Giám sát tài chính là một trong những công cụ quản lý, trong đó chủ sở hữu thông qua các hình thức, phương thức và các chỉ tiêu giám sát để thực hiện việc giám sát tài chính của mình đối
Trang 1HỌC VIỆN TÀI CHÍNH
- -
NGUYỄN LÊ HOA
HOÀN THIỆN PHÂN TÍCH TÀI CHÍNH
TRONG GIÁM SÁT TÀI CHÍNH ĐỐI VỚI
TẬP ĐOÀN KINH TẾ NHÀ NƯỚC Ở VIỆT NAM
LUẬN ÁN TIẾN SĨ KINH TẾ
Chuyên ngành : Kế toán
Mã số : 62.34.03.01
LUẬN ÁN TIẾN SĨ KINH TẾ
Người hướng dẫn khoa học: 1 PGS, TS NGUYỄN QUANG HÙNG
2 TS HOÀNG XUÂN HÒA
HÀ NỘI - 2017
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan bản luận án là công trình nghiên cứu
của riêng tôi Các số liệu, kết quả nêu trong luận án là trung
thực và có nguồn gốc rõ ràng
TÁC GIẢ LUẬN ÁN
Nguyễn Lê Hoa
Trang
Trang phụ bìa Lời cam đoan Mục lục Danh mục các chữ viết tắt Danh mục các bảng
MỞ ĐẦU 1
Chương 1: LÝ LUẬN CHUNG VỀ PHÂN TÍCH TÀI CHÍNH TRONG GIÁM SÁT TÀI CHÍNH ĐỐI VỚI TẬP ĐOÀN KINH TẾ 18
1.1 LÝ LUẬN VỀ GIÁM SÁT TÀI CHÍNH ĐỐI VỚI TẬP ĐOÀN KINH TẾ 18
1.1.1 Tập đoàn kinh tế 18
1.1.1.1 Khái niệm về Tập đoàn kinh tế 18
1.1.1.2 Vai trò của Tập đoàn kinh tế trong nền kinh tế 21
1.1.2 Lý luận về giám sát tài chính đối với Tập đoàn kinh tế 23
1.1.2.1 Khái niệm, phương thức giám sát tài chính đối với Tập đoàn kinh tế 23
1.1.2.2 Mục tiêu, chủ thể và nội dung giám sát tài chính đối với Tập đoàn kinh tế 26
1.2 LÝ LUẬN VỀ PHÂN TÍCH TÀI CHÍNH TRONG GIÁM SÁT TÀI CHÍNH ĐỐI VỚI TẬP ĐOÀN KINH TẾ 31
1.2.1 Khái niệm, mục tiêu phân tích tài chính trong giám sát tài chính đối với Tập đoàn kinh tế 31
1.2.1.1 Khái niệm Phân tích tài chính trong giám sát tài chính đối với Tập đoàn kinh tế 31
1.2.1.2 Mục tiêu của phân tích tài chính trong giám sát tài chính đối với Tập đoàn kinh tế 32
1.2.2 Các nhân tố ảnh hưởng đến phân tích tài chính trong giám sát tài chính đối với Tập đoàn kinh tế 34
1.2.3 Cơ sở dữ liệu và quy trình Phân tích tài chính trong giám sát tài chính đối với Tập đoàn kinh tế 38
1.2.3.1 Cơ sở dữ liệu 38
1.2.3.2 Quy trình phân tích tài chính trong giám sát tài chính đối với Tập đoàn kinh tế 41
Trang 3Tập đoàn kinh tế 41
1.2.5 Nội dung phân tích tài chính trong giám sát tài chính đối với Tập đoàn kinh tế 47
1.2.5.1 Nội dung phân tích tài chính trong giám sát mức độ bảo toàn và phát triển vốn của Tập đoàn kinh tế 47
1.2.5.2 Nội dung phân tích tài chính trong giám sát việc quản lý, sử dụng vốn đối với Tập đoàn kinh tế 50
1.2.5.3 Nội dung phân tích tài chính trong giám sát kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh đối với Tập đoàn kinh tế 56
1.2.5.4 Nội dung phân tích tài chính trong giám sát nguy cơ rủi ro, phá sản đối với Tập đoàn kinh tế 60
1.3 KINH NGHIỆM VỀ PHÂN TÍCH TÀI CHÍNH TRONG GIÁM SÁT TÀI CHÍNH CỦA MỘT SỐ NƯỚC TRÊN THẾ GIỚI VÀ BÀI HỌC KINH NGHIỆM RÚT RA CHO VIỆT NAM 66
1.3.1 Kinh nghiệm của Trung Quốc 66
1.3.2 Kinh nghiệm của Hàn Quốc 67
1.3.3 Kinh nghiệm của các nước OECD 69
1.3.4 Bài học kinh nghiệm về phân tích tài chính trong giám sát tài chính đối với Tập đoàn kinh tế ở Việt Nam 70
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 71
Chương 2: THỰC TRẠNG PHÂN TÍCH TÀI CHÍNH TRONG GIÁM SÁT TÀI CHÍNH ĐỐI VỚI TẬP ĐOÀN KINH TẾ NHÀ NƯỚC Ở VIỆT NAM 72
2.1 TỔNG QUAN VỀ TẬP ĐOÀN KINH TẾ NHÀ NƯỚC Ở VIỆT NAM 72
2.1.1 Quá trình hình thành và phát triển Tập đoàn kinh tế nhà nước ở Việt Nam 72
2.1.2 Đặc điểm tổ chức quản lý của các Tập đoàn kinh tế nhà nước ở Việt Nam 76
2.1.3 Đặc điểm hoạt động tài chính của các Tập đoàn kinh tế nhà nước ở Việt Nam ảnh hưởng đến Phân tích tài chính trong giám sát tài chính đối với Tập đoàn kinh tế nhà nước ở Việt Nam 79
2.1.4 Tình hình tài chính và kết quả hoạt động kinh doanh của các Tập đoàn kinh tế nhà nước hiện nay 83
2.2 KẾT QUẢ HOẠT ĐỘNG GIÁM SÁT TÀI CHÍNH CỦA CƠ QUAN ĐẠI DIỆN CHỦ SỞ HỮU ĐỐI VỚI TẬP ĐOÀN KINH TẾ TRONG THỜI GIAN QUA 86
CHÍNH ĐỐI VỚI TẬP ĐOÀN KINH TẾ NHÀ NƯỚC Ở VIỆT NAM 88
2.3.1 Thực trạng cơ sở dữ liệu phục vụ phân tích trong giám sát tài chính đối với Tập đoàn kinh tế nhà nước ở Việt Nam 88
2.3.2 Thực trạng phương pháp phân tích tài chính trong giám sát tài chính đối với Tập đoàn kinh tế nhà nước ở Việt Nam 89
2.3.3 Thực trạng quy trình phân tích tài chính trong giám sát tài chính đối với Tập đoàn kinh tế nhà nước ở Việt Nam 90
2.3.4 Thực trạng nội dung Phân tích tài chính trong giám sát tài chính đối với Tập đoàn kinh tế nhà nước ở Việt Nam 90
2.3.4.1 Thực trạng nội dung phân tích tài chính trong giám sát việc bảo toàn và phát triển vốn 91
2.3.4.2 Thực trạng nội dung phân tích tài chính trong giám sát việc quản lý, sử dụng vốn đối với các Tập đoàn kinh tế nhà nước 93
2.3.4.3 Thực trạng nội dung phân tích tài chính trong giám sát kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp 102
2.4 ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG PHÂN TÍCH TÀI CHÍNH TRONG GIÁM SÁT TÀI CHÍNH ĐỐI VỚI TẬP ĐOÀN KINH TẾ NHÀ NƯỚC Ở VIỆT NAM 108
2.4.1 Những kết quả đạt được 108
2.4.2 Hạn chế và nguyên nhân của hạn chế 110
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 116
Chương 3: GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÂN TÍCH TÀI CHÍNH TRONG GIÁM SÁT TÀI CHÍNH ĐỐI VỚI TẬP ĐOÀN KINH TẾ NHÀ NƯỚC Ở VIỆT NAM 117
3.1 NHỮNG MỤC TIÊU, QUAN ĐIỂM PHÁT TRIỂN CÁC TẬP ĐOÀN KINH TẾ Ở VIỆT NAM 117
3.1.1 Mục tiêu tổng quát hình thành và phát triển các Tập đoàn kinh tế Việt Nam 117
3.1.2 Các quan điểm phát triển các Tập đoàn kinh tế ở Việt Nam 118
3.2 NGUYÊN TẮC HOÀN THIỆN PHÂN TÍCH TÀI CHÍNH TRONG GIÁM SÁT TÀI CHÍNH ĐỐI VỚI TẬP ĐOÀN KINH TẾ NHÀ NƯƠC Ở VIỆT NAM 120
3.2.1 Nguyên tắc phù hợp 120
3.2.2 Nguyên tắc trung thực và trách nhiệm 122
Trang 43.2.4 Nguyên tắc khả thi và hiệu quả 123
3.3 GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÂN TÍCH TÀI CHÍNH TRONG GIÁM SÁT TÀI CHÍNH ĐỐI VỚI TẬP ĐOÀN KINH TẾ NHÀ NƯỚC Ở VIỆT NAM 123
3.3.1 Hoàn thiện về cơ sở dữ liệu phục vụ phân tích tài chính trong giám sát tài chính đối với Tập đoàn kinh tế nhà nước ở Việt Nam 123
3.3.2 Hoàn thiện phương pháp phân tích tài chính trong giám sát tài chính đối với Tập đoàn kinh tế nhà nước ở Việt Nam 124
3.3.3 Hoàn thiện quy trình phân tích tài chính trong giám sát tài chính đối với Tập đoàn kinh tế nhà nước ở Việt Nam 125
3.3.4 Hoàn thiện nội dung phân tích tài chính trong giám sát tài chính đối với Tập đoàn kinh tế nhà nước ở Việt Nam 127
3.3.4.1 Hoàn thiện nội dung phân tích tài chính trong giám sát tình hình bảo toàn và phát triển vốn đối với Tập đoàn kinh tế nhà nước 127
3.3.4.2 Hoàn thiện nội dung phân tích tài chính trong giám sát việc quản lý, sử dụng vốn đối với Tập đoàn kinh tế nhà nước 132
3.3.4.3 Hoàn thiện nội dung phân tích tài chính trong giám sát kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh đối với Tập đoàn kinh tế nhà nước 145
3.3.4.4 Bổ sung nội dung giám sát nguy cơ rủi ro tài chính, cảnh báo nguy cơ phá sản đối với Tập đoàn kinh tế nhà nước 149
3.4 ĐIỀU KIỆN THỰC HIỆN GIẢI PHÁP 161
3.4.1 Đối với Nhà nước và các cơ quan chức năng, cơ quan đại diện chủ sở hữu vốn nhà nước tại Tập đoàn kinh tế 161
3.4.2 Đối với Tập đoàn kinh tế nhà nước 162
3.4.3 Đối với các giám sát viên chuyên trách 163
KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 164
KẾT LUẬN 165
DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU KHOA HỌC ĐÃ CÔNG BỐ CỦA TÁC GIẢ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN 167
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 168
PHỤ LỤC 172
BH&CCDV : Bán hàng và cung cấp dịch vụ
BQ : Bình quân CSH : Chủ sở hữu CĐKT : Cân đối kế toán
DN : Doanh nghiệp DNNN : Doanh nghiệp nhà nước
DT : Doanh thu DTTC : Doanh thu tài chính HĐĐT : Hoạt động đầu tư HĐKD : Hoạt động kinh doanh HĐQT : Hội đồng quản trị HĐTC : Hoạt động tài chính HTK : Hàng tồn kho
KD : Kinh doanh KQKD : Kết quả kinh doanh LCTT : Lưu chuyển tiền tệ
LN : Lợi nhuận LNST : Lợi nhuận sau thuế LNTT : Lợi nhuận kế toán trước thuế NCS : Nghiên cứu sinh
NSNN : Ngân sách nhà nước NXB : Nhà xuất bản SXKD : Sản xuất kinh doanh TCDN : Tài chính doanh nghiệp TĐKT : Tập đoàn kinh tế TĐKTNN : Tập đoàn kinh tế nhà nước TSCĐ : Tài sản cố định TSNH : Tài sản ngắn hạn VCSH : Vốn chủ sở hữu VKD : Vốn kinh doanh
Trang 5Số hiệu Nội dung Trang
Bảng 2.1: Các tập đoàn kinh tế nhà nước hiện nay theo quy định của Luật
doanh nghiệp 2014 75
Bảng 2.2: Một số chỉ tiêu tài chính chủ yếu của các Tập đoàn kinh tế nhà nước 84
Bảng 2.3: Thực trạng nội dung phân tích trong giám sát tình hình bảo toàn và phát triển vốn đối với EVN 92
Bảng 2.4: Thực trạng nội dung Phân tích trong giám sát tình hình đầu tư vốn đối với công ty mẹ - Tập đoàn Dầu Khí Việt Nam 95
Bảng 2.5: Thực trạng nội dung phân tích trong giám sát khả năng thanh toán của cơ quan đại diện chủ sở hữu đối với Tập đoàn Công nghiệp Cao su Việt Nam 100
Bảng 2.6: Thực trạng nội dung Phân tích trong giám sát tình hình lưu chuyển tiền tệ - Công ty mẹ Tập đoàn Công nghiệp Cao su Việt Nam 101
Bảng 2.7: Thực trạng nội dung Phân tích trong giám sát tình hình thực hiện kế hoạch sản xuất kinh doanh đối với Tập đoàn Điện Lực Việt Nam 102
Bảng 2.8: Thực trạng nội dung Phân tích trong giám sát kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh đối với Tập đoàn Điện lực Việt Nam 103
Bảng 2.9: Thực trạng nội dung Phân tích trong giám sát tình hình thực hiện nghĩa vụ với Ngân sách nhà nước kỳ 6 tháng đầu năm 2016 105
Bảng 2.10: Thực trạng nội dung Phân tích trong giám sát tình hình trích lập và sử dụng các quỹ năm 2015 đối với Tập đoàn Điện lực Việt Nam 106
Bảng 2.11: Thực trạng nội dung Phân tích trong giám sát kết quả hoạt động của Ban điều hành tại Tập đoàn Công nghiệp Cao su Việt Nam 2015 107
Bảng 3.1: Giám sát tình hình bảo toàn và phát triển vốn đối với Tập đoàn Dầu Khí Việt Nam 128
Bảng 3.2: Giám sát tình hình bảo toàn và phát triển vốn đối với công ty mẹ - Tập đoàn Dầu Khí Việt Nam 130
Bảng 3.3: Giám sát tình hình đầu tư đối với Tập đoàn Dầu Khí Việt Nam 133
Việt Nam 134
Bảng 3.5: Hiệu suất sử dụng vốn của toàn Tập đoàn Viễn Thông Quân đội 135
Bảng 3.6: Hiệu suất sử dụng vốn của công ty mẹ - Tập đoàn Viễn Thông Quân đội 136
Bảng 3.7: Giám sát tình hình quản lý nợ đối với Tập đoàn Bưu Chính Viễn Thông 138
Bảng 3.8: Giám sát tình hình quản lý nợ đối với công ty mẹ của Tập đoàn Bưu Chính Viễn Thông 139
Bảng 3.9: Giám sát tình hình thanh toán nợ đối với Tập đoàn Bưu Chính Viễn Thông 140
Bảng 3.10: Giám sát tình hình thanh toán nợ đối với công ty mẹ của Tập đoàn Bưu Chính Viễn Thông 141
Bảng 3.11: Giám sát tình hình lưu chuyển tiền tệ đối với toàn Tập đoàn Viễn Thông Quân đội 143
Bảng 3.12: Giám sát tình hình lưu chuyển tiền tệ đối với công ty mẹ Tập đoàn Viễn Thông Quân đội 144
Bảng 3.13: Hiệu quả hoạt động kinh doanh của toàn Tập đoàn Bưu Chính Viễn Thông 147
Bảng 3.14: Hiệu quả hoạt động kinh doanh của công ty mẹ Tập đoàn Bưu Chính Viễn Thông 148
Bảng 3.15: Nhận diện rủi ro tài chính của toàn Tập đoàn Dầu khí Việt Nam 153
Bảng 3.16: Nhận diện rủi ro tài chính của công ty mẹ Tập đoàn Dầu Khí Việt Nam 155
Bảng 3.17: Đo lường rủi ro tài chính tại toàn Tập đoàn Bưu Chính Viễn Thông 157
Bảng 3.18: Đo lường rủi ro tài chính của Tập đoàn VNPT & Tập đoàn Viettel 157
Bảng 3.19: Đo lường rủi ro tài chính của công ty mẹ -Tập đoàn VNPT và công ty mẹ - Tập đoàn Viettel 159
Bảng 3.20: Chỉ số Z’’tại công ty mẹ - Tập đoàn Dầu Khí Việt Nam 161
Trang 6MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu
Thực hiện chủ trương đổi mới cơ cấu nền kinh tế, Đảng và Nhà nước ta thí điểm
thành lập một số Tập đoàn kinh tế trên cơ sở các Tổng công ty nhà nước Đây là vấn đề
rất mới trong xây dựng thể chế kinh tế nước ta, là một bước tiến lớn trong sắp xếp, đổi
mới DNNN nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh và hội nhập kinh tế
Giám sát tài chính là một trong những công cụ quản lý, trong đó chủ sở hữu
thông qua các hình thức, phương thức và các chỉ tiêu giám sát để thực hiện việc
giám sát tài chính của mình đối với các hoạt động của các Tập đoàn kinh tế nhà
nước, nhằm đánh giá hiệu quả hoạt động và phát hiện những rủi ro để cảnh báo
doanh nghiệp Mục tiêu giám sát tài chính đối với Tập đoàn kinh tế nhà nước là
đánh giá đúng đắn thực trạng tài chính và hiệu quả hoạt động của Tập đoàn kinh tế,
bảo toàn và phát triển vốn nhà nước đầu tư tại Tập đoàn; nâng cao trách nhiệm của
Tập đoàn kinh tế trong việc chấp hành các quy định của pháp luật trong quản lý, sử
dụng vốn và tài sản nhà nước cũng như giúp cho các chủ thể quản lý kịp thời phát
hiện những yếu kém trong hoạt động sản xuất kinh doanh của Tập đoàn để cảnh
báo, đưa ra các biện pháp chấn chỉnh kịp thời Chính vì vậy phân tích tài chính
trong giám sát tài chính đối với các Tập đoàn kinh tế nhà nước ở Việt Nam sẽ giúp
cho các chủ thể giám sát thấy được bức tranh toàn cảnh về tình hình tài chính của
Tập đoàn kinh tế nhà nước, thấy được tình hình bảo toàn và phát triển vốn nhà nước
đối với Tập đoàn kinh tế nhà nước, thấy được tình hình đầu tư, sử dụng vốn từ đó
ra quyết định nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của các Tập đoàn kinh tế nhà
nước Để nâng cao hiệu quả hoạt động của các Tập đoàn kinh tế, đặc biệt trong bối
cảnh Chính phủ đang đẩy mạnh tái cơ cấu doanh nghiệp nhà nước thì công tác giám
sát tài chính đối với các Tập đoàn kinh tế nhà nước là hết sức cần thiết Thực tế hiện
nay việc phân tích tài chính trong giám sát tài chính từ phía cơ quan quản lý nhà
nước và phía cơ quan đại diện chủ sở hữu vốn đối với Tập đoàn kinh tế nhà nước
chưa được chú trọng, chưa thực hiện khoa học và đồng bộ cả về nội dung, phương
pháp phân tích, dữ liệu phân tích, quy trình phân tích Hệ quả dẫn đến hoạt động
giám sát tài chính đã không phát huy được tác dụng của mình với vai trò là một trong những công cụ hữu hiệu của quản lý kinh tế nhà nước Xuất phát những lý do
trên, NCS đã lựa chọn đề tài: “Hoàn thiện Phân tích tài chính trong giám sát tài
chính đối với Tập đoàn kinh tế nhà nước ở Việt Nam” làm luận án tiến sĩ kinh tế
của mình
2 Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Nghiên cứu tổng quan các công trình có liên quan đến đề tài có ý nghĩa rất quan trọng, giúp cho nghiên cứu sinh hệ thống hóa được những vấn đề có tính lý luận chung
về Phân tích tài chính đối với các DN nói chung và đối với các Tập đoàn kinh tế nói riêng, cũng như những vấn đề về giám sát tài chính để cung cấp thông tin hữu ích cho các đối tượng quan tâm Bên cạnh đó, làm rõ được những vấn đề đã được nghiên cứu
và những vấn đề còn bỏ ngỏ làm định hướng cho nghiên cứu của mình Trong qua trình tiếp cận các công trình đó, tác giả tiến hành khái quát hoá các công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài theo 2 nhóm sau:
- Các tài liệu nghiên cứu về lý luận Phân tích báo cáo tài chính hoặc Phân tích tài chính doanh nghiệp của các tác giả là những nhà khoa học kinh tế hàng đầu ở Việt Nam liên quan đến lý luận Phân tích tài chính trong doanh nghiệp
- Các tài liệu liên quan đến Phân tích tài chính theo nhóm doanh nghiệp đặc thù, trong Tập đoàn kinh tế hoặc liên quan đến giám sát cũng như giám sát tài chính
Cụ thể:
2.1 Các tài liệu nghiên cứu về lý luận Phân tích báo cáo tài chính hoặc Phân tích tài chính doanh nghiệp của các tác giả là những nhà khoa học kinh tế hàng đầu ở Việt Nam
Đề cập đến lý luận về Phân tích tài chính trong giám sát tài chính của Tập đoàn kinh tế, Phân tích tài chính trong giám sát tài chính doanh nghiệp trong các giáo trình, sách chuyên khảo đã có rất nhiều tác giả trong và ngoài nước nghiên cứu và công bố
Cụ thể:
- Theo quan điểm của các nhà khoa học của Học viện Tài chính:
PGS.TS Nguyễn Trọng Cơ và PGS.TS Nghiêm Thị Thà đồng chủ biên trong
cuốn sách chuyên khảo: “Đọc và Phân tích Báo cáo tài chính doanh nghiệp“ (Xuất bản năm 2010) và cuốn giáo trình: “Giáo trình phân tích tài chính doanh nghiệp”
Trang 7Ngô Thế Chi; PGS.TS Nguyễn Trọng Cơ đồng chủ biên trong cuốn:“Giáo trình Phân
tích Tài chính doanh nghiệp“ (Dùng cho chuyên ngành kế toán, kiểm toán, tài chính
DN) tái bản năm 2015
Về tiếp cận khái niệm Phân tích tài chính DN hoặc phân tích báo cáo tài chính
DN: Các nhà khoa học của Học viện Tài chính cho rằng: Phân tích tài chính doanh
nghiệp là tổng thể các phương pháp cho phép đánh giá tình hình tài chính đã qua và
hiện nay, dự đoán tình hình tài chính trong tương lai của doanh nghiệp, giúp cho các
nhà quản lý đưa ra các quyết định quản lý hữu hiệu, phù hợp với mục tiêu mà họ quan
tâm [29], [30]
Về tiếp cận phương pháp phân tích: Các nhà khoa học của Học viện Tài chính
tiếp cận phương pháp phân tích tài chính doanh nghiệp theo 3 nhóm phương pháp
như: Phương pháp đánh giá, phương pháp phân tích nhân tố và phương pháp dự đoán
[29], [30]
Về tiếp cận nội dung phân tích: Các nhà khoa học của Học viện Tài chính tiếp
cận nội dung phân tích theo các nội dung như: Phân tích khái quát tình hình tài chính,
Phân tích chính sách tài chính, phân tích tình hình sử dụng vốn, Phân tích tiềm lực tài
chính, Phân tích và dự báo rủi ro tài chính, Phân tích tình hình tăng trưởng [29] hoặc
theo các nội dung như: Phân tích khái quát tình hình tài chính, Phân tích chính sách tài
chính, Phân tích tiềm lực tài chính, Phân tích tình hình tăng trưởng [30]
Về tiếp cận quy trình phân tích: Các nhà khoa học của Học viện Tài chính tiếp
cận quy trình phân tích theo 3 giai đoạn: giai đoạn lập kế hoạch phân tích, giai đoạn
tiến hành phân tích và giai đoạn kết thúc phân tích [29], [30]
- Theo quan điểm của các nhà khoa học của Trường Đại học Kinh tế
quốc dân:
PGS,TS Nguyễn Năng Phúc trong cuốn: “Giáo trình phân tích báo cáo tài
chính “(Tái bản lần thứ hai, năm 2011); PGS,TS Nguyễn Ngọc Quang trong cuốn:
“Phân tích báo cáo tài chính“(Tái bản lần thứ nhất, năm 2013); GS, TS Nguyễn Văn
Công và TS Nguyễn Thị Quyên trong cuốn: “Phân tích báo cáo tài chính doanh
nghiệp” (xuất bản năm 2016)
Về tiếp cận khái niệm phân tích báo cáo tài chính: Các nhà khoa học của Đại
học Kinh tế Quốc dân về cơ bản đều cho rằng: Phân tích Báo cáo tài chính (BCTC) là
quá trình xem xét, kiểm tra, đối chiếu và so sánh số liệu về tài chính trong kỳ hiện tại
với các kỳ kinh doanh đã qua Thông qua việc phân tích Báo cáo tài chính sẽ cung cấp cho người sử dụng thông tin có thể đánh giá tiềm năng, hiệu quả kinh doanh cũng như những rủi ro về tài chính trong tương lai của doanh nghiệp [34],[43]
Về tiếp cận phương pháp phân tích: Các nhà khoa học của Trường đại học Kinh
tế quốc dân về cơ bản đều tiếp cận các phương pháp phân tài chính doanh nghiệp hoặc phân tích báo cáo tài chính theo các nhóm phương pháp như phương pháp so sánh, phương pháp loại trừ, phương pháp Dupont, phương pháp dự báo [26],[34]
Về tiếp cận nội dung phân tích: Các nhà khoa học của Trường đại học Kinh tế
quốc dân tiếp cận nội dung Phân tích tài chính doanh nghiệp các nội dung như: Phân tích khái quát tình hình tài chính của doanh nghiệp, Phân tích cấu trúc và cân bằng tài chính, Phân tích tình hình công nợ và khả năng thanh toán, phân tích hiệu quả kinh doanh và phân tích dấu hiệu khủng hoảng và rủi ro tài chính [26],[34] Theo GS Nguyễn Văn Công và TS Nguyễn Thị Quyên trong cuốn sách: “đã xác định nội dung phân tích báo cáo tài chính bao gồm: Đánh giá khái quát tình hình tài chính doanh nghiệp và cân bằng tài chính; đòn bẩy và cấu trúc tài chính; Phân tích tình hình và khả năng thanh toán, rủi ro tài chính và kết quả kinh doanh, Phân tích khả năng sinh lời, phân tích dòng tiền, phân tích giá trị doanh nghiệp và dự báo các chỉ tiêu tài chính [47]
