1. Trang chủ
  2. » Kinh Doanh - Tiếp Thị

Hoàn thiện tổ chức công tác kế toán trong Tập đoàn công nghiệp Than - Khoáng sản Việt Nam

125 304 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 125
Dung lượng 2,35 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Kế toán trong các TĐKT được nhiều tác giả nghiên cứu, lựa chọn làm Luận án tiến sĩ, đặc biệt là hợp nhất BCTC trong các TĐKT, TCT hoạt động theo mô hình CTM - CTC là vấn đề được nhiều tá

Trang 1

HỌC VIỆN TÀI CHÍNH - -

NGUYỄN THỊ NGA

HOÀN THIỆN TỔ CHỨC CÔNG TÁC KẾ TOÁN

TRONG TẬP ĐOÀN CÔNG NGHIỆP THAN - KHOÁNG SẢN

VIỆT NAM

LUẬN ÁN TIẾN SĨ KINH TẾ

HÀ NỘI - 2017

HỌC VIỆN TÀI CHÍNH - -

LUẬN ÁN TIẾN SĨ KINH TẾ

Người hướng dẫn khoa học: 1 PGS.TS CHÚC ANH TÚ

2 PGS.TS NGUYỄN THỊ PHƯƠNG HOA

HÀ NỘI - 2017

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan bản luận án là công trình nghiên

cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả nêu trong luận án

là trung thực và có nguồn gốc rõ ràng

TÁC GIẢ LUẬN ÁN

Nguyễn Thị Nga

Trang phụ bìa Lời cam đoan Mục lục Danh mục các chữ viết tắt Danh mục các bảng Danh mục các sơ đồ

MỞ ĐẦU 1

Chương 1: LÝ LUẬN CHUNG VỀ TỔ CHỨC CÔNG TÁC KẾ TOÁN TRONG CÁC TẬP ĐOÀN KINH TẾ 15

1.1 KHÁI QUÁT CHUNG VỀ TẬP ĐOÀN KINH TẾ 15

1.1.1 Khái niệm và đặc điểm của Tập đoàn kinh tế 15

1.1.2 Vai trò của Tập đoàn trong nền kinh tế 20

1.1.3 Mô hình tổ chức quản lý kinh tế trong Tập đoàn kinh tế 21

1.1.4 Mối quan hệ giữa các thành viên trong Tập đoàn kinh tế 24

1.2 THÔNG TIN KẾ TOÁN VÀ VAI TRÒ CỦA THÔNG TIN KẾ TOÁN TRONG TẬP ĐOÀN KINH TẾ 26

1.2.1 Khái quát thông tin kế toán và vai trò của thông tin kế toán trong Tập đoàn kinh tế 26

1.2.2 Khái quát về tổ chức công tác kế toán trong Tập đoàn kinh tế 30

1.3 NỘI DUNG TỔ CHỨC CÔNG TÁC KẾ TOÁN TRONG TẬP ĐOÀN KINH TẾ 36

1.3.1 Tổ chức bộ máy kế toán 37

1.3.2 Tổ chức thu nhận thông tin kế toán 44

1.3.3 Tổ chức hệ thống hóa, xử lý thông tin kế toán 52

1.3.4 Tổ chức phân tích và cung cấp thông tin kế toán 56

1.3.5 Tổ chức lưu trữ tài liệu kế toán và công tác kiểm tra kế toán 62

1.4 KINH NGHIỆM VỀ TỔ CHỨC CÔNG TÁC KẾ TOÁN CỦA MỘT SỐ NƯỚC TRÊN THẾ GIỚI, MỘT SỐ TẬP ĐOÀN KINH TẾ LỚN TẠI VIỆT NAM VÀ BÀI HỌC KINH NGHIỆM CHO TẬP ĐOÀN CÔNG NGHIỆP THAN - KHOÁNG SẢN VIỆT NAM 64

1.4.1 Kinh nghiệm về tổ chức công tác kế toán của một số nước trên thế giới 64

Trang 3

tế lớn tại Việt Nam 69

1.4.3 Bài học kinh nghiệm về tổ chức công tác kế toán cho Tập đoàn công nghiệp Than - Khoáng sản Việt Nam 73

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 75

Chương 2: THỰC TRẠNG TỔ CHỨC CÔNG TÁC KẾ TOÁN TRONG TẬP ĐOÀN CÔNG NGHIỆP THAN - KHOÁNG SẢN VIỆT NAM 76

2.1 KHÁI QUÁT VỀ TẬP ĐOÀN CÔNG NGHIỆP THAN - KHOÁNG SẢN VIỆT NAM 76

2.1.1 Quá trình hình thành và phát triển 76

2.1.2 Chức năng nhiệm vụ của Tập đoàn công nghiệp Than - Khoáng sản Việt Nam 77

2.1.3 Đặc điểm tổ chức hoạt động sản xuất kinh doanh của Tập đoàn công nghiệp Than - Khoáng sản Việt Nam 79

2.1.4 Đặc điểm cơ cấu tổ chức quản lý của Tập đoàn công nghiệp Than - Khoáng sản 82

2.1.5 Đặc điểm tổ chức quản lý và hoạt động ảnh hưởng đến tổ chức công tác kế toán trong Tập đoàn công nghiệp Than - Khoáng sản Việt Nam 89

2.2 THỰC TRẠNG TỔ CHỨC CÔNG TÁC KẾ TOÁN TRONG TẬP ĐOÀN CÔNG NGHIỆP THAN - KHOÁNG SẢN VIỆT NAM 91

2.2.1 Tổ chức bộ máy kế toán 93

2.2.2 Tổ chức thu nhận thông tin kế toán 105

2.2.3 Tổ chức hệ thống hóa, xử lý thông tin kế toán 107

2.2.4 Tổ chức phân tích và cung cấp thông tin kế toán 113

2.2.5 Tổ chức công tác kiểm tra kế toán 129

2.3 ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG TỔ CHỨC CÔNG TÁC KẾ TOÁN TRONG TẬP ĐOÀN CÔNG NGHIỆP THAN - KHOÁNG SẢN VIỆT NAM 130

2.3.1 Những ưu điểm 130

2.3.2 Những hạn chế 132

2.3.3 Nguyên nhân của những hạn chế 136

KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 139

KẾ TOÁN TRONGTẬP ĐOÀN CÔNG NGHIỆP THAN - KHOÁNG SẢN VIỆT NAM 140

3.1 ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN TẬP ĐOÀN CÔNG NGHIỆP THAN - KHOÁNG SẢN VIỆT NAM 140

3.2 YÊU CẦU CƠ BẢN VÀ NGUYÊN TẮC HOÀN THIỆN TỔ CHỨC CÔNG TÁC KẾ TOÁN TRONG TẬP ĐOÀN CÔNG NGHIỆP THAN - KHOÁNG SẢN VIỆT NAM 141

3.2.1 Yêu cầu cơ bản hoàn thiện tổ chức công tác kế toán trong Tập đoàn công nghiệp Than - Khoáng sản Việt Nam 141

3.2.2 Nguyên tắc hoàn thiện tổ chức công tác kế toán trong Tập đoàn công nghiệp Than - Khoáng sản Việt Nam 145

3.3 CÁC GIẢI PHÁP ĐỂ HOÀN THIỆN TỔ CHỨC CÔNG TÁC KẾ TOÁN TRONG TẬP ĐOÀN CÔNG NGHIỆP THAN - KHOÁNG SẢN VIỆT NAM 147

3.3.1 Hoàn thiện tổ chức bộ máy kế toán 147

3.3.2 Hoàn thiện tổ chức thu nhận thông tin kế toán 152

3.3.3 Hoàn thiện tổ chức hệ thống hóa, xử lý thông tin kế toán 154

3.3.4 Hoàn thiện tổ chức phân tích và cung cấp thông tin kế toán 159

3.3.5 Hoàn thiện tổ chức công tác kiểm tra kế toán 166

3.4 ĐIỀU KIỆN THỰC HIỆN CÁC GIẢI PHÁP 168

3.4.1 Điều kiện về phía Nhà nước 168

3.4.2 Điều kiện về phía Tập đoàn công nghiệp Than - Khoáng sản Việt Nam 170

KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 172

KẾT LUẬN 173

DANH MỤC CÔNG TRÌNH ĐÃ CÔNG BỐ CỦA TÁC GIẢ 174

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 175

PHỤ LỤC 180

Trang 4

BCĐKT : Bảng cân đối kế toán

BCĐKTHN : Bảng cân đối kế toán hợp nhất

BCKQHĐKD : Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh

BCKQHĐKDHN : Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh hợp nhất

BCLCTT : Báo cáo lưu chuyển tiền tệ

BCLCTTHN : Báo cáo lưu chuyển tiền tệ hợp nhất

BCTC : Báo cáo tài chính

BCTCHN : Báo cáo tài chính hợp nhất

Bảng 2.1: Hình thức sổ kế toán trong Tập đoàn công nghiệp Than -

Khoáng sản Việt Nam 112

Bảng 2.2: Bảng tổng hợp chỉ tiêu phân tích Báo cáo tài chính hợp nhất

của Tập đoàn công nghiệp Than - Khoáng sản Việt Nam 128

Bảng 3.1: Bảng đề xuất bổ sung một số chỉ tiêu trong phân tích

BCTCHN tại Tập đoàn 164

Trang 5

DANH MỤC CÁC SƠ ĐỒ

Trang

Sơ đồ 1.1: Mô hình tổ chức bộ máy kế toán tập trung 40

Sơ đồ 1.2: Mô hình tổ chức bộ máy kế toán phân tán 41

Sơ đồ 1.3: Mô hình tổ chức bộ máy kế toán vừa tập trung vừa phân tán 42

Sơ đồ 2.1: Sơ đồ tổ chức Tập đoàn công nghiệp Than - Khoáng sản Việt Nam 83

Sơ đồ 2.2: Sơ đồ quản lý và điều hành của Tập đoàn công nghiệp Than - Khoáng sản Việt Nam 85

Sơ đồ 2.3: Sơ đồ tổ chức bộ máy kế toán tại CTM Tập đoàn công nghiệp Than - Khoáng sản Việt Nam 100

Sơ đồ 2.4: Sơ đồ tổ chức bộ máy kế toán tại các đơn vị hạch toán phụ thuộc CTM Tập đoàn công nghiệp Than - Khoáng sản Việt Nam 101

Sơ đồ 2.5: Sơ đồ bộ máy kế toán tại các Tổng công ty trong Tập đoàn công nghiệp Than - Khoáng sản Việt Nam 102

Sơ đồ 2.6: Sơ đồ tổ chức bộ máy kế toán tại các CTC trong Tập đoàn công nghiệp Than - Khoáng sản Việt Nam 103

Sơ đồ 2.7: Sơ đồ tổ chức bộ máy kế toán tại các đơn vị sự nghiệp có thu trong Tập đoàn công nghiệp Than - Khoáng sản Việt Nam 104

Sơ đồ 2.8: Sơ đồ quy trình lập BCTCHN 123

Sơ đồ 3.1: Tổ chức bộ máy kế toán tại CTM theo hướng chuyên môn hóa 148

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Trong những năm gần đây, thực hiện chủ trương của Đảng và Nhà nước, các Tổng công ty Nhà nước từng bước xây dựng, củng cố để hình thành các TĐKT lớn mạnh, có năng lực cạnh tranh trên thị trường trong nước và quốc tế Theo chủ trương này, một số TCT Nhà nước trong những ngành then chốt sau khi được cổ phần hoá, sắp xếp lại đã hoạt động rất có hiệu quả và đóng góp đáng kể vào sự tăng trưởng của nền kinh tế quốc dân tạo tiền đề cho sự ra đời của một số TĐKT Nhà nước Việc hình thành các TĐKT theo mô hình CTM - CTC đã bước đầu được hình thành và phát triển, từ đó vấn đề nâng cao hiệu quả quản lý đối với các TĐKT được đặt ra như một tất yếu khách quan Trong đó, sử dụng công cụ kế toán - một công cụ quan trọng của hệ công cụ quản lý kinh tế cần phải được nghiên cứu, tổ chức hợp lý

và khoa học, vận dụng vào thực tiễn đạt hiệu quả cao nhất Tuy nhiên trên thực tế, bên cạnh các kết quả đạt được, việc quản lý các TĐKT ở nước ta thông qua công cụ

kế toán còn nhiều bất cập, chưa đi vào nề nếp Đặc biệt là vấn đề tổ chức công tác kế toán, vấn đề cung cấp thông tin KTTC và KTQT phục vụ cho công tác quản trị trong các TĐKT Tổ chức công tác kế toán trong các TĐKT là vấn đề mới mẻ còn có nhiều quan điểm chưa thống nhất cần được nghiên cứu một cách căn bản, có hệ thống Trong những năm qua, cùng với quá trình đổi mới phương thức tổ chức SXKD; cơ chế quản lý kinh tế đáp ứng yêu cầu của quá trình hội nhập và phát triển của các doanh nghiệp, công tác kế toán được quan tâm, đổi mới và hoàn thiện Với việc ban hành Luật kế toán, hệ thống chuẩn mực và sửa đổi Chế độ kế toán theo hướng tiếp cận với các thông lệ chuẩn mực kế toán quốc tế đã từng bước đáp ứng yêu cầu quản lý

Hơn 20 năm qua, kể từ khi hoạt động theo mô hình Tập đoàn (từ tháng 10 năm

1994 đến nay), Tập đoàn công nghiệp Than - Khoáng sản Việt Nam đã đạt sản lượng khai thác trên 500 triệu tấn, trở thành một trong những TĐKT mạnh của đất nước, được Nhà nước giao trọng trách chính trong việc thực hiện quy hoạch phát triển ngành Than, ngành công nghiệp khai thác Bauxit - alumin - nhôm, ngành công nghiệp Titan và một số ngành công nghiệp khai thác khoáng sản khác Tập đoàn công nghiệp Than - Khoáng sản Việt Nam là một TĐKT đa ngành, đa lĩnh vực được xếp hạng trong 10 doanh nghiệp Nhà nước lớn nhất trong giai đoạn 2005-2015 Do vậy,

Trang 6

ban lãnh đạo Tập đoàn rất cần các thông tin khác nhau để đánh giá hiệu quả hoạt

động của Tập đoàn, trong đó có thông tin kế toán cung cấp Tập đoàn công nghiệp

Than - Khoáng sản Việt Nam với số lượng lớn đơn vị thành viên với cơ cấu tổ chức

đa dạng, phức tạp, với quy mô hoạt động đa dạng, do vậy đòi hỏi tổ chức công tác kế

toán không chỉ trong phạm vi nhỏ hẹp một đơn vị mà phải được tổ chức khoa học,

hợp lý trên toàn hệ thống trong Tập đoàn Tuy nhiên việc tổ chức công tác kế toán

trong Tập đoàn công nghiệp Than - Khoáng sản Việt Nam còn những hạn chế cần

phải nghiên cứu hoàn thiện Do đó việc nghiên cứu thực trạng và đề ra các giải pháp

hoàn thiện tổ chức công tác kế toán trong Tập đoàn công nghiệp Than - Khoáng sản

Việt Nam là vấn đề vô cùng cần thiết cả về mặt lý luận và thực tiễn Xuất phát từ vấn

đề nêu trên, nghiên cứu sinh đã lựa chọn đề tài:“Hoàn thiện tổ chức công tác kế

toán trong Tập đoàn công nghiệp Than - Khoáng sản Việt Nam” làm đề tài nghiên

cứu luận án tiến sĩ

2 Tổng quan về các đề tài nghiên cứu

Tổ chức công tác kế toán trong doanh nghiệp là một khâu của công tác tổ

chức, quản lý và có ý nghĩa hết sức quan trọng trong việc nâng cao hiệu quả quản lý

của doanh nghiệp Xuất phát từ thực tế trên, đã có một số đề tài nghiên cứu khoa học

cấp Bộ, cấp ngành, cấp cơ sở; luận án tiến sĩ; bài báo đăng tạp chí kỷ yếu hội thảo

khoa học quan tâm đến vấn đề tổ chức công tác kế toán trong các doanh nghiệp

2.1 Các công trình nghiên cứu trên thế giới

Mô hình CTM - CTC ở các nước phát triển trên thế giới đã có từ lâu nhưng

chủ yếu trong lĩnh vực kinh tế tư nhân Do đặc điểm về tổ chức quản lý kinh doanh

khác biệt đã chi phối đến đặc điểm tổ chức công tác kế toán trong các doanh nghiệp

hoạt động theo mô hình này, mà cụ thể là chi phối đến tổ chức bộ máy kế toán và

công tác kế toán phục vụ cho việc lập và trình bày BCTCHN Do đó, có nhiều nghiên

cứu ở các nước tập trung vào hai nội dung này của tổ chức công tác kế toán trong các

CTM - CTC

Có thể kể đến một số nghiên cứu trên thế giới như sau:

Nghiên cứu của Christine Windbichler (2000), "Corporate Group Law for

Europe": Comments on the Forum Europaeum’s Principles and Proposals for a

European Corporate Group Law, European Business Organization Law Review 1:

265-286 (“Luật Tập đoàn kinh tế châu Âu”: Các nguyên tắc và đề xuất về Luật Tập

đoàn kinh tế và các tổ chức kinh doanh tại Châu Âu, tóm tắt số 265- 286) Trong nghiên cứu này, tác giả đã đề cập đến các quy định của Liên minh Châu Âu về tổ chức hoạt động trong các TĐKT Trong đó, có đề cập đến các quy định về tổ chức công tác kế toán trong các tập đoàn

Nghiên cứu của Colpan A M and Hikino T (2010), "Foundations of Business

Groups: Towards an Integrated Framework" in The Oxford Handbook of Business

Groups, Colpan et al (eds.) Oxford University Press Tạm dịch là Colpan A.M và Hikino T (2010) "Cơ sở của Tập đoàn kinh tế: Hướng tới một cơ cấu thống nhất" Trong đề tài này, tác giả đã nghiên cứu cơ sở hình thành các TĐKT, đồng thời đề xuất một số kiến nghị để hoàn thiện công tác quản lý trong các TĐKT trong đó có đề xuất về tổ chức bộ máy kế toán và các quy định về kế toán

Nghiên cứu của Belenzon, Patacconi, Zelner (2013), "Identifying archetypes:

an empirical study of business group structure in 16 developed countries" (Nghiên

cứu thực nghiệm về cấu trúc Tập đoàn kinh tế tại 16 quốc gia phát triển) Trong công trình này, các tác giả có đề cập đến cấu trúc thường thấy của các tập đoàn ở 16 quốc gia phát triển như Mỹ, Pháp, Nhật, Úc… trong đó có đề cập đến những ảnh hưởng của cấu trúc tập đoàn đến tổ chức bộ máy quản lý của tập đoàn

Từ những nghiên cứu trên có thể rút ra một số nhận xét sau:

Trên thế giới không có quy định chính thức về tổ chức bộ máy kế toán Tùy thuộc vào quy mô của từng tập đoàn, yêu cầu về tổ chức thông tin tài chính theo lĩnh vực, bộ phận, khu vực địa lý mà có tổ chức bộ máy kế toán phù hợp Nhưng nhìn chung, tổ chức bộ máy kế toán theo mô hình CTM - CTC tại hầu hết các nước trên thế giới đều có đặc điểm sau:

- Do CTM và CTC chỉ có quan hệ về vốn, CTM và các CTC là các pháp nhân độc lập, nên thông thường, kế toán của CTM và CTC chỉ có quan hệ nghiệp

vụ và giám sát lẫn nhau mà không có quan hệ chi phối theo hình thức mệnh lệnh hành chính

- Việc lập BCTCHN rất phức tạp nên bộ máy kế toán phục vụ cho việc lập và trình bày BCTCHN trong nhiều tập đoàn còn lớn hơn bộ máy kế toán phục vụ cho công tác lập BCTC của riêng CTM

BCTCHN phản ánh tình hình biến động tài sản và nguồn vốn tại một thời điểm và tình hình kết quả hoạt động trong kỳ của một nhóm các công ty có quan hệ

Trang 7

sở hữu vốn lẫn nhau và trình bày chúng như thể là BCTC của một thực thể pháp lý

duy nhất Do việc lập và trình bày BCTCHN chỉ nhằm mục đích quản lý trong nội bộ

doanh nghiệp và phục vụ các cổ đông nên BCTCHN không mang tính pháp lý và

phạm vi các công ty phải lập và trình bày BCTCHN cũng bị thu hẹp hơn

Các nước trên thế giới có quy định khác nhau về phạm vi các công ty phải lập

và trình bày BCTCHN Nhưng nhìn chung phần lớn các quốc gia đều tuân thủ các

quy định về lập và trình bày BCTCHN của Ủy ban chuẩn mực kế toán quốc tế Một

số nước không áp dụng toàn bộ hoặc một phần các quy định của Ủy ban chuẩn mực

kế toán quốc tế thì phạm vi các công ty phải lập BCTCHN có thể khác biệt

Về nội dung hệ thống BCTCHN thì hiện nay theo thông lệ quốc tế và hầu hết

các quốc gia trên thế giới như Anh, Mỹ, Úc, Pháp, Nhật… BCTCHN bao gồm 05 báo

cáo chính, đó là: BCĐKTHN, BCKQKDHN, BCLCTTHN, BTMBCTCHN, Báo cáo

biến động VCSH

Nguyên tắc, thủ tục và quy trình lập BCTC nhìn chung được các nước tuân thủ

thống nhất theo quy định của Ủy ban chuẩn mực kế toán quốc tế

2.2 Các công trình nghiên cứu trong nước

2.2.1 Các công trình nghiên cứu về tổ chức công tác kế toán trong

doanh nghiệp

Trước năm 2000 đã có những công trình nghiên cứu khoa học ứng dụng vấn

đề lý luận vào thực tiễn và đã đạt được hiệu quả nhất định Như đề tài “Tổ chức công

tác kế toán ở công ty xây dựng 405 Thành phố Việt Trì” của GS,TS Ngô Thế Chi và

nhóm tác giả Nội dung chủ yếu được đề cập là vận dụng lý luận chung về tổ chức

công tác kế toán để tổ chức công tác kế toán tại Công ty xây dựng 405 Đề tài nghiên

cứu đã được Công ty xây dựng 405 triển khai thực hiện và đem lại những hiệu quả

nhất định song vẫn chưa khắc phục được vấn đề về KTQT

Luận án tiến sĩ kinh tế “Hoàn thiện tổ chức công tác kế toán trong các doanh

nghiệp vừa và nhỏ nhằm tăng cường công tác quản trị doanh nghiệp” của tác giả

Ngô Thị Thu Hồng (2007) Luận án nghiên cứu những vấn đề lý luận về quản trị

doanh nghiệp và tổ chức công tác kế toán trong doanh nghiệp nói chung và trong các

doanh nghiệp nhỏ và vừa Qua thực trạng về đặc điểm tổ chức SXKD và thực trạng tổ

chức công tác kế toán trong các doanh nghiệp nhỏ vừa tại Việt Nam, tác giả đã phân

tích đánh giá thực trạng đó trên cả hai phương diện là KTTC và KTQT; để đề xuất

các giải pháp cơ bản hoàn thiện tổ chức công tác kế toán trong các doanh nghiệp nhỏ vừa tại Việt Nam Luận án của tác giả chỉ giới hạn nghiên cứu trong các doanh nghiệp nhỏ và vừa thuộc các loại hình thuộc các loại hình SXKD khác nhau

“Tổ chức công tác kế toán trong doanh nghiệp” của tác giả Lưu Đức Tuyên và

Ngô Thị Thu Hồng (2011) Nội dung cuốn sách đề cập đến nội dung tổ chức công tác

kế toán trong doanh nghiệp theo quy trình kế toán Bên cạnh đó, các tác giả có đưa ra các quy định pháp lý về kế toán ở Việt Nam hiện nay để tổ chức công tác kế toán trong doanh nghiệp Tuy nhiên, các tác giả mới đề cập đến tổ chức công tác kế toán nói chung, chứ chưa giải quyết được tổ chức công tác kế toán trong TĐKT đặc biệt là

tổ chức lập BCTCHN để cung cấp thông tin cho các nhà quản trị trong Tập đoàn

Luận án tiến sĩ “Tổ chức công tác kế toán trong các công ty chứng khoán Việt

Nam” của tác giả Nguyễn Mạnh Thiều (2011) Tác giả đã hệ thống hoá và phân tích

những lý luận cơ bản về tổ chức công tác kế toán trong các công ty chứng khoán, trong đó nêu bật những nghiệp vụ mới phát sinh trên thị trường chứng khoán Trên cơ

sở thực trạng tổ chức công tác kế toán tại một số công ty chứng khoán Việt Nam, tác giả đã đề xuất hệ thống các giải pháp hoàn thiện tổ chức công tác kế toán trong các công ty chứng khoán hiện nay theo các nội dung mới chủ yếu: Hoàn thiện mô hình công ty chứng khoán; nâng cao vai trò của tổ chức công tác kế toán; hoàn thiện theo từng nội dung tổ chức công tác kế toán

“Tổ chức công tác kế toán doanh nghiệp” của nhóm tác giả Đại học Kinh tế

Thành phố Hồ Chí Minh (2012), do tác giả Nguyễn Phước Bảo Ấn chủ biên Cuốn sách chủ yếu đề cập đến nội dung tổ chức công tác trong doanh nghiệp trong điều kiện ứng dụng công nghệ thông tin như tổ chức thu thập dữ liệu, xây dựng quy trình lập và luân chuyển chứng từ kế toán theo chu trình kinh doanh, tổ chức cung cấp thông tin kế toán, tổ chức bộ máy kế toán

Luận án tiến sĩ kinh tế “Hoàn thiện tổ chức công tác kế toán trong các công ty

cổ phần sản xuất Xi măng Việt Nam” của tác giả Ngô Thị Thu Hương (2012) đã hệ

thống hoá được các vấn đề lý luận về công ty cổ phần và tổ chức công tác kế toán trong các công ty cổ phần Thông qua khảo sát thực tế về tổ chức công tác kế toán trong một số công ty cổ phần sản xuất xi măng Việt Nam, luận án đã phân tích những

ưu điểm, những hạn chế và nguyên nhân chủ yếu của những hạn chế trong tổ chức công tác kế toán; từ đó đề xuất hoàn thiện tổ chức công tác kế toán trong các công ty

Trang 8

cổ phần sản xuất xi măng Việt Nam, nhằm đảm bảo cung cấp thông tin cho các nhà

quản trị doanh nghiệp

2.2.2 Các công trình nghiên cứu về tổ chức công tác kế toán trong Tập

đoàn kinh tế

Cùng với sự phát triển của nền kinh tế, các TĐKT, các TCT hoạt động theo

mô hình CTM - CTC ra đời và ngày càng khẳng định được vai trò quan trọng của

mình trong nền kinh tế Yêu cầu về cung cấp thông tin kế toán phục vụ quản trị doanh

nghiệp và các đối tượng có liên quan đòi hỏi các nghiên cứu khoa học đi sâu và nhiều

lĩnh vực hoạt động của nền kinh tế Một trong những giải pháp để nâng cao hiệu quả

trong hoạt động quản lý kinh tế đó là phải quan tâm nghiên cứu hoàn thiện công cụ kế

toán, đặc biệt là về tổ chức công tác kế toán trong TĐKT Vì vậy, đã có nhiều tác giả

quan tâm, đi sâu nghiên cứu các vấn đề liên quan đến TĐKT, mô hình CTM - CTC,

tổ chức công tác kế toán trong các TĐKT

“Xây dựng mô hình tổ chức công tác kế toán doanh nghiệp theo loại hình công

ty mẹ, công ty con ở Việt Nam” - Đề tài nghiên cứu khoa học cấp Bộ của nhóm tác giả

