thức kế toán áp dụng ở mỗi đơn vị
Tổ chức luân chuyển chứng từ kế toán
Để tổ chức khoa học và hợp lý quá trình luân chuyển chứng từ, cần phải quy định rõ chức trách, nhiệm vụ của từng bộ phận, từng nhân viên đối với từng loại nghiệp vụ kinh tế, tài chính phát sinh Trong từng quy trình luân chuyển chứng từ cần quy định rõ trình tự luân chuyển chứng từ khi lập hoặc nhận phải được tuần tự luân chuyển qua các bộ phận nào, thời gian thực hiện hoặc kiểm tra nội dung nghiệp vụ kinh tế đến khâu cuối cùng là lưu trữ chứng từ
Mỗi loại chứng từ kế toán có vị trí, tác dụng và đặc tính vận động khác nhau trong quản lý, vì thế cần phải xây dựng kế hoạch, quy trình luân chuyển chứng từ hợp
lý, đảm bảo cho chứng từ kế toán vận động qua các khâu nhanh nhất, tránh được khâu trung gian
Tổ chức bảo quản, lưu trữ và hủy bỏ chứng từ kế toán
Việc bảo quản và lưu trữ chứng từ kế toán phải chấp hành đúng theo các quy định hiện hành Đơn vị phải thực hiện về loại chứng từ lưu trữ, địa điểm lưu trữ và thời hạn lưu trữ Tuyệt đối không để hư hỏng, mất mát, đảm bảo có thể sử dụng khi
Trang 30cần thiết để phục vụ cho công tác kiểm tra kế toán, thanh tra kinh tế Mọi trường
hợp mất mát chứng từ gốc đều phải báo cáo với bộ phận chức năng để có biện pháp
xử lý kịp thời Đối với trường hợp mất chứng từ (hóa đơn bán hàng, séc trắng…)
phải báo cáo với cơ quan thuế và cơ quan công an địa phương về số lượng mất,
hoàn cảnh mất… Đồng thời, phải có biện pháp thông báo và vô hiệu hóa chứng từ
đã bị mất
Khi các chứng từ hết thời hạn lưu trữ, chứng từ được phép tiêu hủy theo
quy định
Một vấn đề cũng cần quan tâm trong tổ chức chứng từ kế toán ở các doanh
nghiệp là ứng dụng công nghệ thông tin vào vào công tác kế toán, trong đó có tổ chức
chứng từ điện tử Bằng việc thiết kế các mẫu chứng từ có sẵn cho từng loại nghiệp vụ
kinh tế và được tổ chức mã hóa cho từng loại chương trình sẽ giảm bớt khối lượng
công việc của nhân viên kế toán trong quá trình lập và luân chuyển chứng từ, tạo mối
liên hệ chặt chẽ giữa các bộ phận phát sinh Tuy nhiên, tổ chức vấn đề này cần thiết
phải tính đến khả năng chống sửa chữa, bảo mật thông tin của chứng từ kế toán
Trên cơ sở yêu cầu chung của chứng từ kế toán, tùy theo đặc điểm hoạt động
và yêu cầu quản lý cụ thể, mỗi đơn vị cần tổ chức chứng từ kế toán sao cho phù hợp
cung cấp thông tin kịp thời và hiệu quả cho quá trình quản lý
Tổ chức thu nhận thông tin kế toán phục vụ công tác KTQT
Hệ thống thông tin đối với công tác KTQT bao gồm thông tin trong quá khứ
và thông tin tương lai Dựa vào hệ chứng từ bắt buộc và hệ thống chứng từ hướng
dẫn sử dụng trong KTTC để thu thập hệ thống các thông tin quá khứ chi tiết theo
yêu cầu KTQT Lúc này, cả KTTC và KTQT đều sử dụng chung một hệ thống
chứng từ kế toán Bên cạnh hệ thống chứng từ sử dụng trong công tác KTTC, doanh
nghiệp cần phải thiết lập một hệ thống chứng từ riêng phục vụ cho công tác KTQT
Các thông tin này có thể được chi tiết hơn trên chứng từ KTTC hoặc liên quan đến
các thông tin tương lai như thông tin về kế hoạch, định mức, dự báo… Chứng từ kế
toán phục vụ công tác KTQT được thiết kế hết sức linh hoạt, theo yêu cầu quản lý
của doanh nghiệp
Đối với các chứng từ KTQT, việc lưu trữ và huỷ được thực hiện theo quyết
định của giám đốc trên cơ sở vận dụng các quy định của pháp luật
Tổ chức thu nhận thông tin kế toán trong điều kiện ứng dụng công nghệ thông tin
Khi ứng dụng công nghệ thông tin vào tổ chức thu nhận thông tin kế toán cần đảm bảo nguyên tắc ghi nhận thông tin về toàn bộ hoạt động kinh tế, tài chính phát sinh ở các đơn vị trong TĐKT Do đó, phải giải quyết tốt mối quan hệ giữa ghi nhận thông tin theo hệ thống các nghiệp vụ kinh tế tài chính phát sinh ở các đơn vị Phần mềm kế toán phải đảm bảo nhập đầy đủ dữ liệu về toàn bộ các nghiệp vụ kinh tế phát sinh, không bị trùng lắp hoặc bỏ sót nghiệp vụ và thuận tiện cho việc sửa chữa do nhập liệu không chính xác
Các chứng từ kế toán nhất thiết phải được mã hoá theo loại, tên gọi chứng
từ và được tổ chức theo các tập tin Việc mã hóa chứng từ phải đảm bảo yêu cầu đơn giản, dễ kiểm tra, đối chiếu, dễ tổng hợp và đảm bảo bảo mật dữ liệu Những thông tin được tạo ra, gửi đi, nhận và lưu trữ bằng phương tiện điện tử trong hoạt động tài chính được gọi là chứng từ điện tử Chứng từ điện tử được coi là chứng từ
kế toán khi có đầy đủ các nội dung quy định đối với chứng từ kế toán bằng giấy và được thể hiện dưới dạng dữ liệu điện tử, được mã hoá mà không bị thay đổi trong quá trình truyền qua mạng máy tính hoặc trên vật mang tin như bang tư, đĩa từ, các loại thẻ thanh toán Khi sử dụng chứng từ điện tử, phải đảm bảo tính bảo mật
và bảo toàn dữ liệu, thông tin trong quá trình sử dụng và lưu trữ; phải có biện pháp quản lý, kiểm tra chống các hình thức lợi dụng khai thác, thâm nhập, sao chép, đánh cắp hoặc sử dụng chứng từ điện tử không đúng quy định Chứng từ điện tử khi bảo quản, được quản lý như tài liệu kế toán ở dạng nguyên bản nhưng phải có
đủ thiết bị phù hợp để sử dụng khi cần thiết Chứng từ điện tử có thể được chuyển đổi thành chứng từ bằng giấy và ngược lại Các đơn vị trong TĐKT cần phải tổ chức bảo quản và lưu trữ chứng từ điện tử Việc bảo quản, lưu trữ phải được thực hiện với các điều kiện kỹ thuật chống thoái hoá chứng từ điện tử và chống tình trạng truy cập thông tin bất hợp pháp từ bên ngoài Trước khi đưa vào lưu trữ phải
in chứng từ điện tử ra giấy, nếu lưu trữ chứng từ điện tử bằng bản gốc trên thiết bị đặc biệt thì phải lưu trữ các thiết bị đọc tin phù hợp đảm bảo khai thác được khi cần thiết
Trang 311.3.3 Tổ chức hệ thống hóa, xử lý thông tin kế toán
Thông tin kế toán là thông tin về toàn bộ hoạt động kinh tế, tài chính ở đơn vị,
mà hoạt động kinh tế, tài chính này được hình thành từ các nghiệp vụ kinh tế, tài
chính đã phát sinh và thực sự hoàn thành, vì vậy thu nhận, xử lý và hệ thống hóa
thông tin kế toán là thu nhận, xử lý và hệ thống hóa thông tin về các nghiệp vụ kinh
tế, tài chính phát sinh ở đơn vị
Thu nhận, xử lý và hệ thống hóa thông tin kế toán là công việc quan trọng
trong toàn bộ quy trình kế toán, có ý nghĩa lớn và góp phần quyết định đối với tính