Về tiếp cận quy trình phân tích: Các nhà khoa học của Trường đại học Kinh tế
quốc dân đều tiếp cận quy trình phân tích theo 3 giai đoạn: Chuẩn bị phân tích, tiến
hành phân tích và kết thúc phân tích [26]
- Theo quan điểm của các nhà khoa học đến từ các trường đại học khác:
TS Ngô Kim Phương - Trường đại học Kinh tế Thành phố Hố Chí Minh trong
cuốn: “Phân tích tài chính doanh nghiệp“ đến từ Đại học kinh tế TP Hồ Chí
Minh Tác giả Ngô Kim Phượng đã đề cập đến nội dung Phân tích theo các khía cạnh: Phân tích chi phí và đòn bẩy hoạt động; Phân tích kết quả kinh doanh; Phân tích cơ cấu nguồn vốn và tài chính; Phân tích lưu chuyển tiền tệ; Phân tích các hệ số tài chính Đồng thời tác giả cho rằng để phân tích tài chính doanh nghiệp, cần sử dụng các phương pháp phân tích nghiệp vụ như phương pháp so sánh, phương pháp loại trừ, phương pháp liên hệ cân đối.[24]
TS Lê Thị Xuân và Ths Nguyễn Xuân Quang đã đề cập đến các phương pháp phân tích tài chính doanh nghiệp như phương pháp so sánh, phương pháp phân tổ, phương pháp xác định mức độ ảnh hưởng của các nhân tố đến kết quả kinh tế, phương
Trang 8pháp phân tích số tỷ lệ, phương pháp phân tích Dupont, phương pháp phân tích khác
Đồng thời các tác giả cho rằng nội dung phân tích tài chính doanh nghiệp bao gồm:
Phân tích tình hình và kết quả kinh doanh, Phân tích các mối quan hệ cân bằng trên
bảng CĐKT, Phân tích các tỷ số tài chính, Phân tích lưu chuyển tiền tệ và dự báo
BCTC Về quy trình phân tích thì các tác giả đề cập đến 5 giai đoạn như: Lập kế hoạch
phân tích, Thu thập và xử lý thông tin, Xác định những biểu hiện đặc trưng, Phân tích,
Tổng hợp và dự đoán [22]
- Theo quan điểm của các nhà khoa học kinh tế ở nước ngoài:
Tác giả Leopold A.Bernstein (1989) trong tài liệu “Financial statement
analysis: Theory, application and interpertation” đã nghiên cứu Phân tích tài chính
doanh nghiệp như vai trò của Phân tích tài chính, nội dung, phương pháp phân tích tài
chính trong doanh nghiệp Với nguồn dữ liệu phân tích tài chính, tác giả đã xây dựng
các chỉ tiêu phân tích cho từng báo cáo tài chính như các chỉ tiêu phân tích bảng cân
đối kế toán, các chỉ tiêu phân tích báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh và báo cáo lưu
chuyển tiền tệ
Tác giả Josette Peyrard (2005) trong tài liệu “Phân tích tài chính doanh nghiệp”
(Bản dịch) đã đề cập đến những vấn đề của phân tích tài chính doanh nghiệp như
phương pháp phân tích, dữ liệu sử dụng trong Phân tích tài chính, nội dung Phân tích
tài chính doanh nghiệp Theo tác giả thì nội dung Phân tích tài chính chủ yếu đề cập
đến Phân tích hiệu quả hoạt động, phân tích khả năng sinh lợi, phân tích rủi ro và phân
tích tăng trưởng [16]
Theo một số nhà khoa học khác tại Mỹ cho rằng quy trình phân tích cần được
thực hiện theo 3 giai đoạn: Chuẩn bị phân tích, tiến hành phân tích và kết thúc phân
tích [54], [57] Và phương pháp phân tích là phương pháp so sánh, phương pháp tỷ số
hoặc phương pháp Dupont [57]
Như vậy, Tác giả luận án cho rằng, tất cả các nhà khoa học của các trường Đại
học khối kinh tế đều làm rõ các vấn đề lý luận về Phân tích TCDN hoặc Phân tích báo
cáo tài chính doanh nghiệp như nội dung và chỉ tiêu phân tích, phương pháp phân tích,
quy trình phân tích Về cơ bản những nội dung và chỉ tiêu phân tích tài chính của các
nhà khoa học đến từ các trường Đại học khác nhau không có sự khác biệt lớn mà chỉ
có một số điểm khác nhau ở chỗ: cách sử dụng các chỉ tiêu cho một nội dung phân tích
tài chính và công thức xác định chỉ tiêu đôi khi không giống nhau Đồng thời các cách
tiếp cận về phương pháp của các nhóm tác giả đều theo phương pháp đánh giá, phương pháp phân tích nhân tố và các phương pháp dự báo Quy trình phân tích được các tác giả tiếp cận theo 3 giai đoạn: Chuẩn bị phân tích (Lập kế hoạch phân tích), tiến hành phân tích và kết thúc phân tích
2.2 Các tài liệu liên quan đến Phân tích tài chính theo nhóm doanh nghiệp đặc thù, liên quan đến Tập đoàn kinh tế hoặc liên quan đến giám sát tài chính Thứ nhất: Các tài liệu liên quan đến Tập đoàn kinh tế hoặc Phân tích tài
chính trong Tập đoàn kinh tế
Sách chuyên khảo “Quản trị rủi ro tài chính trong các Tập đoàn kinh tế nhà
nước Lý luận - thực tiễn” do PGS,TS Nguyễn Trọng Cơ và PGS,TS Nghiêm Thị Thà
đồng chủ biên (2013) Các tác giả đã đi sâu vào các nội dung như Tổng quan về Tập đoàn kinh tế nhà nước; lý luận rủi ro tài chính trong các Tập đoàn kinh tế nhà nước; Quản trị rủi ro tài chính trong các Tập đoàn kinh tế nhà nước và đặc biệt các tác giả đi sâu khảo sát thực trạng quản trị rủi ro tài chính trong các Tập đoàn kinh tế nhà nước ở Việt Nam từ đó đưa ra các giải pháp nhằm nâng cao chất lượng quản trị rủi ro tài chính
trong các tập đoàn kinh tế nhà nước ở Việt Nam [32]
Sách chuyên khảo “Thành lập và quản lý các Tập đoàn kinh tế ở Việt Nam”,
(1996), của tác giả Nguyễn Đình Phan đã đề cập đến các mô hình Tập đoàn kinh tế và
mô hình Tập đoàn kinh tế ở Việt Nam, đồng thời tác giả đề cập đến những vấn đề về quản lý tập đoàn kinh tế trong giai đoạn hiện nay ở Việt Nam.[23]
Luận án tiến sĩ kinh tế của tác giả Hoàng Văn Ninh năm 2010 (Học viện tài
chính) về đề tài: “Tổ chức hệ thống thông tin kế toán phục vụ công tác quản lý trong
các Tập đoàn kinh tế ở Việt Nam” Luận án đã tập trung nghiên cứu về mặt lý luận
khái niệm Tập đoàn kinh tế; Thông tin kế toán và vai trò của Thông tin kế toán trong các Tập đoàn kinh tế; Yêu cầu của Thông tin kế toán trong các Tập đoàn kinh tế phục
vụ công tác quản lý; Tổ chức hệ thống thông tin kế toán phục vụ công tác quản lý trong các Tập đoàn kinh tế; Bên cạnh đó luận án đã đi sâu nghiên cứu kinh nghiệm của quốc tế trong tổ chức hệ thống thông tin kế toán và rút ra bài học cho các Tập đoàn kinh tế ở Việt Nam Luân án đã khảo sát thực trạng tổ chức thông tin kế toán phục vụ công tác quản lý trong các Tập đoàn kinh tế ở Việt Nam từ đó đưa ra các giải
Trang 9pháp hoàn thiện tổ chức thông tin kế toán phục vụ công tác quản lý trong các Tập
đoàn kinh tế ở Việt Nam [18]
Luận án tiến sĩ kinh tế năm 2012 của tác giả Nguyễn Thị Thanh (Học viện Tài
chính) về đề tài: “Hoàn thiện nội dung và phương pháp phân tích tài chính trong các
Tập đoàn kinh tế hoạt động theo mô hình công ty mẹ - con ở Việt Nam” Luận án đã đề
cập đến lý luận về Tập đoàn kinh tế và Phân tích tài chính trong Tập đoàn kinh tế hoạt
động mà không đề cập gì đến Phân tích tài chính phục vụ giám sát tài chính trong các
Tập đoàn kinh tế Luận án đã đi sâu khảo sát thực trạng Phân tích tài chính tại các Tập
đoàn kinh tế nhà nước hoạt động theo mô hình công ty mẹ - con, trên cơ sở đó đưa ra
các giải pháp hoàn thiện Phân tích tài chính trong các Tập đoàn kinh tế nhà nước hoạt
động theo mô hình công ty mẹ - con ở Việt Nam Với nội dung này thì luận án chỉ tiếp
cận đến thực trạng nguồn tài liệu phục vụ phân tích, thực trạng phương pháp phân tích;
thực trạng tổ chức phân tích; thực trạng nội dung Phân tích trong các Tập đoàn kinh tế
hoạt động theo mô hình công ty mẹ - con mà chưa đề cập đến sử dụng nguồn tài liệu,
phương pháp phân tích, quy trình nội dung Phân tích tài chính phục vụ mục tiêu giám
sát Tài chính trong các Tập đoàn kinh tế nhà nước ở Việt Nam.[35]
Đề tài nghiên cứu khoa học cấp Bộ Tài chính: “Xây dựng các chỉ tiêu kiểm soát
rủi ro tài chính đối với các Tập đoàn kinh tế ở Việt Nam” (2012) của TS Vũ Văn Ninh
và Ths Phạm Văn Bình đồng chủ nhiệm Đề tài đã nghiên cứu những vấn đề về Tập
đoàn kinh tế, rủi ro tài chính trong Tập đoàn kinh tế, nghiên cứu thực trạng tình hình tài
chính và nhận diện rủi ro tài chính đối với các Tập đoàn kinh tế ở Việt Nam, từ đó xây
dựng các chỉ tiêu kiểm soát rủi ro tài chính đối với các Tập đoàn kinh tế ở Việt Nam
Mặc dù đề tài đã tiếp cận đến các chỉ tiêu kiểm soát rủi ro đối với Tập đoàn kinh tế ở
Việt Nam cụ thể là Tập đoàn Kinh tế nhà nước và Tập đoàn Kinh tế tư nhân nhưng đề
tài chưa nghiên cứu các vấn đề về Phân tích tài chính trong giám sát tài chính đối với
các Tập đoàn kinh tế nhà nước ở Việt Nam.[54]
Đề tài nghiên cứu khoa học cấp Bộ Tài chính: “Quản trị rủi ro tài chính tại các
Tập đoàn kinh tế nhà nước ở Việt Nam hiện nay - Thực trạng và giải pháp”(2012) do
PGS,TS Nguyễn Trọng Cơ và PGS,TS Nghiêm Thị Thà đồng chủ nhiệm Đề tài đã đi
sâu vào các nội dung quản trị rủi ro tài chính trong các Tập đoàn kinh tế nhà nước như
nhận diện, đo lường, kiểm soát rủi ro tài chính và đặc biệt đề tài đi sâu khảo sát thực
sở đánh giá thực trạng quản trị rủi ro tài chính tại các Tập đoàn kinh tế nhà nước, căn
cứ vào định hướng phát triển Tập đoàn kinh tế nhà nước ở Việt Nam đề tài đã đưa ra các giải pháp tài chính nhằm nâng cao chất lượng quản trị rủi ro tài chính trong các tập đoàn kinh tế nhà nước ở Việt Nam Đề tài chỉ mới đề cập đến khía cạnh Tập đoàn kinh
tế nhà nước ở Việt Nam cũng như vấn đề về quản trị rủi ro tài chính mà chưa đi sâu vào Phân tích tài chính phục vụ công tác giám sát tài chính đối với Tập đoàn kinh tế nhà nước ở Việt Nam
Đề tài nghiên cứu khoa học cấp Học viện Tài chính: “Phân tích tài chính tại
Tập đoàn Dầu Khí Việt Nam Thực trạng và giải pháp” (2012) của TS Nguyễn Thị
Thanh và các cộng sự Đề tài đã đi sâu nghiên cứu về lý luận Phân tích tài chính trong các Tập đoàn kinh tế, khảo sát thực trạng công tác Phân tích tài chính tại Tập đoàn Dầu Khí Việt Nam trên cơ sở định hướng phát triển Tập đoàn Dầu khí Việt Nam, đề tài đã đưa ra các nhóm giải pháp hoàn thiện Phân tích tài chính tại Tập đoàn Dầu Khí Việt Nam Đề tài chỉ đề cập đến cơ sở dữ liệu, phương pháp phân tích, tổ chức phân tích và nội dung Phân tích tài chính tại một Tập đoàn kinh tế nhà nước đứng trên các phương diện là nhà quản lý, chủ sở hữu, nhà đầu tư mà chưa đi sâu vào nghiên cứu Phân tích tài chính phục vụ giám sát tài chính trong các Tập đoàn kinh tế nhà nước ở Việt Nam [36]
Đề tài nghiên cứu khoa học cấp Học viện Tài chính: “Hoàn thiện nội dung phân
tích BCTC của các DN thuộc tập đoàn FPT” (2014) của TS Phạm Thị Quyên Đề tài
đã đi sâu vào lý luận về nội dung Phân tích báo cáo tài chính, Khảo sát về Tập đoàn FPT từ quá trình hình thành phát triển, đặc điểm tổ chức quản lý, và nhất là khảo sát nội dung Phân tích báo cáo tài chính tại Tập đoàn FPT từ đó đưa ra các giải pháp hoàn thiện nội dung Phân tích báo cáo tài chính tại Tập đoàn FPT Đề tài chỉ đi sâu vào nội dung Phân tích BCTC của một Tập đoàn kinh tế tư nhân ở Việt Nam mà không đi sâu vào Phân tích tài chính phục vụ giám sát tài chính tại các tập đoàn kinh tế nhà nước ở Việt Nam.[40]
Tác giả luận án cho rằng hầu hết các tác giả đã đề cập đến Tập đoàn kinh tế như Thành lập và quản lý; quản trị rủi ro tài chính; kiểm soát rủi ro tài chính; Tổ chức
hệ thống thông tin kế toán phục vụ công tác quản lý; Nội dung phân tích và phương pháp phân tích trong các Tập đoàn kinh tế nhà nước hoặc Tập đoàn kinh tế cụ thể Chưa có tác giả nào đề cập đến Phân tích tài chính tài chính trong giám sát tài chính
Trang 10đối với Tập đoàn kinh tế nhà nước và NCS cho rằng đây là khoảng trống mà NCS sẽ
tiếp tục nghiên cứu
Thứ hai: Các tài liệu liên quan đến giám sát tài chính
Sách chuyên khảo: “Cẩm nang hướng dẫn giám sát tài chính” (2015) của Cục
Tài chính doanh nghiệp - Bộ Tài chính ban hành Tài liệu đã làm rõ và cung cấp các
hướng dẫn chi tiết đối với một số quy định tại Nghị định số 61/2013/NĐ-CP, từ đó
giúp các bên liên quan có thể vận dụng hiệu quả các yêu cầu pháp lý trong công tác
giám sát tài chính các doanh nghiệp, bên cạnh đó tài liệu cũng cung cấp những thông
lệ về quản trị doanh nghiệp như hệ thống quản trị rủi ro, kiểm soát nội bộ và kiểm
toán nội bộ, đặc biệt là hệ thống các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả hoạt động của doanh
nghiệp [12]
Sách chuyên khảo: “Hệ thống giám sát tài chính Việt Nam” (2011) của PGS,TS
Tô Ngọc Hưng - Học viện Ngân hàng đã giới thiệu về hệ thống giám sát tài chính, rủi
ro của hệ thống giám sát tài chính, nội dung hệ thống giám sát tài chính, hiệu lực của hệ
thống giám sát tài chính và các mô hình giám sát tài chính nói chung và thực trạng hệ
thống giám sát tài chính ở Việt Nam như cấu trúc, đặc điểm, thực trạng hoạt động của
hệ thống giám sát tài chính ở Việt Nam, đồng thời tác giả đưa ra thực trạng phối hợp
giữa chủ thể quản lý và các kênh giám sát trên thị trường tài chính ở Việt Nam từ đó
xây dựng hệ thống giám sát tài chính ở Việt Nam Tác giả đã đề cập đến hệ thống giám
sát tài chính đối với các tổ chức tài chính như Ngân hàng, công ty chứng khoán, Các tổ
chức phi ngân hàng, các công ty Bảo hiểm [52]
Luận án tiến sĩ kinh tế năm 2013 của tác giả Nguyễn Tiến Hùng (Trường Đại
học Kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh) về đề tài: “Giám sát an toàn tài chính đối với các
doanh nghiệp bảo hiểm ở Việt Nam” Luận án tập trung nghiên cứu cơ sở lý luận về
điều kiện thành lập, hoạt động của các DNBH trên thị trường Việt Nam Tuy nhiên
luận án này không đề cập gì đến Phân tích tài chính phục vụ giám sát tài chính tại các
Tập đoàn kinh tế nhà nước ở Việt Nam [37]
Đề tài nghiên cứu khoa học cấp Bộ Tài chính: “Giải pháp nâng cao năng lực
giám sát hoạt động tài chính của doanh nghiệp sau cổ phần hoá DNNN”(2012) của
TS Nguyễn Tuấn Phương và các cộng sự Đề tài đề cập đến các vấn đề lý luận về giám
sát hoạt động tài chính của doanh nghiệp sau cổ phần hóa DNNN như những vấn đề cơ
bản về doanh nghiệp sau cổ phần hoá, vốn nhà nước và hoạt động tài chính của DN sau
cổ phần hoá DNNN, giám sát hoạt động tài chính của DN sau cổ phần hoá DNNN, đề tài đã đi sâu nghiên cứu kinh nghiệm của quốc tế về giám sát hoạt động tài chính của
DN sau cổ phần hoá DNNN và rút ra bài học cho Việt Nam Đề tài đã nghiên cứu thực trạng giám sát hoạt động tài chính của DN sau cổ phần hoá DNNN và đưa ra các giải pháp nâng cao năng lực giám sát hoạt động tài chính đối với Tập đoàn kinh tế nhà nước
ở Việt Nam Đề tài mặc dù có đề cập đến giám sát tài chính đối DN sau cổ phần hoá DNNN nhưng chưa đề cập đến Phân tích tài chính trong giám sát tài chính tại các Tập đoàn kinh tế nhà nước ở Việt Nam [38]
Kinh nghiệm giám sát tài chính tại Mỹ: Để có thể dự báo và kiểm soát được rủi
ro tài chính, các Tập đoàn kinh tế của Mỹ thường áp dụng nhiều phương pháp như: Phương pháp so sánh, phương pháp tỷ lệ Tuy nhiên để dự báo nguy cơ phá sản của Tập đoàn kinh tế của Mỹ, sử dụng các chỉ tiêu phân tích tài chính riêng biệt để chấm điểm xếp hạng thì không thể dự báo chính xác xu hướng khả năng xảy ra khó khăn về tài chính của doanh nghiệp, vỡ nợ cũng phụ thuộc vào nhận thức riêng của từng chủ thể quản lý Nhiều biến số đó được sử dụng trong các mô hình kiểm soát rủi ro tài chính để tăng cường tính dự báo nguy cơ vỡ nợ Một trong các phương pháp đó được kiểm tra
kỹ lưỡng và được nhiều doanh nghiệp chấp nhận rộng rãi ở Mỹ hiện nay là hàm thống
kê Z-score của Altman Chỉ số này giúp các doanh nghiệp dự đoán được nguy cơ phá sản trong tương lai gần để từ đó biết được mức độ rủi ro của mình Hệ số nguy cơ phá sản, hay cũng gọi là Z score do nhà kinh tế học Hoa Kỳ Edward I Altman, giảng viên trường đại học New York thiết lập Hệ số này chỉ áp dụng cho các doanh nghiệp chứ không áp dụng cho các định chế tài chính như ngân hàng hay là các công ty đầu tư tài chính Ở Mỹ, chỉ số Z score đó dự đoán tương đối chính xác tình hình phá sản cũng như mức độ rủi ro của các doanh nghiệp trong tương lai gần Có khoảng 95% doanh nghiệp phá sản được dự báo nhờ Z score trước ngày sập tiệm một năm, nhưng tỷ lệ này giảm xuống chỉ còn 74% cho những dự báo trong vòng 2 năm
Tác giả luận án cho rằng: Các tài liệu trên đã đề cập đến giám sát tài chính với giác độ là đối tượng bên ngoài (cơ quan quản lý nhà nước) hướng dẫn giám sát tài chính tại doanh nghiệp nhà nước và doanh nghiệp có vốn nhà nước hoặc giới thiệu về
hệ thống giám sát tài chính đối với các tổ chức tài chính như Ngân hàng, công ty chứng khoán, Bảo hiểm hoặc giám sát an toàn tài chính đối với lĩnh vực bảo hiểm, kinh nghiệm giám sát tài chính đối với DN ở Mỹ Nhưng hiện nay chưa có tác giả nào đề
Trang 11cập đến vấn đề giám sát tài chính đối với Tập đoàn kinh tế nhà nước ở Việt Nam Đây
là khoảng trống mà NCS sẽ tiếp tục nghiên cứu trong luận án
Như vậy qua các tài liệu nghiên cứu cho thấy: Mặc dù ít nhiều các tài liệu đã đề
cập đến quản lý tài chính, giám sát tài chính, Phân tích tài chính doanh nghiệp, nội
dung, hệ thống chỉ tiêu phân tích tài chính và những vấn đề liên quan đến Tập đoàn
kinh tế Tuy nhiên các đề tài nghiên cứu nói trên chưa có đề tài nào đề cập đến Phân
tích tài chính trong giám sát tài chính tại các Tập đoàn kinh tế nhà nước ở Việt Nam
đứng trên góc độ cung cấp thông tin cho chủ sở hữu Chính vì vậy,qua thời gian nghiên
cứu, tìm hiểu, NCS quyết định đi sâu nghiên cứu nhằm mục đích hoàn thiện Phân tích
tài chính trong giám sát tài chính đối với Tập đoàn kinh tế nhà nước ở Việt Nam
3 Mục tiêu nghiên cứu của luận án
- Hệ thống hoá và nâng cao những vấn đề lý luận chung về phân tích tài chính
trong giám sát tài chính đối với các Tập đoàn kinh tế
- Nghiên cứu và đánh giá thực trạng phân tích tài chính trong giám sát tài chính
đối với các Tập đoàn kinh tế nhà nước ở Việt Nam đứng trên góc độ là cơ quan đại
diện chủ sở hữu vốn nhà nước
- Đề xuất các giải pháp cơ bản để hoàn thiện phân tích tài chính trong giám sát
tài chính đối với các Tập đoàn kinh tế nhà nước ở Việt Nam nhằm trợ giúp cho cơ quan
đại diện chủ sở hữu vốn nhà nước tại Tập đoàn kinh tế có những thông tin trực quan, dễ
hiểu về tình hình tài chính của các Tập đoàn kinh tế và giám sát tài chính đối với các
Tập đoàn kinh tế nhà nước
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận án
* Đối tượng nghiên cứu:
Đối tượng nghiên cứu của luận án là: Phân tích tài chính trong giám sát tài
chính đối với Tập đoàn kinh tế
* Phạm vi nghiên cứu:
+ Về nội dung: Phân tích tài chính trong giám sát tài chính của cơ quan đại diện
chủ sở hữu vốn đối với Tập đoàn kinh tế Nhà nước ở Việt Nam
+ Về không gian: Các Tập đoàn kinh tế nhà nước hoạt động theo quy định của
luật doanh nghiệp 2014
các Tập đoàn kinh tế nhà nước ở Việt Nam giai đoạn từ năm 2011 đến nay Các đề xuất
+ Phương pháp tổng hợp, phân tích hệ thống hóa những vấn đề lý luận và thực tiễn
+ Phương pháp khảo sát, đánh giá tài liệu, quan sát, kiểm chứng để nghiên cứu, tổng kết, phân tích làm nổi bật thực trạng các vấn đề nghiên cứu, xác định rõ những nguyên nhân làm cơ sở đề xuất những định hướng và giải pháp hoàn thiện phân tích tài chính trong giám sát tài chính đối với các Tập đoàn kinh tế nhà nước ở Việt Nam + Phương pháp thống kê, so sánh: sử dụng các số liệu thống kê để phân tích, so sánh, tổng kết và rút ra các kết luận làm cơ sở đề xuất những định hướng và giải pháp hoàn thiện phân tích tài chính trong giám sát tài chính đối với Tập đoàn kinh tế nhà nước ở Việt Nam
Cụ thể:
- Luận án sử dụng phương pháp so sánh, phân tích, tổng hợp, khảo sát, áp dụng các công cụ tin học… Các phương pháp này giúp tác giả có luận cứ khoa học để cập
Trang 12nhật số liệu tài chính nhằm đánh giá công tác phân tích tài chính trong giám sát tài
chính đối với các Tập đoàn kinh tế nhà nước ở Việt Nam, từ đó đề xuất phải pháp