Học viện Tài chính (2004), do PGS.TS Đoàn Xuân Tiên chủ biên Ngoài thực trạng

vấn đề chuyển đổi doanh nghiệp từ mô hình Liên hiệp xí nghiệp sang mô hình Tổng

công ty Nhà nước tiến tới mô hình TĐKT đề tài tập trung nên ra thực trạng tổ chức

công tác ở các TCT tại Việt Nam Ngoài những nội dung về kinh nghiệm quốc tế về

tổ chức bộ máy kế toán theo mô hình CTM - CTC đồng thời làm rõ mối quan hệ tài

chính, hạch toán và kiểm soát, chi phối trong nội bộ TCT hoặc trong một TĐKT Đề

tài đã góp phần trong việc xây dựng mô hình tổ chức công tác kế toán cho các doanh

nghiệp theo loại hình CTM - CTC, đặc biệt trong việc tổ chức BCTC và BCTCHN

“Lập báo cáo tài chính hợp nhất theo chuẩn mực kế toán Việt Nam - VAS25”

của nhóm các tác giả Ngô Thế Chi, Trương Thị Thuỷ, Lê Văn Liên, Nguyễn Thị

Hồng Vân (2006) Cuốn sách chỉ ra các phương pháp cụ thể lập BCTCHN theo chuẩn

mực kế toán Việt Nam số 25, quy trình, phương pháp lập BCTCHN trong TĐKT, các

CTM - CTC trên các khía cạnh cụ thể như phạm vi hợp nhất BCTC, niên độ hợp

nhất, sự hoà hợp chính sách hợp kế toán giữa CTM và CTC Tuy nhiên, còn một số

vấn đề chưa được giải quyết trong cuốn sách như các vấn đề về lập BCLCTTHN, các

vấn đề về CTC ở nước ngoài…

Luận án tiến sĩ kinh tế “Hoàn thiện tổ chức công tác kế toán trong các doanh

nghiệp thuộc Tập đoàn Dầu khí quốc gia Việt Nam” của tác giả Trần Hải Long

(2011) Luận án đã làm sáng tỏ thêm những vấn đề lý luận về TĐKT và tổ chức công tác kế toán trong các doanh nghiệp thuộc TĐKT tuy nhiên chưa chỉ rõ điểm khác biệt giữa tổ chức công tác kế toán trong các doanh nghiệp thông thường so với các doanh nghiệp thuộc TĐKT Luận án đề xuất những giải pháp cơ bản nhằm hoàn thiện tổ chức công tác kế toán trong các doanh nghiệp thuộc Tập đoàn Dầu khí Quốc gia Việt Nam Tuy nhiên luận án mới chỉ đề cập đến tổ chức công tác kế toán trong các doanh nghiệp thuộc Tập đoàn Dầu khí Quốc gia Việt Nam mà chưa đề cập đến việc tổ chức công tác kế toán trong CTM cũng như việc thu thập, xử lý thông tin kế toán để lập BCTCHN của toàn Tập đoàn

Luận án tiến sĩ “Hoàn thiện tổ chức công tác kế toán ở các Tập đoàn kinh tế

Việt Nam theo mô hình công ty mẹ công ty con” của tác giả Nguyễn Tuấn Anh

(2011) Tác giả đã làm rõ tính tất yếu khách quan của việc hình thành và phát triển các TĐKT theo mô hình CTM - CTC, cũng như ý nghĩa của tổ chức công tác kế toán trong các TĐKT theo mô hình CTM - CTC Thông qua thực trạng về tổ chức công tác kế toán trong các TĐKT, đề xuất các giải pháp nhằm góp phần hoàn thiện tổ chức công tác kế toán trong các TĐKT Việt Nam Trong luận án, tác giả đề cập về tổ chức công tác KTTC chung cho các TĐKT Việt Nam như Tập đoàn Điện lực Việt Nam, Tập đoàn Bưu chính viễn thông Việt Nam, Tập đoàn Dầu khí Quốc gia Việt Nam…

mà chưa đi sâu nghiên cứu cho một TĐKT cụ thể

Luận án tiến sĩ “Hoàn thiện tổ chức công tác kế toán trong các doanh nghiệp

thuộc Tập đoàn Dệt May Việt Nam” của tác giả Phạm Thị Minh Tuệ (2015) Tác giả

tập trung phân tích đặc điểm của mô hình quản lý trong các TĐKT và sự ảnh hưởng của nó đến tổ chức công tác kế toán, từ đó chỉ ra sự khác biệt của tổ chức công tác kế toán trong doanh nghiệp thông thường với các doanh nghiệp thuộc TĐKT Trên cơ sở khảo sát thực trạng tại các doanh nghiệp thuộc Tập đoàn Dệt May Việt Nam, tác giả

đề xuất các giải pháp hoàn thiện Luận án của tác giả mới chỉ nghiên cứu tổ chức công tác kế toán trong các doanh nghiệp thuộc chuỗi cung ứng hàng dệt may thuộc Tập đoàn Dệt May Việt Nam, chứ chưa nghiên cứu về tổ chức công tác kế toán trong toàn Tập đoàn

Trang 9

Kế toán trong các TĐKT được nhiều tác giả nghiên cứu, lựa chọn làm Luận

án tiến sĩ, đặc biệt là hợp nhất BCTC trong các TĐKT, TCT hoạt động theo mô

hình CTM - CTC là vấn đề được nhiều tác giả khai thác nghiên cứu, như luận án

tiến sĩ kinh tế “Vận dụng chuẩn mực hợp nhất báo cáo tài chính để tổ chức hệ

thống báo cáo tài chính ở Tập đoàn Bưu chính viễn thông Việt Nam” của tác giả

Chúc Anh Tú (2009); “Hoàn thiện kế toán hợp nhất kinh doanh tại Tập đoàn Dầu

khí quốc gia Việt Nam” của tác giả Bùi Thị Ngọc (2012); “Báo cáo tài chính hợp

nhất - Những vấn đề lý luận thực trạng và giải pháp cho Tập đoàn kinh tế Hồng

Hà” của tác giả Đoàn Thị Dung (2012) Bên cạnh đó đầu tư tài chính trong các

doanh nghiệp theo mô hình CTM - CTC ở Việt Nam cũng được nghiên cứu với

Luận án “Hoàn thiện kế toán hoạt động đầu tư tài chính trong các doanh nghiệp

theo mô hình công ty mẹ - công ty con ở Việt Nam hiện nay” của tác giả Đặng

Ngọc Hùng (2011)

2.2.3 Các công trình nghiên cứu liên quan đến Tập đoàn công nghiệp Than

- Khoáng sản Việt Nam

Trong hơn 20 năm qua, kể từ khi hoạt động theo mô hình Tập đoàn, Tập đoàn

công nghiệp Than - Khoáng sản Việt Nam đã đạt sản lượng khai thác trên 500 triệu

tấn, trở thành một trong những TĐKT mạnh của đất nước Do vậy Tập đoàn đã thu

hút được sự quan tâm của khá nhiều nhà nghiên cứu, với một số công trình Luận án

tiến sĩ

Luận án tiến sĩ “Tổ chức công tác kế toán quản trị chi phí sản xuất và tính giá

thành sản phẩm trong các doanh nghiệp khai thác than” của tác giả Trần Văn Hợi

(2007) Tác giả đi sâu nghiên cứu nội dung KTQT chi phí và giá thành trong doanh

nghiệp khai thác than Tác giả tiếp cận KTQTchi phí dưới góc độ KTTC, chủ yếu

phục vụ ghi nhận thông tin chi tiết chi phí hỗ trợ thực hiện phần hành kế toán chi phí

và giá thành trong doanh nghiệp khai thác than

Luận án tiến sĩ “Hoàn thiện kế toán quản trị chi phí, giá thành sản phẩm trong

các doanh nghiệp khai thác than thuộc Tập đoàn công nghiệp Than - Khoáng sản

Việt Nam” của tác giả Phạm Thị Hồng Hạnh (2008) Công trình nghiên cứu vấn đề lý

luận cơ bản về KTQT chi phí, giá thành trong doanh nghiệp Thông qua thực trạng

KTQT chi phí, giá thành sản phẩm trong các doanh nghiệp khai thác than thuộc Tập

đoàn công nghiệp Than - Khoáng sản Việt Nam tác giả đề xuất một số giải pháp hoàn thiện các nội dung tổ chức KTQT chi phí và tính giá thành

Luận án tiến sĩ “Hoàn thiện hệ thống Báo cáo tài chính hợp nhất của Tập

đoàn công nghiệp Than - Khoáng sản Việt Nam” của tác giả Nguyễn Thị Kim Oanh

(2015) đã hệ thống hóa được các vấn đề lý luận cơ bản về TĐKT, hệ thống BCTCHN của các TĐKT Luận án đã khái quát quá trình hình thành và phát triển, đặc điểm hoạt động SXKD ảnh hưởng đến hệ thống BCTCHN của Tập đoàn Trên cơ sở nghiên cứu thực trạng, tác giả đã đề xuất những giải pháp nhằm hoàn thiện về cơ sở pháp lý và BCTCHN của Tập đoàn

2.2.4 Tổng hợp đánh giá các công trình nghiên cứu đã tiếp cận

Có thể thấy rằng các công trình nghiên cứu đề cập ở trên đi sâu nghiên cứu tổ chức công tác kế toán nói chung tại doanh nghiệp hoặc tại các doanh nghiệp thuộc các lĩnh vực khác nhau như xi măng, chứng khoán

Về TĐKT, đã có các nghiên cứu liên quan đến công tác kế toán như lập BCTCHN, kế toán hoạt động đầu tư tài chính

Mặc dù đã có nhiều nghiên cứu về tổ chức công tác kế toán trong các TĐKT, nhưng những năm qua thực hiện chủ trương đổi mới, tái cơ cấu TĐKT, hoạt động SXKD của các TĐKT có nhiều thay đổi Do vậy nhiều nội dung của các công trình nghiên cứu về tổ chức công tác kế toán trong các TĐKT không còn phù hợp với thực tiễn hiện nay Bên cạnh đó, các đặc điểm trong hoạt động SXKD, tổ chức quản

lý của các TĐKT ảnh hưởng đến tổ chức công tác kế toán cần phải được nghiên cứu làm rõ

Tập đoàn công nghiệp Than - Khoáng sản Việt Nam là TĐKT đa ngành, được liên kết theo cả chiều dọc và chiều ngang, có đặc điểm tổ chức SXKD, tổ chức quản

lý vừa phức tạp vừa đa dạng, có đặc điểm tổ chức công tác kế toán rất khác biệt so với các TĐKT mà các tác giả trước đây đã thực hiện nhưng chưa có công trình nghiên cứu trong nước về tổ chức công tác kế toán trong Tập đoàn công nghiệp Than

- Khoáng sản Việt Nam

Xuất phát từ khoảng trống trong các công trình nghiên cứu đã phân tích ở trên,

tác giả đã lựa chọn đề tài nghiên cứu của luận án tiến sĩ là “Hoàn thiện tổ chức công

tác kế toán trong Tập đoàn công nghiệp Than - Khoáng sản Việt Nam”

Trang 10

Từ quá trình tìm hiểu về đề tài nghiên cứu, Luận án sẽ tập trung vào các vấn đề

chính như sau:

- Khái quát về TĐKT, thông tin kế toán trong TĐKT, phân tích những đặc

trưng của TĐKT ảnh hưởng đến tổ chức công tác kế toán Luận án tập trung nghiên

cứu nội dung tổ chức công tác kế toán trong TĐKT

- Trên cơ sở khảo sát thực trạng tổ chức công tác kế toán trong Tập đoàn công

nghiệp Than - Khoáng sản Việt Nam, Luận án đưa ra những đánh giá về ưu điểm,

hạn chế và chỉ rõ nguyên nhân của những hạn chế đó từ đó đề xuất những giải pháp

cơ bản hoàn thiện tổ chức công tác kế toán trong trong Tập đoàn công nghiệp Than -

Khoáng sản Việt Nam

3 Mục đích nghiên cứu của luận án

- Về mặt lý luận: Đề tài tập trung hệ thống hóa, phân tích làm sáng tỏ thêm

những vấn đề lý luận về TĐKT; làm rõ những đặc trưng của TĐKT ảnh hưởng đến tổ

chức công tác kế toán trong TĐKT; nghiên cứu các nội dung tổ chức công tác kế toán

trong TĐKT

- Về mặt thực tiễn: Từ khảo sát, phân tích, đánh giá đúng thực trạng về tổ

chức công tác kế toán trong Tập đoàn công nghiệp Than - Khoáng sản Việt Nam;

luận án chỉ rõ những ưu điểm, hạn chế và nguyên nhân của những hạn chế Trên cơ

sở đó, luận án đề xuất giải pháp để hoàn thiện tổ chức công tác kế toán trong Tập

đoàn công nghiệp Than - Khoáng sản Việt Nam

4 Đối tuợng và phạm vi nghiên cứu của luận án

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Luận án nghiên cứu tổ chức công tác kế toán trong Tập đoàn công nghiệp

Than - Khoáng sản Việt Nam

4.2 Phạm vi nghiên cứu

- Về nội dung nghiên cứu:

Luận án tập trung nghiên cứu tổ chức công tác kế toán trong Tập đoàn công

nghiệp Than - Khoáng sản Việt Nam; cũng như tổ chức thu nhận, xử lý thông tin kế

toán giữa công ty mẹ và các công ty con trong Tập đoàn nhằm phục vụ cho việc lập

báo cáo toàn Tập đoàn Luận án nghiên cứu tổ chức công tác kế toán cả trên góc độ

kế toán tài chính và kế toán quản trị

- Về không gian nghiên cứu: luận án nghiên cứu trong Tập đoàn công nghiệp Than - Khoáng sản Việt Nam

- Về thời gian nghiên cứu: Luận án nghiên cứu, khảo sát thực tế, thu thập thông tin, số liệu về tổ chức công tác kế toán trong Tập đoàn công nghiệp Than - Khoáng sản Việt Nam trong giai đoạn từ năm 2013 đến 2015, và lấy số liệu năm

2015 để minh hoạ

5 Phương pháp nghiên cứu của luận án

Quá trình nghiên cứu được chia làm 3 giai đoạn:

Giai đoạn 1: Nghiên cứu lý luận chung về tổ chức công tác kế toán trong các

Tập đoàn kinh tế

Giai đoạn 2: Khảo sát thực trạng tổ chức công tác kế toán trong Tập đoàn

công nghiệp Than - Khoáng sản Việt Nam

Giai đoạn 3: Phân tích, xử lý số liệu từ đó rút ra những kết luận về những nội

dung nghiên cứu

Đề tài nghiên cứu vừa mang tính lý luận, vừa mang tính ứng dụng, do đó để đạt được mục tiêu nghiên cứu đề ra, tác giả kết hợp sử dụng các phương pháp nghiên cứu khác nhau như:

- Phương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sử, nghiên cứu lý luận kết hợp với điều tra khảo sát thực tế để phân tích, so sánh, tổng hợp, thống kê

- Phương pháp quy nạp, phương pháp suy luận logic, phương pháp tổng hợp

để tổng hợp các công trình nghiên cứu đã công bố có liên quan đến luận án, tổng hợp các quan điểm cũng như kinh nghiệm về tổ chức công tác kế toán của các nước phát triển

- Phương pháp tra cứu tài liệu:

Tác giả sử dụng phương pháp tra cứu tài liệu để nghiên cứu lý luận về vấn

đề liên quan tới nội dung nghiên cứu từ các nguồn: Hệ thống sách chuyên môn, chuyên khảo được biên dịch, tạp chí chuyên ngành trong và ngoài nước, các công trình nghiên cứu khoa học khác như: Luận án, đề tài khoa học… để có thể khẳng định và khái quát lại những mặt đạt được của các công trình từ đó tìm ra điểm trống nghiên cứu

Trang 11

- Phương pháp thu thập dữ liệu:

Để hoàn thành được mục tiêu nghiên cứu đề ra và trả lời được các câu hỏi

nghiên cứu, luận án tiến hành thu thập các dữ liệu sơ cấp và dữ liệu thứ cấp

+ Đối với dữ liệu sơ cấp:

Nguồn dữ liệu sơ cấp được tác giả thu thập thông qua các phiếu điều tra, khảo

sát, lấy ý kiến chuyên gia tại 33 đơn vị trong Tập đoàn công nghiệp Than - Khoáng

sản Việt Nam (Phụ lục 1.3) Để phù hợp với mục tiêu thu thập thông tin, Phiếu điều

tra khảo sát được thiết kế thành 2 dạng:

Dạng 1 (Phụ lục 1.1a): Phiếu điều tra khảo sát dành cho bộ phận kế toán Tác

giả gửi tổng số 66 phiếu khảo sát tới 33 đơn vị trong Tập đoàn (mỗi đơn vị gửi 2

phiếu điều tra khảo sát), kết quả thu về 58 phiếu, đạt tỷ lệ 87,9%

Dạng 2 (Phụ lục 1.1b): Phiếu điều tra khảo sát dành cho nhà quản trị doanh

nghiệp (Lãnh đạo đơn vị, cán bộ công nhân viên các phòng ban chức năng: Phòng kế

hoạch, phòng vật tư, phòng kỹ thuật ) Tác giả gửi 66 phiếu khảo sát tới 33 đơn vị

trong Tập đoàn (mỗi đơn vị gửi 2 phiếu), kết quả thu về 50 phiếu, đạt tỷ lệ 75,8%

Bên cạnh đó, tác giả tập trung trao đổi trực tiếp, phỏng vấn và lấy ý kiến các

nhà quản trị, các giám đốc tài chính, các kế toán trưởng tại CTM Tập đoàn công

nghiệp Than - Khoáng sản Việt Nam, các kế toán viên tại một số đơn vị hạch toán

phụ thuộc và các CTC trong Tập đoàn

Với phương pháp phỏng vấn trực tiếp, đối tượng phỏng vấn được tác giả chia

thành những nhóm chính: Nhà quản trị (bên cần thông tin kế toán) và nhóm nhân viên

kế toán (cung cấp thông tin kế toán)

+ Đối với dữ liệu thứ cấp:

Số liệu thứ cấp gồm các tài liệu liệu liên quan đến tổ chức công tác kế toán

trong Tập đoàn công nghiệp Than - Khoáng sản Việt Nam như:

Tài liệu văn bản trong khung pháp lý hiện hành của Việt Nam: Luật kế toán

Việt Nam, hệ thống chuẩn mực, chế độ kế toán hướng dẫn về tổ chức công tác kế

toán trong doanh nghiệp

Tài liệu về hoạt động SXKD, tổ chức quản lý của Tập đoàn

Tài liệu về tổ chức công tác kế toán tại CTM Tập đoàn, các đơn vị hạch toán

phụ thuộc, các CTC: hệ thống chứng từ, hệ thống tài khoản, hệ thống sổ kế toán, hệ

thống BCTC riêng, hệ thống Báo cáo quản trị, BCTCHN

Các tài liệu, số liệu này được các đơn vị cung cấp hoặc được nghiên cứu sinh thu thập khai thác từ các công trình nghiên cứu trước, website

- Phương pháp xử lý dữ liệu:

Sau mỗi cuộc phỏng vấn và phiếu điều tra thu về, thông tin được tác giả lựa chọn, phân loại sắp xếp một cách có hệ thống dưới dạng văn bản theo từng chủ đề Bên cạnh đó, kết hợp với số liệu từ việc điều tra quan sát, phỏng vấn trực tiếp, tác giả

sử dụng phần mềm Excel để tổng hợp các phiếu điều tra, xử lý, phân tích số liệu Kết

quả điều tra được trình bày trên bảng tính Excel dưới dạng bảng biểu

- Phương pháp phân tích số liệu:

Phương pháp so sánh được tác giả sử dụng nhằm đánh giá các tài liệu, kiểm chứng để nghiên cứu, tổng kết thực trạng, phân tích làm nổi bật thực trạng các vấn đề nghiên cứu, xác định rõ những nguyên nhân làm cơ sở đề xuất phương hướng, yêu cầu, nguyên tắc và các giải pháp hoàn thiện tổ chức công tác kế toán trong Tập đoàn

công nghiệp Than - Khoáng sản Việt Nam

Ngoài ra, tác giả sử dụng các các phương pháp khác như phương pháp quy nạp, phương pháp suy luận logic, phương pháp tổng hợp để tổng hợp các công trình nghiên cứu đã công bố có liên quan đến luận án, tổng hợp các quan điểm cũng như kinh nghiệm về tổ chức công tác kế toán của quốc tế Những phương pháp này còn được sử dụng ở chương 2 nhằm tổng hợp các kết quả điều tra và đưa ra các phân tích, đánh giá, nhận định về thực trạng về tổ chức công tác kế toán trong Tập đoàn công nghiệp Than - Khoáng sản Việt Nam, qua đó tìm ra những tồn tại để đề xuất các giải pháp hoàn thiện

6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận án

- Ý nghĩa về mặt khoa học:

Luận án là tài liệu nghiên cứu khoa học cho các vấn đề lý luận về tổ chức công tác kế toán trong các doanh nghiệp nói chung và trong các TĐKT hoạt động theo mô hình CTM - CTC nói riêng Lý luận trong luận án có thể là tiền đề và cơ sở để hoàn thiện và bổ sung lý luận về tổ chức công tác trong các loại hình doanh nghiệp khác

- Ý nghĩa về mặt thực tiễn:

Luận án đã nghiên cứu các đặc điểm tổ chức quản lý và hoạt động đặc trưng của Tập đoàn công nghiệp Than - Khoáng sản Việt Nam ảnh hưởng đến tổ chức công tác kế toán

Trang 12

Luận án đã khảo sát, phân tích thực trạng tổ chức công tác kế toán trong Tập

đoàn công nghiệp Than - Khoáng sản Việt Nam theo các nội dung: tổ chức bộ máy kế

toán, tổ chức thu nhận thông tin kế toán, tổ chức hệ thống hoá và xử lý thông tin kế

toán, tổ chức phân tích và cung cấp thông tin kế toán, tổ chức lưu trữ tài liệu kế toán

và công tác kiểm tra kế toán Kết quả đánh giá chỉ ra được những ưu điểm cũng như

những hạn chế và nguyên nhân của những hạn chế này

Trên cơ sở các kết quả nghiên cứu, khảo sát và đánh giá, luận án đề xuất

những phương hướng, các giải pháp thiết thực để hoàn thiện tổ chức công tác kế toán

trong Tập đoàn công nghiệp Than - Khoáng sản Việt Nam

Hơn nữa, luận án cũng cung cấp thông tin để các tổ chức đào tạo tư vấn, thiết kế

chương trình đào tạo, cập nhật kiến thức cho các cán bộ kế toán, các nhà quản lý

doanh nghiệp sao cho phù hợp với thực tế tổ chức công tác kế toán trong giai đoạn

hiện nay

7 Kết cấu của luận án

Ngoài phần mở đầu và kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, luận

án bao gồm 3 chương:

Chương 1: Lý luận chung về tổ chức công tác kế toán trong các Tập đoàn

kinh tế

Chương 2: Thực trạng tổ chức công tác kế toán trong Tập đoàn công nghiệp

Than - Khoáng sản Việt Nam

Chương 3: Hoàn thiện tổ chức công tác kế toán trong Tập đoàn công nghiệp

Than - Khoáng sản Việt Nam

Chương 1

LÝ LUẬN CHUNG VỀ TỔ CHỨC CÔNG TÁC KẾ TOÁN

TRONG CÁC TẬP ĐOÀN KINH TẾ

1.1 KHÁI QUÁT CHUNG VỀ TẬP ĐOÀN KINH TẾ

1.1.1 Khái niệm và đặc điểm của Tập đoàn kinh tế

1.1.1.1 Khái niệm Tập đoàn kinh tế

Hiện nay, mô hình TĐKT đang dần trở nên phổ biến và đóng vai trò quan trọng trong nền kinh tế ở nhiều nước trên thế giới Tuy nhiên, ở Việt Nam và nhiều nước trên thế giới, TĐKT được hiểu theo nhiều cách khác nhau

Quan niệm về TĐKT có sự thay đổi và khác nhau theo thời gian, điều kiện, trình độ phát triển kinh tế, sự phân công chuyên môn hoá, hợp tác hoá giữa các doanh nghiệp, cách tiếp cận và mục tiêu quản lý ở mỗi nước Điều đó lý giải vì sao cho đến nay không có định nghĩa thống nhất về TĐKT

Tại Châu Âu và Hoa Kỳ, các TĐKT được hình thành một cách chính thức từ sau cuộc cách mạng công nghiệp Trước hết có thể kể đến hình thức “Cartel” Đây là hình thức TĐKT theo một ngành chuyên môn hóa, nó chỉ bao gồm các công ty sản xuất một loại sản phẩm hoặc dịch vụ kinh doanh nhằm mục đích hạn chế sự cạnh tranh bằng thỏa thuận thống nhất về giá cả, phân chia thị trường tiêu thụ, nguyên liệu, thống nhất về chuẩn mực, mẫu mã, kiểu dáng, kích cỡ sản phẩm, dịch vụ Trong Cartel, các công ty tham gia vẫn giữ nguyên tư cách pháp nhân và tính độc lập về kinh tế bị hạn chế bởi các hợp đồng kinh tế [Vũ Duy Từ, 2002]

Một dạng đặc biệt của Cartel là Syndicate và Trust Điểm khác biệt căn bản của so với Cartel là trong Syndicate có một văn phòng chung do một ban quản trị điều hành và tất cả các công ty phải tiêu thụ hàng hóa của họ qua kênh văn phòng này Điều này làm cho các đơn vị thành viên vân giữ nguyên tính độc lập về sản xuất nhưng mất tính độc lập về thương mại Với hình thức Trust, liên kết trong tập đoàn không chỉ ở khâu tiêu thụ mà còn ở khâu sản xuất Trust bao gồm nhiều doanh nghiệp công nghiệp do một ban quản trị thống nhất điều khiển Khác với Cartel và Syndicate, các đơn vị thành viên trong Trust đều mất quyền độc lập cả về sản xuất và thương mại [Vũ Duy Từ, 2002]

Trang 13

Một hình thức tập đoàn cũng được hình thành rất sớm là “Consordium”,

Consordium là từ gốc Latinh có nghĩa là “đối tác, hiệp hội hoặc hội” được sử dụng để

chỉ một tập hợp của hai hay nhiều thực thể kinh tế nhằm mục đích tham gia hoạt động

chung hoặc đóng góp nguồn lực để đạt được mục tiêu chung Consordium được xác

lập trên cơ sở hợp đồng, trong đó quy định rõ quyền và nghĩa vụ của công ty thành

viên tham gia [Vũ Duy Từ, 2002]

Tại khu vực Bắc Mỹ và Châu Âu, đầu thế kỷ XX đã hình thành mô hình tập

đoàn theo hình thức “Concern” Đây là hình thức được áp dụng phổ biến hiện nay ở

nhiều nước dưới hình thức CTM đầu tư vào CTC Mục tiêu của việc thành lập

Concern là tạo thế lực tài chính mạnh để phát triển kinh doanh nhằm hạn chế rủi ro

đồng thời hỗ trợ mạnh mẽ trong nghiên cứu khoa học, ứng dụng công nghệ mới,

phương pháp quản lý hiện đại Các CTC là thành viên của Concern hoạt động trên

nhiều lĩnh vực Các CTC chịu trách nhiệm hữu hạn trên phần vốn kinh doanh của

mình và giữ tính độc lập về pháp lý, nhưng phụ thuộc vào Concern về mục tiêu hoạt