trung thực, khách quan của số liệu kế toán và báo cáo kế toán và là căn cứ để kiểm tra
hoạt động kinh tế, tài chính của đơn vị Do đó, việc thu nhận, xử lý và hệ thống hóa
thông tin kế toán cần đảm bảo các yêu cầu sau:
- Xử lý và hệ thống hóa theo đúng các nguyên tắc kế toán được thừa nhận,
nhằm đảm bảo tính thực tế, khách quan của hoạt động kinh tế, tài chính ở đơn vị
- Xử lý và hệ thống hóa phải gắn với trách nhiệm của những người thực hiện
các nghiệp vụ kinh tế, tài chính phát sinh để có thể kiểm tra trách nhiệm vật chất của
họ trong việc thực hiện các nghiệp vụ này khi cần thiết
- Xử lý và hệ thống hóa rõ các chỉ tiêu mà nghiệp vụ kinh tế, tài chính phát
sinh tác động đến, đồng thời phải trình bày rõ căn cứ tính toán, xác định các chỉ
tiêu này
- Xử lý và hệ thống hóa thông tin kế toán phải kịp thời phục vụ tốt cho công
việc điều hành và quản lý kinh tế, tài chính ở doanh nghiệp Hiệu lực của thông tin kế
toán chỉ phát huy cao, khi thông tin được ghi nhận và cung cấp kịp thời, đặc biệt là
trong cơ chế thị trường
1.3.3.1 Vận dụng tổ chức hệ thống tài khoản kế toán
Tài khoản kế toán là hình thức biểu hiện của phương pháp tài khoản kế toán,
được sử dụng để phản ánh một cách thường xuyên, liên tục, có hệ thống số hiện có và
sự vận động của đối tượng kế toán cụ thể Tài khoản kế toán được mở để ghi chép,
phản ánh một cách thường xuyên, liên tục, có hệ thống tình hình hiện có và sự biến
động của từng đối tượng kế toán Tài khoản kế toán phản ánh các thông tin về tài sản,
nguồn vốn, công nợ, doanh thu, chi phí và kết quả hoạt động kinh doanh của một
doanh nghiệp Trong doanh nghiệp có rất nhiều các đối tượng kế toán khác nhau, nên cần thiết phải sử dụng các tài khoản kế toán khác nhau để thu nhận, xử lý, phân tích
và cung cấp thông tin phục vụ yêu cầu quản lý của doanh nghiệp
Hệ thống tài khoản kế toán là bảng kê các tài khoản kế toán dùng cho đơn vị
kế toán Mục đích cơ bản của việc xây dựng hệ thống tài khoản kế toán là hướng tới việc hệ thống hoá thông tin về tình hình hiện có và sự vận động của các đối tượng kế toán trong doanh nghiệp Khi xây dựng hệ thống tài khoản kế toán cần quan tâm đến khả năng đáp ứng của các tài khoản đối với yêu cầu hệ thống hoá và cung cấp thông tin tổng quát và thông tin chi tiết phục vụ cho công tác quản lý hay không Vì vậy, xây dựng hệ thống tài khoản kế toán được coi là khâu quan trọng và có ý nghĩa lớn trong tổ chức công tác kế toán ở các tập đoàn
Đối với công tác KTTC: Dựa trên những quy định chung của quốc gia, các
đơn vị thành viên tập đoàn lựa chọn, áp dụng một hệ thống tài khoản kế toán phù hợp với chức năng, nhiệm vụ, yêu cầu quản lý cũng như đặc điểm SXKD và lĩnh vực hoạt động của đơn vị, bao gồm:
- Hệ thống tài khoản kế toán áp dụng trong CTM
- Hệ thống tài khoản kế toán áp dụng trong các CTC Như vậy, tập đoàn cần nắm được hệ thống tài khoản kế toán áp dụng và phương pháp ghi chép trên tài khoản trong từng đơn vị thành viên Đồng thời, cần xác định nội dung ghi chép trên các tài khoản kế toán mở riêng cho bộ phận làm nhiệm
vụ lập BCTCHN
Lưu ý là với cùng một tài khoản sử dụng, song phạm vi, nội dung và phương pháp phản ánh trên tài khoản có thể khác nhau đối với mục đích lập BCTC riêng và lập BCTCHN
Đơn vị cũng có thể đề nghị bổ sung tài khoản cấp 1 hoặc cấp 2 đối với các tài khoản chưa có trong hệ thống tài khoản kế toán doanh nghiệp để phản ánh nội dung kinh tế riêng có phát sinh tại đơn vị và chỉ được thực hiện sau khi BTC chấp thuận bằng văn bản
Đối với công tác KTQT: Để đáp ứng yêu cầu quản lý tập đoàn, CTM có thể
cụ thể hoá, bổ sung thêm tài khoản cấp 3, cấp 4… phục vụ cho KTQT nhưng phải phù hợp với nội dung, kết cấu và phương pháp hạch toán của tài khoản cấp trên tương
Trang 32ứng Việc cụ thể hoá hệ thống tài khoản chi tiết phải đảm bảo phản ánh, hệ thống hoá
đầy đủ, cụ thể mọi nội dung của đối tượng hạch toán, mọi nghiệp vụ kinh tế tài chính
phát sinh, phù hợp với những quy định thống nhất của nhà nước và các văn bản
hướng dẫn thực hiện của các cơ quan quản lý cấp trên, đáp ứng yêu cầu xử lý thông
tin trên máy vi tính và thoả mãn nhu cầu thông tin cho các đối tượng sử dụng Trên
các tài khoản chi tiết phản ánh kết hợp thước đo giá trị với các thước đo khác Chẳng
hạn, trên các tài khoản chi phí cần mở chi tiết để có thể vừa tổng hợp được chi phí
theo nội dung kinh tế, vừa tổng hợp được chi phí theo công dụng kinh tế, lại vừa có
thể tổng hợp được chi phí theo mối quan hệ giữa chi phí với khối lượng hoạt động
Trong điều kiện ứng dụng công nghệ thông tin: Phải đảm bảo mối quan hệ
ghi chép, đối chiếu giữa kế toán tổng hợp với kế toán chi tiết theo yêu cầu quản lý
của các đơn vị thành viên trong TĐKT Các thông tin kế toán do phần mềm kế toán
cung cấp vừa phải đảm bảo số liệu để lập BCTC vừa phải cung cấp thông tin để lập
các báo cáo KTQT Để đáp ứng yêu cầu của công tác KTQT, các đơn vị cần xây
dựng hệ thống tài khoản KTQT để quản lý đến từng loại vật tư, tài sản, chi phí, dự
toán chi phí Các tài khoản kế toán cần được mã hoá, hệ thống hóa một cách thống
nhất Việc mã hoá các tài khoản kế toán cũng cần phải thuận tiện trong trường hợp
thêm, bớt hoặc sửa đổi khi cần thiết
1.3.3.2 Vận dụng tổ chức vận dụng hình thức kế toán và hệ thống sổ kế toán
Hình thức kế toán là hệ thống sổ kế toán để ghi chép, hệ thống hoá và tổng
hợp số liệu từ các chứng từ kế toán theo trình tự và phương pháp ghi sổ nhất định Tổ
chức vận dụng hình thức kế toán trong TĐKT thực chất là tổ chức hệ thống sổ kế
toán áp dụng cho CTM và các CTC, bao gồm các sổ kế toán tổng hợp, các sổ kế toán
chi tiết đầy đủ chủng loại, có kết cấu phù hợp, đảm bảo mối quan hệ đối chiếu,
phương pháp ghi chép hợp lý nhằm thu nhận và cung cấp kịp thời, đầy đủ thông tin
kế toán phục vụ cho công tác quản lý tập đoàn cũng như từng đơn vị thành viên
CTM và các CTC phải dựa trên những quy định chung của quốc gia đồng thời căn cứ
vào đặc điểm SXKD, quy mô, yêu cầu quản lý, trình độ nhân viên kế toán, phương
tiện tính toán… để lựa chọn hình thức kế toán phù hợp Trên cơ sở đó, đơn vị cụ thể
hoá các sổ kế toán theo hình thức kế toán đã lựa chọn