+ Luận án chọn mẫu nghiên cứu là các cơ quan đại diện chủ sở hữu vốn tại 7
Tập đoàn kinh tế nhà nước ở Việt Nam như Tập đoàn Công nghiệp Than - Khoáng Sản
Việt Nam; Tập đoàn Dầu Khí Việt Nam; Tập đoàn Công nghiệp Cao su Việt Nam; Tập
đoàn Bưu chính Viễn Thông; Tập đoàn Hoá Chất Việt Nam; Tập đoàn Viễn Thông
Quân đội; Tập đoàn Điện Lực Việt Nam là Bộ Công Thương, Bộ Nông nghiệp và phát
triển nông thôn, Bộ Thông Tin và Truyền Thông, Bộ Quốc Phòng Luận án sử dụng bộ
số liệu trên báo cáo tài chính, báo cáo giám sát của các Tập đoàn kinh tế nhà nước từ
năm 2011 đến 2015 Tác giả đã sử dụng các phương pháp thống kê, tổng hợp, phân
tích, so sánh để tính toán các chỉ tiêu cơ bản phản ánh hoạt động tài chính của các Tập
đoàn kinh tế nhà nước trong thời gian qua, đó là: hoạt động huy động vốn, hoạt động
đầu tư và sử dụng vốn, hoạt động phân phối lợi nhuận sau thuế Tiếp theo luận án
nghiên cứu nội dung phân tích tài chính phục vụ giám sát tài chính đối với các Tập
đoàn kinh tế này trong thời gian qua
+ Luận án sử dụng phương pháp điều tra để thu thập các thông tin về thực trạng
sử dụng phân tích tài chính trong giám sát tài chính đối với các Tập đoàn kinh tế nhà
nước ở Việt Nam Đối tượng điều tra là cơ quan đại diện Bộ chủ quản (Bộ Công
Thương, Bộ Thông tin và Truyền thông, Bộ Quốc Phòng, Bộ Nông nghiệp & Phát triển
nông thôn) tại 7 Tập đoàn kinh tế và 7 Tập đoàn kinh tế
5.2 Quá trình thu thập dữ liệu
Tác giả tiến hành thu thập dữ liệu từ hai nguồn chính là nguồn dữ liệu sơ cấp và
nguồn dữ liệu thứ cấp
+ Nguồn dữ liệu sơ cấp: Là những dữ liệu do tác giả luận án tự thu thập, chưa
qua xử lý, được thu thập lần đầu và thu thập trực tiếp từ các đơn vị thuộc tổng thể
nghiên cứu thông qua các cuộc điều tra, khảo sát Nguồn dữ liệu sơ cấp được tác giả
luận án thu thập thông qua các phiếu điều tra, khảo sát đối với các cán bộ đại diện chủ
sở hữu vốn nhà nước tại Tập đoàn, cũng như đối với Ban Kiểm soát của Tập đoàn Đây
là những thông tin tác giả khảo sát từ năm 2011 đến năm nay
+Nguồn dữ liệu thứ cấp là những dữ liệu đã được xử lý bởi các Tập đoàn kinh
tế thuộc tổng thể nghiên cứu, do Cơ quan đại diện chủ sở hữu vốn tại các Tập đoàn
kinh tế nhà nước được khảo sát cung cấp hoặc do tác giả tự thu thập từ các nguồn thông tin sẵn có như báo đài, internet, website của các đơn vị Đây là minh chứng quan trọng và cần thiết, phản ánh một cách trung thực và chính xác thực trạng phân tích tài chính phục vụ giám sát tài chính đối với các Tập đoàn kinh tế nhà nước ở Việt Nam -Về phạm vi khảo sát thu thập dữ liệu: Tác giả tiến hành tập trung khảo sát các đối tượng nghiên cứu theo mẫu chọn trong khoảng thời gian từ năm 2011 đến nay Việc khảo sát nhằm phục vụ cung cấp thông tin cho đại diện chủ sở hữu nhà nước tại Tập đoàn Quá trình thu thập dữ liệu tiến hành theo 3 bước:
Bước 1: Xác định đối tượng khảo sát:
Đối tượng khảo sát là cơ quan đại diện chủ sở hữu vốn nhà nước tại 7 Tập đoàn kinh tế nhà nước ở Việt Nam Đối với các cơ quan đại diện chủ sở hữu vốn tại Tập đoàn kinh tế nhà nước khảo sát có: Cơ quan đại diện chủ sở hữu vốn tại Tập đoàn Công nghiệp Than - Khoáng Sản Việt Nam; Cơ quan đại diện chủ sở hữu vốn tại Tập đoàn Dầu Khí Việt Nam; Cơ quan đại diện chủ sở hữu vốn tại Tập đoàn Công nghiệp Cao su Việt Nam; Cơ quan đại diện chủ sở hữu vốn tại Tập đoàn Bưu chính Viễn Thông; Cơ quan đại diện chủ sở hữu vốn tại Tập đoàn Hoá Chất Việt Nam; Cơ quan đại diện chủ
sở hữu vốn tại Tập đoàn Viễn Thông Quân đội; Cơ quan đại diện chủ sở hữu vốn tại Tập đoàn Điện Lực Việt Nam Bên cạnh đó đối tượng khảo sát còn là 7 tập đoàn kinh
tế nhà nước ở Việt Nam
Bước 2: Xác định nội dung phiếu khảo sát
Các câu hỏi điều tra, khảo sát được xây dựng chủ yếu dựa trên các câu hỏi nghiên cứu tổng quát và các câu hỏi nghiên cứu cụ thể, phục vụ cho mục đích điều tra
và thu thập dữ liệu Các câu hỏi được đề cập trong phiếu khảo sát tại các Tập đoàn kinh
tế và các cơ quan đại diện chủ sở hữu vốn tại Tập đoàn được trình bày logis, đảm bảo
sự kết nối giữa câu hỏi điều tra với câu hỏi nghiên cứu và mục tiêu nghiên cứu thông qua các chủ đề được tổng kết từ nghiên cứu lý luận và khung lý thuyết đã được phát triển của đề tài
Nội dung câu hỏi trong phiếu khảo sát đối với cơ quan đại diện chủ sở hữu vốn nhà nước tại Tập đoàn kinh tế nhà nước
Phần I: Thông tin chung về đối tượng khảo sát Phần này bao gồm các câu hỏi như: Tên đối tượng được khảo sát, Đơn vị công
Trang 13Phần II: Tổ chức phân tích, Nguồn tài liệu phân tích tài chính phục vụ giám sát
tài chính đối với Tập đoàn kinh tế nhà nước ở Việt Nam
Phần III: Thông tin về phương pháp phân tích tài chính phục vụ giám sát tài
chính trong Tập đoàn kinh tế nhà nước ở Việt Nam
Phần VI: Thông tin về nội dung (chỉ tiêu) phân tích tài chính phục vụ giám sát
tài chính trong Tập đoàn kinh tế nhà nước ở Việt Nam
Nội dung câu hỏi trong phiếu khảo sát tại Tập đoàn kinh tế
Phần I: Thông tin chung về Tập đoàn kinh tế
Phần này bao gồm các câu hỏi như: Tên giao dịch, địa chỉ giao dịch, Chủ sở
hữu quản lý, thời gian thành lập; Lĩnh vực hoạt động, Ngành nghề kinh doanh chính,
Tổng số vốn kinh doanh
Phần II: Tổ chức phân tích, Nguồn tài liệu phân tích tài chính phục vụ giám sát
tài chính đối với Tập đoàn kinh tế nhà nước ở Việt Nam
Phần III: Thông tin về phương pháp phân tích tài chính phục vụ giám sát tài
chính trong Tập đoàn kinh tế nhà nước ở Việt Nam
Phần VI: Thông tin về nội dung (chỉ tiêu) phân tích tài chính phục vụ giám sát
tài chính trong Tập đoàn kinh tế nhà nước ở Việt Nam
Bước 3: Gửi phiếu khảo sát đến các đối tượng
Trên cơ sở các mẫu đã lựa chọn là các cơ quan đại diện chủ sở hữu vốn nhà
nước tại Tập đoàn kinh tế nhà nước như Bộ Công Thương, Bộ nông nghiệp và Phát
triển nông thôn, Bộ Thông tin và Truyền Thông, Bộ Quốc Phòng và 7 tập đoàn kinh
tế nhà nước Sau khi tiến hành khảo sát, NCS liên hệ qua điện thoại và qua sự giới
thiệu của người quen, có tất cả 7 Tập đoàn kinh tế nhà nước và các cơ quan đại diện
chủ sở hữu vốn nhà nước tại Tập đoàn kinh tế thuộc mẫu lựa chọn đồng ý tham gia
khảo sát và phỏng vấn qua điện thoại hoặc phỏng vấn trực tiếp Trên cơ sở đó, tác giả
luận án tiến hành gửi các phiếu khảo sát theo địa chỉ email, đường bưu điện do các
đơn vị cung cấp
5.3 Về phương pháp xử lý và phân tích dữ liệu
Trên cơ sở dữ liệu sơ cấp thu thập được từ các cơ quan đại diện chủ sở hữu vốn
nhà nước tại Tập đoàn kinh tế và các Tập đoàn kinh tế, tác giả luận án tiến hành xử lý
nhằm tổng hợp, phân loại, sàng lọc, lựa chọn và tóm lược dữ liệu để có thể sử dụng
được Để xử lý các dữ liệu sơ cấp thu thập được tác giả sử dụng phần mềm Ecxel Bảng tổng hợp các kết quả tính toán được trình bày dưới dạng sơ đồ, bảng biểu để rút ra kết luận về thực trạng phân tích tài chính phục vụ giám sát tài chính đối với các Tập đoàn kinh tế nhà nước Kết quả tổng hợp được đính kèm ở phần phụ lục
Các dữ liệu thứ cấp được sử dụng trực tiếp để minh hoạ trong luận án ở chương
2 và chương 3 khi đề cập đến thực trạng phân tích và giải pháp hoàn thiện phân tích tài chính trong giám sát tài chính đối với Tập đoàn kinh tế nhà nước ở Việt Nam
6 Câu hỏi nghiên cứu của luận án
Trên cơ sở mục tiêu, đối tượng, phạm vi nghiên cứu của luận án và tổng kết, kế thừa các nghiên cứu trước đó Nghiên cứu sinh hướng tới việc tập trung giải quyết câu hỏi nghiên cứu tổng quát đặt ra cho quá trình nghiên cứu: Giải pháp thích hợp nào để hoàn thiện phân tích tài chính phục vụ giám sát tài chính đối với Tập đoàn kinh tế nhà nước ở Việt Nam?
Trên cơ sở đó, nghiên cứu sinh hướng tới việc giải quyết các câu hỏi nghiên cứu cụ thể như:
- Thế nào là giám tài chính? Nội dung và phương thức giám sát tài chính trong Tập đoàn kinh tế? Phân tích tài chính trong giám sát tài chính đối với Tập đoàn kinh tế?
- Đặc điểm nào ảnh hưởng đến Phân tích trong giám sát tài chính đối với Tập đoàn kinh tế?
- Thực trạng Phân tích tài chính trong giám sát tài chính đối với Tập đoàn kinh
tế nhà nước đứng trên góc độ là cơ quan đại diện chủ sở hữu vốn tại Tập đoàn kinh tế như thế nào?
7 Các kết quả nghiên cứu dự kiến của luận án
Kết quả nghiên cứu của luận án sẽ có những đóng góp sau:
trong giám sát tài chính đối với các Tập đoàn kinh tế nói chung và đối với các Tập đoàn kinh tế nhà nước nói riêng Những đánh giá này sẽ giúp các nhà nghiên cứu, các nhà khoa học tài chính, các cơ quan hoạch định chính sách, giảng viên, sinh viên kinh
tế có nguồn tài liệu tham khảo hữu ích cho công việc của mình
- Về phương diện thực tiễn: Luận án đã trình bày khái quát lịch sử hình thành và
phát triển các Tập đoàn kinh tế nhà nước tại Việt Nam Trên cơ sở điều tra chọn mẫu,
Trang 14Tập đoàn kinh tế nhà nước ở Việt Nam đứng trên phương diện là cơ quan đại diện chủ
sở hữu vốn nhà nước tại Tập đoàn kinh tế Qua đó, luận án sẽ đánh giá những kết quả
đã đạt được và những hạn chế về Phân tích tài chính trong giám sát tài chính đối với
Tập đoàn kinh tế nhà nước ở Việt Nam
Trên cơ sở định hướng phát triển các Tập đoàn kinh tế nhà nước ở Việt Nam
trong các năm tới, căn cứ vào mục tiêu và nguyên tắc để hoàn thiện Phân tích tài chính
trong giám sát tài chính đối với Tập đoàn kinh tế nhà nước ở Việt Nam Luận án đã đưa
ra các giải pháp hoàn thiện Phân tích tài chính trong giám sát tài chính đối với các Tập
đoàn kinh tế nhà nước ở Việt Nam
Luận án sẽ đề xuất một số kiến nghị đối với các cơ quan quản lý Nhà nước, cơ
quan đại diện chủ sở hữu và Tập đoàn kinh tế nhà nước tại Việt Nam để thực hiện các
giải pháp hoàn thiện trên
8 Kết cấu của luận án
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục Luận án
được kết cấu thành 3 chương:
Chương 1: Lý luận chung về Phân tích tài chính trong giám sát tài chính đối với
Tập đoàn kinh tế
Chương 2: Thực trạng Phân tích tài chính trong giám sát tài chính đối với các
Tập đoàn kinh tế nhà nước ở Việt Nam
Chương 3: Giải pháp hoàn thiện Phân tích tài chính trong giám sát tài chính đối
với các Tập đoàn kinh tế nhà nước ở Việt Nam
1.1.1.1 Khái niệm về Tập đoàn kinh tế
Tập đoàn kinh tế xuất hiện và phát triển trong nền kinh tế thị trường do quá trình tích tụ và tập trung tư bản để tìm kiếm lợi nhuận và phân tán rủi ro Ở Mỹ và các nước châu Âu có hai tổ hợp kinh tế được gọi với 2 cái tên là: Conglomerate và Holding company Ở châu Á mô hình TĐKT cũng xuất hiện với tên gọi: Keiretsu của Nhật Bản
và Chaebol của Hàn Quốc, ở Trung Quốc là Jingji Jituan
Conglomerate thường được định nghĩa là một công ty quy mô vốn lớn, sở hữu
cổ phần ở nhiều công ty khác hoạt động trong các ngành nghề khác nhau với cùng một thương hiệu nhằm tiếp cận thị trường mạnh mẽ hơn, sức cạnh tranh cao hơn và tổ hợp công ty lớn với các công ty con mà nó sở hữu một tỷ lệ cổ phần nhất định này hình thành các TĐKT
Holding company là công ty sở hữu toàn diện, đa số, hay một phần cổ phiếu của một hay nhiều công ty khác, trở thành công ty mẹ (parent company) khi nó sở hữu đủ
số cổ phiếu để chi phối đối với công ty con (subsidiary) thông qua các quyết định quan trọng như: lựa chọn người lãnh đạo, quyết định mục tiêu phát triển… tạo thành tổ hợp
Mẹ - Con theo mô hình TĐKT
Keiretsu ở Nhật là mô hình quản lý khá giống TĐKT (conglomerate) ở Mỹ do những người chuyên nghiệp làm thuê quản lý, nhưng về sở hữu chúng là công ty có tư cách pháp nhân độc lập, hoạt động đầu tư vốn lẫn nhau để tạo ra lợi thế thông qua quan
hệ có tính kết nối rộng và lâu dài, dựa trên lợi ích cơ bản của hệ thống kết nối như: được cung cấp hàng hóa, tín dụng lâu dài mà không cần phải trả ngay
Quan niệm về tập đoàn kinh tế có sự thay đổi và khác nhau theo thời gian, điều kiện, trình độ phát triển kinh tế, sự phân công chuyên môn hoá, sự hợp tác giữa các doanh nghiệp, cách tiếp cận và mục tiêu quản lý ở mỗi nước Vì vậy hiện nay không có định nghĩa thống nhất về Tập đoàn kinh tế
Trang 15Ở Hàn Quốc thuật ngữ Tập đoàn kinh tế được sử dụng để chỉ một liên minh gồm
nhiều công ty hình thành quanh một công ty mẹ Thông thường công ty này nắm giữ cổ
phần, vốn góp của nhau và do một gia đình điều hành
Tập đoàn kinh tế là một tổ hợp các công ty độc lập về mặt pháp lý gồm 1 công
ty mẹ và nhiều công ty hay chi nhánh góp vốn cổ phần chịu sự kiểm soát của công ty
mẹ [21]
Tại Nhật Bản thì Tập đoàn kinh tế được nhìn nhận “là một nhóm các doanh
nghiệp độc lập về mặt pháp lý nắm giữ cổ phần của nhau và thiết lập được mối quan
hệ mật thiết về nguồn vốn, nguồn nhân lực, công nghệ, cung ứng nguyên vật liệu, tiêu
thụ sản phẩm” [51]
Tại Trung Quốc, Tập đoàn kinh tế (Tập đoàn doanh nghiệp) được nhận thức là
“tổ hợp kinh doanh gồm các doanh nghiệp có mối liên quan với nhau về đầu tư, hợp
tác sản xuất kinh doanh và các mối quan hệ kinh tế kỹ thuật khác Tập đoàn doanh
nghiệp là một sự liên kết giữa các pháp nhân (doanh nghiệp) theo mối quan hệ mẹ -
con trong đó công ty mẹ là hạt nhân của Tập đoàn” [1]
Ở Việt Nam mô hình Tập đoàn kinh tế mới được ứng dụng và đang trong giai
đoạn thí điểm thành lập, song khái niệm về TĐKT đã được ghi nhận tại các hội thảo
nghiên cứu, Nghị định Cụ thể:
Theo TS.Trần Tiến Cường, nguyên Trưởng Ban nghiên cứu cải cách và phát
triển doanh nghiệp thì “TĐKT được hiểu là một tổ hợp lớn các doanh nghiệp có tư
cách pháp nhân hoạt động trong một hay nhiều ngành khác nhau, có quan hệ về vốn,
tài chính, công nghệ, thông tin, đào tạo, nghiên cứu và các liên kết khác xuất phát từ
lợi ích của các bên tham gia Trong mô hình này, "công ty mẹ" nắm quyền lãnh đạo,
chi phối hoạt động của "công ty con" về tài chính và chiến lược phát triển“[49]
Điều 38, nghị định 102/2010/NĐ-CP ngày 01/10/2010 hướng dẫn chi tiết thi
hành một số điều của Luật doanh nghiệp đã quy định về TĐKT:
- Tập đoàn kinh tế bao gồm nhóm các công ty có quy mô lớn, có tư cách pháp
nhân độc lập, được hình thành trên cơ sở tập hợp, liên kết thông qua đầu tư, góp vốn,
sáp nhập, mua lại, tổ chức lại hoặc các hình thức liên kết khác; gắn bó lâu dài với
nhau về lợi ích kinh tế, công nghệ, thị trường và các dịch vụ kinh doanh khác tạo
thành tổ hợp kinh doanh có từ hai cấp doanh nghiệp trở lên dưới hình thức công ty
mẹ - công ty con
- Tập đoàn kinh tế không có tư cách pháp nhân, không phải đăng ký kinh doanh theo quy định của Luật Doanh nghiệp Việc tổ chức hoạt động của tập đoàn do các
công ty lập thành tập đoàn tự thỏa thuận quyết định [41]
Theo khoản 1, điều 4 Nghị định 69/2014/NĐ-CP thì:
“Tập đoàn kinh tế là nhóm công ty, gồm công ty mẹ, các doanh nghiệp thành viên và công ty liên kết; đáp ứng các điều kiện quy định như:
- Có ngành, lĩnh vực kinh doanh chính thuộc ngành, lĩnh vực sản xuất, cung ứng sản phẩm, dịch vụ đặc biệt quan trọng trong bảo đảm an ninh quốc gia về kinh tế; tạo nền tảng về hạ tầng kinh tế quốc gia; tạo động lực nâng cao khả năng cạnh tranh của các doanh nghiệp và toàn bộ nền kinh tế Thủ tướng Chính phủ quy định các ngành, lĩnh vực kinh doanh được xem xét thành lập tập đoàn kinh tế trong từng thời kỳ;
- Công ty mẹ trong tập đoàn kinh tế phải đáp ứng các điều kiện sau:
+Vốn điều lệ của công ty mẹ không thấp hơn 10.000 tỷ đồng Trường hợp công
ty mẹ được tổ chức dưới hình thức công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên thì phần vốn nhà nước phải chiếm tối thiểu 75% vốn điều lệ của công
ty mẹ Thủ tướng Chính phủ xem xét, quyết định đối với trường hợp mức vốn điều lệ hoặc tỷ lệ vốn nhà nước trên vốn điều lệ của công ty mẹ thấp hơn mức quy định này + Có nguồn nhân lực đủ trình độ, kinh nghiệm và khả năng kinh doanh ngành nghề chính và các ngành nghề có liên quan; quản lý vốn đầu tư và quản trị điều hành, phối hợp hoạt động các công ty con, công ty liên kết
+ Có khả năng sử dụng bí quyết công nghệ, thương hiệu, thị trường để chi phối các công ty con và tiến hành liên kết với các công ty liên kết khác
+ Có nguồn lực tài chính hoặc có phương án khả thi để huy động nguồn lực tài chính, bảo đảm đầu tư đủ vốn vào các công ty con và các công ty liên kết
- Tập đoàn kinh tế phải có tối thiểu 50% số công ty con hoạt động trong những khâu, công đoạn then chốt trong ngành, lĩnh vực kinh doanh chính và tổng giá trị cổ phần, phần vốn góp của công ty mẹ tại các công ty con này tối thiểu bằng 60% tổng nguồn vốn đầu tư của công ty mẹ tại các công ty con, công ty liên kết
Công ty con do công ty mẹ sở hữu 100% vốn điều lệ phải là những công ty được thành lập để phát triển, nắm giữ các bí quyết công nghệ phục vụ trực tiếp việc
Trang 16Như vậy TĐKT là một thực thể kinh tế có quy mô lớn, bao gồm các tổ chức
thành viên hoạt động trong cùng một ngành hoặc nhiều ngành khác nhau trong phạm
vi một quốc gia hoặc nhiều quốc gia, có mối quan hệ chặt chẽ với nhau về lợi ích kinh
tế, tài chính, kỹ thuật- công nghệ, nghiên cứu phát triển, đào tạo thông tin và thị
trường Mục tiêu chính của các TĐKT là tối đa hoá lợi nhuận và không ngừng nâng
cao khả năng cạnh tranh của tập đoàn trên cơ sở phối hợp, sử dụng hợp lý mọi nguồn
lực của các đơn vị thành viên đặc biệt là các nguồn lực tài chính
Như vậy khái niệm TĐKT của Việt Nam đã cơ bản tiếp cận được với khái niệm
này của các nước phát triển ở khu vực và thế giới Mỗi TĐKT bao gồm nhóm các công
ty có quy mô lớn, có tư cách pháp nhân độc lập, được hình thành trên cơ sở tập hợp,
liên kết thông qua đầu tư, góp vốn, sáp nhập, mua lại, tổ chức lại hoặc các hình thức
liên kết khác; gắn bó lâu dài với nhau về lợi ích kinh tế, công nghệ, thị trường và các
dịch vụ kinh doanh khác tạo thành tổ hợp kinh doanh có từ hai cấp công ty trở lên dưới
hình thức công ty mẹ - công ty con
Từ những phân tích trên đây có thể đưa ra một khái niệm chung nhất về
TĐKT như sau: “TĐKT là tổ hợp các công ty hoạt động trong một ngành hay những
ngành khác nhau trong phạm vi một nước hay nhiều nước, trong đó có một công ty
mẹ nắm quyền kiểm soát, chi phối hoạt động của các công ty con về tài chính và
chiến lược phát triển TĐKT vừa có chức năng kinh doanh, vừa có chức năng liên kết
kinh tế nhằm tạo nên sức mạnh lớn hơn để tăng cường khả năng cạnh tranh và tối đa
hóa lợi nhuận”
1.1.1.2 Vai trò của Tập đoàn kinh tế trong nền kinh tế
Trong nền kinh tế thị trường để ổn định và phát triển nền kinh tế thì sự ra đời và
phát triển của Tập đoàn kinh tế có vai trò hết sức quan trọng
Thứ nhất là: Với mô hình Tập đoàn kinh tế sẽ làm tăng tiềm lực kinh tế và khả
năng cạnh tranh của cả Tập đoàn cũng như của từng đơn vị thành viên
Do vừa có chức năng liên kết kinh tế, vừa có chức năng kinh doanh nên Tập
đoàn kinh tế là loại hình tổ chức kinh tế phù hợp, cho phép huy động tối đa các nguồn
nhân, tài, vật lực to lớn trong xã hội vào sản xuất kinh doanh với quy mô lớn, từ đó tạo
ra sự chuyển đổi mạnh mẽ cơ cấu sản xuất kinh doanh, thúc đẩy sự ra đời của những
doanh nghiệp quy mô lớn, tiềm lực kinh tế mạnh
Việc thành lập các Tập đoàn kinh tế một mặt hạn chế đến mức tối đa sự cạnh tranh giữa các doanh nghiệp thành viên, mặt khác nhờ mối liên kết chặt chẽ của các doanh nghiệp thành viên trên cơ sở bảo đảm san sẻ lợi ích, sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho việc thống nhất phương hướng, chiến lược phát triển kinh doanh chống lại sự cạnh tranh của các tập đoàn khác Đối với nền kinh tế mới phát triển mà nền công nghiệp trong nước còn manh mún thì các Tập đoàn kinh tế là một biện pháp hữu hiệu
để chống sự thâm nhập một cách ồ ạt của các công ty khổng lồ trên thế giới và giúp cho sản xuất trong nước có thể đứng vững và từng bước vươn ra thị trường trong khu vực và trên thế giới