động nhằm thực hiện lợi ích chung giữa CTM và CTC thông qua các hợp đồng kinh

tế, các khoản vay tín dụng hoặc đầu tư Đây là một mô hình có nhiều tác dụng tích

cực, có nhiều khả năng hoạt động tốt, thúc đẩy sự phát triển và liên kết giữa các công

ty [Vũ Duy Từ, 2002]

Sự phát triển cao hơn của các liên kết trong TĐKT dẫn đến sự mở rộng về

phạm vi liên kết Liên kết trong các tập đoàn trước đây chỉ là các liên kết đơn giản

theo từng khâu của quá trình kinh doanh thì ngày nay đã phát triển thành các liên kết

phức tạp bao gồm cả liên kết về hoạt động SXKD và liên kết về tài chính Đây là cơ

sở hình thành các TĐKT theo hình thức “Conglomerate” Conglomerate là tập đoàn

kinh doanh được hình thành bằng cách thu hút những công ty có lợi nhuận cao nhất

và các ngành có hiệu quả hoạt động cao nhất thông qua thị trường chứng khoán Khác

với concern, mô hình Conglomerate là tập đoàn đa ngành, các công ty thành viên có

ít mối quan hệ về công nghệ sản xuất và khâu tiêu thụ nhưng lại có mối liên hệ chặt

chẽ về mặt tài chính Chính vì thế mà mô hình tập đoàn này thường gắn bó chặt chẽ

với ngân hàng và tổ chức tài chính [Vũ Duy Từ, 2002]

Tại một số quốc gia phát triển ở Châu Á, các TĐKT cũng hình thành và phát

triển từ rất sớm Ở Nhật Bản, “Keiretsu” là thuật ngữ được sử dụng để chỉ các TĐKT

Keiretsu là một nhóm các doanh nghiệp độc lập về mặt pháp lý nắm giữ cổ phần của

nhau và thiết lập được mối quan hệ mật thiết về nguồn vốn, về nhân lực, công nghệ, cung ứng nguyên vật liệu, tiêu thụ sản phẩm Ở Hàn Quốc, tập đoàn thường được gọi

là “Chaebol” Chaebol được sử dụng để chỉ liên kết gồm nhiều công ty hình thành quanh một CTM Trong Chaebol, các công ty thành viên trong tập đoàn thường nắm giữ cổ phần hoặc vốn góp của nhau và do một gia đình điều hành Còn theo quan điểm của các nhà kinh tế Trung Quốc, Tập đoàn doanh nghiệp là một tổ hợp kinh doanh tập hợp các doanh nghiệp có liên quan với nhau bởi một CTM CTM của mỗi tập đoàn doanh nghiệp sẽ hoạt động như là hạt nhân của tập đoàn, còn các CTC và các doanh nghiệp có liên quan khác đều là các pháp nhân được pháp luật công nhận, chia sẻ tất cả các quyền dân sự có liên quan và chịu trách nhiệm dân sự phát sinh Những công ty trực thuộc hoặc các đơn vị không phải là pháp nhân sẽ không phải là các thành viên độc lập của tập đoàn Bản thân tập đoàn không phải là các pháp nhân [Nguyễn Thị Hồng Thuý, 2010]

Ở Việt Nam, mô hình TĐKT mới được ứng dụng và đang trong giai đoạn thí điểm thành lập, song khái niệm về TĐKT đã được ghi nhận tại Điều 188 Luật Doanh nghiệp năm 2014 “Tập đoàn kinh tế, TCT thuộc các thành phần kinh tế là nhóm công

ty có mối quan hệ với nhau thông qua sở hữu cổ phần, phần vốn góp hoặc liên kết khác TĐKT, TCT không phải là một loại hình doanh nghiệp, không có tư cách pháp nhân, không phải đăng ký thành lập theo quy định của Luật này”

Như vậy, TĐKT là một thực thể kinh tế có quy mô lớn, bao gồm các tổ chức thành viên hoạt động trong cùng một ngành hoặc nhiều ngành khác nhau trong một phạm vi quốc gia hoặc nhiều quốc gia, có mối quan hệ chặt chẽ với nhau về lợi ích kinh tế, tài chính, kỹ thuật - công nghệ, nghiên cứu phát triển, đào tạo thông tin và thị trường Mục tiêu chính của các TĐKT là tối đa hóa lợi nhuận và không ngừng nâng cao khả năng cạnh tranh của TĐKT trên cơ sở phối hợp, sử dụng hợp lý mọi nguồn lực của các đơn vị thành viên đặc biệt là nguồn lực tài chính

Từ các phân tích trên đây có thể đưa ra một khái niệm chung nhất về TĐKT như sau: TĐKT là một tổ hợp các công ty hoạt động trong một ngành hay những ngành khác nhau trong phạm vi một nước hay nhiều nước, trong đó có một CTM nắm quyền kiểm soát, chi phối hoạt động của các CTC về tài chính và chiến lược phát triển TĐKT vừa có chức năng kinh doanh, vừa có chức năng liên kết kinh tế nhằm tạo nên sức mạnh lớn hơn để tăng cường khả năng cạnh tranh và tối đa hóa lợi nhuận

Trang 14

1.1.1.2 Đặc điểm của Tập đoàn kinh tế

Dù là tên gọi khác nhau với hình thức tổ chức và nội dung liên kết hoạt

động không giống nhau, nhưng TĐKT có chung một số đặc điểm và vai trò cơ bản

như sau:

- Tập đoàn kinh tế không có tư cách pháp nhân

TĐKT là một tổ hợp các công ty hoạt động trong một hay nhiều ngành khác

nhau trong phạm vi một hay nhiều nước không có tư cách pháp nhân Mỗi đơn vị

thành viên của tập đoàn là một pháp nhân độc lập Vì vậy, các doanh nghiệp trong tập

đoàn, kể cả CTM và các công ty thành viên bình đẳng với nhau trước pháp luật Do

không có tư cách pháp nhân nên Tập đoàn không phải chịu trách nhiệm liên đới trước

trách nhiệm và nghĩa vụ của các công ty khác CTM và các doanh nghiệp thành viên

tự chịu trách nhiệm về việc đầu tư, kinh doanh trong giới hạn của khoản vốn do mình

bỏ ra

- Tập đoàn kinh tế là một tổ hợp các doanh nghiệp có quy mô lớn

TĐKT có quy mô lớn về vốn, lao động và doanh thu và thường hoạt động kinh

doanh trong nhiều ngành, nhiều lĩnh vực với phạm vi rộng, ở nhiều quốc gia, nhiều

khu vực khác nhau Đặc điểm này vừa tạo điều kiện thuận lợi trong kinh doanh

nhưng cũng là một trong những khó khăn, thách thức cho Tập đoàn Với lợi thế về

vốn và nhân lực, TĐKT sẽ có điều kiện tổ chức SXKD đa dạng về sản phẩm, đổi mới

quy trình công nghệ, áp dụng tiến bộ khoa học và nâng cao năng lực cạnh tranh

- Tập đoàn kinh tế đa dạng về cơ cấu tổ chức

TĐKT bao gồm các doanh nghiệp thành viên có tư cách pháp nhân, trong đó

thường có một số doanh nghiệp có tiềm lực nhất giữ vai trò nòng cốt, trụ cột được gọi

là CTM, các doanh nghiệp thành viên trong Tập đoàn chịu sự chi phối của CTM về

vốn, phương hướng, mục tiêu, chiến lược và kế hoạch kinh doanh, chính sách, giá cả,

thị trường CTM trong tập đoàn có thể thực hiện một trong hai chức năng là chức

năng SXKD và chức năng đầu tư tài chính hay kinh doanh vốn đầu tư vào các doanh

nghiệp khác Việc đầu tư vốn phải lập cơ chế CTM - CTC với sự liên kết quan trọng

là vốn và thiết lập cơ cấu quản lý pháp nhân trong nội bộ Tập đoàn Mối liên kết được

duy trì hoặc chấm dứt thông qua việc CTM đầu tư hoặc rút vốn CTC Quyền lợi của

CTM và CTC được đảm bảo thông qua cơ chế phân chia lợi nhuận sau thuế theo tỷ lệ

vốn góp của các bên

- Tập đoàn kinh tế đa dạng về hình thức sở hữu

Thông thường các TĐKT thuộc sở hữu hỗn hợp của nhiều chủ sở hữu và được tổ chức dưới nhiều hình thức công ty cổ phần hoặc của gia đình, nhưng cũng có thể là một chủ sở hữu ở CTM Phần lớn các TĐKT trên thế giới hiện nay có nguồn gốc từ những công ty thuộc sở hữu tư nhân hoặc gia đình Trong quá trình phát triển

và mở rộng quy mô sản xuất, các công ty đó dần dần trở thành các TĐKT Đồng thời, quá trình mở rộng quy mô của Tập đoàn cũng gắn liền với quá trình thay đổi cơ cấu

sở hữu và chịu sự ảnh hưởng của sự phát triển thị trường

- Tập đoàn kinh tế đa dạng về hình thức liên kết

Hình thức liên kết của TĐKT thể hiện có TĐKT liên kết theo chiều ngang, có TĐKT liên kết theo chiều dọc, có TĐKT liên kết hỗn hợp, có TĐKT liên kết chặt chẽ

và có TĐKT liên kết không chặt chẽ Mỗi hình thức liên kết đều có ý nghĩa riêng nhưng vẫn phải đảm bảo thực hiện được đầy đủ nhiệm vụ của TĐKT

- Tập đoàn kinh tế đa dạng về phương thức điều hành

Với các TĐKT hình thành do liên kết không chặt chẽ thì việc điều hành Tập đoàn chủ yếu thông qua hiệp thương, qua các thỏa ước hoặc hợp đồng kinh tế, cơ quan đầu não Tập đoàn có tư cách pháp nhân Với các TĐKT được hình thành do liên kết chặt chẽ thì việc điều hành ở mức độ chặt chẽ hơn Cơ quan đầu não của Tập đoàn được đặt tại một công ty có quyền kiểm soát, chi phối các công ty khác trong Tập đoàn Cơ quan quyền lực cao nhất của Tập đoàn là Hội đồng thành viên - CTM CTM là công ty TNHH có từ hai thành viên trở lên hoặc Đại hội đồng cổ đông của CTM nếu CTM được tổ chức theo công ty cổ phần Quyền kiểm soát của CTM được ghi nhận trong điều lệ của các CTC trong Tập đoàn và quản lý tập trung một số mặt quan trọng như huy động vốn, sử dụng vốn, bảo toàn và mức sinh lời của vốn, xây dựng chiến lược phát triển, chiến lược thị trường, chiến lược đầu tư, chiến lược đào tạo

- Tập đoàn kinh tế có chức năng đa dạng

TĐKT vừa thực hiện chức năng kinh doanh vừa thực hiện chức năng liên kết kinh tế nhằm tăng cường, tích tụ, tập trung sản xuất và khả năng cạnh tranh, tối đa hóa lợi nhuận của cả Tập đoàn Về ngành và lĩnh vực kinh doanh, hầu hết các TĐKT đều hoạt động đa ngành, đa lĩnh vực nhưng có một số Tập đoàn hoạt động trong một ngành, một lĩnh vực nhất định Mặc dù kinh doanh đa ngành, đa lĩnh vực, song

Trang 15

TĐKT vẫn thường xoay quanh một hoặc một số ít các ngành hàng hoặc công nghệ

chủ chốt Trong các đơn vị thành viên của Tập đoàn, ngoài các công ty sản xuất ra,

một điều khá phổ biến là thường có các đơn vị thành viên phi sản xuất như các công

ty tài chính, cho thuê tài chính, các doanh nghiệp bảo hiểm, các công ty thương mại,

các cơ sở nghiên cứu phát triển

1.1.2 Vai trò của Tập đoàn trong nền kinh tế

Sự hình thành và phát triển của TĐKT là xu thế tất yếu của quá trình hội nhập

và phát triển, có vai trò quan trò quan trọng việc phát triển kinh tế của đất nước, đặc

biệt là trong điều kiện hội nhập kinh tế Thế giới và khu vực hiện nay Vai trò đó thể

hiện trên các mặt chủ yếu sau đây:

- Tập đoàn kinh tế làm tăng sức mạnh kinh tế và khả năng cạnh tranh của cả

Tập đoàn cũng như của từng công ty thành viên

TĐKT cho phép huy động được nguồn lực vật chất cũng như con người vào

quá trình SXKD tạo ra sự hỗ trợ tích cực trong việc cải tổ cơ cấu sản xuất, hình thành

những công ty hiện đại, quy mô lớn có tiềm lực kinh tế mạnh

TĐKT được hình thành và phát triển sẽ tạo điều kiện huy động và tập trung

được nguồn lực bền vững về vốn, về nhân lực và cách thức quản lý, từ đó sẽ tạo điều

kiện cho việc nâng cao sức cạnh tranh trên thương trường, bởi Tập đoàn có đủ sức

trang bị cơ sở vật chất kỹ thuật, đổi mới quy trình công nghệ, đổi mới sản phẩm và

phương pháp quản lý SXKD

- Tập đoàn kinh tế giúp điều hòa vốn

Thành lập TĐKT là một đòi hỏi thực tế và khách quan nhằm khắc phục khả

năng hạn chế về vốn của từng công ty cá biệt Đối với TĐKT, nguồn vốn được huy

động từ các công ty thành viên và được tập trung vào những công ty những dự án

hiệu quả nhất, khắc phục tình trạng vốn bị phân tán nằm ở từng công ty nhỏ TĐKT

với khả năng điều hành và quản lý tốt, giúp nguồn vốn huy động được sử dụng hiệu

quả, đem lại lợi nhuận cho công ty thành viên cũng như trong Tập đoàn

- Tập đoàn kinh tế thúc đẩy phát triển khoa học công nghệ

TĐKT với quy mô hoạt động lớn, khả năng huy động nguồn lực thuận lợi,

chính là giải pháp hữu hiệu, tích cực cho đẩy mạnh nghiên cứu, triển khai ứng dụng

khoa học công nghệ mới vào SXKD của các công ty thành viên TĐKT có cơ sở vật

chất đủ điều kiện đáp ứng các yêu cầu cho việc triển khai các hoạt động nghiên cứu

hoa học Mặt khác TĐKT với nguồn vốn lớn có khả năng trích lập các quỹ nghiên cứu khoa học từ nhiều nguồn khác theo quy định của pháp luật Chính những điều đó

sẽ tạo điều kiện cho việc thúc đẩy phát triển khoa học và công nghệ

- Tập đoàn kinh tế có lợi thế trong ứng dụng và chuyển giao công nghệ

TĐKT với đặc điểm có quy mô lớn, địa bàn hoạt động rộng giúp chuyển giao công nghệ từ nước ngoài một cách có hiệu quả Trong điều kiện đa dạng hóa, đa phương hóa các quan hệ quốc tế hiện nay, TĐKT có lợi thế trong việc áp dụng tiến

bộ khoa học tiên tiến của thế giới, đặc biệt là việc ứng dụng và chuyển giao công nghệ, đổi mới quy trình quản lý theo phương thức hiện đại Sự phối hợp và thống nhất giữa các công ty thành viên trong TĐKT tạo điều kiện thuận lợi trong chuyển giao công nghệ với chi phí thấp nhất, giảm lãng phí về vốn, tập trung được nguồn lực vào thực hiện những mục tiêu chiến lược có lợi cho toàn Tập đoàn Sự hợp tác trong ứng dụng và chuyển giao khoa học và công nghệ trong TĐKT tạo điều kiện cho các doanh nghiệp thành viên có điều kiện đưa nhanh những kết quả của nghiên cứu khoa học vào thực tiễn nhằm nâng cao hiệu quả SXKD của bản thân các doanh nghiệp thành viên cũng như cả TĐKT

- Tập đoàn kinh tế có sức mạnh thống trị khi tham gia cạnh tranh quốc tế

Trong xu thế toàn cầu hóa hiện nay, vấn đề cạnh tranh quốc tế được nhiều quốc gia quan tâm với mục tiêu chiếm lĩnh được lợi thế trên trường quốc tế Chính TĐKT của tất cả các nước đóng vai trò hàng đầu trong cạnh tranh quốc tế, bởi vì, chỉ TĐKT mới có đầy đủ năng lực tạo ra sản phẩm mới mà thị trường quốc tế đòi hỏi, giới thiệu công nghệ và sản phẩm mới tiên tiến nhất của đất nước đó cho toàn thế giới, thiết lập các doanh nghiệp hoặc tổ chức thành viên hoạt động ở nước ngoài dưới dạng công ty đa quốc gia

1.1.3 Mô hình tổ chức quản lý kinh tế trong Tập đoàn kinh tế

Trong TĐKT, quản lý kinh tế là một chức năng quan trọng trong hoạt động quản lý và điều hành chung của Tập đoàn như: quản lý nhân sự, quản lý marketing, quản lý chiến lược Quản lý kinh tế trong TĐKT xét về bản chất chính là quản lý các hoạt động tài chính của TĐKT Do đó, tương ứng với các hoạt động tài chính của TĐKT thì quản lý tài chính của TĐKT bao gồm các nội dung sau:

- Quản lý huy động sử dụng vốn của TĐKT

- Quản lý doanh thu của TĐKT

Trang 16

- Quản lý chi phí của TĐKT

- Quản lý lợi nhuận và phân phối lợi nhuận của TĐKT

Các nội dung quản lý tài chính này được tổ chức quản lý tập trung tại CTM

hoặc từng đơn vị thành viên, từng CTC tùy theo mô hình tổ chức và cấu trúc của

từng TĐKT Mô hình tổ chức quản lý tài chính của TĐKT có thể theo các hình thức

dưới đây:

 Mô hình tổ chức quản lý tài chính theo cấu trúc nhất nguyên và tập

trung quyền lực

Trung tâm của cấu trúc này là văn phòng của Tập đoàn với cơ cấu bao gồm

Ủy ban điều hành và một số phòng ban chức năng phụ trách những lĩnh vực chuyên

biệt như SXKD, tài chính Văn phòng của Tập đoàn là cơ quan quản lý của Tập đoàn

được tổ chức tại CTM Văn phòng này không có tư cách pháp nhân độc lập Tính

chất nhất nguyên của mô hình này thể hiện ở chỗ toàn bộ hoạt động của văn phòng và

hoạt động SXKD của Tập đoàn đặt dưới sự lãnh đạo và quản lý trực tiếp của Tổng

giám đốc Văn phòng là trung tâm đầu tư và trung tâm lợi nhuận của Tập đoàn, thể

hiện sự quản lý tập trung đối với các đơn vị kinh doanh cấp dưới, thông qua các

phòng, ban chức năng để phục vụ cho công tác quản lý các hoạt động của Tập đoàn

Phạm vi áp dụng tổ chức quản lý tài chính theo mô hình này phù hợp với

những Tập đoàn có quy mô không lớn, có hoạt động SXKD tương đối đồng nhất

(hoặc nếu có đa dạng hóa thì cũng là sự kéo dài cơ học của ngành chủ đạo)

Tổ chức quản lý tài chính mô hình này có ưu điểm là đảm bảo cho sự quản lý

điều hành tập trung, thống nhất và kịp thời của lãnh đạo Tập đoàn (văn phòng Tập

đoàn) đối với việc xây dựng, thực thi và điều chỉnh kế hoạch tài chính, kế hoạch

SXKD cũng như các hoạt động hàng ngày của Tập đoàn Đồng thời, tổ chức quản lý

tài chính theo mô hình này cũng đảm bảo sự quản lý, điều hành tập trung, thống nhất

và kịp thời các hạng mục đầu tư quan trọng, các hoạt động tài chính chủ yếu của Tập

đoàn và tạo sự linh hoạt và chủ động trong việc phân phối các nguồn lực tài chính

giữa các bộ phận trong Tập đoàn

Tuy nhiên, tổ chức quản lý tài chính theo mô hình này thường có nguy cơ tập

trung quá nhiều vào công việc quản lý tài chính mang tính sự vụ dẫn đến việc xem

nhẹ vai trò của công tác hoạch định chiến lược và xây dựng kế hoạch tài chính, kế

hoạch kinh doanh dài hạn do việc hợp nhất giữa các chức năng xây dựng chiến lược,

ra quyết định đầu tư với chức năng chỉ đạo các hoạt động hàng ngày của ban lãnh đạo Tập đoàn Bên cạnh đó thì việc phân bổ các nguồn tài chính và phân phối lợi nhuận giữa các bộ phận trong Tập đoàn hoàn toàn do văn phòng Tập đoàn quyết định bằng biện pháp mệnh lệnh hành chính, do đó, rất có thể làm hạn chế tính năng động và động lực phấn đấu của các đơn vị thành viên trong Tập đoàn Do vậy, trên thế giới hầu như các Tập đoàn không áp dụng mô hình quản lý kinh tế này

 Mô hình tổ chức quản lý tài chính theo cấu trúc không tập trung

Theo mô hình này, cơ cầu tổ chức bao gồm một văn phòng và các doanh nghiệp thành viên Văn phòng chịu trách nhiệm tiến hành thực hiện quản lý và điều phối chung của cả Tập đoàn, không thực hiện quản lý trực tiếp hoạt động của các doanh nghiệp thành viên Mỗi doanh nghiệp đều có tư cách pháp nhân, đều có quyền

tự chủ khá cao về tài chính và được quyền chủ động tổ chức thực hiện quản lý tài chính của đơn vị mình Dạng phổ biến nhất theo cấu trúc “holding” là mô hình CTM

- Con Theo mô hình này, các CTC đề có bộ máy quản lý tài chính riêng CTM sở hữu toàn bộ hoặc một tỷ lệ nhất định vốn cổ phần trong các CTC và chỉ thực hiện quản lý tài chính thông qua đánh giá chỉ số lợi nhuận trên vốn cổ phần của CTC không thực hiện quản lý tài chính trực tiếp từng nội dung hoạt động tài chính của các CTC Trong mô hình tổ chức quản lý này, tùy theo tình chất của CTM là công ty nắm vốn hay là công ty vừa nắm vốn vừa trực tiếp kinh doanh để có thể tổ chức bộ phận quản lý tài chính riêng và quản lý trực tiếp theo từng nội dung và quản lý cụ thể đối với hoạt động SXKD của CTM

 Mô hình tổ chức quản lý tài chính theo cấu trúc hỗn hợp

Mô hình quản lý này là sự kết hợp của hai mô hình trên, phù hợp với những Tập đoàn có quy mô lớn, đòi hỏi vừa tập trung vừa phân quyền nhưng phải nhằm tới hiệu quả tổng thể

Tính chất tập trung thể hiện ở việc tổ chức quản lý tập trung tại cơ quan văn phòng Tập đoàn đối với chiến lược, kế hoạch hoặc quyết định đầu tư mới hoặc rút khỏi thị trường, phân bổ nguồn tài chính và điều hành các giao dịch trong nội bộ Tập đoàn Công tác quản lý tài chính tập trung này không chỉ dựa trên việc quản lý những hoạt động tài chính mà quan trọng hơn nó gắn kết những hoạt động mày với việc thực hiện chiến lược kinh doanh và tối ưu hóa hiệu quả hoạt động của Tập đoàn

Trang 17

Tính chất phân quyền thể hiện ở chỗ các CTC hoặc chi nhánh của Tập đoàn có

quyền tổ chức bộ máy quản lý tài chính của mình và có quyền tự chủ về tài chính Có

thể coi đây là các trung tâm lợi nhuận và là trung tâm giá thành Cơ cấu bộ máy tổ

chức tài chính của Tập đoàn theo mô hình này gồm 3 cấp:

- Cấp thứ nhất là HĐQT và cơ quan điều hành của Tập đoàn Đây là cơ quan

đầu não ra quyết định cao nhất trong Tập đoàn, chịu trách nhiệm xây dựng các chiến

lược, kế hoạch tài chính, điều phối các giao dịch nội bộ Tập đoàn

- Cấp thứ hai là các ban chức năng về kế hoạch tài chính, kiểm soát, kiểm

toán giúp HĐQT xây dựng chiến lược, điều hành các giao dịch nội bộ và giám sát

tài chính đối với công ty con

- Cấp thứ ba là bộ phận quản lý tài chính của các CTC trong Tập đoàn Bộ

phận này trực tiếp thực hiện quản lý từng hoạt động tài chính cụ thể của đơn vị mình

Mô hình này hiện nay đang được áp dụng phổ biến tại các TĐKT trên thế giới

và tại các TĐKT ở Việt Nam

1.1.4 Mối quan hệ giữa các thành viên trong Tập đoàn kinh tế

Quan hệ giữa các thành viên trong TĐKT thông thường bao gồm các quan hệ

giao dịch kinh doanh, tài chính, phân phối lợi ích, trao đổi thông tin, nhân sự, văn hóa

Tập đoàn Đó là mối quan hệ giữa CTM và các CTC, giữa các doanh nghiệp trong

Tập đoàn

- Quan hệ giao dịch kinh doanh: Trong nội bộ Tập đoàn có các loại giao dịch

kinh doanh như mua bán hàng hóa, quyền sở hữu và các loại tài sản khác, cung cấp

và nhận các dịch vụ, thanh toán các khoản nợ thay mặt một đơn vị hoặc một bên

khác CTM và các doanh nghiệp thành viên đều là chủ thể độc lập trong thị trường,

hoạt động theo mục tiêu của thị trường Các giao dịch kinh doanh trong nội bộ Tập

đoàn cũng cần phải tuân thủ các quy tắc của thị trường, đảm bảo nguyên tắc tự

nguyện, bình đẳng và cùng có lợi, song cũng cần có những bảo hộ, ưu đãi theo những

nguyên tắc nhất định

- Quan hệ tài chính: Tương tự như quan hệ kinh doanh, các giao dịch tài chính

giữa các doanh nghiệp trong Tập đoàn phải được báo cáo đầy đủ và công khai hoàn

toàn CTM chịu trách nhiệm đôn đốc, chỉ đạo, giám sát hiệu quả kinh tế và tình hình

đảm báo giá trị, giá trị gia tăng Về chế độ kê khai tài chính, CTM và các doanh

nghiệp thành viên của Tập đoàn phải kê khai quyết toán tài chính dựa theo mối quan

hệ về tài chính giữa các đơn vị này Đối với Tập đoàn có CTM hoàn toàn vốn Nhà nước thì CTM phải tổng hợp báo cáo quyết toán tài chính của các CTC hoàn toàn vốn của CTM và CTC có cổ phần chi phối của CTM và báo cáo lên cơ quan đại diện chủ

sở hữu (BTC hoặc bộ ngành chủ quản)

- Quan hệ đầu tư: Để đáp ứng nhu cầu về vốn, các doanh nghiệp trong Tập đoàn phải tự tìm nguồn vốn bằng cách giao dịch với các ngân hàng hoặc thị trường vốn bởi vì CTM không có đủ lượng tài chính để thỏa mãn tất cả các nhu cầu của các công ty thành viên Trong quan hệ đầu tư CTM xác định các chỉ tiêu mang tính vĩ mô như: Mức vay vốn thích hợp, các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả hoạt động chính để vay vốn CTM chỉ giám sát hiệu quả hoạt động còn lãnh đạo CTC chịu trách nhiệm hoàn toàn việc triển khai thực hiện các chỉ tiêu này

Để đảm bảo cho Tập đoàn sử dụng vốn có hiệu quả, CTM có thể chú ý đến việc cơ cấu lại khoản vay vốn tồn đọng bằng cách rút bớt khoản vốn không hiệu quả

để tập trung vào những khoản vốn mang lại hiệu quả theo cách thức:

+ Tập trung vốn cho các doanh nghiệp thành viên có khả năng phát triển + Hỗ trợ hoặc một số doanh nghiệp chủ chốt trong Tập đoàn đạt được yêu cầu của thị trường và thỏa mãn điều kiện lưu thông tiền tệ