Đối với công tác KTTC: các sổ kế toán tổng hợp vận dụng phải tuân thủ mọi
nguyên tắc cơ bản về loại sổ, kết cấu các loại sổ, mối quan hệ và sự kết hợp giữa các
loại sổ, trình tự và kỹ thuật ghi chép các loại sổ kế toán Các sổ kế toán chi tiết mang tính hướng dẫn, đơn vị có thể cụ thể hoá để phản ánh thông tin chi tiết theo yêu cầu quản lý của đơn vị Như vậy, Tập đoàn cần nắm được:
- Thứ nhất, hệ thống sổ sách kế toán áp dụng trong từng đơn vị thành viên (CTM, CTC) Hệ thống sổ kế toán ở từng đơn vị thành viên trong tập đoàn cần được thiết kế mẫu linh hoạt, vừa đảm bảo xử lý, tổng hợp số liệu để cung cấp số liệu lập BCTC riêng của từng đơn vị thành viên và theo dõi chi tiết để báo cáo theo bộ phận kinh doanh (lĩnh vực kinh doanh, khu vực kinh doanh)
- Thứ hai, xác định nội dung ghi chép trên các sổ kế toán mở riêng cho bộ phận làm nhiệm vụ lập BCTCHN Chính vì vậy, bộ phận làm nhiệm vụ lập BCTCHN cần thiết phải sử dụng một hệ thống sổ kế toán nhằm phân tích, tổng hợp số liệu liên quan phục vụ cho yêu cầu điều chỉnh cho lập BCTCHN
Đối với công tác KTQT: Sổ kế toán được thiết kế mẫu theo yêu cầu quản lý
nội bộ và theo từng chỉ tiêu cụ thể Các chỉ tiêu được phản ánh trong các mẫu sổ phải đảm bảo cung cấp được những thông tin chi tiết phục vụ cho việc lập báo cáo KTQT
và phân tích thường xuyên Ngoài số liệu thực tế, sổ KTQT còn cần thiết phải có thêm phần ghi các chỉ tiêu dự toán, kế hoạch nhằm đảm bảo cơ sở cho việc kiểm tra tình hình thực hiện dự toán, thực hiện định mức theo các chỉ tiêu phản ánh trên các
sổ Đồng thời, ngoài việc phản ánh các chỉ tiêu về giá trị còn phải phản ánh các chỉ tiêu hiện vật Các sổ kế toán cần phải phản ánh theo nhiều chỉ tiêu phù hợp với các tài khoản chi tiết để có thông tin hữu ích sử dụng trên báo cáo KTQT đặc thù để có thể tổng hợp theo nhiều yêu cầu khác nhau nhằm kiểm soát, đánh giá từng bộ phận CTM
có thể thiết kế các sổ kế toán mới phù hợp với yêu cầu quản lý chi phí, doanh thu và xác định kết quả kinh doanh theo bộ phận, mặt hàng, công việc và các yêu cầu khác của KTQT
Tổ chức hệ thống sổ kế toán trong điều kiện ứng dụng công nghệ thông tin: Việc thiết kế trên phần mềm kế toán được thực hiện theo nguyên tắc của một
trong các hình thức kế toán thủ công hoặc kết hợp các hình thức kế toán đó Mặc dù phần mềm kế toán không hiển thị đầy đủ quy trình ghi sổ kế toán, nhưng phải in được đầy đủ các sổ kế toán và đáp ứng được các yêu cầu về nội dung và hình thức theo quy định Khi áp dụng phần mềm kế toán, các đơn vị cần lựa chọn hình thức kế toán nào
Trang 33phù hợp với đơn vị mình Phần mềm kế toán được thiết kế theo hình thức kế toán nào
sẽ có các loại sổ của hình thức kế toán đó nhưng không hoàn toàn giống mẫu sổ kế
toán thủ công, chương trình phần mềm kế toán phải thuận tiện cho việc sửa đổi, chữa
sổ kế toán theo đúng nguyên tắc chữa sổ kế toán trong các trường hợp sai sót Phương
pháp chữa sổ kế toán trong trường hợp áp dụng phần mềm kế toán là phương pháp
ghi bổ sung và phương pháp ghi số âm
1.3.4 Tổ chức phân tích và cung cấp thông tin kế toán
1.3.4.1 Tổ chức lập báo cáo kế toán để cung cấp thông tin kế toán
Báo cáo kế toán là phương tiện để truyền tải, cung cấp thông tin đến các đối
tượng sử dụng thông tin Hệ thống báo cáo kế toán của doanh nghiệp bao gồm: báo
cáo KTTC và báo cáo KTQT
Tổ chức lập và công khai báo cáo tài chính
Hệ thống BCTC là hệ thống báo cáo bắt buộc, phản ánh tổng quát và có hệ
thống những thông tin kinh tế tài chính chủ yếu của doanh nghiệp trong một thời kỳ
nhất định vào một hệ thống biểu mẫu quy định thống nhất BCTC phản ánh theo một
cấu trúc chặt chẽ với hệ thống số liệu được tổng hợp từ các sổ kế toán tổng hợp và chi
tiết của doanh nghiệp cùng với những thuyết minh cần thiết bằng văn bản về những
số liệu đó BCTC phản ánh một cách trung thực và hợp lý tính hình hoạt động kinh
doanh và các luồng tiền của doanh nghiệp Để đảm bảo yêu cầu này, BCTC phải
được lập và trình bày trên cơ sở tuân thủ các chuẩn mực kế toán, chế độ kế toán và
các quy định hiện hành có liên quan Việc thuyết minh BCTC phải căn cứ vào yêu
cầu trình bày thông tin quy định trong các Chuẩn mực kế toán Các thông tin trọng
yếu phải được giải trình để giúp người đọc hiểu đúng thực trạng tài chính của doanh
nghiệp Với đối tượng sử dụng thông tin trên BCTC của doanh nghiệp chủ yếu là các
đối tượng bên ngoài doanh nghiệp như các cơ quan quản lý nhà nước và các đối
tượng khác (chủ nợ, nhà đầu tư, các đối tượng có quan hệ kinh tế liên quan), thông tin
trên BCTC thường được trình bày một cách công khai, minh bạch theo quy định
chung nhất và thông lệ phổ biến nhằm kiểm tra, đánh giá tình hình tuân thủ các quy
định về quản lý tài chính của đơn vị theo các văn bản pháp quy hiện hành
Trong TĐKT, các đơn vị thành viên hạch toán độc lập nên có hệ thống BCTC
riêng của CTM và hệ thống BCTC riêng của từng CTC
- Bảng cân đối kế toán
- Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh
- Báo cáo lưu chuyển tiền tệ
- Bản thuyết minh BCTC
Hệ thống BCTC giữa niên độ bao gồm:
- Bảng cân đối kế toán giữa niên độ
- Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh giữa niên độ
- Báo cáo lưu chuyển tiền tệ giữa niên độ
- Bản thuyết minh BCTC giữa niên độ
Công việc trước khi lập BCTC bao gồm:
- Thu nhận đầy đủ chứng từ kế toán tính đến thời điểm lập BCTC, đảm bảo các nghiệp vụ kinh tế đã được ghi chép, phản ánh một cách có hệ thống vào
Căn cứ để lập BCTC: là số liệu từ BCTC năm trước (kỳ trước) và số liệu tại
thời điểm báo cáo từ các sổ kế toán tổng hợp hoặc sổ kế toán chi tiết của doanh nghiệp BCTC phải tuân thủ các yêu cầu:
- Trung thực và hợp lý
Trang 34- Lựa chọn và áp dụng các chính sách kế toán phù hợp với quy định của từng
chuẩn mực kế toán nhằm đảm bảo cung cấp thông tin thích hợp với nhu cầu ra các
quyết định kinh tế của người sử dụng và cung cấp được các thông tin đáng tin cậy
Khi lập BCTC, cán bộ kế toán được phân công cần kiểm tra tính hợp lý của
từng chỉ tiêu trong báo cáo nhằm tránh nhầm lẫn và các sai phạm xảy ra, đồng thời
tuân thủ thời gian theo tiến độ quy định
Sau khi lập BCTC, kế toán trưởng và người doanh nghiệp phải kiểm tra thông