Thứ hai là: Tập đoàn kinh tế là một tổ chức kinh tế có khả năng thúc đẩy
chuyển dịch và tập trung điều hoà vốn Tập đoàn kinh tế ra đời và phát triển là xuất phát từ nhu cầu khách quan, mang tính tất yếu nhằm khắc phục khả năng hạn chế về vốn của từng doanh nghiệp cá biệt Trong tập đoàn vốn được huy động từ các doanh nghiệp thành viên và được tập trung đầu tư vào những doanh nghiệp, lĩnh vực, dự án có hiệu quả nhất Khắc phục tình trạng vốn bị phân tán ở các doanh nghiệp thành viên…
Nguồn vốn tập trung sẽ là cơ sở cho việc hình thành các định chế tài chính thuộc Tập đoàn Trong đó, công ty tài chính có chức năng huy động vốn từ các doanh nghiệp thành viên và điều hoà, đầu tư vào những lĩnh vực có khả năng sinh lời cao Lợi nhuận thu được từ các hoạt động đầu tư của công ty tài chính sẽ được chia theo cổ phần đóng góp của các doanh nghiệp thành viên Ngoài ra công ty tài chính của Tập đoàn còn có thể huy động vốn bằng cách vay từ các doanh nghiệp thành viên với lãi suất thoả thuận
Mô hình Tập đoàn kinh tế sẽ cho phép vốn của các đơn vị thành viên được sử dụng vào những lĩnh vực có khả năng sinh lời cao đồng thời tập trung được vốn đầu tư vào những dự án, những lĩnh vực có ảnh hưởng quyết định đến sự phát triển của Tập đoàn Vốn của doanh nghiệp này được huy động, chuyển dịch vào doanh nghiệp khác
và nguợc lai trong phạm vi nội bộ Tập đoàn giúp cho các doanh nghiệp thành viên liên kết chặt chẽ với nhau hơn, phân tán được rủi ro và nâng cao được tối đa hiệu quả sử dụng vốn trong từng doanh nghiệp thành viên và trong Tập đoàn kinh tế nhà nước
Thứ ba là: Tập đoàn kinh tế tạo điều kiện cho phép ứng dụng và triển khai
nhanh công nghệ kỹ thuật mới vào sản xuất kinh doanh với hiệu quả cao
Trang 17Tập đoàn kinh tế với khả năng tập trung và điều hoà vốn có rất nhiều ưu thế
trong việc tiếp nhận và triển khai những ứng dụng của khoa học công nghệ hiện đại
vào sản xuất kinh doanh Việc ứng dụng những khoa học công nghệ đó cần phải có
sự cộng tác của các chuyên gia, cán bộ nghiên cứu của các lĩnh vực Từ đó sẽ tạo điều
kiện tổ chức tốt việc cung cấp trao đổi thông tin cũng như những kinh nghiệm quan
trọng trong việc tổ chức ứng dụng khoa học công nghệ mới giữa các đơn vị thành
viên với nhau
Sự hợp tác và nghiên cứu ứng dụng khoa học công nghệ trong Tập đoàn kinh tế
còn cho phép các doanh nghiệp thành viên có khả năng đưa nhanh những kết quả
nghiên cứu vào thực tiễn từ đó nâng cao hiệu quả hoạt động nghiên cứu ứng dụng, thu
hồi vốn nhanh
1.1.2 Lý luận về giám sát tài chính đối với Tập đoàn kinh tế
1.1.2.1 Khái niệm, phương thức giám sát tài chính đối với Tập đoàn kinh tế
a/ Khái niệm
Giám sát là hoạt động theo dõi, kiểm tra của chủ thể quản lý đối với khách thể
quản lý đảm bảo các hoạt động của khách thể quản lý vận hành theo đúng mục tiêu mà
chủ thể quản lý đã lựa chọn, phù hợp với pháp luật hiện hành Giám sát, kiểm tra là
một chức năng quan trọng của hoạt động quản lý nhằm phát hiện, ngăn ngừa, điều
chỉnh hoặc xử lý các hoạt động thực tế của khách thể quản lý, đảm bảo cho các mục
tiêu của hoạt động quản lý được thực hiện đúng đắn và hiệu quả
Giám sát là một họat động được thực hiện một cách liên tục nhằm thu thập và
phân tích các thông tin, từ đó giúp cho nhà quản lý biết chắc các hoạt động của doanh
nghiệp có được thực hiện đúng tiến độ, kết quả theo kế hoạch đề ra không và kịp thời
có các biện pháp can thiệp cần thiết để khắc phục những khó khăn, vướng mắc nếu có
Quá trình giám sát còn giúp các doanh nghiệp kịp thời hỗ trợ việc ra quyết định tạo nền
tảng cho việc đánh giá và bài học kinh nghiệm
Theo Đại từ điển kinh tế thị trường: “Giám sát tài chính là sự kiểm tra và đôn
đốc thi hành đối với các hoạt động kinh tế và các hạng mục sự nghiệp có liên quan
thông qua thu-chi tài chính” [25]
Theo nghị định 87/2015/NĐ - CP thì:“Giám sát tài chính là việc theo dõi, kiểm
chính của doanh nghiệp nói chung và doanh nghiệp nhà nước, có vốn đầu tư nhà nước nói riêng” [14]
Theo quan điểm của cá nhân thì Giám sát tài chính là hoạt động theo dõi, kiểm
tra việc thực thi những quy định về tài chính và quản lý tài chính của người được ủy quyền đối với hoạt động tài chính của doanh nghiệp nhằm giảm thiểu những rủi ro tiềm năng có thể xảy ra trong hoạt động của doanh nghiệp
Hoạt động tài chính của Tập đoàn kinh tế là các hoạt động gắn liền với sự
chuyển dịch vốn giữa các chủ thể trong Tập đoàn Chính vì vậy: Giám sát tài chính đối
với Tập đoàn kinh tế là hoạt động theo dõi, kiểm tra, thanh tra, đánh giá đối với tài chính của Tập đoàn nhằm đảm bảo được các mục tiêu của chủ thể quản lý
b/ Phương thức giám sát tài chính đối với Tập đoàn kinh tế
Để đạt được mục tiêu và yêu cầu đặt ra thì chủ thể quản lý sẽ thực hiện giám sát thông qua việc phối hợp các phương thức giám sát như giám sát trực tiếp, giám sát gián tiếp; giám sát trước, trong và sau đối với hoạt động của Tập đoàn kinh tế
Việc giám sát được thực hiện bằng phương thức giám sát trực tiếp, giám sát gián tiếp, giám sát trước, giám sát trong, giám sát sau, trong đó tập trung việc giám sát trước và giám sát trong nhằm phát hiện kịp thời các rủi ro về tài chính, hạn chế trong
quản lý tài chính của doanh nghiệp và có cảnh báo, giải pháp xử lý
- Giám sát trực tiếp là việc giám sát được tiến hành dưới hình thức kiểm tra, thanh tra trực tiếp tại Tập đoàn kinh tế Hoạt động giám sát trực tiếp đối với Tập đoàn kinh tế sẽ không mang lại hiệu quả nếu việc giám sát không được tiến hành tại Tập đoàn kinh tế nơi diễn ra các hoạt động huy động, phân phối và sử dụng vốn Thông qua giám sát trực tiếp sẽ giúp cho chủ thể quản lý phát hiện những sai phạm trong hoạt động huy động và sử dụng vốn, tài sản tại Tập đoàn cũng như đảm bảo việc đầu tư vốn đạt được các mục tiêu đề ra, giảm thiểu rủi ro trong hoạt động của Tập đoàn kinh tế Tuy nhiên hoạt động giám sát trực tiếp thường do các thành viên trong Tập đoàn tiến hành nên dẫn đến hạn chế về kết quả giám sát Với phương thức giám sát tài chính này khó thực hiện được tại các Tập đoàn kinh tế bởi vì Tập đoàn kinh tế bao gồm công ty
mẹ và các công ty con, công ty liên kết, phân tán tại các địa phương, vùng lãnh thổ nên hoạt động giám sát trực tiếp là khá phức tạp
Việc giám sát trực tiếp theo nghị định 69/2014 quy định là thông qua đánh giá
Trang 18công ty và chức danh do các cơ quan này bổ nhiệm, ký hợp đồng Mà cụ thể cơ
quan đại diện chủ sở hữu thành lập Hội đồng Tư vấn đánh giá hoạt động doanh
nghiệp nhà nước, bao gồm các chuyên gia thuộc các cơ quan nhà nước, viện,
trường đại học có kiến thức sâu rộng về ngành, lĩnh vực hoạt động của tập đoàn
kinh tế, tổng công ty để tư vấn đánh giá trước khi ra quyết định nhằm bảo đảm
tính khách quan trong đánh giá các tập đoàn kinh tế, tổng công ty và các chức
danh thuộc diện quản lý Cơ quan đại diện chủ sở hữu quy định quy chế làm việc
của Hội đồng Tư vấn đánh giá hoạt động doanh nghiệp nhà nước Giám sát trực
tiếp thông qua thực hiện kiểm toán tại công ty mẹ và các công ty con, công ty liên
kết hoặc thông qua việc cơ quan đại diện chủ sở hữu yêu cầu Hội đồng thành viên
hoặc người đại diện theo ủy quyền báo cáo trực tiếp [13]
- Giám sát gián tiếp là việc theo dõi và kiểm tra tình hình của doanh nghiệp
thông qua các báo cáo tài chính, thống kê và báo cáo khác theo quy định của pháp luật
và của cơ quan đại diện chủ sở hữu Phương thức giám sát gián tiếp sẽ giúp cho cơ
quan đại diện chủ sở hữu nắm được xu hướng biến động trong hoạt động kinh doanh và
tình hình tài chính của Tập đoàn, từ đó định hướng các giải pháp tác động đến hoạt
động sản xuất kinh doanh và tình hình tài chính của Tập đoàn trong thời gian tới Hạn
chế của phương thức này đó là việc giám sát diễn ra sau khi các hoạt động kinh tế tài
chính đã diễn ra nên việc nắm bắt tình hình chưa được kịp thời
Theo nghị định 69/2014 thì phương thức giám sát gián tiếp tại Tập đoàn kinh
tế thông qua chế độ báo cáo của Hội đồng thành viên hoặc người đại diện
theo ủy quyền tại công ty mẹ và thông thực hiện chế độ báo cáo định kỳ và đột xuất
của công ty mẹ [13]
- Giám sát trước là việc xem xét, kiểm tra tính khả thi của các kế hoạch ngắn
hạn, dài hạn, dự án đầu tư, phương án huy động vốn, các dự án và phương án khác của
doanh nghiệp Phương thức giám sát này được tiến hành trước khi các hoạt động đầu tư
và tài chính được diễn ra, thông qua việc xem xét, kiểm tra tính khả thi của các kế
hoạch tài chính ngắn hạn, dài hạn, các dự án đầu tư và phương án huy động vốn, các dự
án khác của Tập đoàn Hoạt động giám sát trước là tiền đề để đảm bảo ngăn ngừa được
việc sử dụng vốn lãng phí, kém hiệu quả Phương thứ giám sát này rất phức tạp, đòi hỏi
cán bộ giám sát và cán bộ quản lý cần phải có trình độ chuyên môn cao, khả năng phân
tích, dự báo thị trường…
- Giám sát trong là hoạt động giám sát được tiến hành trong quá trình tổ chức thực hiện các kế hoạch sản xuất kinh doanh, kế hoạch tài chính, triển khai các dự án đầu tư thông qua việc theo dõi, kiểm tra việc thực hiện các kế hoạch sản xuất kinh doanh và kế hoạch tài chính, trong quá trình triển khai các dự án, chấp hành các quy định của pháp luật, của đại diện chủ sở hữu Giám sát trong là cần thiết nhằm kiểm tra tính tuân thủ, việc chấp hành quy định của các đơn vị, cá nhân trong tổ chức triển khai thực hiện các kế hoạch và triển khai dự án Thông qua giám sát trong mà chủ thể quản
lý phát hiện kịp thời những vấn đề mới nảy sinh
- Giám sát sau là hoạt động giám sát được diễn ra sau quá trình thực hiện kế hoạch sản xuất kinh doanh, kế hoạch tài chính và việc triển khai các dự án đầu tư của Tập đoàn thông qua kiểm tra, đánh giá kết quả hoạt động của Tập đoàn, xem xét mức
độ và kết quả chấp hành quy định của cơ quan đại diện chủ sở hữu hoặc điều lệ của Tập đoàn, giám sát việc tuân thủ các quy định của pháp luật
1.1.2.2 Mục tiêu, chủ thể và nội dung giám sát tài chính đối với Tập đoàn kinh tế
* Mục tiêu giám sát tài chính đối với Tập đoàn kinh tế
Đứng trên góc độ chủ sở hữu, chủ thể giám sát tài chính thường hướng tới các mục tiêu bảo vệ và gia tăng lợi ích của chủ sở hữu Cụ thể mục tiêu chính là bảo toàn
và phát triển số vốn đầu tư tại Tập đoàn kinh tế Ngoài ra còn có thêm một số mục tiêu như đánh giá đúng đắn thực trạng tài chính và hiệu quả hoạt động của Tập đoàn, tối đa hóa giá trị vốn chủ sở hữu, nâng cao trách nhiệm của Tập đoàn trong việc chấp hành các quy định của pháp luật trong việc quản lý, sử dụng vốn và tài sản nhà nước tại Tập đoàn, nâng cao vị thế của Tập đoàn trên thị trường trong nước cũng như trong khu vực
và thế giới
* Chủ thể giám sát tài chính đối với Tập đoàn kinh tế
Về lý thuyết, chủ thể thực hiện kiểm tra giám sát việc đầu tư vốn, quản lý và sử dụng vốn tại các Tập đoàn kinh tế là chủ sở hữu vốn Đối với các Tập đoàn kinh tế nhà nước thì chủ thể thực hiện giám sát đầu tư vốn, quản lý và sử dụng vốn tại Tập đoàn kinh tế là Nhà nước Tuy nhiên Chính phủ là người được giao thực hiện chức năng chủ sở hữu vốn nhà nước đầu tư tại Tập đoàn, nên Chính phủ sẽ thực hiện giám sát tài chính tại các Tập đoàn kinh tế Thủ tướng Chính phủ chỉ giám sát đầu tư vào
Trang 19sát các doanh nghiệp thuộc ngành hoặc địa phương được thực hiện theo cơ chế ủy
quyền Theo đó, Thủ tướng Chính phủ ủy quyền giám sát cho người đứng đầu đầu
mối chủ sở hữu vốn nhà nước đầu tư tại Tập đoàn kinh tế như Bộ chủ quản, hoặc cơ
quan chuyên trách về quản lý vốn nhà nước hoặc công ty đầu tư vốn nhà nước (gọi là
người đại diện vốn nhà nước đầu tư tại doanh nghiệp thứ nhất theo sự ủy quyền của
Thủ tướng Chính phủ)
Người đại diện vốn nhà nước thứ nhất lại tiếp tục ủy quyền cho các đại diện vốn
nhà nước tại các Tập đoàn kinh tế Điều này có nghĩa là hình thành nên một đội ngũ
cán bộ thay mặt nhà nước làm đại diện vốn nhà nước đầu tư tại Tập đoàn kinh tế Đội
ngũ cán bộ này phải có kiến thức về ngành nghề mà doanh nghiệp kinh doanh, am hiểu
thị trường, có đầy đủ phẩm chất của một doanh nhân Đội ngũ cán bộ này sẽ tham gia
quản trị hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp tùy theo tỷ lệ sở hữu vốn nhà nước tại
doanh nghiệp
Như vậy ở đây sẽ phát sinh cơ chế ủy quyền, Thủ tướng Chính phủ ủy quyền
cho người đại diện vốn nhà nước thứ nhất, người đại diện vốn nhà nước thứ nhất lại ủy
quyền cho người trực tiếp làm đại diện vốn nhà nước tại doanh nghiệp
Tuy nhiên, có thể sẽ xảy ra trường hợp xung đột về mục tiêu giữa chủ sở hữu
và người quản lý (hiện tượng “principal-agent problem”) Hiện tượng này được hiểu
là khi một DNNN được quản lý bởi một nhà quản lý chuyên nghiệp (agent) thì nhà
quản lý có thể hành động theo những mục tiêu riêng khác, thậm chí đi ngược lại mục
tiêu và lợi ích của chủ sở hữu nhà nước (principal) Tình trạng này xuất hiện ở những
doanh nghiệp có sự tách rời giữa người quản lý điều hành và người sở hữu doanh
nghiệp nhưng lại thiếu các cơ chế giám sát, kiểm soát thích hợp Người quản lý điều
hành đại diện cho chủ sở hữu thực hiện quyền quản lý và kiểm soát doanh nghiệp
nhưng không hướng đến mục tiêu của chủ sở hữu doanh nghiệp, hoặc lạm dụng ủy
quyền để thực hiện các hành vi tư lợi, gây thiệt hại cho doanh nghiệp và chủ sở hữu
Vấn đề sẽ càng trở nên nghiêm trọng hơn khi có tình trạng thông tin bất đối xứng,
thông tin không đầy đủ, không minh bạch Để có thể giải quyết được mâu thuẫn giữa
chủ sở hữu và người quản lý doanh nghiệp thì cần phải có một chế độ đãi ngộ hợp lý
cũng như những chế tài giám sát người quản lý điều hành doanh nghiệp một cách có
* Nội dung giám sát tài chính đối với Tập đoàn kinh tế
Tài chính của Tập đoàn kinh tế phản ánh các mối quan hệ kinh tế dưới hình thức giá trị gắn liền với việc tạo lập, phân phối và sử dụng quỹ tiền tệ của Tập đoàn trong quá trình hoạt động Như vậy giám sát tài chính đối với Tập đoàn kinh tế là hoạt động theo dõi, kiểm tra, đánh giá các vấn đề về tài chính và tình hình chấp hành chính sách pháp luật đối với hoạt động tài chính của Tập đoàn nhằm mục đích ngăn ngừa nguy cơ mất an ninh tài chính, giảm thiểu rủi ro về tài chính Chính vì vậy, nội dung giám sát tài chính đứng góc độ là cơ quan đại diện chủ sở hữu đối với Tập đoàn kinh tế bao gồm:
- Giám sát việc bảo toàn và phát triển vốn của chủ sở hữu tại Tập đoàn kinh tế: Bảo toàn vốn được hiểu chung nhất là bảo đảm giá trị thực tế của tiền vốn tại các thời điểm khi có trượt giá trên thị trường Bảo toàn vốn tại các Tập đoàn kinh tế được hiểu là trong quá trình sử dụng vốn vào mục đích sản xuất kinh doanh, đảm bảo cho các loại tài sản không bị hư hỏng trước thời hạn, không bị mất mát hoặc ăn chia vào vốn, không tạo ra lãi giả để làm giảm vốn Đồng thời người sử dụng vốn phải thường xuyên duy trì được giá trị đồng vốn của mình thể hiện bằng năng lực sản xuất của tài sản cố định, khả năng mua sắm vật tư cho khâu dự trữ và tài sản lưu động định mức nói chung, duy trì khả năng thanh toán của Tập đoàn Do đó điều kiện có trượt giá thì số vốn ban đầu hoặc bổ sung thêm cũng phải tăng theo để duy trì năng lực sản xuất kinh doanh của doanh của Tập đoàn Ngoài trách nhiệm bảo toàn vốn, Tập đoàn kinh tế còn phải có trách nhiệm phát triển vốn như: thường xuyên bổ sung để tự mở rộng, đổi mới công nghệ sản xuất kinh doanh
- Giám sát việc quản lý, sử dụng vốn tại Tập đoàn kinh tế theo các nội dung sau: + Giám sát hoạt động đầu tư vốn đối với các dự án đầu tư, gồm: Nguồn vốn huy động, tiến độ thực hiện dự án đầu tư, tiến độ giải ngân vốn đầu tư
+ Giám sát hoạt động đầu tư vốn ra ngoài Tập đoàn kinh tế, trong đó nội dung giám sát tài chính công ty con, công ty liên kết thông qua danh mục đầu tư của công ty
mẹ thực hiện theo quy định; giám sát hoạt động đầu tư ra nước ngoài của Tập đoàn kinh tế thực hiện theo quy định;
Đầu tư trong Tập đoàn kinh tế là quá trình sử dụng các nguồn lực vào hoạt động xây dựng, mua sắm, nghiên cứu, nâng cấp tài sản nhằm mục tiêu lợi nhuận cho quãng thời gian dài trong tương lai Chính sách đầu tư của Tập đoàn kinh tế là tập hợp các
Trang 20chiến lược quản lý về hoạt động đầu tư có liên quan với nhau, được kế hoạch hóa phù
hợp với chiến lược kinh doanh trong một thời gian xác định Thông qua việc đầu tư,
Tập đoàn tăng thêm được năng lực hoạt động của mình Khi giám sát việc đầu tư cần
nhận thức rõ các đặc trưng của hoạt động đầu tư là:
Đầu tư là hoạt động phải chi ra một nguồn lực thực tế ở hiện tại với kỳ vọng
sinh lời trong tương lai nên nó luôn tồn tại những rủi ro nhất định
Hiệu quả của hoạt động đầu tư thường được đánh giá theo các tiêu thức khác
nhau, phụ thuộc vào quan điểm, vị trí hay mối quan tâm của từng chủ thể có liên
quan do tỷ suất sinh lời đòi hỏi của các nhà đầu tư để bù đắp rủi ro giữa họ là không
đồng nhất
Hoạt động đầu tư phải tuân thủ theo quy định của pháp luật về quản lý đầu tư
Dự án đầu tư được phân loại theo các tiêu thức khác nhau tùy theo yêu cầu và trình độ
quản lý của chủ đầu tư
Đứng trên góc độ Tập đoàn kinh tế, hoạt động đầu tư phản ánh cách thức kết
quả sử dụng số vốn huy động vào hoạt động kinh doanh Cụ thể hoạt động đầu tư của
Tập đoàn chủ yếu đầu tư vào hoạt động sản xuất kinh doanh hay đầu tư vào hoạt động
tài chính, đầu tư dài hạn hay ngắn hạn, đầu tư vào ngành nghề kinh doanh chính hay
đầu tư ngoài ngành
+ Giám sát tình hình huy động vốn và sử dụng vốn huy động, phát hành trái
phiếu của Tập đoàn kinh tế
Hoạt động huy động vốn chính là quyết định về nguồn tài trợ Quyết định về
nguồn tài trợ có ảnh hưởng trực tiếp đến tình hình đảm bảo nguồn vốn cho hoạt động
kinh doanh của công ty cổ phần Lựa chọn nguồn vốn hợp lý sẽ giúp nâng cao tính ổn
định, tạo điều kiện thuận lợi cho duy trì và phát triển hoạt động kinh doanh của công ty
Nguồn tài trợ có ảnh hưởng đáng kể đến tính tự chủ về tài chính và rủi ro tài chính của
công ty Do vậy, giám sát hoạt động huy động vốn của công ty nhằm mục đích nhìn
nhận được cách thức huy động vốn của Tập đoàn có an toàn hay không; huy động vốn
từ nguồn nào, việc huy động vốn đó có đáp ứng đủ nhu cầu về vốn trong Tập đoàn hay
không? Để từ đó có giải pháp để giám sát tình hình huy động vốn của Tập đoàn kinh tế
Giám sát tình hình sử dụng vốn để giúp cho chủ sở hữu vốn nhà nước tại Tập
đoàn và các đối tượng quan tâm đánh giá việc sử dụng vốn của Tập đoàn có hợp lý hay
không? Từ đó có những cách thức giám sát tài chính phù hợp và hiệu quả
+ Giám sát tình hình quản lý tài sản, quản lý nợ tại Tập đoàn kinh tế, khả năng thanh toán nợ của Tập đoàn kinh tế
Với nội dung giám sát này cần thiết phải quan tâm đến tình hình quản lý tài sản như công tác quản lý sử dụng tài sản tại Tập đoàn như thế nào? Cách tính khấu hao, quản lý quỹ khấu hao như thế nào? Giám sát tình hình công nợ phải thu và công nợ phải trả, mức độ vốn bị chiếm dụng và mức độ vốn đi chiếm dụng của Tập đoàn kinh
tế Với giám sát khả năng thanh toán tại Tập đoàn kinh tế cho thấy Tập đoàn có khả năng thanh toán tổng quát được những khoản nợ phải trả hay có khả năng thanh toán được những khoản nợ ngắn hạn nhất là đến hạn…Từ đó có thể nhận diện được nguy cơ rủi ro về tài chính và có những giải pháp kịp thời
+ Giám sát tình hình lưu chuyển tiền tệ của Tập đoàn
Giám sát tình hình lưu chuyển tiền tệ của Tập đoàn kinh tế cho thấy mức
độ, khả năng tạo tiền của Tập đoàn kinh tế, dòng lưu chuyển tiền của Tập đoàn như thế nào?