+ Đầu tư dây chuyền kỹ thuật cao, sản phẩm tốt

- Quan hệ về tài sản và quản lý kinh tế: CTM và CTC là những pháp nhân kinh tế độc lập, đều có quyền bình đẳng trước pháp luật Giữa CTM và CTC là quan

hệ giữa chủ đầu tư và doanh nghiệp được đầu tư Giữa các doanh nghiệp này tồn tại quyền tài sản Giữa các CTM và các CTC dựa vào quản trị tài chính, hình thức đầu

tư và góp vốn của CTM vào CTC Ngoài ra, CTM còn có thể hỗ trợ kỹ thuật cho các CTC

- Quan hệ hạch toán: CTM và các CTC đều là những pháp nhân kinh tế, thực hiện hạch toán độc lập, đều phải lập BCTC theo luật định Tùy thuộc vào hình thức

cụ thể của từng đơn vị thành viên trong tập đoàn (Doanh nghiệp nhà nước, công ty cổ phần, công ty liên doanh, công ty trách nhiệm hữu hạn ) mà đơn vị kế toán sẽ hoạt động theo luật và phải tuân thủ quy chế tài chính tương ứng Bộ máy kế toán tại mỗi công ty thành viên chịu trách nhiệm tổ chức thu nhận, xử lý, hệ thống hóa và cung cấp thông tin hoạt động SXKD độc lập, cung cấp thông tin phục vụ lập báo cáo hợp nhất của Tập đoàn

Trang 18

1.2 THÔNG TIN KẾ TOÁN VÀ VAI TRÒ CỦA THÔNG TIN KẾ TOÁN

TRONG TẬP ĐOÀN KINH TẾ

1.2.1 Khái quát thông tin kế toán và vai trò của thông tin kế toán trong

Tập đoàn kinh tế

Kế toán là việc thu thập, xử lý, kiểm tra, phân tích và cung cấp thông tin kinh

tế, tài chính dưới hình thức giá trị, hiện vật và thời gian lao động Do vậy, kế toán là

công cụ không thể thiếu được trong hệ thống công cụ quản lý của doanh nghiệp, kế

toán còn là khoa học thu nhận, xử lý và cung cập thông tin về tài sản, sự vận động

của tài sản, các hoạt động kinh tế tài chính trong doanh nghiệp, nhằm kiểm tra, giám

sát toàn bộ hoạt động kinh tế, tài chính của doanh nghiệp

Chức năng của nhà quản trị là lập kế hoạch, tổ chức điều hành, kiểm tra đánh

giá và ra quyết định Các nhà quản trị phải sử dụng các loại thông tin khác nhau để

thực hiện chức năng của mình, như: Thông tin kế hoạch, thông tin về môi trường

xung quanh doanh nghiệp và thông tin thực hiện Để quản lý, nhà quản trị phải sử

dụng hệ thống thông tin kế hoạch, thông tin môi trường xung quanh và thông tin thực

hiện Thông tin thực hiện bao gồm các tài liệu kế toán, thống kê Muốn chỉ đạo, giám

sát, kiểm tra, phân tích, đánh giá một cách đúng mức tình hình hoạt động SXKD, nhà

quản trị phải dựa vào tài liệu thực hiện, đặc biệt là các thông tin do kế toán cung cấp,

là thông tin về sự vận động của các đối tượng kế toán Đó là thông tin được hình

thành từ các nghiệp vụ kinh tế, tài chính đã phát sinh và thực sự hoàn thành trong quá

trình hoạt động của đơn vị

Như Các Mác đã nhấn mạnh: kế toán như là một phương tiện kiểm soát và

tổng kết quá trình sản xuất, trên ý niệm càng trở nên cần thiết chừng nào mà quá trình

sản xuất càng có quy mô xã hội, càng mất tính chất thuần túy cá thể Như vậy, có thể

khẳng định rằng, kế toán có vai trò rất quan trọng trong công tác quản lý, chức năng

của kế toán là cung cấp thông tin cho quản lý, nếu thiếu thông tin kế toán, nhà quản lý

không thể điều hành được hoạt động SXKD của mình Giữa quản trị doanh nghiệp và

thông tin kế toán có mối quan hệ chặt chẽ, đó là:

- Thông tin kế toán phục vụ cho việc lập kế hoạch của doanh nghiệp: Lập kế

hoạch là việc thiết lập những việc cần làm, những nguồn lực cần huy động, thời gian

làm hực hiện, những chỉ tiêu kinh tế kỹ thuật tài chính cần đạt được Kế hoạch có thể

chia thành kế hoạch dài hạn, kế hoạch trung hạn, kế hoạch ngắn hạn Để lập kế hoạch

hợp lý, khoa học, nhà quản trị phải sử dụng những chỉ tiêu định mức kỹ thuật đã có,

sử dụng thông tin kế toán để phân tích tình hình thực hiện kế hoạch của những kỳ trước, phân tích những thay đổi hiện tại, trên cơ sở đó mới lập kế hoạch tương lai

- Với chức năng tổ chức và điều hành: nhà quản trị cần một lượng thông tin rất lớn, đặc biệt là những thông tin phát sinh hàng ngày để kịp thời điều chỉnh, tổ chức hoạt động, như: thông tin về giá thành, thông tin về giá bán, thông tin về lợi nhuận Những thông tin này phải do kế toán chịu trách nhiệm thu thập hàng ngày hoặc định kỳ

- Với chức năng kiểm tra: để đảm bảo tính khả thi khi lập kế hoạch thì phải so sánh giữa kế hoạch với thực tế kỳ trước, hoặc để đánh giá tình hình thực hiện kế hoạch phải so sánh với thực tế kế hoạch Kế toán cung cấp cho các nhà quản trị những thông tin thực tế, mức chênh lệch giữa thực tế với kế hoạch, giúp nhà quản trị điều chỉnh kịp thời, đảm bảo tiến độ thực hiện kế hoạch

- Với chức năng ra quyết định: thông tin kế toán thường là nhân tố chính trong việc ra quyết định của nhà quản trị, điều này được thể hiện rất rõ qua bản chất của thông tin kế toán Thông tin kế toán là nguồn thông tin mang tính chính xác cao, kịp thời và hữu ích nhất so với thông tin từ những lĩnh vực, chuyên ngành khác Và đồng thời nó luôn phản ánh tình hình thực tế theo những tiêu chuẩn, phương pháp quy định mang tính thống nhất cao, đồng nhất và được thực hiện khá linh hoạt, phổ biến Đặc biệt, trong môi trường kinh doanh hiện nay khi mà toàn cầu hóa về kinh tế ngày càng phát triển và lan rộng, sự mở rộng đầu tư, giao lưu kinh tế giữa các quốc gia, sự cạnh tranh giũa các doanh nghiệp ngày ngày càng khốc liệt, sự ra đời ngày càng nhiều các công cụ quản lý, hỗ trợ công tác quản lý thì nhu cầu về thông tin kế toán phải linh hoạt, kịp thời, đơn giản, hữu ích giúp nhà quản trị có quyết định đúng đắn cho hoạt động SXKD càng trở nên cần thiết

Như vậy, chức năng của kế toán là cung cấp và truyền đạt thông tin kinh tế về

tổ chức cho các đối tượng sử dụng khác nhau; mục đích của kế toán nhằm cung cấp các thông tin hữu ích cho việc ra các quyết định kinh tế, cho việc đánh giá hiệu quả SXKD của tổ chức Thông tin kế toán phục vụ cho cả trong và ngoài doanh nghiệp Dựa trên đặc điểm này, kế toán được chia thành hai loại chính: Loại kế toán cung cấp thông tin cho nhà quản lý, điều hành hoạt động trong nội bộ doanh nghiệp, gọi là

Trang 19

KTQT, kế toán cung cấp thông tin cho đối tượng chủ yếu bên ngoài doanh nghiệp

được gọi là KTTC

Kế toán tài chính: KTTC là công cụ của quản lý nhằm thực hiện quá trình

tổng hợp, đo lường, truyền đạt tình hình tài chính của doanh nghiệp Quá trình tổng

hợp và đo lường này được thực hiện theo một trình tự do chế độ kế toán quy định

Các chế độ kế toán được xây dựng căn cứ trên Chuẩn mực kế toán của mỗi quốc gia

có hướng tới sự hoà hợp với các chuẩn mực, thông lệ quốc tế Việc thực hiện các

khâu công việc từ tổ chức thu thập thông tin kế toán, tổ chức hệ thống hoá và xử lý

thông tin kế toán, tổ chức phân tích và cung cấp thông tin kế toán cho các đối tượng

cần sử dụng phải đảm bảo tính trung thực, khách quan Các đối tượng sử dụng thông

tin kế toán, bao gồm: chủ sở hữu, nhà quản lý, khách hàng và các cơ quan quản lý

Nhà nước

- Chủ sở hữu: là nguời có quyền sở hữu đối với hoạt động kinh doanh của

doanh nghiệp (như các cổ đông, nguời góp vốn liên doanh, Nhà nước trong các doanh

nghiệp có 100% vốn Nhà nước và các công ty cổ phần…), họ quan tâm tới lợi ích

sinh ra từ vốn kinh doanh và đây là căn cứ để họ đề ra các quyết định kinh doanh cần

thiết, bao gồm cả quyết định phân chia lợi tức cho họ Đồng thời qua việc phân tích

thông tin của KTTC họ có thể đánh giá được năng lực, trách nhiệm của các bộ phận

quản lý ở doanh nghiệp

- Ngân hàng và các nhà cung cấp tín dụng: Mối quan tâm của họ hướng chủ

yếu vào khả năng trả nợ của doanh nghiệp Vì vậy, họ đặc biệt chú ý tới số tiền và các

tài sản khác để có thể chuyển thành tiền nhanh Từ đó, phân tích khả năng thanh toán

tức thời của doanh nghiệp Đồng thời các chủ ngân hàng và các nhà tín dụng cũng rất

quan tâm tới tổng số vốn của doanh nghiệp Bởi vì, đây là khoản bảo hiểm cho họ

trong trường hợp doanh nghiệp gặp rủi ro Chủ ngân hàng và các nhà tín dụng sẽ

không cho doanh nghiệp vay, nếu thấy doanh nghiệp không có khả năng thanh toán

Muốn biết tình hình thanh toán của doanh nghiệp phải phân tích thông tin từ KTTC

của doanh nghiệp

- Nhà cung cấp vật tư, hàng hoá: Đối với các nhà cung cấp vật tư, hàng hoá,

dịch vụ… họ quyết định xem có cho phép khách hàng sắp tới được mua chịu hàng

hoá, dịch vụ của họ hay không Nhóm người này cũng như chủ ngân hàng, họ cần

biết khả năng thanh toán của doanh nghiệp hiện tại và tương lai

- Các nhà đầu tư: mối quan tâm của họ hướng tới các yếu tố như sự rủi ro, thời gian hoàn vốn, mức sinh lợi, khả năng thanh toán vốn… Vì vậy, họ cần những thông tin về tình hình tài chính, tình hình hoạt động, kết quả kinh doanh và khả năng tăng trưởng của doanh nghiệp Ngoài ra, các nhà đầu tư cũng rất quan tâm tới việc điều hành hoạt động và tính hiệu quả cho các nhà đầu tư Với lý do trên, họ phải sử dụng thông tin kế toán của doanh nghiệp để phân tích và ra quyết định

- Các cơ quan Nhà nước: cần số liệu kế toán để tổng hợp cho ngành và địa phương Trên cơ sở đó, phát triển và đánh giá nhằm định ra các chính sách kinh tế thích hợp để thúc đẩy SXKD phát triển Đặc biệt, các cơ quan thuế địa phương và trung ương đều dựa vào thông tin của kế toán để tính thuế, đặc biệt là thuế thu nhập Các cơ quan này thường lấy số liệu thu nhập chưa phân phối được thể hiện trên BCTC trừ đi các khoản miễn giảm thuế theo luật định để xác định mức thu nhập chịu thuế Thông tin KTTC cung cấp cho các đối tượng sử dụng thông tin qua hệ thống BCTC như: BCĐKT, BCKQKD, BCLCTT, BTMBCTC

Kế toán quản trị: KTQT là một phân hệ của hạch toán kế toán, nó ra đời và

phát triển là kết quả tất yếu của quá trình phát triển hệ thống hạch toán kế toán gắn với sự phát triển của hệ thống quản lý ở các tổ chức trong nền kinh tế xã hội Có nhiều quan điểm khác nhau về KTQT, tuy nhiên có thể chia thành hai quan điểm: Quan điểm thứ nhất cho rằng: KTQT là hệ thống đo lường, thu thập, tổng hợp,

xử lý, cung cấp thông tin (thông tin tài chính và thông tin phi tài chính) phục vụ cho Ban lãnh đạo trong việc lập kế hoạch, điều hành, theo dõi thực hiện kế hoạch, quản lý hoạt động kinh doanh trong phạm vi nội bộ doanh nghiệp

Quan điểm thứ hai cho rằng: KTQT là việc ghi chép kế toán nhằm thu thập, tổng hợp, xử lý, truyền đạt các thông tin chi tiết, cụ thể về hoạt động kinh tế tài chính của doanh nghiệp để phục vụ yêu cầu quản lý và điều hành hoạt động SXKD Theo quan điểm này, KTQT trước hết phải là kế toán, có liên hệ mật thiết với hệ thống KTTC, ghi chép phản ánh những số liệu chi tiết cả về chỉ tiêu số lượng và giá trị, nhằm cung cấp các thông tin chi tiết hơn cho quản lý mà KTTC chưa cung cấp được KTQT đồng nghĩa với kế toán chi tiết, là một bộ phận của KTTC ở doanh nghiệp Để phục vụ quản trị kinh doanh ở doanh nghiệp phải sử dụng nhiều loại thông tin khác nhau như thông tin của hạch toán thống kê, của hạch toán nghiệp vụ hoặc còn bao gồm nhiều công việc như lập kế hoạch, định mức, dự toán, kiểm soát chi phí, xác

Trang 20

định các phương án đầu tư vốn… mà các công việc này không hoàn toàn thuộc phạm

vi của KTQT

Như vậy, KTQT là một khoa học thu nhận, xử lý và cung cấp thông tin về hoạt

động SXKD một cách chi tiết phục vụ cho nhà quản trị trong việc lập kế hoạch và

quản lý hoạt động kinh tế tài chính trong nội bộ doanh nghiệp KTQT không chỉ thu

nhận, xử lý và cung cấp thông tin về các nghiệp vụ kinh tế đã thực sự hoàn thành, ghi

chép hệ thống hoá trên các sổ sách kế toán mà còn xử lý và cung cấp thông tin này,

KTQT phải sử dụng các phương pháp khoa học để phân tích, xử lý chúng một cách

cụ thể phù hợp với nhu cầu thông tin của nhà quản trị Hệ thống hoá thông tin theo

một trình tự dễ hiểu và giải trình quá trình phân tích theo các chỉ tiêu cụ thể, phục vụ

cho công tác quản trị doanh nghiệp KTQT cung cấp những thông tin về hoạt động

kinh tế tài chính trong phạm vi yêu cầu quản lý nội bộ của doanh nghiệp Những

thông tin đó có ý nghĩa với những người, những bộ phận và những nhà điều hành

quản lý doanh nghiệp Vì vậy, có thể nói rằng KTQT là phương tiện cung cấp thông

tin cho các nhà quản lý, giúp cho họ ra các quyết định trong nội bộ doanh nghiệp

KTQT là một bộ phận của công tác kế toán nói chung và có một chức năng quan

trọng không thể thiếu được đối với hệ thống quản lý doanh nghiệp

Như vậy, thông tin kế toán cần thiết cho rất nhiều đối tượng sử dụng khác

nhau, vì đó là căn cứ quan trọng cho mọi quyết định kinh doanh của doanh nghiệp và

các đối tượng liên quan tới doanh nghiệp Để đảm bảo các quyết định kinh doanh đạt

được hiệu quả cao, thông tin kế toán cần có chất lượng, hữu ích cho mọi đối tượng sử

dụng thông tin

1.2.2 Khái quát về tổ chức công tác kế toán trong Tập đoàn kinh tế

Để phát huy chức năng, vai trò quan trọng của kế toán trong công tác quản lý

hoạt động sản xuất, kinh doanh trong các TĐKT, đòi hỏi phải tổ chức công tác kế

toán một cách khoa học, hợp lý nhằm cung cấp thông tin đáp ứng yêu cầu của các đối

tượng quan tâm

Xuất phát từ bản chất của kế toán là một hệ thống thông tin kinh tế, tài

chính của doanh nghiệp và kiểm tra, kiểm soát các hoạt động kinh tế của doanh

nghiệp bằng hệ thống các phương pháp của mình, có thể thấy: Tổ chức công tác kế

toán là việc tổ chức vận dụng các phương pháp kế toán để liên kết các yếu tố cấu

thành, các công việc của kế toán nhằm thực hiện tốt các nhiệm vụ của kế toán trong doanh nghiệp

Tổ chức công tác kế toán ở doanh nghiệp là tổ chức việc thu nhận, hệ thống hóa và cung cấp thông tin về hoạt động của doanh nghiệp Tổ chức công tác kế toán trong doanh nghiệp phải giải quyết được cả hai phương diện: Tổ chức thực hiện các phương pháp kế toán, các nguyên tắc kế toán và các phương pháp, phương tiện tính toán nhằm đạt được mục đích của công tác kế toán và tổ chức bộ máy kế toán nhằm liên kết các nhân viên kế toán thực hiện tốt công tác kế toán trong doanh nghiệp [Lưu Đức Tuyên và Ngô Thị Thu Hồng, 2011]

Có nhiều cách tiếp cận và luận giải khác nhau về tổ chức công tác kế toán, nhưng đều có mục đích chung là hướng tới việc sắp xếp, tổ chức các công việc mà kế toán cần phải thực hiện tốt chức năng tổ chức thu nhận, xử lý, phân tích và cung cấp thông tin kinh tế tài chính một cách kịp thời, đầy đủ phục vụ cho việc điều hành hoạt động SXKD cả ở tầm vĩ mô và vi mô

Nghiên cứu sinh xin được đưa ra quan điểm: Tổ chức công tác kế toán là việc

tổ chức, sắp xếp nhân sự theo từng phần hành kế toán, sử dụng các phương pháp kế toán phù hợp với việc thu nhận, xử lý, phân tích và cung cấp thông tin kinh tế tài chính, phù hợp với đặc điểm cụ thể của doanh nghiệp nằm đáp ứng nhu cầu thông tin phục vụ công tác quản lý trong doanh nghiệp

Do những đặc trưng của hoạt động tổ chức quản lý SXKD, phạm vi, địa bàn hoạt động và nhu cầu thông tin trong TĐKT có sự khác biệt so với doanh nghiệp nên

tổ chức công tác kế toán trong TĐKT mang những nét đặc thù riêng

TĐKT là một chủ thể kinh tế, nhưng không phải là chủ thể pháp lý và không

có tư cách pháp nhân Bởi vậy tổ chức công tác kế toán ở cả TĐKT với tư cách một thực thể kinh tế hợp nhất sẽ không mang tính pháp lý Tất cả các công ty thành viên của tập đoàn đều là những chủ thể pháp lý riêng rẽ nên các thành viên này thực hiện hạch toán độc lập theo chế độ kế toán đặc thù tương ứng, phù hợp qui chế tài chính hiện hành đối với từng loại hình doanh nghiệp trong tập đoàn CTM và các CTC đều

có tổ chức bộ máy kế toán riêng và đều phải lập BCTC theo luật định (BCTC riêng rẽ) Mọi nghiệp vụ kinh tế - tài chính phát sinh giữa các đơn vị thành viên đều phải được kế toán của công ty thành viên thu nhận, xử lý, cung cấp như đối với các nghiệp

vụ kinh tế - tài chính phát sinh với pháp nhân ở ngoài tập đoàn

Trang 21

Mặt khác, do TĐKT là một chủ thể kinh tế, hợp nhất bởi các công ty có mối

liên kết gắn chặt với lợi ích đầu tư tài chính nên nhu cầu thông tin của các đối tượng

sử dụng thông tin kế toán không chỉ dừng lại ở phạm vi từng đơn vị thành viên riêng

lẻ mà còn mở rộng ra phạm vi toàn tập đoàn Điều đó ảnh hưởng trực tiếp đến vấn đề

tổ chức cung cấp thông tin kế toán ở CTM - CTC Ngoài việc tổ chức thực hiện chế

độ BCTC của riêng từng công ty thành viên còn phải tổ chức cung cấp thông tin về tổ

hợp CTM - CTC với tư cách một thực thể kinh tế thống nhất, thông qua việc lập và

trình bày các BCTCHN mà ở đó các giao dịch nội bộ tập đoàn sẽ được loại trừ

 Đặc trưng của Tập đoàn kinh tế ảnh hưởng đến tổ chức công tác kế toán

Để phục vụ cho việc điều hành SXKD quản lý tài chính của các thành viên

trong Tập đoàn, cần phải xây dựng một hệ thống quản lý điều hành thống nhất, áp

dụng chung cho các đơn vị thành viên, đặc biệt trong lĩnh vực tài chính và thông tin

quản lý, cụ thể như: Xây dựng hệ thống tài chính kế toán phù hợp, hệ thống thông tin

quản lý chuẩn cho toàn bộ tập đoàn, sử dụng các mẫu biểu báo cáo và các quy trình

chuẩn, thiết kế và thử nghiệm cơ chế kiểm soát… Do những khác biệt về tổ chức

quản lý kinh doanh, phạm vi và địa bàn hoạt động và nhu cầu thông tin kế toán trong

TĐKT dẫn đến tổ chức công tác kế toán trong TĐKT có những đặc trưng riêng:

Thứ nhất, tổ chức công tác kế toán ở cả TĐKT với tư cách một thực thể kinh

tế sẽ không mang tính pháp lý TĐKT được xét là một chủ thể kinh tế, nhưng không

phải là một chủ thể pháp lý, do vậy TĐKT không có tư cách pháp nhân Các đơn vị

thành viên trong TĐKT là từng chủ thể pháp lý riêng rẽ, nên thực hiện hạch toán độc

lập, mỗi đơn vị đều có bộ máy kế toán riêng và đều phải lập hệ thống BCTC riêng

theo quy định Mọi nghiệp vụ kinh tế, tài chính phát sinh giữa các đơn vị thành viên

đều phải được kế toán tại các đơn vị thành viên thu nhận, xử lý, phân tích và cung cấp

thông tin như đối với các nghiệp vụ kinh tế, tài chính phát sinh với các nghiệp vụ

kinh tế, tài chính phát sinh với pháp nhân ngoài TĐKT

Thứ hai, thông tin được cung cấp không chỉ là các thông tin riêng về từng đơn

vị thành viên mà còn cần phải được tổ chức cung cấp thông tin về từng đơn vị thành

viên mà còn cần tổ chức cung cấp thông tin về toàn bộ TĐKT TĐKT là một tổ hợp

CTM - CTC nên phải cung cấp thông tin về tổ hợp này với tư cách một thực thể kinh

tế thống nhất Quyền lợi của các nhà đầu tư và đối tác của CTM gắn liền với hoạt

động của tổ hợp CTM - CTC (thực thể hợp nhất), do vậy thông tin về thực thể hợp

nhất này cần thiết phải được cung cấp để đánh giá được khả năng tài chính của CTM

do ảnh hưởng của hoạt động các CTC mà CTM đầu tư và kiểm soát Từ sự cần thiết phải cung cấp thông tin về một tổ hợp các đơn vị thành viên trong TĐKT dẫn đến mối quan hệ hạch toán giữa CTM và các CTC chủ yếu là mối quan hệ trong việc thu nhận, xử lý thông tin phục vụ cho việc cung cấp thông tin tổng hợp về cả TĐKT

Thứ ba, trong TĐKT, các đơn vị thành viên là các pháp nhân kinh tế, thực

hiện hạch toán độc lập và đề phải lập BCTC theo luật định, các BCTC này gọi là các BCTC riêng Tuy nhiên, vì TĐKT là một chủ thể kinh tế, có các đơn vị thành viên gắn chặt với nhau vì lợi ích đầu tư tài chính nên ảnh hưởng rất lớn đến vấn đề tổ chức cung cấp thông tin kế toán ra bên ngoài, nhu cầu sử dụng thông tin các các đối tượng quan tâm không chỉ dừng lại ở phạm vi từng đơn vị thành viên riêng lẻ mà mở rộng

ra phạm vi toàn Tập đoàn Vì lý do này mà điểm khác biệt giữa doanh nghiệp thông thường và TĐKT là: ngoài việc các đơn vị thành viên lập và trình bày BCTC riêng biệt như một đơn vị riêng lẻ, toàn bộ Tập đoàn còn phải tổ chức lập và trình bày một BCTC chung, để cung cấp thông tin tổng hợp về hoạt động của toàn bộ Tập đoàn với

tư cách một thực thể thống nhất - được gọi là BCTCHN

Thứ tư, TĐKT không tổ chức bộ máy kế toán chung Mỗi thành viên là một

pháp nhân kinh tế độc lập nên có bộ máy kế toán riêng, do TĐKT không có tư cách pháp nhân nên không thể thiết lập một bộ máy kế toán chung cho cả Tập đoàn mà chỉ có sự liên kết chặt chẽ giữa bộ máy kế toán của CTM với CTC về công tác hợp nhất BCTC

 Ý nghĩa tổ chức công tác kế toán trong Tập đoàn kinh tế

Để quản lý tình hình tài chính cũng như tình hình SXKD trong các TĐKT thì công tác kế toán phải được chú trọng và không ngừng nâng cao chất lượng Công tác

kế toán không chỉ là việc ghi chép, phản ánh đơn thuần mà kế toán phải thực sự là hệ thống thông tin chính xác, trung thực, kịp thời giúp nhà quản trị đưa ra quyết định quản lý, điều hành hoạt động của doanh nghiệp Đặc biệt là đối với TĐKT, các thông tin kế toán của doanh nghiệp trong Tập đoàn cần được cung cấp đầy đủ, trung thực, kịp thời cho việc tổng hợp thông tin chung toàn Tập đoàn nhằm đáp ứng yêu cầu quản lý, điều hành chung của Tập đoàn

Như vậy, để đạt được yêu cầu trên đòi hỏi mỗi TĐKT phải tổ chức công tác kế toán khoa học và hợp lý, phù hợp với đặc điểm của mình Điều này có ý nghĩa quan

Trang 22

trọng, giúp nâng cao hiệu quả quản lý kinh tế ở các doanh nghiệp nói riêng và trong

Tập đoàn nói chung Ý nghĩa của tổ chức công tác kế toán trong các TĐKT thể hiện

trên các mặt chủ yếu sau:

- Đảm bảo cung cấp chính xác, kịp thời và đầy đủ các thông tin kinh tế, tài

chính của đơn vị cho các đối tượng quan tâm giúp họ đưa ra các quyết định đúng

đắn, kịp thời Tổ chức công tác kế toán khoa học sẽ cung cấp thông tin đầy đủ, kịp

thời, chính xác cho hoạt động quản lý Những nghĩa vụ về tài chính không thể được

đảm bảo một cách đầy đủ nếu thiếu thông tin và giám sát thông tin

- Đảm bảo ghi chép, theo dõi, phản ánh và giám sát chặt chẽ các loại tài sản,

nguồn vốn kinh doanh của doanh nghiệp, giúp cho việc nâng cao hiệu quả sử dụng

vốn, nguồn vốn trong các doanh nghiệp Trong kế toán, mọi nghiệp vụ kinh tế đều

được ghi chép đầy đủ, liên tục, có hệ thống trên cơ sở các chứng từ hợp pháp, hợp lệ