tin trên BCTC ở các khía cạnh trọng yếu BCTC hoàn thành phải được tổ chức công
khai theo quy định hiện hành Nội dung, hình thức và thời hạn công khai BCTC của
doanh nghiệp phải tuân thủ theo pháp luật hiện hành về kế toán
Hệ thống BCTCHN
TĐKT là một chủ thể kinh tế, với các doanh nghiệp thành viên có mối liên kết
chặt chẽ vì lợi ích đầu tư tài chính nên ảnh hưởng rất lớn đến việc tổ chức cung cấp
thông tin kế toán ra bên ngoài Nhu cầu sử dụng thông tin của các đối tượng quan tâm
giờ đây không chỉ dừng lại ở phạm vi từng đơn vị thành viên riêng lẻ mà mở rộng ra
phạm vi toàn Tập đoàn Vì vậy, các đơn vị thành viên phải lập và trình bày BCTC
riêng còn toàn Tập đoàn phải lập BCTC chung để cung cấp thông tin tổng hợp về
hoạt động của toàn bộ Tập đoàn với tư cách một thực thể kinh tế thống nhất - được
gọi là BCTCHN
Hệ thống BCTCHN bao gồm:
- Bảng cân đối kế toán hợp nhất
- Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh hợp nhất
- Báo cáo lưu chuyển tiền tệ hợp nhất
- Bản thuyết minh BCTC hợp nhất
CTM phải lập và trình bày BCTCHN, trừ trường hợp CTM đồng thời là CTC
bị công ty khác sở hữu toàn bộ hoặc gần như toàn bộ (bị công ty khác nắm giữ trên
90% quyền biểu quyết) và nếu được cổ đông thiểu số trong công ty chấp thuận thì
không phải lập và trình bày BCTCHN
CTM khi lập BCTCHN phải hợp nhất BCTC của tất cả các CTC ở trong và
ngoài nước, trừ khi:
- Quyền kiểm soát của CTM chỉ là tạm thời vì CTC này chỉ được mua và nắm
giữ cho mục đích bán lại thời gian không quá 12 tháng
- Hoạt động của CTC bị hạn chế trong thời gian trên 12 tháng và điều này ảnh hưởng đáng kể tới khả năng chuyển vốn cho CTM
Khi lập BCTCHN, CTM và Tập đoàn phải tuân thủ quy định tại Chuẩn mực
kế toán “Báo cáo tài chính hợp nhất và kế toán các khoản đầu tư vào CTC” Để phục
vụ cho việc hợp nhất BCTC Tập đoàn, các thông tin trên BCTC riêng của từng CTC phải được xử lý, tổng hợp theo biểu mẫu và quy ước mà CTM đã quy định cho toàn Tập đoàn
Trách nhiệm lập BCTCHN thuộc về CTM nên các đơn vị thành viên trong Tập đoàn cần lập và hoàn thiện BCTC riêng và nộp BCTC riêng đã được kiểm toán
về CTM theo thời gian đã được CTM quy định
Trình tự hợp nhất BCĐKT và BCKQHĐKD được thực hiện như sau:
- Thứ nhất, BCĐKT và BCKQHĐKD của CTM và các CTC sẽ được hợp nhất theo từng khoản mục bằng cách cộng các khoản tương đương của tài sản, nợ phải trả, vốn chủ sở hữu, doanh thu, thu nhập khác và chi phí
- Thứ hai, giá trị ghi sổ khoản đầu tư của CTM trong từng CTC, phần tài sản thuần của CTM nắm giữ trong VCSH của CTC và ghi nhận lợi thế thương mại hoặc lãi từ giao dịch mua rẻ (nếu có)
- Thứ ba, phân bổ lợi thế thương mại (nếu có)
- Thứ tư, tách lợi ích cổ đông không kiểm soát
- Thứ năm, loại trừ toàn bộ các giao dịch nội bộ trong tập đoàn
- Thứ sáu, lập Bảng bút toán điều chỉnh và Bảng tổng hợp các chỉ tiêu hợp nhất Sau khi lập các bút toán điều chỉnh, căn cứ vào chênh lệch giữa số điều chỉnh tăng và số điều chỉnh giảm của các chỉ tiêu thuộc BCKQHĐKD, kế toán thực hiện bút toán kết chuyển để phản ánh tổng ảnh hưởng phát sinh từ việc điều chỉnh doanh thu, chi phí tới lợi nhuận sau thuế chưa phân phối
- Thứ bảy, BCTCHN được lập căn cứ vào Bảng tổng hợp các chỉ tiêu hợp nhất sau khi đã được điều chỉnh và loại trừ cho các giao dịch phát sinh trong nội
bộ tập đoàn
Lưu ý, khi hợp nhất BCTC cần có sự điều chỉnh, đánh giá, quy đổi theo quy định khi các BCTC được sử dụng để hợp nhất được lập cho các kỳ kế toán kết thúc tại các ngày khác nhau hoặc có sự khác biệt trong chính sách kế toán, đơn vị tiền tệ trình bày…
Trang 35 Tổ chức lập báo cáo kế toán quản trị:
Báo cáo quản trị là những báo cáo kế toán được lập nhằm cung cấp thông tin
phục vụ yêu cầu quản lý nội bộ
Đối với báo cáo KTQT, CTM căn cứ vào yêu cầu cụ thể để lập theo mẫu biểu
và theo thời điểm thích hợp nhằm đáp ứng yêu cầu thông tin phục vụ quản trị nội bộ
Báo cáo KTQT cũng có thể được lập theo định kỳ hoặc thường xuyên (báo cáo
nhanh, báo cáo theo định kỳ) Số lượng báo cáo KTQT phải lập nhiều hay ít tuỳ thuộc
vào yêu cầu quản lý nội bộ đặt ra Nội dung thông tin cần báo cáo và kết cấu mẫu
biểu báo cáo KTQT rất đa dạng, gồm nhiều loại phù hợp với yêu cầu quản lý nội bộ
từng bộ phận trong đơn vị Song, có thể khái quát thành các báo cáo sau:
- Các báo cáo phục vụ yêu cầu quản trị tài sản Đó là các báo cáo phản ánh số
hiện có và tình hình biến động của từng loại vốn kinh doanh, từng loại nguồn vốn kinh
doanh cụ thể nhằm cung cấp thông tin giúp nhà quản lý nắm chắc và quản lý chặt chẽ
được tài sản; kiểm tra, giám sát được tình hình sử dụng vốn kinh doanh và nguồn vốn
kinh doanh của đơn vị Thuộc loại báo cáo này gồm các báo cáo kế toán cụ thể như báo
cáo tăng, giảm tài sản cố định; báo cáo vật tư, thành phẩm, hàng hoá như: báo cáo khối
lượng hàng hoá mua vào và bán ra trong kỳ theo từng đối tượng khách hàng, giá bán,
chiết khấu và các hình thức khuyến mại khác, báo cáo chi tiết khối lượng sản phẩm
(dịch vụ) hoàn thành, tiêu thụ; báo cáo tình hình công nợ theo từng tài khoản phản ánh
công nợ, thời hạn nợ, khách nợ, chủ nợ và khả năng thu nợ, báo cáo về các khoản đầu
tư tài chính theo từng hình thức đầu tư; báo cáo tăng, giảm theo từng nguồn vốn
- Các báo cáo phục vụ yêu cầu phân cấp quản lý kinh tế, tài chính nội bộ Đó
là các báo cáo phản ánh các chỉ tiêu phân cấp nội bộ như báo cáo doanh thu bán hàng,
báo cáo chi phí trực tiếp, báo cáo kết quả kinh doanh, báo cáo bộ phận lập cho trung
tâm trách nhiệm
- Các báo cáo kế toán phục vụ yêu cầu quản trị kinh doanh Đó là các báo
cáo được lập trên cơ sở hệ thống hoá thông tin KTQT phục vụ yêu cầu quản trị kinh
doanh của đơn vị Tuỳ thuộc vào trình độ quản lý của đơn vị để đặt ra yêu cầu thông
tin kế toán cần cung cấp Thuộc loại báo cáo này là báo cáo chi phí sản xuất và giá
thành sản phẩm, báo cáo chi phí nguyên vật liệu trực tiếp, báo cáo chi phí nhân
công trực tiếp, báo cáo CPBH và CPQLDN, báo cáo kết quả kinh doanh theo nhóm
mặt hàng
Ngoài ra, cũng có thể lập các báo cáo phân tích mối quan hệ giữa chi phí, khối lượng và lợi nhuận; phân tích tình hình tài chính của doanh nghiệp; phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến tình hình thực hiện kế hoạch sản xuất và tài chính