- Giám sát kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của Tập đoàn Giám sát kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của Tập đoàn cho thấy được tình hình kết quả kinh doanh của Tập đoàn nói chung và tình hình thực hiện nhiệm vụ cung ứng sản phẩm, dịch vụ công tích, đồng thời giám sát hiệu quả hoạt động của tập đoàn cũng như tình hình thực hiện nghĩa vụ của Tập đoàn với nhà nước, tình hình trích lập quỹ… Nội dung giám sát kết quả hoạt động kinh doanh của Tập đoàn như sau: + Giám sát việc thực hiện kế hoạch sản xuất kinh doanh, thực hiện nhiệm vụ cung ứng sản phẩm, dịch vụ công ích;
+ Giám sát kết quả hoạt động kinh doanh của Tập đoàn kinh tế + Giám sát việc thực hiện nghĩa vụ với ngân sách nhà nước: Việc giám sát cho thấy việc tuân thủ chính sách pháp luật của Nhà nước của Tập đoàn kinh tế
+ Giám sát tình hình phân phối lợi nhuận sau thuế, trích lập và sử dụng các quỹ Hoạt động phân phối lợi nhuận sau thuế chính là quyết định phân phối lợi nhuận liên quan đến xác định tỷ lệ lợi nhuận giữ lại để tái đầu tư và lợi nhuận phân chia cho các cổ đông, chủ sở hữu
Quyết định phân phối lợi nhuận sau thuế có ý nghĩa quan trọng đối với sự phát triển của Tập đoàn kinh tế vì lợi nhuận giữ lại để tái đầu tư là nguồn vốn nội sinh quan trọng cho sự phát triển bền vững của Tập đoàn cũng như các công ty trong Tập đoàn
Trang 21Giám sát phân chia lợi nhuận sau thuế để đảm bảo hài hòa lợi ích của người lao động,
chủ sở hữu và bản thân Tập đoàn
- Giám sát nguy cơ rủi ro, phá sản của Tập đoàn kinh tế
Giám sát nguy cơ rủi ro, phá sản đối với Tập đoàn kinh tế nhằm mục đích nhận
diện để cảnh báo nguy cơ rủi ro phá sản từ đó giúp cho nhà quản lý của Tập đoàn có
những giải pháp kịp thời khắc phục rủi ro
1.2 LÝ LUẬN VỀ PHÂN TÍCH TÀI CHÍNH TRONG GIÁM SÁT TÀI CHÍNH
ĐỐI VỚI TẬP ĐOÀN KINH TẾ
1.2.1 Khái niệm, mục tiêu phân tích tài chính trong giám sát tài chính đối
với Tập đoàn kinh tế
1.2.1.1 Khái niệm Phân tích tài chính trong giám sát tài chính đối với Tập
đoàn kinh tế
Phân tích, hiểu theo nghĩa chung nhất là sự phân chia, chia nhỏ các sự vật và
hiện tượng trong mối quan hệ hữu cơ, biện chứng giữa các bộ phận cấu thành của sự
vật và hiện tượng đó Trên cơ sở đó, nhận thức được bản chất, tính chất và hình thức
phát triển của các sự vật và hiện tượng đang nghiên cứu trong mối quan hệ hữu cơ,
biện chứng giữa các sự vật và hiện tượng
Hiện nay có nhiều quan niệm về phân tích tài chính Theo nhóm tác giả của
trường Đại học Ngân hàng Thành phố Hồ Chí Minh: “Phân tích tài chính là quá trình
đi sâu nghiên cứu nội dung, kết cấu và mối ảnh hưởng qua lại của các chỉ tiêu trên báo
cáo tài chính để có thể đánh giá tình hình tài chính doanh nghiệp thông qua việc so
sánh với các mục tiêu mà doanh nghiệp đã đề ra hoặc so sánh với các doanh nghiệp
cùng ngành nghề, từ đó đưa ra quyết định và các giải pháp quản lý phù hợp.” [24]
Theo giáo trình Phân tích tài chính doanh nghiệp của Học Viện Tài chính thì
“Phân tích tài chính doanh nghiệp là tổng thể các phương pháp được sử dụng để đánh
giá tình hình tài chính đã qua và hiện nay, giúp cho nhà quản lý đưa ra các quyết định
quản lý chuẩn xác và đánh giá được doanh nghiệp, từ đó giúp cho các đối tượng quan
tâm đi tới những dự đoán chính xác về mặt tài chính của doanh nghiệp qua đó có các
quyết định phù hợp với lợi ích của chính họ” [29], [30]
Theo quan điểm của Josette Peyrard thì “Phân tích tài chính có thể được định
nghĩa như một tổng thể các phương pháp cho phép đánh giá tình hình tài chính quá
khứ và hiện tại, giúp cho việc ra quyết định quản trị và đánh giá doanh nghiệp một cách chính xác” [16]
Từ các quan điểm trên thì luận án cho rằng: “Phân tích tài chính trong Tập
đoàn kinh tế là việc vận dụng tổng thể các phương pháp phân tích khoa học để đánh giá và dự đoán tình hình tài chính của Tập đoàn kinh tế, trên cơ sở đó giúp cho các chủ thể ra quyết định quản lý đúng đắn, phù hợp với từng mục tiêu quan tâm”
Như vậy, luận án cho rằng: “Phân tích tài chính trong giám sát tài chính đối với
Tập đoàn kinh tế là việc vận dụng tổng thể các phương pháp phân tích khoa học để đánh giá và dự đoán tình hình tài chính của Tập đoàn kinh tế cũng như giám sát việc bảo toàn và phát triển vốn tại Tập đoàn Trên cơ sở đó giúp cho các chủ thể giám sát tài chính và các đối tượng quan tâm đưa ra quyết định quản lý một cách kịp thời, có hiệu quả”
1.2.1.2 Mục tiêu của phân tích tài chính trong giám sát tài chính đối với Tập đoàn kinh tế
Trong môi trường kinh doanh hiện nay, với sự hình thành nhiều TĐKT lớn trong nước đòi hỏi các nhà quản lý của tập đoàn cũng như các đối tượng quan tâm đánh giá thực trạng tình hình tài chính của tập đoàn giúp họ đưa ra những quyết sách phù hợp với mục tiêu quan tâm của mình Phân tích tài chính trong giám sát tài chính đối với TĐKT thực chất là phân tích tài chính trong các Tập đoàn kinh tế với mục đích phục vụ giám sát tài chính của chủ thể giám sát cũng như các đối tượng quan tâm Chủ thể giám sát tài chính đối với các Tập đoàn kinh tế nhà nước là Cơ quan Trung ương, Cơ quan đại diện chủ sở hữu vốn; và Lãnh đạo Tập đoàn kinh tế và đối với Tập đoàn kinh tế Tư nhân là Lãnh đạo Tập đoàn… Việc giám sát tài chính thông qua công
cụ Phân tích tài chính nhằm đáp ứng các mục tiêu sau:
+ Tạo ra chu kỳ đều đặn để giám sát tài chính đối với các Tập đoàn kinh tế như:Giám sát việc bảo toàn và phát triển vốn của Tập đoàn kinh tế; Giám sát tình hình huy động vốn của Tập đoàn kinh tế; Giám sát tình hình đầu tư, sử dụng vốn của Tập đoàn kinh tế; Giám sát tình hình công nợ và khả năng thanh toán; Giám sát tình hình và khả năng thanh toán của Tập đoàn kinh tế; Giám sát hiệu suất sử dụng vốn và khả năng sinh lời của Tập đoàn kinh tế; Giám sát tình hình lưu chuyển tiền của Tập đoàn kinh tế + Đánh giá đúng đắn thực trạng tài chính và hiệu quả hoạt động của Tập đoàn kinh tế nhà nước: Đây là mục tiêu chung của tất cả các chủ thể giám sát tài chính đối
Trang 22với Tập đoàn kinh tế nhà nước Phân tích tài chính sẽ giúp cho các chủ thể quản lý
nắm được thực trạng tình hình tài chính của tập đoàn kinh tế hiện tại đang ở mức
độ nào, có dấu hiệu mất an toàn hay không, các hoạt động đầu tư và hoạt động tài
chính của Tập đoàn có diễn ra đúng kế hoạch và có hiệu quả hay không? Từ đó
giúp cho các chủ thể giám sát đưa ra những quyết định phù hợp, kịp thời theo từng
vị trí công việc, đưa ra những giải pháp khắc phục khó khăn, cải thiện tình hình tài
chính, đồng thời thực hiện được các mục tiêu đầu tư của vốn nhà nước vào Tập
đoàn kinh tế
+ Nâng cao trách nhiệm của Tập đoàn trong việc chấp hành các quy định của
pháp luật trong quản lý, sử dụng vốn, tài sản nhà nước tại Tập đoàn kinh tế
Phân tích tài chính trong giám sát tài chính sẽ giúp cho các chủ thể quản lý
thấy được việc sử dụng vốn, tài sản nhà nước tại Tập đoàn kinh tế, mà cụ thể thấy
được việc quản lý, sử dụng vốn tại Tập đoàn kinh tế có vi phạm quy định của Pháp
luật, sử dụng vốn hợp lý, đầu tư đúng hướng…đồng thời đối với các cơ quan quản lý
nhà nước thì phân tích tài chính sẽ giúp cho cơ quan quản lý nhà nước có cơ sở và
căn cứ để hoạch định các chính sách quản lý tài chính, chống độc quyền bán phá
giá… giúp cơ quan thuế và cơ quan kiểm toán nhà nước đánh giá đúng thực trạng tài
chính của Tập đoàn kinh tế của công ty mẹ và các công ty con Bên cạnh đó giám sát
việc bảo toàn và phát triển vốn tại Tập đoàn, giám sát tình hình thực hiện nghĩa vụ
của Tập đoàn đối với Nhà nước…
+ Giúp cho chủ thể quản lý kịp thời phát hiện những yếu kém trong hoạt động
kinh doanh của Tập đoàn để cảnh báo cũng như đưa ra các giải pháp kịp thời
Phân tích tài chính sẽ giúp cho các chủ thể quản lý thấy được sự mất cân đối
trong phân bổ vốn giữa các khâu, trong từng khoản đầu tư, sự lỏng lẻo trong công tác
quản lý nợ, nhận diện rủi ro tài chính và dự báo nguy cơ phá sản của Tập đoàn kinh tế
…từ đó phát hiện được những yếu kém trong hoạt động kinh doanh của Tập đoàn kinh
tế Trên cơ sở đó tìm ra những hạn chế trong công tác quản lý, sử dụng vốn và tài sản
nhà nước tại Tập đoàn và đưa ra các giải pháp cải thiện tình hình tài chính, đồng thời
hoàn thành những kế hoạch và mục tiêu đề ra
+ Hướng các quyết định của chủ thể quản lý cho phù hợp với tình hình thực tế
của Tập đoàn kinh tế
Trên cơ sở đánh giá thực trạng tài chính và hiệu quả kinh doanh của Tập đoàn kinh tế sẽ giúp cho các chủ thể quản lý đưa ra các quyết định như quyết định đầu tư, quyết định tài trợ và phân phối lợi nhuận như thế nào (đối với Tập đoàn kinh tế), các quyết định quản lý đối với Tập đoàn kinh tế (đối với Cơ quan Trung ương, Cơ quan đại diện chủ sở hữu vốn)
Từ những vấn đề đã nêu ở trên cho thấy: Phân tích tài chính trong giám sát tài chính đối với Tập đoàn kinh tế là công cụ hữu ích nhằm giúp cho chủ thể giám sát tài chính nói chung, Cơ quan Trung ương, Cơ quan đại diện chủ sở hữu vốn, lãnh đạo Tập đoàn kinh tế …thấy được thực trạng tài chính cũng như hiệu quả hoạt động của Tập đoàn kinh tế từ đó giúp cho từng đối tượng lựa chọn và đưa ra được những quyết định phù hợp với mục đích mà họ quan tâm
1.2.2 Các nhân tố ảnh hưởng đến phân tích tài chính trong giám sát tài chính đối với Tập đoàn kinh tế
Phân tích tài chính trong giám sát tài chính đối với Tập đoàn kinh tế nhà nước chịu ảnh hưởng của nhiều nhân tố như: Quan điểm, cách thức giám sát tài chính của cơ quan quản lý nhà nước đối với Tập đoàn kinh tế, quy chế pháp lý trong giám sát tài chính đối với Tập đoàn kinh tế nhà nước, Đội ngũ nhân viên làm công tác giám sát, Mô hình tổ chức quản lý và lĩnh vực hoạt động của tập đoàn kinh tế, tình hình quản lý vốn của Tập đoàn kinh tế, sự hỗ trợ của các phương tiện kỹ thuật và sự hội nhập kinh tế quốc tế…Cụ thể:
- Quan điểm, cách thức giám sát tài chính của cơ quan quản lý nhà nước đối với Tập đoàn kinh tế
Phân tích tài chính trong giám sát tài chính đối với Tập đoàn kinh tế sẽ chịu ảnh hưởng bởi quan điểm và cách thức giám sát tài chính của cơ quan quản lý nhà nước Quan điểm của cơ quan quản lý nhà nước sẽ ảnh hưởng đến nội dung, phương pháp và quy trình phân tích tài chính trong giám sát tài chính đối với Tâpj đoàn kinh tế Nếu cơ quan quản lý coi nhẹ công tác phân tích tài chính trong giám sát tài chính đối với Tập đoàn kinh tế thì công tác phân tích tài chính trong giám sát tài chính sẽ không có hiệu quả Chính vì vậy cần phải có cơ chế hợp lý, chính sách phù hợp trong quan điểm giám sát tài chính đối với Tập đoàn kinh tế sẽ giúp cho Phân tích tài chính trong giám sát tài chính mới thực sự đạt được mục tiêu đã đề ra Mặt khác cách thức giám sát tài chính
Trang 23trong giám sát tài chính đối với Tập đoàn kinh tế bởi vì với cách thức giám sát tài chính
là giám sát trước, giám sát trong hay giám sát sau cũng như giám sát trực tiếp hay giám
sát gián tiếp thì nội dung phân tích tài chính trong giám sát tài chính đối với Tập đoàn
kinh tế sẽ khác nhau Ví dụ nếu như giám sát trước khi đầu tư thì nội dung Phân tích tài
chính sẽ đi sâu vào khía cạnh để giúp Tập đoàn kinh tế lựa chọn phương án đầu tư hợp
lý, nhưng nếu giám sát trong khi đầu tư thì nội dung Phân tích sẽ tiếp cận đến khía cạnh
thực hiện đầu tư như thế nào? Nếu giám sát sau khi đầu tư thì nội dung Phân tích tài
chính trong giám sát tài chính sẽ đánh giá tình hình thực hiện đầu tư và hiệu quả đầu tư
như thế nào?
- Quy chế pháp lý trong giám sát tài chính đối với Tập đoàn kinh tế
Phân tích tài chính trong giám sát tài chính đối với các Tập đoàn kinh tế chịu sự
tác động của các văn bản pháp luật của Nhà nước liên quan đến giám sát tài chính cũng
như liên quan đến việc quản lý, sử dụng vốn nhà nước Các văn bản pháp lý có tác
động rất lớn đến Phân tích tài chính trong giám sát tài chhính, cụ thể sự lỏng lẻo trong
hành lang pháp lý có thể là những khe hở tại điều kiện phát sinh các tiêu cực trong quá
trình phân tích tài chính làm kết quả phân tích tài chính trong giám sát tài chính bị sai
lệch Vì vậy, một hệ thống pháp luật thông minh, công bằng sẽ có tác động tích cực đến
phân tích tài chính trong giám sát tài chính đối với Tập đoàn kinh tế nhà nước Cụ thể
trong những năm gần đây nhà nước đã có những văn bản pháp lý quy định về giám sát
tài chính đối với Tập đoàn kinh tế như quyết định 169/2007/QĐ-TTg ngày 8/1/2007 về
quy chế giám sát đối với DNNN kinh doanh thua lỗ, hoạt động không có hiệu quả,
Nghị định 61/2013/NĐ-CP về ban hành quy chế giám sát tài chính và đánh giá hiệu
quả hoạt động và công khai tài chính đối với DN do nhà nước làm chủ và DN có vốn
nhà nước, Quyết định 136/2014/ QĐ-TTg về công bố thông tin hoạt động của DNNN,
Luật quản lý và sử dụng vốn nhà nước đầu tư vào sản xuất kinh doanh tại DN, nghị
định 87/2015, Nghị định 49/2014 Và trong các quy định của Nhà nước đã dần dần bổ
sung nội dung giám sát tài chính đối với DNNN và DN có vốn nhà nước nói chung và
đối với Tập đoàn kinh tế nhà nước nói riêng Như vậy quy chế pháp lý trong giám sát
tài chính đối với Tập đoàn kinh tế sẽ ảnh hưởng đến Phân tích tài chính trong giám sát
tài chính đối với Tập đoàn kinh tế nhà nước theo các khía cạnh nội dung và chỉ tiêu
phân tích, phương pháp phân tích và quy trình phân tích tài chính
- Đội ngũ nhân viên làm công tác giám sát tài chính
Đội ngũ nhân viên làm công tác giám sát tài chính tại Tập đoàn kinh tế có ảnh hưởng quan trọng đến công tác phân tích tài chính trong giám sát tài chính đối với Tập đoàn kinh tế bởi vì bản thân chính họ làm công tác phân tích để giám sát tài chính tại Tập đoàn kinh tế Trình độ chuyên môn nghiệp vụ, kinh nghiệm công tác giám sát và kinh nghiệm phân tích sẽ giúp họ có các quyết định đến nội dung và chỉ tiêu phân tích, phương pháp phân tích tài chính trong giám sát tài chính đối với Tập đoàn kinh tế Nếu được đào tạo đầy đủ về chuyên môn, thường xuyên dự các lớp tập huấn về chế độ kế toán, học các chuyên đề về giám sát tài chính, Phân tích tài chính doanh nghiệp thì việc vận dụng các nội dung, chỉ tiêu phân tích cũng như các phương pháp phân tích sẽ khoa học, đầy đủ và sát thực hơn
- Về mô hình tổ chức quản lý và lĩnh vực hoạt động của tập đoàn kinh tế
Các Tập đoàn kinh tế cũng như các đơn vị trong Tập đoàn kinh tế có mô hình tổ chức quản lý và hoạt động khác nhau thì sẽ chi phối khác nhau đến việc sử dụng các công cụ quản lý trong đó có phân tích tài chính Đối với các Tập đoàn kinh tế hoạt động theo mô hình công ty mẹ - con thì quan hệ đầu tư vốn là quan hệ đặc trưng nhất Công ty mẹ đầu tư vào công ty con thông qua góp vốn, hoặc công ty con đầu tư và kiểm soát trực tiếp đối với công ty con cấp hai và công ty mẹ đã đầu tư và kiểm soát công ty con cấp hai thông qua công ty con (công ty con cấp I) Như vậy mô hình tổ chức của các Tập đoàn kinh tế đã ảnh hưởng không nhỏ đến nội dung phân tích tài chính trong các Tập đoàn kinh tế Mặt khác phần lớn các TĐKT hoạt động trong các ngành kinh tế trọng điểm của quốc gia như: Điện lực, Dầu khí, Bưu chính viễn thông, Than và khoáng sản bởi vì đây là các ngành, lĩnh vực mà tư nhân và các thành phần kinh tế khác không muốn đầu tư hoặc khó thể thực hiện được do hạn chế về năng lực tài chính hoặc kinh nghiệm quản lý Do đó, hoạt động của các tập đoàn này không chỉ tác động và đóng góp đáng kể cho sự phát triển kinh tế xã hội mà còn là một trong những công cụ điều tiết hiệu quả kinh tế vĩ mô của Chính phủ Việc điều hành các tập đoàn kinh tế cùng tham gia vào việc kìm chế lạm phát trong năm 2008 là một minh chứng sinh động Đây có lẽ là đặc trưng rất cơ bản và rõ nét nhất của các TĐKT Việt Nam hoạt động theo mô hình Công ty mẹ - Công ty con so với các Tập đoàn tư bản nước ngoài và các tập đoàn kinh tế tư nhân Chính vì vậy, việc đánh giá hiệu quả hoạt động của các TĐKT, qua đó đánh giá năng lực tài chính và hiệu quả hoạt động của
Trang 24giám sát được những vấn đề nói trên.Mặt khác, mô hình Tập đoàn kinh tế Nhà nước
cũng trong giai đoạn thí điểm hoạt động nên khung khổ pháp lý cho việc tổ chức và
hoạt động của các tâp đoàn chưa đầy đủ, kinh nghiệp tổ chức, quản lý, điều hành chưa
có Chưa có quy định cụ thể cho việc thành lập, tổ chức, hoạt động của Tập đoàn theo
Luật doanh nghiệp hiện nay Chưa phân định rõ chức năng quản lý Nhà nước của
Chính phủ, Bộ, ngành với chức năng đại diện chủ sở hữu của các tập đoàn kinh tế nhà
nước Việc tách bạch giữa nhiệm vụ chính trị của các doanh nghiệp trong tập đoàn với
hạch toán kinh tế cũng không tách bạch rõ ràng…công tác giám sát, kiểm tra, quản lý,
điều hành các tập đoàn kinh tế nhà nước vừa chồng chéo, vừa kém hiệu quả, vừa khó
xác định trách nhiệm của từng bên, ngay cả việc việc xác định được ai là chủ sở hữu
đích thực của doanh nghiệp cũng lúng túng Như vậy đòi hỏi khi phân tích, kiểm tra,
giám sát tình hình bảo toàn, phát triển vốn, tình hình đầu tư ngoài ngành, ngoài tập
đoàn, đánh giá hiệu quả hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp thuộc tập đoàn
kinh tế nhà nước cần nghiên cứu một cách thận trọng bối cảnh cụ thể của doanh
nghiệp, các quan hệ kinh tế của doanh nghiệp với các bên có liên quan đảm bảo tính
khách quan cần thiết khi đánh giá
- Về tình hình quản lý vốn của Tập đoàn kinh tế
Tình hình quản lý vốn là một trong những nhân tố tác động đến hoạt động tài
chính trong TĐKT, bởi vì TĐKT được hình thành từ nhiều con đường nhưng một trong
những con đường đó là thông qua tích tụ và tập trung vốn và con đường thứ hai là do
Chính phủ đầu tư vốn Nhưng được hình thành từ con đường nào thì chính sách quản lý
vốn của TĐKT phải hợp lý và hiệu quả mới có thể mang lại lợi nhuận cho TĐKT
Chính sách quản lý vốn sẽ tác động đến việc sử dụng vốn trong tập đoàn và ảnh hưởng
đến tình hình tài chính của Tập đoàn Phân tích tài chính trong giám sát tài chính đối
với TĐKT sẽ chịu ảnh hưởng bởi chính sách quản lý vốn trong TĐKT Chính vì vậy
khi chính sách quản lý vốn của TĐKT sẽ ảnh hưởng không nhỏ đến các nội dung phân
tích trong giám sát tài chính đối với Tập đoàn kinh tế như phân tích chính sách đầu tư
của Tập đoàn cũng như phân tích tốc độ luân chuyển vốn …
- Hỗ trợ của các phương tiện kỹ thuật: Công tác phân tích tài chính tỏng giám
sát tài chính đối với Tập đoàn kinh tế đạt hiệu quả cao nếu có áp dụng các phần mềm
chuyên biệt về Phân tích tài chính Sự cạn thiệp của các phương tiện kỹ thuật sẽ giúp
cho công tác phân tích tài chính đối với Tập đoàn kinh tế có hiệu quả cao
- Xu thế hội nhập kinh tế quốc tế
Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế, các Tập đoàn kinh tế đứng trước nhiều thách thức gay gắt đòi hỏi phải tăng cường năng lực cạnh tranh Hơn nữa, sau một thời gian cải cách và mở cửa, môi trường kinh doanh ở Việt Nam ngày càng được cải thiện
và thuận lợi cho sự phát triển của các Tập đoàn kinh tế Chính vì vậy, phân tích tài chính trong giám sát tài chính đối với Tập đoàn kinh tế cần quan tâm đến đánh giá năng lực tài chính và hiệu quả hoạt động của các Tập đoàn kinh tế để đánh giá được vị thế của từng TĐKT trong nền kinh tế quốc dân và trên toàn thế giới
1.2.3 Cơ sở dữ liệu và quy trình Phân tích tài chính trong giám sát tài chính đối với Tập đoàn kinh tế
1.2.3.1 Cơ sở dữ liệu
Phân tích tài chính trong giám sát tài chính đối với Tập đoàn kinh tế có mục tiêu đánh giá tình hình tài chính của Tập đoàn kinh tế cũng như đưa ra những dự báo về tình hình tài chính trong tương lai Để có thể tiến hành phân tích yêu cầu phải có một
cơ sở dữ liệu cần thiết, cung cấp thông tin đầy đủ, chính xác, kịp thời
* Thông tin từ nội bộ Tập đoàn kinh tế
Thông tin từ nội bộ của Tập đoàn kinh tế bao gồm hệ thống báo cáo tài chính
và một số tài liệu sổ sách kế toán như báo cáo chi tiết về chi phí sản xuất kinh doanh theo yếu tố, báo cáo chi tiết về kết quả sản xuất kinh doanh, báo cáo chi tiết về tình hình tăng giảm tài sản cố định, tăng giảm vốn chủ sở hữu, các khoản phải thu và nợ phải trả…
Báo cáo tài chính là những báo cáo tổng hợp nhất về tình hình tài sản, nguồn vốn, kết quả kinh doanh, tình hình lưu chuyển tiền tệ trong mỗi thời kỳ cụ thể của doanh nghiệp Báo cáo tài chính cung cấp các thông tin kinh tế - tài chính chủ yếu cho người sử dụng thông tin kế toán trong việc đánh giá, phân tích và dự đoán tình hình tài chính, kết quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp Báo cáo tài chính được sử dụng như nguồn dữ liệu chính khi phân tích tài chính trong giám sát tài chính tại các Tập đoàn kinh tế
Theo Chế độ kế toán doanh nghiệp hiện hành Thông tư số 200/2014/TT-BTC ngày 22 /12 /2014 của Bộ Tài chính, hệ thống báo cáo tài chính áp dụng cho tất cả các doanh nghiệp thuộc mọi lĩnh vực, mọi thành phần kinh tế trong cả nước ở Việt Nam bao gồm 4 biểu mẫu báo cáo sau:
Trang 25- Bảng cân đối kế toán (Mẫu số B01 - DN);
- Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh (Mẫu số B02 - DN);
- Báo cáo lưu chuyển tiền tệ (Mẫu số B03 - DN);
- Bản thuyết minh báo cáo tài chính (Mẫu số B09 - DN)
Theo Chế độ kế toán doanh nghiệp hiện hành - Thông tư số 200/2014/TT-BTC
ngày 22/12/2014 của Bộ Tài chính, quy định về báo cáo tài chính giữa niên độ bao gồm
4 biểu mẫu báo cáo theo 2 dạng: dạng đầy đủ và dạng tóm lược cụ thể như sau:
Dạng đầy đủ theo mẫu
- Bảng cân đối kế toán (Mẫu số B01a - DN);
- Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh (Mẫu số B02a - DN);
- Báo cáo lưu chuyển tiền tệ (Mẫu số B03a - DN);
- Thuyết minh báo cáo tài chính chọn lọc (Mẫu số B09a - DN)
Dạng tóm lược theo mẫu
- Bảng cân đối kế toán (Mẫu số B01b - DN);
- Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh (Mẫu số B02b - DN);
- Báo cáo lưu chuyển tiền tệ (Mẫu số B03b - DN);
- Thuyết minh báo cáo tài chính chọn lọc (Mẫu số B09b - DN)
Với các tập đoàn kinh tế, tổng công ty sử dụng Thông tư số 202/2014/TT-BTC
ngày 22/12/2014 của Bộ Tài chính, quy định về hệ thống báo cáo tài chính hợp nhất
của Tập đoàn công ty Mẹ - Con gồm:
- Bảng cân đối kế toán hợp nhất Mẫu số B01 - DN/HN
- Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh hợp nhất Mẫu số B02 - DN/HN
- Báo cáo lưu chuyển tiền tệ hợp nhất Mẫu số B03 - DN/HN
- Bản thuyết minh báo cáo tài chính hợp nhất Mẫu số B09 - DN/HN
+ Báo cáo quản trị của Tập đoàn kinh tế
Các báo cáo về tình hình quản trị trong Tập đoàn kinh tế của Hội đồng quản trị,
Ban giám đốc, các giao dịch cổ phiếu của các cổ đông lớn theo từng quý hoặc năm
+Các thông tin của bản thân TĐKT: Đó là những thông tin về chiến lược, sách
lược kinh doanh của Tập đoàn kinh tế trong từng thời kỳ, những thông tin về tình hình
và kết quả kinh doanh của tập đoàn, tình hình tạo lập, phân phối và sử dụng vốn, tình
* Thông tin bên ngoài Tập đoàn kinh tế
Nguồn thông tin này giúp cho các kết luận trong phân tích tài chính có tính thuyết phục cao Các thông tin này được chia thành 2 nhóm: thông tinchung về tình hình kinh tế, thông tin về ngành kinh doanh của Tập đoàn kinh tế:
- Thông tin chung về tình hình kinh tế: Các thông tin phản ánh tình hình chung
về kinh tế tại một thời kỳ nhất định có liên quan đến hoạt động kinh doanh của các Tập đoàn kinh tế là những thông tin quan trọng cần xem xét Hoạt động kinh doanh của từng Tập đoàn kinh tế chịu tác động bởi nhiều yếu tố thuộc môi trường vĩ mô nên phân tích tài chính cần đặt trong bối cảnh chung của kinh tế trong nước và khu vực Trên cơ
sở kết hợp những thông tin này sẽ tạo điều kiện đánh giá đầy đủ hơn tình hình tài chính
và đồng thời có thể dự báo những nguy cơ, cơ hội đối với hoạt động của Tập đoàn Những thông tin cần quan tâm thường bao gồm:
+ Thông tin về tăng trưởng hay suy thoái kinh tế, đặc biệt với phạm vi trong nước và khu vực
+ Các chính sách kinh tế lớn của Nhà nước: chính sách chính trị, ngoại giao, pháp luật, chế độ tài chính, kế toán…có liên quan
+ Thông tin về tỷ lệ lạm phát
+ Thông tin về lãi suất ngân hàng, tỷ giá ngoại tệ
- Thông tin về ngành nghề kinh doanh: như đặc điểm của ngành kinh tế liên
quan đến thực thể của sản phẩm tiến trình kỹ thuật cần tiến hành, cơ cấu sản xuất có tác động đến khả năng sinh lời, vòng quay vốn, nhịp độ và xu hướng vận động của ngành, quy mô của thị trường và triển vọng phát triển, tính chất cạnh tranh của thị trường, mối quan hệ với nhà cung cấp và khách hàng