Điều này làm tăng vai trò kiểm tra giám sát của kế toán

- Giúp cho kế toán thực hiện tốt yêu cầu, chức năng và nhiệm vụ của mình

trong hệ thống các công cụ quản lý Tổ chức công tác kế toán không đơn thuần là tổ

chức một bộ phận quản lý, mà nó bao hàm cả tính nghệ thuật trong việc xác lập yếu

tố, điều kiện cũng như các mối liên hệ qua lại, các tác động trực tiếp hoặc gián tiếp

đến hoạt động kế toán, giúp cho kế toán phát huy tối đa chức năng, nhiệm vụ vốn có

của mình

- Giúp cho doanh nghiệp có được bộ máy kế toán gọn nhẹ, hoạt động hiệu

quả, nâng cao hiệu suất và hiệu quả hoạt động của bộ máy kế toán Tổ chức công tác

kế toán khoa học sẽ tạo dựng được bộ máy kế toán gọn nhẹ, hoạt động hiệu quả, tiết

kiệm thời gian, nhân lực, góp phần giảm chi phí

 Nguyên tắc tổ chức công tác kế toán trong Tập đoàn kinh tế

Tổ chức công tác kế toán trong TĐKT phải tuân thủ các nguyên tắc sau:

Một là, tổ chức công tác kế toán phải tuân thủ Luật kế toán, chuẩn mực kế

toán, các chế độ chính sách kinh tế, tài chính, kế toán và các chính sách vĩ mô của

Nhà nước đã ban hành

Luật kế toán, chuẩn mực kế toán và các chính sách, chế độ kế toán nhà nước

ban hành là cơ sở pháp lý cho công tác kế toán và công tác quản lý tài chính trong

doanh nghiệp cũng như trong các TĐKT Tất cả các đối tượng thuộc phạm vi điều

chỉnh của Luật kế toán phải chấp hành đầy đủ các quy định của Luật này, đó là văn bản có tính pháp lý cao nhất hiện nay về kế toán

Chuẩn mực kế toán gồm những nguyên tắc và phương pháp kế toán cơ bản để ghi sổ kế toán và lập BCTC một cách thống nhất nhằm cung cấp đầy đủ, kịp thời thông tin về hoạt động SXKD cho các đối tượng sử dụng

Chế độ kế toán là những quy định và hướng dẫn về kế toán đối với một hoặc một số công việc cụ thể do cơ quan quản lý nhà nước về kế toán hoặc cơ quan được

ủy quyền ban hành

Vì vậy, trong hoạt đông kinh tế tài chính, các đơn vị kế toán phải chấp hành một cách nghiêm túc Tuy nhiên, trong quá trình tổ chức công tác kế toán, các TĐKT phải căn cứ vào đặc điểm hoạt động SXKD và yêu cầu quản lý cụ thể của đơn vị mình để tổ chức hợp lý, khoa học và phù hợp nhằm đáp ứng yêu cầu thông tin kịp thời, trung thực và tin cậy phục vụ công tác quản lý và điều hành quá trình SXKD

Hai là, tổ chức công tác kế toán phải phù hợp với đặc điểm tổ chức sản xuất,

tổ chức quản lý, đặc điểm hoạt động và trình độ chuyên môn nghiệp vụ của đội ngũ người làm kế toán

Mỗi doanh nghiệp hoạt động trên những lĩnh vực khác nhau đều có những đặc điểm riêng về tổ chức quản lý, về trình độ quản lý, đồng thời có quy mô hoạt động và yêu cầu quản lý cụ thể khác nhau Do đó, tổ chức công tác kế toán trong các TĐKT muốn đạt được hiệu quả cao cần phải căn cứ vào đặc điểm tổ chức SXKD và đặc điểm tổ chức quản lý Điều này rất quan trọng trong khi thực hiện tổ chức công tác kế toán của mỗi TĐKT

Ba là, tổ chức công tác kế toán phải đảm bảo nguyên tắc thống nhất giữa

công tác kế toán và công tác quản lý, cung cấp kịp thời, trung thực và đầy đủ các thông tin về hoạt động SXKD phục vụ yêu cầu quản lý chung Tuy nhiên, mỗi bộ phận chức năng khác nhau đảm bảo những nhiệm vụ khác nhau Các bộ phận này cần phải cung cấp những thông tin phù hợp với chức năng, nhiệm vụ của mình phục

vụ cho công tác điều hành, quản lý chung của TĐKT TĐKT gồm nhiều công ty thành viên, mỗi công ty lại gồm nhiều bộ phận quản lý khác nhau, thực hiện chức năng, nhiệm vụ độc lập Vì vậy, tổ chức công tác kế toán phải chú ý giải quyết tốt mối quan hệ giữa các bộ phận trong từng công ty thành viên nhằm đảm bảo đồng bộ

Trang 23

trong việc thu nhận, xử lý, phân tích và cung cấp thông tin phục vụ cho quản lý

chung toàn Tập đoàn

Bốn là, tổ chức công tác kế toán phải đảm bảo nguyên tắc tiết kiệm và hiệu

quả Tất cả các công việc liên quan đến quá trình lựa chọn các phương án SXKD,

công tác tổ chức quản lý nói chung và công tác tổ chức kế toán nói riêng cần đảm bảo

tính tính tiết kiệm, giảm thiểu chi phí, có lãi và tính khả thi Tổ chức công tác kế toán

trong các TĐKT cũng là một trong những phương án tổ chức công việc, tổ chức nhân

sự chuyên môn nên cũng cần phải tuân thủ nguyên tắc tiết kiệm, nâng cao hiệu quả và

ứng dụng Có như vậy mới đảm bảo cho việc tổ chức công tác kế toán một cách khoa

học, hợp lý mang lại hiệu quả thiết thực

1.3 NỘI DUNG TỔ CHỨC CÔNG TÁC KẾ TOÁN TRONG TẬP ĐOÀN

KINH TẾ

Tổ chức công tác kế toán trong doanh nghiệp cũng như trong các TĐKT bao

gồm nhiều nội dung khác nhau, các nội dung này phải được tổ chức một cách khoa

học và hợp lý để tổ chức công tác kế toán khoa học, hợp lý

Nội dung tổ chức công tác kế toán bao gồm:

- Tổ chức bộ máy kế toán là việc tổ chức việc thực hiện toàn bộ công việc kế

toán ở doanh nghiệp; tổ chức trang bị sử dụng các phương tiện kỹ thuật tính toán

nhằm nâng cao hiệu suất của nhân viên kế toán, tổ chức bồi dưỡng nâng cao trình độ

nghề nghiệp cho các nhân viên kế toán

- Tổ chức thu nhận thông tin về các nghiệp vụ kinh tế, tài chính phát sinh ở

doanh nghiệp và kiểm tra tính hợp pháp, hợp lý của các nghiệp vụ đó Muốn thực

hiện điều đó phải tổ chức hạch toán ban đầu để ghi nhận thông tin vào chứng từ kế

toán và tổ chức luân chuyển chứng từ kế toán để kiểm tra và ghi sổ kế toán kịp thời

- Tổ chức hệ thống hóa xử lý thông tin kế toán nhằm đáp ứng được những yêu

cầu của thông tin kế toán Muốn thực hiện điều đó phải tổ chức thực hiện các phương

pháp kế toán, các nguyên tắc kế toán, tổ chức hệ thống sổ kế toán để có thể hệ thống

hóa thông tin kế toán

- Tổ chức phân tích và cung cấp thông tin kế toán phục vụ cho quản lý kinh tế

tài chính vĩ mô và vi mô Muốn thực hiện điều đó phải tổ chức việc lập các báo cáo

kế toán định kỳ các báo cáo kế toán nội bộ, bao gồm cả báo cáo định kỳ và báo cáo

nhanh theo yêu cầu quản lý của Nhà nước và của nội bộ doanh nghiệp

- Tổ chức lưu trữ tài liệu kế toán và công tác kiểm tra kế toán nhằm đảm bảo thực hiện đúng đắn các chế độ về quản lý kinh tế, tài chính nói chung và Luật kế toán, chuẩn mực và chế độ kế toán nói riêng

Tổ chức công tác KTTC và tổ chức công tác KTQT đều có mục đích chung là đảm bảo cho kế toán thực sự là công cụ có hiệu lực nhất trong hệ thống công cụ quản

lý Về lý luận cũng như thực tế, tổ chức công tác kế toán có thể được thực hiện theo các mô hình sau:

- Tổ chức theo mô hình tách biệt giữa KTTC và KTQT

- Tổ chức theo mô hình hỗn hợp giữa kế KTTC và KTQT

- Tổ chức theo mô hình hỗn hợp: là mô hình kết hợp hai mô hình nêu trên, nghĩa là một số phần hành kế toán chủ yếu sẽ tổ chức tách biệt giữa KTTC và KTQT,

còn các phần hành khác theo mô hình kết hợp

Mỗi mô hình tổ chức kế toán trên đều có những ưu điểm và nhược điểm riêng

đã được một số đề tài nghiên cứu ứng dụng vào thực tế Tuy nhiên, đối với các TĐKT, do tính chất đặc thù của loại hình kinh doanh, đặc thù về quy mô nên áp dụng hình thức tổ chức hỗn hợp giữa KTTC và KTQT là hợp lý Vì vậy, tác giả chỉ đi sâu nghiên cứu tổ chức công tác KTTC và KTQT theo mô hình hỗn hợp

1.3.1 Tổ chức bộ máy kế toán

TĐKT là một chủ thể kinh tế nhưng không phải là chủ thể pháp lý, nó không

có tư cách pháp nhân Tất cả các đơn vị thành viên trong Tập đoàn đều là những chủ thể pháp lý riêng rẽ nên chúng thực hiện hạch toán độc lập theo chế độ kế toán đặc thù tương ứng, phù hợp với quy chế tài chính hiện hành đối với từng loại hình doanh nghiệp trong tập đoàn CTM và các CTC đều tổ chức bộ máy kế toán riêng và đều phải lập BCTC

Bộ máy kế toán của các đơn vị thành viên trong TĐKT là tập hợp những người làm kế toán tại doanh nghiệp cùng với các phương tiện trang thiết bị dùng để ghi chép, tính toán xử lý toàn bộ thông tin liên quan đến công tác kế toán tại doanh nghiệp từ khâu thu nhận, kiểm tra, xử lý đến khâu tổng hợp, cung cấp những thông tin kinh tế về các hoạt động của đơn vị Vì vậy, việc tổ chức cơ cấu bộ máy kế toán sao cho hợp lý, gọn nhẹ nhưng vẫn hoạt động có hiệu quả là điều quan trọng để cung cấp thông tin kế toán một cách kịp thời, trung thực và đầy đủ, hữu ích cho các đối tượng sử dụng thông tin, đồng thời phát huy và nâng cao trình độ nghiệp vụ, hiệu quả

Trang 24

lao động của nhân viên kế toán Đơn vị tổ chức bộ máy kế toán như thế nào phù hợp

với việc đơn vị lựa chọn hình thức tổ chức công tác kế toán Nội dung của tổ chức bộ

máy kế toán bao gồm những công việc chính sau:

 Lựa chọn mô hình tổ chức bộ máy kế toán trong các TĐKT

Trong TĐKT, CTM và các CTC đều là những pháp nhân kinh tế, thực hiện

hạch toán độc lập TĐKT không có tư cách pháp nhân nên không có bộ máy kế

toán chung cho cả TĐKT, mà chỉ có sự liên kết chặt chẽ giữa bộ máy kế toán của

CTM với các CTC về công tác hợp nhất BCTC Mỗi doanh nghiệp thành viên là

những pháp nhân độc lập đều có bộ máy kế toán riêng chịu trách nhiệm về công

tác kế toán của mình Việc lập và trình bày BCTCHN là do bộ máy kế toán của

CTM thực hiện

Sự phân công những người làm kế toán đảm nhận các phần hành kế toán cụ

thể trong bộ máy kế toán được thực hiện theo nguyên tắc nhất định và phải có sự

kết hợp giữa khối lượng công việc, tính phức tạp của công việc và trình độ của

người làm kế toán Công tác kế toán bao gồm KTTC và KTQT Trong KTTC, cần

tổ chức phân công giữa các phần hành kế toán cụ thể, đảm bảo thống nhất số liệu kế

toán tổng hợp và số liệu kế toán chi tiết nhằm cung cấp đầy đủ, kịp thời các thông

tin cần thiết phục vụ cho việc lập BCTC định kỳ của tập đoàn Trong KTQT, cần tổ

chức phân công thu nhận, xử lý và cung cấp thông tin theo yêu cầu quản lý các chỉ

tiêu quản trị cụ thể Việc phân công, phân nhiệm đối với các phần hành cụ thể của

bộ máy kế toán phải đảm bảo mối quan hệ hữu cơ giữa các phần hành kế toán Đặc

biệt, để việc lập BCTCHN được đơn giản, thuận tiện, đáp ứng đòi hỏi về chất lượng

cũng như tiến độ thì tổ chức kế toán lập BCTCHN cần được thực hiện thống nhất

trên phạm vi toàn bộ tập đoàn và không có sự tách biệt đáng kể giữa kế toán CTM,

CTC hay kế toán hợp nhất BCTC Trong quá trình tổ chức công tác kế toán tại các

CTC, công ty liên kết thì mục tiêu phục vụ cho quá trình hợp nhất cũng là mục tiêu

bắt buộc

Bộ máy kế toán của CTM có nhiệm vụ trước hết là phân công công việc cho

cán bộ kế toán tại CTM Bên cạnh đó, do có chức năng quản lý nên bộ máy kế toán

CTM còn tổ chức, điều hành và thực hiện các nội dung tổ chức công tác kế toán của

tập đoàn, đồng thời có nhiệm vụ hướng dẫn, kiểm tra công tác kế toán phục vụ việc

lập BCTCHN toàn Tập đoàn

Bộ máy kế toán của CTC ngoài việc thực hiện công việc kế toán như các doanh nghiệp thông thường, còn có nhiệm vụ báo cáo thông tin về CTM để hợp nhất BCTC Công việc cụ thể của CTC bao gồm:

- Thực hiện công tác kế toán, thống kê và tài chính liên quan đến các hoạt động của CTC và lập BCTC riêng

- Tổng hợp thông tin của đơn vị mình, giải trình những thông tin cần thiết gửi

về CTM phục vụ lập BCTCHN Bộ phận kế toán CTC cần tuân thủ các nguyên tắc và chính sách kế toán chung mà CTM đã đề ra nhằm thực hiện một cách thống nhất về quy trình, thời hạn, nội dung thông tin phục vụ lập BCTCHN

Bộ máy kế toán của CTM và các CTC có thể được thực hiện theo một trong ba

mô hình: mô hình tổ chức bộ máy kế toán tập trung, mô hình tổ chức bộ máy kế toán phân tán, mô hình tổ chức bộ máy vừa tập trung vừa phân tán

- Mô hình tổ chức bộ máy kế toán tập trung: tại các doanh nghiệp, phòng kế

toán được tổ chức theo các bộ phận kế toán, mỗi bộ phận thực hiện các phần hành

kế toán cụ thể Toàn bộ công việc xử lý thông tin được phản ảnh vào sổ kế toán đến lập BCTC toàn doanh nghiệp được tập trung ở phòng kế toán trung tâm Nếu doanh nghiệp có đơn vị hạch toán phụ thuộc thì các đơn vị này đều không tổ chức kế toán riêng mà chỉ bố trí nhân viên làm nhiệm vụ hạch toán ban đầu, thu nhận, kiểm tra, phân loại và định kỳ chuyển chứng từ kế toán cùng các báo cáo kế toán về văn phòng kế toán trung tâm để xử lý và tổng hợp thông tin Ưu điểm của mô hình này

là đảm bảo cho sự lãnh đạo, tập trung, thống nhất công tác kế toán, thuận lợi cho việc kiểm tra, kiểm soát, xử lý và cung cấp thông tin một cách kịp thời Tuy nhiên

mô hình này không phù hợp với doanh nghiệp có địa bàn hoạt động rộng, nếu áp dụng sẽ tạp nhuợc điểm lớn trong công tác kiểm tra, kiểm soát của nguời quản lý đối với công tác kế toán nói riêng và hoạt động kinh tế nói chung tại các đơn vị phụ thuộc Vì vậy mô hình này chủ yếu được áp dụng cho các doanh nghiệp có quy mô nhỏ và vừa, địa bàn hoạt động phân tán nhưng đã trang bị phương tiện kỹ thuật ghi chép, tính toán hiện đại

Mô hình tổ chức bộ máy kế toán tập trung có thể được minh hoạ theo Sơ đồ 1.1:

Trang 25

Sơ đồ 1.1: Mô hình tổ chức bộ máy kế toán tập trung

- Mô hình tổ chức bộ máy kế toán phân tán: là mô hình mà các doanh nghiệp,

tổ chức một phòng kế toán trung tâm và các phòng kế toán ở các đơn vị phụ thuộc

Phòng kế toán trung tâm thực hiện các phần hành kế toán phát sinh tại doanh nghiệp,

đồng thời hướng dẫn, kiểm tra các báo cáo kế toán do các đơn vị phục thuộc; thu

nhận, kiểm tra các báo cáo kế toán do các đơn vị phụ thuộc gửi đến và tổng hợp lập

BCTC riêng toán doanh nghiệp Các đơn vị phụ thuộc có tổ chức bộ máy kế toán

riêng, thực hiện toàn bộ công tác kế toán tại đơn vị mình từ khâu hạch toán ban đầu,

ghi sổ kế toán đến lập các báo cáo kế toán thuộc phạm vi đơn vị mình theo sự phân

cấp của phòng kế toán trung tâm, định ký gửi về phòng kế toán trung tâm để tổng hợp

chung toàn doanh nghiệp Với ưu điểm lớn là công tác kế toán gắn liền với hoạt động

SXKD của đơn vị phụ thuộc, tạo điều kiện thuận lợi cho công tác kế toán kiểm tra,

kiểm soát trực tiếp các hoạt động kinh tế, tài chính, phục vụ kịp thời cho lãnh đạo ở

các đơn vị phụ thuộc, mô hình này phù hợp với các doanh nghiệp có quy mô lớn, địa

bàn hoạt động phân tán nhưng chưa trang bị phương tiện kỹ thuật hiện đại có sự phân

cấp quản lý tương đối toàn diện cho các bộ phận phụ thuộc Tuy nhiên, mô hình này

cũng có nhược điểm là bộ máy kế toán đòi hỏi số lượng cán bộ kế toán lớn, công việc

kế toán thực hiện tại nhiều địa phương khác nhau hạn chế sự kiểm tra, chỉ đạo sát sao

của ban lãnh đạo đối với toàn bộ hoạt động của doanh nghiệp

KẾ TOÁN VỐN BẰNG TIỀN VÀ THANH

KẾ TOÁN CHI PHÍ GIÁ THÀNH

KẾ TOÁN TỔNG HỢP VÀ KIỂM TRA

Mô hình tổ chức bộ máy kế toán phân tán có thể được minh hoạ theo Sơ đồ 1.2:

Sơ đồ 1.2: Mô hình tổ chức bộ máy kế toán phân tán

- Mô hình tổ chức bộ máy kế toán vừa tập trung vừa phân tán: là sự kết hợp

hai mô hình trên Đặc điểm của mô hình này là các doanh nghiệp, có một số bộ phận phân cấp và một số bộ phận không phân cấp hay phân cấp đến một mức độ nhất định Theo đó, doanh nghiệp tổ chức một phòng kế toán trung tâm; đối với các đơn vị phụ thuộc lớn, đủ trình độ quản lý được phân cấp quản lý kinh tế tài chính nội bộ ở mức

độ cao thì tổ chức bộ máy kế toán riêng, thực hiện toàn bộ công việc kế toán phát sinh ở đơn vị mình, định kỳ lập các báo cáo kế toán gửi về phòng kế toán trung tâm; còn đối với các đơn vị trực thuộc nhỏ hoặc chưa đủ trình độ quản lý, chưa được phân cấp quản lý kinh tế tài chính nội bộ ở mức độ cao thì không tổ chức bộ máy kế toán riêng mà chỉ bố trí nhân viên kế toán làm nhiệm vụ hạch toán ban đầu, định kỳ chuyển chứng từ kế toán về phòng kế toán trung tâm Phòng kế toán trung tâm thực hiện công việc kế toán phát sinh ở đơn vị chính và ở các đơn vị phụ thuộc không tổ chức bộ máy kế toán riêng; đồng thời hướng dẫn thu nhận, kiểm tra báo cáo kế toán

do các đơn vị phụ thuộc có tổ chức bộ máy kế toán riêng gửi đến, tổng hợp số liệu lập báo cáo kế toán của đơn vị đồng thời lập báo cáo kế toán tổng hợp toàn doanh nghiệp Với sự kết hợp hai mô hình vừa tập trung và phân tán, mô hình này tạo điều kiện cho

KẾ TOÁN TRƯỞNG

KẾ TOÁN VỐN BẰNG TIỀN VÀ THANH TOÁN

BỘ PHẬN KIỂM TRA

KẾ TOÁN

KẾ TOÁN TỔNG HỢP

BỘ PHẬN

KẾ TOÁN VĂN PHÒNG TRUNG TÂM

KẾ TOÁN ĐƠN VỊ PHỤ THUỘC A

KẾ TOÁN ĐƠN VỊ PHỤ THUỘC B

Trang 26

kế toán gắn liền với hoạt động của đơn vị, kiểm tra, giám sát chặt chẽ các hoạt động

phục vụ quản lý có hiệu quả trong doanh nghiệp Tuy vậy, bộ máy kế toán theo mô

hình vừa tập trung vừa phân tán còn khá cồng kềnh, vì vậy thích hợp với các doanh

nghiệp có quy mô lớn, hoạt động trên địa bàn vừa tập trung vừa phân tán, các đơn vị

phụ thuộc được hạch toán, quản lý ở các mức độ khác nhau

Mô hình tổ chức bộ máy kế toán vừa tập trung vừa phân tán có thể được minh

hoạ theo Sơ đồ 1.3:

Sơ đồ 1.3: Mô hình tổ chức bộ máy kế toán vừa tập trung vừa phân tán

 Tổ chức công tác kế toán tài chính và kế toán quản trị

Công tác kế toán trong mỗi doanh nghiệp bao gồm KTTC và KTQT, do đó tổ

chức bộ máy kế toán phải đáp ứng đồng thời yêu cầu của KTTC và KTQT Trong

KTTC, cần tổ chức phân công giữa các phần hành KTTC cụ thể, đảm bảo thống nhất

số liệu kế toán tổng hợp và kế toán chi tiết nhằm cung cấp đầy đủ, kịp thời các thông

tin cần thiết phục vụ cho việc lập BCTC định kỳ Trong KTQT cần tổ chức phân

công thu nhận, xử lý và cung cấp thông tin theo yêu cầu quản lý các chỉ tiêu quản trị

cụ thể Việc phân công, phân nhiệm đối với các phần hành cụ thể của bộ mày kế toán

phải đảm bảo mối quan hệ hữu cơ giữa các phần hành kế toán Trong quá trình tổ

KẾ TOÁN TRƯỞNG

KẾ TOÁN VỐN BẰNG TIỀN VÀ THANH TOÁN

BỘ PHẬN TỔNG HỢP KIỂM TRA

KẾ TOÁN ĐƠN VỊ PHỤ THUỘC

- Mô hình kết hợp giữa KTTC và KTQT: là việc kết hợp bộ phận KTTC và KTQT trong hệ thống kế toán của toàn doanh nghiệp, trong từng nội dung tổ chức công tác kế toán đều có sự kết hợp chặt chẽ giữa KTTC và KTQT Mô hình này có

ưu điểm là có thể tiết kiệm chi phí, nhân lực cho tổ chức bộ máy kế toán, tuy nhiên bộ phận KTQT không được chuyên môn hoá nên hiệu quả cung cấp thông tin không cao như mô hình tách biệt

- Mô hình hỗn hợp: là mô hình kết hợp hai hình thức tách biệt và kết hợp trên Đối với các phần hành kế toán mà hai bộ phận này có liên quan với nhau về nội dung thì

áp dụng mô hình kết hợp, còn với các phần hành kế toán mà hai bộ phận này có sự khác biệt hoặc những những phần hành kế toán có đặc thù riêng thì được tổ chức theo mô hình tách biệt Áp dụng mô hình hỗn hợp sẽ vận dụng được cả hai mô hình tách biệt và kết hợp một cách linh hoạt, nhưng đòi hỏi nhân sự về kế toán phải có trình độ chuyên môn, việc phân công, phân nhiệm phải phù hợp và kết hợp hài hoà các bộ phận kế toán

 Trang bị các phương tiện để phục vụ công tác kế toán trong TĐKT

Theo xu hướng phát triển công nghệ thông tin hiện nay, các phương tiện máy tính tiên tiến, hiện đại sẽ thay thế phương pháp ghi chép thủ công, trở thành công cụ

hỗ trợ đắc lực cho công tác kế toán Vì vậy, từng bước trang bị các phương tiện kỹ thuật tiên tiến sẽ giúp cho bộ máy kế toán hoàn thành các công việc kế toán với chất lượng cao và tiết kiệm chi phí Ứng dụng tin học vào công tác kế toán là việc thiết kế các chương trình theo đúng nội dung và trình tự hạch toán của các phương pháp kế toán để thu nhận, tính toán, xử lý và cung cấp các thông tin cần thiết cũng như việc áp dụng các phương tiện kỹ thuật để thực hiện các mục đích của chương trình đã được thiết kế Việc ứng dụng công nghệ thông tin trong công tác kế toán đem lại ý nghĩa thiết thực sau:

Trang 27

- Giúp cho việc thu nhận, xử lý và cung cấp thông tin trong TĐKT được nhanh

chóng, kịp thời, chất lượng và đáp ứng các yêu cầu quản lý

- Giúp công tác lưu trữ, bảo quản, tra cứu các tài liệu, số liệu, các thông tin

kinh tế, tài chính trong TĐKT được thuận lợi, an toàn, với khối lượng thông tin lớn

- Giúp cho việc thiết lập, soạn thảo, chuyển tiếp dữ liệu qua các báo cáo kế

toán trong các đơn vị trong TĐKT được nhanh chóng, chính xác, tiết kiệm thời gian

và chi phí; đảm bảo nâng cao hiệu quả của công tác kế toán

- Tạo điều kiện để tổ chức tốt công tác phân tích hoạt động kinh tế và hoàn

thành tốt chức trách, nhiệm vụ của cán bộ kế toán

Ứng dụng tin học vào công tác kế toán là việc áp dụng các chương trình phần

mềm để giảm bớt hoặc thế thao tác thủ công trong công tác kế toán Tuy nhiên, máy

tính và kỹ thuật tin học chỉ là công cụ, phương tiện hỗ trợ cán bộ kế toán trong công

tác kế toán Do vậy, cần thiết nhất vẫn là đội ngũ cán bộ kế toán có trình độ, chuyên

môn nghiệp vụ Tổ chức công tác kế toán trong điều kiện ứng dụng công nghệ thông

tin cần có những đặc điểm riêng, phù hợp với điều kiện sử dụng, khai thác các

phương tiện tính toán hiện đại

1.3.2 Tổ chức thu nhận thông tin kế toán

Thu nhận thông tin kế toán là công việc khởi đầu của toàn bộ quy trình kế

toán, có ý nghĩa quyết định tới tính trung thực, khách quan của thông tin kế toán cung

cấp Để thực hiện điều này thì công việc đầu tiên là phải thiết lập hệ thống chứng từ

kế toán

Chứng từ kế toán vừa là phương tiện thông tin, vừa là phương tiện để chứng

minh bằng văn bản có tính hợp pháp của các nghiệp vụ kinh tế tài chính phát sinh và

thực sự hoàn thành

Tổ chức thu nhận thông tin dựa vào chứng từ kế toán là công việc chủ yếu của

công tác xây dựng hệ thống thông tin kế toán Nội dung của công việc này là tổ chức

hạch toán ban đầu ở các đơn vị của TĐKT

 Tổ chức xây dựng hệ thống danh mục chứng từ kế toán và các biểu

Căn cứ vào hệ thống chứng từ kế toán do BTC ban hành, mỗi đơn vị thành viên trong TĐKT lựa chọn những chứng từ kế toán cần vận dụng phù hợp với hoạt động của từng đơn vị thành viên, bao gồm:

Hệ thống chứng từ áp dụng trong CTM và các CTC:

+ Các chứng từ cung cấp thông tin cho việc tổ chức ghi nhận, xử lý và cung cấp thông tin lên BCTC riêng của CTM và các CTC như: chứng từ lao động tiền lương; chứng từ hàng tồn kho; bán hàng; tiền; tài sản cố định và các chứng từ liên quan khác

+ Các chứng từ cung cấp thông tin cho việc lập BCTCHN ở tập đoàn (CTM): Các CTC cũng phải là đơn vị kế toán có trách nhiệm cung cấp thông tin cho CTM để CTM tổng hợp và lập BCTCHN toàn Tập đoàn Vì vậy, hệ thống các chứng từ mà CTC cung cấp cho CTM cũng tuân thủ tính thống nhất của toàn tập đoàn Các giao dịch nội bộ, các khoản đầu tư vốn, các khoản phân phối, CTC cũng phải tổ chức chi tiết trên hệ thống chứng từ mới tạo điều kiện cung cấp thông tin cho CTM lập BCTCHN

Về quy định trình tự luân chuyển chứng từ khoa học, phục vụ cho việc ghi sổ

kế toán, lưu trữ và bảo quản an toàn chứng từ kế toán của đơn vị theo quy định pháp luật Để xây dựng kế hoạch, quy trình luân chuyển chứng từ hợp lý cần dựa vào những căn cứ sau:

- Căn cứ vào quy mô hoạt động, đặc điểm tổ chức quản lý và tổ chức SXKD của doanh nghiệp

- Căn cứ vào tình hình thực tế về tổ chức bộ máy kế toán, mối quan hệ giữa các bộ phận trong bộ máy kế toán và tổ chức hệ thống thông tin trong doanh nghiệp

- Căn cứ vào đặc điểm của từng loại chứng từ và các loại nghiệp vụ kinh tế mà chứng từ phản ánh

Trang 28

- Đặc biệt với các chứng từ, tài liệu phục vụ cho việc lập BCTCHN thì kế toán

tập đoàn - CTM phải căn cứ vào điều kiện cụ thể (cấu trúc tập đoàn ngang hay dọc;

tập đoàn có tổ chức mạng nội bộ WAN hay chỉ là mạng cục bộ, ) để qui định trình

tự luân chuyển chứng từ giữa các đơn vị thành viên trong tập đoàn cụ thể

Hệ thống chứng từ cung cấp thông tin cho việc lập BCTCHN tại CTM:

- Trường hợp có giao dịch mua, bán nội bộ giữa các bên liên quan (mua bán

tài sản, hàng hoá giữa CTM với CTC, giữa CTC với CTC trong cùng Tập đoàn; hoặc

mua bán tài sản giữa bên liên doanh với cơ sở liên doanh đồng kiểm soát, ) cần ghi

chi tiết trên chứng từ để ghi sổ phục vụ làm căn cứ loại bỏ khi lập BCTCHN

- Trường hợp có giao dịch đầu tư vốn vào CTC, công ty liên kết, cơ sở liên

doanh đồng kiểm soát; các giao dịch về phân phối lợi nhuận giữa các đơn vị trong

Tập đoàn cũng như được phân phối lợi nhuận từ các công ty liên kết, liên doanh Các

chứng từ này không những CTM là đối tượng chịu trách nhiệm lập BCTCHN phải tổ

chức mà các đơn vị thành viên cũng phải có trách nhiệm tổ chức cung cấp thông tin

cho bộ phận lập BCTCHN của Tập đoàn

Các chứng từ thuộc nội dung kể trên có thể là: Biên bản bàn giao vốn, tài sản

cùng các chứng từ phiếu chi, phiếu xuất kho (để góp vốn); bảng kê chi tiết bán hàng

nội bộ Tập đoàn; biên bản xác nhận công nợ nội bộ giữa các thành viên trong Tập

đoàn; quyết định phương án phân phối lợi nhuận sau thuế của các đơn vị trong Tập

đoàn đã được đại hội đồng cổ đông và HĐQT thông qua; thông báo phương án phân

phối lợi nhuận sau thuế của các công ty liên kết, của cơ sở kinh doanh đồng kiểm

soát; báo cáo chi tiết về bán hàng hoá, tài sản trong nội bộ Tập đoàn; các chứng từ

thu (phiếu thu, giấy báo có ) về việc đã nhận các khoản được phân phối trong tập

đoàn; và các tài liệu về BCTC riêng của các đơn vị thành viên Tập đoàn, bảng tổng

hợp các bút toán điều chỉnh, bảng tổng hợp các chỉ tiêu hợp nhất,

 Tổ chức hạch toán ban đầu, lập chứng từ kế toán để ghi nhận các

nghiệp vụ kinh tế phát sinh

Tổ chức hạch toán ban đầu là ghi nhận tất cả các nghiệp vụ kinh tế tài chính

phát sinh tại các bộ phận vào chứng từ kế toán Các nghiệp vụ kinh tế, tài chính phát

sinh ở nhiều địa điểm, thời điểm khác nhau, liên quan đến nhiều bộ phận khác nhau

đòi hỏi kế toán phải quy định, hướng dẫn cách ghi chép trên chứng từ kế toán một

cách cụ thể, chi tiết đảm bảo cho các chứng từ kế toán được lập đúng yêu cầu của pháp luật và chính sách, chế độ kế toán của Nhà nước, làm căn cứ đáng tin cậy để ghi

sổ kế toán Hạch toán ban đầu không hoàn toàn do nhân viên kế toán thực hiện mà có thể do các đối tượng khác tiến hành Tổ chức thu nhận thông tin vào chứng từ kế toán

là một công việc chủ yếu của của công tác xây dựng thông tin kế toán

Nội dung của công việc này là: tổ chức hạch toán ban đầu ở các bộ phận trong doanh nghiệp và tổ chức thực hiện nghiệp vụ nội sinh

Tổ chức hạch toán ban đầu ở các bộ phận trong doanh nghiệp hay là tổ chức

hạch toán ban đầu các nghiệp vụ ngoại sinh là công việc khởi đầu của quy trình kế

toán nhưng không hoàn toàn do nhân viên kế toán thực hiện, mà có thể do nhân viên

ở các bộ phận trong đơn vị thực hiện với sự hướng dẫn của kế toán trưởng Nội dung công việc chủ yếu của tổ chức hạch toán ban đầu bao gồm:

- Quy định việc sử dụng các mẫu chứng từ ban đầu thích hợp với từng loại nghiệp vụ kinh tế, tài chính phát sinh

Đối với TĐKT, hệ thống chứng từ áp dụng cho TĐKT được lựa chọn thống nhất, đồng thời quy định, hướng dẫn các bộ phận liên quan ghi chép đúng, chính xác, đầy đủ các yếu tố trên chứng từ kế toán Đặc biệt trong CTM và các công ty thành viên, mỗi chứng từ cần được quy định chặt chẽ, chi tiết hơn về cách thức ghi từng chỉ tiêu cụ thể phục vụ cho việc ghi sổ kế toán và cung cấp thông tin BCTCHN của tập đoàn Chẳng hạn, trong trường hợp có giao dịch kinh tế giữa các bên liên quan, cần ghi chi tiết trên chứng từ để ghi sổ phục vụ làm căn cứ loại trừ khi lập BCTCHN Kế toán cần cụ thể hoá và bổ sung thêm một số nội dung trên chứng từ để phục vụ cho việc nhận diện, thu thập thông tin quá khứ, chi tiết theo mục tiêu quản lý Bên cạnh

đó, KTQT của CTM cần sử dụng rộng rãi các chứng từ hướng dẫn, cụ thể hoá hệ thống chứng từ hướng dẫn, chọn lọc, bổ sung, sửa đổi các chỉ tiêu trên chứng từ cho phù hợp với nội dung KTQT, thiết kế một số chứng từ kế toán cần thiết để phản ánh các nội dung thông tin thích hợp theo yêu cầu của quản trị tập đoàn

- Quy định và hướng dẫn người chịu trách nhiệm ghi nhận thông tin về nghiệp

vụ kinh tế, tài chính phát sinh vào chứng từ ban đầu ở từng bộ phận

- Phân công kế toán viên chịu trách nhiệm thu nhận và kiểm tra các chứng từ ban đầu đảm bảo tính trung thực của thông tin về các nghiệp vụ kinh tế, tài chính phát sinh

Trang 29

Theo yêu cầu và xử lý thông tin kế toán, trong quá trình thu thập thông tin,

phát sinh các nghiệp vụ chỉ do kế toán thực hiện gọi là nghiệp vụ nội sinh Tổ chức

thực hiện thu nhận thông tin về các nghiệp vụ nội sinh phát sinh trong quá trình xử lý

thông tin kế toán do các kế toán viên trực tiếp thực hiện trên cơ sở số liệu, thông tin

kế toán đã được hệ thống hoá từ các chứng từ ban đầu, hoặc phải tính toán, xác định

một số khoản mục chi phí kinh doanh trong kỳ trên cơ sở các dự toán, các kế hoạch,

gồm các nội dung chủ yếu như:

- Quy định việc sử dụng các mẫu chứng từ thích hợp đối với từng loại nghiệp

vụ nội sinh để ghi nhận thông tin, làm căn cứ ghi sổ kế toán trước khi khoá sổ Các

mẫu chứng từ này thường được gọi là các Bảng kê, các Bảng phân bổ, các Bảng tổng

hợp và phân bổ

- Phân công từng bộ phận kế toán, từng kế toán viên thực hiện từng nghiệp vụ

xử lý thông tin kế toán phù hợp với chức năng, nhiệm vụ

Về việc lập chứng từ trong TĐKT, tùy theo điều kiện cụ thể, chứng từ kế toán

có thể lập thủ công hoặc lập bằng máy Việc lập các chứng từ kế toán cũng có thể sử

dụng các chứng từ thủ công (chứng từ trên giấy) hoặc chứng từ điện tử

 Tổ chức kiểm tra, hoàn thiện chứng từ kế toán

Tổ chức kiểm tra kế toán là công việc quan trọng của người làm kế toán nó

quyết định tính trung thực của số liệu kế toán Trước khi ghi sổ kế toán, người làm kế

toán phải kiểm tra thông tin về các nghiệp vụ kinh tế tài chính phát sinh phản ánh trên

các chứng từ kế toán Đây là công việc thường xuyên và cần thiết nhằm đảm bảo tính

chính xác cho việc ghi chép và cung cấp thông tin Kiểm tra chứng từ kế toán có ý

nghĩa quyết định đối với chất lượng của công tác kế toán, vì vậy cần phải thực hiện

nghiêm túc trước khi tiến hành ghi sổ kế toán

Để công tác kiểm tra chứng từ kế toán được hiệu quả cần tổ chức phân công,

phân nhiệm cho từng người làm kế toán một cách khoa học, hợp lý, đảm bảo tính

hiệu quả

Nội dung kiểm tra chứng từ kế toán trước khi ghi sổ kế toán, bao gồm:

- Kiểm tra tính đúng đắn của nghiệp vụ kinh tế, tài chính phát sinh ở đơn vị

nhằm loại trừ những sai sót, những hiện tượng giả mạo chứng từ để tham ô hoặc

thanh toán khống;

- Kiểm tra tính hợp pháp của nghiệp vụ kinh tế, tài chính phát sinh phản ánh trong chứng từ kế toán nhằm đảm bảo tuân thủ các chế độ kế toán, thể lệ về quản lý kinh tế, tài chính hiện hành, hạn chế hành vi vi phạm làm tổn hại đến tài sản của đơn vị;

- Kiểm tra tính hợp lý của nghiệp vụ kinh tế tài chính phát sinh phản ánh trong chứng từ kế toán Tính hợp lý đòi hỏi nội dung thông tin về nghiệp vụ kinh tế phát sinh phải phù hợp với kế hoạch, với dự toán, phù hợp với định mức kinh tế, kỹ thuật, phù hợp với giá cả thị trường

- Kiểm tra tính trung thực của các chỉ tiêu hiện vật và giá trị;

- Kiểm tra việc tính toán các chỉ tiêu phản ánh trong chứng từ kế toán nhằm đảm bảo tính chính xác của số liệu kế toán;

- Kiểm tra việc ghi chép đầy đủ các yếu tố của chứng từ nhằm đảm bảo tính pháp lý của chứng từ kế toán

Sau khi kiểm tra các chứng từ kế toán, các chứng từ kế toán được phân loại theo địa điểm phát sinh, theo tính chất của từng loại chứng từ… Việc ghi sổ kế toán phụ thuộc vào từng hình thức kế toán áp dụng ở mỗi đơn vị

 Tổ chức luân chuyển chứng từ kế toán

Để tổ chức khoa học và hợp lý quá trình luân chuyển chứng từ, cần phải quy định rõ chức trách, nhiệm vụ của từng bộ phận, từng nhân viên đối với từng loại nghiệp vụ kinh tế, tài chính phát sinh Trong từng quy trình luân chuyển chứng từ cần quy định rõ trình tự luân chuyển chứng từ khi lập hoặc nhận phải được tuần tự luân chuyển qua các bộ phận nào, thời gian thực hiện hoặc kiểm tra nội dung nghiệp vụ kinh tế đến khâu cuối cùng là lưu trữ chứng từ

Mỗi loại chứng từ kế toán có vị trí, tác dụng và đặc tính vận động khác nhau trong quản lý, vì thế cần phải xây dựng kế hoạch, quy trình luân chuyển chứng từ hợp

lý, đảm bảo cho chứng từ kế toán vận động qua các khâu nhanh nhất, tránh được khâu trung gian

 Tổ chức bảo quản, lưu trữ và hủy bỏ chứng từ kế toán

Việc bảo quản và lưu trữ chứng từ kế toán phải chấp hành đúng theo các quy định hiện hành Đơn vị phải thực hiện về loại chứng từ lưu trữ, địa điểm lưu trữ và thời hạn lưu trữ Tuyệt đối không để hư hỏng, mất mát, đảm bảo có thể sử dụng khi

Trang 30

cần thiết để phục vụ cho công tác kiểm tra kế toán, thanh tra kinh tế Mọi trường

hợp mất mát chứng từ gốc đều phải báo cáo với bộ phận chức năng để có biện pháp

xử lý kịp thời Đối với trường hợp mất chứng từ (hóa đơn bán hàng, séc trắng…)

phải báo cáo với cơ quan thuế và cơ quan công an địa phương về số lượng mất,

hoàn cảnh mất… Đồng thời, phải có biện pháp thông báo và vô hiệu hóa chứng từ

đã bị mất

Khi các chứng từ hết thời hạn lưu trữ, chứng từ được phép tiêu hủy theo

quy định

Một vấn đề cũng cần quan tâm trong tổ chức chứng từ kế toán ở các doanh

nghiệp là ứng dụng công nghệ thông tin vào vào công tác kế toán, trong đó có tổ chức

chứng từ điện tử Bằng việc thiết kế các mẫu chứng từ có sẵn cho từng loại nghiệp vụ

kinh tế và được tổ chức mã hóa cho từng loại chương trình sẽ giảm bớt khối lượng

công việc của nhân viên kế toán trong quá trình lập và luân chuyển chứng từ, tạo mối

liên hệ chặt chẽ giữa các bộ phận phát sinh Tuy nhiên, tổ chức vấn đề này cần thiết

phải tính đến khả năng chống sửa chữa, bảo mật thông tin của chứng từ kế toán

Trên cơ sở yêu cầu chung của chứng từ kế toán, tùy theo đặc điểm hoạt động

và yêu cầu quản lý cụ thể, mỗi đơn vị cần tổ chức chứng từ kế toán sao cho phù hợp

cung cấp thông tin kịp thời và hiệu quả cho quá trình quản lý

 Tổ chức thu nhận thông tin kế toán phục vụ công tác KTQT

Hệ thống thông tin đối với công tác KTQT bao gồm thông tin trong quá khứ

và thông tin tương lai Dựa vào hệ chứng từ bắt buộc và hệ thống chứng từ hướng

dẫn sử dụng trong KTTC để thu thập hệ thống các thông tin quá khứ chi tiết theo

yêu cầu KTQT Lúc này, cả KTTC và KTQT đều sử dụng chung một hệ thống

chứng từ kế toán Bên cạnh hệ thống chứng từ sử dụng trong công tác KTTC, doanh

nghiệp cần phải thiết lập một hệ thống chứng từ riêng phục vụ cho công tác KTQT

Các thông tin này có thể được chi tiết hơn trên chứng từ KTTC hoặc liên quan đến

các thông tin tương lai như thông tin về kế hoạch, định mức, dự báo… Chứng từ kế

toán phục vụ công tác KTQT được thiết kế hết sức linh hoạt, theo yêu cầu quản lý

của doanh nghiệp

Đối với các chứng từ KTQT, việc lưu trữ và huỷ được thực hiện theo quyết

định của giám đốc trên cơ sở vận dụng các quy định của pháp luật

 Tổ chức thu nhận thông tin kế toán trong điều kiện ứng dụng công nghệ thông tin

Khi ứng dụng công nghệ thông tin vào tổ chức thu nhận thông tin kế toán cần đảm bảo nguyên tắc ghi nhận thông tin về toàn bộ hoạt động kinh tế, tài chính phát sinh ở các đơn vị trong TĐKT Do đó, phải giải quyết tốt mối quan hệ giữa ghi nhận thông tin theo hệ thống các nghiệp vụ kinh tế tài chính phát sinh ở các đơn vị Phần mềm kế toán phải đảm bảo nhập đầy đủ dữ liệu về toàn bộ các nghiệp vụ kinh tế phát sinh, không bị trùng lắp hoặc bỏ sót nghiệp vụ và thuận tiện cho việc sửa chữa do nhập liệu không chính xác

Các chứng từ kế toán nhất thiết phải được mã hoá theo loại, tên gọi chứng

từ và được tổ chức theo các tập tin Việc mã hóa chứng từ phải đảm bảo yêu cầu đơn giản, dễ kiểm tra, đối chiếu, dễ tổng hợp và đảm bảo bảo mật dữ liệu Những thông tin được tạo ra, gửi đi, nhận và lưu trữ bằng phương tiện điện tử trong hoạt động tài chính được gọi là chứng từ điện tử Chứng từ điện tử được coi là chứng từ

kế toán khi có đầy đủ các nội dung quy định đối với chứng từ kế toán bằng giấy và được thể hiện dưới dạng dữ liệu điện tử, được mã hoá mà không bị thay đổi trong quá trình truyền qua mạng máy tính hoặc trên vật mang tin như bang tư, đĩa từ, các loại thẻ thanh toán Khi sử dụng chứng từ điện tử, phải đảm bảo tính bảo mật

và bảo toàn dữ liệu, thông tin trong quá trình sử dụng và lưu trữ; phải có biện pháp quản lý, kiểm tra chống các hình thức lợi dụng khai thác, thâm nhập, sao chép, đánh cắp hoặc sử dụng chứng từ điện tử không đúng quy định Chứng từ điện tử khi bảo quản, được quản lý như tài liệu kế toán ở dạng nguyên bản nhưng phải có

đủ thiết bị phù hợp để sử dụng khi cần thiết Chứng từ điện tử có thể được chuyển đổi thành chứng từ bằng giấy và ngược lại Các đơn vị trong TĐKT cần phải tổ chức bảo quản và lưu trữ chứng từ điện tử Việc bảo quản, lưu trữ phải được thực hiện với các điều kiện kỹ thuật chống thoái hoá chứng từ điện tử và chống tình trạng truy cập thông tin bất hợp pháp từ bên ngoài Trước khi đưa vào lưu trữ phải

in chứng từ điện tử ra giấy, nếu lưu trữ chứng từ điện tử bằng bản gốc trên thiết bị đặc biệt thì phải lưu trữ các thiết bị đọc tin phù hợp đảm bảo khai thác được khi cần thiết

Trang 31

1.3.3 Tổ chức hệ thống hóa, xử lý thông tin kế toán

Thông tin kế toán là thông tin về toàn bộ hoạt động kinh tế, tài chính ở đơn vị,

mà hoạt động kinh tế, tài chính này được hình thành từ các nghiệp vụ kinh tế, tài

chính đã phát sinh và thực sự hoàn thành, vì vậy thu nhận, xử lý và hệ thống hóa

thông tin kế toán là thu nhận, xử lý và hệ thống hóa thông tin về các nghiệp vụ kinh

tế, tài chính phát sinh ở đơn vị

Thu nhận, xử lý và hệ thống hóa thông tin kế toán là công việc quan trọng

trong toàn bộ quy trình kế toán, có ý nghĩa lớn và góp phần quyết định đối với tính

trung thực, khách quan của số liệu kế toán và báo cáo kế toán và là căn cứ để kiểm tra

hoạt động kinh tế, tài chính của đơn vị Do đó, việc thu nhận, xử lý và hệ thống hóa

thông tin kế toán cần đảm bảo các yêu cầu sau:

- Xử lý và hệ thống hóa theo đúng các nguyên tắc kế toán được thừa nhận,

nhằm đảm bảo tính thực tế, khách quan của hoạt động kinh tế, tài chính ở đơn vị

- Xử lý và hệ thống hóa phải gắn với trách nhiệm của những người thực hiện

các nghiệp vụ kinh tế, tài chính phát sinh để có thể kiểm tra trách nhiệm vật chất của

họ trong việc thực hiện các nghiệp vụ này khi cần thiết

- Xử lý và hệ thống hóa rõ các chỉ tiêu mà nghiệp vụ kinh tế, tài chính phát

sinh tác động đến, đồng thời phải trình bày rõ căn cứ tính toán, xác định các chỉ

tiêu này

- Xử lý và hệ thống hóa thông tin kế toán phải kịp thời phục vụ tốt cho công

việc điều hành và quản lý kinh tế, tài chính ở doanh nghiệp Hiệu lực của thông tin kế

toán chỉ phát huy cao, khi thông tin được ghi nhận và cung cấp kịp thời, đặc biệt là

trong cơ chế thị trường

1.3.3.1 Vận dụng tổ chức hệ thống tài khoản kế toán

Tài khoản kế toán là hình thức biểu hiện của phương pháp tài khoản kế toán,

được sử dụng để phản ánh một cách thường xuyên, liên tục, có hệ thống số hiện có và

sự vận động của đối tượng kế toán cụ thể Tài khoản kế toán được mở để ghi chép,

phản ánh một cách thường xuyên, liên tục, có hệ thống tình hình hiện có và sự biến

động của từng đối tượng kế toán Tài khoản kế toán phản ánh các thông tin về tài sản,

nguồn vốn, công nợ, doanh thu, chi phí và kết quả hoạt động kinh doanh của một

doanh nghiệp Trong doanh nghiệp có rất nhiều các đối tượng kế toán khác nhau, nên cần thiết phải sử dụng các tài khoản kế toán khác nhau để thu nhận, xử lý, phân tích

và cung cấp thông tin phục vụ yêu cầu quản lý của doanh nghiệp

Hệ thống tài khoản kế toán là bảng kê các tài khoản kế toán dùng cho đơn vị

kế toán Mục đích cơ bản của việc xây dựng hệ thống tài khoản kế toán là hướng tới việc hệ thống hoá thông tin về tình hình hiện có và sự vận động của các đối tượng kế toán trong doanh nghiệp Khi xây dựng hệ thống tài khoản kế toán cần quan tâm đến khả năng đáp ứng của các tài khoản đối với yêu cầu hệ thống hoá và cung cấp thông tin tổng quát và thông tin chi tiết phục vụ cho công tác quản lý hay không Vì vậy, xây dựng hệ thống tài khoản kế toán được coi là khâu quan trọng và có ý nghĩa lớn trong tổ chức công tác kế toán ở các tập đoàn

Đối với công tác KTTC: Dựa trên những quy định chung của quốc gia, các

đơn vị thành viên tập đoàn lựa chọn, áp dụng một hệ thống tài khoản kế toán phù hợp với chức năng, nhiệm vụ, yêu cầu quản lý cũng như đặc điểm SXKD và lĩnh vực hoạt động của đơn vị, bao gồm:

- Hệ thống tài khoản kế toán áp dụng trong CTM

- Hệ thống tài khoản kế toán áp dụng trong các CTC Như vậy, tập đoàn cần nắm được hệ thống tài khoản kế toán áp dụng và phương pháp ghi chép trên tài khoản trong từng đơn vị thành viên Đồng thời, cần xác định nội dung ghi chép trên các tài khoản kế toán mở riêng cho bộ phận làm nhiệm

vụ lập BCTCHN

Lưu ý là với cùng một tài khoản sử dụng, song phạm vi, nội dung và phương pháp phản ánh trên tài khoản có thể khác nhau đối với mục đích lập BCTC riêng và lập BCTCHN

Đơn vị cũng có thể đề nghị bổ sung tài khoản cấp 1 hoặc cấp 2 đối với các tài khoản chưa có trong hệ thống tài khoản kế toán doanh nghiệp để phản ánh nội dung kinh tế riêng có phát sinh tại đơn vị và chỉ được thực hiện sau khi BTC chấp thuận bằng văn bản

Đối với công tác KTQT: Để đáp ứng yêu cầu quản lý tập đoàn, CTM có thể

cụ thể hoá, bổ sung thêm tài khoản cấp 3, cấp 4… phục vụ cho KTQT nhưng phải phù hợp với nội dung, kết cấu và phương pháp hạch toán của tài khoản cấp trên tương

Trang 32

ứng Việc cụ thể hoá hệ thống tài khoản chi tiết phải đảm bảo phản ánh, hệ thống hoá