1.3.4.2 Tổ chức phân tích và cung cấp thông tin báo cáo tài chính hợp nhất
Sau khi lập BCTC, đặc biệt là BCTCHN, nhiệm vụ quan trọng của kế toán là
tổ chức phân tích và cung cấp thông tin của BCTCHN nhất nhằm cung cấp thông tin phục vụ công tác quản lý chung của Tập đoàn
Tổ chức phân tích và cung cấp thông tin của BCTCHN là việc nộp BCTCHN cho cơ quan chức năng theo quy định, như cơ quan tài chính, cơ quan thuế, cơ quan thống kê và cơ quan Cấp giấy phép đầu tư hoặc Giấy phép đăng ký kinh doanh, Ủy ban chứng khoán nhà nước và Sở giao dịch chứng khoán hoặc Trung tâm giao dịch chứng khoán Đồng thời, cung cấp cho các đối tượng quan tâm đến tình hình tài chính của doanh nghiệp (các cổ đông hiện tại và tương lai, ngân hàng, tổ chức tài chính, các doanh nghiệp khác…)
Ngoài ra, cung cấp thông tin BCTCHN còn là việc thực hiện phân tích BCTCHN
Tổ chức công tác phân tích BCTCHN của Tập đoàn là việc thiết lập trình tự các bước công việc cần tiến hành trong quá trình phân tích Để công tác phân tích BCTCHN thực sự phát huy hiệu quả cần tổ chức khoa học, hợp lý, phù hợp với đặc điểm tổ chức quản lý kinh doanh của Tập đoàn
Tổ chức phân tích BCTCHN thường được tiến hành qua các bước sau:
- Tổ chức lập kế hoạch phân tích: Đây là khâu đầu tiên có ý nghĩa quan trọng, ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng công tác phân tích Lập kế hoạch phân tích bao gồm việc xác định mục tiêu, chương trình phân tích Kế hoạch phân tích phải xác định nội dung phân tích, phạm vi phân tích, thời gian thực hiện và những thông tin cần thiết thông qua các chỉ tiêu phân tích
- Tổ chức thực hiện công tác phân tích: Đây là khâu triển khai thực hiện kế hoạch phân tích đã đề ra, bao gồm việc thu thập nguồn tài liệu, lựa chọn và tính toán các chỉ tiêu phân tích, xác định nguyên nhân và nhân tổ ảnh hưởng đến chỉ tiêu phân tích Kế toán trưởng có nhiệm vụ phân công trách nhiệm cụ thể cho các bộ phận kế toán và từng người làm kế toán trong việc thu nhận, cung cấp và phân tích đối với từng chỉ tiêu cụ thể
Trang 36- Tổ chức báo cáo kết quả phân tích: Đây là khâu cuối cùng của phân tích
BCTC Trên cơ sở các tính toán, phân tích, dự báo tình hình tài chính và hoạt động
kinh doanh, những nhà phân tích phải nêu rõ nguyên nhân và trình bày kiến nghị,
giúp nhà quản lý có được cơ sở đáng tin cậy cho việc ra quyết định đúng đắn trong
điều hành hoạt động SXKD
1.3.5 Tổ chức lưu trữ tài liệu kế toán và công tác kiểm tra kế toán
1.3.5.1 Tổ chức lưu trữ tài liệu kế toán
Tại doanh nghiệp nói chung và TĐKT nói riêng, tài liệu kế toán phải bảo
quản, lưu trữ là bản chính các tài liệu kế toán được ghi chép trên giấy, có giá trị pháp
lý về kế toán, bao gồm:
- Chứng từ kế toán, gồm: Chứng từ gốc và chứng từ ghi sổ;
- Sổ kế toán, gồm: Sổ kế toán chi tiết, thẻ kế toán chi tiết, sổ kế toán tổng hợp;
- Báo cáo tài chính, gồm: Báo cáo tài chính tháng, báo cáo tài chính quý, báo
cáo tài chính năm;
- Tài liệu khác liên quan đến kế toán: các tài liệu được dùng làm căn cứ để lập
chứng từ kế toán; các tài liệu liên quan đến hoạt động kinh tế (như hợp đồng kinh tế,
hợp đồng vay, khế ước vay, hợp đồng liên doanh ); các tài liệu liên quan đến vốn,
quỹ, lợi tức (như quyết định bổ sung vốn từ lợi tức, phân phối các quỹ từ lợi tức );
các tài liệu liên quan đến thu, chi ngân sách, sử dụng vốn, kinh phí (như quyết toán sử
dụng kinh phí, quyết toán quỹ ngân sách Nhà nước, quyết toán vốn đầu tư ); các tài
liệu liên quan đến nghĩa vụ thuế với Nhà nước (như quyết định miễn, giảm thuế, hoàn
thuế, truy thu thuế, quyết toán thuế hàng năm ) các tài liệu liên quan đến kiểm kê,
định giá tài sản (như các biểu mẫu kiểm kê, biên bản định giá ); các tài liệu liên quan
đến kiểm tra, kiểm toán, thanh tra (như kết luận thanh tra, kiểm tra, báo cáo kiểm
toán ); tài liệu về chương trình kế toán trên máy vi tính, tài liệu liên quan đến tiêu
huỷ tài liệu kế toán
Tất cả tài liệu kế toán phải được phân loại và được bảo quản, lưu trữ theo thời
hạn của Nhà nước Tài liệu kế toán đã hết thời hạn lưu trữ theo quy định nếu không
có chỉ định nào khác của người hoặc của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền thì được
phép tiêu huỷ theo quyết định của người đứng đầu đơn vị Việc tiêu huỷ tài liệu kế
toán hết thời hạn lưu trữ phải làm đầy đủ, đúng các thủ tục theo quy định Nhà nước
1.3.5.2 Tổ chức công tác kiểm tra kế toán
Tổ chức kiểm tra kế toán là một trong những nội dung quan trọng của tổ chức công tác kế toán nhằm đảm bảo cho số liệu, tài liệu kế toán phản ánh trung thực, khách quan về hoạt động kinh tế, tài chính của tập đoàn
Nội dung kiểm tra kế toán bao gồm:
- Kiểm tra việc ghi chép, phản ánh các nghiệp vụ kinh tế phát sinh trên chứng
từ kế toán, sổ kế toán và báo cáo kế toán đảm bảo thực hiện đúng chế độ, chính sách quản lý tài chính của nhà nước và những quy định cụ thể của ngành, của tập đoàn
- Kiểm tra việc tổ chức, chỉ đạo công tác kế toán trong tập đoàn, việc thực hiện trách nhiệm của các bộ phận kế toán, kết quả công tác của bộ máy kế toán, mối quan hệ công tác giữa bộ phận kế toán với nhau và với các bộ phận chức năng khác có liên quan
Về thời điểm kiểm tra kế toán có thể thực hiện kiểm tra thường kỳ hoặc kiểm tra bất thường
- Kiểm tra kế toán thường kỳ trong nội bộ đơn vị nhằm bảo đảm chấp hành các chế độ, thể lệ kế toán, đảm bảo tính chính xác, đầy đủ, kịp thời của số liệu, tài liệu
kế toán, đảm bảo cơ sở cho việc thực hiện chức năng giám đốc của kế toán Công tác kiểm tra kế toán thường kỳ trong nội bộ đơn vị do giám đốc và kế toán trưởng chịu trách nhiệm tổ chức, chỉ đạo Tuỳ theo quy mô của đơn vị mà có thể
bố trí thành bộ phận kiểm tra riêng Trường hợp đơn vị có quy mô không lớn thì có thể bố trí công tác kiểm tra kiêm nhiệm cùng với các bộ phận kế toán thích hợp Tất cả các đơn vị cần tổ chức kiểm tra kế toán thường kỳ theo chế độ quy định, tạo điều kiện vững chắc cho việc nâng cao chất lượng của công tác kế toán, đảm bảo ngăn ngừa và giải quyết kịp thời những sai sót, sơ hở trong quản lý kinh tế