Các vấn đề trên sẽ ảnh hưởng đến nội dung và chỉ tiêu phân tích tài chính của Tập đoàn kinh tế như khả năng sinh lãi, tốc độ luân chuyển vốn, cơ cấu nguồn vốn…
Do vậy, để có những thông tin cần thiết phục vụ cho quá trình phân tích tài chính trong giám sát tài chính đối với Tập đoàn kinh tế thì người làm công tác phân tích phải sưu tầm đầy đủ và thích hợp những thông tin liên quan đến hoạt động của tập đoàn kinh tế Tính đầy đủ thể hiện thước đo số lượng của thông tin Sự thích hợp phản ánh chất lượng thông tin
Trang 261.2.3.2 Quy trình phân tích tài chính trong giám sát tài chính đối với Tập
đoàn kinh tế
Quy trình phân tích tài chính trong giám sát tài chính đối với TĐKT là việc thiết
lập trình tự các bước công việc cần tiến hành trong quá trình phân tích tài chính khi
giám sát tài chính
Quy trình phân tích tài chính trong giám sát tài chính đối với các TĐKT bao gồm các
giai đoạn sau:
- Lập kế hoạch phân tích: Đây là giai đoạn đầu tiên, là một khâu quan trọng ảnh
hưởng nhiều đến chất lượng, thời hạn và tác dụng của phân tích tài chính tài chính Lập
kế hoạch phân tích, bao gồm việc xác định mục tiêu, xây dựng chương trình phân tích,
nội dung phân tích, phạm vi phân tích, thời gian tiến hành, những thông tin cần thu
thập, tìm hiểu
- Giai đoạn tiến hành phân tích: Đây là giai đoạn triển khai, thực hiện các công
việc đã ghi trong kế hoạch Giai đoạn này bao gồm các công việc cụ thể sau:
+ Sưu tầm tài liệu, xử lý số liệu
+ Tính toán các chỉ tiêu phân tích
+ Xác định nguyên nhân và tính toán cụ thể mức độ ảnh hưởng của các nhân tố
đến các chỉ tiêu phân tích
+ Xác định và dự đoán những nhân tố kinh tế xã hội tác động đến tình hình kinh
doanh của TĐKT
+ Tổng hợp kết quả, rút ra nhận xét, kết luận về tình hình tài chính của TĐKT
cũng như của các công ty mẹ, công ty con trong TĐKT
- Giai đoạn kết thúc phân tích: Đây là giai đoạn cuối cùng của việc phân tích
Trong giai đoạn này cần tiến hành những công việc cụ thể sau:
+ Viết báo cáo phân tích
+ Hoàn chỉnh hồ sơ phân tích
1.2.4 Phương pháp phân tích tài chính trong giám sát tài chính đối với Tập
đoàn kinh tế
Phân tích tài chính trong các DN nói chung và các Tập đoàn kinh tế nói riêng
được sử dụng thông qua nhiều phương pháp, trong quá trình phân tích, cần dựa vào loại
hình doanh nghiệp, đặc điểm sản xuất kinh doanh, nguồn tài liệu, mục đích phân tích…
để lựa chọn phương pháp phù hợp [29], [30], [35], [36]
Để tiến hành phân tích tài chính trong giám sát tài chính đối với các TĐKT, theo quan điểm của nghiên cứu sinh các chủ thể quản lý cần sử dụng các phương pháp mang tính nghiệp vụ - kỹ thuật khác nhau như phương pháp so sánh, phương pháp thay thế liên hoàn, số chênh lệch, phương pháp Dupont, phương pháp toán xác xuất Mỗi một phương pháp có những tác dụng khác nhau, được sử dụng trong từng nội dung phân tích khác nhau
Theo quan điểm của NCS tuỳ vào các mục đích giám sát và với các chủ thể giám sát khác nhau thì phân tích tài chính trong giám sát tài chính đối với Tập đoàn kinh tế sẽ sử dụng các phương pháp phân tích khác nhau Nếu phục vụ mục đích phân tích để đánh giá tình hình tài chính, tình hình bảo toàn và phát triển vốn, kết quả kinh doanh, tình hình quản lý và sử dụng vốn…, cần sử dụng các phương pháp đánh giá như phương pháp so sánh, phân chia, liên hệ đối chiếu, biểu đồ và đồ thị; Nếu phục vụ mục đích phân tích để tìm hiểu nguyên nhân, nhân tố tác động đến tình hình bảo toàn và phát triển vốn, tình hình huy động và sử dụng vốn, tình hình công nợ, tình hình lưu chuyển tiền, kết quả kinh doanh….để đưa ra các giải pháp quản lý hữu hiệu hơn thì các chủ thể giám sát nên sử dụng phương pháp Dupont, phương pháp thay thế liên hoàn, phương pháp số chênh lệch, phương pháp số chênh lệch, phương pháp phân tích tính chất ảnh hưởng của các nhân tố Nếu phân tích để phục vụ công tác dự báo trong giám sát tài chính thì chủ thể giám sát nên sử dụng các phương pháp như phương pháp phân tích độ nhạy, phương pháp toán xác suất thống kê, phương pháp phân tích dựa vào mô
* Phương pháp so sánh
Đây là phương pháp được sử dụng phổ biến nhất trong phân tích tài chính Khi
sử dụng phương pháp này cần lưu ý để những vấn đề sau [29],[30]
- Điều kiện so sánh được của chỉ tiêu:
Chỉ tiêu nghiên cứu muốn so sánh được phải đảm bảo thống nhất về nội dung kinh tế, thống nhất về phương pháp tính toán, thống nhất về thời gian và đơn
Trang 27- Gốc so sánh: Gốc so sánh có thể là kỳ kế hoạch, kỳ trước hoặc các năm trước,
giá trị trung bình của ngành hoặc chỉ tiêu phân tích của đối thủ cạnh tranh… tùy theo
mục đích phân tích
- Các dạng so sánh:Các dạng so sánh thường được sử dụng trong phân tích là so
sánh bằng số tuyệt đối, so sánh bằng số tương đối
* Phương pháp phân chia (chi tiết)
Phương pháp này được sử dụng để chia nhỏ quá trình và kết quả chung thành
những bộ phận khác nhau phục vụ cho việc nhận thức quá trình và kết quả đó dưới
những khía cạnh khác nhau phù hợp với mục tiêu quan tâm của từng đối tượng trong
từng thời kỳ [37] Trong phân tích, người ta thường chi tiết theo những tiêu thức sau:
- Chi tiết theo yếu tố cấu thành của chỉ tiêu nghiên cứu
- Chi tiết theo thời gian phát sinh quá trình và kết quả kinh tế
- Chi tiết theo không gian phát sinh của hiện tượng và kết quả kinh tế
* Phương pháp liên hệ, đối chiếu
Liên hệ, đối chiếu là phương pháp phân tích sử dụng để nghiên cứu, xem xét
mối liên hệ kinh tế giữa các sự kiện và hiện tượng kinh tế, đồng thời xem xét tính cân
đối của các chỉ tiêu kinh tế trong quá trình hoạt động Sử dụng phương pháp này cần
chú ý đến các mối liên hệ mang tính nội tại, ổn định, chung nhất và được lặp đi lặp lại,
các liên hệ ngược, liên hệ xuôi, tính cân đối tổng thể, cân đối từng phần [29],[30] Vì
vậy, cần thu thập được thông tin đầy đủ và thích hợp về các khía cạnh liên quan đến
các luồng chuyển dịch giá trị và sự vận động của các nguồn lực trong Tập đoàn
* Phương pháp đồ thị, biểu đồ hình ảnh
Phương pháp đồ thị, biểu đồ hình ảnh được sử dụng để phản ánh trực quan các
số liệu phân tích bằng biểu đồ, đồ thị, qua đó mô tả xu hướng, mức độ biến động của
chỉ tiêu nghiên cứu hay thể hiện mối quan hệ kết cấu của các bộ phận trong một tổng
thể Phương pháp này có ưu điểm thể hiện rõ ràng, trực quan sự biến động tăng giảm
hay mối liên hệ giữa các chỉ tiêu Phương pháp đồ thị gồm nhiều dạng như đồ thị hình
cột, đồ thị hình tròn được sử dụng để phân tích những nội dung kinh tế thích hợp
Chẳng hạn, đồ thị hình cột thường được sử dụng để mô tả xu hướng biến động của chỉ
tiêu nghiên cứu hoặc so sánh chỉ tiêu giữa các đơn vị, đồ thị hình tròn thường được sử
dụng để phản ánh kết cấu của các bộ phận trong một tổng thể như kết cấu nguồn vốn,
kết cấu tài sản
Chính vì ý nghĩa đó mà phương pháp đồ thị ngày nay đã được vận dụng khá phổ biến trong các công ty nhằm biểu hiện tính đa dạng và phức tạp của nội dung phân tích
Thứ hai: Các phương pháp phân tích nhân tố để tìm hiểu tác động của các nhân tố đến các nội dung cần giám sát tài chính
* Phương pháp Dupont
Là phương pháp phân tích dựa trên mối quan hệ tương hỗ giữa các chỉ tiêu tài chính từ đó biến đổi một chỉ tiêu tổng hợp thành một hàm số của một loạt các biến số Chẳng hạn: tách khả năng sinh lời của vốn chủ sở hữu (ROE) hay khả năng sinh lời của tài sản (ROA) thành tích số của chuỗi các hệ số có mối quan hệ mật thiết với nhau
Để từ đó đi sâu phân tích mối quan hệ giữa các chỉ tiêu đó với khả năng sinh lời của vốn chủ
*Phương pháp thay thế liên hoàn là phương pháp xác định ảnh hưởng của từng
nhân tố đến chỉ tiêu phân tích, xuất phát từ công thức xác định trị số của chỉ tiêu phân tích kỳ gốc, lần lượt thay thế giá trị của các nhân tố kỳ gốc bằng giá trị kỳ phân tích theo thứ tự từ nhân tố số lượng đến nhân tố chất lượng Ở mỗi bước thay thế phải xác định trị số của chỉ tiêu phân tích khi mỗi nhân tố thay đổi Sau đó, so sánh trị số của chỉ tiêu vừa tính được với trị số của chỉ tiêu chưa có biến đổi của nhân tố cần xác định sẽ tính được mức độ ảnh hưởng của nhân tố đó [29],[30]
* Phương pháp số chênh lệch là phương pháp cũng được dùng để xác định ảnh
hưởng của các nhân tố đến sự biến động của chỉ tiêu phản ánh đối tượng nghiên cứu Điều kiện, nội dung và trình tự vận dụng của phương pháp số chênh lệch cũng giống như phương pháp thay thế liên hoàn, chỉ khác nhau ở chỗ để xác định mức độ ảnh hưởng của nhân tố nào thì trực tiếp dùng số chênh lệch về giá trị kỳ phân tích so với kỳ gốc của nhân tố đó (thực chất là thay thế liên hoàn rút gọn áp dụng trong trường hợp chỉ tiêu phản ánh đối tượng nghiên cứu có quan hệ tích số với các nhân tố ảnh hưởng) [29], [30]
* Phương pháp cân đối: Phương pháp cân đối là phương pháp được sử dụng để
xác định mức độ ảnh hưởng của các nhân tố đến chỉ tiêu phản ánh đối tượng nghiên cứu nếu chỉ tiêu phản ánh đối tượng nghiên cứu có quan hệ với nhân tố ảnh hưởng dưới dạng tổng hoặc hiệu Xác định mức độ ảnh hưởng nhân tố nào đó đến chỉ tiêu phân tích, bằng phương pháp cân đối người ta xác định chênh lệch giữa thực tế với kỳ gốc
Trang 28của nhân tố ấy Tuy nhiên cần để ý đến quan hệ thuận, nghịch giữa nhân tố ảnh hưởng
với chỉ tiêu phản ánh đối tượng nghiên cứu [29], [30]
* Phương pháp phân tích tính chất của các nhân tố
Sau khi xác định được mức độ ảnh hưởng của các nhân tố, để có đánh giá và dự
đoán hợp lý, trên cơ sở đó đưa ra các quyết định và cách thức thực hiện các quyết định
cần tiến hành phân tích tính chất ảnh hưởng của các nhân tố Việc phân tích được thực
hiện thông qua chỉ rõ và giải quyết các vấn đề như: chỉ rõ mức độ ảnh hưởng, xác định
tính chất chủ quan, khách quan của từng nhân tố ảnh hưởng, phương pháp đánh giá và
dự đoán cụ thể, đồng thời xác định ý nghĩa của nhân tố tác động đến chỉ tiêu đang
nghiên cứu, xem xét [29], [30]
Thứ ba: Phương pháp phân tích phục vụ giám sát nguy cơ phá sản, nhận
diện rủi ro và dự báo tình hình tài chính của Tập đoàn kinh tế
* Phương pháp dự báo dựa trên ý kiến đánh giá của các chuyên gia
Phương pháp này dựa trên sự am hiểu và những ý kiến đánh giá (bằng văn bản)
của các chuyên gia tài chính về tình hình hoạt động tài chính của doanh nghiệp để dự
báo Mỗi chuyên gia được hỏi ý kiến về tình hình tài chính của DN đã, đang và sẽ diễn
ra, những ý kiến của mỗi chuyên gia được trình bày dưới dạng thống kê tóm tắt, việc
tŕnh bày ư kiến trả lời của mỗi chuyên gia phải được tiến hành một cách độc lập (giấu
tên, tránh tiếp xúc một cách trực tiếp) có thể thông qua hệ thống câu hỏi bằng thư
nhằm tránh những thảo luận của các chuyên gia với nhau tạo ra những sai lệch nhất
định trong kết quả Sau đó, yêu cầu các chuyên gia xét duyệt lại những dự báo của họ
trên cơ sở tóm lược ý kiến dự baó của tất cả các chuyên gia và có thể có những thông
tin bổ sung thêm từ phía bộ phận chuyên trách Quá trình này có thể được lặp lại cho
đến khi nhóm chuyên gia đạt được sự thống nhất ý kiến về hệ thống chỉ tiêu dự báo báo
cáo tài chính [29]
* Phương pháp dự báo dựa vào mô hình kinh tế lượng
Phương pháp này dựa vào các mô hình tuyến tính, thống kê và kết hợp với các
phương pháp: dựa trên ý kiến đánh giá của các chuyên gia, dựa trên tính ỳ để dự báo
từng chỉ tiêu trong các báo cáo tài chính Cách tiếp cận kinh tế lượng đối với dự báo
thường dựa trên cơ sở các phương trình dạng rút gọn:
ý = y K + z K + u
Trong đó:
ý T+1: là chỉ tiêu trong báo cáo tài chính cần dự báo
y T K1: là giá trị hiện tại của chỉ tiêu y có tính tới hệ số ước lượng K1 Số hạng này thâu tóm sự phụ thuộc có tính chất hệ thống của các yếu tố thuộc bản thân doanh nghiệp vào các giá trị quá khứ của chỉ tiêu y (y gọi là biến nội sinh) Chỉ tiêu y biến động có thể theo chu kỳ hoặc theo qui luật, có thể xác định được thành phần K 1 dựa trên thu thập và phân tích thông tin quá khứ hoặc theophương pháp dự báo dựa trên tính ỳ, hoặc dựa vào thống kê kinh nghiệm
+ ZT + 1 K2: là giá trị tương lai của các nhân tố thuộc môi trường kinh doanh (biến ngoại sinh Z T+1, và các hệ số ước lượng K2.) Số hạng này phản ánh sự phụ thuộc của các biến nội sinh đối với các biến ngoại sinh của mô hình Vì ZT+1 là các biến ngoại sinh, bản thân chúng được xác định vào các nhân tố không được xử lý một cách tường minh trong mô hình kinh tế lượng, nên giá trị hợp lý của biến này phải là dự báo trên
cơ sở các nhân tố khác với các nhân tố trong chính mô hình này, thường gọi là nhân tố
vệ tinh hay ngoại vi Để dự báo được số hạng này có thể sử dụng kết quả điều tra dự tính, thống kê kinh nghiệm, dựa trên ý kiến đánh giá của các chuyên gia, hoặc ngoại suy xu thế quá khứ của chúng
UT+1: là nhân tố bổ sung có thể diễn giải như ước lượng của các giá trị trong tương lai của các số hạng nhiễu [29]
* Phương pháp toán xác suất
Phương pháp này cho phép dự báo nguy cơ rủi ro hay tiềm năng tài chính
cần được khai thác trong những phạm vi và điều kiện nhất định Để áp dụng được phương pháp này thì cần xác lập được thông tin cần dự báo trong mối quan hệ với các yếu tố có liên quan thông qua một hoặc nhiều phương trình kinh tế Để dự báo tài chính cần nắm vững mối quan hệ các của chỉ tiêu tài chính với nhau, nắm được
lý thuyết về toán xác xuất và tính toán các chỉ tiêu cơ bản: kỳ vọng toán, độ lệch chuẩn, hệ số biến thiên của chỉ tiêu cần dự báo Quy trình xác định kỳ vọng toán, độ lệch chuẩn, hệ số biến thiên và dựa vào các chỉ tiêu này để dự báo sẽ gồm các bước
cơ bản như sau:
Bước 1: xác định giá trị của chỉ tiêu cần dự báo ở các điều kiện, mức độ khác
nhau (thấp,trung bình, cao)
Trang 29Bước 2: Xác định xác suất ở các mức độ (phép thử trong từng bối cảnh cụ thể)
khác nhau của chỉ tiêu cần dự báo
Bước 3: Tính kỳ vọng toán của các chỉ tiêu theo mong đợi (X)
Bước 4: Tính độ lệch chuẩn để xác định mức độ mạo hiểm của chỉ tiêu ( )
trong mỗi trường hợp cụ thể
Bước 5: Dự báo cho từng trường hợp: nếu độ lệch chuẩn ở trường hợp nào càng
lớn thì mức độ mạo hiểm càng cao, khả năng an toàn càng thấp, ngược lại độ lệch
chuẩn càng thấp thì khả năng an toàn càng cao
Bước 6: Nếu độ lệch chuẩn như nhau trong các trường hợp dự báo thì cần xác
định hệ số biến thiên (H)
Xδ
H
Bước 7: Dự báo trường hợp nào H nhỏ thì có mức độ mạo hiểm ít hơn, ngược
lại sẽ mang lại nguy cơ lớn hơn
* Phương pháp phân tích độ nhạy:
Đây là phương pháp phân tích sự biến đổi của các hoạt động tài chính khi một
hiện tượng tài chính cơ bản thay đổi (nếu như… thì …) Khi các nhân tố tác động đến
chỉ tiêu thì đều có sự dao động với một xác suất tương ứng sẽ làm cho giá trị của chỉ
tiêu nghiên cứu biến đổi Sự biến đổi này được lượng hoá bằng một tỷ lệ phần trăm so
với dự kiến bao đầu
* Phương pháp phân tích dựa vào mô hình chấm điểm:
Phương pháp phân tích tài chính nhằm dự báo các nguy cơ rủi ro hay phá sản
của các Tập đoàn kinh tế như: Hàm chấm điểm Z-score của Atman hay hàm xếp hạng
tín nhiệm của S&P…từ đó nhận diện nguy cơ rủi ro hay nguy cơ phá sản của Tập đoàn
kinh tế
1.2.5 Nội dung phân tích tài chính trong giám sát tài chính đối với Tập
đoàn kinh tế
1.2.5.1 Nội dung phân tích tài chính trong giám sát mức độ bảo toàn và phát
triển vốn của Tập đoàn kinh tế
Bảo toàn vốn là đảm bảo cho toàn bộ vốn chủ sở hữu đầu tư vào kinh doanh
không bị giảm đi, dù vốn đó nằm ở tiền hay hiện vật, dưới dạng tài sản hữu hình hay vô
hình Theo nghĩa đó, trong điều kiện kinh tế vĩ mô ổn định, bảo toàn vốn là bảo đảm
giá trị tài sản không giảm đi theo giá trị sổ sách mà còn phải bù đắp theo mức trượt giá
trên thị trường
Phát triển vốn là việc gia tăng giá trị vốn chủ sở hữu đưa vào hoạt động kinh doanh thể hiện ở quy mô vốn chủ sở hữu được mở rộng thông qua hoạt động kinh doanh có lãi, sử dụng lợi nhuận để lại để tái đầu tư, bổ sung vào nguồn vốn chủ sở hữu Phát triển vốn còn có nghĩa là phát triển thương hiệu, hình ảnh, uy tín của doanh nghiệp
Như vậy bảo toàn và phát triển vốn chủ sở hữu là chỉ tiêu phản ánh lợi ích kinh
tế của Nhà nước, vốn nhà nước không những được bảo toàn mà còn được mở rộng tăng quy mô Để giám sát việc bảo toàn và phát triển vốn tại Tập đoàn kinh tế thì cần thiết phải có những tiêu chí để giám sát
Theo Nghị định 61/2013/NĐ-CP; Thông tư 158/2013/TT- BTC và mới nhất là Nghị định 87/2015/NĐ-CP cho rằng để giám sát việc bảo toàn và phát triển vốn tại các DNNN và DN có vốn nhà nước thì cần sử dụng chỉ tiêu Vốn chủ sở hữu và hệ số bảo toàn vốn Theo Thông tư 200/2015/TT- BTC hướng dẫn Nghị định 87/2015/NĐ- CP cho rằng để đánh giá mức độ bảo toàn và phát triển vốn của doanh nghiệp cần sử dụng các chỉ tiêu như Tổng tài sản; Lợi nhuận sau thuế và các chỉ tiêu phản ánh hiệu quả sử dụng vốn như Tỷ suất lợi nhuận sau thuế/vốn chủ sở hữu (ROE), Tỷ suất lợi nhuận sau thuế / Tổng tài sản (ROA)
Theo quan điểm của NCS thì để giám sát mức độ bảo toàn và phát triển vốn đối với Tập đoàn kinh tế thì cần quan tâm sử dụng các chỉ tiêu tài chính sau:
1 Tổng tài sản: Cho biết quy mô vốn của doanh nghiệp, của Tập đoàn Đồng
thời nó phản ánh sự bảo toàn và phát triển vốn của toàn đơn vị
Tổng tài sản = Tài sản ngắn hạn + Tài sản dài hạn (1.1)
2 Vốn chủ sở hữu:
Vốn chủ sở hữu = Tổng tài sản - Nợ phải trả (1.2) Chỉ tiêu này phản ánh khả năng bảo toàn và phát triển vốn chủ sở hữu của nhà nước Với nội dung này cần cụ thể đối với chỉ tiêu vốn góp của chủ sở hữu, Quỹ đầu tư phát triển và Nguồn vốn đầu tư xây dựng cơ bản Với công ty mẹ và các công ty con để giám sát tình hình bảo toàn và phát triển vốn cần sử dụng chỉ tiêu Vốn chủ sở hữu, còn
Trang 30đối với Toàn Tập đoàn thì giám sát tình hình bảo toàn và phát triển vốn thì ngoài chỉ
tiêu Vốn chủ sở hữu cần sử dụng thêm chỉ tiêu Lợi ích của cổ đông thiểu số
3 Lợi nhuận sau thuế: Phản ánh quy mô lợi nhuận dành cho các chủ sở hữu
Lợi nhuận sau thuế = Tổng doanh thu và thu nhập - Tổng chi phí
Hoặc Lợi nhuận sau thuế = Lợi nhuận kế toán trước thuế - Chi phí thuế TNDN (1.3)
4 Hệ số bảo toàn vốn (H)
Giá trị tổng tài sản - Nợ phải trả
H =
Vốn Nhà nước (1.4)
- Vốn Nhà nước: Vốn đầu tư của chủ sở hữu, quỹ đầu tư phát triển, nguồn vốn
đầu tư xây dựng cơ bản Số liệu dựa trên Bảng CĐKT của Tập đoàn kinh tế
Nếu hệ số H>1 đã phát triển được vốn; H = 1 bảo toàn được vốn và nếu H<1
chưa bảo toàn được vốn
trợ từ vốn vay và vốn đi chiếm dụng Chỉ tiêu này thể hiện mức độ độc lập hay phụ
thuộc về mặt tài chính của Tập đoàn đối với bên ngoài Hệ số nợ trên tài sản tăng thể
hiện Tập đoàn kinh tế không bảo toàn và phát triển được vốn chủ sở hữu
6 Hiệu suất sử dụng vốn kinh doanh
Tổng doanh thu và thu nhập Hiệu suất sử dụng
vốn kinh doanh = Vốn kinh doanh bình quân (1.6)
Trong đó: Tổng doanh thu và thu nhập của Tập đoàn = Doanh thu thuần từ bán
hàng và cung cấp dịch vụ + Doanh thu hoạt động tài chính + Thu nhập khác
Chỉ tiêu này cho biết bình quân một đồng vốn tham gia vào quá trình sản xuất
kinh doanh trong kỳ thì Tập đoàn kinh tế thu được bao nhiêu đồng doanh thu, thu nhập
7 Tỷ suất LN sau thuế trên tài sản (vốn kinh doanh) (ROA)
Lợi nhuận sau thuế
Tỷ suất lợi nhuận
sau thuế trên tài sản = Tài sản bình quân (1.7)
Chỉ tiêu này cho biết bình quân 100 đồng vốn tham gia vào quá trình sản xuất
kinh doanh trong kỳ thì DN thu được bao nhiêu đồng lợi nhuận sau thuế
8 Tỷ suất LN sau thuế trên vốn chủ sở hữu (ROE)
Lợi nhuận sau thuế
Tỷ suất lợi nhuận sau thuế trên vốn chủ sở hữu = Vốn chủ sở hữu bình quân (1.8) Chỉ tiêu này cho biết bình quân 100 đồng vốn chủ sở hữu tham gia vào quá trình sản xuất kinh doanh trong kỳ thì Tập đoàn thu được bao nhiêu đồng lợi nhuận sau thuế
1.2.5.2 Nội dung phân tích tài chính trong giám sát việc quản lý, sử dụng vốn đối với Tập đoàn kinh tế
Theo quan điểm của NCS thì để giám sát tình hình quản lý, sử dụng vốn đối với các Tập đoàn kinh tế thì chủ sở hữu vốn tại Tập đoàn cần sử dụng các chỉ tiêu giám sát tài chính theo từng nội dung giám sát Cụ thể:
* Đối với giám sát tình hình đầu tư tài sản của Tập đoàn kinh tế
- Giám sát việc đầu tư vốn thông qua các chỉ tiêu về tài sản Các chỉ tiêu tỷ trọng tài sản phản ánh rõ nét đặc thù hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp
- Với nội dung giám sát tình hình đầu tư của TĐKT nói chung thì cần sử dụng các chỉ tiêu: Tỷ trọng từng loại tài sản ngắn hạn, tỷ trọng tài sản dài hạn, tỷ trọng tài sản cố định, tỷ trọng đầu tư chứng khoán, tỷ trọng BĐS đầu tư
Cụ thể:
Tài sản ngắn hạn *100
Tỷ trọng đầu tư tài sản ngắn hạn = Tổng tài sản (1.9) Chỉ tiêu này cho biết mức độ đầu tư cho tài sản ngắn hạn trong tổng tài sản của Tập đoàn, của công ty mẹ, các công ty con, công ty liên kết
Tài sản dài hạn *100
Tỷ trọng đầu tư tài sản dài hạn = Tổng tài sản (1.10) Chỉ tiêu này cho biết mức độ đầu tư cho tài sản dài hạn trong tổng tài sản của Tập đoàn
Các khoản đầu tư tài chính *100
Tỷ trọng đầu tư tài chính =
Tổng tài sản (1.11) Chỉ tiêu này cho biết mức độ đầu tư vào lĩnh vực tài chính (chứng khoán, ngân hàng ) trong tổng tài sản
Tỷ trọng BĐS đầu tư
Bất động sản đầu tư *100
Tỷ trọng Bất động
Trang 31Chỉ tiêu này cho biết mức độ đầu tư vào lĩnh vực bất động sản trong tổng tài
sản Nó đánh giá khả năng tham gia thị trường bất động sản của Tập đoàn trong từng
thời kỳ
Đầu tư vào hoạt động tài chính và bất động sản là những lĩnh vực kinh doanh có
khả năng sinh lời cao nhưng cần vốn lớn và rủi ro cao Do đó cũng cần phải giám sát
hoạt động đầu tư này để tránh việc thất thoát vốn trong đầu tư
* Với nội dung giám sát tình hình đầu tư theo từng dự án đầu tư của Tập đoàn
(bên trong và bên ngoài Tập đoàn): Sử dụng chỉ tiêu Tổng nguồn vốn huy động để đầu
tư cho từng dự án, các chỉ tiêu đánh giá về tiến độ thực hiện và tiến độ giải ngân dự án
so với kế hoạch, đồng thời đánh giá hiệu quả của từng dự án đầu tư
Lợi nhuận thu được từ dự án đầu tư Hiệu quả đầu tư cho
từng dự án đầu tư = Tổng giá trị vốn đầu tư (1.13)
-Với giám sát đầu tư ngoài ngành kinh doanh chính của Tập đoàn: Sử dụng các
chỉ tiêu như: Hệ số đầu tư ngoài ngành; Hiệu quả của việc đầu tư:
Hệ số đầu tư ngoài ngành:
Vốn đầu tư ra ngoài ngành
Hệ số đầu tư ngoài
Hệ số này phản ánh tỷ lệ đầu tư ra ngoài ngành kinh doanh chính của Tập đoàn
Đối với các Tập đoàn kinh tế có vốn đầu tư nhà nước, để đảm bảo an toàn và để
tập trung vốn thực hiện nhiệm vụ kinh doanh chính thì tỷ lệ đầu tư ra ngoài ngành sẽ bị
khống chế Tổng mức đầu tư ra ngoài ngành nghề chính không vượt quá mức vốn điều
lệ của Tập đoàn
Ngoài ra để thấy được mức độ đầu tư ngoài ngành kinh doanh chính so với vốn
chủ sở hữu của Tập đoàn, cần sử dụng thêm chỉ tiêu Hệ số đầu tư ngoài ngành so với
vốn chủ sở hữu
Vốn đầu tư ra ngoài ngành
Hệ số đầu tư ngoài
ngành so với vốn chủ
sở hữu
=
Vốn chủ sở hữu (1.15)
Để đánh giá hiệu quả đầu tư của Tập đoàn đối với công ty con, công ty liên kết
sử dụng chỉ tiêu: Vốn đầu tư vào công ty con, công ty liên kết và Hiệu quả đầu tư vào
công ty con, công ty liên kết
Hiệu quả đầu tư vào công ty con (công ty liên kết)
Cổ tức và lợi nhuận được chia Hiệu quả đầu tư vào
công ty con (công ty liên kết)
= Tổng giá trị vốn đầu tư (1.16) Việc đánh giá dựa trên cơ sở so hiệu quả đầu tư vào công ty con (công ty liên kết) với chỉ tiêu đặt ra do Nghị quyết đại hội đồng cổ đông hoặc hội đồng thành viên của Tập đoàn có vốn góp (cổ tức hoặc lợi nhuận được chia theo nghị quyết Đại hội đồng cổ đông so với tổng giá trị vốn đầu tư)
- Giám sát việc thoái vốn đối với đầu tư ngoài ngành: Căn cứ vào tỷ lệ vốn góp (vốn đầu tư) ra ngoài ngành giữa thực tế với quy định để đánh giá
Mặt khác để phục vụ cho việc giám sát trước khi tiến hành đầu tư đối với từng dự án đầu tư, cần sử dụng thêm các chỉ tiêu như thời gian hoàn vốn đầu tư, giá trị hiện tại thuần
(NPV), tỷ suất lợi nhuận trên vốn đầu tư, Tỷ suất doanh lợi nội bộ (IRR) [Phụ luc 1]
* Với nội dung giám sát tình hình huy động và sử dụng vốn huy động, phát hành trái phiếu
- Giám sát hoạt động huy động vốn nhằm mục đích giúp cho cơ quan đại diện chủ sở hữu nhìn nhận được cách thức huy động vốn của Tập đoàn có an toàn hay không; huy động vốn từ nguồn nào, việc huy động vốn đó có đáp ứng đủ nhu cầu về vốn trong Tập đoàn hay không?