đầy đủ, cụ thể mọi nội dung của đối tượng hạch toán, mọi nghiệp vụ kinh tế tài chính

phát sinh, phù hợp với những quy định thống nhất của nhà nước và các văn bản

hướng dẫn thực hiện của các cơ quan quản lý cấp trên, đáp ứng yêu cầu xử lý thông

tin trên máy vi tính và thoả mãn nhu cầu thông tin cho các đối tượng sử dụng Trên

các tài khoản chi tiết phản ánh kết hợp thước đo giá trị với các thước đo khác Chẳng

hạn, trên các tài khoản chi phí cần mở chi tiết để có thể vừa tổng hợp được chi phí

theo nội dung kinh tế, vừa tổng hợp được chi phí theo công dụng kinh tế, lại vừa có

thể tổng hợp được chi phí theo mối quan hệ giữa chi phí với khối lượng hoạt động

Trong điều kiện ứng dụng công nghệ thông tin: Phải đảm bảo mối quan hệ

ghi chép, đối chiếu giữa kế toán tổng hợp với kế toán chi tiết theo yêu cầu quản lý

của các đơn vị thành viên trong TĐKT Các thông tin kế toán do phần mềm kế toán

cung cấp vừa phải đảm bảo số liệu để lập BCTC vừa phải cung cấp thông tin để lập

các báo cáo KTQT Để đáp ứng yêu cầu của công tác KTQT, các đơn vị cần xây

dựng hệ thống tài khoản KTQT để quản lý đến từng loại vật tư, tài sản, chi phí, dự

toán chi phí Các tài khoản kế toán cần được mã hoá, hệ thống hóa một cách thống

nhất Việc mã hoá các tài khoản kế toán cũng cần phải thuận tiện trong trường hợp

thêm, bớt hoặc sửa đổi khi cần thiết

1.3.3.2 Vận dụng tổ chức vận dụng hình thức kế toán và hệ thống sổ kế toán

Hình thức kế toán là hệ thống sổ kế toán để ghi chép, hệ thống hoá và tổng

hợp số liệu từ các chứng từ kế toán theo trình tự và phương pháp ghi sổ nhất định Tổ

chức vận dụng hình thức kế toán trong TĐKT thực chất là tổ chức hệ thống sổ kế

toán áp dụng cho CTM và các CTC, bao gồm các sổ kế toán tổng hợp, các sổ kế toán

chi tiết đầy đủ chủng loại, có kết cấu phù hợp, đảm bảo mối quan hệ đối chiếu,

phương pháp ghi chép hợp lý nhằm thu nhận và cung cấp kịp thời, đầy đủ thông tin

kế toán phục vụ cho công tác quản lý tập đoàn cũng như từng đơn vị thành viên

CTM và các CTC phải dựa trên những quy định chung của quốc gia đồng thời căn cứ

vào đặc điểm SXKD, quy mô, yêu cầu quản lý, trình độ nhân viên kế toán, phương

tiện tính toán… để lựa chọn hình thức kế toán phù hợp Trên cơ sở đó, đơn vị cụ thể

hoá các sổ kế toán theo hình thức kế toán đã lựa chọn

Đối với công tác KTTC: các sổ kế toán tổng hợp vận dụng phải tuân thủ mọi

nguyên tắc cơ bản về loại sổ, kết cấu các loại sổ, mối quan hệ và sự kết hợp giữa các

loại sổ, trình tự và kỹ thuật ghi chép các loại sổ kế toán Các sổ kế toán chi tiết mang tính hướng dẫn, đơn vị có thể cụ thể hoá để phản ánh thông tin chi tiết theo yêu cầu quản lý của đơn vị Như vậy, Tập đoàn cần nắm được:

- Thứ nhất, hệ thống sổ sách kế toán áp dụng trong từng đơn vị thành viên (CTM, CTC) Hệ thống sổ kế toán ở từng đơn vị thành viên trong tập đoàn cần được thiết kế mẫu linh hoạt, vừa đảm bảo xử lý, tổng hợp số liệu để cung cấp số liệu lập BCTC riêng của từng đơn vị thành viên và theo dõi chi tiết để báo cáo theo bộ phận kinh doanh (lĩnh vực kinh doanh, khu vực kinh doanh)

- Thứ hai, xác định nội dung ghi chép trên các sổ kế toán mở riêng cho bộ phận làm nhiệm vụ lập BCTCHN Chính vì vậy, bộ phận làm nhiệm vụ lập BCTCHN cần thiết phải sử dụng một hệ thống sổ kế toán nhằm phân tích, tổng hợp số liệu liên quan phục vụ cho yêu cầu điều chỉnh cho lập BCTCHN

Đối với công tác KTQT: Sổ kế toán được thiết kế mẫu theo yêu cầu quản lý

nội bộ và theo từng chỉ tiêu cụ thể Các chỉ tiêu được phản ánh trong các mẫu sổ phải đảm bảo cung cấp được những thông tin chi tiết phục vụ cho việc lập báo cáo KTQT

và phân tích thường xuyên Ngoài số liệu thực tế, sổ KTQT còn cần thiết phải có thêm phần ghi các chỉ tiêu dự toán, kế hoạch nhằm đảm bảo cơ sở cho việc kiểm tra tình hình thực hiện dự toán, thực hiện định mức theo các chỉ tiêu phản ánh trên các

sổ Đồng thời, ngoài việc phản ánh các chỉ tiêu về giá trị còn phải phản ánh các chỉ tiêu hiện vật Các sổ kế toán cần phải phản ánh theo nhiều chỉ tiêu phù hợp với các tài khoản chi tiết để có thông tin hữu ích sử dụng trên báo cáo KTQT đặc thù để có thể tổng hợp theo nhiều yêu cầu khác nhau nhằm kiểm soát, đánh giá từng bộ phận CTM

có thể thiết kế các sổ kế toán mới phù hợp với yêu cầu quản lý chi phí, doanh thu và xác định kết quả kinh doanh theo bộ phận, mặt hàng, công việc và các yêu cầu khác của KTQT

Tổ chức hệ thống sổ kế toán trong điều kiện ứng dụng công nghệ thông tin: Việc thiết kế trên phần mềm kế toán được thực hiện theo nguyên tắc của một

trong các hình thức kế toán thủ công hoặc kết hợp các hình thức kế toán đó Mặc dù phần mềm kế toán không hiển thị đầy đủ quy trình ghi sổ kế toán, nhưng phải in được đầy đủ các sổ kế toán và đáp ứng được các yêu cầu về nội dung và hình thức theo quy định Khi áp dụng phần mềm kế toán, các đơn vị cần lựa chọn hình thức kế toán nào

Trang 33

phù hợp với đơn vị mình Phần mềm kế toán được thiết kế theo hình thức kế toán nào

sẽ có các loại sổ của hình thức kế toán đó nhưng không hoàn toàn giống mẫu sổ kế

toán thủ công, chương trình phần mềm kế toán phải thuận tiện cho việc sửa đổi, chữa

sổ kế toán theo đúng nguyên tắc chữa sổ kế toán trong các trường hợp sai sót Phương

pháp chữa sổ kế toán trong trường hợp áp dụng phần mềm kế toán là phương pháp

ghi bổ sung và phương pháp ghi số âm

1.3.4 Tổ chức phân tích và cung cấp thông tin kế toán

1.3.4.1 Tổ chức lập báo cáo kế toán để cung cấp thông tin kế toán

Báo cáo kế toán là phương tiện để truyền tải, cung cấp thông tin đến các đối

tượng sử dụng thông tin Hệ thống báo cáo kế toán của doanh nghiệp bao gồm: báo

cáo KTTC và báo cáo KTQT

 Tổ chức lập và công khai báo cáo tài chính

Hệ thống BCTC là hệ thống báo cáo bắt buộc, phản ánh tổng quát và có hệ

thống những thông tin kinh tế tài chính chủ yếu của doanh nghiệp trong một thời kỳ

nhất định vào một hệ thống biểu mẫu quy định thống nhất BCTC phản ánh theo một

cấu trúc chặt chẽ với hệ thống số liệu được tổng hợp từ các sổ kế toán tổng hợp và chi

tiết của doanh nghiệp cùng với những thuyết minh cần thiết bằng văn bản về những

số liệu đó BCTC phản ánh một cách trung thực và hợp lý tính hình hoạt động kinh

doanh và các luồng tiền của doanh nghiệp Để đảm bảo yêu cầu này, BCTC phải

được lập và trình bày trên cơ sở tuân thủ các chuẩn mực kế toán, chế độ kế toán và

các quy định hiện hành có liên quan Việc thuyết minh BCTC phải căn cứ vào yêu

cầu trình bày thông tin quy định trong các Chuẩn mực kế toán Các thông tin trọng

yếu phải được giải trình để giúp người đọc hiểu đúng thực trạng tài chính của doanh

nghiệp Với đối tượng sử dụng thông tin trên BCTC của doanh nghiệp chủ yếu là các

đối tượng bên ngoài doanh nghiệp như các cơ quan quản lý nhà nước và các đối

tượng khác (chủ nợ, nhà đầu tư, các đối tượng có quan hệ kinh tế liên quan), thông tin

trên BCTC thường được trình bày một cách công khai, minh bạch theo quy định

chung nhất và thông lệ phổ biến nhằm kiểm tra, đánh giá tình hình tuân thủ các quy

định về quản lý tài chính của đơn vị theo các văn bản pháp quy hiện hành

Trong TĐKT, các đơn vị thành viên hạch toán độc lập nên có hệ thống BCTC

riêng của CTM và hệ thống BCTC riêng của từng CTC

- Bảng cân đối kế toán

- Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh

- Báo cáo lưu chuyển tiền tệ

- Bản thuyết minh BCTC

Hệ thống BCTC giữa niên độ bao gồm:

- Bảng cân đối kế toán giữa niên độ

- Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh giữa niên độ

- Báo cáo lưu chuyển tiền tệ giữa niên độ

- Bản thuyết minh BCTC giữa niên độ

Công việc trước khi lập BCTC bao gồm:

- Thu nhận đầy đủ chứng từ kế toán tính đến thời điểm lập BCTC, đảm bảo các nghiệp vụ kinh tế đã được ghi chép, phản ánh một cách có hệ thống vào

Căn cứ để lập BCTC: là số liệu từ BCTC năm trước (kỳ trước) và số liệu tại

thời điểm báo cáo từ các sổ kế toán tổng hợp hoặc sổ kế toán chi tiết của doanh nghiệp BCTC phải tuân thủ các yêu cầu:

- Trung thực và hợp lý

Trang 34

- Lựa chọn và áp dụng các chính sách kế toán phù hợp với quy định của từng

chuẩn mực kế toán nhằm đảm bảo cung cấp thông tin thích hợp với nhu cầu ra các

quyết định kinh tế của người sử dụng và cung cấp được các thông tin đáng tin cậy

Khi lập BCTC, cán bộ kế toán được phân công cần kiểm tra tính hợp lý của

từng chỉ tiêu trong báo cáo nhằm tránh nhầm lẫn và các sai phạm xảy ra, đồng thời

tuân thủ thời gian theo tiến độ quy định

Sau khi lập BCTC, kế toán trưởng và người doanh nghiệp phải kiểm tra thông

tin trên BCTC ở các khía cạnh trọng yếu BCTC hoàn thành phải được tổ chức công

khai theo quy định hiện hành Nội dung, hình thức và thời hạn công khai BCTC của

doanh nghiệp phải tuân thủ theo pháp luật hiện hành về kế toán

 Hệ thống BCTCHN

TĐKT là một chủ thể kinh tế, với các doanh nghiệp thành viên có mối liên kết

chặt chẽ vì lợi ích đầu tư tài chính nên ảnh hưởng rất lớn đến việc tổ chức cung cấp

thông tin kế toán ra bên ngoài Nhu cầu sử dụng thông tin của các đối tượng quan tâm

giờ đây không chỉ dừng lại ở phạm vi từng đơn vị thành viên riêng lẻ mà mở rộng ra

phạm vi toàn Tập đoàn Vì vậy, các đơn vị thành viên phải lập và trình bày BCTC

riêng còn toàn Tập đoàn phải lập BCTC chung để cung cấp thông tin tổng hợp về

hoạt động của toàn bộ Tập đoàn với tư cách một thực thể kinh tế thống nhất - được

gọi là BCTCHN

Hệ thống BCTCHN bao gồm:

- Bảng cân đối kế toán hợp nhất

- Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh hợp nhất

- Báo cáo lưu chuyển tiền tệ hợp nhất

- Bản thuyết minh BCTC hợp nhất

CTM phải lập và trình bày BCTCHN, trừ trường hợp CTM đồng thời là CTC

bị công ty khác sở hữu toàn bộ hoặc gần như toàn bộ (bị công ty khác nắm giữ trên

90% quyền biểu quyết) và nếu được cổ đông thiểu số trong công ty chấp thuận thì

không phải lập và trình bày BCTCHN

CTM khi lập BCTCHN phải hợp nhất BCTC của tất cả các CTC ở trong và

ngoài nước, trừ khi:

- Quyền kiểm soát của CTM chỉ là tạm thời vì CTC này chỉ được mua và nắm

giữ cho mục đích bán lại thời gian không quá 12 tháng

- Hoạt động của CTC bị hạn chế trong thời gian trên 12 tháng và điều này ảnh hưởng đáng kể tới khả năng chuyển vốn cho CTM

Khi lập BCTCHN, CTM và Tập đoàn phải tuân thủ quy định tại Chuẩn mực

kế toán “Báo cáo tài chính hợp nhất và kế toán các khoản đầu tư vào CTC” Để phục

vụ cho việc hợp nhất BCTC Tập đoàn, các thông tin trên BCTC riêng của từng CTC phải được xử lý, tổng hợp theo biểu mẫu và quy ước mà CTM đã quy định cho toàn Tập đoàn

Trách nhiệm lập BCTCHN thuộc về CTM nên các đơn vị thành viên trong Tập đoàn cần lập và hoàn thiện BCTC riêng và nộp BCTC riêng đã được kiểm toán

về CTM theo thời gian đã được CTM quy định

Trình tự hợp nhất BCĐKT và BCKQHĐKD được thực hiện như sau:

- Thứ nhất, BCĐKT và BCKQHĐKD của CTM và các CTC sẽ được hợp nhất theo từng khoản mục bằng cách cộng các khoản tương đương của tài sản, nợ phải trả, vốn chủ sở hữu, doanh thu, thu nhập khác và chi phí

- Thứ hai, giá trị ghi sổ khoản đầu tư của CTM trong từng CTC, phần tài sản thuần của CTM nắm giữ trong VCSH của CTC và ghi nhận lợi thế thương mại hoặc lãi từ giao dịch mua rẻ (nếu có)

- Thứ ba, phân bổ lợi thế thương mại (nếu có)

- Thứ tư, tách lợi ích cổ đông không kiểm soát

- Thứ năm, loại trừ toàn bộ các giao dịch nội bộ trong tập đoàn

- Thứ sáu, lập Bảng bút toán điều chỉnh và Bảng tổng hợp các chỉ tiêu hợp nhất Sau khi lập các bút toán điều chỉnh, căn cứ vào chênh lệch giữa số điều chỉnh tăng và số điều chỉnh giảm của các chỉ tiêu thuộc BCKQHĐKD, kế toán thực hiện bút toán kết chuyển để phản ánh tổng ảnh hưởng phát sinh từ việc điều chỉnh doanh thu, chi phí tới lợi nhuận sau thuế chưa phân phối

- Thứ bảy, BCTCHN được lập căn cứ vào Bảng tổng hợp các chỉ tiêu hợp nhất sau khi đã được điều chỉnh và loại trừ cho các giao dịch phát sinh trong nội

bộ tập đoàn

Lưu ý, khi hợp nhất BCTC cần có sự điều chỉnh, đánh giá, quy đổi theo quy định khi các BCTC được sử dụng để hợp nhất được lập cho các kỳ kế toán kết thúc tại các ngày khác nhau hoặc có sự khác biệt trong chính sách kế toán, đơn vị tiền tệ trình bày…

Trang 35

 Tổ chức lập báo cáo kế toán quản trị:

Báo cáo quản trị là những báo cáo kế toán được lập nhằm cung cấp thông tin

phục vụ yêu cầu quản lý nội bộ

Đối với báo cáo KTQT, CTM căn cứ vào yêu cầu cụ thể để lập theo mẫu biểu

và theo thời điểm thích hợp nhằm đáp ứng yêu cầu thông tin phục vụ quản trị nội bộ

Báo cáo KTQT cũng có thể được lập theo định kỳ hoặc thường xuyên (báo cáo

nhanh, báo cáo theo định kỳ) Số lượng báo cáo KTQT phải lập nhiều hay ít tuỳ thuộc

vào yêu cầu quản lý nội bộ đặt ra Nội dung thông tin cần báo cáo và kết cấu mẫu

biểu báo cáo KTQT rất đa dạng, gồm nhiều loại phù hợp với yêu cầu quản lý nội bộ

từng bộ phận trong đơn vị Song, có thể khái quát thành các báo cáo sau:

- Các báo cáo phục vụ yêu cầu quản trị tài sản Đó là các báo cáo phản ánh số

hiện có và tình hình biến động của từng loại vốn kinh doanh, từng loại nguồn vốn kinh

doanh cụ thể nhằm cung cấp thông tin giúp nhà quản lý nắm chắc và quản lý chặt chẽ

được tài sản; kiểm tra, giám sát được tình hình sử dụng vốn kinh doanh và nguồn vốn

kinh doanh của đơn vị Thuộc loại báo cáo này gồm các báo cáo kế toán cụ thể như báo

cáo tăng, giảm tài sản cố định; báo cáo vật tư, thành phẩm, hàng hoá như: báo cáo khối

lượng hàng hoá mua vào và bán ra trong kỳ theo từng đối tượng khách hàng, giá bán,

chiết khấu và các hình thức khuyến mại khác, báo cáo chi tiết khối lượng sản phẩm

(dịch vụ) hoàn thành, tiêu thụ; báo cáo tình hình công nợ theo từng tài khoản phản ánh

công nợ, thời hạn nợ, khách nợ, chủ nợ và khả năng thu nợ, báo cáo về các khoản đầu

tư tài chính theo từng hình thức đầu tư; báo cáo tăng, giảm theo từng nguồn vốn

- Các báo cáo phục vụ yêu cầu phân cấp quản lý kinh tế, tài chính nội bộ Đó

là các báo cáo phản ánh các chỉ tiêu phân cấp nội bộ như báo cáo doanh thu bán hàng,

báo cáo chi phí trực tiếp, báo cáo kết quả kinh doanh, báo cáo bộ phận lập cho trung

tâm trách nhiệm

- Các báo cáo kế toán phục vụ yêu cầu quản trị kinh doanh Đó là các báo

cáo được lập trên cơ sở hệ thống hoá thông tin KTQT phục vụ yêu cầu quản trị kinh

doanh của đơn vị Tuỳ thuộc vào trình độ quản lý của đơn vị để đặt ra yêu cầu thông

tin kế toán cần cung cấp Thuộc loại báo cáo này là báo cáo chi phí sản xuất và giá

thành sản phẩm, báo cáo chi phí nguyên vật liệu trực tiếp, báo cáo chi phí nhân

công trực tiếp, báo cáo CPBH và CPQLDN, báo cáo kết quả kinh doanh theo nhóm

mặt hàng

Ngoài ra, cũng có thể lập các báo cáo phân tích mối quan hệ giữa chi phí, khối lượng và lợi nhuận; phân tích tình hình tài chính của doanh nghiệp; phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến tình hình thực hiện kế hoạch sản xuất và tài chính

1.3.4.2 Tổ chức phân tích và cung cấp thông tin báo cáo tài chính hợp nhất

Sau khi lập BCTC, đặc biệt là BCTCHN, nhiệm vụ quan trọng của kế toán là

tổ chức phân tích và cung cấp thông tin của BCTCHN nhất nhằm cung cấp thông tin phục vụ công tác quản lý chung của Tập đoàn

Tổ chức phân tích và cung cấp thông tin của BCTCHN là việc nộp BCTCHN cho cơ quan chức năng theo quy định, như cơ quan tài chính, cơ quan thuế, cơ quan thống kê và cơ quan Cấp giấy phép đầu tư hoặc Giấy phép đăng ký kinh doanh, Ủy ban chứng khoán nhà nước và Sở giao dịch chứng khoán hoặc Trung tâm giao dịch chứng khoán Đồng thời, cung cấp cho các đối tượng quan tâm đến tình hình tài chính của doanh nghiệp (các cổ đông hiện tại và tương lai, ngân hàng, tổ chức tài chính, các doanh nghiệp khác…)

Ngoài ra, cung cấp thông tin BCTCHN còn là việc thực hiện phân tích BCTCHN

Tổ chức công tác phân tích BCTCHN của Tập đoàn là việc thiết lập trình tự các bước công việc cần tiến hành trong quá trình phân tích Để công tác phân tích BCTCHN thực sự phát huy hiệu quả cần tổ chức khoa học, hợp lý, phù hợp với đặc điểm tổ chức quản lý kinh doanh của Tập đoàn

Tổ chức phân tích BCTCHN thường được tiến hành qua các bước sau:

- Tổ chức lập kế hoạch phân tích: Đây là khâu đầu tiên có ý nghĩa quan trọng, ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng công tác phân tích Lập kế hoạch phân tích bao gồm việc xác định mục tiêu, chương trình phân tích Kế hoạch phân tích phải xác định nội dung phân tích, phạm vi phân tích, thời gian thực hiện và những thông tin cần thiết thông qua các chỉ tiêu phân tích

- Tổ chức thực hiện công tác phân tích: Đây là khâu triển khai thực hiện kế hoạch phân tích đã đề ra, bao gồm việc thu thập nguồn tài liệu, lựa chọn và tính toán các chỉ tiêu phân tích, xác định nguyên nhân và nhân tổ ảnh hưởng đến chỉ tiêu phân tích Kế toán trưởng có nhiệm vụ phân công trách nhiệm cụ thể cho các bộ phận kế toán và từng người làm kế toán trong việc thu nhận, cung cấp và phân tích đối với từng chỉ tiêu cụ thể

Trang 36

- Tổ chức báo cáo kết quả phân tích: Đây là khâu cuối cùng của phân tích

BCTC Trên cơ sở các tính toán, phân tích, dự báo tình hình tài chính và hoạt động

kinh doanh, những nhà phân tích phải nêu rõ nguyên nhân và trình bày kiến nghị,

giúp nhà quản lý có được cơ sở đáng tin cậy cho việc ra quyết định đúng đắn trong

điều hành hoạt động SXKD

1.3.5 Tổ chức lưu trữ tài liệu kế toán và công tác kiểm tra kế toán

1.3.5.1 Tổ chức lưu trữ tài liệu kế toán

Tại doanh nghiệp nói chung và TĐKT nói riêng, tài liệu kế toán phải bảo

quản, lưu trữ là bản chính các tài liệu kế toán được ghi chép trên giấy, có giá trị pháp

lý về kế toán, bao gồm:

- Chứng từ kế toán, gồm: Chứng từ gốc và chứng từ ghi sổ;

- Sổ kế toán, gồm: Sổ kế toán chi tiết, thẻ kế toán chi tiết, sổ kế toán tổng hợp;

- Báo cáo tài chính, gồm: Báo cáo tài chính tháng, báo cáo tài chính quý, báo

cáo tài chính năm;

- Tài liệu khác liên quan đến kế toán: các tài liệu được dùng làm căn cứ để lập

chứng từ kế toán; các tài liệu liên quan đến hoạt động kinh tế (như hợp đồng kinh tế,

hợp đồng vay, khế ước vay, hợp đồng liên doanh ); các tài liệu liên quan đến vốn,

quỹ, lợi tức (như quyết định bổ sung vốn từ lợi tức, phân phối các quỹ từ lợi tức );

các tài liệu liên quan đến thu, chi ngân sách, sử dụng vốn, kinh phí (như quyết toán sử

dụng kinh phí, quyết toán quỹ ngân sách Nhà nước, quyết toán vốn đầu tư ); các tài

liệu liên quan đến nghĩa vụ thuế với Nhà nước (như quyết định miễn, giảm thuế, hoàn

thuế, truy thu thuế, quyết toán thuế hàng năm ) các tài liệu liên quan đến kiểm kê,

định giá tài sản (như các biểu mẫu kiểm kê, biên bản định giá ); các tài liệu liên quan

đến kiểm tra, kiểm toán, thanh tra (như kết luận thanh tra, kiểm tra, báo cáo kiểm

toán ); tài liệu về chương trình kế toán trên máy vi tính, tài liệu liên quan đến tiêu

huỷ tài liệu kế toán

Tất cả tài liệu kế toán phải được phân loại và được bảo quản, lưu trữ theo thời

hạn của Nhà nước Tài liệu kế toán đã hết thời hạn lưu trữ theo quy định nếu không

có chỉ định nào khác của người hoặc của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền thì được

phép tiêu huỷ theo quyết định của người đứng đầu đơn vị Việc tiêu huỷ tài liệu kế

toán hết thời hạn lưu trữ phải làm đầy đủ, đúng các thủ tục theo quy định Nhà nước

1.3.5.2 Tổ chức công tác kiểm tra kế toán

Tổ chức kiểm tra kế toán là một trong những nội dung quan trọng của tổ chức công tác kế toán nhằm đảm bảo cho số liệu, tài liệu kế toán phản ánh trung thực, khách quan về hoạt động kinh tế, tài chính của tập đoàn

Nội dung kiểm tra kế toán bao gồm:

- Kiểm tra việc ghi chép, phản ánh các nghiệp vụ kinh tế phát sinh trên chứng

từ kế toán, sổ kế toán và báo cáo kế toán đảm bảo thực hiện đúng chế độ, chính sách quản lý tài chính của nhà nước và những quy định cụ thể của ngành, của tập đoàn

- Kiểm tra việc tổ chức, chỉ đạo công tác kế toán trong tập đoàn, việc thực hiện trách nhiệm của các bộ phận kế toán, kết quả công tác của bộ máy kế toán, mối quan hệ công tác giữa bộ phận kế toán với nhau và với các bộ phận chức năng khác có liên quan

Về thời điểm kiểm tra kế toán có thể thực hiện kiểm tra thường kỳ hoặc kiểm tra bất thường

- Kiểm tra kế toán thường kỳ trong nội bộ đơn vị nhằm bảo đảm chấp hành các chế độ, thể lệ kế toán, đảm bảo tính chính xác, đầy đủ, kịp thời của số liệu, tài liệu

kế toán, đảm bảo cơ sở cho việc thực hiện chức năng giám đốc của kế toán Công tác kiểm tra kế toán thường kỳ trong nội bộ đơn vị do giám đốc và kế toán trưởng chịu trách nhiệm tổ chức, chỉ đạo Tuỳ theo quy mô của đơn vị mà có thể

bố trí thành bộ phận kiểm tra riêng Trường hợp đơn vị có quy mô không lớn thì có thể bố trí công tác kiểm tra kiêm nhiệm cùng với các bộ phận kế toán thích hợp Tất cả các đơn vị cần tổ chức kiểm tra kế toán thường kỳ theo chế độ quy định, tạo điều kiện vững chắc cho việc nâng cao chất lượng của công tác kế toán, đảm bảo ngăn ngừa và giải quyết kịp thời những sai sót, sơ hở trong quản lý kinh tế

- Kiểm tra kế toán bất thường được tiến hành trong những trường hợp cần thiết, theo đề nghị của cơ quan tài chính đồng cấp, thủ trưởng các bộ, tổng cục, chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố có thể ra lệnh kiểm tra kế toán bất thường ở các đơn vị thuộc ngành mình hoặc địa phương mình quản lý

Căn cứ để kiểm tra kế toán là các chứng từ kế toán, sổ kế toán, báo cáo kế toán

và các chế độ, định mức kinh tế, kỹ thuật trong từng trường hợp cụ thể Phương pháp kiểm tra chủ yếu được áp dụng là đối chiếu: đối chiếu số liệu giữa chứng từ kế toán,

Trang 37

sổ kế toán và báo cáo kế toán; giữa số liệu kế toán tổng hợp và số liệu kế toán chi tiết;

giữa số liệu trên sổ kế toán với số thực tế kiểm kê

1.4 KINH NGHIỆM VỀ TỔ CHỨC CÔNG TÁC KẾ TOÁN CỦA MỘT

SỐ NƯỚC TRÊN THẾ GIỚI, MỘT SỐ TẬP ĐOÀN KINH TẾ LỚN TẠI VIỆT

NAM VÀ BÀI HỌC KINH NGHIỆM CHO TẬP ĐOÀN CÔNG NGHIỆP

THAN - KHOÁNG SẢN VIỆT NAM

1.4.1 Kinh nghiệm về tổ chức công tác kế toán của một số nước trên thế giới

Kế toán là một công cụ hữu hiệu cho quản lý kinh tế nói chung và quản lý

tài chính nói riêng trong một tổ chức, đơn vị Các quy tắc về kế toán trên thế giới

ngày nay chịu sự ảnh hưởng của các quốc gia phát triển và có nền kinh tế thị trường

lâu đời, từ đó hình thành nên các trường phái kế toán khác nhau trên thế giới, điển

hình nổi lên hai trường phái kế toán là Anglo-Saxon (Anh, Mỹ, Úc, Canada,

Hongkong, Ấn Độ, Malaysia, New Zealand, Singapore ) và Châu Âu lục địa

(Pháp, Đức, Ý, Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha )

 Tại Mỹ

Theo quan điểm của Hiệp hội kế toán Mỹ, chức năng cơ bản của kế toán là:

- Kế toán quan sát các hoạt động, nhận biết và đo lường các sự kiện và các

quá trình kinh tế bằng thước đo giá trị thông qua các nghiệp vụ kinh tế phát sinh

- Các nghiệp vụ kinh tế phát sinh được ghi chép lại và sau đó được phân loại

theo nhóm và cuối cùng được tổng hợp theo từng đối tượng

- Lập các báo cáo tài chính và báo cáo KTQT nhằm cung cấp thông tin cho

các đối tượng sử dụng…

Với các chức năng cơ bản nêu trên, mô hình tổ chức công tác kế toán trong

các tập đoàn ở Mỹ được xây dựng bao gồm các nội dung chủ yếu sau:

- Tổ chức hệ thống tài khoản kế toán: Mỗi đơn vị, tuỳ theo loại hình kinh

doanh và số lượng nghiệp vụ kinh tế phát sinh nhiều hay ít để tổ chức thiết lập các

tài khoản kế toán đáp ứng yêu cầu KTTC và KTQT Nhà nước không xây dựng hệ

thống tài khoản kế toán thống nhất Việc xác định số lượng tài khoản, tên gọi, ký

hiệu của tài khoản là tuỳ doanh nghiệp quyết định phụ thuộc vào đặc điểm, điều

kiện kinh doanh và quản lý của doanh nghiệp Các hiệp hội kế toán ở Mỹ ban hành

các chuẩn mực kế toán Mỹ, quy định chung về tài khoản kế toán cần mở ở các doanh nghiệp

Theo đó, các tài khoản kế toán của mỗi đơn vị đều được xây dựng trong mối quan hệ với BCTC do đó bao gồm hai loại lớn, đó là các tài khoản thuộc BCĐKT

và các tài khoản thuộc BCKQKD Hệ thống tài khoản kế toán áp dụng trong các doanh nghiệp ở Mỹ được chia thành 5 loại bao gồm: TK phản ánh tài sản, TK phản ánh Nợ phải trả, TK phản ánh VCSH, TK phản ánh doanh thu, TK phản ánh chi phí Với quan điểm mở, hệ thống tài khoản kế toán của Mỹ không quy định chi tiết đến

số hiệu tài khoản, số hiệu tài khoản được xây dựng trên sự chủ động của các doanh nghiệp sao cho phù hợp với đặc điểm hoạt động kinh doanh của mình và tuân thủ sự phân loại tài sản

- Tổ chức ghi chép các nghiệp vụ kinh tế phát sinh vào sổ kế toán: KTTC được ghi vào các sổ kế toán tổng hợp để cung cấp cho việc lập các BCTC KTQT được ghi chép vào các sổ kế toán quản trị để cung cấp thông tin cho việc lập các báo cáo KTQT Việc ghi chép vào các tài khoản kế toán thường được chú trọng phản ánh theo từng khâu kinh doanh như khâu thành lập công ty, khâu mua hàng, khâu sản xuất, khâu xác định kết quả và phân phối kết quả kinh doanh

- Tổ chức lập các BCTC và báo cáo KTQT, phân tích các dữ liệu trên các báo cáo để cung cấp thông tin cho các đối tượng sử dụng thông tin BCTC được lập theo năm tài chính gồm BCĐKT, BCKQHĐKD, BCLCTT, Báo cáo thay đổi VCSH, TMBCTC Báo cáo KTQT được lập theo yêu cầu quản lý cụ thể từng chỉ tiêu kinh tế tài chính và theo định kỳ ngắn Hệ thống báo cáo KTQT bao gồm 2 loại

là báo cáo kiểm soát chi phí và báo cáo định hướng cho việc ra quyết định của nhà quản trị

Hệ thống báo cáo kiểm soát thường có các báo cáo chủ yếu như sau:

Báo cáo nguyên vật liệu trực tiếp mua vào: Phản ánh số lượng và giá trị của

các loại nguyên vật liệu chính mua vào trong kỳ theo dự toán và thực tế, xác định mức chênh lệch giữa số thực tế và dự toán của từng loại nguyên vật liệu chính để cung cấp thông tin cho nhà quản lý kiểm soát quá trình thu mua vật liệu Báo cáo này chỉ sử dụng trong các doanh nghiệp sản xuất

Trang 38

Báo cáo chi phí sản xuất chung: phản ánh số dự toán và thực tế của các

khoản chi phí sản xuất chung phát sinh trong kỳ như chi phí nguyên liệu gián tiếp,

chi phí lao động gián tiếp, chi phí bảo trì, không bao gồm chi phí khấu hao vì theo

quan điểm của kế toán Mỹ thì khoản chi phí này không thuộc đối tượng phải lập dự

toán Báo cáo này cung cấp thông tin để nhà quản trị kiểm soát chi phí sản xuất

chung phát sinh trong kỳ

Báo cáo chi phí bán hàng và quản lý: phản ánh số dự toán và thực tế của các

khoản chi phí thuộc CPBH và CPQLDN để cung cấp thông tin cho nhà quản trị

quản lý các loại chi phí này

Báo cáo ngân sách: phản ánh số dự toán và số thực tế của các khoản thu chi

bằng tiền trong kỳ Thông qua báo cáo này, nhà quản trị có thông tin để kiểm soát

các dòng tiền và từ đó đưa ra các quyết định chi tiêu hợp lý

Hệ thống báo cáo định hướng cho việc ra quyết định của nhà quản trị (còn gọi

là báo cáo bộ phận) được lập theo nhu cầu thông tin của nhà quản trị trong từng tình

huống cụ thể như: báo cáo kết quả kinh doanh theo từng mặt hàng, theo từng đơn vị

nội bộ, theo từng thị trường tiêu thụ, theo từng giai đoạn công nghệ Các báo cáo

định hướng cho việc ra quyết định của nhà quản trị đều được lập dựa trên một nguyên

tắc chung là phân loại chi phí trong mối quan hệ với sản lượng hoặc quy mô hoạt

động của từng bộ phận để từ đó xác định mức biến phí, lãi gộp, lãi riêng của từng bộ

phận Các báo cáo bộ phận cung cấp thông tin cho nhà quản trị đưa ra các quyết định

để hoạch định quá trình SXKD trong tương lai như: điều chỉnh cơ cấu, mặt hàng kinh

doanh, nên chế biến thành thành phẩm hay bán ngay ra ngoài, nên sản xuất một bộ

phận, chi tiết của sản phẩm hay mua ngoài, điều chỉnh thị trường tiêu thụ,

Xét về nội dung thì hiện nay, KTQT trong các tập đoàn ở Mỹ thường tập

trung vào các chủ đề như: khái niệm và phân loại chi phí (phân loại chi phí theo các

tiêu thức khác nhau đặc biệt là phân loại chi phí theo cách ứng xử của chi phí, tiếp

đến hệ thống hoá thông tin theo các khoản mục chi phí); kế toán chi phí và tính giá

thành theo công việc hoặc theo quy trình sản xuất; phân tích mối quan hệ chi phí -

khối lượng - lợi nhuận (làm cơ sở xác định mức lợi nhuận đạt được ở các mức tiêu

thụ khác nhau, định giá bán sản phẩm, dịch vụ để đạt được mức lợi nhuận cá biệt

mong muốn ); dự toán hoạt động SXKD; phân tích báo cáo quản trị Với sự đề cao vai trò cá nhân, vai trò của những nhà quản lý cao cấp, KTQT được xem như một công cụ bổ khuyết thông tin quản lý nên được thiết kế tập trung vào chủ đề phân tích thông tin phục vụ cho các quyết định quản lý Đồng thời ở Mỹ, KTQT là công việc riêng của doanh nghiệp nên nhà nước không can thiệp sâu vào chuyên môn, nghiệp vụ KTQT luôn được nhận thức là một bộ phận chuyên môn, tuy nhiên tổ chức vận hành KTQT có những chuyển biến khác nhau, từ một bộ phận thuộc kế toán đến bộ phận thuộc ban giám đốc

 Tại Cộng hoà Pháp

Nghiên cứu cho thấy tổ chức công tác kế toán trong các TĐKT ở Pháp gồm những nội dung cơ bản như sau (Theo Chỉ thị số 7 năm 1983 của EC về kế toán trong các tập đoàn và Pháp lệnh IAS(EC) số 1606/2002, yêu cầu áp dụng IAS từ năm 2005 đối với các công ty liên kết):

Kế toán ở cộng hoà Pháp được chia thành 2 loại là kế toán tổng quát (KTTC)

và kế toán phân tích (KTQT) Kế toán phân tích trong các tập đoàn ở Pháp có đặc trưng gắn kết chặt chẽ với kế toán tổng quát, đề cao thông tin kiểm soát nội bộ và có

sự ảnh hưởng đáng kể của Nhà nước

Kế toán tổng quát là loại kế toán bắt buộc đối với tất cả các loại hình doanh nghiệp, phản ánh toàn bộ tình hình hiện có và sự vận động của tài sản, vật tư, tiền vốn, tình hình mua, bán, công nợ, chi phí và kết quả hoạt động kinh doanh dưới dạng tổng quát Số liệu của kế toán tổng quát phục vụ cho việc lập BCTC, cung cấp tình hình tài chính cho các đối tượng sử dụng thông tin của doanh nghiệp trong quan hệ kinh doanh và kiểm soát của các cơ quan quản lý nhà nước Còn kế toán phân tích là loại kế toán mà các doanh nghiệp sử dụng để thu nhận, phân tích các thông tin phục

vụ cho nhà quản lý có căn cứ để đưa ra các quyết định kinh doanh tối ưu nhất Mục tiêu của kế toán phân tích là cung cấp thông tin về chi phí của từng trung tâm, giá thành của từng loại sản phẩm, dịch vụ, tính toán, kiểm soát được việc thực hiện và giải thích được các nguyên nhân chênh lệch giữa chi phí thực tế và chi phí dự toán

Hệ thống tài khoản kế toán được phân thành ba nhóm bao gồm tám loại, cụ thể là: Nhóm thứ nhất liên quan đến BĐKT bao gồm năm loại là tài khoản tiền, tài

Trang 39

khoản bất động sản, tài khoản hàng tồn kho, và dở dang, tài khoản đối tác bên ngoài

tài khoản tài chính; Nhóm thứ hai liên quan đến kết quả hoạt động bao gồm hai loại

là tài khoản chi phí và tài khoản thu nhập; Nhóm thứ ba có một loại tài khoản được

sử dụng để cung cấp một số nghĩa vụ về các thông tin (như các cam kết do doanh

nghiệp đưa ra hoặc nhận được, phân bổ lợi nhuận năm trước hoặc mở lại hay đóng

các tài khoản của kỳ kinh doanh)

Sỏ kế toán bao gồm Sổ Nhật ký dùng để ghi chép theo thời gian và Sổ Cái các

tài khoản, được ghi chép căn cứ vào Sổ Nhật ký theo bản chất nghiệp vụ Đối với các

đối tượng cần theo dõi chi tiết, Sổ Cái tài khoản được chi tiết hoá thành các Sổ Cái tài

khoản phụ theo nhu cầu của doanh nghiệp Cuối tháng, số liệu từ các Sổ Cái được

dùng để lập Bảng cân đối thử, rồi lập Bảng tổng kết tài sản và các BCTC khác

BCTC của doanh nghiệp thường được lập vào cuối các quý và cuối niên độ

kế toán bao gồm 2 báo cáo chủ yếu là:

Bảng tổng kết tài sản: phản ánh tình hình tài sản của doanh nghiệp (bất động

sản và tài sản lưu động) và nguồn tài trợ (có thể hiểu là nguồn vốn) trong đó gồm

VCSH và các khoản nợ

Báo cáo kết quả kinh doanh: phản ánh tình hình thu nhập, chi phí, lãi, lỗ của

hoạt động kinh doanh, hoạt động tài chính và hoạt động đặc biệt của doanh nghiệp

Việc tập hợp và phân bổ chi phí được thực hiện tại các trung tâm phân tích như

trung tâm hành chính quản trị, trung tâm tiếp liệu, trung tâm chế tạo sản xuất,

trung tâm thương mại, trung tâm quản trị nhân sự…Các trung tâm này được chia

thành các trung tâm chính và các trung tâm phụ Do đó, hệ thống thông tin kế toán

phục vụ cho việc quản trị doanh nghiệp gồm các thông tin về chi phí, giá thành,

doanh thu và kết quả của từng loại sản phẩm, từng loại dịch vụ, ngành hàng hoặc

của từng trung tâm chi phí để từ đó có thể kiểm soát tình hình thực hiện kế hoạch và

ra các quyết định cần thiết cho quản lý

Riêng đối với các nội dung của kế toán phân tích, được hình thành với mục

đích ban đầu chủ yếu là cung cấp thông tin để các cơ quan quản lý chức năng của

nhà nước giám sát chi phí hoạt động doanh nghiệp nên gần như là sự chi tiết thêm

thông tin kế toán tổng quát Kế tiếp, với nhu cầu thông tin thực hiện các chức năng

quản lý, kế toán phân tích ở Pháp có đặc điểm nổi bật là được xây dựng gắn kết với

kế toán tổng quát, quan hệ mật thiết với chính sách kế toán chung, chịu ảnh hưởng

sự can thiệp trực tiếp bằng luật pháp của nhà nước và vẫn đề cao thông tin định lượng, nhưng khuynh hướng trọng tâm là thông tin kiểm soát nội bộ như: đưa ra bằng chứng giúp nhà quản lý tìm được phương thức tốt nhất khai thác tiềm năng kinh tế phát triển doanh nghiệp trong tương lai, nhận định tình hình tiến hành ở các trung tâm trách nhiệm quản lý để dự báo, điều chỉnh hoạt động phù hợp với kế hoạch, giám sát tình hình hiện tại và tương lai của những nhà quản lý ở từng bộ phận nhằm đảm bảo chiến lược, kế hoạch, và khai thác tốt nhất năng lực các nhà quản lý, tiềm năng từng bộ phận trong cấu trúc tổ chức hoạt động SXKD Với quan điểm là công cụ cung cấp thông tin kiểm soát, kế toán phân tích ở Pháp luôn được

tổ chức thành một bộ phận thuộc kế toán, do kế toán đảm trách

1.4.2 Kinh nghiệm về tổ chức công tác kế toán của một số Tập đoàn kinh

tế lớn tại Việt Nam

Xuất phát từ Nghị quyết Hội nghị lần thứ ba Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa IX về tiếp tục sắp xếp, đổi mới, phát triển và nâng cao hiệu quả doanh nghiệp Nhà nước, từ năm 2005 đến 2011, Chính phủ đã chỉ đạo thí điểm thành lập

13 TĐKT hoạt động theo mô hình công ty mẹ - công ty con thuộc các ngành trọng điểm Quốc gia trên cơ sở chuyển đổi từ các Tổng công ty (TCT) 91, bao gồm: Tài chính - Bảo hiểm, Dệt May, Than - Khoáng sản, Bưu chính Viễn thông, Công nghiệp Cao su, Công nghiệp Tàu thủy, Điện lực, Dầu khí, Viễn thông quân đội và Công nghiệp Hóa chất, Phát triển nhà và đô thị, Xây dựng và Xăng dầu Tổ chức công tác kế toán trong các TĐKT này có một số đặc điểm như sau:

- Bộ máy kế toán trong các TĐKT bao gồm bộ máy kế toán CTM và bộ máy

kế toán các CTC Các TĐKT đều là các Tập đoàn lớn trong các lĩnh vực then chốt của nền kinh tế, bao gồm nhiều đơn vị thành viên có quy mô khác nhau, hoạt động SXKD tương đối phức tạp nên bộ máy kế toán của các đơn vị thành viên trong TĐKT thường được tổ chức theo mô hình vừa tập trung vừa phân tán, cán bộ kế toán hầu như đảm nhận công việc cả KTTC và KTQT, tuy nhiên phần KTQT chưa được thực sự chú trọng Bộ máy kế toán CTM thường nằm trong Ban Tài chính Kế toán của TĐKT có thể được phân công công việc theo các tổ, nhóm

Trang 40

Tại Tập đoàn Bưu chính Viễn thông Việt Nam (VNPT), bộ máy kế toán CTM

được chia thành tổ tổng hợp, các tổ chuyên quản, tổ chế độ Tại các đơn vị thành

viên, bộ máy kế toán thực hiện hạch toán các nghiệp vụ kinh tế phát sinh tại DN,

lập BCTC riêng và định kỳ gửi số liệu về CTM Tập đoàn Đối với các doanh nghiệp

có đơn vị trực thuộc, thì tại các đơn vị này không tổ chức bộ máy kế toán riêng mà

chỉ có các nhân viên kinh tế thu thập dữ liệu ban đầu và thực hiện chế độ hạch toán

báo sổ, chuyển dữ liệu về công ty để lập BCTC chung toàn công ty

Tại Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN), các đơn vị thành viên như các TCT

điện lực, TCT truyền tải điện (đơn vị thành viên cấp 2) và các DN thuộc các TCT

này (đơn vị thành viên cấp 3) như Điện lực các tỉnh, các Ban quản lý dự án nguồn

điện và lưới điện đều tổ chức BMKT; còn các đơn vị trực thuộc đơn vị thành viên

cấp 3 như các Chi nhánh điện hay các đội thi công thì không tổ chức bộ máy kế

toán mà chỉ có các nhân viên kinh tế thực hiện hạch toán báo sổ

- CTM và các CTC thuộc TĐKT đều tuân thủ các quy định pháp luật về kế

toán tại Việt Nam Trên cơ sở hệ thống Luật kế toán, Chuẩn mực kế toán Việt Nam

và Chế độ kế toán Việt Nam, các TĐKT xây dựng, ban hành và đưa vào vận dụng

các chính sách kế toán riêng cho Tập đoàn của mình nhằm phù hợp với đặc thù hoạt

động Một số TĐKT do tính chất đặc thù, được Bộ Tài chính cho phép xây dựng

Chế độ kế toán riêng để áp dụng cho Tập đoàn và các đơn vị thành viên Các Chế

độ kế toán đặc thù này được xây dựng phù hợp với Thông tư 200/2014/TT-BTC

ngày 22/12/2014 và các Thông tư hướng dẫn các Chuẩn mực kế toán từ đợt 1 đến

đợt 5 do Bộ Tài chính ban hành Điển hình như: Chế độ kế toán áp dụng cho VNPT

được ban hành theo Quyết định số 2608/QĐ-KTTKTC ngày 22/12/2006, được Bộ

Tài chính chấp thuận tại Công văn số 16145/BTC-CĐKT ngày 20/12/2006; Chế độ

kế toán áp dụng cho EVN được ban hành theo Quyết định số 3102/EVN-TCKT

ngày 22/12/2006, được Bộ Tài chính chấp thuận tại Công văn số 9818/BTC -

CĐKT ngày 27/7/2010

- Các đơn vị thành viên thuộc các TĐKT lớn của Việt Nam tuy đã vận dụng

tốt quy định về tổ chức chứng từ kế toán theo các văn bản pháp quy về kế toán Việt

Nam, tuy nhiên nhiều DN chưa tự xây dựng cho mình danh mục các chứng từ cần

thiết và chưa thiết lập một trình tự luân chuyển từ hợp lý, đôi khi vẫn còn xảy ra tình trạng lập chứng từ không đúng mẫu biểu quy định, không phản ánh đầy đủ các chỉ tiêu trên chứng từ, không đủ chữ ký kiểm soát hay các vấn đề về sự không chính xác về các chỉ tiêu số lượng, giá trị

- Từ Chế độ kế toán mang tính đặc thù áp dụng riêng cho Tập đoàn, một số TĐKT tổ chức hệ thống tài khoản kế toán áp dụng riêng cho Tập đoàn của mình

và các đơn vị thành viên phù hợp với Chế độ kế toán Việt Nam đồng thời đáp ứng được yêu cầu quản lý và hạch toán của tập đoàn Điển hình như hệ thống tài khoản kế toán được quy định trong Chế độ kế toán áp dụng cho EVN, do đặc thù của Tập đoàn hoạt động trong nhiều lĩnh vực khác nhau và trong điều kiện ứng dụng công nghệ thông tin, vì vậy với mục đích chi tiết hóa hệ thống tài khoản kế toán cho phù hợp với đặc điểm SXKD và yêu cầu quản lý, các đơn vị thành viên trong Tập đoàn dựa trên cơ sở Chế độ kế toán ban hành đặc thù, thiết lập hệ thống cho đơn vị mình

- Các TĐKT đều yêu cầu các đơn vị thành viên phải thực hiện đúng quy định

về sổ kế toán mang tính chất bắt buộc của Nhà nước Với các mẫu sổ mang tính hướng dẫn, để đảm bảo phù hợp với đặc thù hoạt động SXKD của TĐKT, các Tập đoàn thường ban hành những quy định hướng dẫn riêng áp dụng cho các đơn vị thành viên Hình thức kế toán chủ yếu được các doanh nghiệp thuộc các TĐKT sử dụng là Nhật ký chung và Chứng từ ghi sổ Tại VNPT, các doanh nghiệp áp dụng hình thức kế toán Chứng từ ghi sổ Tại EVN, các doanh nghiệp áp dụng hình thức

kế toán Nhật ký chung thống nhất toàn Tập đoàn Tại Tập đoàn Dầu khí Việt Nam hầu hết các doanh nghiệp áp dụng hình thức Chứng từ ghi sổ, một số doanh nghiệp thuộc TCT thăm dò và khai thác dầu khí áp dụng hình thức kế toán Nhật ký chung

- Việc lập, trình bày và công khai BCTC của các đơn vị thành viên trong các TĐKT đều tuân thủ theo quy định của Chuẩn mực kế toán Việt Nam Không chỉ tuân thủ Chuẩn mực kế toán Việt Nam, nhiều DN còn lập và công khai BCTC theo tiêu chuẩn quốc tế, điển hình như TCT Điện lực Miền Bắc thuộc EVN Không chỉ công ty mẹ mà một số DN thành viên của các TĐKT hoạt động theo mô hình công

ty mẹ - công ty con cũng lập BCTC hợp nhất như TCT Cổ phần Thăm dò và Khai

Ngày đăng: 21/06/2017, 13:04

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Sơ đồ 1.2: Mô hình tổ chức bộ máy kế toán phân tán - Hoàn thiện tổ chức công tác kế toán trong Tập đoàn công nghiệp Than - Khoáng sản Việt Nam
Sơ đồ 1.2 Mô hình tổ chức bộ máy kế toán phân tán (Trang 25)
Sơ đồ 1.1: Mô hình tổ chức bộ máy kế toán tập trung - Hoàn thiện tổ chức công tác kế toán trong Tập đoàn công nghiệp Than - Khoáng sản Việt Nam
Sơ đồ 1.1 Mô hình tổ chức bộ máy kế toán tập trung (Trang 25)
Hình vừa tập trung vừa phân tán còn khá cồng kềnh, vì vậy thích hợp với các doanh - Hoàn thiện tổ chức công tác kế toán trong Tập đoàn công nghiệp Than - Khoáng sản Việt Nam
Hình v ừa tập trung vừa phân tán còn khá cồng kềnh, vì vậy thích hợp với các doanh (Trang 26)
Sơ đồ 2.1: Sơ đồ tổ chức Tập đoàn công nghiệp Than - Khoáng sản Việt Nam - Hoàn thiện tổ chức công tác kế toán trong Tập đoàn công nghiệp Than - Khoáng sản Việt Nam
Sơ đồ 2.1 Sơ đồ tổ chức Tập đoàn công nghiệp Than - Khoáng sản Việt Nam (Trang 46)
Bày cụ thể trong Sơ đồ 2.2: Sơ đồ bộ máy quản lý và điều hành của Tập đoàn công - Hoàn thiện tổ chức công tác kế toán trong Tập đoàn công nghiệp Than - Khoáng sản Việt Nam
y cụ thể trong Sơ đồ 2.2: Sơ đồ bộ máy quản lý và điều hành của Tập đoàn công (Trang 47)
Sơ đồ 2.7: Sơ đồ tổ chức bộ máy kế toán tại các đơn vị sự nghiệp có thu trong - Hoàn thiện tổ chức công tác kế toán trong Tập đoàn công nghiệp Than - Khoáng sản Việt Nam
Sơ đồ 2.7 Sơ đồ tổ chức bộ máy kế toán tại các đơn vị sự nghiệp có thu trong (Trang 57)
Sơ đồ 2.8: Sơ đồ quy trình lập BCTCHN  của Tập đoàn công nghiệp Than - Khoáng sản Việt Nam - Hoàn thiện tổ chức công tác kế toán trong Tập đoàn công nghiệp Than - Khoáng sản Việt Nam
Sơ đồ 2.8 Sơ đồ quy trình lập BCTCHN của Tập đoàn công nghiệp Than - Khoáng sản Việt Nam (Trang 66)
Sơ đồ 3.1: Tổ chức bộ máy kế toán tại CTM theo hướng chuyên môn hóa - Hoàn thiện tổ chức công tác kế toán trong Tập đoàn công nghiệp Than - Khoáng sản Việt Nam
Sơ đồ 3.1 Tổ chức bộ máy kế toán tại CTM theo hướng chuyên môn hóa (Trang 79)
Bảng 3.1: Bảng đề xuất bổ sung một số chỉ tiêu trong phân tích BCTCHN - Hoàn thiện tổ chức công tác kế toán trong Tập đoàn công nghiệp Than - Khoáng sản Việt Nam
Bảng 3.1 Bảng đề xuất bổ sung một số chỉ tiêu trong phân tích BCTCHN (Trang 87)
1  Bảng cân đối kế toán  B01-DN  Quý, Năm  ×  ×  ×  ×  × - Hoàn thiện tổ chức công tác kế toán trong Tập đoàn công nghiệp Than - Khoáng sản Việt Nam
1 Bảng cân đối kế toán B01-DN Quý, Năm × × × × × (Trang 112)
1  Bảng cân đối tài khoản  B01-H  Quý, năm  ×  ×  ×  × - Hoàn thiện tổ chức công tác kế toán trong Tập đoàn công nghiệp Than - Khoáng sản Việt Nam
1 Bảng cân đối tài khoản B01-H Quý, năm × × × × (Trang 113)
4  Bảng đối chiếu dự toán kinh phí ngân sách tại Kho bạc Nhà nước  F02-3aH  Quý, năm  ×  ×  × - Hoàn thiện tổ chức công tác kế toán trong Tập đoàn công nghiệp Than - Khoáng sản Việt Nam
4 Bảng đối chiếu dự toán kinh phí ngân sách tại Kho bạc Nhà nước F02-3aH Quý, năm × × × (Trang 113)
BẢNG CÂN ĐỐI KẾ TOÁN - Hoàn thiện tổ chức công tác kế toán trong Tập đoàn công nghiệp Than - Khoáng sản Việt Nam
BẢNG CÂN ĐỐI KẾ TOÁN (Trang 114)
BẢNG CÂN ĐỐI KẾ TOÁN CÔNG TY MẸ NĂM 2015 - Hoàn thiện tổ chức công tác kế toán trong Tập đoàn công nghiệp Than - Khoáng sản Việt Nam
2015 (Trang 116)
Hình thành TSCĐ - Hoàn thiện tổ chức công tác kế toán trong Tập đoàn công nghiệp Than - Khoáng sản Việt Nam
Hình th ành TSCĐ (Trang 117)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w