- Kiểm tra kế toán bất thường được tiến hành trong những trường hợp cần thiết, theo đề nghị của cơ quan tài chính đồng cấp, thủ trưởng các bộ, tổng cục, chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố có thể ra lệnh kiểm tra kế toán bất thường ở các đơn vị thuộc ngành mình hoặc địa phương mình quản lý
Căn cứ để kiểm tra kế toán là các chứng từ kế toán, sổ kế toán, báo cáo kế toán
và các chế độ, định mức kinh tế, kỹ thuật trong từng trường hợp cụ thể Phương pháp kiểm tra chủ yếu được áp dụng là đối chiếu: đối chiếu số liệu giữa chứng từ kế toán,
Trang 37sổ kế toán và báo cáo kế toán; giữa số liệu kế toán tổng hợp và số liệu kế toán chi tiết;
giữa số liệu trên sổ kế toán với số thực tế kiểm kê
1.4 KINH NGHIỆM VỀ TỔ CHỨC CÔNG TÁC KẾ TOÁN CỦA MỘT
SỐ NƯỚC TRÊN THẾ GIỚI, MỘT SỐ TẬP ĐOÀN KINH TẾ LỚN TẠI VIỆT
NAM VÀ BÀI HỌC KINH NGHIỆM CHO TẬP ĐOÀN CÔNG NGHIỆP
THAN - KHOÁNG SẢN VIỆT NAM
1.4.1 Kinh nghiệm về tổ chức công tác kế toán của một số nước trên thế giới
Kế toán là một công cụ hữu hiệu cho quản lý kinh tế nói chung và quản lý
tài chính nói riêng trong một tổ chức, đơn vị Các quy tắc về kế toán trên thế giới
ngày nay chịu sự ảnh hưởng của các quốc gia phát triển và có nền kinh tế thị trường
lâu đời, từ đó hình thành nên các trường phái kế toán khác nhau trên thế giới, điển
hình nổi lên hai trường phái kế toán là Anglo-Saxon (Anh, Mỹ, Úc, Canada,
Hongkong, Ấn Độ, Malaysia, New Zealand, Singapore ) và Châu Âu lục địa
(Pháp, Đức, Ý, Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha )
Tại Mỹ
Theo quan điểm của Hiệp hội kế toán Mỹ, chức năng cơ bản của kế toán là:
- Kế toán quan sát các hoạt động, nhận biết và đo lường các sự kiện và các
quá trình kinh tế bằng thước đo giá trị thông qua các nghiệp vụ kinh tế phát sinh
- Các nghiệp vụ kinh tế phát sinh được ghi chép lại và sau đó được phân loại
theo nhóm và cuối cùng được tổng hợp theo từng đối tượng
- Lập các báo cáo tài chính và báo cáo KTQT nhằm cung cấp thông tin cho
các đối tượng sử dụng…
Với các chức năng cơ bản nêu trên, mô hình tổ chức công tác kế toán trong
các tập đoàn ở Mỹ được xây dựng bao gồm các nội dung chủ yếu sau:
- Tổ chức hệ thống tài khoản kế toán: Mỗi đơn vị, tuỳ theo loại hình kinh
doanh và số lượng nghiệp vụ kinh tế phát sinh nhiều hay ít để tổ chức thiết lập các
tài khoản kế toán đáp ứng yêu cầu KTTC và KTQT Nhà nước không xây dựng hệ
thống tài khoản kế toán thống nhất Việc xác định số lượng tài khoản, tên gọi, ký
hiệu của tài khoản là tuỳ doanh nghiệp quyết định phụ thuộc vào đặc điểm, điều
kiện kinh doanh và quản lý của doanh nghiệp Các hiệp hội kế toán ở Mỹ ban hành
các chuẩn mực kế toán Mỹ, quy định chung về tài khoản kế toán cần mở ở các doanh nghiệp
Theo đó, các tài khoản kế toán của mỗi đơn vị đều được xây dựng trong mối quan hệ với BCTC do đó bao gồm hai loại lớn, đó là các tài khoản thuộc BCĐKT
và các tài khoản thuộc BCKQKD Hệ thống tài khoản kế toán áp dụng trong các doanh nghiệp ở Mỹ được chia thành 5 loại bao gồm: TK phản ánh tài sản, TK phản ánh Nợ phải trả, TK phản ánh VCSH, TK phản ánh doanh thu, TK phản ánh chi phí Với quan điểm mở, hệ thống tài khoản kế toán của Mỹ không quy định chi tiết đến
số hiệu tài khoản, số hiệu tài khoản được xây dựng trên sự chủ động của các doanh nghiệp sao cho phù hợp với đặc điểm hoạt động kinh doanh của mình và tuân thủ sự phân loại tài sản
- Tổ chức ghi chép các nghiệp vụ kinh tế phát sinh vào sổ kế toán: KTTC được ghi vào các sổ kế toán tổng hợp để cung cấp cho việc lập các BCTC KTQT được ghi chép vào các sổ kế toán quản trị để cung cấp thông tin cho việc lập các báo cáo KTQT Việc ghi chép vào các tài khoản kế toán thường được chú trọng phản ánh theo từng khâu kinh doanh như khâu thành lập công ty, khâu mua hàng, khâu sản xuất, khâu xác định kết quả và phân phối kết quả kinh doanh
- Tổ chức lập các BCTC và báo cáo KTQT, phân tích các dữ liệu trên các báo cáo để cung cấp thông tin cho các đối tượng sử dụng thông tin BCTC được lập theo năm tài chính gồm BCĐKT, BCKQHĐKD, BCLCTT, Báo cáo thay đổi VCSH, TMBCTC Báo cáo KTQT được lập theo yêu cầu quản lý cụ thể từng chỉ tiêu kinh tế tài chính và theo định kỳ ngắn Hệ thống báo cáo KTQT bao gồm 2 loại
là báo cáo kiểm soát chi phí và báo cáo định hướng cho việc ra quyết định của nhà quản trị
Hệ thống báo cáo kiểm soát thường có các báo cáo chủ yếu như sau:
Báo cáo nguyên vật liệu trực tiếp mua vào: Phản ánh số lượng và giá trị của
các loại nguyên vật liệu chính mua vào trong kỳ theo dự toán và thực tế, xác định mức chênh lệch giữa số thực tế và dự toán của từng loại nguyên vật liệu chính để cung cấp thông tin cho nhà quản lý kiểm soát quá trình thu mua vật liệu Báo cáo này chỉ sử dụng trong các doanh nghiệp sản xuất
Trang 38Báo cáo chi phí sản xuất chung: phản ánh số dự toán và thực tế của các
khoản chi phí sản xuất chung phát sinh trong kỳ như chi phí nguyên liệu gián tiếp,
chi phí lao động gián tiếp, chi phí bảo trì, không bao gồm chi phí khấu hao vì theo
quan điểm của kế toán Mỹ thì khoản chi phí này không thuộc đối tượng phải lập dự
toán Báo cáo này cung cấp thông tin để nhà quản trị kiểm soát chi phí sản xuất
chung phát sinh trong kỳ
Báo cáo chi phí bán hàng và quản lý: phản ánh số dự toán và thực tế của các
khoản chi phí thuộc CPBH và CPQLDN để cung cấp thông tin cho nhà quản trị
quản lý các loại chi phí này
Báo cáo ngân sách: phản ánh số dự toán và số thực tế của các khoản thu chi
bằng tiền trong kỳ Thông qua báo cáo này, nhà quản trị có thông tin để kiểm soát
các dòng tiền và từ đó đưa ra các quyết định chi tiêu hợp lý
Hệ thống báo cáo định hướng cho việc ra quyết định của nhà quản trị (còn gọi
là báo cáo bộ phận) được lập theo nhu cầu thông tin của nhà quản trị trong từng tình
huống cụ thể như: báo cáo kết quả kinh doanh theo từng mặt hàng, theo từng đơn vị
nội bộ, theo từng thị trường tiêu thụ, theo từng giai đoạn công nghệ Các báo cáo
định hướng cho việc ra quyết định của nhà quản trị đều được lập dựa trên một nguyên
tắc chung là phân loại chi phí trong mối quan hệ với sản lượng hoặc quy mô hoạt
động của từng bộ phận để từ đó xác định mức biến phí, lãi gộp, lãi riêng của từng bộ