Để giám sát tình hình huy động vốn của đơn vị người ta thường sử dụng chỉ tiêu: Tổng nguồn vốn, từng loại nguồn vốn trên Bảng Cân đối kế toán của đơn vị Cụ thể là: Vốn chủ sở hữu; Nợ phải trả trong đó chi tiết Phát hành trái phiếu; vay tổ chức tín dụng, vay của tổ chức, cá nhân khác
- Giám sát tình hình sử dụng vốn thông qua các chỉ tiêu phản ánh quy mô sự biến động và cơ cấu tài sản; Hiệu suất và hiệu quả sử dụng vốn Các chỉ tiêu hiệu suất hoạt động đo lường năng lực quản lý và khai thác mức độ hoạt động của các tài sản hiện có của doanh nghiệp Các chỉ tiêu hiệu quả phản ánh khả năng sinh lời của doanh nghiệp Nó là kết quả tổng hợp của hàng loạt biện pháp và quyết định quản lý của doanh nghiệp
Để giám sát tình hình sử dụng vốn đã huy động của Tập đoàn, người ta sử dụng các chỉ tiêu như: Tổng tài sản, từng loại tài sản trên bảng Cân đối kế toán và bảng cân đối kế toán hợp nhất Đồng thời đánh giá hiệu suất sử dụng vốn kinh doanh, hiệu suất
Trang 32sử dụng vốn cố định, tốc độ luân chuyển vốn lưu động của đơn vị từ đó đánh giá việc
sử dụng vốn của đơn vị là hợp lý hay không hợp lý?
Hiệu suất sử dụng vốn kinh doanh (Công thức 1.6)
Hiệu suất sử dụng vốn cố định:
Doanh thu thuần từ BH và CCDV Hiệu suất sử dụng vốn
cố định = Vốn cố định bình quân (1.17)
Chỉ tiêu này cho biết bình quân một đồng vốn cố định thì đơn vị thu được bao
nhiêu đồng doanh thu thuần từ bán hàng và cung cấp dịch vụ
Số vòng luân chuyển vốn lưu động
Tổng doanh thu và thu nhập
Số vòng luân chuyển
vốn lưu động = Vốn lưu động bình quân (1.18)
Trong đó vốn lưu động bao gồm: Tiền và tương đương tiền, các khoản phải thu
ngắn hạn, hàng tồn kho, tài sản lưu động khác
Chỉ tiêu này cho biết bình quân trong kỳ nghiên cứu vốn lưu động quay được
vòng hết bao nhiêu ngày
* Với nội dung giám sát tình hình quản lý tài sản, tình hình quản lý nợ, khả
năng thanh toán
- Với tình hình quản lý tài sản: Để giám sát tình hình quản lý tài sản tại đơn vị
cần căn cứ vào chỉ tiêu như Khấu hao TSCĐ, Hệ số hao mòn
- Với nội dung giám sát tình hình quản lý nợ: Sử dụng các chỉ tiêu Tổng nợ phải
thu và tổng nợ phải trả (Chi tiết nợ phải thu, phải trả quá hạn), Hệ số nợ phải thu so với
nợ phải trả, Số vòng quay các khoản phải thu ngắn hạn, Thời gian thu tiền trung bình,
Vòng quay các khoản phải trả ngắn hạn, Thời gian thanh toán nợ Cụ thể:
Nợ phải thu
Hệ số nợ phải thu so
với nợ phải trả = Nợ phải trả (1.20)
Nếu hệ số này trả lớn hơn 1 chứng tỏ số vốn của doanh nghiệp bị chiếm dụng
nhiều hơn số vốn mà doanh nghiệp đi chiếm dụng Ngược lại, nếu hệ số này nhỏ hơn 1, chứng tỏ số vốn doanh nghiệp bị chiếm dụng nhỏ hơn số vốn đi chiếm dụng
Số vòng quay các khoản phải thu ngắn hạn (vòng): Số vòng quay các khoản phải thu ngắn hạn là chỉ tiêu phản ánh trong kỳ kinh doanh, các khoản phải thu ngắn hạn quay được mấy vòng Như đã phân tích ở trên, do số nợ phải thu trong các doanh nghiệp chủ yếu phát sinh trong quá trình tiêu thụ sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ nên số vòng quay các khoản phải thu thường chỉ tính cho số tiền hàng bán chịu Tuy nhiên các đối tượng bên ngoài doanh nghiệp có thể sử dụng doanh thu thuần về bán hàng Số vòng quay các khoản phải thu ngắn hạn được tính theo công thức:
Tổng số tiền hàng bán chịu (hoặc DTT)
Số vòng quay các khoản phải thu ngắn hạn = Số dư bình quân các khoản phải thu ngắn hạn (1.21) Chỉ tiêu này cho biết mức độ hợp lý của số dư các khoản phải thu ngắn hạn và hiệu quả của việc thu hồi nợ ngắn hạn Nếu số vòng quay của các khoản phải thu ngắn hạn lớn, chứng tỏ doanh nghiệp thu hồi tiền hàng kịp thời, ít bị chiếm dụng vốn Tuy nhiên, số vòng quay các khoản phải thu ngắn hạn nếu quá cao sẽ không tốt vì có thể ảnh hưởng đến khối lượng hàng tiêu thụ do phương thức thanh toán quá chặt chẽ (chủ yếu là thanh toán ngay trong thời gian ngắn)
Thời gian thu tiền bình quân: Thời gian thu tiền (còn gọi là kỳ thu tiền bình quân) là chỉ tiêu phản ánh thời gian bình quân thu các khoản phải thu ngắn hạn Chỉ tiêu này được tính như sau:
Thời gian của kỳ phân tích Thời gian thu tiền
bình quân = Số vòng quay các khoản phải thu ngắn hạn (1.22) Thời gian của kì phân tích thường lấy: 1 năm là 360 ngày, 1 quý là 90 ngày, 1 tháng là 30 ngày
Thời gian thu tiền càng ngắn, chứng tỏ tốc độ thu hồi tiền hàng càng nhanh, doanh nghiệp ít bị chiếm dụng vốn Ngược lại, thời gian thu tiền càng dài, chứng tỏ tốc
độ thu hồi tiền hàng càng chậm, số vốn doanh nghiệp bị chiếm dụng nhiều Tuy nhiên, thời gian thu tiền ngắn quá sẽ gây khó khăn cho người mua, không khuyến khích người mua nên sẽ ảnh hưởng đến khả năng tiêu thụ sản phẩm và khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp trên thị trường
Số vòng quay các khoản phải trả ngắn hạn (vòng): là chỉ tiêu phản ánh trong kỳ
Trang 33kinh doanh, doanh nghiệp trả được bao nhiêu lần các khoản phải trả ngắn hạn, có thể
xem xét riêng từng đối tượng như: mua chịu về vật tư, hàng hóa, tài sản, dịch vụ của
các đối tượng bên ngoài doanh nghiệp, theo công thức sau:
Tổng số tiền chậm trả (Giá vốn hàng bán)
Số vòng quay các khoản
phải trả ngắn hạn = Số dư bình quân các khoản phải trả ngắn hạn (1.23)
Chỉ tiêu này cho biết mức độ hợp lý của số dư các khoản phải trả người bán và
hiệu quả của việc thanh toán nợ Nếu số vòng quay của các khoản phải trả lớn, chứng
tỏ doanh nghiệp thanh toán tiền hàng kịp thời, ít đi chiếm dụng vốn nên tạo ra uy tín
cao đối với người cung cấp Tuy nhiên, số vòng quay các khoản phải trả nếu quá cao có
thể ảnh hưởng đến kết quả kinh doanh trong kỳ của doanh nghiệp, bởi vì khi đó mức
độ chiếm dụng vốn của DN ít, nên DN phải ứng thêm vốn cho hoạt động kinh doanh
hoặc doanh nghiệp phải huy động mọi nguồn vốn để trả nợ (kể cả vay, bán rẻ hàng hoá,
dịch vụ )
Thời gian thanh toán: Thời gian thanh toán hay thời gian quay vòng các khoản
phải trả ngắn hạn là chỉ tiêu phản ánh thời gian bình quân mà doanh nghiệp thanh toán
tiền cho chủ nợ trong kỳ Chỉ tiêu này được tính như sau:
Thời gian của kỳ phân tích Thời gian thanh toán
bình quân = Số vòng quay các khoản phải trả ngắn hạn (1.24)
Thời gian thanh toán tiền càng ngắn, chứng tỏ tốc độ thanh toán tiền càng
nhanh, doanh nghiệp ít đi chiếm dụng vốn Ngược lại, thời gian thanh toán tiền càng
dài, tốc độ thanh toán tiền càng chậm, số vốn doanh nghiệp đi chiếm dụng nhiều
- Với nội dung giám sát khả năng thanh toán nợ của Tập đoàn: Để giám sát
được khả năng thanh toán những khoản nợ của Tập đoàn cần thiết phải sử dụng các chỉ
tiêu như:
Tổng tài sản
Hệ số khả năng thanh
toán tổng quát = Nợ phải trả (1.25)
Chỉ tiêu này cho biết đơn vị có khả năng thanh toán tổng quát được bao nhiêu
Lợi nhuận trước thuế và lãi vay
Hệ số khả năng thanh toán lãi vay = Lãi vay phải trả (1.28) Chỉ tiêu này cho biết đơn vị có khả năng thanh toán được bao nhiêu lần lãi vay phải trả bằng lợi nhuận trước thuế và lãi vay
- Về nội dung giám sát tình hình lưu chuyển tiền tệ của Tập đoàn kinh tế: Để
giám sát cần sử dụng các chỉ tiêu như: Lưu chuyển tiền thuần trong kỳ (chi tiết lưu chuyển tiền thuần từ hoạt động kinh doanh, lưu chuyển tiền thuần từ hoạt động đầu tư, lưu chuyển tiền từ hoạt động tài chính), dòng tiền thu vào trong kỳ và Hệ số tạo tiền của toàn đơn vị Với chỉ tiêu này cần theo dõi 2 năm liên tục để đánh giá một cách cụ thể hơn năng lực tài chính của DN
1 Lưu chuyển tiền thuần trong kỳ = Lưu chuyển tiền thuần từ HĐKD + Lưu chuyển tiền thuần từ HDĐT + Lưu chuyển tiền thuần từ HĐTC (1.29) Chỉ tiêu này cho biết lượng tiền thuần gia tăng hoặc suy giảm trong kỳ của Tập đoàn
2 Hệ số tạo tiền: Thể hiện bình quân một đồng tiền chi ra thì Tập đoàn thu được bao nhiêu đồng tiền vào
Dòng tiền thu vào trong kỳ
Hệ số tạo tiền =
Dòng tiền chi ra trong kỳ (1.30) Nếu hệ số tạo tiền lớn hơn 1 chứng tỏ Tập đoàn có sự gia tăng dòng tiền Nếu hệ số tạo tiền nhỏ hơn 1, có sự sụt giảm dòng tiền
1.2.5.3 Nội dung phân tích tài chính trong giám sát kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh đối với Tập đoàn kinh tế
* Nội dung phân tích tài chính trong giám sát việc thực hiện kế hoạch sản xuất
kinh doanh, thực hiện nhiệm vụ cung ứng sản phẩm, dịch vụ công ích do Nhà nước đặt
hàng, giao kế hoạch:
Trang 34Thứ nhất: Để giám sát tình hình thực hiện kế hoạch sản xuất kinh doanh; cung
ứng sản phẩm dịch vụ, sử dụng các chỉ tiêu sau:
- Đối với doanh nghiệp thông thường: Sử dụng chỉ tiêu Tổng sản lượng sản suất
(tổng lượng mua vào) trong kỳ; Tổng sản lượng tiêu thụ (hoặc sản lượng bán ra) trong
kỳ và Doanh thu tiêu thụ sản phẩm
- Đối với doanh nghiệp đặc thù: Sử dụng chỉ tiêu tổng sản lượng khai thác; Hệ
số thất thoát (hoặc Hệ số hao hụt), Tỷ lệ hàng hoá thiếu hụt, kém hoặc mất phẩm chất
trên tổng giá trị hàng hoá của đơn vị
- Đối với DN hoạt động công ích: Sử dụng thêm chỉ tiêu Kết quả hoạt động
công ích.Việc đánh giá kết quả cung cấp sản phẩm, dịch vụ công ích được thể hiện
thông qua số lượng và chất lượng
Thứ hai: Đánh giá kết quả hoạt động của Tập đoàn kinh tế:
Để đánh giá kết quả hoạt động của Tập đoàn kinh tế cần sử dụng các chỉ tiêu
tài chính trên báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh của đơn vị cũng như trên báo cáo
kết quả hoạt động kinh doanh hợp nhất của Tập đoàn.Việc đánh giá kết quả cung cấp
sản phẩm, dịch vụ công ích được thể hiện thông qua số lượng và chất lượng, doanh
thu và chi phí phát sinh liên quan đến cung cấp sản phẩm dịch vụ công ích và việc
phân tích được đánh giá thông qua so sánh kỳ thực hiện so với kế hoạch, kỳ này so
với kỳ năm trước
* Nội dung phân tích tài chính trong giám sát hiệu quả hoạt động kinh doanh
của Tập đoàn kinh tế
Sử dụng các chỉ tiêu như:
1 Tổng doanh thu và thu nhập =DTT từ bán hàng và cung cấp dịch vụ + DT
hoạt động tài chính + Thu nhập khác (1.31)
Chỉ tiêu này cho biết tổng doanh thu và thu nhập mà đơn vị thu được trong kỳ
Chỉ tiêu này thể hiện kết quả kinh doanh mà đơn vị thu được trong kỳ
2 Lợi nhuận sau thuế phản ánh kết quả hoạt động cuối cùng của đơn vị, đồng
thời thể hiện quy mô lợi nhuận dành cho các chủ sở hữu (đề cập ở công thức 1.3)
3 Hiệu suất sử dụng vốn kinh doanh (đề cập công thức 1.6)
4 Tỷ suất lợi nhuận thực hiện trên vốn chủ sở hữu
Lợi nhuận thực hiện *100
Tỷ suất LN thực hiện trên vốn chủ sở hữu = Vốn chủ sở hữu bình quân (1.32) Chỉ tiêu này cho biết bình quân 100 đồng vốn chủ sở hữu tham gia vào quá trình sản xuất kinh doanh thì công ty thu được bao nhiêu đồng lợi nhuận thực hiện trong kỳ
5 Tỷ suất LN sau thuế trên doanh thu
Lợi nhuận sau thuế *100
Tỷ suất LN sau thuế trên doanh thu (ROS) = Tổng doanh thu và thu nhập (1.33) Chỉ tiêu này cho biết bình quân 100 đồng doanh thu và thu nhập tạo ra trong kỳ thì công ty thu được bao nhiêu đồng lợi nhuận sau thuế Chỉ tiêu này cho biết hiệu quả hoạt động của đơn vị trong kỳ
6 Tỷ suất lợi nhuận sau thuế trên tài sản (vốn kinh doanh) (ROA) (đề cập ở công thức 1.7)
7 Tỷ suất lợi nhuận sau thuế trên vốn chủ sở hữu (ROE).(đề cập ở công thức 1.8)
* Nội dung phân tích tài chính trong giám sát tình hình thực hiện nghĩa vụ với
ngân sách nhà nước, tình hình phân phối lợi nhuận, trích lập và sử dụng các quỹ, tình hình biến động của Quỹ Hỗ trợ sắp xếp doanh nghiệp tại tập đoàn kinh tế, tổng công ty:
- Nội dung phân tích trong giám sát tình hình thực hiện nghĩa vụ với ngân sách nhà nước: Để giám sát tình hình thực hiện nghĩa vụ của TĐKT đối với nhà nước người ta sử
dụng chỉ tiêu: Số tiền nộp NSNN của đơn vị trong kỳ và Mức độ đóng góp cho NSNN
Số tiền nộp NSNN Mức độ đóng góp cho
NSNN do sử dụng vốn đầu tư
=
Tổng vốn đầu tư (1.34) Cho biết mức độ đóng góp của đơn vị cho Nhà nứo do sử dụng vốn đầu tư
- Nội dung phân tích trong giám sát tình hình phân phối lợi nhuận, trích lập và
sử dụng các quỹ
Để giám sát chính sách phân phối lợi nhuận, trước tiên cần tìm hiểu xem Tập đoàn kinh tế (công ty mẹ và các công ty con) phân phối lợi nhuận để lại theo tỷ lệ cố định, mức chia ổn định hay có ưu tiên cho chính sách đầu tư, đánh giá chính sách phân phối lợi nhuận có đảm bảo các ràng buộc cần thiết hay không (tức là đánh giá chủ trương của doanh nghiệp trong việc phân phối lợi nhuận) Cần xác định rõ chính sách phân phối lợi nhuận là chính sách lợi nhuận giữ lại, chính sách ổn định tiền mặt Vì
Trang 35vậy, khi phân tích chính sách phân phối lợi nhuận các chủ thể quản lý sử dụng chỉ tiêu
tuyệt đối và các chỉ tiêu tương đối Để giám sát sử dụng các chỉ tiêu sau:
+ Các chỉ tiêu tuyệt đối: Tổng lợi nhuận sau thuế, Lợi nhuận giữ lại, lợi nhuận
chi trả cho các chủ sở hữu trong đó: Tổng lợi nhuận sau thuế là chỉ tiêu phản ánh kết
quả hoạt động của doanh nghiệp trong mỗi thời kỳ cho biết quy mô phân phối kết quả
hoạt động của doanh nghiệp
+ Các chỉ tiêu tương đối gồm: Hệ số lợi nhuận giữ lại, hệ số lợi nhuận phân phối
vào các quỹ, tỷ lệ chi trả cổ tức cho biết cơ cấu phân phối kết quả kinh doanh
Tổng lơi nhuận giữ lại
Hệ số lợi nhuận giữ lại =
Lợi nhuận sau thuế (1.35) Căn cứ vào tỷ lệ lợi nhuận dùng để trả cổ tức và tỷ lệ lợi nhuận dùng để trích lập
các quỹ có thể giám sát chính sách phân phối lợi nhuận của Tập đoàn Chính sách phân
phối lợi nhuận ưu tiên cho lợi nhuận giữ lại làm tăng vốn chủ sở hữu từ đó làm gia tăng
mức độ độc lập tài chính và là cơ sở làm tăng giá trị thị trường của doanh nghiệp
Chính sách phân phối lợi nhuận ưu tiên cho việc chi trả cổ tức có tác dụng củng cố
niềm tin đối nhà đầu tư Chính sách phân phối lợi nhuận phụ thuộc vào kết quả kinh
doanh và chiến lược của từng doanh nghiệp trong từng giai đoạn cụ thể Đơn vị đang
trong giai đoạn đầu tư và mở rộng đầu tư thì doanh nghiệp có thể ưu tiên lợi nhuận giữ
lại Đơn vị trong giai đoạn phát triển ổn định có kết quả kinh doanh tốt có thể ưu tiên
lợi nhuận để chi trả cổ tức
Đồng thời tiến hành phân tích đánh giá các ràng buộc, hạn chế cơ chế phân
phối như ràng buộc luật pháp, ràng buộc hợp đồng, ràng buộc bởi chính sách thuế
Ngoài ra cần tiến hành so sánh các tỷ lệ phân phối thu nhập kế hoạch dự kiến với
công bố chính thức về tỷ lệ phân phối thu nhập Đồng thời, xem xét những nhân tố
ảnh hưởng đến chính sách phân phối lợi nhuận trong Tập đoàn và sự tuân thủ các quy
định về luật pháp
- Nội dung phân tích tài chính trong giám sát kết quả hoạt động của Ban điều
hành đơn vị, đánh giá kết quả hoạt động của Ban điều hành trong Tập đoàn kinh tế
Để giám sát kết quả hoạt động của Ban điều hành Tập đoàn cũng như đánh giá
kết quả hoạt động của Ban điều hành trong Tập đoàn, cần sử dụng các chỉ tiêu mang
- Thu nhập của Ban điều hành trong Tập đoàn
- Mức độ hoàn thành chỉ tiêu nhà nước giao về tỷ suất lợi nhuận vốn chủ sở hữu
- Kết quả phân loại doanh nghiệp
- Việc chấp hành các quy định của chủ sở hữu, điều lệ công ty và các quy định của pháp luật hiện hành
Căn cứ vào các tiêu chuẩn trên để xếp hạng Ban điều hành
1.2.5.4 Nội dung phân tích tài chính trong giám sát nguy cơ rủi ro, phá sản đối với Tập đoàn kinh tế
1.2.5.4.1 Nội dung giám sát nguy cơ rủi ro tài chính đối với Tập đoàn kinh tế
Rủi ro tài chính là biến cố rủi ro xuất hiện khi Tập đoàn kinh tế huy động nợ để tài trợ cho hoạt động nhưng sử dụng nợ không mang lại hiệu quả như dự tính làm suy giảm tỷ suất sinh lời vốn chủ sở hữu của Tập đoàn và là mầm mống gây ra sự phá sản Trước tiên để giám sát nguy cơ rủi ro tài chính đối với Tập đoàn kinh tế, cơ quan quản lý cần nhận diện rủi ro tài chính đối với Tập đoàn kinh tế, sau đó tiến hành
đo lường rủi ro tài chính của Tập đoàn kinh tế Trên cơ sở đó đưa ra các quyết định kịp thời để cải thiện được tình hình tài chính của Tập đoàn, giảm thiểu nguy cơ rủi ro tài chính
* Nhận diện rủi ro tài chính trong giám sát tài chính đối với Tập đoàn kinh tế
RRTC phát sinh từ việc huy động và sử dụng nguồn vốn nợ để tài trợ cho các hoạt động sản xuất kinh doanh của các công ty thành viên trong TĐKT không thành công gây ra nguy cơ không trả được nợ
RRTC của TĐKT là những thiệt hại tài chính có thể xảy ra đối với TĐKT Nói cách khác, RRTC của TĐKT là khả năng mà hoạt động tài chính của TĐKT không đạt được các mục tiêu về:
- Huy động vốn (quy mô, cơ cấu và chi phí vốn);
- Khả năng tự tài trợ;
- Khả năng thanh toán;
- Bảo toàn và phát triển vốn chủ sở hữu;
- Khả năng sinh lời
Như vậy để đánh gía xu hướng rủi ro tài chính của Tập đoàn kinh tế, người ta sử dụng chỉ tiêu sau:
Trang 36- Tổng nguồn vốn: Tổng nguồn vốn thể hiện quy mô nguồn vốn huy động Nếu
quy mô nguồn vốn huy động giảm thể hiện Tập đoàn không đạt được mục tiêu đề ra
- Vốn chủ sở hữu: Quy mô vốn chủ sở hữu giảm thì Tập đoàn kinh tế khó có thể
bảo toàn được vốn chủ sở hữu
- Hệ số bảo toàn vốn (đề cập công thức 1.4)
Nếu hệ số H>1 đã phát triển được vốn; H = 1 bảo toàn được vốn và như vậy