phận Các báo cáo bộ phận cung cấp thông tin cho nhà quản trị đưa ra các quyết định
để hoạch định quá trình SXKD trong tương lai như: điều chỉnh cơ cấu, mặt hàng kinh
doanh, nên chế biến thành thành phẩm hay bán ngay ra ngoài, nên sản xuất một bộ
phận, chi tiết của sản phẩm hay mua ngoài, điều chỉnh thị trường tiêu thụ,
Xét về nội dung thì hiện nay, KTQT trong các tập đoàn ở Mỹ thường tập
trung vào các chủ đề như: khái niệm và phân loại chi phí (phân loại chi phí theo các
tiêu thức khác nhau đặc biệt là phân loại chi phí theo cách ứng xử của chi phí, tiếp
đến hệ thống hoá thông tin theo các khoản mục chi phí); kế toán chi phí và tính giá
thành theo công việc hoặc theo quy trình sản xuất; phân tích mối quan hệ chi phí -
khối lượng - lợi nhuận (làm cơ sở xác định mức lợi nhuận đạt được ở các mức tiêu
thụ khác nhau, định giá bán sản phẩm, dịch vụ để đạt được mức lợi nhuận cá biệt
mong muốn ); dự toán hoạt động SXKD; phân tích báo cáo quản trị Với sự đề cao vai trò cá nhân, vai trò của những nhà quản lý cao cấp, KTQT được xem như một công cụ bổ khuyết thông tin quản lý nên được thiết kế tập trung vào chủ đề phân tích thông tin phục vụ cho các quyết định quản lý Đồng thời ở Mỹ, KTQT là công việc riêng của doanh nghiệp nên nhà nước không can thiệp sâu vào chuyên môn, nghiệp vụ KTQT luôn được nhận thức là một bộ phận chuyên môn, tuy nhiên tổ chức vận hành KTQT có những chuyển biến khác nhau, từ một bộ phận thuộc kế toán đến bộ phận thuộc ban giám đốc
Tại Cộng hoà Pháp
Nghiên cứu cho thấy tổ chức công tác kế toán trong các TĐKT ở Pháp gồm những nội dung cơ bản như sau (Theo Chỉ thị số 7 năm 1983 của EC về kế toán trong các tập đoàn và Pháp lệnh IAS(EC) số 1606/2002, yêu cầu áp dụng IAS từ năm 2005 đối với các công ty liên kết):
Kế toán ở cộng hoà Pháp được chia thành 2 loại là kế toán tổng quát (KTTC)
và kế toán phân tích (KTQT) Kế toán phân tích trong các tập đoàn ở Pháp có đặc trưng gắn kết chặt chẽ với kế toán tổng quát, đề cao thông tin kiểm soát nội bộ và có
sự ảnh hưởng đáng kể của Nhà nước
Kế toán tổng quát là loại kế toán bắt buộc đối với tất cả các loại hình doanh nghiệp, phản ánh toàn bộ tình hình hiện có và sự vận động của tài sản, vật tư, tiền vốn, tình hình mua, bán, công nợ, chi phí và kết quả hoạt động kinh doanh dưới dạng tổng quát Số liệu của kế toán tổng quát phục vụ cho việc lập BCTC, cung cấp tình hình tài chính cho các đối tượng sử dụng thông tin của doanh nghiệp trong quan hệ kinh doanh và kiểm soát của các cơ quan quản lý nhà nước Còn kế toán phân tích là loại kế toán mà các doanh nghiệp sử dụng để thu nhận, phân tích các thông tin phục
vụ cho nhà quản lý có căn cứ để đưa ra các quyết định kinh doanh tối ưu nhất Mục tiêu của kế toán phân tích là cung cấp thông tin về chi phí của từng trung tâm, giá thành của từng loại sản phẩm, dịch vụ, tính toán, kiểm soát được việc thực hiện và giải thích được các nguyên nhân chênh lệch giữa chi phí thực tế và chi phí dự toán
Hệ thống tài khoản kế toán được phân thành ba nhóm bao gồm tám loại, cụ thể là: Nhóm thứ nhất liên quan đến BĐKT bao gồm năm loại là tài khoản tiền, tài
Trang 39khoản bất động sản, tài khoản hàng tồn kho, và dở dang, tài khoản đối tác bên ngoài
tài khoản tài chính; Nhóm thứ hai liên quan đến kết quả hoạt động bao gồm hai loại
là tài khoản chi phí và tài khoản thu nhập; Nhóm thứ ba có một loại tài khoản được
sử dụng để cung cấp một số nghĩa vụ về các thông tin (như các cam kết do doanh
nghiệp đưa ra hoặc nhận được, phân bổ lợi nhuận năm trước hoặc mở lại hay đóng
các tài khoản của kỳ kinh doanh)
Sỏ kế toán bao gồm Sổ Nhật ký dùng để ghi chép theo thời gian và Sổ Cái các
tài khoản, được ghi chép căn cứ vào Sổ Nhật ký theo bản chất nghiệp vụ Đối với các
đối tượng cần theo dõi chi tiết, Sổ Cái tài khoản được chi tiết hoá thành các Sổ Cái tài
khoản phụ theo nhu cầu của doanh nghiệp Cuối tháng, số liệu từ các Sổ Cái được
dùng để lập Bảng cân đối thử, rồi lập Bảng tổng kết tài sản và các BCTC khác
BCTC của doanh nghiệp thường được lập vào cuối các quý và cuối niên độ
kế toán bao gồm 2 báo cáo chủ yếu là:
Bảng tổng kết tài sản: phản ánh tình hình tài sản của doanh nghiệp (bất động
sản và tài sản lưu động) và nguồn tài trợ (có thể hiểu là nguồn vốn) trong đó gồm
VCSH và các khoản nợ
Báo cáo kết quả kinh doanh: phản ánh tình hình thu nhập, chi phí, lãi, lỗ của
hoạt động kinh doanh, hoạt động tài chính và hoạt động đặc biệt của doanh nghiệp
Việc tập hợp và phân bổ chi phí được thực hiện tại các trung tâm phân tích như
trung tâm hành chính quản trị, trung tâm tiếp liệu, trung tâm chế tạo sản xuất,
trung tâm thương mại, trung tâm quản trị nhân sự…Các trung tâm này được chia
thành các trung tâm chính và các trung tâm phụ Do đó, hệ thống thông tin kế toán
phục vụ cho việc quản trị doanh nghiệp gồm các thông tin về chi phí, giá thành,
doanh thu và kết quả của từng loại sản phẩm, từng loại dịch vụ, ngành hàng hoặc
của từng trung tâm chi phí để từ đó có thể kiểm soát tình hình thực hiện kế hoạch và
ra các quyết định cần thiết cho quản lý
Riêng đối với các nội dung của kế toán phân tích, được hình thành với mục
đích ban đầu chủ yếu là cung cấp thông tin để các cơ quan quản lý chức năng của
nhà nước giám sát chi phí hoạt động doanh nghiệp nên gần như là sự chi tiết thêm
thông tin kế toán tổng quát Kế tiếp, với nhu cầu thông tin thực hiện các chức năng
quản lý, kế toán phân tích ở Pháp có đặc điểm nổi bật là được xây dựng gắn kết với
kế toán tổng quát, quan hệ mật thiết với chính sách kế toán chung, chịu ảnh hưởng
sự can thiệp trực tiếp bằng luật pháp của nhà nước và vẫn đề cao thông tin định lượng, nhưng khuynh hướng trọng tâm là thông tin kiểm soát nội bộ như: đưa ra bằng chứng giúp nhà quản lý tìm được phương thức tốt nhất khai thác tiềm năng kinh tế phát triển doanh nghiệp trong tương lai, nhận định tình hình tiến hành ở các trung tâm trách nhiệm quản lý để dự báo, điều chỉnh hoạt động phù hợp với kế hoạch, giám sát tình hình hiện tại và tương lai của những nhà quản lý ở từng bộ phận nhằm đảm bảo chiến lược, kế hoạch, và khai thác tốt nhất năng lực các nhà quản lý, tiềm năng từng bộ phận trong cấu trúc tổ chức hoạt động SXKD Với quan điểm là công cụ cung cấp thông tin kiểm soát, kế toán phân tích ở Pháp luôn được
tổ chức thành một bộ phận thuộc kế toán, do kế toán đảm trách
1.4.2 Kinh nghiệm về tổ chức công tác kế toán của một số Tập đoàn kinh
tế lớn tại Việt Nam
Xuất phát từ Nghị quyết Hội nghị lần thứ ba Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa IX về tiếp tục sắp xếp, đổi mới, phát triển và nâng cao hiệu quả doanh nghiệp Nhà nước, từ năm 2005 đến 2011, Chính phủ đã chỉ đạo thí điểm thành lập
13 TĐKT hoạt động theo mô hình công ty mẹ - công ty con thuộc các ngành trọng điểm Quốc gia trên cơ sở chuyển đổi từ các Tổng công ty (TCT) 91, bao gồm: Tài chính - Bảo hiểm, Dệt May, Than - Khoáng sản, Bưu chính Viễn thông, Công nghiệp Cao su, Công nghiệp Tàu thủy, Điện lực, Dầu khí, Viễn thông quân đội và Công nghiệp Hóa chất, Phát triển nhà và đô thị, Xây dựng và Xăng dầu Tổ chức công tác kế toán trong các TĐKT này có một số đặc điểm như sau:
- Bộ máy kế toán trong các TĐKT bao gồm bộ máy kế toán CTM và bộ máy
kế toán các CTC Các TĐKT đều là các Tập đoàn lớn trong các lĩnh vực then chốt của nền kinh tế, bao gồm nhiều đơn vị thành viên có quy mô khác nhau, hoạt động SXKD tương đối phức tạp nên bộ máy kế toán của các đơn vị thành viên trong TĐKT thường được tổ chức theo mô hình vừa tập trung vừa phân tán, cán bộ kế toán hầu như đảm nhận công việc cả KTTC và KTQT, tuy nhiên phần KTQT chưa được thực sự chú trọng Bộ máy kế toán CTM thường nằm trong Ban Tài chính Kế toán của TĐKT có thể được phân công công việc theo các tổ, nhóm
Trang 40Tại Tập đoàn Bưu chính Viễn thông Việt Nam (VNPT), bộ máy kế toán CTM
được chia thành tổ tổng hợp, các tổ chuyên quản, tổ chế độ Tại các đơn vị thành
viên, bộ máy kế toán thực hiện hạch toán các nghiệp vụ kinh tế phát sinh tại DN,
lập BCTC riêng và định kỳ gửi số liệu về CTM Tập đoàn Đối với các doanh nghiệp
có đơn vị trực thuộc, thì tại các đơn vị này không tổ chức bộ máy kế toán riêng mà
chỉ có các nhân viên kinh tế thu thập dữ liệu ban đầu và thực hiện chế độ hạch toán
báo sổ, chuyển dữ liệu về công ty để lập BCTC chung toàn công ty
Tại Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN), các đơn vị thành viên như các TCT
điện lực, TCT truyền tải điện (đơn vị thành viên cấp 2) và các DN thuộc các TCT
này (đơn vị thành viên cấp 3) như Điện lực các tỉnh, các Ban quản lý dự án nguồn
điện và lưới điện đều tổ chức BMKT; còn các đơn vị trực thuộc đơn vị thành viên
cấp 3 như các Chi nhánh điện hay các đội thi công thì không tổ chức bộ máy kế
toán mà chỉ có các nhân viên kinh tế thực hiện hạch toán báo sổ
- CTM và các CTC thuộc TĐKT đều tuân thủ các quy định pháp luật về kế
toán tại Việt Nam Trên cơ sở hệ thống Luật kế toán, Chuẩn mực kế toán Việt Nam
và Chế độ kế toán Việt Nam, các TĐKT xây dựng, ban hành và đưa vào vận dụng
các chính sách kế toán riêng cho Tập đoàn của mình nhằm phù hợp với đặc thù hoạt
động Một số TĐKT do tính chất đặc thù, được Bộ Tài chính cho phép xây dựng
Chế độ kế toán riêng để áp dụng cho Tập đoàn và các đơn vị thành viên Các Chế
độ kế toán đặc thù này được xây dựng phù hợp với Thông tư 200/2014/TT-BTC
ngày 22/12/2014 và các Thông tư hướng dẫn các Chuẩn mực kế toán từ đợt 1 đến
đợt 5 do Bộ Tài chính ban hành Điển hình như: Chế độ kế toán áp dụng cho VNPT
được ban hành theo Quyết định số 2608/QĐ-KTTKTC ngày 22/12/2006, được Bộ
Tài chính chấp thuận tại Công văn số 16145/BTC-CĐKT ngày 20/12/2006; Chế độ
kế toán áp dụng cho EVN được ban hành theo Quyết định số 3102/EVN-TCKT
ngày 22/12/2006, được Bộ Tài chính chấp thuận tại Công văn số 9818/BTC -
CĐKT ngày 27/7/2010
- Các đơn vị thành viên thuộc các TĐKT lớn của Việt Nam tuy đã vận dụng
tốt quy định về tổ chức chứng từ kế toán theo các văn bản pháp quy về kế toán Việt
Nam, tuy nhiên nhiều DN chưa tự xây dựng cho mình danh mục các chứng từ cần
thiết và chưa thiết lập một trình tự luân chuyển từ hợp lý, đôi khi vẫn còn xảy ra tình trạng lập chứng từ không đúng mẫu biểu quy định, không phản ánh đầy đủ các chỉ tiêu trên chứng từ, không đủ chữ ký kiểm soát hay các vấn đề về sự không chính xác về các chỉ tiêu số lượng, giá trị
- Từ Chế độ kế toán mang tính đặc thù áp dụng riêng cho Tập đoàn, một số TĐKT tổ chức hệ thống tài khoản kế toán áp dụng riêng cho Tập đoàn của mình
và các đơn vị thành viên phù hợp với Chế độ kế toán Việt Nam đồng thời đáp ứng được yêu cầu quản lý và hạch toán của tập đoàn Điển hình như hệ thống tài khoản kế toán được quy định trong Chế độ kế toán áp dụng cho EVN, do đặc thù của Tập đoàn hoạt động trong nhiều lĩnh vực khác nhau và trong điều kiện ứng dụng công nghệ thông tin, vì vậy với mục đích chi tiết hóa hệ thống tài khoản kế toán cho phù hợp với đặc điểm SXKD và yêu cầu quản lý, các đơn vị thành viên trong Tập đoàn dựa trên cơ sở Chế độ kế toán ban hành đặc thù, thiết lập hệ thống cho đơn vị mình
- Các TĐKT đều yêu cầu các đơn vị thành viên phải thực hiện đúng quy định
về sổ kế toán mang tính chất bắt buộc của Nhà nước Với các mẫu sổ mang tính hướng dẫn, để đảm bảo phù hợp với đặc thù hoạt động SXKD của TĐKT, các Tập đoàn thường ban hành những quy định hướng dẫn riêng áp dụng cho các đơn vị thành viên Hình thức kế toán chủ yếu được các doanh nghiệp thuộc các TĐKT sử dụng là Nhật ký chung và Chứng từ ghi sổ Tại VNPT, các doanh nghiệp áp dụng hình thức kế toán Chứng từ ghi sổ Tại EVN, các doanh nghiệp áp dụng hình thức
kế toán Nhật ký chung thống nhất toàn Tập đoàn Tại Tập đoàn Dầu khí Việt Nam hầu hết các doanh nghiệp áp dụng hình thức Chứng từ ghi sổ, một số doanh nghiệp thuộc TCT thăm dò và khai thác dầu khí áp dụng hình thức kế toán Nhật ký chung
- Việc lập, trình bày và công khai BCTC của các đơn vị thành viên trong các TĐKT đều tuân thủ theo quy định của Chuẩn mực kế toán Việt Nam Không chỉ tuân thủ Chuẩn mực kế toán Việt Nam, nhiều DN còn lập và công khai BCTC theo tiêu chuẩn quốc tế, điển hình như TCT Điện lực Miền Bắc thuộc EVN Không chỉ công ty mẹ mà một số DN thành viên của các TĐKT hoạt động theo mô hình công
ty mẹ - công ty con cũng lập BCTC hợp nhất như TCT Cổ phần Thăm dò và Khai