giảm bớt nguy cơ rủi ro tài chính và nếu H<1 chưa bảo toàn được vốn, có nguy cơ rủi
ro tài chính
- Hệ số nợ: (đề cập ở công thức 1.5)
Hệ số nợ phản ánh chính sách huy động vốn của Tập đoàn Nếu hệ số nợ càng
cao cho thấy mức độ phụ thuộc về mặt tài chính đối với bên ngoài càng lớn cho thấy
nguy cơ rủi ro tài chính càng cao
- Vốn lưu chuyển: Vốn lưu chuyển là phần nguồn vốn dài hạn (sau khi tài trợ
cho tài sản dài hạn) được dùng để tài trợ cho tài sản ngắn hạn
VLC = Nguồn vốn dài hạn - Tài sản dài hạn
Hoặc VLC = Nợ ngắn hạn - Tài sản ngắn hạn (1.36)
Nếu vốn lưu chuyển âm cho thấy Tập đoàn kinh tế đã sử dụng một phần nguồn
vốn ngắn hạn để tài trợ cho tài sản dài hạn dài hạn, điều này sẽ gây rủi ro trong thanh
toán của Tập đoàn kinh tế
- Hệ số đầu tư ngoài ngành kinh doanh (đã đề cập ở công thức 1.14)
Hệ số này phản ánh tỷ lệ đầu tư ra ngoài ngành kinh doanh chính của đơn vị
Đối với các đơn vị có vốn đầu tư nhà nước, để đảm bảo an toàn và để tập trung vốn
thực hiện nhiệm vụ kinh doanh chính thì tỷ lệ đầu tư ra ngoài ngành sẽ bị khống
chế.Chính vì vậy đối với các đơn vị có vốn nhà nước hoặc 100% vốn nhà nước để đảm
bảo an toàn vốn và thực hiện nhiệm vụ kinh tế của mình, các DN này bị khống chế
tổng mức vốn đầu tư ra ngoài ngành kinh doanh chính không vượt quá tổng mức vốn
điều lệ của doanh nghiệp Nếu hệ số đầu tư ngoài ngành kinh doanh chính tăng và vượt
quá tổng mức vốn điều lệ của doanh nghiệp sẽ gây mạo hiểm về tài chính
- Hệ số khả năng thanh toán nợ ngắn hạn (đề cập ở công thức 1.26)
Nếu Hn <1 có xu hướng giảm thì nguy cơ rủi ro tài chính xảy ra
- Hệ số khả năng thanh toán nợ đến hạn (đề cập ở công thức 1.27))
- Hiệu suất sử dụng vốn kinh doanh (đề cập ở công thức 1.6) Hskd giảm và xu hướng thấp so với các đơn vị cùng ngành thì rủi ro tài chính có
*Đo lường rủi ro tài chính đố với Tập đoàn kinh tế
Để đo lường rủi ro tài chính của Tập đoàn kinh tế, người ta sử dụng các tham
số: Giá trị kỳ vọng, độ lệch chuẩn và hệ số biến thiên
- Giá trị kỳ vọng: Còn gọi là giá trị bình quân gia quyền của các giá trị khác
nhau, chiếm tỷ trọng khác nhau trong một tập hợp quan sát
R R E
Trang 37- Hệ số biến thiên
Hệ số biến thiên là tỷ số so sánh giữa độ lệch chuẩn và giá trị kỳ vọng
Độ lệch chuẩn (so với giá trị trung bình) càng cao thể hiện hệ số biến thiên càng
cao và như vậy rủi ro càng cao
R E
Trong đó: CV là hệ số biến thiên
là độ lệch tiêu chuẩn của lượng biến
E(R) là giá trị bình quân của lượng biến
Hệ số biến thiên càng cao, thì độ phân tán của lượng biến càng lớn, tính chất
đại diện của số bình quân càng thấp và ngược lại
Như vậy có thể sử dụng tham số hệ số biến thiên để định lượng được rủi ro tài
chính của các chỉ tiêu đã được đề cập trong nội dung nhận diện rủi ro tài chính Như
tính hệ số biến thiên của tổng nguồn vốn, hệ số biến thiên của vốn chủ sở hữu, hệ số
biến thiên của hệ số bảo toàn vốn, hệ số biến thiên của hệ số nợ, hệ số biến thiên của hệ
số khả năng thanh toán nợ ngắn hạn, hệ số biến thiên của hệ số khả năng thanh toán
ngay, hệ số biến thiên của hiệu suất sử dụng vốn kinh doanh, hệ số biến thiên của ROA
và hệ số biến thiên của ROE
Cụ thể:
+ Tính hệ số biến thiên của Tổng nguồn vốn: Để tính được hệ số biến thiên của
Tổng nguồn vốn ta phải tính giá trị kỳ vọng của Tổng nguồn vốn và độ lệch chuẩn của
tổng nguồn vốn theo công thức sau:
NV NV E
+ Tính hệ số biến thiên của ROE: Để tính được hệ số biến thiên của ROE ta
phải tính giá trị kỳ vọng của ROE và độ lệch chuẩn của ROE theo công thức sau:
ROE ROE E
1.2.5.4.2 Nội dung giám sát nguy cơ phá sản đối với Tập đoàn kinh tê
Để đánh giá nguy cơ phá sản của Tập đoàn kinh tế, người ta dùng chỉ số Z-score (chỉ số Z): Đây là công cụ được cả hai giới học thuật và thực hành công nhận và sử dụng rộng rãi nhất trên thế giới để phát hiện dấu hiệu báo trước sự phá sản của một doanh nghiệp Chỉ số này được phát minh bởi Giáo sư Edward I Altman, trường kinh doanh Leonard N Stern, thuộc trường Đại học New York năm 1968 [74], dựa vào việc nghiên cứu khá công phu trên số luợng nhiều công ty khác nhau tại Mỹ Mặc dù chỉ số
Z này được phát minh tại Mỹ, nhưng hầu hết các nuớc, vẫn có thể sử dụng với độ tin cậy khá cao
Chỉ số Z bao gồm xác định như sau:
Z = 1.X1 + 2.X2 + 3.X3 + 4 X4 + 5.X5 Trong đó:X1 là Tỷ lệ Vốn lưu động trên Tổng tài sản X2 là Tỷ lệ lợi nhuận giữ lại trên Tổng tài sản X3 là Tỷ lệ lợi nhuận trước lãi vay và thuế trên Tổng tài sản X4 là Tỷlệ (Giá thị trường của CP * Số lượng CP lưu hành) trên Tổng nợ phải trả
X5 là Tỷ lệ Doanh thu trên Tổng tài sản (hiệu suất sử dụng vốn kinh doanh)
i(i 1,5)
là các hằng số (điều chỉnh theo ngành, lĩnh vực)
Trang 38Từ một chỉ số Z ban đầu được xác định theo công thức
Z = 1,2.X1+1,4.X2+3,3.X3+0,6*X4+1,0*X5
Giáo Sư Edward I Altman đã phát triển ra chỉ số Z áp dụng cho các doanh
nghiệp hoạt động trong lĩnh vực sản xuất như sau:
Z = 1,2.X1 + 1,4.X2 + 3,3.X3 + 0,64.X4 + 0,999.X5
Nếu Z > 2,99: DN nằm trong vùng an toàn, chưa có nguy cơ phá sản, rủi ro tài
chính thấp
Nếu 1,8 < Z < 2,99: DN nằm trong vùng cảnh báo, có thể có nguy cơ phá sản,
rủi ro tài chính tương đối nghiêm trọng
Nếu Z < 1,8: DN nằm trong vùng nguy hiểm, rủi ro tài chính cực kỳ nghiêm
trọng, nguy cơ phá sản cao
Đối với doanh nghiệp chưa cổ phần hoá, ngành sản suất:
Z’ = 0,717.X1 + 0,847.X2 + 3,107.X3 + 0,42.X4 + 0,998.X5
Nếu Z’ > 2.9: Doanh nghiệp nằm trong vùng an toàn, chưa có nguy cơ phá sản
Nếu 1.23 < Z’ < 2.9: Doanh nghiệp nằm trong vùng cảnh báo, có thể có nguy
cơ phá sản
Nếu Z’ < 1.23: Doanh nghiệp nằm trong vùng nguy hiểm, nguy cơ phá
sản cao
Vì sự khác nhau khá lớn của X5 giữa các ngành, nên X5 đã được đưa ra khỏi
công thức tính chỉ số Z Công thức tính chỉ số Z’’ được điều chỉnh có thể được dùng
cho hầu hết các ngành, các loại hình doanh nghiệp
Như vậy để đánh giá nguy cơ phá sản của các đơn vị trong Tập đoàn hoặc của
Tập đoàn sử dụng chỉ số Z và tuỳ từng loại hình công ty hoạt động trong Tập đoàn để
có thể xác định theo chỉ số Z hoặc Z hay Z’’
1.3 KINH NGHIỆM VỀ PHÂN TÍCH TÀI CHÍNH TRONG GIÁM SÁT TÀI CHÍNH CỦA MỘT SỐ NƯỚC TRÊN THẾ GIỚI VÀ BÀI HỌC KINH NGHIỆM RÚT
RA CHO VIỆT NAM 1.3.1 Kinh nghiệm của Trung Quốc
* Về nội dung và chỉ tiêu giám sát
Nội dung giám sát tài chính ở các doanh nghiệp nhà nước tại Trung Quốc là
- Giám sát việc bảo toàn và làm tăng giá trị tài sản nhà nước trong các DNNN
và DN có vốn nhà nước
- Vừa giám sát tài chính DN vừa giám sát hiệu quả đầu tư vốn nhà nước vào DN
- Giám sát rủi ro của DN
Để có thể giám sát tài chính tại các doanh nghiệp nhà nước Uỷ bản quản lý và giám sát tài sản nhà nước cử ra Hội đồng giám sát để xây dựng hệ thống chỉ tiêu giám sát cho từng tập đoàn, DN lớn Các chỉ tiêu giám sát là các chỉ tiêu thống kê, hạch toán, hệ thống chỉ tiêu bảo toàn và làm tăng giá trị của tài sản nhà nước tại DN Các chỉ tiêu giám sát là các chỉ tiêu tài chính và chỉ tiêu phi tài chính (các chỉ tiêu định tính và định lượng)
Bên cạnh đó tại Trung Quốc, việc giám sát cần căn cứ vào đặc thù mỗi ngành, mỗi lĩnh vực để giám sát
Ngoài các tiêu chí trên thì Trung Quốc đã bổ sung các chỉ tiêu cụ thể để đánh giá hiệu quả hoạt động của các doanh nghiệp nhà nước bao gồm các chỉ tiêu theo từng cấp độ: Chỉ tiêu cấp 1 là chỉ tiêu phản ánh tình hình quản lý vốn và các chỉ tiêu phản ánh hiệu quả sử dụng vốn
Các chỉ tiêu cấp 1 sẽ được chi tiết hoá thành các chỉ tiêu cấp 2 và cấp 3…Cụ thể Đối với chỉ tiêu Phản ánh tình hình quản lý vốn được chia làm 2 chỉ tiêu cấp 2
là chỉ tiêu xin cấp vốn và chỉ tiêu quản lý vốn Với chỉ tiêu xin cấp vốn thì Trung Quốc thể hiện thông qua 3 chỉ tiêu cấp 3 như mục tiêu dự án, quyết sách dự án Đối với chỉ tiêu quản lý vốn được thể hiện thông qua 5 chỉ tiêu cấp 3 như xây dựng cơ chế; tình hình giải ngân; Xử lý tài vụ; Tính hợp lý trong sử dụng vốn; Báo cáo tình hình sử dụng vốn
* Về các phương pháp phân tích sử dụng trong giám sát tài chính
Hầu hết tại Trung Quốc đều sử dụng các phương pháp đánh giá để giám sát tài chính tại các DN nhà nước và DN có vốn nhà nước mà cụ thể là phương pháp so sánh và phương pháp thang điểm Ví dụ như để đánh giá hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp
Trang 39nhà nước Tổng giá trị là 100 điểm thì chỉ tiêu phản ánh tình hình quản lý vốn có giá trị
30 điểm (Xin cấp vốn là 12 điểm và Quản lý vốn là 18 điểm), chỉ tiêu phản ánh hiệu quả
sử dụng vốn có giá trị là 70 điểm (trong đó hiệu quả xã hội là 40 điểm và hiệu quả kinh tế
là 30 điểm) Chi tiết hơn nữa là thang điểm cho các chỉ tiêu cấp 3 và cấp 4
Chỉ tiêu cấp 2 Chỉ tiêu cấp 3 Chỉ tiêu cấp 4
Tính khoa học của mục tiêu chiến lược (2 điểm) Tính khả thi của mục tiêu kinh doanh (2 điểm) Mục tiêu dự án
(6 điểm)
Tính hợp lý của chỉ tiêu tài chính (2 điểm) Quyết sách vấn đề, miễn nhiệm cán bộ chủ chốt, quyết sách đầu tư dự án lớn, vốn lớn (3 điểm)
chế (2 điểm) Ban hành và thực thi chế độ quản lý việc sử dụng
vốn dùng cho các hạng mục riêng (1 điểm)
Tỷ lệ giải ngân (4 điểm) Tình hình giải
ngân (7 điểm)
Tỷ lệ hoàn thành đầu tư (3 điểm) Tính chính xác trong việc xử lý tài chính (1 điểm)
Xử lý tài chính
(2 điểm) Phân tích và quản lý sát sao đối với vốn đầu tư (1
điểm)
Sử dụng vốn (3 điểm) Tính hợp lý
trong sử dụng
vốn (5 điểm)
Chuyển dịch vốn (2 điểm) Báo cáo tình
1.3.2 Kinh nghiệm của Hàn Quốc
Tại Hàn Quốc đã giám sát hoạt động của các DNNN thông qua Uỷ ban quản lý
DNNN Việc giám sát được thể hiện qua các khía cạnh như:
* Về nội dung phân tích trong sát tài chính:
+ Hiệu quả hoạt động: tình hình tài sản; năng suất lao động, hệ thống quản lý tài chính; kết quả sản xuất kinh doanh, hệ thống đánh giá hiệu quả hoạt động của nhân viên gắn với tiền lương; các vấn đề quản lý lao động khác
+ Đánh giá hiệu quả các ngành nghề kinh doanh chính của DN
* Về chỉ tiêu sử dụng trong giám sát tài chính
Việc đánh giá được thực hiện để giám sát tại các DNNN ở Hàn Quốc trên cơ sở các chỉ tiêu định lượng và chỉ tiêu định tính, chỉ tiêu tài chính và chỉ tiêu phi tài chính,
cụ thể như sau:
- Các chỉ tiêu tài chính bao gồm các chỉ số tài chính cơ bản như: Số lượng lao
động, doanh thu, lợi nhuận, tỷ suất lợi nhuận, tiền lương…
- Các chỉ tiêu phi tài chính: chỉ số phi tài chính được lập riêng cho từng DN
nhằm đánh giá hiệu quả hoạt động của DN đó Ví dụ: đối với DN đường sắt thì chỉ số
là: “Tỷ lệ tàu về ga đúng giờ”; “Số phút tàu về ga chậm giờ” Đối với TCT cảng hàng không Seoul thì chỉ số là: “Thời gian để hành khách hoàn thành thủ tục từ khi hạ cánh
đến khi ra khỏi sân bay”, “Số lượng container được vận chuyển qua cảng hàng không
Ngoài ra, chỉ số phi tài chính còn bao gồm các chỉ số như “Mức độ hài lòng của khách
hàng”, các ảnh hưởng của DN đến xã hội…
* Về phương pháp sử dụng trong giám sát tài chính
Để giám sát tài chính tại Hàn Quốc sử dụng phương pháp đánh giá mà cụ thể là phương pháp so sánh và phương pháp trọng số
Với phương pháp trọng số: Hàn quốc xây dựng bộ chỉ số với các chỉ tiêu tài
chính chiếm 53% (hoặc 60%) tổng số các chỉ tiêu đánh giá và 47% (hoặc 40%) còn lại đối với các chỉ tiêu phi tài chính Việc xây dựng bộ chỉ số do một nhóm chuyên gia độc lập (gồm các kiểm toán viên, chuyên gia đánh giá) do Ủy ban quản lý DNNN tuyển dụng và ký hợp đồng hằng năm Nhóm chuyên gia này làm việc một cách độc lập để tránh mọi sự can thiệp chính trị hay can thiệp từ phía các DNNN Nhóm chuyên gia có trách nhiệm đệ trình Ủy ban Quản lý phê duyệt bộ chỉ tiêu tài chính và phi tài chính cho từng DN, sau khi được phê duyệt, ngay từ đầu năm sẽ thông báo tới từng DN về việc năm nay DN sẽ bị đánh giá theo tiêu chí nào để DN biết và tổ chức hệ thống giám sát nội bộ tương ứng
Bắt đầu từ tháng 9 hàng năm, tổ chuyên gia sẽ nghiên cứu tình hình của DN và
Trang 40từng DN trong năm tới Ngoài nội dung các tiêu chí/chỉ số đánh giá, nhóm chuyên gia
phải đề xuất được mức độ tăng trưởng/cải thiện (% tăng lên) của mỗi chỉ số sao cho
phù hợp với những khó khăn hay thuận lợi trong môi trường kinh doanh của năm sau
Do mức giá đầu ra của sản phẩm của các DNNN thường bị nhà nước điều tiết nên các
chỉ số tài chính có thể không cần tăng so với năm trước, nhưng các chỉ số phi tài chính
thì bắt buộc phải đạt mức cao hơn năm trước thì DN mới được xếp loại tốt Điều này
tạo áp lực lên DNNN phải liên tục phải cải thiện, nâng cao hiệu quả hoạt động
Với phương pháp so sánh: Trên cơ sở các chỉ tiêu giám sát, Uỷ ban quản lý
DNNN so sánh với một số chỉ tiêu của các DN lớn trên thế giới (kể cả chỉ tiêu tài chính
và chỉ tiêu phi tài chính) và việc so sánh chủ yếu theo các chỉ tiêu như năng suất lao
động, mức độ cung cấp dịch vụ, năng lực cạnh tranh… (Ví dụ sẽ so sánh mức độ hài
lòng của khách hàng tại Sân bay quốc tế Incheon Hàn Quốc với Sân bay quốc tế
Heathrow Anh Quốc) Đồng thời, để tránh việc Ban Lãnh đạo tập trung vào các mục
tiêu ngắn hạn, Hàn Quốc cũng đã bổ sung thêm một chỉ số đánh giá trong trung và dài
hạn (5 năm)
Các DNNN sẽ được xếp loại từ S (xếp loại đặc biệt), A nếu kết quả năm sau cao
hơn năm trước và ngược lại sẽ xếp loại từ B; C; D; E
Trên cơ sở xếp loại, Chính phủ sẽ xem xét, quyết định việc giải thể đối với DNNN
xếp loại E, cảnh báo nếu xếp loại D, thưởng ít hơn 1 tháng lương thực hiện cho nhân viên
nếu xếp loại C, thưởng từ 1 đến 1,5 tháng lương cho nhân viên nếu xếp loại B, thưởng từ
1,5 đến 2 tháng lương nếu xếp loại A và từ 2 đến 2,5 tháng lương nếu xếp loại đặc biệt (S)
1.3.3 Kinh nghiệm của các nước OECD
- Về nội dung và chỉ tiêu giám sát: Các nước OECD thực hiện giám sát tài
chính thông qua các nội dung phản ánh năng lực tài chính như kết quả hoạt động, hiệu
quả hoạt động, khả năng thanh toán, dòng tiền và các chỉ tiêu thường được dùng để
theo dõi, đánh giá năng lực tài chính của DN gồm: (i) Doanh thu; (ii) Lợi nhuận,
EBITDA; (iii) Tỷ suất lợi nhuận trên vốn CSH (ROE); (iv) Cổ tức Nhà nước được
nhận từ DN; (v) Nợ/EBITDA; (vi) Nợ/Vốn CSH Ngoài ra, một số quốc gia còn sử
dụng thêm các chỉ tiêu như: Hệ số khả năng thanh toán nhanh; Hệ số khả năng thanh
toán nợ đến hạn; Hệ số dòng tiền; Tỷ suất lợi nhuận trên tài sản (ROA) Ngoài các nội
dung phân tích trong giám sát tài chính nói trên thì một số quốc gia đã bổ sung một số
tiêu chí để đánh giá và giám sát mức độ rủi ro của DN; trong đó, mức lãi suất cơ bản
được dùng làm cơ sở để phân tích rủi ro của DN Một số quốc gia cũng giám sát rủi ro phát sinh từ khu vực DNNN đối với NSNN thông qua việc giám sát khả năng thanh toán các khoản nợ được Chính phủ bảo lãnh
- Về phương pháp phân tích trong giám sát tài chính: Việc đánh giá năng lực tài chính và đánh giá hiệu quả hoạt động cũng như xếp loại DN tại hết các nước OECD thông qua việc so sánh tình hình thực hiện với mục tiêu của DN đặt ra
1.3.4 Bài học kinh nghiệm về phân tích tài chính trong giám sát tài chính đối với Tập đoàn kinh tế ở Việt Nam
- Về nội dung và chỉ tiêu giám sát: ngoài các chỉ tiêu tài chính nói chung (phản
ánh nội dung giám sát hiệu quả sát xuất kinh doanh và tình hình huy động vốn - đòn cân nợ), cần có các chỉ tiêu tài chính đặc thù theo ngành, thậm chí theo từng loại hình để phù hợp với đặc thù của ngành và của từng đơn vị Đồng thời để giám sát tài chính đối với các Tập đoàn kinh tế cần sử dụng các chỉ tiêu tài chính và các chỉ tiêu phi tài chính Đối với các Tập đoàn kinh tế việc đánh giá xếp loại cần phải theo các chỉ tiêu kế hoạch đặc thù (cần thiết có thể thuê chuyên gia xây dựng chỉ tiêu đánh giá từ đầu năm) Đối với các Tập đoàn kinh tế hoạt động công ích, do không đặt mục tiêu sinh lời thì cần sử dụng các chỉ tiêu đánh giá phi tài chính để đánh giá chất lượng và hiệu suất cung ứng hàng hoá/dịch vụ công
Kết quả đánh giá cần được sử dụng để quyết định mức độ lương/thưởng của người lãnh đạo/người lao động tại Tập đoàn, đối với những Tập đoàn được đánh giá xếp loại quá yếu kém thì có chế tài buộc phải phá sản, giải thể hoặc tái cơ cấu bắt buộc Cần phải bộ sung các nội dung và chỉ tiêu giám sát nguy cơ rủi ro, nguy cơ phá sản đối với các Tập đoàn kinh tế để ngăn chặn, phòng ngừa rủi ro đối với các Tập đoàn kinh tế ở Việt Nam
- Về phương pháp phân tích tài chính trong giám sát tài chính
Ngoài phương pháp so sánh dùng để đánh giá thì cần sử dụng các phương pháp đánh giá khác như phương pháp thang điểm, phương pháp trọng số Đồng thời việc so sánh cần quan tâm đến đặc thù ngành nghề kinh doanh, phạm vi hoạt động cũng như so sánh với các Tập đoàn kinh tế lớn trên thế giới hoạt động cùng trong lĩnh vực Đối với các Tập đoàn kinh tế thì Cơ quan giám sát của Chính phủ cần xây dựng cơ sở dữ liệu
để có thể so sánh hiệu quả đầu tư và mức độ rủi ro tài chính trung bình của từng ngành, qua đó có thể tham mưu cho Chính phủ trong hoạt động đầu tư vốn của Nhà nước cho
từng ngành và cho từng đơn vị cụ thể